Nhân ngày phụ nữ Việt Nam 20-10-2018 đăng bài phỏng vấn chị Trần Lan Hương.


Reflection Condominium in Pattaya by Major Development

Huấn luyện viên sức khỏe đầu tiên ở Việt Nam: “Người trẻ cứ trải nghiệm đi, sân si đi nhưng nên biết tới tâm linh càng sớm càng tốt để không ngã quỵ”

Từng kinh qua các ngành nghề như: nhân viên quỹ đầu tư thuộc ngành tài chính, chuyên viên kinh tế của Tổng lãnh sự quán Mỹ, Giám đốc một quỹ đầu tư SEAF, giám đốc đầu tư phát triển dự án bệnh viện, tư vấn độc lập cho ngành ngân hàng… tưởng như tiền tài danh vọng đều đã đủ cả, vậy mà, sau 7 lần nhảy việc, chị Trần Lan Hương đã quyết định nghỉ việc để chuyên tâm theo học yoga và thiền. Cơ duyên đến, chị trở thành Huấn luyện viên sức khỏe đầu tiên ở Việt Nam.

Vì sao chị lại từ bỏ công việc đáng mơ ước của nhiều người để chuyển sang một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ như vậy?

Thế nào là công việc đáng mơ ước? Theo như tiêu chuẩn của xã hội đặt ra, đó là công việc lương cao, giữ chức vụ quan trọng, nhiều cơ hội thăng tiến, làm ở công ty danh giá. Nhưng bản thân mỗi người lại không nghĩ như vậy. Nếu đó là công việc mình không đam mê, mình không giỏi, lấy của mình nhiều thời gian, bắt mình phải suy nghĩ nhiều, mệt mỏi nhiều, kể cả nếu công việc đó bạn kiếm được nhiều tiền nhưng lại không có thời gian tiêu tiền. Vậy, liệu đó có phải công việc mơ ước không? Cứ mải miết chạy theo những tiêu chuẩn của xã hội, luôn luôn cảm thấy có những công việc tốt hơn, công ty danh giá hơn, tôi thực sự không biết đâu là điểm dừng cho tham vọng của chính mình. Sau 7 lần nhảy việc, tôi không hề thấy hạnh phúc, tôi loay hoay đi tìm ý nghĩa và mục đích thực sự của cuộc sống. Khi đã “ngấm đòn” với những cái giá quá đắt, tôi biết mình cần dừng lại.

Từ bỏ đỉnh cao công việc như thế, chị có băn khoăn nhiều không? Chưa kể tới là ý kiến của mọi người trong gia đình…

Những lần nhảy việc trước, tôi đều rất băn khoăn nhưng lần này, sự băn khoăn ấy được thay bằng sự sáng tỏ. Tôi đã suy nghĩ thấu đáo, mục đích cuộc sống cũng không bắt buộc mình phải trả giá nhiều đến thế, nhất là sức khỏe. Tất cả mọi người xung quanh tôi đều ủng hộ quyết định này, duy chỉ có bố mẹ tôi lo lắng muốn tôi ổn định. Dần dần, khi quan sát con đường tôi đi khá vững vàng và có ích cho xã hội, bố mẹ tôi đã hoàn toàn ủng hộ.

Tại sao chị lại nhảy việc và giữa biết bao bộn bề lựa chọn, chị chọn lĩnh vực sống khỏe – một mảng miếng quá mới mẻ ở Việt Nam thời điểm đó?

Lần này, không phải tôi nhảy sang một công việc khác mà là tôi quyết định nghỉ hẳn để thực sự nghỉ ngơi và dành thời gian chiêm nghiệm lại cuộc sống. Tôi cũng đoán là con đường mình đã đi không hề ổn một chút nào. Tại sao trong cuộc sống lại phải đánh đổi thành công với sự thảnh thơi, hạnh phúc? Liệu còn cách nào có thể khiến tôi có cả hai mà không cần đánh đổi không? Vậy là tôi quyết định dừng lại, dành thời gian để sống thực sự. Tôi tìm đến lớp học yoga, rồi trở thành giáo viên dạy yoga, tôi học thiền, học về chế độ dinh dưỡng. Sau đó, tôi sang Mỹ học một khóa Health Coaching tại Học viện Dinh dưỡng IIN (Institute for Integrative Nutrition). Quyết định này đã mang tới cho tôi một công thức hoàn hảo để bắt đầu một sự nghiệp mới.

“Công thức hoàn hảo”, nghe thật thú vị. Chị có thể tiết lộ đôi chút về công thức ấy không?

Quyết định lần này hoàn toàn là nhờ sự tỉnh thức tâm linh. Đó là cả một quá trình dài, vì trong sống khỏe, mình phải đi từng bước, cải thiện từ điểm yếu nhất. Điểm yếu của tôi là làm sao cân bằng được cuộc sống và sự nghiệp. Khi sang bên Mỹ, tôi đã học được rằng một con người cần phải khỏe cả 3 mặt: thể chất, tinh thần và xã hội thì mới coi là khỏe. Khi nhắc đến sức khỏe, chúng ta thường chỉ nhắc đến khỏe về thể chất. Khỏe về tinh thần, ấy là sáng ngày mai thức dậy chúng ta cảm thấy tràn trề năng lượng, thấy hào hứng khi làm những việc có ích cho đời; còn khỏe về mặt xã hội, tức là có các mối quan hệ tốt thì hầu như mọi người không hề nhắc đến. Tất cả những yếu tố trên có thể vừa là độc tố vừa là dinh dưỡng ảnh hưởng tới sức khỏe chúng ta. Đấy chính là mô hình sống khỏe mà tôi đã được học. Muốn sống khỏe thì cần dinh dưỡng đúng, vận động thể dục đúng, kiểm soát stress đúng và muốn kiểm soát stress đúng thì cần lưu ý ba thứ: sự nghiệp, mối quan hệ và tâm linh. Trong đó, tâm linh chính là liều thuốc chữa khỏi mọi rắc rối, đau khổ.

Chúng ta nhắc nhiều tới sống khỏe, sống cân bằng, nhưng dường như không phải ai cũng hiểu nó một cách toàn vẹn, thấu đáo?

Chừng nào bạn cảm thấy hạnh phúc chưa trọn vẹn tức là bạn đang mất cân bằng. Có thể bạn cho rằng hạnh phúc là một định nghĩa rất mơ hồ, là một trạng thái ở một thời điểm nào đó chứ không mang tính chất kéo dài. Thực ra, hạnh phúc hay không là do lựa chọn của mỗi người. Chúng ta có thể lựa chọn được hạnh phúc hoặc được bất hạnh.

Quay trở lại về vấn đề mất cân bằng, tôi quan sát thấy chúng ta thường mắc kẹt ở việc mất cân bằng giữa sự nghiệp và gia đình, giữa việc chăm sóc bản thân và chăm sóc cho người khác, giữa khát vọng lớn và thực tế cuộc sống.

Đa số chúng ta đều có thể nhìn rõ việc mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống cá nhân của chính mình. Nếu chúng ta ưu tiên, thậm chí hi sinh, một trong hai thứ trong một khoảng thời gian dài thì đó sẽ là điều bạn nuối tiếc cả đời. Nam giới thường lao vào công việc, bỏ quên gia đình còn nữ giới hi sinh công việc để dành toàn tâm toàn ý vào chăm sóc gia đình. Rồi đến khi gia đình tan vỡ, họ thật sự cảm thấy chao đảo, mất phương hướng hoàn toàn.

Chính bản thân tôi cũng đã có thời điểm rơi vào trạng thái mất cân bằng cuộc sống. Thực sự cảm giác lúc đó thật tồi tệ, tôi đã thầm nghĩ cuộc sống này mệt mỏi quá… Chị có lời khuyên nào dành cho những người từng mắc kẹt trong mớ hỗn độn như tôi không?

Tôi xin được chia sẻ cảm giác ấy của bạn. Bạn biết không, khi tư vấn cho mọi người về sức khỏe, tôi thường cho họ làm những bài test về hạnh phúc với thang điểm từ 0 đến 10, 0 là vô cùng bất hạnh còn 10 là vô cùng hài lòng về cuộc sống. Sau khi nhìn vào bảng đánh giá của họ, tôi sẽ tư vấn 10 cách để họ mở rộng hạnh phúc của chính mình.

Trước tiên là bước thải độc, sau đó là bước nuôi dưỡng. Thải độc cũng như ăn uống vậy; giả dụ bạn đang làm công việc bạn không yêu, không phù hợp, môi trường không tốt thì hãy “thải độc”, thay đổi đi. Tại sao cứ phải tiếp tục sự đau khổ mỗi ngày? Một công việc lý tưởng để hạnh phúc đó là công việc mà mình thích, mình giỏi, có ích cho xã hội, lương cao. Còn nếu bạn tự cảm thấy bất hạnh vì công việc đó mình giỏi nhưng lương thấp hay mình rất thích công việc này nhưng có một bạn trong team mình không thích lắm thì hãy học cách yêu nó để không bị stress mỗi ngày.

Nói tới sống khỏe, không thể không nhắc tới bữa ăn của chúng ta hàng ngày. Ở góc độ một chuyên gia dinh dưỡng, chị nhận định thế nào về dinh dưỡng qua mâm cơm của các gia đình hiện nay?

Con người là loài duy nhất bối rối không biết ăn gì trên hành tinh này. Điều gì dẫn tới sự bối rối ấy? Bởi vì có quá nhiều lựa chọn, hơn nữa ảnh hưởng của quảng cáo khiến cho chúng ta phân tâm. Người ta thường chọn những gì được quảng cáo nhiều nhất nhưng đâu có biết thứ đó có cần cho cơ thể hay không. Sai lầm thường thấy nhất của đa số là thích ăn nhiều chất bổ béo dẫn tới béo phì và bệnh gan thận; ưu tiên sự ngon miệng hơn là đồ ăn có giá trị sức khỏe nên dính vào bẫy thức ăn nhanh; thích thực phẩm hiện đại như thực phẩm chức năng và thích học theo cách nấu ăn của những nước phương Tây. Là con người, hãy ăn thức ăn tự nhiên toàn phần, đa dạng, chủ yếu là thực vật và hãy lắng nghe cơ thể của chính mình.

Không chỉ là một chuyên gia sống khỏe, tôi còn biết, chị rất am hiểu thiền. Ngày nay mọi người nói về “hành thiền” rất nhiều, nhưng không phải ai cũng hiểu đúng về nó?

Điều sai lầm nhất mà họ nghĩ về hành thiền là cứ ngồi xuống, hít thở và không nghĩ gì. Đến khi ngồi xuống, trong đầu ngập tràn suy nghĩ, họ lại nghĩ rằng mình chưa tập được thiền, không hợp thiền hay không có duyên. Bản chất của hành thiền là tĩnh tâm. Bạn có thể gọi đó là bài tập thể dục cho bộ não để giúp mình kiểm soát dòng suy nghĩ và cảm xúc. Khi thiền, bạn sẽ tách được những ý nghĩ của mình ra để quan sát, nhận biết, xem rằng đó có phải mình hay không. Tôi ví não mình sinh ra những ý nghĩ giống như máy tính, thiền sẽ giúp mình làm chủ ba chức năng: phím ON, OFF và DELETE. Máy tính được bật quá lâu sẽ nóng máy giống như chúng ta suy nghĩ quá nhiều sẽ không thông suốt được đầu óc, vậy nên dùng phím OFF. Những dữ liệu thừa cần được giải phóng tựa như khi những đau khổ trong quá khứ chúng ta cần phải quên đi thì dùng phím DELETE. Khổ hay sướng, tùy vào suy nghĩ thôi.

Đến với thiền 6 năm, chị đã nhận ra được những điều gì?

Nhờ có thiền, tôi đã phá bỏ khuôn mẫu của mình trước kia. Tôi dám đối diện với sợ hãi, sự tự ti, dám sống mà không sợ người khác nghĩ gì về mình. Tôi có tự do, tôi được sống là mình. Đến với thiền, không thể nói tôi không còn tham vọng nhưng những tham vọng ấy thực tế hơn, là mình hơn.

Tôi nghĩ rằng bất cứ ai cũng có thể theo thiền, chứ không phải chỉ những bậc cao tăng, người siêu phàm có thể hành thiền như trong suy nghĩ nhiều người. Và thiền cũng không phải là bỏ hết hiện tại để đi đến những nơi hẻo lánh hoang vu để hành. Bạn có thấy ai đi tập gym luyện cơ bắp mà phải bỏ hết thực tại không? Chỉ cần những bài tập thiền vào cuộc sống hằng ngày như bạn đánh răng rửa mặt thôi, 3 phút một ngày cũng được.

Đặc biệt là các bạn trẻ, những người phải đối mặt với rất nhiều áp lực trong cuộc sống sôi động hiện tại, tôi khuyên các bạn nên tìm tới thiền, tới tâm linh càng sớm càng tốt, vì có tâm linh dẫn đường thì sẽ biết được điểm dừng khi mình đứng trước ngưỡng sân, si.

Người trẻ, hãy cứ mạnh dạn trải nghiệm và tận hưởng cuộc sống. Hãy làm tất cả những gì mình muốn, kể cả tham, sân, si cũng được. Đừng sợ! Bởi họ được phép sai lầm, từ đó trang bị thêm kiến thức bao gồm sức khỏe, trí tuệ để xử lý những độc tố trong cuộc sống của mình.

Hiện nay, có rất nhiều người nhắc tới khái niệm “sống xanh”. Vậy theo chị “sống xanh” có phải chỉ là ăn chay không?

Sống xanh là hài hòa với nội tâm, với người khác và với thiên nhiên. Đa số chúng ta tùy nhu cầu và hoàn cảnh mà thường tiếp cận với sống xanh chỉ từ một góc độ có lợi cho bản thân mình lúc đó, nếu không tiếp tục tìm hiểu sẽ không thấy hết những mặt khác trong tổng thể cái mà tôi gọi là “hệ sinh thái sống xanh”.

Ăn chay hay tập thể dục đúng là sống xanh nhưng chỉ là một phần mà thôi. Khi hiểu được cách thức hệ sinh thái đó vận hành và vị trí của mình trong sự kết nối với các nhân tố khác trong hệ sinh thái đó, chúng ta sẽ có khả năng đưa ra những chọn lựa vừa nuôi dưỡng bản thân mình tốt nhất cả về thể chất và tinh thần, vừa giúp giữ cân bằng bền vững cho toàn bộ hệ sinh thái.

Chị có lời khuyên nào về việc tập thể dục không?

Tác hại của việc không tập thể dục không khác gì tác hại của việc nghiện thuốc lá vậy, hậu quả đến từ từ nhưng bào mòn cho tới khi bạn kiệt quệ. Vận động tập thể dục giúp các tế bào thông minh hơn để xử lý mỡ thừa đóng lại trong tế bào, giúp hệ thống dây chằng, cơ xương khớp được bôi trơn. Mỡ thừa gây ảnh hưởng tới những thụ thể nằm trong tế bào, tới trao đổi chất bên trong và bên ngoài cơ thể, máu sẽ không lưu thông được. Không tập thể dục sẽ không tận dụng được dinh dưỡng và làm suy yếu khả năng thải độc.

Là một người hiểu rõ về sức khỏe con người như thế, về bản thân mình, chị đã thực hiện một cách nghiêm túc và chỉn chu chưa?

Tập yoga, thiền, ăn uống dinh dưỡng đúng, tôi làm được hết và tuân thủ nghiêm ngặt, duy chỉ có điều tôi chưa hài lòng về bản thân mình là chưa ngủ sớm. Khoảng thời gian ngủ tốt nhất là từ 10 rưỡi đến 11 giờ đêm nhưng bản thân tôi còn đang dở dang việc học nên thường đi ngủ muộn hơn dự kiến một chút. Tôi hy vọng sớm cải thiện được thói quen này.

Các bạn ạ, tôi thực sự mong mọi người hãy chăm sóc sức khỏe thể chất, tinh thần, xã hội của bản thân một cách khoa học, đúng đắn để có cuộc sống thực sự Xanh và Trong.

Cám ơn chị về cuộc trò chuyện này!

 

Bài: Ninh Linh – Huyền Trang

Ảnh: Duy Anh

Thiết kế: Hương Xuân

Theo Trí Thức Tre

 

http://cafef.vn/huan-luyen-vien-suc-khoe-dau-tien-o-viet-nam-nguoi-tre-cu-trai-nghiem-di-san-si-di-nhung-nen-biet-toi-tam-linh-cang-som-cang-tot-de-khong-nga-quy-20181019132846406.chn

GIẢI MÃ NHỮNG BÍ MẬT CỦA THIỀN ĐỊNH


Zen

Không cứ phải vào rừng kiếm một guru râu dài mới học được thiền.Tại Mỹ, giờ đây, nhiều khi không muốn ngồi thiền Thiền định đã trở thành môn học chính cũng khó vì giờ đây nó là khóa ở nhiều trường học của Mỹ môn được yêu cầu tại nhiều trường học, bệnh
viện, công ty luật, các tổ chức chính phủ và cả trong nhà tù…Trong các trường học bao gồm cả đại học, trung học cấp 2, cấp 3 và tiểu học ở Fairfeild, Iowa, sinh viên và học sinh ngồi thiền tập thể 2 lần mỗi ngày. Ngay tại các khách sạn khu Catskills ở New York đã trở
thành các trung tâm thiền nhanh đến mức được coi là Buddhist Belt (Vành đai Phật giáo).

examains
Trào lưu thiền định khởi phát từ văn hoá và y học. Ngày càng nhiều thầy thuốc ở Mỹ yêu cầu bệnh nhân ngồi thiền như một biện pháp phòng và điều trị các bệnh mạn tính như tim, AIDS, ung thư, vô sinh và đặc biệt là các bệnh rối loạn thần kinh, trầm cảm. “30 năm
nghiên cứu đã cho chúng tôi thấy thiền định có tác dụng tuyệt vời trong việc giảm stress”, Daniel Goleman cho biết. Ông là tác giả của cuốn Destructive Emotions (Những cảm xúc tiêu cực) – cuốn sách miêu tả cuộc đối thoại giữa Đạt Lai Lạt Ma và nhóm các nhà thần kinh học. Các kỹ thuật quét ảnh não tân tiến cho thấy thiền có thể “rửa” lại não, giải toả các khu vực căng thẳng vì máu ở tình trạng ách tắc…

Conceptual Mind
Human Mind series. Background design of brain human outlines and fractal elements on the subject of technology science education and human mind

Bộ não cũng giống như cơ thể, có thể trải qua những thay đổi cực nhỏ trong thiền định sâu. Năm 1967, giáo sư Herbert Benson ở Đại học Y Harvard đã tiến hành nghiên cứu trên 36 người thiền định và thấy rằng khi ngồi thiền họ dùng lượng oxy ít hơn bình thường 17%, giảm 3 nhịp tim/ phút và tăng sóng Theta ở não – hệt như trạng thái trước ngủ – trong khi toàn não vẫn tỉnh táo. Những năm 70, Benson còn chứng minh rằng: người ngồi thiền có thể đạt được trạng thái tỉnh táo hơn và hạnh phúc hơn. Benson nói: “Tất cả những gì tôi làm là dùng logic sinh vật học để giải thích môn thiền học được con người dùng hàng nghìn năm nay”.

15

Bảy năm sau, tiến sĩ tâm thần học Gregg Jacobs, Đại học Havard qua việc ghi sóng não đã phát hiện ra rằng những người ngồi thiền định có thể sản sinh ra rất nhiều sóng Theta và có thể phong toả phần não trước vốn nhận và xử lý cảm giác, ngoài ra họ cũng giảm thiểu
hoạt động ở phần thuỳ đỉnh não, nơi phụ trách các cảm giác về không gian – thời gian. Bằng cách “tắt” thuỳ đỉnh não, người ta có thể mất cảm giác về giới hạn và thấy vũ trụ “trở thành một”.

jaameditates
Công nghệ dựng ảnh não ra đời càng thúc đẩy thêm nhiều nghiên cứu. Năm 1997, nhà thần kinh học Andrew Newberg, thuộc Đại học tổng hợp Pennsylvania, đã dùng tia phóng xạ để xem áp lực máu trong não của một nhóm các thiền sư và phát hiện ra rằng khi họnhập định, não của họ không “tắt” mà chỉ phong toả các thông tin lên thuỳ đỉnh não. Nghiên cứu thiền định đã có một bước ngoặt vào  tháng 3/2000 khi Đạt Lai Lạt Ma gặp gỡ các nhà thần kinh học ở Ấn Độ và yêu cầu sử dụng các kỹ thuật dựng ảnh não hiện đại nhất để quan sát các đại sư thiền định (gắn đầy các điện cực).

to-su-dat-ma-3
Người Mỹ đang say mê thử các kỹ thuật thiền như Vipassana (tập thở), thiền định (đi bộ chậm trong tỉnh giác), TM (thần thiền, bằng cách nhắc đi nhắc lại những câu thần chú tiếng Phạn). Dzogchen (tỉnh giác) và thậm chí cả thiền vũ (nhảy theo nhạc). Roger Walsh, giáo sư triết học, tâm thần học, Đại học tổng hợp California, nói: “Chỉ những năm gần đây ngành tâm thần học phương Tây mới chỉ nhận ra hội chứng nhiễu loạn chú ý mất tập trung). Nhưng các thiền giả phương Đông đã biết từ hàng nghìn năm trước rằng con người luôn bị nhiễu loạn chú ý mà không ý thức được”.

yoga-chakra

Hơn 10 năm trước, tiến sĩ Dean Ornish đã khẳng định thiền cùng với yoga và ăn kiêng có tác dụng giảm thiểu sự tích tụ các mảng bám ở động mạch vành. Tháng 4/2003, tại đại hội của Hội Tiết niệu Mỹ, ông đã công bố nghiên cứu rằng: Thiền định có thể làm chậm lại sự
phát triển của ung thư tuyến tiền liệt. Tại Đại học Cambridge, John Teasdale chứng minh rằng: Thiền giúp bệnh nhân trầm cảm rất hiệu quả và giảm tới 1/2 khả năng tái phát bệnh. Ngoài ra, Jon Kabat-Zin, người thành lập Trung tâm trị liệu Stress năm 1979, đã giúp đỡ hơn 14.000 người vượt qua các bệnh đau đớn mà không cần dùng thuốc bằng cách tập trung thiền định. Jon nói: “Thiền định cực kỳ hữu dụng với những bệnh nhân ung thư, AIDS hay các bệnh nhân đau mạn tính”.

IMG_2271

Cũng theo Jon, kỹ thuật thiền định càng hoàn hảo, con người càng có nhiều kháng thể và hệ thống miễn dịch trong cơ thể càng lớn mạnh. Ngoài ra, nhiều nghiên cứu mới cũng cho thấy thiền đôi khi có thể thay thế được Viagra vì nó mang lại rất nhiều sinh lực. Nữ nghệ sĩ Heather Graham bắt đầu ngồi thiền từ 12 năm trước dưới sự hướng dẫn của David Lynch, đệ tử của Maharishi nổi tiếng: “Thiền định đã khiến đời tôi đổi khác”, chị nói. “Vào cuối ngày, những câu chuyện
phức tạp ở phim trường chẳng còn ý nghĩa gì với tôi nữa”. Rất nhiều người Mỹ nổi tiếng đã ngồi thiền như: Goldie Hawn, với thiền phòng đầy ảnh Đạt Lai Lạt Ma và mẹ Teresa; hay Bill Ford, ông chủ hãng Ford Motors; cả Hillary Clinton cũng ngồi thiền; rồi vợ chồng nhà Al Gore. “Cả hai chúng tôi đều tin tưởng vào cầu nguyện và đặc biệt làthiền định”, Al Gore, cựu phó tổng thống Mỹ đã nói.

 

Hình minh họa : internet

Tham khảo : Trích mục 19 – Sách Bí Ẩn Nhân Loại – Minh Anh soạn – Nhà Xuất ản Từ Điển Bách Khoa

Minh Tịnh, vị thiền sư đất Thủ Dầu Một và cuộc hành trình Tây Trúc (Vào thập niên 30 thế kỷ XX)


HUỆ THÔNG (*)

Trong quan niệm của hầu hết những người tu theo đạo Phật đều có một ước nguyện là một lần trong đời được đến chiêm bái phật tích (từ động tâm) nơi ra đời và hành đạo của đức Phật thích Ca.

Vào những thập niên đầu của thế kỷ XX trở về trước, việc xuất dương đi ngoại quốc nói chung cũng như chiêm bái, nghiên cứu, học Phật tại Thiên Trúc (Ấn Độ) của giới Phật giáo nói riêng là cả một vấn đề khó khăn, nếu không có ý chí và lòng kiên nhẫn thì khó có thể thực hiện được. Mỗi một quốc gia mỗi một địa phương qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau đều có những nhân vật siêu phàm xuất hiện để thực hiện những hoài bão lớn lao mà thường khó có ai làm được. Không thể so sánh với nhà học giả uyên thâm cả về đạo học lẫn thế học của Trần Huyền Trang đời Đường Trung Hoa sang Tây Thiên Trúc thỉnh kinh. ở Thủ Dầu Một, Bình Dương, Thiền sư Minh Tịnh là một trong những người đầu tiên của Việt Nam trong những thập niên đầu của thế kỷ XX sang chiêm bái phật tích ở các xứ sở của Phật giáo: Ấn Độ, Tây Tạng, Népal… trong cuộc hành trình dài hơn 2 năm (1935-1937). Khác với chuyến đi của Hòa thượng Từ Văn chùa Hội Khánh, TDM sang Pháp vào năm 1920 với nhiệm vụ làm chủ lễ cầu siêu tại Marseille do sự thỉnh cầu theo lời mời của toàn quyền Pháp Đông Dương, thiền sư Minh Tịnh ra đi tìm để hiểu, chiêm bái phật tích bằng ý chí và lòng phát nguyện của mình trong bối cảnh lịch sử mà Phật giáo cả nước trong cao trào bừng dậy cuộc chấn hưng Phật giáo. Trong suy nghĩ của thiền sư Minh Tịnh: Muốn chấn hưng Phật pháp phải biết cội nguồn của Phật pháp. Với ý chí, tư duy đó, ngài đã quyết tâm lên đường xuống bến Nhà Rồng để về xứ Phật vào lúc 17 giờ ngày 17-4-1935.
Trong gần 3 năm chiêm bái, nghiên cứu Phật học cũng như tìm hiểu kho tàng văn hóa của xứ sở đa thần giáo này, thầy Minh Tịnh đã ghi rất đầy đủ, khá chi tiết từng sự kiện trong nhật ký hơn 300 trang của mình. Đọc nhật ký ta thấy rõ ở con người bình dị, thanh thoát của thiền sư Minh Tịnh, ngài đã ghi rõ từng chi tiết ở các nơi của từng địa phương mà ngài đã đi qua. Nhật ký được thể hiện bằng lời văn vừa tri thức, vừa bình dị nhưng mang đậm màu sắc nhân văn và ta thấy rõ nơi đây chứa đựng cả một tâm huyết và ý chí mãnh liệt của bậc chân tu.
Suốt 15 ngày đêm vào ngày31-4-1935, thầy Minh Tịnh đã đến cảnh Tây Thiên vào thành Ba La Nại (Bénarés) ở Lộc Giã Viên (Sarnath) nơi đức Phật tiếp độ 5 anh em Kiều Trần Như và nơi đây cũng là nơi hình thành 3 ngôi Tam Bảo (Phật pháp tăng) đầu tiên của đạo Phật. Ở đây, thiền sư Minh Tịnh phải sống ròng rã 2 tuần lễ trong những ngôi chùa của đạo Hindou, ngài áp dụng phương pháp: ”Nhập gian tùy khúc, đáo xứ tùy nhơn”. Thầy phải sống và thực hành nghi thức tế lễ cúng thần linh, nghi tế lễ Bò (vị thần của đạo Hindou). Nếu không có lòng kiên nhẫn và sức chịu đựng thì khó có thể hòa nhập vào cuộc sống nơi đây, nhất là sống với những người không cùng mục đích và lý tưởng với mình.
Tôi rất xúc động khi đọc quyển nhật ký của ngài đã ghi lại vào một đêm ở chùa ngoại đạo: “Trong lúc ngồi thiền một cảm giác khác thường bất chợt đến trong tôi, sự lẫn lộn giữa niềm vui lẫn nỗi buồn nó cứ đan xen vào tâm thức, dòng nước mắt lại trào dâng đến nỗi thấm ướt cả lòng bàn tay ngửa trong tư thế kiết ấn thiền tọa và chưa bao giờ mà bần tăng loạn tâm như thế này…!”. Tôi vừa cảm động, vừa khâm phục khi thiền sư Minh Tịnh đã can đảm nói lên dòng cảm xúc của mình đến đỗi phải tuôn đôi dòng lệ dù đây là sự loạn tâm. Ở đây nước mắt của thầy là dòng nước mắt của sự cảm xúc khi được về mảnh đất của đức Từ phụ mình, thầy Minh Tịnh ví như: “Khác nào con trẻ chơi xa, trở về nhà đặng thấy mẹ, sa vào lòng mẹ vui vẻ khôn cùng…”. Thật vậy, cho dù bất cứ ai khi được một lần về mảnh đất, quê hương nơi vị giáo chủ khai sáng ra tôn giáo mình đang theo mà không hạnh phúc đến trào dâng nước mắt? Thầy Minh Tịnh cũng không ngoại lệ.
Sông Hằng là con sông mà không biết bao nhiêu người dân Ấn Độ đã xem nó là con sông linh thiêng nhất. Trong kinh đức Phật đã diễn tả nhiều cuộc tranh luận giữa đức Phật với các nhà sư ngoại đạo về niềm tin mê tín của dòng sông huyền thoại vô tri này. Thiền sư Minh Tịnh đến sông Hằng. Nơi đây, thầy đã tận mắt chứng kiến mọi sự tu hành khổ hạnh, ép xác, nhịn ăn, nhịn uống và rất nhiều lối tu cực kỳ đau khổ của các nhà sư hành đạo nơi đây như: phù thủy, bùa chú. Đạo thần có: sơn thần, thọ thần, hỏa thần, thủy thần. Đạo quỷ có: la sát, quỷ xà, ngưu mã, yêu tương, quỷ điểu, chằng tinh… các đạo này với những nghi thức tu hành như đứng một chân, trồng chuối ngược, ngồi dưới nước, chôn mình dưới cát và có đạo lõa thể… có trước thời đức phật, mỗi tín đạo của đạo nào phải có nhiệm vụ cúng tiền hay phẩm vật cho vị sư của đạo đó và đây cũng là sự sống của họ. Sự tu hành khổ hạnh của họ đã làm cho thiền sư Minh Tịnh ngậm ngùi thương cảm:
Trong vùng ngoại đạo cõi Tây Thiên
Thích tử vào ra luống ngậm phiền
Nguồn cội nở quên vùi phật tánh
Xuống lên ba cõi nghiệp không yên.
Trải qua những ngày tháng thừ thách sống chung với những người không cung đạo cuối cùng: “Sau cơn mưa, trời lại sáng”. Thiền sư Minh Tịnh cũng được đến và cùng sống chung tu tập với những hành giả đồng đạo ở những nơi ra đời và hành đạo của đức Phật theo nguyện ước của mình.
Trong thời gian ở thành Ba La Nại thầy đến vườn Lộc Giã (Sarnath) xin nhập  chúng tu tập tại đây 10 tháng. Rồi đến Boudhagaya (nơi đức Phật thành đạo) nơi đây thầy Minh Tịnh chiêm bái và tư duy về sự tu chứng của đức Phật. Hàng đêm ngài trì tụng kinh pháp hoa theo sở tu của mình.
Ấn Độ chỉ là nơi đức Phật tu tập và truyền đạo, còn xứ sở băng tuyết Hìmalayathuộc địa phận Népal mới là nơi thái tử Sĩ Đạt Ta (Đức Phật) ra đời. Từ Boudhagaya thầy phải mất 6 ngày mới đến Hy Mã Lạp Sơn, nơi đây mùa đông chỉ toàn là băng tuyết, hầu hết không ai có thể chịu nổi cái xứ sở lạnh giá này trừ những con người có ý chí và lòng kiên nhẫn. Và cũng chính nơi đây mảnh đất băng giá này đã sinh ra một con người giác ngộ, trí tuệ đã chiến thắng được chính mình. Quả đúng như lời của tổ sư Hoàng Bá: “…Nếu chẳng một phen sương xuống lạnh, hoa mai đâu dễ trổ mùi hương”.
Minh Tịnh vô cùng hạnh phúc khi mà ngài đã được về quê hương của vị giáo chủ mình ra đời. Ngài đến Lumbini (nơi đức Phật giáng sanh), đến thành Ca Tỳ La Vệ (nơi hoàng cung một thời vàng son của thái tử Sĩ Đạt Ta) để chiêm bái. Đặc biệt trong chuyến đi đến Népal của ngài là được chiêm bái ba ngôi đại tháp thờ Xá Lợi Phật lớn nhất ở Népal; tháp Simb-Nath; tháp Boudha-Nath; tháp Nam mo- Bouddha. Hầu hết Xá Lợi Phật đều được đưa về xứ sở Himalaya để tôn thờ. Vì trong cuộc chiến tranh xâm lược của Anh quốc đến Ấn Độ đã tàn phá một số di tích của Phật giáo. Để bảo tồn di vật tôn quý này, nên quý lãnh đạo Phật giáo lúc bấy giờ mới đưa các Xá Lợi Phật sang xứ Népal tôn thờ và cũng để tránh sự hủy hoại của chiến tranh. Một sự kiện hy hữu và cảm động biết bao, khi thiền sư Minh Tịnh 3 lần sắm lễ vật để xin được đảnh lễ Xá Lợi Phật, đối trước vị Thượng tọa Lam người cai quản tháp, Minh Tịnh đê đầu, rơi lệ nhớ đến bổn sư ở quê hương An Nam chưa từng được tận mắt nhìn thấy Xá Lợi Phật, nên mong ước làm sao được thỉnh Xá Lợi về xứ An Nam để cho thầy bổn sưcũng như toàn thể phật tử An Nam chiêm bái. Sau nhiều lần đảnh lễ thỉnh cầu. Cảm phục đức hạnh và lòng hiếu đạo của thầy, nên vị thượng tọa quản tháp dâng cúng Xá Lợi cho thầy để đem về xứ An Nam làm lợi ích cho chúng sanh. Hạnh phúc và sung sướng tràn ngập trong lòng, thiền sư Minh Tịnh tỏ bày: “…Xá Lợi có hào quang ngời
chói, màu hồng bạch tốt tươi, dầu cho ngọc dồi cũng không tày. Vật vô giá quý thay! Đó là nhơn duyên đặng Xá Lợi. Khi biết Nam Việt là chỉ muốn khảo cứu Phật đạo Tây Thiên, chớ không có cái hạnh nguyện nào về sự cầu Xá Lợi. Đó là sự tình cờ, bất cầu tự chí, hạnh phúc toàn cõi nước Việt Nam, nên mới đặng như vậy”. Ngài cảm động nói:
Đầu non tuyết đóng đá thoa vôi
Hạnh gặp chơn tu nhập định ngồi
Trên mặt gương lành bày mấy nét
Trước đơn bần đạo vẻ thương ôi!
Thiên nhiên đoạt lý luân hồi quả
Tục luy trưng duyên đoạn nghiệp nhồi
Hi Mã mách đường tầm xá lợi
Bái từ đại đức nguyện như lời.
Có thể nói vào những thập niên 30 – 40 ở miền Nam Việt Nam đây là lần đầu tiên Xá Lợi Phật được thỉnh từ Tây Thiên do thiền sư Minh Tịnh mang về tôn trí tại tổ đình Thiên Thai của tổ sư Huệ Đăng.
Sau 12 ngày lưu trú tại xứ sở băng tuyết của Népal, thầy trở về Bồ Đề Đạo Tràng và sau đó ngài xin tổ chức hội để được đi sang đất Tây Tạng xứ sở của Phật giáo. Mọi duyên lành đã đến thầy, được tổ chức hội chấp thuận và cử vị Lama cùng đi với thầy đó là: Ngài Lama Gava-Sandhen và 3 đồ đệ của Sandhen là: Champa Choundouss Lama; lsê Lama; lsess Champa. Vào ngày 27-2-1936 (5-2 ÂL) ngài cùng các vị Lama khởi hành từ Bồ Đề Đạo Tràng đi Tây Tạng. Họ đi bằng tàu hỏa, ngựa và đi bộ, suốt hơn 3 tháng ròng mới đến thành LhaSa kinh đô nước Tây Tạng. Thầy Minh Tịnh kể về chuyến đi này đầy gian nan, cực khổ. Mùa đông thì băng giá thấu xương, mùa hạ thì khô da cháy thịt, trèo núi băng rừng… đi tới đâu thì phải tùy thuận vào đời sống của từng địa phương, vì dân mỗi vùng có phong tục khác nhau. Những vị Lama cùng đi với thầy họ tu theo hệ tiểu thừa nên họ ăn thịt và uống “xăng” (thứ nước có gas). Còn thiền sư thì dùng trai, độ ngọ. Đi tới đâu ngài học cách sống và tìm hiểu phong tục nơi đó, khi rảnh thầy học tiếng Tây Tạng. Chính ý chí mãnh liệt này của thầy đã làm cho quan Thừa tướng Tây Tạng phải khâm phục khi mới gặp ngài lần đầu lúc mới đến kinh đô DhaSa. Ở Tây Tạng, Quốc vương cũng là đại đức Lama. Thầy Minh Tịnh đến chiêm bái một ngôi chùa gọi là quốc tự của Vương quốc, ngôi chùa rộng lớn làm toàn bằng vàng có hàng chục nóc nhà xem uy nghi, tráng lệ. Ở Tây Tạng chùa rất đẹp, rất rộng mỗi ngôi chùa có hàng trăm, hàng ngàn tăng sĩ ở tu tập. Thầy Minh Tịnh ở tại dinh Thừa Tướng được 5 ngày, sau đó mới đi yết kiến Quốc vương Tây Tạng.
Trước khi đến với nhà vua, phải sắm lễ vật dâng Quốc vương theo tục nghi của Tây Tạng. Sau 3 lần dâng lễ đại đức Lama Quốc vương, thầy Minh Tịnh mới được Quốc vương tâm ý khen ngợi là ngài có tinh thần cầu đạo, đây là bật chân tu của xứ An Nam. Vào ngày 4-10-1936 (19-8 ÂL), Minh Tịnh xin được cầu pháp với Lama Quốc vương. Quốc vương chấp thuận và tâm ấn trao cho nhiếp chính vương Lama ngự bút ban đặt cho pháp danh: Thubten- Osall Lama. Thầy Minh Tịnh là một trong những nhà sư ngoại quốc hy hữu được Quốc vương Lama Tây Tạng ban đặt pháp danh. Ngụ ý pháp danh: Thubten là tên của Lama Thái Thượng Hoàng, Thubten cũng còn gọi là kim cương bền vững. Còn chữ Osall là ánh sáng mặt trời và cũng là tên của Quốc vương Lama đương kim. Với ý nghĩa pháp danh mà Quốc Vương ban cho, đây là niềm danh dự cao quý nhất đối với thiền sư Minh Tịnh trong chuyến du hành chiêm bái xứ sở Phật giáo. Sau hơn 4 tháng nghiên cứu, tu tập, chiêm bái ở Tây Tạng thầy Minh Tịnh đã chứng được sở tu và hành trì về pháp môn thiền định từ các vị cao tăng Lama trong đó có sự truyền thừa từ đại đức Lama Quốc vương.
Sau khi đạt thành sở nguyện vào ngày 29-10- 1936 thầy BiIKhu. Thubten – Osall trở về Bồ Đề Đạo Tràng (Ấn Độ) và tiếp tục tu tập, làm phật sự, đi chiêm bái một số phật tích ở khu vực cũng như các nước lân cận…
Đối với thiền sư Minh Tịnh được về xứ Phật đó là hạnh phúc lớn nhất trong đời tu hành của một vị xuất gia, nên ngài luôn tin tấn hành trì, tụng niệm, nghiên cứu và thực hành trong suốt thời gian ngài sống tại nơi đây.
Vào ngày 14-6-1937, thầy Minh Tịnh trở về Việt Nam và kết thúc cuộc hành trình Tây Thiên Trúc của mình. Ngài về tới Việt Nam vào lúc 7 giờ sáng ngày 30-6-1937 (22-5 năm Đinh Sửu).
Hơn 2 năm! 2 năm của ý chí và lòng kiên nhẫn của thiền sư Minh Tịnh đã để lại  trọn vẹn cuộc đời hành đạo của ngài; đã để lại cho mai hậu tấm gương một con người dũng cảm đã chiến thắng mọi nghịch cảnh để đạt được tâm nguyện hướng về chân lý trong cuộc hành trình về xứ Phật của mình.
Ai cũng có một lần đi và về, nhưng điều quan trọng là chúng ta đã để lại được những gì cho cuộc hành trình trên con đường chân lý ấy. Chúng tôi cũng có túc duyên và diễm phúc được đi hành đạo và tham quan nhiều nước trên thế giới và được một lần về chiêm bái phật tích ở Népal và Ấn Độ như thiền sư Minh Tịnh, nhưng đối với chúng tôi không thể so sánh được với người xưa, đó là lòng kiên nhẫn, ý chí và tinh thần chiến thắng mọi nghịch cảnh của chính mình nhất là ở hoàn cảnh thời đại cách nay gần 3/4 thế kỷ.
Thiền sư Minh Tịnh tên thật là Nguyễn Tấn Tạo (ông Mười Tạo) sinh năm 1888, tại thôn An Thạnh, Thủ Dầu Một. Ngài là người trí thức am hiểu đông và tây học, làm công chức ngành y tế thời Pháp. Ông nghiên cứu Phật học từ năm 16 tuổi, sau đó xuất gia với Hòa thượng Ấn Thành – Từ Thiện chùa Sắc Tứ thiên Tôn với pháp danh: Nhơn Phổ – Nhẫn Tế thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ 40. Sau này thầy Nhơn Phổ cầu pháp và thụ giới với hòa thượng Ngộ Định – Từ Phong trong đại giới đàn năm Quý Dậu. Ngài chu du cầu thầy học đạo và được tổ sư Huệ Đăng tông phái Thiên Thai Thiền Giáo Tông Liên Hữu Hội tiếp độ làm đệ tử.
Sau chiến vân du học đạo nơi xứ Phật, ngài đã trở thành một vị cao tăng, từ đó trong giới xuất gia cũng như tại gia rất sùng kính thiền sư Minh Tịnh. Với uy tín và đức hạnh của ngài nên vào năm 1937, gia đình đại gia Trần Khánh Sanh phát  tâm trùng tu lại am Thiên Chân thành chùa Thiên Nhơn để cúng dường cho hòa thượng hành đạo. Cũng trong năm này, ông Hương cả Trượng ở Phú Cường nghe anh thiền sư Minh Tịnh từ xứ Phật về, nên ông thỉnh thiền sứ về trụ trì chùa Bửu Hương tại làng Phú Cường. Ngôi chùa này được xây dựng vào khoảng năm 1930 do ngài Cao Minh và ông Huyện Trương vận động bà con xây dựng. Chùa ban đầu thuộc phái Bửu Sơn Kỳ Hương (giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương xuất hiện vào khoảng năm 1849 ở vùng đồng bằng sông Cửu Long do ông Đoàn Văn Huyên sáng lập. Ông chủ trương trị bệnh, khuyên người đời tu thiện, hành thiện và ông tự nhận mình là: “Phật thầy giáng thế cứu đời là ta”. Giáo lý Bửu Sơn Kỳ Hương được thể hiện trên ba nét chính với yêu cầu làm thế nào dễ tu, dễ hiểu và mau thành đạt…).
Thiền sư Minh Tịnh sau khi nhận trụ trì chùa Bửu Hương, ngài đổi thành Tây Tạng Tự để đánh dấu chuyến đi hành hương xứ Phật vàTâyTạng của mình. Để lưu lại ý nghĩa này, thiền sư Minh Tịnh đặt câu đối ở chùa như sau:
Tây quy độc diệu Thiên Nhơn Bửu
Tạng xuất hàm linh đia tạp Hương
Vào năm 1945, Hòa thượng Minh Tịnh được cử làm Chủ tịch Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Thủ Dầu Một. Vào tháng 6-1946, ngài được cử vào thành viên Mặt trận Việt Minh tỉnh Thủ Dầu Một tại khu Thuận An Hòa. Hòa thượng Minh Tịnh là người có công trong phong trào kháng chiến chống Pháp trong giới Phật giáo và cũng là người cha đỡ đầu của đồng chí Nguyễn Văn Thi, Liên Trung đoàn trưởng, bản doanh đóng tại Bình Chuẩn, Lái Thiêu. Thầy còn là người đỡ đầu tinh thần Chi đội 1 và Chi đội 10 sau này trở thành Liên Trung đoàn 301, 310. Vào năm 1950, ngài Minh Tịnh được cử làm cố vấn quân, dân, chính tỉnh Thủ Dầu Một. Hòa thượng từng kêu gọi trong giới Phật giáo phải dồn hết sức mình tham gia vào cuộc kháng chiến. Ngài nói: “Khi nào còn chiến tranh thì một viên ngói, một viên gạch cũng không được xây chùa…”. Ngài động viên hàng tăng sĩ cũng như phật tử của chùa trực tiếp tham gia kháng chiến như: Nguyễn Văn Lạc, pháp danh: Pháp Cự, hy sinh 1949; Nguyễn Văn Thân, pháp danh Trí Bổn; Huyền Mẩn hy sinh năm 1948; Diệu Trạm hy sinh; Nguyễn Văn Khía pháp danh Như Khế làm Chánh Văn phòng Tỉnh ủy Phước Thành Nguyễn Văn Xinh pháp danh Thiện Hiệu hy sinh 1948; Nguyễn Xển hy sinh; Lâm Văn Thảo, pháp danh Thiện Đắc, hy sinh 1945; Nguyễn Văn Mân, pháp danh Nguyên Tánh, hy sinh 1945; Nguyễn Văn Pháo, pháp danh Thiện Niệm, hy sinh 1949; Huỳnh Văn Thiện, pháp. danh Thiện Cơ; bà Bảy Thưởng, chị Út Thủy làm giao liên; Nguyễn Văn Hoa, pháp danh Tâm Thuận; Nguyễn Chí Dũng, pháp danh Tâm Nhuận; Lâm Văn Tuất, pháp danh Trí Hành… những người xuất gia hoặc tại gia đều là học trò của hòa thượng, sau này trở thành những đảng viên cộng sản.
Thiền sư Minh Tịnh là bậc cao tăng, Phật học, ngài để lại quyển Nhật ký hành trình Tây Thiên Trúc và dịch bộ kinh Lăng Nghiêm Tông Thông (do Thành hội Phật giáo TP.HCM xuất bản 1997).
Thiền sư Minh Tịnh viên tịch vào ngày 17-5-1951 (năm Tân Mão), thọ 63 tuổi, đồ chúng lập tháp thờ trong khuôn viên chùa Thiên Nhơn. Tang lễ của hòa thượng được các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, UBHCKC, MTLV tỉnh Thủ Biên tổ chức tưởng niệm trong khu giải phóng.
Để tưởng niệm ân đức của ngài, vào năm 1992 UBND tỉnh cho phép chùa trùng  tu lại toàn bộ ngôi chùa Tây Tạng với lối kiến trúc, đương nét như chùa xứ Tây Tạng để ghi nhớ về cuộc hành hương về xứ Phật của con người phụng sự trọn cuộc đời cho đạo pháp và dân tộc.
H.T
(*) Chùa Hội khánh