Xu hướng tuyển dụng và Ngành nghề phát triển sau đại dịch


Xu hướng tuyển dụng trên thế giới sau đại dịch COVID-19

Theo Viện Nghiên cứu Toàn cầu McKinsey (MGI), xu hướng phát triển của các ngành nghề sau đại dịch COVID-19 sẽ ảnh hưởng rõ rệt tới xu hướng tuyển dụng tại một số thị trường lớn trên thế giới.

Những thay đổi trong hành vi người tiêu dùng và phương pháp hoạt động của doanh nghiệp cũng góp phần tác động tới nhiều nhóm công việc khác nhau.

Ngành y tế, khoa học, vận tải cần nhân lực

Trong giai đoạn dịch bệnh, nhiều nhà sản xuất lớn trên thế giới đã ứng dụng công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất. Các thiết bị máy móc, dây chuyền tự động có thể giúp đảm bảo giãn cách giữa nhân viên trong môi trường sản xuất hoặc tại điểm bán hàng.

Tại nhiều quốc gia, các nền tảng dịch vụ số và thương mại điện tử cũng mang lại sự tiện lợi cho người dân. Thay vì phải di chuyển nhiều, người tiêu dùng nay đã có thể tiếp cận những trang giao dịch, mua bán trực tuyến và dịch vụ công ngay trên thiết bị điện tử cá nhân.

Nhờ sự phát triển của các nền tảng tự động hoá và công nghệ thông tin, nhu cầu tuyển dụng của các ngành Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học (STEM) có thể sẽ tăng mạnh trong tương lai.

Khi các nền kinh tế mở cửa trở lại, chính phủ và doanh nghiệp cần nguồn lao động trình độ cao để có thể tiếp tục duy trì, triển khai những nền tảng công nghệ tiên tiến.

Theo cơ quan Dịch vụ Việc làm của Liên minh châu Âu (EURES), sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đã khiến những thành tựu và sự phát triển trong lĩnh vực khoa học, y tế và môi trường nhận được nhiều sự chú ý trên toàn cầu. Sau đại dịch, các ngành kỹ thuật y sinh, hoá học, sinh học hay phân tích dữ liệu sẽ tiếp tục mang lại giải pháp đổi mới và sáng tạo cho cuộc sống hiện đại.

Trong quá trình phòng chống và ứng phó với dịch bệnh, vai trò của ngành y tế đối với sức khoẻ cộng đồng liên tục được nhấn mạnh. EURES cho rằng xu hướng tập trung phát triển y tế trên toàn cầu sau đại dịch sẽ đẩy mạnh việc đào tạo các chuyên ngành như y sĩ, dược sĩ, dịch tễ học. Các cơ quan dịch vụ y tế đã áp dụng những nền tảng tự động hoá và công nghệ trực tuyến trong hoạt động sản xuất thuốc, vaccine hay chẩn đoán bệnh.

Từ tháng 4 đến tháng 10/2020, số lượt khám bệnh trực tuyến qua nền tảng của công ty Practo (Ấn Độ) đã tăng hơn 10 lần. Để vận hành những công nghệ này, ngành y tế sẽ cần thêm nguồn nhân lực trình độ cao với các kỹ năng khoa học, kỹ thuật.

Trong bối cảnh dân số thế giới ngày càng già đi, các ngành nghề trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ càng có nhiều cơ hội phát triển, dẫn đến cần sự gia tăng về nhân lực để đáp ứng nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi.

Sau đại dịch, người tiêu dùng tại một số thị trường lớn vẫn sẽ tiếp tục tận dụng các nền tảng thương mại điện tử và các dịch vụ giao hàng nhanh. So với các mô hình bán lẻ truyền thống, những dịch vụ này có thể mang lại sự tiện lợi cho người dùng. Theo MGI, sự tăng trưởng của thương mại điện tử đã tạo ra nhu cầu nhân lực cho các ngành vận tải, lưu trữ hàng hoá và quản lý chuỗi cung ứng.

Khi hình thức làm việc tự do, bán thời gian trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia, ngành vận tải hàng hoá có thể thu hút và duy trì nguồn lao động tự do qua các dịch vụ “trung gian”.

Để tuân thủ các quy định về giãn cách xã hội trong thời dịch, người lao động phải làm việc từ xa qua Internet. Để đảm bảo hoạt động, nhiều công ty lớn cần tăng nguồn nhân lực cho bộ phận quản trị hệ thống mạng và cơ sở dữ liệu.

Theo EURES, những ngành nghề trong lĩnh vực giao tiếp kỹ thuật số cũng có thể tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu tương tác trực tuyến của các cá nhân và tổ chức.

Lao động thủ công và ngành dịch vụ bị cắt giảm

Dựa trên mô hình dự báo của MGI, xu hướng phát triển của các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế như tự động hoá hay chuyển đổi số sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực tới ngành dịch vụ và nhóm lao động chân tay.

Ngành dịch vụ ẩm thực có thể sẽ giảm nhu cầu tuyển dụng nhân lực do những thay đổi trong phương pháp hoạt động. Vì nhu cầu ăn uống trực tiếp của người lao động và khách du lịch suy giảm sau đại dịch COVID-19 nên nhiều chuỗi nhà hàng đã đóng cửa một số cơ sở tại các thành phố lớn. Hơn nữa, sự phổ biến của những dây chuyền chế biến và đóng gói thực phẩm cũng khiến một số nhà hàng bắt đầu giãn cách và cắt giảm nhân sự. Ví dụ, chuỗi nhà hàng bánh kẹp White Castle (Mỹ) đã tiến hành thử nghiệm hệ thống ‘Flippy’ – một loại robot có khả năng nướng thịt và chiên đồ ăn.

Với sự phát triển của các sàn thương mại điện tử và ngành giao hàng trong thời kỳ dịch bệnh, mô hình cửa hàng truyền thống sẽ khó có cơ hội quay trở lại thị trường. Tại Mỹ, các công ty lớn như Macy’s (bách hoá) và Gap (may mặc) đang lên kế hoạch đóng hàng trăm cơ sở kinh doanh. Việc đóng cửa hàng loạt của các nhà bán lẻ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới ngành bán lẻ và các nhóm nghề liên quan.

Thói quen mua sắm qua mạng của người tiêu dùng sẽ làm giảm nhu cầu tuyển dụng nhân viên bán hàng trực tiếp, nhân viên thu ngân hay những đại lý kinh doanh. Số lượng nhân viên chăm sóc, hỗ trợ khách hàng trực tiếp cũng sẽ bị cắt giảm do những công việc này có thể được thực hiện qua các kênh trực tuyến.

Tại các thị trường lớn, xu hướng tự động hoá đã khiến nhiều lao động thủ công mất việc làm. Nhiều nhà sản xuất sử dụng máy móc để hoàn thành các công việc thủ công nhằm hạn chế số nhân công làm việc trực tiếp. Trong khi đó, những robot hiện đại nay đã có thể đảm nhận công việc vệ sinh, khử khuẩn trong các cơ sở y tế hay khách sạn.

Xu hướng làm việc từ xa cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới các nhóm công việc khác. Khi một số doanh nghiệp bắt đầu cắt giảm diện tích văn phòng để áp dụng các phương pháp làm việc trực tuyến thì nhu cầu thuê nhân viên lễ tân, bảo vệ, tạp vụ sẽ suy giảm.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh, các chuyến du lịch kết hợp với công việc có thể sẽ được thay thế bởi các cuộc đối thoại trực tuyến giữa cá nhân và doanh nghiệp. Do mất đi nguồn khách hàng lớn, ngành hàng không, khách sạn và dịch vụ du lịch cũng sẽ giảm bớt nhân công và nhu cầu tuyển dụng.

Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam / TTO

—-

Công việc gì sẽ “hot” hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền

Đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn thị trường lao động trên toàn cầu gây ra hậu quả nghiêm trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, điểm đáng mừng là các nhà kinh tế cũng đưa ra dự đoán một số ngành nghề có thể thấy lượng tuyển dụng tăng vọt khi cuộc khủng hoảng qua đi. Do đó, sớm nhận ra những nơi có tiềm năng tuyển dụng cao sẽ giúp bạn nhanh chóng tìm được việc ưng ý hậu mùa dịch.

Công việc gì sẽ

Nếu bạn đang tìm kiếm một công việc mới hoặc muốn thăng tiến trong sự nghiệp của mình, đây là thời điểm tuyệt vời nhưng không quá hoàn hảo để bắt đầu. Có cảm giác như chúng ta đang đến gần ánh sáng vào cuối đại dịch. Các công ty dần ổn định vị thế. Các quốc gia bắt đầu mở cửa và bình thường hóa. Các hãng hàng không đang bay trở lại. Những tác động của việc tái thiết lập này đặt ra cho mỗi người câu hỏi: Những gì cần thay đổi và những gì cần nắm bắt theo thời đại?

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã tổng hợp danh sách 10 việc làm hàng đầu trong tương lai. 

Mặc dù đây không phải là “kinh thánh” của công việc, nhưng đó là điểm khởi đầu cho thấy một số công việc mới nổi đã nở rộ như thế nào từ cuộc “tàn sát” của Covid-19. Ngoài ra, dù làm ở bất cứ vị trí nào thì việc nắm bắt các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao hậu mùa dịch sẽ giúp bạn bớt đi rất nhiều rủi ro không đáng có, đồng thời thu hẹp lại con đường cạnh tranh. 

10 công việc hot hậu Covid19 

1. Người hỗ trợ làm việc tại nhà— Giám đốc quản lý công việc từ xa 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 1.
Facebook bắt đầu đăng tuyển vị trí “Giám đốc quản lý công việc từ xa”, người sẽ thúc đẩy những chuyển đổi trong toàn công ty theo hướng ưu tiên làm việc từ xa.Ảnh: The Washington Post

Đại dịch Covid-19 đã đẩy mạnh làn sóng làm việc từ xa, cùng sự tăng mạnh các công việc tại nhà được dự báo sẽ kéo dài. Nhờ đó mà các công ty đã tạo ra những công việc mới cho ban điều hành để hỗ trợ cho nhân sự làm việc từ xa. 

Ngoài ra, nhiều công ty công nghệ đang đua tuyển giám đốc quản lý công việc từ xa sau khi phần lớn nhân viên muốn làm tại nhà ngay cả khi đại dịch không còn là mối đe dọa. 

2. Chăm sóc sức khỏe 

Giống như bệnh dịch hạch đã mở ra một kỷ nguyên mới cải cách lao động và cải tiến y học thời trung cổ thì Covid-19 sẽ tạo nên một cuộc cách mạng to lớn với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. 

Nhờ hiệu ứng dịch bệnh, nhất trong giai đoạn chưa chế tạo ra vắc-xin triệt để, người dân sẽ có xu hướng quan tâm sức khỏe nhiều hơn. 

Trang thông tin tuyển dụng Glassdoor cho biết nhu cầu tuyển dụng các nhà khoa học và chuyên gia phân tích số liệu cũng có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu sản xuất các thiết bị y tế cần thiết như khẩu trang, mũ… cũng cần đáp ứng lớn trong bối cảnh các nước phát triển vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi Covid-19. 

3. Bất động sản, quản lý thiết kế nhà thông minh 

Xã hội hiện đại ngày càng có nhiều tòa nhà, cao ốc, địa ốc xuất hiện. Việc quản lý hệ thống này cũng ngày càng được các nhà đầu tư quan tâm hơn. Đồng thời, những thiết bị công nghệ cũng xuất hiện ngày càng nhiều và có đầy đủ tính năng hơn. Nên hệ thống quản lý cũng yêu cầu khắt khe hơn về độ an toàn và bảo mật. Do đó, vấn đề quản lý an ninh, quản lý thiết kế và ngành bất động sản được chú trong hơn bao giờ hết. 

Ngoài ra, có rất nhiều dự án bị hoãn lại do đại dịch. Vì vậy, nhu cầu tuyển dụng các vị trí cấp cao sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, đáng chú ý như giám đốc kinh doanh (Leasing Director), chuyên gia bất động sản, nhân viên tư vấn chiến lược… để sớm đưa các dự án quay trở lại hoạt động. 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 2.
Nhiều người lựa chọn làm việc từ xa nên đã chuyển từ các thành phố lớn đến vùng ngoại ô và địa điểm nông thôn. Điều này thúc đẩy xây dựng những ngôi nhà mới và nâng cấp để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng. Ảnh: Internet

4. Dịch vụ vận chuyển

Từ khi dịch Covid-19 bùng phát đến giờ, các ông chủ ngành buôn bán luôn hối hả bù đắp lượng thiếu hụt nhân viên do nhu cầu tăng đột biến. Và cũng nhờ chính đại dịch đã kích thích ngành nghề này phát triển nhanh mạnh hơn và giúp người dân nhận ra những tiện ích nổi trội của hình thức giao hàng. 

5. Hậu cần và chuỗi quản lý cung ứng (Logistics and Supply Chain) 

Hiện nay, với xu thế hội nhập hóa các nền kinh tế, Logistics đang dần trở thành một ngành hot trên thế giới. Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh doanh, sự luân chuyển hàng hóa từ nước này sang nước khác hay kể cả trong nước đã khiến Logistics phát triển, trở thành một ngành dịch vụ quan trọng trong giao thương quốc tế. Để đáp ứng khối lượng công việc ngày một lớn, nhu cầu về nhân sự ngành Logistics ngày một tăng cao.

6. Digital Marketing 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 3.
Digital Marketing là làm marketing (bao gồm việc xây dựng kịch bản marketing, lập kế hoạch, thực hiện và đo lường kết quả marketing) trong môi trường số là chủ yếu. Ảnh: Internet

Trong thời kỳ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành Digital Marketing đang chuyển biến mạnh mẽ với các nền tảng kỹ thuật số được ứng dụng các công nghệ mới nhất. Chính vì vậy, lĩnh vực này đang được săn đón hơn bao giờ hết. Cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên chuyên ngành Digital Marketing sau khi tốt nghiệp rất đa dạng. Ngoài ra, trong kỷ nguyên số rộng mở, hầu như công ty nào cũng cần bộ phận này để quảng bá sản phẩm trên các phương tiện số.

7. Công nghệ thông tin 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 4.
Công nghệ thông tin là hạ tầng của mọi hạ tầng, các khối ngành nghề kinh tế – xã hội khác đều phát triển dựa trên nền tảng của công nghệ thông tin. Ảnh Forbes

Trong bối cảnh dịch bệnh con người phải làm việc gián tiếp thông qua hệ thống các nền tảng công nghệ. Ngành công nghệ thông tin đang nổi lên dẫn đầu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Giờ đây, ai ai cũng đều sử dụng và trải nghiệm các dịch vụ, sản phẩm công nghệ từ ngành này mang lại. 

Công nghệ thông tin không chỉ là một phần thiết yếu của cuộc sống hàng ngày mà còn đang giải quyết các vấn đề mà đại dịch gặp phải. Sau đại dịch, điều này càng trở nên cấp thiết khi các doanh nghiệp bắt đầu dịch chuyển ưu tiên các dịch vụ sản phẩm công nghệ. Do đó, khối ngành này đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và nhu cầu săn đón những chuyên gia trong lĩnh vực này cũng vô cùng khốc liệt.

8. Dự báo tai họa mạng 

Ngoài Covid-19, thảm họa lớn khác của thế giới trong năm qua là sự tấn công liên tục của cả hai cuộc tấn công mạng lớn như Solar Winds và ransomware. Do đó, khả năng dự báo các sự kiện như thế này là rất quan trọng. Chỉ số CJoF cho biết: Sự tăng trưởng trong việc tuyển dụng các nhà dự báo thiên tai mạng đã tăng 28% trong quý 1 năm 2021.

9. Ngành Dịch vụ khách sạn, du lịch 

Trên thực tế, nhiều bạn trẻ vẫn lo lắng, học ngành du lịch là lựa chọn mạo hiểm bởi dịch vẫn diễn biến phức tạp, khả năng thất nghiệp cao. Tuy nhiên theo nhận định của nhiều chuyên gia, du lịch hiện chịu ảnh hưởng nặng vì dịch Covid-19, nhưng khi cuộc sống trở lại bình thường, lĩnh vực này sẽ bùng nổ. Trong tương lai, ngành du lịch hứa hẹn “hồi sinh” và tiếp tục phát triển. 

10. Thương mại điện tử 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 5.
Thương mại điện tử là điểm sáng trong tăng trưởng kinh tế. Ảnh: Intenret

Thương mại điện tử (E-Commerce) là hình thức kinh doanh trực tuyến sử dụng nền tảng công nghệ thông tin với sự hỗ trợ của Internet để thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi, thanh toán trực tuyến. Cơ hội việc làm ngành Thương mại điện tử rất cao bởi ngành này được dự báo cần nguồn nhân lực lớn trong tương lai và là một trong những ngành chịu ít tác động tiêu cực từ dịch Covid-19. Bên cạnh đó, thương mại điện tử không chỉ là xu hướng tiêu dùng hiện tại mà còn thu hút được vốn đầu tư rất nhiều từ nước ngoài. 

Thực tế, đại dịch Covid-19 là “phép thử” và là cơ hội có 1-0-2 trong lịch sử. Cơ hội này được chia đều cho tất cả mọi người. Do đó, đây là lúc thể hiện ra những điều bạn đã tích lũy được trong mùa dịch và có cái nhìn linh hoạt hơn với các ngành nghề. Ứng biến với mọi tình huống trong cuộc sống là điều không hề dễ dàng nhưng chắc chắn nó là thứ mà mọi nhà tuyển dụng sẽ ưu tiên hơn ở các ứng viên trong tương lai.

Theo Forbes

Ngọc Nhi / Theo Trí Thức Trẻ

Khuôn mẫu giới: Thủ phạm gây ra bất bình đẳng giới


Từ trước đến nay vấn đề bình đẳng giới hầu như chỉ được nhìn từ góc độ của nữ giới mà thiếu hiểu biết quan điểm thực sự của nam giới về vấn đề này cũng như căn nguyên thực sự phía sau của bất bình đẳng chính là khuôn mẫu giới đã định hình, bó buộc lấy mỗi giới. Tình trạng đó có thể khiến các chương trình vận động xã hội chưa thể nhắm đến “thủ phạm” đích thực gây bất bình đẳng giới, thậm chí là giới này “đổ lỗi” cho giới kia

PGS.TS Phạm Quỳnh Phương tại tọa đàm “’Chuẩn mực giới’ hay những ‘vòng kim cô’? – Góc nhìn từ lịch sử và các thảo luận đương đại trên mạng xã hội”. Ảnh: VGEM

Thực tế, trên các trang mạng xã hội, hai giới liên tục “gây hiềm khích” và đổ lỗi cho nhau rằng giới kia chính là thủ phạm gây ra bất bình đẳng. Nếu ở các không gian công cộng, hiếm có người đàn ông nào dám công khai đả phá bình đẳng giới, thì ở các không gian mạng xã hội có thể ẩn danh, nhiều người cất lên tiếng nói bức xúc của mình: “Lúc đi ăn đi chơi thì đòi nữ quyền, đàn ông phải trả tiền, phải gánh, phải mời. Lúc làm việc thì đòi bình đẳng, lương phải cao, việc nặng thì đẩy cho đàn ông làm. (…) Các chị khôn lắm đấy.” Còn nữ giới thì phản pháo: “Thế mới thấy đàn ông Việt Nam yếu đuối như thế nào, (…) Tới hiện tại, mới bình đẳng có hơn tí, đàn ông có trách nhiệm hơn tí, thì các ông đã áp lực, tự tử tăng cao, nọ kia.”  

“Đây là phần chìm của tảng băng cần được lắng nghe để hiểu rõ hơn những khúc mắc và những thách thức của vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam”, PGS.TS Phạm Quỳnh Phương cho biết tại tọa đàm “’Chuẩn mực giới’ hay những ‘vòng kim cô’? – Góc nhìn từ lịch sử và các thảo luận đương đại trên mạng xã hội” do ECUE, VGEM, sáng kiến của chính phủ Úc Investing in Women và Australian Aid phối hợp tổ chức ngày 4/3.

Trước đó, nhóm tác giả Phạm Quỳnh Phương, Lê Quang Bình và Nguyễn Minh Huyền đã tiến hành nghiên cứu “Khuôn mẫu giới và vấn đề việc làm: Một nghiên cứu về giới trẻ Việt Nam đương đại qua các thảo luận trên báo chí và mạng xã hội” nhằm hiểu hơn về thực trạng, tinh thần thực sự của xã hội chúng ta trước vấn đề bình đẳng giới và vì sao các cuộc vận động về bình đẳng giới lại giậm chân tại chỗ.

Theo PGS.TS Phạm Quỳnh Phương, từ trước đến nay vấn đề bình đẳng giới chủ yếu chỉ được nhìn chủ yếu từ mỗi giới (chủ yếu từ góc độ của phụ nữ) và thiếu hiểu biết quan điểm thực sự của nam giới trong xã hội đương đại, cũng như nguyên nhân thực sự phía sau của bất bình đẳng. Các vận động xã hội và chính sách phải nhắm đến thủ phạm của bất bình đẳng giới là khuôn mẫu giới, chứ không phải do giới này hay giới kia gây ra. “Nếu các thảo luận xã hội, thậm chí các giải pháp chỉ tập trung vào phụ nữ thì có thể dẫn đến việc ngầm định nam giới là thủ phạm của bất bình đẳng, và từ đó nam giới có thể bị bỏ rơi trong tiến trình thúc đẩy bình đẳng giới”, bà cho biết. Khi có “đích ngắm” chung (khuôn mẫu giới) thì việc có cả nam giới và phụ nữ tham gia giải quyết vấn đề chung sẽ khả thi và hiệu quả hơn.

Mặt khác, bà cũng cho biết các thảo luận trên mạng xã hội về bình đẳng giới đang tập trung vào việc phân công công việc (ai làm gì, làm nhiều hay ít, việc nặng hay nhẹ, việc quan trọng hay không quan trọng, việc phù hợp hay không phù hợp). Sự so sánh này không hợp lý, “vì nó phụ thuộc vào bối cảnh của từng gia đình và cảm nhận của từng cá nhân nên dẫn đến những căng thẳng và bế tắc khi tìm ra giải pháp”, bà Phương nhận định. Chính vì vậy, thúc đẩy bình đẳng giới không nên khuyến khích phụ nữ phấn đấu theo những tiêu chuẩn thành công của nam giới, cũng như bình đẳng giới trong lao động và nghề nghiệp không nhất thiết khuyến khích phụ nữ làm những công việc như nam giới, vì điều đó sẽ chỉ làm tăng lên gánh nặng cho phụ nữ trong bối cảnh những nền tảng có tính cấu trúc của xã hội chưa dễ thay đổi.  

Nhìn chung, mặc dù hiện nay đã xuất hiện xu hướng gỡ bỏ các khuôn mẫu trong giới trẻ, nhưng phần đông cả hai giới đều vẫn nhập tâm trách nhiệm của mình, gồng mình lên để mang chiếc mặt nạ ‘nam tính’, ‘nữ tính’ ra ngoài xã hội. Trước những trông đợi của cộng đồng, con người luôn tự điều chỉnh, thậm chí hủy hoại cả bản tính tự nhiên, cố sức nam tính hóa hay nữ tính hóa để khớp với chuẩn mực của xã hội. Để hướng đến một xã hội Việt Nam bình đẳng, “chúng tôi đề nghị phải hướng đến việc ‘tháo khuôn’, cởi bỏ những khuôn mẫu giới đang đè nặng lên thực hành làm đàn ông và làm đàn bà”, PGS.TS Phạm Quỳnh Phương kết luận.

Anh Thư / Tạp Chí Tia Sáng

Người ghét chạy theo đám đông, không thích “theo trend” hay hợp thời


Vì sao ta ghét những gì đám đông ưa?

Chạy theo đám đông là bản chất của con người. Nhưng cũng có những người ghét chạy theo đám đông, không thích “theo trend” hay hợp thời. Họ là kẻ lập dị, người thích chơi trội bằng cách đi ngược dòng, hay quan điểm đó cũng chỉ là bình thường thôi?Ảnh: tomorrowsworld.orgẢnh: tomorrowsworld.org

“Chà, trông chị thật thời thượng”. Nếu có ai đó khen Susan Snipes (Ohio, Mỹ) bằng câu nói này, cô hẳn sẽ buồn lắm. Là nghệ sĩ và nhà thiết kế, Susan không phiền nếu được khen là “ngầu”, hay bất cứ từ đồng nghĩa nào mà người ta dùng để thay thế cho “ngầu”. Nhưng hai chữ “thời thượng” lại làm cô khó chịu.

Trong một bài viết chia sẻ trên trang Medium vào tháng 2-2018, Susan tự gọi mình là một “kẻ lập dị cực kỳ phản đối việc chạy theo đám đông”. Cô sẽ không hứng thú với xu hướng thời trang đang hot, không ăn món mà mọi người sẵn sàng xếp hàng dài đợi mua và không nghe bài nhạc đang đứng đầu bảng thịnh hành.

Cách Susan nửa vòng Trái đất, bạn của người viết, một nhân viên văn phòng ở Sài Gòn, thậm chí bỏ ngang bộ phim Hàn Quốc đình đám Hạ cánh nơi anh khi phim bắt đầu trở thành đề tài phổ biến trên mạng xã hội ở Việt Nam đầu năm nay. Những quyển sách có mặt trong mọi bảng xếp hạng, hay gây sốt trong năm, cô đều đợi ít nhất một năm sau mới đọc, khi mọi cơn sốt liên quan đã hạ nhiệt.

Tâm lý người ngại thứ phổ biến

Để lý giải vì sao những “kẻ lập dị” như hai trường hợp nêu trên thích tách biệt mình khỏi đám đông, trước hết phải tìm hiểu xu hướng chạy theo đám đông được hình thành như thế nào.

Năm 1977, nhà tâm lý học người Mỹ gốc Canada Albert Bandura thực hiện một nghiên cứu với một nhóm trẻ nhỏ sợ chó. Mỗi ngày bọn trẻ được xem một cậu bé vui vẻ chơi với một con chó trong 20 phút. Sau bốn ngày thực hiện thí nghiệm này, 67% những đứa trẻ đã xem cậu bé chơi với con chó sẵn sàng tham gia vui đùa cùng con vật.

Một nghiên cứu tiếp theo được thực hiện một tháng sau đó trên một nhóm trẻ nhỏ sợ chó khác cũng cho kết quả tương tự. Các nhà nghiên cứu kết luận rằng bọn trẻ xem hành vi của cậu bé khi chơi với con chó như một hình mẫu để thay đổi hành vi của chính chúng.

Trong một bài viết cũng trên Medium, tác giả Addi Tarr nhắc lại thí nghiệm trên và cho rằng cách lý giải đó cũng được áp dụng cho xu hướng chạy theo đám đông. Ắt hẳn phải có lý do nào đó mà nhiều người cùng yêu thích một món đồ hay một thứ nhất định. Và độ nổi tiếng của món đồ đó được xem như một thước đo tham khảo “đi tắt đón đầu” giúp người ta an tâm về 
chất lượng.

Cũng như lũ trẻ không thể tự mình thử “gần gũi” với con vật để xem nó có thật sự đáng sợ không, người tiêu dùng nói chung không phải ai cũng có thời gian tìm hiểu ưu, nhược điểm của chiếc iPhone mới hay công dụng giữ ấm tai của chiếc mũ len Carhatt. Ta cần một hình mẫu để dựa vào. Tương tự, khi nhìn thấy một học sinh mang mẫu giày Vans mới nhất đến trường và tấm tắc khen rằng nó thoải mái, nhiều học sinh cũng sẽ muốn mua một đôi.

Vì đâu ghét xu hướng?

Những lý giải trên cũng là câu trả lời cho việc vì sao có người ghét xu hướng: vì muốn trở nên khác biệt.

Trong trường hợp của Susan, nổi tiếng không phải thước đo chất lượng – tiêu chuẩn mà cô thích tự đánh giá hơn. Cô cho rằng chạy theo xu hướng khiến cô tốn nhiều thời gian, công sức và tiền bạc. Làm theo đám đông, với Susan, cũng đồng nghĩa với mất đi “chất riêng”, thứ giúp cô không giống với bất kỳ ai khác. Và cô cũng tự tin khẳng định cô không muốn làm theo xu hướng để được chứng nhận rằng điều mình làm là đúng hay để hòa nhập với đám đông, bởi cô biết mình là ai và mình muốn gì.

Nhưng nói thế không có nghĩa Susan, hay những người có cách sống giống cô, cực đoan đến mức làm việc gì, trong bất kỳ tình huống nào, cũng muốn tách biệt với đám đông. Jonah Berger, nhà tâm lý học xã hội của Đại học Pennsylvania, đã tiến hành một nghiên cứu để xác định trong tình huống nào người ta sẽ muốn thực hiện hành vi khác biệt với những người khác.

Berger cho một nhóm người thuộc các lứa tuổi khác nhau tham gia khảo sát lựa chọn một loạt sản phẩm bao gồm khăn giấy, quần áo, bột giặt và âm nhạc. Trước khi quyết định, những người đồng trang lứa được tham khảo lựa chọn của nhau. Đồng thời, một nửa số người tham gia cũng được cho biết những người lớn hơn họ vài tuổi đã lựa chọn món đồ nào. Kết quả cho thấy những người tham gia có xu hướng chọn cùng một loại bột giặt và khăn giấy với nhóm lớn tuổi. Nhưng lựa chọn cho âm nhạc và quần áo thì khác biệt hẳn với nhóm hơn tuổi.

Theo Berger, sự phân hóa này dựa trên loại sản phẩm. Mọi người dễ đưa ra lựa chọn cho những sản phẩm thường nhật, không phản ảnh đặc tính cá nhân của người mua – như bột giặt và khăn giấy chẳng hạn – mà không cần bắt chước theo những khách hàng đồng lứa. Mặt khác, họ tránh chọn trùng với nhóm không đồng lứa cho các sản phẩm thể hiện nhiều đặc tính cá nhân như quần áo và âm nhạc. Tóm lại, nếu chỉ xét trong nhóm đồng trang lứa, con người thường đưa ra những lựa chọn “ngách” để trở nên khác biệt.

Trong một nghiên cứu riêng biệt, các nhà nghiên cứu đã yêu cầu những người tham gia lựa chọn một chiếc ôtô mới để mua. Có 3 lựa chọn dành cho họ: 1 chiếc BMW màu đen, 1 chiếc BMW màu bạc và 1 chiếc Mercedes màu đen. Như nghiên cứu trước, họ được cho biết những người đồng lứa đã chọn chiếc xe nào trước khi đưa ra quyết định.

Kết quả cho thấy những người tham gia có nhu cầu thể hiện tính độc nhất cao sẽ lựa chọn chiếc BMW màu bạc. Vì sao ư? Vì lựa chọn này giúp họ đảm bảo rằng thương hiệu xe họ mua được yêu thích bởi số đông cùng nhóm, nhưng cũng đánh dấu phong cách riêng của họ thông qua màu bạc vốn ít phổ biến hơn.

Đừng tiêu cực hóa

Thích hay không thích những thứ phổ biến đều không xấu. Đó chỉ đơn giản là sở thích cá nhân của mỗi người. Không có gì bảo chứng rằng một người thích nghe nhạc cổ điển giỏi giang hơn người thích nhạc pop và bolero. Nhưng ghét một thứ nào đó chỉ đơn giản vì nó phổ biến và chê trách những người “làm theo số đông” chắc chắn là một điều không tốt.

“Hãy để mọi người tận hưởng mọi thứ” – Nychele Kemper viết trong bài chia sẻ “Từ khi nào việc ghét những thứ phổ biến trở nên phổ biến?” trên trang Odyssey năm 2018. Theo Nychele, việc ghét những thứ phổ biến vì sự nổi tiếng của chúng dẫn đến cái nhìn rất tiêu cực về cuộc sống. Và những người ghét thứ phổ biến cũng tự tạo ra rào cản cho quá trình tận hưởng cuộc sống của họ.

Bất cứ ai từng bị đánh giá chỉ vì thích một thứ gì đó đều cho biết cảm giác bị chỉ trích không hề dễ chịu. Người chỉ trích có thể cảm giác mình ngầu oách và “thượng đẳng” hơn người bị chỉ trích, nhưng chỉ trong thời gian ngắn ngủi. “Hạ thấp người khác để nâng mình lên chỉ mang đến sự tự tin ảo tạm thời” – Nychele nhận xét.

So sánh một cách thực tế, Nychele cho rằng việc ghét những thứ phổ biến và chế giễu những người thích chúng là phiên bản người lớn của việc bắt nạt ở trường học. “Mỗi cá nhân đều trải nghiệm mọi thứ theo những cách riêng nhất định, không ai giống ai. Bạn là duy nhất theo cách của bạn, và những người khác cũng vậy. Hãy tự mình tận hưởng mọi thứ, ngay cả những thứ phổ biến. Cuộc sống dễ dàng và đơn giản hơn nhiều khi bạn không dành năng lượng của mình để tiêu cực hóa và ghét mọi thứ” – Kemper đúc kết.

Xu hướng ghét các xu hướng

Thật trớ trêu là không biết từ khi nào, bản thân việc ghét những thứ phổ biến cũng trở thành… một xu hướng, nghĩa là một thứ để người ta chạy theo cho có vẻ hợp thời. Nhan nhản trên mạng là những bài viết chỉ để chỉ trích giày UGG cổ lông được ưa chuộng vào mùa đông là đôi giày xấu xí nhất trên đời, hay thương hiệu Starbucks nổi tiếng được đánh giá quá cao.

Từ khi cuộc cách mạng trực tuyến giúp mọi người có quyền truy cập mạng xã hội, ngày càng có nhiều ví dụ về những thứ phổ biến bị tấn công hoàn toàn chỉ vì chúng phổ biến hoặc một số lý do không mấy thuyết phục, tiến sĩ khoa học thần kinh Dean Burnett viết trong bài “Phê bình những thứ phổ biến: tại sao nó lại phổ biến?” trên The Guardian năm 2013.

Theo tiến sĩ Burnett, lý do hàng đầu khiến một số người công khai chỉ trích những thứ phổ biến là để tăng lượng truy cập đến trang của họ trên mạng; các quan điểm và ý kiến thiểu số, gây tranh cãi gây được chú ý khủng khiếp. Những lý do một người chỉ yêu thích những thứ ít phổ biến và công khai tấn công thứ nhiều người yêu thích là họ có bản chất nổi loạn; muốn gây ấn tượng; hoặc muốn thiết lập sự thống trị đối với những người khác.

“Bằng cách cho thấy rằng thứ phổ biến thực chất là xấu và việc mọi người thích những thứ xấu cũng mặc nhiên trở thành người xấu, người thực hiện lời chỉ trích có cảm giác mình vượt trội hơn những người thích thứ phổ biến” – tiến sĩ Burnett lý giải.

PHAN BẢO / Theo TTCT

4 khó khăn, 5 xu hướng chủ đạo và 6 chiến lược ưu tiên của doanh nghiệp bán lẻ trước Covid-19


Covid-19 bùng phát trên toàn cầu đã tác động mạnh đến ngành bán lẻ. Giữa khó khăn, nhiều doanh nghiệp đã nương theo xu hướng thị trường để đề ra các chiến lược nhằm vượt qua giai đoạn đầy thách thức này. Bức tranh ngành bán lẻ đối đầu Covid-19 vừa được Vietnam Report mô tả từ kết quả khảo sát Bảng xếp hạng Top 10 Công ty Bán lẻ uy tín năm 2020 công bố hôm nay, 25/9.

4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19
4 kho khan 5 xu huong chu dao va 6 chien luoc uu tien cua doanh nghiep ban le truoc covid 19

Sau năm 2019 đạt mức tăng trưởng 21,5% và ghi dấu ấn về số lượng, quy mô chủ thể gia nhập thị trường, lĩnh vực bán lẻ bước sang năm 2020 với khởi đầu không mấy suôn sẻ, khi đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu. Trong quý II/2020, lệnh giãn cách xã hội đã khiến hàng loạt chuỗi cửa hàng bán lẻ phải đóng cửa. Số doanh nghiệp tạm dừng hoạt động trong ngành bán lẻ đã tăng 21% so với cùng kỳ năm 2019.


Báo cáo của Bộ Công Thương ước tính, trong 8 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,02%, nhưng nếu loại trừ yếu tố giá thì giảm tới 4,5% (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,5%) – lần suy giảm lần đầu tiên sau nhiều năm tăng trưởng ở mức cao.

Kết quả khảo sát của Vietnam Report với các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam cho thấy: 41,7% doanh nghiệp chịu tác động nghiêm trọng từ đại dịch Covid-19; 50,0% doanh nghiệp đánh giá tác động nghiêm trọng vừa phải và 8,3% doanh nghiệp bị tác động ít, không đáng kể.

Đánh giá tác động của đại dịch Covid-19 đến doanh nghiệp bán lẻ

Top 4 khó khăn của doanh nghiệp bán lẻ dưới tác động Covid-19

Khi dịch bệnh bùng phát, nhất là trong giai đoạn cách ly xã hội, nhiều ngành kinh tế bị tê liệt, người lao động phải nghỉ làm, thu nhập bị giảm sút và có 85,3% người tiêu dùng trong khảo sát của Vietnam Report phản ánh họ phải tiết kiệm chi tiêu. Bên cạnh đó là sự thay đổi hành vi của khách hàng, với 58,8% người được hỏi cắt giảm mua sắm các sản phẩm không thiết yếu như quần áo, giầy dép; 70,6% cắt giảm thiết bị thể thao và hoạt động ngoài trời và 36,3% tăng mua các sản phẩm chăm sóc sức khỏe để phòng chống dịch, đặc biệt các sản phẩm có nguồn gốc oganic.

Chi tiêu của khách hàng thay đổi dưới tác động của đại dịch Covid-19

Những thay đổi trên đã tác động đến doanh thu của ngành bán lẻ. Theo nhận định của các doanh nghiệp trong khảo sát của Vietnam Report, sức mua và doanh số sụt giảm; sự thay đổi trong hành vi người tiêu dùng; thiếu hụt nguồn vốn kinh doanh và đứt gãy chuỗi cung ứng là 4 khó khăn lớn nhất mà các doanh nghiệp bán lẻ phải đối mặt dưới tác động của đại dịch Covid-19.

Top 4 khó khăn của doanh nghiệp bán lẻ trước Covid-19

Triển vọng những tháng cuối năm 2020: Thận trọng và dè dặt

Với nhiều khó khăn phải đối mặt trong năm 2020 do tác động của Covid-19, sự thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng, sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, có đến 54,5% doanh nghiệp bán lẻ trong khảo sát của Vietnam Report cho rằng triển vọng ngành bán lẻ trong những tháng cuối năm 2020 sẽ khó khăn hơn nhiều so với năm trước; 36,4% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn một chút và chỉ có 9,1% doanh nghiệp đánh giá khả quan hơn một chút.

Đánh giá triển vọng những tháng cuối năm so với cùng kỳ năm trước

Nhìn chung, trong khảo sát doanh nghiệp và các chuyên gia trong ngành do Vietnam Report thực hiện tháng 8/2020, mặc dù trong trước mắt thị trường bán lẻ của Việt Nam có thể gặp một chút khó khăn do tác động nhất định của đại dịch, nhưng về mặt dài hạn, trong ít nhất 3 năm tới, đây vẫn luôn được đánh giá là ngành có nhiều tiềm năng phát triển.

Nền tảng cho sự tin tưởng nói trên là một thị trường gần 100 triệu dân, mức thu nhập ngày càng cao nhờ kinh tế phát triển ổn định, sự gia tăng của tầng lớp trung lưu, cùng xu hướng mua sắm, tiêu dùng mới.

Tuy nhiên, việc Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ ngày 1/8/2020 được đánh giá là sẽ mở ra cơ hội cho doanh nghiệp, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của EU tiếp cận thị trường Việt Nam thuận lợi hơn, dẫn đến cuộc đua giành thị phần trong lĩnh vực này vốn đã gay gắt nay lại trở nên khốc liệt.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bán lẻ cũng gặp nhiều thách thức khi phải liên tục thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và nhiều mô hình bán lẻ.

Top 5 xu hướng chủ đạo của ngành bán lẻ thời kỳ “bình thường mới”

Trong kết quả khảo sát các doanh nghiệp bán lẻ và các chuyên gia trong ngành của Vietnam Report đã chỉ ra 5 xu hướng chủ đạo với ngành bán lẻ trong thời gian tới.

Bán hàng đa kênh (Omnichannel)

Kết quả khảo sát hành vi người tiêu dùng của Vietnam Report cho thấy trong bối cảnh mọi người phải hạn chế đi lại, tụ tập đến nơi đông người để phòng chống dịch bệnh, người tiêu dùng đã chuyển đổi kênh mua sắm trên cả hai nhóm sản phẩm nhu cầu thiết yếu và nhóm hàng không thiết yếu.

Đối với nhóm nhu yếu phẩm thiết yếu, trước khi có đại dịch, 3 kênh mua sắm chính của người tiêu dùng là chợ truyền thống (73,5% người lựa chọn), trung tâm thương mại, siêu thị (71,6%), cửa hàng tiện lợi (50,9%); khi có dịch bệnh, 3 kênh được người tiêu dùng lựa chọn là cửa hàng online (59,8%), cửa hàng tiện lợi (54,9%), trung tâm thương mại, siêu thị (50,9%).

Kênh mua sắm nhu yếu phẩm trước và sau khi có đại dịch Covid-19

Nhóm sản phẩm không phải thiết yếu cũng ghi nhận sự tăng trưởng đột biến của kênh bán hàng online với 52,9% người được hỏi tăng mua hàng qua ứng dụng trên điện thoại di động (shopee, tiki, chotot,…), 34,3% tăng đặt hàng trên điện thoại/hotline, và có tới 76,24% người giảm đáng kể việc đến trực tiếp cửa hàng mua sắm.

Sự thay đổi kênh mua sắm sản phẩm không thiết yếu sau khi Covid-19 xuất hiện

Các nhà bán lẻ tại Việt Nam đã nhanh chóng nắm bắt hành vi người tiêu dùng, khai thác sâu các kênh trực tuyến, các app bán hàng, tận dụng các kênh giao hàng và thúc đẩy tích hợp đa kênh. Nhờ sự chuyển đổi kịp thời đã giúp cho nhiều doanh nghiệp bán lẻ như Lottemart tăng trưởng doanh số qua kênh online từ 100% đến 200%, đặc biệt ở thị trường Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Theo đó, có 66,7% doanh nghiệp trong khảo sát của Vietnam Report nhận định đại dịch Covid-19 tạo một cú hích khiến lĩnh vực bán lẻ tại Việt Nam chuyển đổi số mạnh mẽ hơn, và đây cũng chính là tác động lâu dài của dịch bệnh với ngành bán lẻ.

M&A tiếp tục bùng nổ

Năm 2019, thị trường bán lẻ Việt Nam đã chứng kiến kỷ lục số vụ mua bán, sáp nhập (M&A), dòng vốn được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp trong nước, với các thương vụ nổi bật như Saigon Co.op tiếp nhận 18 siêu thị Auchan, Vingroup chuyển nhượng toàn bộ mảng bán lẻ tại Vincommerce cho Tập đoàn Masan. Điều này cho thấy doanh nghiệp bán lẻ trong nước đã có sự bứt phá, ngày càng trưởng thành hơn, và đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.

Hiệp định EVFTA tạo ra thách thức đối với ngành bán lẻ trong nước, theo đánh giá của Bộ Công Thương hơn 60% doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ là những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, năng lực quản trị và khả năng cạnh tranh kém, có nhu cầu vốn lớn và nhiều doanh nghiệp sẵn sàng liên kết với các đối tác cùng ngành nghề để tiếp cận nguồn vốn đầu tư, công nghệ quản lý tiên tiến từ các nước EU.

Các doanh nghiệp nước ngoài có lợi thế về tài chính, hệ thống và kinh nghiệm thương trường dễ giành được thị phần thông qua các thương vụ M&A, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng thành công tại thị trường Việt Nam, điển hình như trường hợp của Tập đoàn bán lẻ Auchan rút lui khỏi thị trường Việt Nam năm 2019 do những hạn chế về sự am hiểu văn hóa người tiêu dùng, tiếp cận nguồn hàng, mạng lưới chi nhánh…

Hoạt động M&A giúp cả hai bên tham gia đều có lợi, trong đó các doanh nghiệp nước ngoài sẽ nhanh chóng sở hữu thị phần, chuỗi cung ứng bán lẻ và lượng khách hàng hiện có của các doanh nghiệp trong nước. Điều này hứa hẹn M&A trong lĩnh vực bán lẻ sẽ tiếp tục bùng nổ trong thời gian tới.

Công nghệ không chạm và thanh toán linh hoạt được chú trọng

Công nghệ không chạm đã trở thành một phần quan trọng trong hoạt động marketing, thanh toán không dùng tiền mặt thông qua sử dụng mã QR, hay tích hợp với dịch vụ công nghệ thực tế ảo cho phép người tiêu dùng thử sản phẩm tại nhà, đặc biệt dưới tác động của dịch bệnh Covid-19, công nghệ không chạm lại càng được chú trọng hơn.

Mặc dù tiền mặt sẽ không bao giờ mất đi hoàn toàn, nhưng nó sẽ giảm dần mức độ phổ biến khi khách hàng tìm kiếm những cách thức mua hàng thuận tiện và linh hoạt hơn. Kết quả khảo sát hành vi người tiêu dùng gần đây của Vietnam Report chỉ ra 60,6% người được hỏi lựa chọn sử dụng tiền mặt trong thanh toán giảm đi, 59,6% người tăng các hình thức thanh toán qua Internet Banking và 57,7% người tăng thanh toán qua ví điện tử.

Hình thức thanh toán sau khi đại dịch Covid-19 xuất hiện

“Các nhà bán lẻ cần chủ động tiếp cận nhu cầu của người tiêu dùng đối với các phương thức thanh toán dựa trên ứng dụng nhằm tăng trải nghiệm mua sắm cho khách hàng và phù hợp với xu thế thanh toán không dùng tiền mặt trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0”, Vietnam Report khuyến nghị.

Tăng cường ứng dụng công nghệ mới

Phân tích dữ liệu lớn ngày càng đóng vai trò cốt lõi trong việc nghiên cứu sở thích và hành vi của khách hàng để tạo ra những trải nghiệm tốt nhất cho người tiêu dùng. Kết quả khảo sát của Vietnam Report về hành vi người tiêu dùng trước khi mua một sản phẩm chỉ ra có 56,9% người được hỏi tự chủ động nghiên cứu; 20,6% nghe tư vấn từ người thân, bạn bè; 13,7% từ thông điệp và chương trình khuyến mãi, sự tương tác trên quảng cáo trực tuyến và 5,9% khi nghe ai đó giới thiệu trên mạng xã hội.

Nguồn thông tin tham khảo khi lựa chọn một kênh bán lẻ

“Các nhà hoạch định chiến lược cần xem xét người tiêu dùng đang tiêu tiền thông qua những danh mục và những kênh nào? Những lợi thế cạnh tranh nào đã thay đổi và lĩnh vực nào thành công?”, Vietnam Report đặt vấn đề. “Qua việc xác định các cơ hội phát triển trong thời kỳ “bình thường mới”, những lĩnh vực nào có thể được tăng tốc, hệ thống cơ sở dữ liệu sẽ giúp các nhà bán lẻ thiết kế lại trải nghiệm mua sắm cho người tiêu dùng, phù hợp với việc thanh toán không dùng tiền mặt”.

Xu hướng phát triển siêu thị mini

Theo đánh giá của các chuyên gia trong khảo sát của Vietnam Report, siêu thị mini chính là xu hướng phát triển của ngành bán lẻ hiện đại Việt Nam trong bối cảnh thị trường bán lẻ đang chịu cạnh tranh từ thương mại điện tử, các trung tâm thương mại truyền thống cũng gặp nhiều khó khăn.

Trong kết quả khảo sát người tiêu dùng gần đây của Vietnam Report cho thấy 48% người được hỏi lựa chọn một cửa hàng hay siêu thị vì vị trí thuận lợi, và các siêu thị mini đáp ứng được nhu cầu này cho người mua, lại tối ưu hóa chi phí với quy mô khoảng 50 – 200 m2, được quản lý từ 2 – 3 nhân viên.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, mô hình siêu thị mini lại càng thể hiện ưu điểm hạn chế tập trung đông người như các siêu thị lớn, người tiêu dùng giảm dần thói quen mua sắm ở chợ truyền thống và chọn đến các cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini có tăng lên.

Số lượng siêu thị mini tăng mạnh trong 6 tháng đầu năm 2020, đặc biệt ở các khu vực cấp 2 và 3 nhưng tiềm năng mở rộng các cửa hàng tiện lợi ở Việt Nam còn rất lớn, khi kênh bán lẻ hiện đại chiếm khoảng 25% tổng mức bán lẻ, các cửa hàng tiện lợi chưa đến 10% thị trường.

“Các mô hình siêu thị mini tiếp tục là xu thế của thị trường và các nhà bán lẻ cần nắm bắt để tiếp tục đổi mới hình thức cửa hàng, tạo ra trải nghiệm phù hợp cho khách hàng cùng với kênh trực tuyến của doanh nghiệp”, Vietnam Report nhận định.

Top 6 chiến lược ưu tiên của doanh nghiệp bán lẻ

Đại dịch Covid-19 tạo ra nhiều khó khăn, thách thức nhưng cũng là cơ hội sàng lọc các doanh nghiệp trong ngành bán lẻ, là thời điểm để các doanh nghiệp nhìn lại những hạn chế trong giai đoạn trước và đổi mới một cách toàn diện nhằm tránh rủi ro, nâng cao hiệu quả kinh doanh và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng. Đặc biệt trong bối cảnh các gia đình tiết kiệm chi tiêu, thay đổi hành vi mua sắm, các doanh nghiệp bán lẻ cần chủ động điều chỉnh phương án kinh doanh phù hợp với xu thế tiêu dùng mới, đẩy mạnh ứng dụng số hóa trong vận hành, và phát triển đa dạng các kênh bán hàng, các hình thức thanh toán linh hoạt.

Top 6 chiến lược của doanh nghiệp bán lẻ

Kết quả khảo sát của Vietnam Report với các doanh nghiệp bán lẻ chỉ ra top 6 chiến lược của doanh nghiệp bán lẻ trong thời kỳ “bình thường mới”: 90,9% doanh nghiệp bán lẻ lựa chọn triển khai các chương trình kích cầu người tiêu dùng như giảm thêm giá bán, tăng thêm ưu đãi cho sản phẩm, giao hàng miễn phí tại nhà nhằm tăng doanh thu; 72,7% doanh nghiệp thực hiện cắt giảm chi phí.

Đối với các doanh nghiệp bán lẻ, việc cắt giảm chi phí vận hành không chỉ giúp gia tăng lợi nhuận mà còn giúp doanh nghiệp giữ vững lợi thế cạnh tranh về mức giá rẻ và có thể đối phó với những đối thủ trong lĩnh vực thương mại điện tử ngày càng lớn mạnh. Nhiều doanh nghiệp bán lẻ đã thực hiện chiến lược cắt giảm chi phí thông qua đàm phán giảm giá thuê mặt bằng, hạn chế tuyển dụng mới, cắt giảm chi phí quảng cáo…

Ngoài ra, có 63,6% doanh nghiệp tăng cường số hóa các hoạt động vận hành, đẩy mạnh nghiên cứu thị hiếu và xu thế thay đổi thói quen mua sắm của khách hàng và đầu tư xây dựng các kênh bán hàng trực tuyến mới; 36,4% doanh nghiệp lựa chọn phát triển các hình thức thanh toán đa dạng, linh hoạt.

Sức mạnh của uy tín và niềm tin trong khủng hoảng

Hình ảnh doanh nghiệp trên truyền thông sẽ góp phần xây dựng uy tín doanh nghiệp và được xem như yếu tố quan trọng có tác động đến tâm lý người tiêu dùng, vì thế các doanh nghiệp bán lẻ ngày càng chủ động xuất hiện trên các phương tiện truyền thông. Trong giai đoạn nghiên cứu năm nay (từ tháng 9/2019 đến tháng 8/2020), tiếng nói và sự xuất hiện của các doanh nghiệp bán lẻ trên truyền thông đã tăng hơn 3 lần so với cùng kỳ nghiên cứu năm trước, đạt tỷ lệ 39,4% so với 12,8% trong kỳ nghiên cứu 2018-2019 (từ tháng 9/2018 đến tháng 8/2019).

Về chất lượng thông tin, doanh nghiệp được đánh giá là “an toàn” khi đạt tỷ lệ chênh lệch thông tin tích cực và tiêu cực so với tổng lượng thông tin được mã hóa ở mức 10%, tuy nhiên ngưỡng “tốt nhất” là trên 20%. Trong số doanh nghiệp được nghiên cứu có 54,29% doanh nghiệp đạt ngưỡng trên 20% và có 62,86% doanh nghiệp đạt được mức 10%.

Xét về tần suất xuất hiện trên truyền thông: SJC, Thế giới Di động, PNJ, DOJI, FPT Shop, VinMart và VinMart+, LOTTE Mart, Mega Market, SASCO, AEON là những doanh nghiệp xuất hiện nhiều nhất trên truyền thông.

Các doanh nghiệp xuất hiện nhiều trên truyền thông (tần suất)

Kết quả phân tích Mediacoding của Vietnam Report cũng chỉ ra những chủ đề xuất hiện nhiều nhất trên truyền thông với ngành bán lẻ: Tài chính/Kết quả kinh doanh; Sản phẩm; Giá; Hình ảnh/PR; Cổ phiếu/Chứng khoán. Vị thế thị trường và Trách nhiệm xã hội là hai nhóm có tỷ lệ tin tích cực cao nhất, lần lượt là 57,85% và 58,06%. Các nhóm liên quan đến quy định của Chính phủ, hình ảnh/PR/Scandals, và Cổ phiếu có tỷ lệ tin tiêu cực vượt ngưỡng an toàn là 10%.

Top 10 chủ đề xuất hiện trên truyền thông

Top 4 giải pháp để hỗ trợ ngành bán lẻ

Để hỗ trợ tốt hơn nữa cho ngành bán lẻ vượt qua những khó khăn nêu trên, tận dụng các cơ hội trong thời gian tới, bên cạnh việc ổn định nền kinh tế vĩ mô, đảm bảo mức sống của người dân trong đại dịch, các chuyên gia và doanh nghiệp bán lẻ trong khảo sát của Vietnam Report đã đề xuất 4 giải pháp trọng tâm cần Chính phủ và các cơ quan liên quan ưu tiên giải quyết, đó là: Bổ sung hỗ trợ thông qua các gói tín dụng, ưu đãi đầu tư và ưu đãi thuế (100%); Hoàn thiện hệ thống hành lang pháp lý, tạo môi trường cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp, đặc biệt là hoạt động bán hàng online (66,7%); Hỗ trợ tư vấn các doanh nghiệp nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình chuyển đổi số (66,7%); Hỗ trợ kết nối với các nhà cung cấp (44,4%).

Top 4 giải pháp để hỗ trợ cho ngành bán lẻ

Cùng với việc thông tin về kết quả khảo sát như trên, Vietnam Report cũng công bố Top 10 Công ty Bán lẻ uy tín năm 2020.

M.Hồng / Thoibaonganhang

Bừa bộn muôn năm


Cơn ác mộng của Marie Kondo, người được mệnh danh là thánh nữ dọn nhà, chính là trào lưu giữ lại tất cả, bày ra mọi thứ.

Bừa bộn muôn năm
Những đồ vật này là lộn xộn trong mắt người khác, nhưng với chủ nhân là không gian đầy yêu thương. Ảnh: Funnyist

Từ giữa năm 2019, Marie Kondo, nữ tác giả sách và nhà tư vấn sắp xếp nội thất người Nhật Bản, đã trở thành một động từ, chỉ sự dọn dẹp vật chất, thanh lọc tâm hồn. Giờ đây, đại dịch COVID-19 đã thổi bùng một trào lưu mới: phong cách thẩm mỹ cluttercore (nôm na là lấy sự bừa bộn – clutter – làm trung tâm), nơi người ta làm ngược lại – không vứt đồ đi, mà yêu mọi thứ mà ta có, bảo đảm chúng luôn có chỗ trong nhà ta hay phòng ta.

“Khi bị buộc phải ở trong nhà, chắc chắn nhiều người sẽ bắt đầu dọn dẹp, nhưng tôi cũng chú ý thấy những người khác bắt đầu yêu quý đồ đạc của họ hơn” – Jennifer Howard, tác giả quyển Clutter: An Untidy History (tạm dịch: Đồ bừa bộn – Một lịch sử của sự bừa bãi), nói với báo The Guardian.

Nếu trào lưu “Marie Kondo mọi thứ” hay thực hành lối sống tối giản từng khiến Facebook, TikTok hay Instagram tràn ngập những tấm hình khoe thành quả – những góc phòng thoáng đãng vắng bóng vật dụng, những ngóc ngách trong nhà rất “thiền” – thì cluttercore cũng tìm đến mạng xã hội để khẳng định mình.

Trên TikTok, video với hashtag #cluttercore có gần 2 triệu lượt xem, và có khoảng 1.300 tấm ảnh gắn thẻ chủ đề này trên Instagram. Hình ảnh phổ biến là giường ngủ chất đầy quần áo, các bức tường dán kín tranh ảnh, những chiếc kệ ken chật sách vở, những bậu cửa sổ với chậu cây cảnh, đồ trang trí và lưu niệm. Đại dịch cũng giúp cho người theo đuổi phong cách thẩm mỹ này có thêm một kênh nữa để khoe thành quả: giao tiếp qua Zoom khiến ai cũng có thể nhìn thấy không gian nhà của người khác, và những căn phòng đầy ắp đồ đạc lại trở thành một “tấm phông” đầy cá tính.

i-D, tạp chí thời trang và lối sống thuộc Vice Media, cho rằng những người yêu bừa bộn nhìn nhận một căn phòng hay ngôi nhà phải đầy ắp đồ đạc thì mới có cảm giác ấm cúng, có sức sống và con người hơn là “những bức tường trắng lạnh lẽo, tạo cảm giác không chào đón” của thiết kế nhà cửa hiện đại.

Irina Balog, một chuyên gia thiết kế nội thất 32 tuổi người Thụy Điển, cho rằng cluttercore “vừa là thẩm mỹ vừa là cảm xúc”, và rằng “cách tôi trang trí không gian là một phần con người tôi”. Những người trẻ hơn, thuộc thế hệ Z cũng yêu cái sự “bừa bộn có tổ chức”; theo i-D, họ “nhìn thấy giá trị trong những thứ người khác sẽ vứt đi, và cảm thấy thoải mái với bộ sưu tập đồ đạc của mình”.

Amanda, 18 tuổi, từng mơ về căn phòng ngủ có không quá 20 món đồ và giữ nó luôn sạch sẽ ngăn nắp như các bạn đồng trang lứa khoe trên mạng, nhưng cô nhận ra để có căn phòng tối giản đồng nghĩa với việc vứt bỏ những đồ vật có ý nghĩa với bản thân. Amanda chọn phong cách cluttercore, để “tìm chỗ cho những đồ vật tôi yêu”. Người ngoài nhìn vào sẽ thấy một đống bừa bộn của kẻ thích tích trữ đồ đạc, nhưng với Amanda, đây là “cách tối đa hóa không gian sống” và thỏa sức sáng tạo, tạo cảm hứng nghệ thuật.

Vậy đâu là ranh giới giữa một đống bừa bộn và “sự lộn xộn có tổ chức”? Howard cho rằng, cũng như câu vẻ đẹp là trong mắt của kẻ si tình, đồ đạc người này yêu dấu lại là rác trong mắt người khác. Nhưng những người thích bày biện có lý lẽ riêng của họ. “Cluttercore không phải là cách cổ xúy cho lối sống tích trữ đồ đạc và vật vứt đi, mà là sự trân trọng những thứ thuộc về chính mình” – Micah, 18 tuổi, quả quyết.

Bừa bộn muôn năm
Ảnh: Diply

Còn một sự khác biệt nữa: cảm giác một căn phòng đầy ắp đồ đạc mà đượm tình yêu thương mang đến sẽ khác với không gian bừa bãi tùy tiện. Nhìn những căn phòng “bừa bộn có tổ chức”, ta có thể cảm nhận được từng vật dụng đã được bày biện một cách chăm chút; mọi thứ trong phòng đều có lý do để có mặt ở đó, chứ không phải đặt bừa vứt đại như trong một mớ lộn xộn thông thường.

Cả Howard lẫn Micah đều nhấn mạnh rằng một không gian quá hoàn hảo sẽ tạo ra sự khó chịu và trống trải; và ngược lại, môi trường được trang trí bằng đồ đạc của chính chúng ta mang đến cảm giác được bảo vệ và tưởng như những người, những trải nghiệm có liên quan đến những món đồ đó cũng đang ở bên ta.

“Tình cờ” là Marie Kondo vừa ra mắt khóa học trực tuyến giúp dọn dẹp đồ đạc khi phải ở trong nhà vì giãn cách xã hội, trong khi Netflix phát sóng chương trình Get Organized With the Home Edit, hướng tới việc sắp xếp những thứ mà Marie Kondo sẽ bảo ta vứt đi. Cộng với trào lưu cluttercore, tất cả làm nên một va chạm thú vị về cách thiết đặt trật tự nhà cửa, về lối sống tối giản hay tối đa, trong đại dịch.

TRÚC ANH – Theo TTCT