“Nghề gốm Bình Dương” và “Võ lâm Tân Khánh Bà Trà” được công nhận là 2 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia


Lễ công bố quyết định công nhận bảo vật quốc gia và công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Nhân Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam (23/11/2005 – 23/11/2021). Sáng ngày 23-11, tại Trung tâm Văn hóa – Nghệ thuật tỉnh Bình Dương, UBND tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Lễ công bố Quyết định công nhận Bảo vật quốc gia, công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2020 trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Đây không chỉ là sự kiện vinh danh di sản văn hóa Bình Dương mà còn là hoạt động thiết thực nhằm quảng bá, tuyên truyền, giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống các thế hệ cha ông để lại.

Tham dự buổi lễ có ông Nguyễn Lộc Hà, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, ông Bùi Hữu Toàn Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, đại diện lãnh đạo các Sở, ban ngành, đoàn thể, UBND các huyện, thị xã, thành phố. Đặc biệt có sự tham dự của các võ sư, môn sinh môn phái Tân Khánh Bà Trà, các nghệ nhân nghề gốm Bình Dương và đông đảo bà con nhân dân, các cơ quan truyền thông, báo chí…

Năm 2020, tỉnh Bình Dương vinh dự và tự hào khi Bộ Dụng cụ dệt gỗ Phú Chánh được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia tại Quyết định số2283 ngày 31/12/2020; Nghề thủ công truyền thống gốm Bình Dương cùng với Tri thức dân gian, Nghệ thuật trình diễn dân gian Võ Lâm Tân Khánh Bà Tràđược Bộ Trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quyết định đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, đây là sự kiện quan trọng, một thành tựu lớn của ngành văn hóa tỉnh Bình Dương.

Bộ dụng cụ dệt gỗ Phú Chánh là hiện vật thứ 3 của tỉnh Bình Dương được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia, là minh chứng quan trọng trong việc khẳng định sự ra đời và phát triển của nghề dệt trên đất Bình Dương 2000 năm trước; góp thêm nhận thức về đời sống, sinh hoạt sản xuất, văn hóa tâm linh và tập tục mai táng của cư dân nơi đây…Tiếp nối dòng lịch sử, Môn phái võ thuật Tân Khánh Bà Trà, nghề làm gốm trên đất Bình Dương cũng được ra đời và không ngừng phát triển, đóng góp to lớn vào quá trình lập ấp, lập làng, phát triển kinh tế, xã hội và trở thành những “sứ giả” văn hóa, lan tỏa hình ảnh vùng đất, con người Bình Dương ra trong và ngoài nước.

Công bố Võ lâm Tân Khánh Bà Trà là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (Ảnh: Thiên Lý) – VOV

Đại diện UBND tỉnh, ông Nguyễn Lộc Hà ghi nhận những đóng góp to lớn, bền bỉ của các bậc võ sư, môn sinh Môn phái Võ Lâm Tân Khánh Bà Trà; những nghệ nhân, người lao động trong ngành gốm sứ; ghi nhận những nỗ lực của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong thời gian qua đã có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa. Trong thời gian tới, UBND tỉnh đề nghị các sở, ban ngành, chính quyền địa phương nơi có di sản văn hóa xây dựng các kế hoạch, đề án cụ thể nhằm bảo vệ, bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa; gắn kết di sản văn hóa vào hoạt động khai thác du lịch…

Kết hợp cùng Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ban tổ chức đã xây dựng một chương trình nghệ thuật đặc sắc với các hoạt động chiếu phim tư liệu, trình diễn Võ thuật Tân Khánh Bà Trà, trao tặng hiện vật và tham quan trưng bày hình ảnh, hiện vật gốm, binh khí võ thuật…… Dịp này, UBND tỉnh và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Dương quyết định trao tặng 34 bằng khen, 43 giấy khen cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo tồn, phát huy di sản văn hóa.

Trần Đức Thuận – Bảo tàng Bình Dương

Nguồn: https://sovhttdl.binhduong.gov.vn/tin-tuc/le-cong-bo-quyet-dinh-cong-nhan-bao-vat-quoc-gia-va-cong-bo-danh-muc-di-san-van-hoa-phi-vat-the-quoc-gia-nam-2020-tren-dia-ban-tinh-binh-duong-1997.html


Tài liệu 13 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia tại Bình Dương - ảnh Nguoidentubinhduong.com
Tài liệu 13 di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia tại Bình Dương

Nguồn: https://sovhttdl.binhduong.gov.vn


Hành trình đến với vị thế bảo vật, di sản văn hóa quốc gia

Cuối năm 2020, Thủ tướng Chính phủ đã công nhận “Bộ dụng cụ dệt gỗ Phú Chánh” của tỉnh Bình Dương là một trong những bảo vật quốc gia. Đầu năm 2021, “Nghề gốm Bình Dương” và “Võ lâm Tân Khánh Bà Trà” cũng được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL) công nhận là 2 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Kết quả này không chỉ thể hiện Bình Dương là vùng đất có bề dày văn hóa lâu đời, mà còn khẳng định nhiều giá trị văn hóa trên vùng đất này vẫn đang được các thế hệ giữ gìn, phát triển trong đời sống xã hội và đã trở thành những di sản văn hóa quý báu của dân tộc.


“Nghề gốm Bình Dương” là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đặc sắc của vùng đất Bình Dương

Giữ gìn giá trị văn hóa

Trong số những hiện vật khảo cổ đang được Bảo tàng tỉnh giữ gìn, “Bộ dụng cụ dệt gỗ Phú Chánh” là hiện vật đặc biệt, quý hiếm và tiêu biểu cho một thời đại lịch sử trước và sau công nguyên của vùng đất Phú Chánh, Bình Dương và rộng hơn là khu vực Nam bộ và Việt Nam. Thời gian qua, Sở VH,TT&DL và Bảo tàng tỉnh đã có nhiều hoạt động nhằm khai thác giá trị của bộ dụng cụ này. Một số hiện vật trong bộ sưu tập đã được trưng bày phục vụ khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh.

Với những giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ, khoa học và tính độc bản, độc đáo của những hiện vật và sự nỗ lực, cố gắng của Bảo tàng tỉnh trong việc nghiên cứu, bảo vệ, lập hồ sơ khoa học, cuối cùng, bộ dụng cụ dệt gỗ Phú Chánh đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2283/QĐ- TTg ngày 31-12-2020 về việc công nhận bảo vật quốc gia (đợt 9) năm 2020.

Trong dòng chảy lịch sử của vùng đất Bình Dương từ xưa đến nay còn có những giá trị văn hóa phi vật thể khác vẫn đang được các thế hệ ra sức giữ gìn, phát triển. Đó chính là môn võ “đả hổ” lừng danh Tân Khánh Bà Trà xuất phát từ vùng đất Tân Khánh, thuộc phường Tân Phước Khánh, TX.Tân Uyên ngày nay. Cũng như những dòng võ cổ truyền khác, lịch sử dòng võ lâm Tân Khánh Bà Trà gắn liền với lịch sử vùng đất, cộng đồng sản sinh ra nó, từ những ngày đầu mới khai phá lập làng đến thời kỳ chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc và tiếp tục phát triển cho đến bây giờ. Việc giữ gìn và phát huy võ lâm Tân Khánh Bà Trà thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, truyền thống biết ơn những người đi trước.

Vinh danh cùng với võ lâm Tân Khánh Bà Trà, nghề gốm – một trong những nghề thủ công truyền thống tồn tại lâu đời trên đất Bình Dương cũng được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Ông Lê Văn Phước, Giám đốc Bảo tàng tỉnh cho biết, cùng với những thành tố văn hóa khác, gốm Bình Dương là một phần không thể thiếu trong đời sống vật chất và tinh thần của cư dân Nam bộ. Gốm Bình Dương đã để lại nhiều loại sản phẩm đáng được nghiên cứu về góc độ kỹ thuật chế tác lẫn giá trị mỹ thuật. Trải qua bao thăng trầm, đến nay, nghề gốm vẫn phát triển và mang lại cho cư dân Bình Dương nhiều giá trị nhất định về mặt tinh thần cũng như vật chất.


“Võ lâm Tân Khánh Bà Trà” là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia đây là nét văn hóa độc đáo, thuần khiết của người dân vùng đất Bình Dương

Để những giá trị văn hóa trên được công nhận là bảo vật, di sản quốc gia, theo ông Lê Văn Phước phải kể đến tinh thần trách nhiệm của các viên chức Bảo tàng tỉnh nhận nhiệm vụ xây dựng hồ sơ khoa học đề nghị công nhận cho các di sản văn hóa trên. Cùng với đó là sự hỗ trợ tích cực đầy tinh thần trách nhiệm của các nhà khoa học khảo cổ, khoa học lịch sử, Hiệp hội Gốm sứ tỉnh và các võ sư võ lâm Tân Khánh Bà Trà, đặc biệt là sự quan tâm của UBND tỉnh và Sở VH,TT&DL trong việc bảo vệ, gìn giữ di sản văn hóa nói chung và các di sản văn hóa được công nhận năm 2021 nói riêng.

Khẳng định những giá trị

Theo ông Lê Văn Phước, mỗi bảo vật, mỗi di sản văn hóa nói chung không chỉ có giá trị văn hóa mà còn chứa đựng những giá trị về mặt lịch sử, khoa học, thẩm mỹ, phản ánh đời sống kinh tế – xã hội cho từng giai đoạn, từng thời kỳ trong tiến trình tiến hóa của nhân loại. Điều đó có thể hình dung qua “Bộ dụng cụ dệt gỗ Phú Chánh”. Đây là di vật chôn theo người chết. Điều đó chứng tỏ rằng trong hoạt động sống lúc sinh thời họ có quan hệ mật thiết với nghề dệt và minh chứng cho một nghề đã xác lập truyền thống lâu dài; đồng thời nó cũng thể hiện tục lệ ma chay của người Việt xưa.

Còn với nghề gốm Bình Dương, với sự hình thành các trung tâm sản xuất gốm đã thực sự tồn tại một dòng văn hóa gốm sứ. Chính dòng văn hóa này đã góp phần định hình sắc thái văn hóa đặc trưng của Bình Dương, cũng như góp phần vào việc phát triển sắc thái văn hóa gốm sứ Nam bộ, gốm sứ Việt Nam truyền thống và hiện đại. Qua từng sản phẩm gốm còn chứa đựng tâm hồn, tài năng, trình độ, sáng tạo, tinh thần lao động của người thợ. Điều đó còn thể hiện sự học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm qua các thế hệ và không ngừng sáng tạo của con người. Đồng thời, nghề gốm Bình Dương còn thể hiện sự tiếp biến văn hóa, giao lưu văn hóa của các cộng đồng Việt – Hoa trên đất Bình Dương từ khi hình thành đến nay.

Đối với võ lâm Tân Khánh Bà Trà, đây là nét văn hóa độc đáo, thuần khiết của người dân vùng đất Bình Dương, thể hiện sự sáng tạo của nhiều thế hệ cư dân ngay từ thuở ban đầu an cư lập nghiệp. Nó được hình thành và phát triển từ tinh thần đấu tranh bất khuất của con người trước kẻ thù và thú dữ để bảo vệ cuộc sống đầy hiểm nguy thời khai phá lập làng. Cho đến ngày nay, võ lâm Tân Khánh Bà Trà còn là một minh chứng sinh động thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc Việt Nam nói chung, tinh thần khảng khái, hào sảng của người dân miền Đông Nam bộ nói riêng.

Những hiện vật, làng ghề, môn võ truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển của vùng đất Bình Dương mới được công nhận là bảo vật, di sản văn hóa quốc gia đã khẳng định, Bình Dương là vùng đất có bề dày lịch sử, văn hóa truyền thống lâu đời. Những giá trị văn hóa ấy đã được xây dựng, bồi đắp, hun đúc trong quá trình hình thành và phát triển, tạo nên một bản sắc văn hóa đặc trưng trong sự đa dạng chung của nền văn hóa dân tộc, góp phần làm phong phú đời sống vật chất, tinh thần cho các thế hệ người dân Bình Dương.

Các di sản văn hóa được vinh danh là bảo vật, di sản quốc gia có ý nghĩa to lớn, góp phần quan trọng vào việc giáo dục lịch sử, giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng như quảng bá hình ảnh đất nước. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, những giá trị văn hóa này sẽ góp phần trong việc khai thác du lịch, qua đó đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế của địa phương.(Ông Lê Văn Phước, Giám đốc Bảo tàng tỉnh)

HỒNG THUẬNBaoBinhDuong


Võ lâm Tân Khánh Bà Trà, gốm Bình Dương được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia

Sáng 23-11, nhân Ngày di sản văn hóa Việt Nam, Sở Văn hóa – thể thao và du lịch Bình Dương tổ chức lễ công bố quyết định công nhận bảo vật quốc gia và danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Võ lâm Tân Khánh Bà Trà, gốm Bình Dương được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia - Ảnh 1.
Trao quyết định công nhận bảo vật quốc gia và di sản văn hóa phi vật thể quốc gia – Ảnh: PHƯƠNG NAM

Cụ thể, bộ dụng cụ dệt bằng gỗ phát hiện tại di chỉ khảo cổ Phú Chánh, thị xã Tân Uyên được công nhận là bảo vật quốc gia. Còn nghề gốm Bình Dương và Võ lâm Tân Khánh Bà Trà được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Buổi lễ công bố diễn ra tại Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh Bình Dương (phường Phú Hòa, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương).

Phát biểu tại buổi lễ, ông Lê Văn Thái – phó giám đốc Sở Văn hóa – thể thao và du lịch Bình Dương – nhấn mạnh, các di sản văn hóa được vinh danh có ý nghĩa quan trọng trong góp phần giáo dục lịch sử, truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay cùng với địa phương quảng bá hình ảnh và kích cầu du lịch.

“Ngay sau khi các di sản được công nhận, ngành văn hóa địa phương đã có kế hoạch xây dựng phương án bảo vệ, phát huy di sản một cách tốt nhất, tuyệt đối không để xảy ra tình trạng hư hỏng, mất mát hiện vật” – ông Lê Văn Thái nói.

Tính đến nay, Bình Dương có 3 bảo vật quốc gia gồm bộ dụng cụ dệt gỗ Phú Chánh vừa được công nhận, tượng động vật Dốc Chùa (công nhận năm 2013) và mộ chum gỗ nắp trống đồng Phú Chánh (công nhận năm 2018).

Bình Dương cũng có 3 di sản văn hóa phi vật thể được vinh danh gồm nghề sơn mài Tương Bình Hiệp, nghề gốm Bình Dương và Võ lâm Tân Khánh Bà Trà.

Ông Nguyễn Lộc Hà – phó chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương – cho biết, tỉnh khẩn trương xây dựng đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể; đồng thời chú trọng các giải pháp quan tâm, hỗ trợ các nghệ nhân, võ sư giới thiệu di sản công chúng, nhất là thế hệ trẻ; đặc biệt là gắn kết di sản văn hóa vào hoạt động khai thác du lịch…

Bộ dụng cụ dệt gỗ Phú Chánh được phát hiện tại di chỉ khảo cổ ở ấp Phú Bưng, xã Phú Chánh, huyện Tân Uyên (nay là thị xã Tân Uyên), tỉnh Bình Dương năm 1998 và 2001.

Có 23 hiện vật tìm thấy gồm trục dệt, dao dệt, lược chải sợi và các thanh có nấc chưa xác định công dụng. Các chuyên gia khảo cổ xác định, đây là hiện vật quý hiếm, tiêu biểu cho một thời đại lịch sử trước và sau Công nguyên (cách ngày nay trên 2.000 năm).

Hiện nay, kết cấu của loại khung dệt này còn được một số dân tộc ít người ở Tây Nguyên và Đông Nam Á sử dụng.

bf9a9bc696ac5df204bd
Trưng bày nghề gốm Bình Dương – Ảnh: PHƯƠNG NAM

Nghề gốm Bình Dương là một nghề thủ công truyền thống nổi tiếng ở tỉnh này, có lịch sử hình thành khoảng 200 năm, được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Từ thương hiệu gốm Lái Thiêu, các sản phẩm đi khắp Nam Kỳ lục tỉnh từ thế kỷ trước đến gốm Thành Lễ nổi tiếng một thời, cho đến nay là gốm sứ Minh Long, Cường Phát đang được thị trường trong nước và quốc tế ưa chuộng.

9437e9ae2cc4e79abed5
Võ sư Hồ Tường có hơn 25 năm truyền bá võ thuật đến với đông đảo học sinh, sinh viên tại Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM – Ảnh: PHƯƠNG NAM

Môn phái Võ lâm Tân Khánh ra đời từ thế kỷ 17, được các bậc tiền nhân dùng chống thú dữ, giặc giã cũng như khẩn hoang vùng đất Nam Bộ.

Đến giữa thế kỷ 19, bà Trà, hậu duệ một vị tướng Tây Sơn, cùng gia đình đến vùng đất Bình Chuẩn và Tân Phước Khánh (Bình Dương) sinh sống và truyền dạy những đòn thế, bài quyền cho người dân địa phương, đồng thời kết hợp thế võ xưa hình thành nên môn phái Võ lâm Tân Khánh Bà Trà.

Hiện nay, Võ lâm Tân Khánh Bà Trà có hàng ngàn môn sinh, có mặt trên 10 tỉnh, thành phố như: Bình Dương, TP.HCM, Đồng Nai, Đồng Tháp, Kiên Giang, Bình Thuận, Lâm Đồng, Nghệ An…

HOÀI PHƯƠNG / TTO

Tìm Dấu Vết Đường Xe Lửa đi ngang Bình Dương


TG: Từ Minh Tâm

 

Từ  năm 2007, Việt Nam và các nước Á Châu đã hợp tác nghiên cứu để  chuẩn vị  xây dựng đường
sắt Xuyên Á đi  ngang  qua các nước Thái Lan, Mã  Lai, Campuchia, Lào, Vi ệt  Nam  lên đến tận  Côn
Minh  –  Trung Quốc. Đoạn đường sắt nằm trong nước  Việt  sẽ  từ  Lộc Ninh về  đến Sài Gòn. Trong thời Pháp thuộc, tuy ến đường nầy đã được xây dựng  và khai thác. Lúc đó hành khách có thể đi xe lửa từ Sài Gòn ngang qua Thủ Dầu Một để lên t ới  Hớn Quản, Lộc Ninh thậm chí qua tới  Mimot – Campuchia. Do chiến tranh nên phải  xe lửa phải  ngừng  hoạt động từ năm 1960. Ta thử tìm lại dấu vết của tuyến đường nầy.

1.  Vài hàng lịch sử:

Sau khi chiếm được Nam Kỳ  và ổn định tình hình, Người Pháp bắt đầu xây dựng các tuyến đường
xe lửa để khai thác thuộc địa. Tuyến đường đầu tiên được khởi công từ năm 1881 là tuyến đi từ Cột Cờ Thủ  Ngữ  đến Bến Xe Chợ  Lớn. Tiếp theo đó là tuyến Sài Gòn  – Mỹ  Tho, khánh thành năm 1886. Đến năm 1933,  một đoạn  đường xe lửa  từ  Lộc Ninh  đi Bến Đồng Sổ  dài 69 km do một công ty tư  nhân là Công ty Xe Điện Bến Cát  –  Kratie  đầu tư  đã  được chánh thức khánh thành.  Sau đó đến năm 1937,đoạn đường nầy  lại   nối vào hệ  thống hoả  xa Đông Dương thành tuyến đường sắt Sài Gòn  –  Lộc Ninh. Tuyến đường nầy chạy ngang qua t ỉnh Bình Dương –  lúc đó có tên là Thủ  Dầu Một. Khởi hành từ Ga Sài Gòn (trước chợ  Bến Thành)  xe lửa  sẽ  chạy  qua Lái Thiêu, Bình Dương, Hớn Quản (Bình Long), Lộc Ninh và kéo dài tới biên giới Campuchia. Chiều dài tổng cộng là 141 km. Tuyến đường nầy có mục đích khai thác và vận chuyển cao su từ  Mimot (bên Cam Bốt) về  Saigon và ngược lại đưa những người phu cao su, những người nghèo khổ  từ  miền Bắc đến  làm việc ở  các đồn điền của  khu vực Hớn Quản, Phú Riềng, Lộc Ninh… Đường xe lửa Sài Gòn –  Lộc Ninh khá nổi tiếng vào những  năm trước thế chiến thứ hai. Thời  1930-1940, trong ca dao có bài thơ sau đây:

“Ai đi xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh

Mẹ theo ông đội về dinh
Bỏ con ở lại một mình quạnh hiu
Ai đi xe lửa Lộc Ninh – Sài Gòn”

(Hoàng Anh sưu tầm)

Thêm vào đó,  bài vọng cổ  Trái Gùi Bến Cát cũng góp phần không ít vào sự  nổi ti ếng của tuyến
đường xe lửa nầy.

2.  Lộ trình:

Từ Sài Gòn trước năm 1945 có hai tuy ến xe lửa để đi Lái Thiêu:
Một tuy ến chạy qua ga Xóm Thơm (Gò Vấp), ra đường Nguyễn Oanh, Hà Huy Giáp bây giờ. Sau
đó nó qua nhiều cầu  nhỏ để lên Thạnh Lộc, qua cầu Phú Long vào Lái Thiêu … Có một nhà ga tại giao điểm giữa xa lộ  Đại Hàn và đường Hà Huy Giáp nên ngày nay người ta vẫn gọi giao l ộ  nầy là Ngã Tư Ga. Nhà ga Lái Thiêu nằm ở  phía đông, và  cách  cầu Phú Long chừng  2 km. Ga Lái Thiêu đã bị  dân chúng lấn chiếm phá bỏ nên không còn dấu tích. Tuyến đường nầy chỉ khai thác tới năm 1945 thì chấm dứt vì bị  l ỗ. Thêm vào đó, trong chiến tranh Việt Pháp, vùng An Phú Đông không an ninh nên người Pháp không tái thiết.Trên tuyến đường xe lửa nầy có một chi ếc cầu lớn và quan trọng. Đó là cầu sắt Lái Thiêu (sau nầy đổi tên  là cầu Phú  Long). Cầu nầy  bắc  ngang sông Sài Gòn, chiều dài  khoảng  500-600 mét  –  tương đương cầu Bình Lợi. Đây là m ột cầu dùng cho đường xe lửa và xe ô tô đi chung. Kết cấu ban đầu của cầu  là dàn sắt ki ểu Eiffel. Trong chiến tranh Việt Pháp, năm 1953 cầu bị  đánh sập mấy nhịp phía Sài Gòn. Đến năm 1967 cầu được khôi phục bằng dàn sắt Bailley kiểu Mỹ, sàn lót gỗ chỉ  dùng cho xe ô tô.Sau 1975, sàn gỗ  được thay bằng sàn vỉ   thép, m ặt cầu trải nhựa. Do được xây dựng quá lâu và bị phá hoại nhiều lần nên cầu rất yếu, chỉ  cho phép các lo ại xe trọng tải nhẹ đi qua.Mới đây, cầu Phú Long mới  đã được  xây dựng  ở  phía hạ  lưu cầu cũ. Cầu mới rộng 28 mét, có sáu làn xe ô tô, dài khoảng 600 mét.

 

Cau_PhuLong_Lai Thieu
Cầu Phú Long cũ – cầu sắt Lái Thiêu
(Ảnh từ https://maps.google.com)

Tuyến đường xe lửa thứ  hai nối từ  Sài Gòn lên Dĩ An sau đó chạy ngược về  hướng tây, qua Cầu
Ông Bố để về Lái Thiêu.Sau đó từ  Lái Thiêu tuyến đường xe lửa sẽ  chạy bên  hướng đông  của quốc lộ  13 cũ, cách đường khoảng 2 km. Ở Bình Nhâm, có một chiếc cầu sắt ở khu Suối Đờn.

 

Cau_Binh_Nham_ThuanAn

Cầu sắt Bình Nhâm  dùng cho đường sắt
(Ảnh từ http://www.panoramio.com)

 

Dau vet xe lua SG Binh Nham-Thuan An

Dấu vết l ộ giới  đường xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh ở Bình Nhâm
(Ảnh từ http://www.panoramio.com)

 

Lên  tới  Búng, tuyến đường nầy chạy ngang sau chợ. Qua khỏi Búng, ngang cánh đồng củ  sắn sẽ
thấy trường Cộng Đồng và trường Trịnh Hoài Đức ở phía tây. Đường rầy tiếp tục lên phía bắc, qua Phú
Văn rồi tới nhà ga Thủ  Dầu Một  ở  ngay trước  chùa Cô Hồn  (ngày nay là Trường Phổ  Thông Cơ  Sở Phú Cường). Khu sân ga sau nầy trở thành Bến Xe Bình Dương. Khi bến xe dời về  Gò Đậu thì nơi đây trở  thành Công Viên Bình Dương. Nhà ga Thủ  Dầu Một trước 1975 chuyển  thành  một quán cơm xã hội. Từ  nhà ga Thủ  Dầu Một, có m ột nhánh đường rầy chạy ra chợ  Thủ. Bến xe lửa chợ  Thủ  nằm ngay khu  vị   trí của  Thương Xá  mới  hiện nay. Trước khi  là bến xe  lửa thì  nơi đây  là  bến  xe thổ  mộ. Khi đường xe lửa hết sử  dụng thì nơi đây trở  thành bến xe đò, xe lô, xe lam … Khi bến xe dời về  Nhà Ga Xe Lửa trước trường Bồ Đề thì nơi đây được xây thành chợ Mới .

 

Cho Thu Dau Mot

Trước chợ thủ Dầu Một xưa kia có đường xe lửa chạy tới
(Ành từ http://www.sugia.vn)

 

Trở l ại ga Thủ Dầu Một, tuy ến đường xe lửa theo hướng bắc (đường Võ thành Long hiện nay) chạy
dưới m ột chiếc cầu nhỏ  bắc ngang đường Bác Sĩ Yersin (cắt ngang Tiểu Khu Bình Dương  –  nay  là
Phòng Cảnh Sát Giao Thông) sau đó  băng qua  các cánh đồng mía,  nương rẫy  … thẳng đường lên Bến Cát, Bến Đồng Sổ, Bầu Bàng, Chơn Thành, Hớn Quản, Lộc Ninh.

 

Duong Ray Xe Lua di qua Thu Dau Mot
Đường rầy xe lửa chạy qua các cánh đồng mía ở Thủ Dầu Một
(Ành từ http://www.sugia.vn)

 

Ở  Lộc Ninh, ngoài nhà ga,  còn có Trạm Sửa Chữa và Bảo Trì đầu máy (depot). Vị   trí nhà ga Lộc
Ninh hiện nay là Công Ty Cao Su Lộc Ninh. Nếu tiếp tục theo đường xe lửa ta sẽ  ra tới biên giới Cam
Bốt để tới đồn điền cao su Mimot. Đị a điểm nối ray qua Cam Bốt gần với cột cây số 141.

 

Ga Xe Lua - Loc Ninh

Nhà ga xe lửa Lộc Ninh và đầu máy hơi nước
(Ảnh từ https://maps.google.com )

 

Xe lửa thời Pháp chạy chậm lắm. Ba tôi hay kể  chuyện hồi nhỏ, lúc ông còn làm  ở  kho xăng Nhà
Bè. Cuối tuần ông về thăm nhà ở Thủ Dầu Một. Sáng sớm thứ  hai thì cùng với người em đạp xe đạp đi
làm. Ông nói : “Khi  ra tới nhà ga Thủ  Dầu Một  thì thấy xe lửa bắt đầu chạy. Hai anh em chạy xe đạp
cũng nhanh nên tới Búng thì thấy xe lửa cũng từ từ chạy tới ”. Như vậy tốc độ xe lửa chỉ  bằng tốc độ xe đạp mà thôi. Hai thanh đường rầy xe lửa cách nhau chỉ  một mét. Đầu máy kéo đoàn tàu thì chạy bằng hơi nước nên tuy đường bằng phẳng mà vận tốc không cao. Được một đi ều là xe chạy đúng giờ nên tạo được sự  tin tưởng và nhiều công chức ở  Thủ  Dầu Một, Lái Thiêu có thể  đi xe lửa về  Sài Gòn làm việc hàng ngày. Sau năm 1954, tuyến đường xe lửa Sài Gòn  –  Lộc Ninh chỉ   có vài chuyến xe lên xuống. Xe chạy rất chậm. Buối sáng xe t ừ Sài Gòn chạy lên thì xế chiều mới tới. Ngược lại cũng có chuyến xe lửa chạy từ  Lộc Ninh về  Sài Gòn khởi hành  từ  buổi sáng. Xe đi ngang Bến Cát vì vậy mới có bài vọng cổ Trái Gùi Bến Cát kể chuyện một phụ  nữ đi buôn bán xa, thương con, mua cho nó mấy trái gùi nhưng vì mệt nhọc rồi té vào đường rầy mà mất m ạng. Câu chuyện thương tâm đã làm biết bao người xao xuyến qua giọng ca truyền cảm của danh ca Minh Cảnh. Tôi nhớ đại khái mấy câu đầu của bài hát như sau:

Mẹ đi chợ chớ ở lâu.
Khi về mẹ nhớ mua xâu trái gùi
Con chờ xe lửa kéo còi.
Ra ga đón mẹ lấy gùi ăn chơi.

Nhưng hỡi ơi. Người mẹ được con căn dặn đã chết trong chiếc xe lửa khứ… hồi…. Khi bàn tay đẫm
máu tươi còn nắm chặt xâu gùi… Người mẹ ấy là Trương Thị Nhành ở huyện Lái Thiêu làng An
Thạnh. Chợ đồ gốm đi bán chợ Hớn Quản Lộc Ninh. Bán chén bán tô cho người nghèo tứ xứ. Mỗi
ngày một chuyến lời chỉ đủ ăn. Nuôi chồng ốm đau đang cơn thất nghiệp. Vì con chắt chiu từng
manh quần mảnh áo…Tới năm 1960, do  không còn an ninh  và làm ăn không có lời nên chuyến xe lửa cuối cùng rời Lộc Ninh về  Sài Gòn. Ta hãy đọc một đoạn hồi ký của Châu Long, con ông Trưởng Ga Lộc Ninh,  viết vềchuyến xe cuối cùng nầy:

“…Người đứng chung quanh nhà ga khá đông, ngoái cổ nhìn về phía dọc theo đường rầy chờ đoàn
xe tới. Tụm nhau lại nói chuyện, thấy ai cũng có vẻ băn khoăn chờ nhìn thấy chuyến xe lửa cuối cùng,
chẳng phải là  chuyến  tầu  thường lệ gì hết, không có hành khách, là chuyến xe rút lui, từ biệt chỉ có
đầu tầu, đẩy toa xe bằng phẳng phía trước để đón  rà  mìn, hai ba toa phía sau, chuyến tầu dọn nhà đi
về Sài Gòn của nhân viên hoả  xa Lộc Ninh, rồi ghé đến ga Hớn Quản hay  Bình Long rồi vẫy tay chào
nhau lần chót. Con  tầu  không trở lại nữa. Người trên xe lửa, người dưới đất, hai bên đường sắt nhìn
nhau ngậm ngùi đưa tay vẫy từ biệt chuyến  tầu  chót. Tôi chẳng hiểu gì cả, nhìn theo đuôi chuyến xe
cuối cùng đi về hướng nam, kéo  hụ  vài tiếng còi buồn bã. Chuyến xe lửa bỏ ga Hớn Quản ở lại đằng
sau, chắc là bỏ kỷ niệm lại trong lòng biết bao người sống  gần  đường rầy, trong ánh mắt buồn bã của
mọi người trên ga. Má đứa nhỏ, đã té xe lửa,  rớt  vô đường rầy bị xe cán chết cùng với chùm trái gùi
mua về làm quà cho con. Má đứa nhỏ không còn sống nữa, đâu cần chuyến xe lửa để lên tầu mang
những trái gùi Bến Cát mang về làm  quà  cho con ăn. Nếu câu chuyện có thật, chắc đứa bé phải khóc
nhiều lắm, hàng ngày ra chờ đón má về trên chuyến xe lửa hàng ngày …. Chuyến xe lửa cuối cùng bỏ
đường rầy, bỏ nhà ga, bỏ làn bụi đất đỏ, bỏ những hàng cây cao su, bỏ núi rừng hoang vu, bỏ đạn
mìn, bỏ thây người ngã gục, bỏ người An Lộc – Bình Long – Hớn Quản lại, chuyến xe lửa, đầu tầu, kéo
toa hàng chót, bỏ  lại đằng sau đám người lố nhố trên sân ga, nhìn theo, chắc thế nào cũng có người
rưng rưng nước mắt, chờ một ngày nào đó, đoàn  tầu  sẽ trở lại. Nay đã qua thế kỷ sau, đoàn  tầu  vẫn
chưa trở lại.”…

Những  gì  không  xài  đến  lâu  ngày  sẽ  bị  thoái  hoá.  Từ  khi  t uyến  đường  sắt  Sài  Gòn  –  Lộc  Ninh không được sử dụng nữa  thì các nhà ga bị phá bỏ, đường ray tháo dở, lộ giới bị bỏ  hoang hay được đổ đất đỏ và biến thành nhưng đoạn đường địa phương… Đường sắt Sài Gòn – Lộc Ninh coi như  mất dấu. Ngày nay muốn xây dựng lại chắc phải tìm lộ trình khác vì chi phí giải toả chắc chắn sẽ rất tốn kém.  

 

Ga Xe Lua - Di An - TX Di An-BinhDuong
Nhà ga xe lửa Dĩ   An thời Pháp thuộc
(Ảnh từ https://maps.google.com)

 

3.  Kế hoạch tái thiết:

Hiện  nay,  trong  chương  trình  hợp  tác  với  Campuchia  và  các  nước  Châu  Á,  Việt  Nam  đã  có  kế hoạch tái thiết đường xe lửa Sài Gòn – Lộc Ninh để  nối vào đường sắt Xuyên Á. Theo  một bài  báo của Bộ  Giao Thông  Vân Tải , dự  án nầy có tổng chiều dài của tuyến là 128,5km, khởi điểm từ ga Dĩ An (thuộc tuyến đường sắt Bắc  –  Nam) đi qua các thị trấn Thủ Dầu Một, Chơn Thành, Lộc Ninh đến ga Hoa Lư tiếp giáp biên giới Campuchia. Toàn tuyến có tổng cộng 13 ga gồm: ga Dĩ An, Phù Trung, Thủ Dầu Một, Chánh Lưu, Bàu Bàng, Chơn Thành, Minh Hưng, Tân Khai,  An Lộc,  Tân Phúc,  Đồng Tâm, Lộc Ninh, Hoa Lư.  Khoảng cách  bình quân giữa các ga là 11,7km;  Khoảng cách  dài nhất là giữa ga Bàu Bàng và Chơn Thành 14km và khoảng cách ngắn nhất là giữa ga Minh Hưng và Tân Khai 7,8km. Ngoài ra còn dự trữ một điểm lập ga mới (ga Bình Phước) để tạo  điều kiện cho Nhà máy xi măng Bình Phước. Theo thiết kế, trên toàn tuyến có 23 cầu đường sắt với tổng chiều dài 7.957,30m (gồm 1 cầu đặc biệt lớn dài 828,2m, 9 cầu lớn, 5 cầu vừa và 8 cầu nhỏ); 17 cầu vượt đường bộ có tổng chiều dài  18,6km.  Cục  Đường  Sắt  Vi ệt  Nam  và  Liên  Doanh  Tập  Đoàn  CMC-CRCC  Trung  Quốc  sẽ  liên doanh  xây  dựng.  Tiêu  chuẩn  thiết  kế  là  tuy ến  đường  đôi,  khổ  đường  1  mét,  vận  tốc  di  chuyển  120 km/giờ.  Kinh phí khoảng 700 triệu đô la. Thời gian xây dựng khoảng hơn 3 năm, nhưng khi nào khởi công vẫn còn là dấu hỏi lớn.

4.  Lời kết:

 

Đường xe lửa là một phương tiện giao thông hữu hiệu đem lại lợi ích kinh tế rất lớn nhờ chuyên
chở được nhiều hàng hoá và hành khách. Tuy nhiên do phải đầu tư vào đường rầy, nhà ga, xe lửa và
vận hành … nên chi phí đầu tư  và khai thác cũng lớn.  Đó là chỉ  tính cho tuyến  đường  cở  nhỏ  –  khổ đường 1 mét – nếu  muốn đường rộng hơn – khổ đường 1,435 mét – để xe lửa có thể chạy  nhanh hơn thì  kinh phí  đầu  tư  còn tốn  kém hơn rất  nhiều.  Gần 60  năm qua từ khi người Pháp rút khỏi Việt  Nam và dù đã hoà bình gần 40 năm, đường  xe  lửa Sài Gòn  –  Lộc Ninh đi  ngang qua Bình Dương vẫn chưa được khôi phục dù đã có kế hoạch tái thiết. Bài viết nầy chỉ tìm lại  vài  dấu vết xưa  cũ  để  hoài niệm. Tuyến đường mới chắc sẽ  thay  đổi  nhiều và sẽ không hoàn toàn đi qua lộ trình cũ …

 

Tham khảo:
1: Cầu nối đường sắt xuyên Á – báo Giao Thông Vận Tải số ngày thứ bảy 11/7/2009
http://giaothongvantai.com. vn/giao-thong-phat-trien/ha-tang/200907/cau-noi-duong-sat-xuyen-a-18081/
2. Lịch sử hình thành Ga Saigon -http://www.gasaigon.com.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=59&Itemid=68
3. Những con đường xứ Thủ – Hoàng Anh – Đặc san Trịnh Hoài Đức – Xuân Nhâm Thìn 2012

http://sugia.vn