5 dạng chuyên gia công nghệ đắt giá


 

Đó là chuyên gia mạng, phát triển, phân tích kinh doanh, dữ liệu và bảo mật.

Theo hãng Robert Half Technology, các kỹ sư mạng dày dạn được nhiều công ty công nghệ săn đón nhất hiện nay, đặc biệt là các chuyên gia hệ thống, mạng về điện toán đám mây, phần mềm như một dịch vụ (Software as a Service) và ảo hóa.Trong cuốn tư vấn lương 2012 (Salary Guide 2012) mới xuất bản, hãng Robert Half Technology liệt kê 5 dạng chuyên gia công nghệ “đắt giá”:

1. Kỹ sư mạng và hệ thống
2. Chuyên gia phát triển (Developer)
3. Chuyên gia phân tích kinh doanh và bảo đảm chất lượng
4. Chuyên gia giải pháp quản trị doanh nghiệp thông minh (business intelligence –BI).
5. Chuyên gia bảo mật.

Với chuyên gia phát triển, các kỹ năng và kiến thức mà nhà tuyển dụng cần là .Net, Java, PHP, Silverlight, Flex, MySQL và các công nghệ cổng thông tin (portal technologie), chẳng hạn SharePoint.

Bên cạnh đó, các hãng công nghệ cũng đang tìm kiếm các chuyên gia về đảm bảo chất lượng nhằm giúp các dự án hoàn thành chính xác hơn, hỗ trợ và gánh vác công việc cho các nhà phát triển để họ tập trung vào viết chương trình, ứng dụng (coding). Trong khi đó, các chuyên gia phân tích kinh doanh sẽ đóng vai trò cầu nối và tạo mối liên kết giữa Công nghệ thông tin và kinh doanh.

Các chuyên gia về giải pháp quản trị doanh nghiệp thông minh (business intelligence – BI) nắm vững kho dữ liệu (data warehousing) hiện rất cần thiết vì doanh nghiệp có thể “chết đuối”  trong “mớ” dữ liệu. Các chuyên gia lĩnh vực BI sẽ quản lý, trích xuất dữ liệu đáng giá cho doanh nghiệp, để từ đó doanh nghiệp có thể ra các quyết định đúng.

Điều không bất ngờ, đó là các chuyên gia bảo mật luôn là đối tượng được các nhà quản lý công nghệ thông tin săn đón. 24% CIO cho biết bảo mật là mối quan tâm hàng đầu của họ.

Ngoài danh sách 5 dạng chuyên gia công nghệ đắt giá, hãng Robert Half Technology còn liệt kê các chứng chỉ được các doanh nghiệp quan tâm khi tuyển dụng ứng viên.

* Chứng chỉ Cisco: Cisco Certified Network Associate (CCNA), Cisco Certified Internetwork Expert (CCIE).
* Chứng chỉ Linux: Red Hat Certified Engineer (RHCE).
* Chứng chỉ Microsoft: Microsoft Certified IT Professional (MCITP), Microsoft Certified Systems Engineer (MCSE), Microsoft Certified Technology Specialist (MCTS) and Microsoft Certified Professional Developer (MCPD).
*Chứng chỉ quản lý dự án (Project management): Project Management Professional (PMP).
* Chứng chỉ bảo mật: Certified Information Systems Security Professional (CISSP), Check Point Certified Systems Administrator (CCSA) and Check Point Certified Security Expert (CCSE).
* Chứng chỉ VMware: VMware Certified Professional (VCP).

Danh sách các kỹ năng mà CIO đòi hỏi ở ứng viên, gồm:

* Quản trị mạng (Network administration)
* Quản trị cơ sở dữ liệu (Database management)
* Hỗ trợ người dùng (Desktop support)
* Quản trị Windows (Windows administration)
* Quản trị mạng không dây (Wireless network management)
* Thiết kế/phát triển web (Web development/website design)
* Có kiến thức, kỹ năng về viễn thông (Telecommunications support)
* Ảo hóa (Virtualization)
* Doanh nghiệp thông minh (Business intelligence)
* Triển khai ERP (ERP implementation)

Theo hãng Robert Half Technology, nhu cầu tuyển dụng các chuyên gia công nghệ thông tin trung và cao cấp là khá lớn, đặc biệt là những người có kinh nghiệm làm việc trên các phần mềm và hệ thống phức tạp. Các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như chăm sóc sức khỏe, sản xuất, dịch vụ chuyên nghiệp, công nghệ cao, năng lượng và phi lợi nhuận thường có nhu cầu tuyển dụng các chuyên gia công nghệ thông tin.

PCworldVN – Tuấn Trần
Nguồn: Networkworld 25/10/2011

Bước đầu tìm hiểu về cộng đồng người Hoa Phước Kiến ở phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương


Phát – Đỗ Tiên

Hiện nay ở phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một có 2.780 người Hoa đang sinh sống, trong đó hầu hết là người Hoa đến từ huyện An Khê – Phước Kiến- Trung Quốc.

An Khê là một huyện miền núi nghèo nàn lạc hậu. Thời phong kiến vùng quê này luôn xảy ra cảnh “bán vợ đợ con”, cuộc sống kham khổ, đói rét. Một số người bất nhẫn trước cảnh bị áp bức, nghèo hèn đành rời bỏ quê hương đi tìm nơi làm ăn sinh sống. Họ lên tàu đến những đất nước lân cận, trong đó có Việt Nam. Những người tiên phong đến định cư tại Chánh Nghĩa ngày nay có lẽ chỉ vào khoảng thế kỷ XIX, muộn hơn so với Biên Hòa và Sài Gòn. Bởi vì căn cứ vào thời gian lập miếu xưa nhất là miếu Thiên Hậu khoảng giữa thế kỷ XIX. Và, lò gốm xưa nhất ở Chánh Nghĩa cũng được xây dựng khoảng giữa thế kỷ XIX. Đó là lò Vương Lương ở khu vực Bà Lụa ngày nay. Tuy nhiên, dòng chảy di dân An Khê (Ta) Sang Chánh Nghĩa nhiều nhất khoảng đầu thế kỷ XX, mà cao trào là từ những năm 1930 đến 1948. Thời kỳ mà Trung Quốc có nhiều biến động lịch sử. Chế độ phong kiến đã bị lật đổ bởi cuộc cách mạng của Quốc Dân đảng. Nhưng khi lãnh đạo Tôn Trung Sơn mất năm 1925, Tưởng Giới Thạch đã phản bội tư tưởng của Tôn Trung Sơn và xảy ra sự đối đầu với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nội chiến lại xảy ra, tình hình hỗn loạn, thổ phỉ phá quấy, trộm cắp, cướp bóc liên miên. Vùng đất nghèo càng thêm nghèo, trốn sự lam lũ đói rách, trốn bị bắt lính, trốn sự bất ổn của xã hội, họ rời bỏ quê hương ngày càng nhiều. Những người đi trước bắt đầu đón những người thân trong gia đình, bà con trong tộc họ, xóm giềng, bạn bè… lần lượt di dân sang hợp thành một cộng đồng người Hoa đông đúc như ngày nay.
Người Hoa ở Chánh Nghĩa đa phần là họ Lý, họ Vương và một số ít họ khác. Ban đầu họ đến vùng đất mới làm thuê để sinh sống, chủ yếu là làm thợ lò gốm. Từ hai bàn tay trắng, qua thời gian làm việc cật lực cộng với chiến thủ cao, có một số người đã xây dựng lò gốm để làm chủ. Khu vực Chánh Nghĩa có địa hình và địa thế thuận lợi để đắp lò làm gốm. Thế là các lò gốm dần dần mọc lên bên cạnh khu vực Lái Thiêu, Chòm Sao, Tân Khánh… năm 1910 ở Phú Cường (khu vực Chánh Nghĩa ngày nay lúc bấy giờ thuộc làng Phú Cường) đã có 14 lò gốm, cho đến nay ở phường Chánh Nghĩa đã có gần 100 lò gốm. Người Phước Kiến ở Chánh Nghĩa chỉ một số ít làm các nghề khác như buôn bán, rang xay cà phê còn thì đa số làm thợ lò gốm.
Gốm Chánh Nghĩa chủ yếu là gốm gia dụng như chén, tô, dĩa, thố, lu, khạp… phong cách thô sơ, mộc mạc không có nét cầu kỳ, tinh tế như gốm Lái Thiêu. Khu vực tập trung các lò gốm trải trên một diện tích rộng. Vì vậy, nơi đây còn có địa danh là Lò Chén. Các tên gọi “khu lò chén”, “ngã ba Lò Chén” vẫn còn tồn tại cho đến nay. Gốm Chánh Nghĩa cũng đã góp phần tạo nên sự thăng hoa của gốm Bình Dương trên khắp cả nước, trở thành một trong các ngành nghề truyền thống đặc trưng của Bình Dương.
Người Hoa khi rời bỏ quê hương, tài sản mang theo có thể rất ít. Nhưng với bản tính cần cù nhẫn nại, chịu khó, họ đã tạo nên cơ ngơi sung túc trên quê hương thứ hai này.
Khu vực Lò Chén dân cư ngày càng đông đúc. Người Hoa ở đây hòa nhập khá tự nhiên vào cộng đồng người Việt. Tuy nhiên, họ vẫn luôn giữ những nét đặc sắc trong văn hóa của dân tộc mình.
Ở bất cứ cộng đồng người nào, khi nhập cư sinh sống trên một vùng đất nào đó, họ đều mang theo truyền thống tín ngưỡng của mình. Người Hoa cũng vậy. Nhất là trong buổi đầu định cư, họ vừa trải qua những ngày sóng gió lênh đênh trên biển nhiều gian nan, trắc trở, thì khi đến vùng đất mới được bình an vô sự, họ đều hướng về các thần linh để tạ ơn. Họ lập nên những miếu thờ dù ban đầu chỉ là những gian nhà lá đơn sơ để thờ những vị thánh mà họ cho là hiển linh đã cứu giúp họ.
Thiên Hậu Thánh Mẫu là một điển hình. Xuất xứ từ châu Mi, huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, cô gái họ Lâm tương truyền là người đắc đạo, hiển ứng thần thông cứu người bị nạn trên biển. Hầu hết lưu dân người Hoa ra đi bằng đường biển nên họ rất tôn thờ Bà. Không chỉ riêng người Phúc Kiến, Hoa kiều ở bất cứ nơi đâu đều lập miếu thờ Bà.
Ở khu vực Chánh Nghĩa, vào năm 1867, những người Phước Kiến đã lập ngôi miếu thờ Thiên Hậu trên bờ rạch hương chủ Hiếu, năm 1871 miếu được tôn tạo, đến năm 1880 họ xin chính quyền cất thêm nhà hội. Sau khi miếu bị cháy, năm 1923 miếu được di dời về địa điểm đối diện vòng xoay ngã sáu, bên cạnh trường tiểu học Nguyễn Du hiện nay, đó là thiên Hậu cung, nhân dân quen gọi là chùa Bà Thủ Dầu Một. Miếu dù có nguồn gốc đầu tiên là do những người Phước Kiến lập, nhưng sau đó cả bốn bang người Hoa Phước Kiến, Triều Châu, Quảng Đông và Sùng Chính đã chung sức xây dựng, tôn tạo, quản lý và tổ chức lễ hội long trọng đầy màu sắc vào ngày Rằm tháng giêng hàng năm. Lễ hội này trở thành lễ hội truyền thống thu hút hàng triệu lượt người từ khắp nơi đổ về không chỉ người Hoa mà người Việt cũng tụ hội chung vui.
Ngoài việc chung sức giữ gìn truyền thống lễ hội rằm tháng giêng của Thiên Hậu cung, người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa còn có truyền thống thờ cúng những vị nam thần mà những nơi thờ tiêu biểu là Phước võ điện và Phước An miếu, dân quanh vùng quen gọi là chùa ông Bổn.
Phước điện thờ Huyền Thiên Thượng Đế, được những người họ Vương xây dựng khoảng năm 1885, hiện tọa lạc tại khu 9, phường Chánh Nghĩa. Huyền Thiên Thượng Đế là một vị thần do Thượng Đế phân thân, còn được gọi là Chân Vũ hoặc Chân Võ. Theo truyền thuyết, ngài có hai tướng rùa và rắn (Vui – Xà tướng quân) phụ trợ cùng với 36 tướng khác tuần du về phương bắc để trấn áp, thu phục tà ma cứu người lương thiện, cuộc tuần du đó gọi là Bắc du Chân Võ. Lễ hội Phước Võ điện tổ chức vào 2 ngày 24 và 25-2 âm lịch. Cứ 4 năm mới đáo lệ một lần do có sự luân phiên tổ chức của nhóm họ Vương các nơi khác. Đó là các miếu thờ:
– Ngọc Hư cung ở khu 7, thị trấn Lái Thiêu.
– Phước Thọ đường ở xã Hưng Định, huyện Thuận An.
– Phước Nghĩa đường ở Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên. Huyền Thiên Thượng Đế lần lượt được thỉnh về tạm trú mỗi nơi một năm. Ngài ở nơi nào thì nơi đó tổ chức lễ hội. Chương trình lễ hội cả bốn nơi đều giống nhau. Phần chính của lễ hội là nghi thức rước kiệu Huyền Thiên Thượng đế, Nam triều Đại Đế, Phật Bà Quan Âm đi tuần du suốt đêm quanh khu vực. Đám rước có sự hộ tống của hẩu, lân, sư, rồng rộn rã, tưng bừng. Trong lễ hội có hát hò Quảng thu hút rất đông cư dân quanh vùng.
Phước An miếu hiện tọa lạc tại khu 7, phường Chánh Nghĩa do người Hoa họ Lý lập năm 1882 thờ Thất phủ Đại nhân các vị họ Lực, Chu, Quách, Tiêu, Triệu, Lý và Châu. Tương truyền vào đời nhà Hán, có 360 sĩ từ đi thi đã tụ hội lại trong một căn hầm để đàn ca hát xướng. Tiếng ồn vang đến tai của trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng – tổ của thầy pháp) ông nổi giận bèn lừa vua lấy chiếu chỉ rồi đọc than chú cho sụp hầm giết chết 360 người. Oan hồn các sĩ tử cứ báo mộng kêu oan với nhà vua. Khi biết rõ sự tình, vua bèn phong cho các sĩ tử bị chết oan mỗi người là Đại nhân của phủ họ. Người họ nào thì thờ đại nhân họ đó. Tìm hiểu từ những người cao tuổi thì ở quê hương An Khê của họ Lý đã có miếu thờ thất phủ đại nhân từ lâu đời. Khi sang định cư tại Chánh Nghĩa ngày nay người Hoa họ Lý cũng lập miếu thờ Thất phủ Đại nhân, trước tiên là để tạ ơn các vị thần đã phò trợ cho họ được an cư lạc nghiệp, sau đó là giải quyết nhu cầu tinh thần, an ủi những người xa xứ luôn nhớ và tiếp nối truyền thống tín ngưỡng từ cố hương.
Hàng năm vào ngày 16 tháng giêng, Phước An miếu tổ chức lễ rước kiệu ông tuần du suốt ngày suốt đêm quanh khu dân cư. Từng gia đình hoặc một nhóm gia đình bày chung hương án, bánh trái bên đường đón đám rước có thầy pháp làm lễ cúng cầu ông giải trừ tà ma, phù hộ cho gia đình làm ăn phát đạt, an khang thịnh vượng… hộ tổng đám rước cũng không thể thiếu hẩu, lân, sư, rồng với trống chiêng, chập chả âm thanh rộn ràng vang xa hàng cây số.
Ngoài lễ rước kiệu ngày 16 tháng giêng hàng năm, cứ 3 năm Phước An miếu tổ chức lễ hội một lần vào 3 ngày từ 12 đến 14-8 âm lịch. Trong lễ hội có thầy pháp tụng cúng, có hình thức lên đồng xỏ xiên quai (một thanh sắt tròn dài xỏ xiên qua 2 má cạnh mép miệng) và chủ yếu là hát cúng hò Quảng với nhiều tuồng tích. Cũng như lễ hội ở Phước Võ điện, lễ hội ở Phước An miếu thu hút rất đông người.
 
Ngoài 2 ngôi miếu thờ Ông kể trên, người hoa ở Chánh Nghĩa còn có miếu thờ Phật Bà Ouan Âm gọi là Bích Liên đình tọa lạc tại khu 7, phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một. Việc thờ Quan Âm tại đây không mang theo nghi thức Phật giáo. Cũng giống như Thiên Hậu Thánh Mẫu, người Hoa cho rằng Phật Bà Quan âm là vị cứu nạn, cứu nguy cho người trên biển. Ở đây bên cạnh Phật Bà còn kết hợp thờ các vị Tam Thánh (Quan Công, Quan Bình, Châu Xương), Hồng Hài Nhi, Hà Tiên Cô, Na Tra và Bảo Sanh Đại Đế. Mỗi khi Phước An miếu tổ chức rước kiệu hoặc lễ hội đều thỉnh Phật Bà với các vị thờ ở Bích Liên đình lên Phước An miếu cùng tuần du, cùng chứng giám lễ hội.
Nói đến lễ hội và tín ngưỡng của người Hoa ở Chánh Nghĩa không thể không nói đến nghi thức múa hẩu. Đó là một hình thức múa lốt đặc trưng của người Hoa Phước Kiến ở Bình Dương mà không có nơi nào có kể cả ở TP.HCM. Cái lốt con hẩu có đầu là chiếc mặc nạ tròn rất hung tợn, được vẽ nhiều màu sắc, quanh đầu râu ria xồm xoàm gắn với thân là một tấm vải màu vàng rực, rộng và dài khoảng 3 – 4m. Đuôi là đuôi thật của trâu hoặc bò phơi khô cột chặt vào phần cuối cùng của tấm vải. Múa hẩu cũng có 2 người múa đầu và múa đuôi nhưng khác hẳn với múa lân hoặc sư tử bởi vì hẩu không trèo leo, nhún nhảy theo kiểu vui chơi. Hình thức cơ bản khi múa hẩu là đầu rướn lên cao, xoay mặt qua lại, lúc thì co lượn, trườn dài, lăn tròn xuống đất. Múa hẩu biểu diễn trong lễ cúng ở Phước An miếu và các lễ vía Huyền Thiên Thượng Đế chứ không biểu diễn để vui chơi hội hè. Về sau khi kết hợp tổ chức lễ hội Thiên Hậu Thánh Mẫu, hẩu cũng tham gia rước Bà du xuân.
Theo tín ngưỡng Đạo giáo, không biết nguồn gốc từ đâu, các bang hội người Hoa ở Bình Dương đều công nhận mỗi bang có một cốt con vật riêng (trong can chi). Người Phước Kiến cốt con hổ, Triều Châu cốt con ngựa, Quảng Đông cốt con dê và Sùng Chính cốt con chó. Do đó, khi xếp đội hình rước kiệu Bà Thiên hậu du xuân thì nhất định các con hẩu luôn luôn đi đầu. Vì người Hoa cho rằng hẩu đại diện người Phước Kiến cũng tức là hổ nên cần phải đi đầu để dẹp đường cho Bà du xuân, nếu hẩu đi sau sẽ ăn hết những con vật (ngựa, dê và chó kể trên) đi trước, như vậy người Hoa các bang khác sẽ không được thuận lợi trong công việc làm ăn.
Như vậy, hẩu là một linh vật, múa hẩu là nghi thức thờ các gia đình người Hoa. Những người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa luôn mở rộng cửa đón hẩu và nhà múa lễ trong những ngày đầu xuân.
Về phong tục tập quán, người Hoa Phước Kiến Chánh Nghĩa vẫn duy trì tục dán liễn đỏ trong các dịp Tết, cưới hỏi, tang ma… Cũng như tất cả người Hoa nói chung, người Phước Kiến rất chuộng màu đỏ, hoa cho màu đỏ là màu may mắn, hạnh phúc. Trong các lễ hội hoặc các lễ cúng khác người Phước Kiến thường nhuộm trứng vịt màu đỏ để thỉnh lộc miếu ông hoặc cúng lễ đầy tháng, thôi nôi. Khi thôi nôi hoặc đầu tháng, người Phước Kiến vẫn còn giữ phong tục làm bánh nếp (gần giống với kiểu bánh ít trần của người Việt ở Nam bộ) bột pha màu đỏ và trứng vịt cũng nhuộm đỏ đem cho các gia đình xung quanh và bà con bạn bè thân thuộc.
Nhìn chung, trong quá trình cộng cư lâu dài với người Việt, sự giao thoa văn hóa thường xuyên xảy ra, người Việt lâu dần cũng có một vài nếp nghĩ theo tập quán của người Hoa. Người Hoa cũng vậy, nhưng những biểu tượng có tính đặc trưng của mỗi tộc người luôn luôn tồn tại một cách riêng biệt không hề lẫn lộn.
 Ngày nay, cộng đồng người Hoa ở Việt Nam là một trong 54 dân tộc trong đại gia đình cộng đồng dân tộc Việt Nam. Thuở ban đầu từ Trung Quốc sang làm ăn sinh sống, họ là những “Hoa kiều” dần dần đã trở thành những công dân Việt Nam. Thế hệ con cháu họ là thế hệ người Việt Nam nhưng cội nguồn văn hóa tín ngưỡng là cội nguồn văn hóa Trung Hoa mà ngày nay đã tạo thành những cành lá sum sê trong vườn văn hóa Việt Nam. Những thành tựu về mặt kinh tế, những đóng góp về mặt xã hội của người Hoa đã góp phần tạo nên sự bền vững cho Tổ quốc Việt Nam, quê hương thứ hai của họ.
Người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa nói riêng và người Hoa ở Bình Dương nói chung đã góp phần không nhỏ trong những thành tựu về kinh tế – văn hóa- xã hội của tỉnh nhà.
L.P -ĐT
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Các tài liệu điền dã cá nhân.
Địa chuông Bé. NXBTH Sông Bé năm 1991
Trần Hồng Liên: Văn hóa người hoa ở Nam bộ tín ngưỡng và tôn giáo. NXBKHXH.
– Sở VH-TT tỉnh Bình Dương: Sơ khảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian và truyền thống tỉnh Bình Dương.  Lưu hành nội bộ tháng 5-1998.

Chuyện hài – Thơ “Vợ” nhiều tập


Bác sĩ cũng bó tay

Trong phòng bệnh:

– Với biểu hiện như thế này, có thể khẳng định chắc chắn là anh đã bị nhiễm độc rất nặng.

– Trời ơi! Nguy hiểm quá! Vậy thưa bác sĩ, tôi bị nhiễm chất độc gì ạ?

– Điều này chúng tôi chỉ có thể trả lời sau khi đã khám nghiệm tử thi.

– !!!

o O o

Theo lời khuyên của bác sĩ, nhà quản nọ bắt đầu chơi quần vợt để cải thiện tình trạng sức khỏe. Sau vài tuần, thư ký hỏi ông ta tình hình tiến triển đến đâu rồi.

– Ổn cả! – Nhà quản lý đáp. – Khi ở trên sân quần và nhìn thấy trái bóng bay về phía mình, bộ óc của tôi lập tức ra lệnh: “Chạy về góc! Ve trái! Lên lưới! Đập! Lùi lại”.

– Vậy sao? – Cô gái phấn chấn hỏi. – Còn sau đó.

– Rồi tấm thân phì nộn của tôi hỏi lại: “Ai cơ? Tôi ấy à? Đừng nói chuyện vớ vẩn!”.

o O o

Một mệnh phụ phu nhân nhan sắc đã đến độ héo tàn vào một thẩm mỹ viện nổi tiếng toàn quốc, đòi gặp bác sĩ giỏi nhất ở đó. Khi được toại nguyện, bà ta hồi hộp gặng hỏi.

– Thưa bác sĩ, bác sĩ có thể can thiệp làm cho gương mặt của tôi trẻ đẹp lại được không?

Bác sĩ chăm chú nhìn bà già rồi đáp:

– Xin lỗi bà! Ở nước ta, việc chặt đầu bị cấm từ lâu rồi!

——————————————————————————————————-

 

Vợ anh

Sáng nay anh đi họp dìa

Cửa nhà bát nháo, chén thìa tứ tung
Phòng ngủ… lộn xộn chăn, mùng
Bước ra phòng khách… lùng bùng lỗ tai
“Rốc èn rôn” hét dài dài
Cặp loa tổ chảng, em “xài lút ga”
Áo quần một đống hôm qua
Cũng chưa thấy giặt… “dzậy” là còn y
“Thực đơn” bổn cũ vẫn mì
Ý em: “Nhanh, tiện cần chi linh đình
Miễn sao mình hiểu được mình
Sống chung hạnh phúc, đẹp tình trăm năm”
Lên lầu mặt mũi tối tăm
Em đang “dzui dzẻ” cùng năm “bạn hiền”
Bốn “nàng”… “xe, pháo” luân phiên
Hai “nàng”… “xì dách” bày riêng trên giường
“Thục nữ” trông thấy… “phát thương”
Anh như lạc chốn thiên đường… trần ai
Nước ngọt sáu cái vỏ chai
Trời ơi! Lăn lóc dài dài hành lang
Cửa nhà dù lắm ngổn ngang
Khoán… anh dọn dẹp chẳng màng sạch dơ

Hỡi em gái nhỏ ngây thơ
Vợ (anh) chồng (em) như vậy, mình “nhờ”… muốn hụt hơi
Tu nhân, tích đức mấy đời
Mới gặp người ấy “tiệt dzời” hết chê.

 

(Quốc Anh – TTC 3/2002)

——————————————————————————————————-

Vợ và bồ

Bồ là phở nóng tuyệt vời
Vợ là cơm nguội đáy nồi hẩm hiu.
Bồ là nơi tỏ lời yêu
Vợ là nơi trút bao nhiêu bực mình.
Bồ là rượu ngọt trong bình
Vợ là nước ở ao đình nhạt pheo.
Nhìn bồ đôi mắt trong veo
Trông vợ đôi mắt trong veo gườm gườm.
Bồ tiêu thì chẳng tiếc tiền
Vợ tiêu một cắc thì liền kêu hoang
Bồ giỗi thì phải xuống thang
Vợ giận bị mắng, bị phang thêm liền
Một khi túi hãy còn tiền
Thì bồ thắm thiết kề liền bên anh
Một mai hết sạch sành sanh
Bồ đi vợ lại đón anh về nhà
Bồ là lều, vợ là nhà
Gió lớn, lều sụp, mái nhà còn kia
Vợ là cơm nguội của ta

Nhưng là đặc sản thằng cha láng giềng…

 

——————————————————————————————————-

Tiền và vợ

Còn tiền… vợ nói líu lo,
Hết tiền thì… vợ hét, “ho” suốt ngày!
Còn tiền… vợ hiền như nai,
Hết tiền… vợ mắng như nài quản voi!
Còn tiền… nhỏ nhẹ, hẳn hoi,
Hết tiền… vợ réo như còi hỏa xa!
Còn tiền thì… vợ hiền hòa,
Hết tiền… vợ dữ như là chằn tinh!
Còn tiền… vợ gọi: “Anh… anh”,
Hết tiền… vợ gắt như chanh không đường!
Còn tiền… tình thương… mến thương,
Hết tiền… vợ đạp rớt giường như chơi!!!
(Nguyễn Văn Thắm – TTC7/2002)
——————————————————————————————————-

Bài ca Nghiệp Đoàn Rửa Chén

Những ai bị vợ hiếp hà
Nấu cơm rửa chén quét nhà kinh niên
Mau cùng kết hợp họp liền
Nghiệp Đoàn Rửa Chén ký tên vô đoàn
Cùng nhau tương trợ kết đàn
Đình công bãi thị đập bàn đập niêu
Bao nam lao động tiêu điều
Giờ đây “giải phóng” dẹp điều tai ương
Liệu hồn mấy ả cô nương
Nghiệp Đoàn sức mạnh phô trương phất cờ
Phen này quyết chẳng ngu ngơ
Nhất tề nổi dậy niềm mơ bao ngày!…
Được thì nở mặt nở mày
Không thì phơi xác banh thây ngoài đồng
Tiêu Tương nợ kiếp anh hùng
Sông sâu anh nhảy quyết không dọn nhà
Bia tươi rửa hận đàn bà
Suốt đời rửa chén chẳng thà hy sinh
Lòng anh đã sớm bất bình
Từ khi kí kết cảm tình với em
Tưởng rằng mặc sức lem nhem
Ai ngờ vỡ mộng giữa đêm không đèn
Ánh trăng chưa dứt bên thềm
Nàng lôi anh dậy gấp mền gấp chăn
Lại còn la ó cằn nhằn
Bắt anh xuống bếp nấu ăn cho nàng
Còn nàng sửa soạn đoan trang
Kịp giờ để dến cửa hàng shopping
Lúc anh đi đứng thưa trình
Không nàng nổi trận lôi đình nguy to
Trước giờ anh vẫn đắn đo
Nhưng không dám nói lý do với nàng
Bây giờ đã có Nghiệp Đoàn
Hợp quần sức mạnh gấp ngàn mấy em
Thế như lửa đốt kà-lem
Có ngon chống mắt mà xem bàn cờ
Các cô dừng có ong-đơ
Mau mau đổi tánh về thờ quân phu

——————————————————————————————————-

Nàng…

Thuở xưa ta vốn hiền lành
Từ ngày lấy vợ, trở thành… hiền khô
Còn nàng thuở ấy ngây thơ
Sau khi xuất giá thành cô… xếp sòng
Suốt ngày cứ oán trách chồng
Lúc xưa thì vậy, giờ không còn gì…

… Khổ thân cho kiếp tu mi
Sa chân lấy vợ khác chi đi tù
Lưng thì mỗi ngày một gù
Cày ba, bốn “chóp” để bù nàng tiêu
Ngày xưa trông giống Triển Chiêu
Ngày nay từa tựa lão tiều phu gia.

… Ngày trước nàng dạ, nàng thưa
Nói năng dịu ngọt cho vừa lòng anh
Anh tưởng hoa nở trên cành
Bao giờ cũng đẹp, tươi xanh bốn mùa
“Lời nói không mất tiền mua…”
Nên anh ngọt lại cho vừa lòng nhau.

Bây giờ chẳng hiểu vì đâu
Nàng mang chứng bệnh cứng đầu… lặng câm
Cái mặt thì cứ hầm hầm
Nàng trợn một cái, ta… bầm mấy hôm
Nhớ xưa… chỉ buồn tủi hơn!

(Chi Chi – TTC 11/2001)

——————————————————————————————————-

Định nghĩa “Vợ”

Vợ, từ thiếu nữ hiền lành
Ðến khi xuất giá trở thành… “quan gia”
Vợ là con của người ta
Và ta quen Vợ chẳng qua vì tình
Có quan thì phải có binh
Nên ta làm… lính hầu tình “quan gia”
Con ta do Vợ sanh ra
Nên ta với Vợ… chẳng bà con chi
Tại vì hôm Vợ vu quy
Ta lỡ làm… lính hầu đi bên nàng
Làm lính chứ không… làm tàng
Tính chất Vợ ta phải càng hiểu hơn
Mỗi khi mà Vợ giận hờn
Áp dụng “công thức giản đơn”… làm huề
Khi Vợ đã ngỏ lời… chê
Thì nên sửa đổi… “đa bê” tức thì (database)
Mỗi khi Vợ nhờ chuyện gì
“Program” Vợ viết nhớ ghi trong lòng
Khi Vợ đã nói là… “không!”
“Nguyên hàm bất định”, đừng mong tìm dò
Vợ mà nổi nóng dằn co
“Bảo toàn định luật” phải lo sẵn sàng
Khi nào cùng Vợ ra đàng
“Bảy hằng đẳng thức” sẵn sàng lắng nghe
Mỗi khi mà đã ngừng xe
Phải lo… “chuyển vế ” mở xe cho nàng
Cùng Vợ đi vào nhà hàng
Không nên tự ý “khai hàm tích phân”
Hễ thấy Vợ cứ nhăn nhăn
“Khảo sát hàm số” nhưng cần làm thinh
Vợ… “input” chữ “Shopping”
Thì… “output” phải áo xinh, váy đầm…
Muốn Vợ đừng có… chầm bầm
Credit cards cứ âm thầm… “khai căn”
Nếu… lỡ mà có lăng nhăng
“Giá trị tuyệt đối” một lần rồi thôi
Tình Vợ mà có muôn đời
Phải nhường Vợ chức… “đương thời quan gia”
Muốn Vợ trẻ mãi không già
Lưng ta chắc phải như là… “parabol”
Tính chất Vợ thì phải tuân
Kẻ làm… lính phải luôn luôn thật thà
Nấu cơm, đi chợ, quét nhà…
Quan gọi thì… dạ , bẩm bà có ngay
Quan thương sẽ cười suốt ngày
Quan ghét… lính sẽ bị đày khổ sai
Hễ ai có cười chê bai
Ðổ thừa… thương Vợ chứ ai mà…đần
Tính chất phải… học nhiều lần
Nếu không áp dụng trăm phần trăm… thua!!!

http://cuoi.xitrum.net/