Chiến tranh phần mềm: Bộ phim về FOSS, sự cộng tác và sự tự do cho phần mềm


Software Wars: A film about FOSS, collaboration, and software freedom
Posted 15 Jan 2013 by Jason Hibbets
Lời người dịch: Quyền tự do trong phần mềm là quan trọng. Nhưng nhiều người sử dụng không nhận thức được về điều này. “Keith Curtis, một sinh viên bỏ học của Đại học Michigan đã trở thành lập trình viên tại Microsoft rồi đã trở thành người bảo vệ nguồn mở, muốn thay đổi điều đó”, bằng cách làm bộ phim Chiến tranh phần mềm (Software Wars). Trong trích đoạn phim, cha đẻ của nhân Linux từ khi ông còn là một sinh viên 21 tuổi của Đại học Helsinki – Phần Lan, Linus Torvalds nói: “Phần mềm là quá quan trọng đối với quá nhiều điều, và nếu bạn có thể kiểm soát được phần mềm, thì điều đó giống như việc kiểm soát dòng chảy của dầu khí”; Còn Bradley M. Kuhn, người cho tới năm 2010 từng là Giám đốc về Công nghệ và Quan hệ cộng đồng của Trung tâm Luật Tự do cho Phần mềm – SFLC (Software Freedom Law Center) thì nói: “Khi bạn có một chương trình, từ một công ty phần mềm sở hữu độc quyền như Microsoft, thì bạn là người bất lực một cách có hiệu lực“. Có lẽ cách để biết tốt nhất là bạn đọc hết bài viết này, xem đoạn demo phim để được truyền cảm hứng về những gì Linux và phần mềm tự do nguồn mở có thể đem tới cho một quốc gia, một cá nhân. Vài bài trên blog có liên quan tới tác giả bộ phim Chiến tranh Phần mềm, Keith Curtis: [01], [02], [03], [04]. Bạn có thể tải về: (1) Trích đoạn phim ở đây; (2) Phụ đề tiếng Việt ở đây; (3) Phụ đề tiếng Anh ở đây.
Ảnh hưởng của phần mềm đã thay đổi cuộc sống của chúng ta. Nhưng người sử dụng công nghệ thông thường không nhận thức được tầm quan trọng của việc truy cập được tới mã nguồn và một qui trình phát triển mở là quan trọng thế nào cho toàn bộ sự tự do của chúng ta. Keith Curtis, một sinh viên bỏ học của Đại học Michigan đã trở thành lập trình viên tại Microsoft rồi đã trở thành người bảo vệ nguồn mở, muốn thay đổi điều đó.
Trên website của ông, Curtis nói, “Chúng ta cần lôi góp chung tri thức cộng tác của chúng ta và làm việc trong việc giải quyết những mối đe dọa nghiêm trọng nhất của chúng ta – và trong xã hội ngày nay bắt đầu với việc có những phần mềm tuyệt vời”. Trong cuốn sách của ông, Sau các cuộc chiến tanh phần mềm (After the Software Wars), Curtis khai thác những lỗi trong mô hình phát triển phần mềm sở hữu độc quyền. Và hôm nay, ông nói toàn bộ những thứ theo dòng chính thống đó bằng cách làm một bộ phim.
“Nếu bạn có thể kiểm soát được phần mềm, thì nó giống như việc kiểm soát dòng chảy của dầu khí”, Linus Torvalds, nhà sáng lập ra Linux nói trong một trích đoạn quảng cáo bộ phim Chiến tranh phần mềm (Software Wars). Những người khác bảo vệ phần mềm tự do cũng có trong quảng cáo đó.
Chúng tôi đã bắt gặp Curtis trong những ngày cuối cùng của chiến dịch Indiegogo của ông để thảo luận những hy vọng cho cuốn phim mới.
Cuộc phỏng vấn với Keith Curtis
Phim Chiến tranh phần mềm thế nào rồi?
KC (Keith Curtis): Chiến tranh phần mềm là về ý tưởng rằng với sự cộng tác hơn giữa các nhà khoa học, chúng ta có thể xây dựng một thế giới thú vị và tốt hơn. Mọi người đã và đang làm việc trong trí tuệ nhân tạo – AI (Artificial Intelligence) 50 năm qua, nhưng hầu hết trong các nhóm nhỏ. Nếu họ mà đã và đang làm việc cùng nhau, chúng ta có lẽ biết tên của họ theo cách mà chúng ta biết về Linus và các cộng sự của ông. Google đang tự họ làm việc về dịch ngôn ngữ. Mã của họ cho các ô tô không người lái (được viết nhiều bằng C#, tôi tin như vậy) cũng không được xây dựng với sự trợ giúp của một cộng đồng. Watson của IBM từng là sở hữu độc quyền thậm chí khi nó được thúc đẩy nhiều nhiều với mã đang tồn tại. Thế giới sinh học có hàng tấn các phần mềm sở hữu độc quyền và các kho dữ liệu đóng và phân mảnh. Chúng ta có nhiều hơn cả đủ mọi người để giải quyết nhiều vấn đề, nhưng chúng ta cần khuyến khích mọi người làm việc cùng nhau một cách hiệu quả. Việc dạy Python cho trẻ em sẽ là một trong những trường hợp điển hình.
Ai sẽ là khán thính giả dự kiến?
KC: Bộ phim sẽ có một số ý tưởng kỹ thuật, nhưng khá ít tiếng lóng. Nó sẽ truyền cảm hứng, hy vọng nó sẽ gây được sự chú ý của mọi người. Tất nhiên, tôi có khuynh hướng, nên tôi nghĩ chủ đề là thú vị, nhưng chúng tôi muốn làm cho câu chuyện vui vẻ cho một số người mà không biết hoặc không quan tâm tới ý tưởng này.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng muốn làm cho nó đáng để xem đối với mọi người đã biết 90% hoặc hơn về những ý tưởng đó. Nếu bạn không thể làm một bộ phim vui vẻ cho ai đó mà họ có quan tâm và vì thế biết về chủ đề đó rồi, thì bạn sẽ thất bại.
Vì bộ phim là một sự giải thích nhưng cũng là một sự chỉ trích thế giới hiện tại, điều này một cách sung sướng thúc ép chúng ta đề cập tới những điều mà nhiều người kỹ thuật không biết. Nếu tất cả họ đã biết những gì từng có trong bộ phim, thì những điều điên rồ hơn có thể đã xảy ra. Trích đoạn là một ý định đầu tiên để đạt được sự cân bằng này. Tính năng cuối cùng sẽ được đánh bóng hơn về mọi khía cạnh. Có một sự pha trộn của những người làm việc về điều này trong các trải nghiệm và những mối quan tâm khác nhau và cùng nhau chúng tôi sẽ đập nó ra.
Sẽ là tích cực hướng tới ý tưởng sử dụng các cộng đồng để giải quyết các vấn đề lớn, nhưng sẽ không phải là sự tuyên truyền. Chúng tôi không sợ chỉ trích tình trạng hiện hành của Linux, nhưng có những vấn đề đặc thù khác nhau mà chúng tôi sẽ không đề cập tới. Một trong những ví dụ lớn nhất gần đây là sự rẽ nhánh của OpenOffice của IBM/Apache. Đó là một sự phí phạm 110% thời gian và trao một cách không cố ý cho Microsoft hàng tỷ USD hơn nữa và khuyến khích sự áp đảo tiếp tục của Office và Windows. Chúng ta có thẻ hạnh phúc để làm thành tài liệu sự lộn xộn này, và đã có khả năng để phỏng vấn Michael Meeks về điều đó, nhưng những người ở IBM và Apache có liên quan nên biết tốt hơn và vì thế chúng tôi hầu hết chỉ muốn nói cho chính chúng ta. Chúng ta sẽ không cố gắng ẩn dấu bất kỳ lỗi lầm nào hoặc đưa ra chỉ một nửa câu chuyện, nhưng thà sẽ là một ít những điểm lớn hơn là nhiều ví dụ như thế. Tình trạng đó có thể được xem như một phần của một điểm chung mà mọi người cần làm việc với nhau một cách có hiệu quả.
Dạng công nghệ mở nào sẽ được sử dụng trong sản xuất cuốn phim?
KC: Câu trả lời buồn là không nhiều. Tôi sử dụng Mint-Debian, làm việc chủ yếu trong LibreOffice, đôi khi sử dụng các ứng dụng như GIMP và Audacity, nhưng việc đặt những mẩu đó cùng nhau sẽ được thực hiện trong Final Cut Pro. Chúng tôi sẽ đưa công việc đồ họa cho những người ở Los Angeles để làm những yếu tố khác nhau song song nhưng chúng tôi còn chưa có điều đó. Âm nhạc cho câu chuyện hy vọng sẽ được Chloe Harris pha trộn, và chị ta làm việc trên Mac – mà chị ta ghét!
Đối với những người phi kỹ thuật, cú nhảy là không dễ dàng. Khi tôi lần đầu sử dụng Red Hat trong khung thời gian của Fedora Core 3, tôi đã phải biên dịch một trình điều khiển không dây của Intel, tùy biến xorg.còn của tôi, … để máy tính xách tay của tôi vào những nơi tôi muốn. Đó từng là một sự giới thiệu thú vị và hữu dụng, nhưng nhiều người không hiểu các máy tính đó và vì thế không thể sửa các lổi, nên những biến đổi là một vấn đề lớn. Tình trạng âm thanh / video trên Linux vẫn cần làm việc thêm.
3 điều hàng đầu nào diễn ra trong thế giới ngày nay mà ông cảm thấy nhớ mãi cho nhu cầu cho nguồn mở của chúng ta?
KC: Tôi nghĩ 3 mẩu phần mềm lớn nhất còn thiếu là xung quanh tầm nhìn về máy tính, AI mạnh, và các khoa học y tế. Những lĩnh vực đó đang tiều tụy khi không đủ người làm việc cùng nhau một cách có hiệu quả. Những khía cạnh phần mềm khác nhau của cần trục vũ trụ có thể được làm hôm nay, dù cuối cùng nó sẽ tốn khoảng 10 tỷ USD để làm cho điều đó thực sự bắt đầu được. (Điều đó giống như một số lượng tiền lớn, nhưng nó có thể làm tăng sự thâm hụt của Mỹ nếu được trả tiền chỉ trong 1 năm từ 1.4 ngàn tỷ thành 1.41 ngàn tỷ).
Vì sao mọi người không biết về nguồn mở ở phạm vi rộng và sản xuất bộ phim này lại giúp biến đổi cơn thủy triều đó?
KC: Người sử dụng thông thường không biết các chi tiết đó, nhưng về việc biến đổi cơn thủy triều, tôi nghĩ vấn đề lớn hất là cũng không đủ nghững người kỹ thuật để hiểu. Vì sao Google bây giờ sở hữu độc quyền? Vì sao nhiều người sử dụng Mathematica, Matlab, Maple, .v.v. thay vì Python / Sage? Chắc chắn họ biết về Wikipedia và Linux và hiểu điều đó. Phải có sự bất hòa về nhận thức bên trong một công ty như Google, nơi mà họ sử dụng Linux ở khắp mọi nơi, nhưng gọi mã của riêng họ là “nước xốt bí mật” như một người đã mô tả công việc của anh ta cho tôi.
Vì sao Dell làm cho quá khó để mua một máy tính với Debian, Red Hat, Ubuntu, .v.v. được cài đặt sẵn? Đôi khi Dell có thể đưa ra cho bạn một ngàn lựa chọn phần cứng cho một máy tính xách tay, nhưng không cho phần mềm ngoại trừ hoặc bạn muốn Windows 8 Professional hay Microsoft Office Professional. Càng nhiều người sử dụng bình thường, các nhân viên chính phủ, … biết về ý tưởng đó, càng tốt, nhưng cuối cùng khá ít số người biết kha khá về Linux, thứ làm cho hầu hết mọi mọi điều tiến lên. Chúng tôi không lo về các cơn thủy triều, chúng tôi chỉ cố gắng kết thúc 1 video.
Những gì tôi nghĩ thú vị nhất là các người máy khắp nơi và một cần trục vũ trụ. Một khi mọi người nhận thức được chúng ta có thể đã xây dựng được chúng nhiều năm trước, thì những lý lẽ để có nó sớm sẽ đi nhanh hơn. Wikipedia từng được tạo ra vào năm 2001, nhưng nó có thể đã bắt đầu được sớm hơn từ vài thập kỷ trước. Một số người đã chỉ ra rằng Debian tốn nhiều hơn để xây dựng hơn là một chiếc cần cẩu vũ trụ. Rõ ràng bạn không thể so sánh phần cứng với phần mềm, nhưng phạm vi của việc thiết kế nói lên điều gì đó: chúng ta có thể làm những thứ lớn nếu chúng ta muốn. Có nhiều phần mềm ở những nơi như Boeing và NASA. Bất kỳ cần trục nào, bất kể ở đâu được bắt đầu, sẽ có việc kiểm soát của Linux cho những kiểm soát nhiệm vụ chạy và trèo. Chúng ta càng tạo ra và chia sẻ công nghệ nhiều bao nhiêu, thì càng dễ dàng hơn nó sẽ có để giải quyết vấn đề tiếp sau. Brad Edwards nói chúng ta có thể xây dựng một thứ trong 10 năm, nên chúng ta sẽ đặt thông điệp đó một lần nữa ở đó.
Ông có thể nói gì cho công chúng nói chung, những người có ít quan tâm về ‘quyền tự do’ và quan tâm hơn về ‘để làm được mọi điều?’ Liệu có một nền tảng ở giữa nào mà cho phép tốt nhất cho cả 2 thế giới ở đây không?
KC: Mọi người nên có quan tâm về quyền tự do và làm được mọi điều. Quản lý các quyền số – DRM bổ sung thêm chi phí cho những người sử dụng, các kho điện tử, và các nghệ sỹ. Thiếu sự tự do thường có những hậu quả thực tế trong thế giới thực. Không nhiều người đã sở hữu một tòa báo in, và nhiều người hươn từng có quan tâm đúng về việc có một xã hội với một tòa soạn tự do và trung thực. Càng nhiều người sử dụng Linux, càng dễ dàng thậm chí cho nhiều người hơn sẽ làm được mọi điều.
Với một sản phẩm như Apple, bạn phải chờ cho họ sửa một vấn đề, và nhiều người sử dụng hơn thực sự không biến thành nhiều người đóng góp hơn như nó có thể đối với Wikipedia và Linux. Càng nhiều người sử dụng Apple có được, một số trong số đó muốn tùy biến và cải tiến các thiết bị của riêng họ, thì càng nhiều họ làm cho nó khó hơn thậm chí để mở chúng. Điều này sẽ không là một cuộc chiến tranh giữa các công ty, mà giữa các triết học.
Trong thế giới FOSS (phần mềm tự do nguồn mở), có quá nhiều cách thức để sửa các lỗi và cải thiện mọi điều mà về tổng thề nó sẽ trở nên sáng láng hơn. Tôi đã mua một máy Mac cho các mục đích kiểm thử trong khi viết cuốn sách, và đã không hiểu vì sao để chơi các tệp WMA, và đã có nhiều tính năng rõ ràng khác còn thiếu. Với Linux, nhiều thứ hơn làm việc được, mà cho phép bạn làm được mọi điều. Sự biến đổi của Gnome 3 đã làm thoái hóa môi trường để bàn Linux tới vài năm nhưng nói chung, hầu hết mọi người có thể chạy được Linux ngày nay.
Như Jono Bacon đưa nó vào cuộc phỏng vấn của ông ta, Linux giống như mọt đôi giày lông mới: chúng làm đau giống như địa ngục một vài ngày, nhưng sau đó bạn quen với nó. Điều này tất nhiên giả thiết bạn đang không chuyển các chương trình phức tạp hoặc các ngôn ngữ lập trình. Việc chuyern phần mềm chuyên nghiệp và nghiệp vụ có thể mất nhiều hơn vài ngày. Mọi người nên yêu cầu các ứng dụng của họ chạy được trên Linux sao cho nó ở đó co họ khi họ sẵn sàng.
Ông muốn gì khi những người xem xem xong cuốn phim?
KC: Tôi muốn họ được giải trí và được những người mà chúng tôi phỏng vấn truyền cảm hứng. Nếu Linus từng là bất kỳ người nhanh trí hơn nào, thì ông ta có lẽ đang dẫn dắt X-Men. Chúng tôi không thể có được các cảnh chiến đấu theo nghĩa đen, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng có được những hình đồ họa tuyệt vời. Miễn là chúng tôi làm bóng được các câu trả lời thú vị, mọi người sẽ hưởng thụ được câu chuyện (bất kể là nó kết thúc chính xác hay không) và có lẽ học được điều gì đó. Các ý tưởng đều được trao quyền. Mỗi người đều có thể xem phim, và sau đó thấy cách của riêng họ để làm cho thế giới tốt hơn. Thậm chí việc mua một thiết bị Android hơn là một thiết bị của Apple sẽ giúp dịch chuyển thế gới theo đúng hướng, và có vô số cách thức. Danh sách những điều sẽ phải làm là rất lớn. Sẽ là hữu dụng để thay đổi các luật xung quanh các bằng sáng chế phần mềm, Quản lý các quyền số DRM, .v.v. Có lẽ sẽ tuyệt vời nếu nhiều người hơn được truyền cảm hứng tới vốn đám đông crowdfund.
Video: Trích đoạn quảng cáo phim Chiến tranh phần mềm.
The impact of software has changed our lives. But the average technology consumer doesn’t realize how important having access to source code and an open development process is to our overall freedom. Keith Curtis, a University of Michigan dropout turned decade-long programmer at Microsoft turned open source advocate, wants to change that.
On his website, Curtis says, “We need to pool our collective intelligence and get to work on fixing our most serious threats—and in today’s society that begins with having great software.” In his book, After the Software Wars, Curtis exploits the flaws in the proprietary software development model. And today, he’s taking the whole thing mainstream by making a film.
“If you can control the software, its like controlling the flow of oil,” says Linux creator Linus Torvalds in a trailer promoting Software Wars. Other free software advocates are also featured in the promo.
We caught up with Curtis during the final days of his Indiegogo campaign to discuss the hopes for the new film.
Interview with Keith Curtis
What is Software Wars about?
KC (Keith Curtis): Software Wars is about the idea that with more cooperation among scientists, we can build a better and fun world. People have been working on AI (artificial intelligence) for 50 years, but mostly in small groups. If they had been working together, we’d know their names the way we know of Linus and his lieutenants. Google is working on language translation by themselves. Their code for driverless cars (much written in C#, I believe) is also not built with the help of a community. IBM’s Watson was proprietary even while it leveraged a lot of existing code. The biotech world has tons of proprietary software and closed and fragmented repositories of data. We have more than enough people to solve many problems, but we need to encourage people to work together effectively. Teaching Python to kids will be one of the case studies.
Who is the intended audience?
KC: The movie will have some technical ideas, but relatively little jargon. It will be inspirational, which will hopefully hold most peoples’ attention. Of course, I’m biased, so I think the topic is interesting, but we want to make the story enjoyable to someone who doesn’t already know or care about the idea.
However, we also want to make it worth watching for people who already know 90% or more of the ideas. If you can’t make a movie enjoyable to someone who is already interested and therefore knows about the topic, then you have failed.
Because the movie is an explanation but also a critique of the existing world, this happily forces us to cover things that many technical people don’t know. If they all knew what was in the movie, more crazy things would have happened. The trailer is a first attempt at achieving this balance. The final feature will be more polished in every regard. There are a mix of people working on this with different experiences and interests and together we will hammer it out.
It will be positive towards the idea of using communities to solve big problems, but it won’t be propaganda. We aren’t afraid to criticize the current state of Linux, but there are various specific problems we won’t cover. One of the biggest recent examples is the IBM / Apache OpenOffice fork. That is a 110% waste of time that unintentionally gives Microsoft billions more dollars and promotes the continued dominance of Office and Windows. We’d be happy to document this mess, and were able to interview Michael Meeks about it, but the IBM and Apache people involved should know better and so we’d mostly just be talking to ourselves. We aren’t trying to hide any mistakes or present only half of the story, but it will be a few big points rather than multiple examples like that. That situation can be considered as part of the general point that people need to be working together effectively.
What kind of open source technology will be used in the production of the film?
KC: The sad answer is not much. I use Mint-Debian, working mostly in LibreOffice, sometimes using apps like GIMP and Audacity, but putting the pieces together will be done in Final Cut Pro. We will farm out the graphics work to people in Los Angeles to attack the various elements in parallel but we haven’t gotten to that yet. The music for the feature will hopefully be mixed by Chloe Harris, and she works on a Mac—which she hates!
For non-technical people, the jump is not easy. When I first used Red Hat in the Fedora Core 3 timeframe, I had to compile an Intel wireless driver, tweak my xorg.conf, etc. to get my laptop to where I liked it. It was an interesting and useful introduction, but many people don’t understand computers and therefore cannot fix their problems, so the transitions are a big deal. The audio / video situation on Linux still needs work.
What are the top three things happening in the world today that you feel perpetuate our need for open source?
KC: I think the three biggest software pieces missing are around computer vision, strong AI, and health sciences. Those areas are languishing in terms of not enough people working together effectively. Various software aspects of the space elevator can be done today, although ultimately it will take about $10B to get that really started. (That looks like a large amount of money, but it would increase the US deficit if paid for in only one year from $1.4T to $1.41T.)
Why do people not know about open source on a large scale and does the production of this movie help turn that tide?
KC: The average user doesn’t know these details, but in terms of turning the tide, I think the bigger problem is that not enough technical people understand either. Why is Google Now proprietary? Why do so many people use Mathematica, Matlab, Maple, etc. instead of Python / Sage? Surely they know of Wikipedia and Linux and understand the point. There must be cognitive dissonance inside a company like Google, where they use Linux everywhere, but call their own code “secret sauce” as one person described his work to me.
Why does Dell make it so hard to buy a computer with Debian, Red Hat, Ubuntu, etc. pre-installed? Somehow Dell can offer you a thousand hardware choices for a laptop, but none for the software except whether you want Windows 8 Professional or Microsoft Office Professional. The more average consumers, government employees, etc. know about these ideas, the better, but ultimately it is a relatively small number of people who already know plenty about Linux who are mostly holding things up. We don’t worry about the tides, we are just trying to finish a video.
What I think are the coolest are pervasive robotics and a space elevator. Once people realize we could have built them years ago, the arguments for getting it soon should go faster. Wikipedia was created in 2001, but it could have been started decades earlier. Someone pointed out that Debian cost more to build than a space elevator. Obviously you can’t compare hardware and software, but the scale of engineering says something: we can do big things if we want to. There is a lot of software at places like Boeing and NASA. Any elevator, whenever it is started, will have Linux controlling the climbers and running mission control. The more technology we create and share, the easier it will be to solve the next problem. Brad Edwards says we can build one in 10 years, so we’ll put the message out there, again.
How would you address the general public who are less concerned about ‘freedom’ and more concerned about ‘getting things done?’ Is there a middle ground that allows for the best of both worlds here?
KC: People should be concerned both about freedom and getting things done. DRM adds costs for consumers, electronics stores, and artists. A lack of freedom frequently has practical consequences in the real world. Not many people have owned a printing press, and yet many more were rightly concerned about having a society with a free and honest press. The more people who use Linux, the easier it will be for even more people to get things done.
With a product like Apple, you have to wait for them to fix a problem, and more users doesn’t really translate into more contributors like it can for Wikipedia and Linux. The more users Apple gets, some of whom want to customize and improve their own devices, the more they make it harder to even open them. This isn’t a war between companies, but between philosophies.
In the FOSS (free and open source software) world, there are so many ways to fix problems and improve things that on the whole it becomes polished. I bought a Mac for testing purposes while writing the book, and out of the box it didn’t understand how to play WMA files, and had many other obvious missing features. With Linux, more things just work, which allows you to get things done. The Gnome 3 transition has regressed the Linux desktop by a few years but in general, most people could be running Linux today.
As Jono Bacon put it in his interview, Linux is like a new pair of leather shoes: they hurt like hell for a few days, but then you settle into it. This of course assumes you are not switching complicated programs or programming languages. Switching professional and enterprise software can take more than a few days. People should demand their applications run on Linux so it is there for them when they are ready.
What do you want viewers get out of the film?
KC: I’d like them to be entertained and inspired by the people we interview. If Linus were any smarter, he’d be leading up the X-Men. We can’t have literal fight scenes, but we will try to have pretty graphics. As long as we polish interesting responses, people should enjoy the story (whatever it ends up exactly being) and possibly learn something. The ideas are empowering. Everyone can watch the movie, and then find their own way to make a better world. Even buying an Android device rather than an Apple helps move the world in the right direction, and there are countless ways. The list of things to be done is very large. It would be helpful to change the laws around software patents, DRM, etc. It would be great if more people were inspired to crowdfund.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

 

Cuộc sống không giới hạn: Ngã 100 lần, đứng dậy 101 lần !


 

Bạn đừng bao giờ nghĩ vấp ngã của mình là thất bại chung cuộc, đừng bao giờ coi chúng tựa như dấu chấm hết, bởi thực tế cho thấy khi bạn đấu tranh vượt lên khó khăn chính là lúc bạn đang trải nghiệm cuộc sống. Bạn đã thực sự vào cuộc. Những thách thức mà chúng ta phải đối mặt có thể giúp chúng ta trở nên mạnh mẽ hơn, tốt đẹp hơn, và được trang bị đầy đủ hơn cho sự thành công.

anh1
Không có chân, không có tay, Nick phải tì trán vào chỗ nào đó để dựng người dậy – Ảnh: T.L

Nếu không có tay lẫn chân, bạn có thể tự đứng lên khi ngã?

Tôi chắc chắn rằng: Có!

Bạn có thể hình dung, hồi bé tôi thường xuyên phải hứng chịu những cú ngã sấp mặt. Tôi phải chịu đựng không biết bao nhiêu những cú ngã như trời giáng từ trên bàn, từ trên ghế cao, trên giường, trên cầu thang, trên những con dốc. Không có tay để chống đỡ, tôi thường bị đập cằm xuống đất, ấy là chưa kể đến mũi và trán. Nhiều lần tôi bị ngã đau đến mức tưởng chừng không thể gượng dậy được nữa.

Nhưng tôi chưa bao giờ đầu hàng, chưa bao giờ cho phép mình được buông xuôi. Có một câu ngạn ngữ của người Nhật mô tả rất chính xác cách tôi đạt đến thành công, đó là: “Ngã bảy lần, đứng dậy tám lần”.

Trong các bài diễn thuyết, tôi đã chứng minh thuyết của tôi về sự thất bại bằng cách để mình ngã úp bụng và cứ tiếp tục nói chuyện với khán thính giả trong tư thế đó. Xét trên thực tế, tôi không có chân tay, bạn có thể sẽ nghĩ rằng tôi không thể tự gượng dậy được. Các khán thính giả cũng nghĩ như vậy.

Mọi người thường xúc động khi họ chứng kiến tôi đã phải vất vả như thế nào mới thực hiện được cái việc đơn giản là dựng người dậy từ tư thế nằm. Từ những gì chứng kiến, họ liên hệ đến cuộc đấu tranh vượt lên nghịch cảnh của tôi bởi con người chúng ta ai mà chẳng phải đấu tranh với nghịch cảnh. Bạn cũng có thể trở nên can đảm khi các kế hoạch bị bế tắc hoặc khi bạn gặp khó khăn. Những thử thách và gian khổ của bạn là một phần của cuộc sống mà con người chúng ta ai cũng gặp phải trên đường đời.

Những bài học từ thất bại

Nick Vujicic hiện là diễn giả nổi tiếng, Chủ tịch và CEO của Tổ chức quốc tế Life Without Limbs, vừa kết hôn với cô dâu xinh đẹp Kanae Miyahara vào tháng 2.2012. Câu chuyện diệu kỳ của “chàng trai đặc biệt nhất hành tinh” này vẫn tiếp tục, ngày càng lan truyền cảm hứng đến hàng triệu người đọc ở khắp các quốc gia trên thế giới. Cuốn sách đặc biệt xúc động Cuộc sống không giới hạn do First News – Trí Việt đấu giá thành công bản quyền ấn hành bản tiếng Việt, đến tay bạn đọc Việt Nam bắt đầu từ ngày 18.12.2012.

Có thể coi những thất bại của mình là một món quà bởi vì chúng thường là động cơ thúc đẩy bạn tạo ra đột phá. Vậy những lợi điểm mà chúng ta có thể có từ sự thất bại là gì? Tôi nghĩ ít nhất có bốn bài học quý giá mà thất bại mang đến cho chúng ta. Đó là:

1 Thất bại là một người thầy vĩ đại: Tại một trường học ở Brisbane, tôi bắt đầu bài diễn thuyết của mình một cách dở tệ. Có chuyện khiến tôi bị phân tán, và tôi không thể diễn đạt ý nghĩ một cách trôi chảy. Tôi căng thẳng đến mức toát mồ hôi; cứ lặp đi lặp lại lời mình đã nói một cách ngớ ngẩn. Tôi muốn độn thổ vì xấu hổ. Hôm ấy tôi đã diễn thuyết tồi đến nỗi tôi nghĩ tin đồn sẽ lan đi và từ đó về sau sẽ chẳng ai thèm mời tôi diễn thuyết nữa. Khi kết thúc bài diễn thuyết và rời khỏi trường học đó, tôi cảm thấy mình là một trò cười: danh tiếng thế là đi tong!

Nhưng buổi diễn thuyết dở tệ đó đã khiến tôi thậm chí tập trung hơn vào ước mơ của mình. Tôi tập diễn đạt và thuyết trình một cách chăm chỉ và đầy quyết tâm. Một khi bạn đã chấp nhận rằng sự hoàn hảo là mục tiêu để hướng tới, thì vấp ngã không phải là việc quá khó để kiểm soát. Mỗi bước đi sai lầm vẫn là một bước đi, thêm một bài học được ghi nhớ, thêm một cơ hội để lần sau làm tốt hơn.

Thất bại hình thành nên tính cách: Điều gì không hủy hoại bạn rất có thể sẽ khiến bạn trở nên mạnh mẽ hơn, tập trung hơn, sáng tạo hơn, và quyết tâm hơn trong hành trình theo đuổi những ước mơ. Bạn có thể đang nóng lòng muốn đạt đến thành công, và điều đó không có gì sai cả, nhưng kiên nhẫn cũng là một đức tính tốt, và thất bại chắc chắn sẽ giúp bạn phát triển đức tính đó. Hãy tin tôi đi, từ trải nghiệm của bản thân tôi đã hiểu được rằng kế hoạch của mình không nhất thiết phải nằm trong kế hoạch được thực hiện một sớm một chiều.

Thất bại thúc đẩy bạn tiến lên phía trước: Bạn không bao giờ biết được điều gì nằm ở chặng tiếp theo của hành trình. Đợi bạn ở phía trước có thể là câu trả lời cho những ước mơ. Vậy nên bạn phải hăng hái lên, mạnh mẽ lên, và tiếp tục cố gắng. Nếu thất bại, thì đã sao? Nếu bạn vấp ngã, thì đã sao? Edison cũng nói: “Mỗi trải nghiệm sai lầm bị loại bỏ đều bổ sung thêm một bước tiến về phía trước”.

Thất bại giúp bạn trân trọng thành công: Khi bạn toàn tâm toàn ý thực hiện mục tiêu và khi đã trải qua nhiều gian nan khổ cực trong hành trình phấn đấu, cảm giác về thành công tuyệt vời đến nỗi bạn muốn tiếp tục phát huy nó, đúng không? Tôi không nghĩ đó là một sự ngẫu nhiên. Đó là một trong những lý do chính khiến nhân loại phát triển và tiến hóa như ngày nay. Chúng ta ngợi ca những thắng lợi đạt được qua gian khổ không phải bởi chúng ta duy trì được sự nỗ lực mà bởi bản chất tự nhiên của chúng ta là không ngừng phát triển và tìm kiếm sự mãn nguyện ở mức cao hơn.

Nhìn lại tất cả những gì mình đã phải vượt qua trong thời thơ ấu – đau khổ, bất an, tổn thương, cô đơn – tôi không hề buồn. Tôi thấy tràn ngập cảm giác biết ơn bởi mình đã vượt qua được những thách thức đó, những thách thức đã khiến cho thành công của tôi thêm ngọt ngào và ý nghĩa.

Nick Vujicic

Thanhnien online

Công nghệ thông tin truyền thông và an ninh mạng 2013


Bài viết sưu tầm trên các websites tiếng việt .

11 vấn đề “nóng” sẽ chiếm lĩnh hệ thống an ninh mạng năm 2013

 

Dựa trên những sự kiện về bảo mật công nghệ thông tin năm 2012, các chuyên gia Kaspersky Lab vừa đưa ra những dự đoán về các vấn đề nóng bỏng sẽ chiếm lĩnh hệ thống an ninh mạng trong năm 2013, trong đó đáng chú ý là dự đoán về tấn công có chủ đích; công nghệ điện toán đám mây và cơ hội cho phần mềm độc hại; phần mềm độc hại trên Mac OS; phần mềm độc hại trên điện thoại di động; tống tiền qua mạng…

Tấn công có chủ đích và gián điệp mạng

Trong hai năm qua, các cuộc tấn công có chủ đích được thiết kế đặc biệt để len lỏi vào các tổ chức nhằm thu thập dữ liệu nhạy cảm, có giá trị cao đối với tội phạm mạng. Những cuộc tấn công này ngày càng tinh vi hơn, ví dụ như việc đánh lừa nhân viên tiết lộ các thông tin mà dựa vào đó, tội phạm mạng có thể tiếp cận thông tin của doanh nghiệp. Một lượng lớn thông tin được chia sẻ trực tuyến và sự phát triển của mạng xã hội trong kinh doanh chính là môi trường “màu mỡ” cho tin tặc. Có thể thấy, gián điệp mạng sẽ còn phát triển không chỉ trong năm 2013 mà còn cả về sau. Đối tượng của các cuộc tấn công có chủ đích không chỉ là một tổ chức nào đó mà còn cả những hệ thống thông tin dữ liệu của một quốc gia. Một doanh nghiệp hay tổ chức không chỉ là nạn nhân của tin tặc mà còn có thể bị biến thành một bước đệm hữu ích cho việc xâm nhập của tin tặc vào các doanh nghiệp, tổ chức khác.

Sự tấn công không ngừng của tin tặc

Đánh cắp tiền dù bằng cách trực tiếp xâm nhập vào tài khoản ngân hàng, hay đánh cắp dữ liệu mật không phải là động lực duy nhất đằng sau những vụ tấn công của tin tặc. Năm 2012 đã chứng kiến rất nhiều những cuộc tấn công nhằm vào mục đích chính trị và xã hội. Có thể kể đến như vụ tấn công DDoS được thực hiện bởi nhóm tin tặc Anynomous nhắm vào Chính phủ Phần Lan với tuyên bố của Chính phủ nước này về việc ủng hộ ACTA (Hiệp ước Thương mại chống hàng giả, hàng nhái); cuộc tấn công vào website chính thức F1 để phản đối việc trừng trị những người phản đối Chính phủ ở Bahrain; cuộc tấn công vào nhiều công ty dầu ở Bắc Cực nhằm phản đối việc khai thác mỏ dầu ở đây; vụ tấn công ở Ả rập Aramco,… Việc phụ thuộc ngày càng tăng vào Internet sẽ khiến các tổ chức dễ dàng trở thành những nạn nhân tiềm năng cho các cuộc tấn công của tin tặc tiếp tục trong năm 2013 và về sau.

Những cuộc tấn công được tài trợ bởi Chính phủ

Stuxnet đã đi tiên phong trong việc sử dụng những đoạn mã độc tinh vi cho các cuộc tấn công có chủ đích nhằm vào các nhà máy sản xuất chính và hiện nay, Stuxnet không còn đơn thân độc mã nữa. Chúng ta đang tiến vào kỷ nguyên của chiến tranh lạnh không gian mạng, nơi các quốc gia có khả năng sẽ chiến đấu với nhau mà không bị giới hạn bởi những hạn chế của chiến tranh thế giới thực. Nhìn vào tương lai, chúng ta có thể đoán được rằng sẽ ngày càng nhiều nước phát triển loại vũ khí mạng này – được thiết kế để ăn cắp thông tin hay phá hoại các hệ thống. Mục đích của các cuộc tấn công mạng này bao gồm nguồn nhiên liệu, trang thiết bị kiểm soát giao thông vận tải, hệ thống tài chính và truyền thông, cũng như các cơ sở trang thiết bị hạ tầng quan trọng khác.

Sử dụng các công cụ giám sát hợp pháp

Trong những năm gần đây, sự tinh vi ngày càng tăng của tội phạm mạng tạo nên những thử thách mới cho các nhà nghiên cứu những phần mềm độc hại, cũng như các cơ quan thực thi pháp luật trên thế giới. Nỗ lực của các cơ quan để bắt kịp với công nghệ tiên tiến được sử dụng bởi tội phạm mạng dẫn đến việc can thiệp vào việc thực thi pháp luật. Rõ ràng, việc sử dụng các công cụ giám sát hợp pháp có ý nghĩa rộng lớn hơn đối với sự riêng tư và tự do dân sự. Các cơ quan thực thi pháp luật và Chính phủ đang cố gắng đi trước bọn tội phạm một bước; có khả năng việc sử dụng các công cụ này và các cuộc tranh luận xung quanh việc sử dụng chúng sẽ vẫn tiếp tục.

Công nghệ điện toán đám mây và cơ hội cho phần mềm độc hại

Việc sử dụng công nghệ điện toán đám mây phát triển kéo theo số lượng các mối đe dọa an ninh sẽ tăng. Trước hết, các trung tâm dữ liệu của các nhà cung cấp công nghệ điện toán đám mây trở thành một mục tiêu hấp dẫn cho tội phạm mạng. Hãy nhìn từ quan điểm của một tội phạm mạng, chúng có thể nắm giữ số lượng lớn các dữ liệu cá nhân nếu nhà cung cấp trở thành nạn nhân của cuộc tấn công. Thứ hai, tội phạm mạng có thể sử dụng dịch vụ dữ liệu điện toán đám mây để lưu trữ và phát tán các phầm mềm độc hại của chúng – thường là thông qua các tài khoản bị đánh cắp. Thứ ba, các dữ liệu được lưu trữ trong dữ liệu điện toán đám mây được truy cập từ một thiết bị không nằm trong thế giới điện toán đám mây. Vì vậy, nếu tội phạm mạng có thể xâm nhập vào thiết bị, chúng có thể truy cập vào dữ liệu ở bất cứ nơi nào nó được lưu trữ. Việc sử dụng các thiết bị di động, với lợi ích to lớn cho công việc, cũng làm tăng nguy cơ dữ liệu đám mây. Đặc biệt, khi cùng một thiết bị được sử dụng cho cả mục đích cá nhân và công việc, rủi ro sẽ càng tăng.

Sự riêng tư đang dần bị mất đi

Các mối đe dọa đến sự riêng tư có hai hình thức.Thứ nhất, dữ liệu cá nhân sẽ gặp rủi ro nếu có bất cứ cuộc tấn công nhằm đến các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho người dùng. Hầu như không có tuần nào trôi qua mà không xuất hiện thêm một trường hợp về một công ty trở thành nạn nhân của hacker, để lộ dữ liệu cá nhân của khách hàng. Thứ hai, các công ty tổng hợp và sử dụng các thông tin mà họ nắm giữ về người dùng cho mục đích quảng cáo, khuyến mãi mà đôi khi người dùng hoàn toàn không biết về nó và làm cách nào để thoát khỏi việc này. Giá trị của dữ liệu cá nhân đối với các tội phạm mạng và các doanh nghiệp hợp pháp sẽ phát triển trong tương lai, và do đó các mối đe dọa tiềm tàng đến sự riêng tư của người dùng cũng tăng lên.

Bạn có thể tin tưởng vào ai?

Chúng ta thường tin tưởng các trang web có chứng chỉ bảo mật được cấp bởi nhà cấp chứng chỉ số tin cậy (Certificate Authority – CA), hoặc một ứng dụng với giấy chứng nhận kỹ thuật số hợp lệ. Tuy nhiên, tội phạm mạng không những có thể cấp giấy chứng nhận giả mạo cho các phần mềm độc hại của chúng, mà còn có thể xâm nhập thành công các hệ thống CA khác nhau và sử dụng giấy chứng nhận bị đánh cắp để đăng nhập mã của chúng. Những năm gần đây, danh sách trắng đã được thêm vào kho vũ khí. Tuy nhiên, nếu các ứng dụng lừa đảo tìm cách vào được một danh sách trắng, chúng có thể hoạt động cẩn trọng hơn trước các chương trình bảo mật để không bị phát hiện. Điều này có thể xảy ra bởi nhiều nguyên nhân như phần mềm độc hại có thể sử dụng một giấy chứng nhận bị đánh cắp. Nếu ứng dụng danh sách trắng tin tưởng phần mềm có chữ ký của tổ chức đó, chương trình bị nhiễm hiển nhiên được đánh giá tin cậy. Bên cạnh đó, tội phạm mạng (hoặc nhân viên bên trong công ty) có thể truy cập đến các thư mục hoặc cơ sở dữ liệu nắm giữ các danh sách trắng và thêm phần mềm độc hại vào danh sách.

Tống tiền trên mạng

Năm 2012, số lượng Trojan ngày càng tăng, được thiết kế để tống tiền những nạn nhân của chúng bằng cách mã hóa dữ liệu trên đĩa hoặc chặn truy cập vào hệ thống. Tuy loại tội phạm mạng này đã được hạn chế phần lớn ở Nga và các quốc gia Liên Xô cũ nhưng chúng đã trở thành một hiện tượng trên toàn thế giới, đôi khi với phương thức hơi khác nhau. Ví dụ, ở Nga, Trojans chặn truy cập vào hệ thống thường tuyên bố là đã xác định được phần mềm không có giấy phép trên máy tính của nạn nhân và yêu cầu thanh toán. Tại châu Âu, nơi các phần mềm vi phạm bản quyền ít phổ biến hơn, phương pháp tiếp cận này thường không thành công. Thay vào đó, chúng giả mạo các tin nhắn xuất hiện trên màn hình từ các cơ quan thực thi pháp luật tuyên bố đã tìm thấy nội dung khiêu dâm trẻ em, hoặc các nội dung bất hợp pháp khác trên máy tính. Thông báo này luôn đi kèm với một yêu cầu phải trả tiền phạt. Các kiểu tấn công như vậy rất dễ dàng để phát triển, và cùng với các cuộc tấn công lừa đảo, dường như không bao giờ thiếu các nạn nhân tiềm năng. Kết quả dẫn đến sự tăng trưởng liên tục của loại hình tấn công này trong tương lai.

Phần mềm độc hại trên hệ điều hành Mac OS

Mặc dù có nhận thức phòng thủ tốt, hệ điều hành Mac cũng không “miễn nhiễm” với phần mềm độc hại. Tất nhiên, khi so sánh với khối lượng lớn phần mềm độc hại nhắm vào hệ điều hành Windows, khối lượng của phần mềm độc hại dựa trên hệ điều hành Mac là nhỏ. Tuy nhiên, những phần mềm độc hại này đã được phát triển đều đặn trong vòng hai năm qua, và sẽ rất “ngây thơ” khi bất cứ ai sử dụng hệ điều hành Mac nghĩ rằng, họ không thể là nạn nhân của tội phạm mạng. Nó không chỉ là các cuộc tấn công đại trà – chẳng hạn như 700.000 botnet Flashfake, mà còn là các cuộc tấn công nhắm mục tiêu vào các nhóm cụ thể hoặc cá nhân biết sử dụng máy Mac. Các mối đe dọa cho máy Mac là có thực và có khả năng tiếp tục phát triển.

Phần mềm độc hại trên điện thoại di động

Phần mềm độc hại trên điện thoại di động đã bùng nổ trong hơn 18 tháng qua với hơn 90% phần mềm nhắm đến hệ điều hành Android. Đây là hệ điều hành được sử dụng rộng rãi, dễ dàng nâng cấp, và người sử dụng nó cũng có thể dễ dàng tải các phần mềm, kể cả các chương trình độc hại từ bất cứ nguồn nào. Vì thế, các phần mềm độc hại cho điện thoại có hệ điều hành Android dường như không ngừng phát triển. Hiện nay, hầu hết các phần mềm phá hoại được thiết kế để kết nối với các thiết bị di động và trong tương lai, tội phạm mạng sẽ tận dụng các lỗ hổng nhắm vào hệ điều hành để dựa trên đó phát triển các chương trình tấn công “drive-by downloads”. Các loại sâu này sẽ có khả năng phân tán qua tin nhắn, các liên kết trên các kho ứng dụng trực tuyến. Hơn nữa, tương lai cũng sẽ xuất hiện nhiều hơn các botnet di động, ví dụ như các botnet được tạo ra bởi mã độc RootSmart vào quý 1/2012.

Ngược lại với Android, iOS là một hệ điều hành khép kín và các dữ liệu được xử lý chặt chẽ – chỉ cho phép tải các ứng dụng từ một nguồn duy nhất. Để phát tán mã độc, tin tặc buộc phải tìm cách chèn các mã này vào kho ứng dụng. Sự xuất hiện của ứng dụng “Find and Call” vào đầu năm nay đã cho thấy khả năng các ứng dụng độc hại có thể len lỏi vào mạng lưới. “Find and Call” cập nhật thông tin có trong danh bạ điện thoại nạn nhân lên một server khác và sử dụng những số này để gửi tin nhắn rác, đồng nghĩa người dùng có thể bị rò rỉ các thông tin cá nhân, cũng như những dữ liệu nhạy cảm có khả năng tổn hại danh tiếng của họ.

Khai thác lỗ hổng

Một trong những phương pháp chính mà tội phạm mạng dùng để cài đặt phần mềm độc hại trên máy tính của nạn nhân là khai thác các lỗ hổng chưa được sửa chữa trong các ứng dụng. Lỗ hổng Java hiện là mục tiêu của hơn 50% các cuộc tấn công, trong khi Adobe Reader chiếm hơn 25%. Tội phạm mạng thường tập trung chú ý vào các ứng dụng được sử dụng rộng rãi và không cần vá lỗi trong thời gian lâu nhất. Vì Java không chỉ được cài đặt trên nhiều máy tính (1,1 tỷ, theo Oracle) và bản cập nhật chỉ được cài đặt theo yêu cầu, không tự động nên nhiều khả năng, tội phạm mạng sẽ tiếp tục khai thác Java trong năm tới. Bên cạnh đó, Adobe Reader cũng sẽ tiếp tục bị tội phạm mạng chọn làm mục tiêu, nhưng có lẽ hạn chế hơn bởi vì các phiên bản mới nhất đã được thiết lập cơ chế tự động cập nhật…

(KD)

————————-

EU chuẩn bị giới thiệu Chỉ thị An ninh mạng 2013

Mới đây, một quan chức thuộc Ủy ban Châu Âu cho biết bản dự thảo Chỉ thị An ninh mạng Châu Âu (EU cyber directive) hiện đang trong giai đoạn hoàn thành và dự kiến sẽ chính thức ra mắt vào cuối tháng 01/2013. Đây được xem như một bước tiến mới trong mục tiêu quản lý toàn bộ mạng trực tuyến theo một chính sách thống nhất trên phạm vi toàn khu vực EU.

Ảnh minh họa

Được biết, dự thảo chỉ thị nhằm tạo ra một cơ chế hợp tác hiệu quả cho phép các quốc gia thành viên đạt được tiêu chuẩn tối thiểu về năng lực đối phó và phòng vệ khi bị tấn công trực tuyến cũng như khả năng hỗ trợ lẫn nhau của chính phủ các nước nhằm ngăn chặn các sự cố mạng trong khu vực. Kế hoạch triển khai thí điểm cho chỉ thị mới mang tên ‘Digital priorities for 2013-14′ do Ủy viên Chương trình Nghị sự số Châu Âu – Neelie Kroes phụ trách đã được công bố rộng rãi vào ngày 18/12/2012.

Ngoài ra, EU cũng dự định thiết lập một cơ chế quản lý an ninh mới thông qua việc thành lập Trung tâm Tội phạm mạng Châu Âu (the European Cybercrime Centre) vào tháng 01/2013, thực hiện mục tiêu hỗ trợ các nhà chức trách trong việc ngăn chặn làn sóng tội phạm mạng đang gia tăng cũng như thúc đẩy đào tạo đội ngũ chuyên gia an ninh cho các quốc gia trong khu vực.

 

trandaiquang.net lược dịch (Nguồn: EUobserve)

———————————————————–

Các chuyên gia dự đoán về tình hình an ninh mạng trong năm 2013

Sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội và các thiết bị cá nhân hiện đại được nhận định là một con dao 2 lưỡi, vừa hỗ trợ hiệu quả cho các doanh nghiệp quản lý đội ngũ nhân viên từ xa, vừa tạo cơ hội dễ dàng cho tội phạm mạng phát động tấn công nhằm vào doanh nghiệp.

Ngoài ra, hàng loạt các mã độc tinh vi và phức tạp được tung ra trong năm 2012 đã gây thiệt hại đáng kể cho người dân, các doanh nghiệp và Chính phủ Mỹ. Tình trạng trên cho thấy phương pháp xác thực cơ bản chỉ với tên người dùng và mật khẩu vẫn chưa đủ mạnh để gây khó khăn cho tội phạm mạng. Theo đó, một số các chuyên gia bảo mật hàng đầu tại Mỹ đã chia sẻ nhận định riêng về xu hướng thay đổi của an ninh mạng cũng như kêu gọi người dùng trực tuyến tại Mỹ tăng cường đảm bảo an toàn cho các phương pháp xác thực truy cập trong năm 2013. Cụ thể như sau:

Giám đốc nghiên cứu bảo mật tại công ty an ninh mạng Lancope – Tom Cross cho biết, phương pháp xác thực bằng mật khẩu hiện nay đã lỗi thời và cần được thay thế bằng các giải pháp khác hiệu quả hơn

  • Giám đốc nghiên cứu bảo mật tại công ty an ninh mạng Lancope – Tom Cross cho biết, phương pháp xác thực bằng mật khẩu hiện nay đã lỗi thời và cần được thay thế bằng các giải pháp khác hiệu quả hơn. Tuy nhiên việc thiết kế một hệ thống xác thực đủ tiêu chuẩn là một mục tiêu vô cùng khó khăn. Do đó, hiện tại, người dùng sẽ được yêu cầu cài đặt mật khẩu dài hơn, đồng thời triển khai hệ thống kiểm tra tự động và phát hiện các mật khẩu yếu. Qua đó, Cross cảnh báo các doanh nghiệp và tổ chức cần chuẩn bị sẵn sàng đối phó với các đợt xâm nhập trực tuyến mà trong đó tội phạm có thể đăng nhập vào hệ thống với các tài khoản hợp lệ mà không gây kích hoạt hệ thống phát hiện xâm nhập.
  • Wade Baker – một chuyên gia thuộc nhóm RISK của hãng bảo mật Verizon nhận định, 9 trong 10 vụ xâm nhập đều liên quan tới hệ thống xác thực hoặc định danh bị tiết lộ. Do đó, các doanh nghiệp cần phải đảm bảo một quy trình thống nhất trong việc tạo mới, quản lý và giám sát tài khoản người dùng.

  • Theo báo cáo “Dự đoán các mối đe dọa năm 2013” do nhóm nghiên cứu FortiGuard Labs thuộc hãng bảo mật Fortinet phát hành mới đây, mô hình bảo mật chỉ bằng mật khẩu đã kết thúc. Trong năm 2013, dự kiến các doanh nghiệp Mỹ sẽ dần chuyển sang áp dụng một số các hình thức xác thực 2 yếu tố cho nhân viên và khách hàng. 2 yếu tố cần xác thực ở đây sẽ bao gồm một tên người dùng và một mật khẩu như thông thường, đồng thời sẽ thiết lập thêm một mật khẩu thứ 2 được gửi tới điện thoại di động của người dùng hoặc một mã bí mật độc lập.

trandaiquang.net lược dịch (Nguồn: NCP-E)

————————————————————–

Ngành công nghệ thông tin – truyền thông: Nhiều thách thức

Trong chuỗi sự kiện Triển lãm Quốc tế Kỷ nguyên công nghệ số vừa diễn ra tại TPHCM do Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế IDG phối hợp cùng Bộ Thông tin – Truyền thông (TT-TT), Ban chỉ đạo Quốc gia về công nghệ thông tin (CNTT), Sở TT-TT TPHCM và Hội Tin học TPHCM đồng tổ chức, Hội thảo Toàn cảnh CNTT Việt Nam 2010 – 2011 đã cho thấy một bức tranh lớn về CNTT và qua đây cũng báo hiệu sự mất cân đối của thị trường CNTT nước ta.

Bức tranh muôn màu

Trong bức tranh chung của các doanh nghiệp CNTT-TT hàng đầu, nhóm doanh nghiệp sản xuất và gia công phần mềm và dịch vụ CNTT xuất khẩu đang mang màu sắc tươi sáng. Số các hợp đồng gia công phần mềm bắt đầu tăng nhanh trong năm 2010 và tăng vọt vào đầu năm 2011, dự báo có thể đạt mức tăng 40% trong năm này. Các công ty tên tuổi trong ngành này như FPT, TMA, CSC, GCS, GHP Par East, ISB, Capgemini đều tăng trưởng cao. Gia công phần mềm cũng đi theo chiều hướng chuyên sâu, với giá trị gia tăng cao và một xu hướng đang là cơ hội mới cho doanh nghiệp Việt Nam, là gia công quy trình nghiệp vụ kinh doanh. Nhiều công ty Việt Nam đã tạo được tên tuổi, niềm tin với khách hàng.

Trong khi đó, ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh phần cứng, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn đóng vai trò quyết định tổng doanh thu của ngành sản xuất phần cứng. Đặc biệt, năm 2010 nhà máy sản xuất chip Intel Việt Nam đã chính thức tham gia thị trường, góp phần làm tăng doanh thu xuất khẩu của ngành phần cứng Việt Nam. Trong khi đó, với các doanh nghiệp sản xuất máy tính thương hiệu Việt, doanh số năm 2010 tiếp tục sụt giảm nhiều so với năm trước khoảng 25%. Theo ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hội Tin học TPHCM, nguyên nhân là do sự cạnh tranh không bình đẳng với lĩnh vực máy tính nhập khẩu nguyên chiếc. Máy tính thương hiệu Việt phải chịu thuế suất nhập khẩu linh kiện rời, trong khi nhập máy tính nguyên chiếc, thuế suất nhập khẩu bằng 0.

Còn trong lĩnh vực cung cấp giải pháp và tích hợp hệ thống, doanh thu của các doanh nghiệp cũng tăng trưởng chậm lại so với năm trước, chỉ tăng khoảng 5% và có nhiều doanh nghiệp tăng trưởng âm. Điều này cho thấy tiến độ triển khai dự án tin học hóa tại các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp đều có dấu hiệu bị chậm hoặc bị cắt giảm đáng kể do ảnh hưởng của lạm phát và chính sách thắt chặt chi tiêu của Chính phủ.

Thách thức với các doanh nghiệp CNTT

Ông Chu Tiến Dũng nhận định: “Kinh tế thế giới tuy bắt đầu phục hồi từ cuối năm 2009 nhưng tăng trưởng còn rất chậm và chưa bền vững. Song song đó, nền kinh tế Việt Nam phải đối phó với tình trạng lạm phát tăng cao ở mức 2 con số nên Chính phủ, các tổ chức kinh tế – xã hội đẩy mạnh chương trình tiết kiệm, thặt chặt chi tiêu. Đặc biệt, chính sách thặt chặt tiền tệ của Chính phủ đề ra từ đầu năm 2011 đã tác động rất mạnh tới môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, là thách thức rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp CNTT-TT”.

Trong bối cảnh nêu trên, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm các doanh nghiệp hàng đầu trong ngành đóng vai trò rất quan trọng, nó đại diện và phản ánh bức tranh chung về xu hướng phát triển của ngành CNTT-TT Việt Nam. Tuy nhiên, có thể thấy mức độ tăng trưởng doanh thu không đồng đều giữa các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực như phần cứng, bán lẻ CNTT, phần mềm, dịch vụ CNTT, đào tạo nhân lực CNTT. Một dấu hiệu đáng lo ngại khác trong năm 2010 và đầu năm 2011 là tổng doanh thu của nhóm đào tạo CNTT giảm khoảng 15% so với năm 2009. Đây là một sự cảnh báo cần được lưu tâm.

BÁ TÂN

————————————-

Dự báo bùng nổ nhiều hình thức tống tiền qua mạng trong năm 2013

 

Các chuyên gia Kaspersky Lab (Nga) vừa đưa ra những dự đoán về an ninh mạng trong năm 2013 nhấn mạnh vào các hành vi ăn cắp thông tin và tống tiền qua mạng.

 

Năm 2012, số lượng virus Trojan được thiết kế để tống tiền ngày càng bùng nổ, với đủ mọi thủ đoạn. Ở Nga, tội phạm chặn truy cập rồi thông báo “đã xác định được phần mềm “lậu”, yêu cầu người dùng thanh toán” để lấy tiền. Tại Châu Âu, nơi người dân ít vi phạm bản quyền, tin tặc lại dùng chiêu giả mạo các tin nhắn được gửi từ các cơ quan thực thi pháp luật, tuyên bố tìm thấy các nội dung bất hợp pháp (khiêu dâm trẻ em, mua bán hàng giả…) rồi bắt người dùng nộp tiền phạt qua mạng… Kaspersky dự báo, do quá dễ kiếm tiền từ hành vi lừa đảo này. Năm 2013 và trong tương lai, tin tặc sẽ đẩy mạnh phát triển các hình thức tấn công tống tiền. Hãng bảo mật này cũng khuyến cáo, người dùng phải cẩn trọng, không được nhập tài khoản mail, thẻ tín dụng… tới các website, cho những yêu cầu không rõ nguồn gốc.

 

Kiên Giang

——————————————————————-

Dự đoán xu hướng an ninh mạng trong năm 2013

Hãng bảo mật Sophos mới đây đã phát hành Báo cáo Mối đe dọa Bảo mật 2013 (Security Threat Report 2013) nhằm đánh giá tổng quan tình hình an ninh mạng năm 2012 và dự đoán xu hướng phát triển của các mối đe dọa mạng trong năm 2013. Các chuyên gia cho biết, sự xuất hiện đa dạng các nền tảng di động và hệ điều hành trong năm 2012 đã kéo theo sự tăng trưởng nhanh chóng các phần mềm độc hại nhằm vào các thiết bị di động, đặc biệt là hệ điều hành Android.

Xu hướng sử dụng thiết bị cá nhân trong công việc (BYOD) cũng như quá trình chuyển đổi ứng dụng nền tảng điện toán đám mây đã đặt ra những thách thức to lớn đối với công tác bảo vệ dữ liệu và đảm bảo an ninh mạng trong các doanh nghiệp. Các trang web vẫn là nguồn phát tán mã độc nguy hiểm nhất thông qua các liên kết độc hại và các kỹ thuật khai thác dữ liệu.

Qua đó, hãng Sophos đưa ra dự đoán xu hướng an ninh mạng trong năm 2013 như áp dụng các công nghệ giảm thiểu khai thác cũng như ý thức nâng cao chất lượng an ninh sản phẩm của nhà sản xuất, tội phạm mạng sẽ khó khăn hơn trong việc khai thác các lỗ hổng phục vụ cho cuộc tấn công. Ngoài ra, Sophos cũng giới thiệu các giải pháp hỗ trợ tăng cường bảo mật cho các thiết bị đầu cuối và nền tảng di động trong thời gian tới, bao gồm hỗ trợ các hệ thống khởi động an toàn (boot systems), không gian địa chỉ ngẫu nhiên (Address Space Layout Randomization – ASLR) và ngăn chặn thực thi dữ liệu (Data Execution Prevention – DEP) nhằm hạn chế việc khai thác lỗ hổng trên các nền tảng di động và thiết bị đầu cuối.

Cùng với Sophos, hãng bảo mật Kaspersky Lab cũng đưa ra dự đoán xu hướng an ninh mạng nổi bật trong năm 2013 bao gồm:

  1. Các cuộc tấn công với mục tiêu xác định và gián điệp mạng nhằm vào các doanh nghiệp, các cơ sở hạ tầng xung yếu và cơ quan chính phủ;
  2. Các cuộc tấn công của tin tặc mang động cơ chính trị (hacktivism);
  3. Các cuộc tấn công dưới sự bảo trợ của nhà nước;
  4. Xu hướng hợp pháp hóa việc sử dụng công cụ giám sát của các chính phủ;
  5. Nguy cơ an ninh từ điện toán đám mây;
  6. Quyền riêng tư của người dân ngày càng bị đe dọa;
  7. Sử dụng chứng chỉ số giả mạo cho trang web độc hại;
  8. Các phần mềm tống tiền trực tuyến;
  9. Mã độc trên hệ điều hành MacOS tăng nhanh;
  10. Bùng nổ mã độc di động;
  11. Tăng cường khai thác lỗ hổng trong các ứng dụng nhằm cài đặt mã độc lên máy tính nạn nhân.

Nguồn: Soft PediaInfo Security Magazin

—————————————————————-

4 bài toán khó cho an ninh mạng 2013

Sau một chặng đường phát triển với tốc độ chóng mặt, có thể nói năm 2012 là một năm mà internet toàn cầu nói chung và an ninh mạng nói riêng có dấu hiệu chững lại. Nhiều chuyên gia đã dự đoán rằng một số trào lưu hay xu hướng đã định hình nên thế giới internet năm 2012 sẽ tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong bản đồ mạng toàn cầu vào năm sau.

Và dưới đây là một vài trong số chúng:

Internet: Công cụ của các chính phủ

“Rốt cuộc, chính phủ nhiều nước cũng đã nhận ra rằng internet là công cụ tương đối hoàn hảo để theo dõi, điều khiển, phản gián hay thậm chí là gây chiến.” Đó là phát ngôn của Mikko Hypponen, giám đốc kỹ thuật F-Secure, một doanh nghiệp chuyên về an ninh mạng tại Phần Lan trong một bức thư gửi đến trang tin công nghệ CNET. Thật may mắn, chúng ta có thể chắc chắn rằng trong năm 2013, internet sẽ không hoàn toàn trở thành một chiến trường đầy khói lửa giữa chính phủ, các doanh nghiệp và ở bên kia là các hacker nguy hiểm. Thế nhưng“công tác” chuẩn bị để internet trở thành một mặt trận an ninh đã được nhiều nước chuẩn bị từ rất lâu.

“Chắc chắn sẽ có nhiều dự án kiểu như “Olympic Games’”ra đời trong tương lai. Sau này, chúng ta sẽ thấy 20 năm đầu tiên Internet tồn tại quả là thời kỳ Hoàng kim, khi mọi thứ vẫn còn miễn phí.” “Olympic Games” ở đây Hypponen muốn đề cập tới dự án có liên quan tới chính phủ Mỹ, dự án đã tạo ra Stuxnet, Duqu và Flame, những công cụ tấn công vào hệ thống mạng của chính phủ Iran nhằm phá hoại chương trình hạt nhân của nước này.

Chuyên gia an ninh mạng Chris Wysopal đồng ý rằng “chiến tranh số” sẽ không còn là điều quá xa lạ. “Chiến tranh ảo chắc chắn sẽ tồn tại song hành với chiến sự ngoài đời thực.” Cụ thể hơn, những cuộc tấn công có sự nhúng tay của chính phủ một số nước sẽ sớm trở thành chuyện “thường ngày”.

Tuy nhiên, không phải vì những cuộc tấn công đã xảy ra thường xuyên hơn, mà chúng lại bớt khiến cho các chuyên gia cảm thấy bất ngờ. Chuyên gia an ninh mạng Tomer Teller tại Check Point cho biết, anh thực sự ngạc nhiên trước số lượng của những cuộc “tấn công có định hướng chính xác” từ những nhóm hacker.

Tim Rains, giám đốc bộ phận bảo an của Microsoft chỉ ra rằng hậu quả của những cuộc tấn công có sự nhúng tay của chính quyền sẽ còn nguy hại hơn nhiều so với những lò hạt nhân đang hoạt động tại Iran và những cuộc tấn công mạng doanh nghiệp.

Mobile: Con mồi béo bở của các hacker

Rõ ràng xu hướng thứ 2 là một thời cơ không nhỏ cho các doanh nghiệp hay các startup, chứ không hề đáng lo ngại như xu hướng được chúng tôi đề cập trên đây. Những chuyên gia an ninh mạng đã bắt đầu quan tâm tới việc bảo vệ chiếc smartphone hay tablet trước những mói đe dọa trên internet từ vài năm trở lại đây. Với tốc độ phát triển như hiện nay, thì việc bảo vệ các thiết bị di động trước những hacker lại càng được đề cao hơn bao giờ hết.

Derek Halliday, giám đốc sản phẩm của Lookout Mobile Security đã chỉ ra 2 xu hướng mà công ty của anh đã nhận thấy trong năm 2012: Hiện tại mới chỉ có vài malware chính tấn công các thiết bị di động. Xu hướng thứ hai, Halliday cho biết: Bỏ qua sự nghèo nàn của số lượng các malware, chúng ta còn có thể thấy được cả sự tương phản đến mức khó tin khi so sánh số lượng các vụ tấn công thông qua các thiết bị di động. “Nếu bạn cố gắng lừa ai đó qua điện thoại tại Mỹ, bạn sẽ vấp phải không ít vấn đề và khó có thể thành công. Tuy nhiên mọi chuyện lại hoàn toàn khác khi vụ tấn công xảy ra ở Nga hoặc Trung Quốc.”

Halliday còn cho biết thêm, hiện tại Android 4.2 đang là hệ điều hành di động an toàn nhất, với không ít sự nâng cấp trong vấn đề bảo mật từ Google. Thế nhưng sự phân mảnh chắc chắn sẽ khiến cho hệ điều hành này khó được chọn lựa hơn, ít nhất là cho đến cuối năm 2013.

Mặt khác, Wysopal cho biết, hậu quả của những cuộc tấn công bằng malware trên di động đang tăng dần. “Trong năm 2012, khoảng 0,5% số người sử dụng điện thoại di động tại Mỹ bị malware tấn công và lấy đi thông tin cá nhân lưu trong điện thoại. 0,5% nghe có vẻ nhỏ, nhưng con số này đại diện cho khoảng 1 triệu người, và hoàn toàn không thể làm ngơ nó. Tốc độ phát triển của xu thế tiêu cực này chậm hơn so với dự đoán, nhưng hậu quả nó đem lại thì đang tăng dần theo thời gian.”

Mang ý kiến khác hoàn toàn so với Halliday, Wyposal lại cho rằng iOS mới là hệ điều hành di động an toàn nhất: “5 năm sau khi phiên bản đầu tiên ra mắt, hiện vẫn chưa có malware nào trên iOS được ghi nhận. Apple đã làm rất tốt công việc của mình.”

Máy tính bàn: Vẫn là mục tiêu số 1

Rõ ràng, nền tảng di động đã và đang phát triển chóng mặt. Bằng chứng là doanh số bán ra của các thiết bị chạy hệ điều hành Android đã qua mặt máy tính sử dụng Windows từ quý 3 năm 2012. Thế nhưng điều này hoàn toàn không đồng nghĩa với việc người sử dụng máy tính cá nhân sẽ phần nào an toàn trước những cuộc tấn công của các hacker.

Trong năm 2012, có một “rootkit” (công cụ tấn công nhằm chiếm quyền admin của máy tính hoặc hệ thống mạng) mang tên ZeroAccess, và có vẻ như báo giới và cộng đồng lại gần như quên đi sự hiện diện của công cụ nguy hiểm này.“ZeroAccess hoàn toàn không được cộng đồng để ý tới, thế nhưng những gì nó có thể làm lại không hề thua kém Conficker, công cụ khét tiếng trên các trang báo. Một khi đã xâm nhập vào hệ thống máy tính, nó sẽ tự cài vào master boot record. Nhờ đó, rootkit này sẽ được khởi động trước cả khi Windows bắt đầu khởi chạy.”

Trong khi Hypponen cho biết Windows 8 hay Mac OS có thể sử dụng UEFI (Unified Extensible Firmware Interface, dịch là “Giao diện firmware mở rộng hợp nhất”) để boot hệ điều hành một cách an toàn, thì Microsoft lại lo ngại rằng điều này có thể khiến Rootkit sẽ thay đổi nhiều trong tương lai, khó phát hiện và khó diệt trừ hơn.

Năm 2012 sắp sửa qua đi cũng là một năm tương đối khó khăn với Mac OS khi đề cập tới khía cạnh bảo mật, chủ yếu là“nhờ” trojan mang tên Flashback. Hypponen cho biết, “Kẻ tạo ra Flashback hiện vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật và có thông tin đồn đại rằng hắn ta đang tạo ra một thứ khác. Và trong khi một vài thay đổi khá thông minh đã được Apple tạo ra cho Mac OS (Hypponen muốn đề cập tới Gatekeeper trên Mountain Lion), vẫn có một bộ phận người sử dụng đã và đang trở thành con mồi ngon cho những hacker”.

Đánh cắp dữ liệu

Một trong những vấn đề nóng trong năm 2012, là những cuộc tấn công đánh cắp dữ liệu của cá nhân, doanh nghiệp hay thậm chí là cả chính phủ. Đằng sau hệ thống server của Google, Facebook hay đơn giản hơn là những ứng dụng di động cho phép lưu trữ dữ liệu trên server, là những thông tin cực kỳ có giá trị với không ít tổ chức quảng cáo, các doanh nghiệp hay tệ hơn là những tên tội phạm.

Chính vì thế, Halliday khuyên người sử dụng internet nên tự bảo vệ chính bản thân mình bằng cách tự mình tìm hiểu và sử dụng công cụ tùy chỉnh riêng tư trên các mạng xã hội, cũng như chú ý kiểm soát thông tin cá nhân trên các mạng xã hội hay ứng dụng khác.

Theo Genk
——————————————————————–

4 vấn nạn bảo mật đáng sợ nhất 2013

Bảo mật di động và phần mềm tống tiền “nổi loạn”, xung đột mạng trở nên căng thẳng hơn, các chuyên gia bảo mật đã chỉ ra 4 xu hướng bảo mật nổi bật của năm 2012 và nhiều khả năng sẽ tiếp diễn trong năm 2013.

1. Xung đột mạng trở nên phổ biến

Năm 2013 và cả những năm tiếp sau, xung đột mạng giữa các quốc gia, các tổ chức và cá nhân sẽ trở thành tâm điểm trong thế giới mạng. Gián điệp công nghệ vừa có tỷ lệ thành công cao, vừa dễ dàng phủi tay, chối bỏ trách nhiệm sau khi tiến hành. Đã có nhiều ví dụ thực tế để cảnh báo về xu hướng này trong vòng 2 năm trở lại đây mà điển hình là vụ sâu Stuxnet tấn công Iran. Trong năm 2013, chúng ta sẽ thấy môi trường mạng trở thành một chiến trường khi mà các quốc gia, các tổ chức, thậm chí các nhóm và các cá nhân sử dụng những cuộc tấn công mạng để thể hiện sức mạnh của họ hay đơn thuần chỉ là “gửi đi thông điệp”.

Bên cạnh đó, hãng bảo mật Symantec cũng dự đoán sẽ có nhiều cuộc tấn công mạng nhắm tới các cá nhân và các tổ chức phi chính phủ, chẳng hạn như những người/nhóm người ủng hộ các vấn đề về chính trị và thành viên của các nhóm dân tộc thiểu số xung đột với nhau. Loại hình tấn công có chủ đích này đã xuất hiện khi các nhóm hacker như LulzSec hay Anonymous được hỗ trợ bởi một cá nhân hoặc một công ty đứng đằng sau.

2. Phần mềm tống tiền (ransomeware) trở thành nỗi ám ảnh mới

Khi phần mềm diệt virus giả mạo tạm lắng xuống thì một mô hình doanh nghiệp tội phạm, mới và cao cấp hơn sẽ lại nổi lên. Symantec dự báo phần mềm tống tiền (ransomeware) sẽ phát triển mạnh do chúng không chỉ lừa phỉnh nạn nhân mà còn đe dọa và bắt nạt họ. Mặc dù “mô hình kinh doanh” này đã từng được thử nghiệm trước đó nhưng nó cũng có những mặt hạn chế tương tự như kiểu “bắt cóc tống tiền” trong đời sống thực: không có một cách thức nào là hoàn hảo để thu tiền cả. Tuy vậy, tội phạm mạng ngày nay đã tìm ra một giải pháp cho vấn đề này, đó là sử dụng các phương thức thanh toán trực tuyến. Chúng có thể dùng áp lực thay vì phải bịa chuyện để lấy tiền từ nạn nhân.

Một trong những khả năng quan trọng là phần mềm tống tiền sẽ vượt mặt các phần mềm diệt virus giả mạo để trở thành con át chủ bài của tội phạm mạng trong năm tới.

3. Phần mềm quảng cáo di động tăng mạnh

Phần mềm quảng cáo trên di động (mobile adware – còn gọi tắt là madware) là những phần mềm khá phiền toái và làm gián đoạn trải nghiệm người dùng. Không chỉ vậy, những phần mềm này còn tiềm ẩn rủi ro như làm lộ chi tiết về địa điểm, thông tin liên lạc cũng như nhận dạng thiết bị cho tội phạm mạng. Madware sẽ lẻn vào thiết bị của người dùng khi họ tải về một ứng dụng và thường xuyên gửi các pop-up cảnh báo trên thanh thông báo thêm biểu tượng, thay đổi cài đặt trình duyệt và thu thập thông tin cá nhân.

Chỉ trong vòng 9 tháng vừa qua, số lượng các ứng dụng, bao gồm cả những biến thể phần mềm quảng cáo di động táo tợn nhất, đã tăng lên tới 210%. Việc sử dụng phần mềm quảng cáo di động sẽ tăng mạnh do ngày càng có nhiều công ty mong muốn tăng trưởng lợi nhuận nhanh chóng thông qua quảng cáo di động.

4. Kiếm tiền trên các mạng xã hội – những kẽ hở mới nguy hiểm

Là người dùng, chúng ta đặt một niềm tin khá lớn vào mạng xã hội – từ việc chia sẻ những thông tin cá nhân tới việc chi tiền cho các trò chơi, tặng quà cho bạn bè. Khi những mạng xã hội này bắt đầu hình thành các phương thức kiếm tiền trên các nền tảng của họ bằng cách cho phép người dùng mua và gửi những món quà thật, thì xu hướng tiêu dùng ngày càng tăng trên các mạng xã hội cũng gợi ý cho tội phạm mạng những phương pháp mới để tạo tiền để cho các cuộc tấn công của chúng.

Các chuyên gia bảo mật dự đoán số lượng các cuộc tấn công bằng phần mềm độc hại nhằm ăn cắp thông tin thanh toán của người dùng trên các mạng xã hội hoặc lừa phỉnh họ cung cấp các chi tiết thanh toán hoặc những thông tin cá nhân/ thông tin có giá trị tới các mạng xã hội giả mạo sẽ tăng mạnh. Cụ thể, người dùng có thể nhận được thông báo về một món quà giả mạo và những thông điệp gửi qua email, yêu cầu họ cho biết địa chỉ nhà và những thông tin cá nhân khác. Mặc dù cung cấp thông tin phi tài chính có vẻ là vô thưởng vô phạt, nhưng tội phạm mạng có thể bán và giao dịch những thông tin này với nhau để kết hợp với thông tin mà chúng đã có sẵn về bạn. Điều này có thể giúp chúng tạo ra một hồ sơ cá nhân riêng về bạn và sau đó sử dụng để tìm cách truy nhập vào các tài khoản khác của bạn.

Theo Vietnamnet

 


ISO/IEC 27032:2012 – Tiêu chuẩn mới về an ninh mạng

 

 (VietQ.vn) – ISO/IEC 27032:2012 – tiêu chuẩn ISO mới giúp đảm bảo an toàn cho các giao dịch trực tuyến, trao đổi thông tin cá nhân qua mạng internet và bảo vệ máy tính của bạn khi bạn truy cập vào bất cứ website nào.

Khi tất cả các hoạt động của chúng ta đều dựa vào internet, từ việc chia sẻ những tập tin công việc quan trọng cho đến việc thanh toán hóa đơn, thì an ninh mạng trở thành một vấn đề được quan tâm hàng đầu. Tiêu chuẩn ISO mới, ISO/IEC 27032:2012, Công nghệ thông tin – Các kỹ thuật bảo mật – Hướng dẫn về an ninh mạng sẽ giúp ‘không gian ảo’ trở nên an toàn hơn.

‘Không gian ảo’ là một môi trường phức tạp, là tập hợp các sự tương tác giữa người với người, giữa các phần mềm và giữa các dịch vụ với nhau, được hỗ trợ bởi các thiết bị và mạng lưới công nghê thông tin và truyền thông trên toàn thế giới. Sự phối hợp này là cần thiết để đảm bảo một môi trường trực tuyến an toàn. Tiêu chuẩn mới hướng tới việc quản lý những lỗ hổng an ninh phát sinh từ việc thiếu sự trao đổi thông tin giữa người sử dụng và các nhà cung cấp trong lĩnh vực internet. Tiêu chuẩn này có thể giải quyết mọi rủi ro chưa được đề cập tới trong vấn đề an ninh mạng và thông tin, truyền thông hiện tại.

Ông Johann Amsenga, chủ tịch nhóm công tác phát triển tiêu chuẩn này giải thích rằng “Các thiết bị và các kết nối mạng hỗ trợ ‘không gian ảo’ có rất nhiều chủ thể với những mối quan tâm riêng về quản lý, điều hành hay công việc kinh doanh. Không chỉ người sử dụng hay các nhà cung cấp dịch vụ chia sẻ ít hoặc không chia sẻ thông tin đầu vào, mà mỗi đối tượng còn có một sự tập trung khác khi giải quyết vấn đề an ninh mạng. Tình trạng phân khúc như vậy dẫn đến các lỗ hổng trong ‘không gian ảo’. Tiêu chuẩn ISO/IEC 27032 sẽ đưa ra một giải pháp bao quát, mang tính phối hợp đồng bộ để giảm thiểu những rủi ro này.

Tiêu chuẩn ISO/IEC 27032 bao gồm nội dung về các vấn đề chính như sau:
– Chia sẻ thông tin
– Phối hợp
– Xử lý sự cố

Tiêu chuẩn này tạo điều kiện cho sự hợp tác an toàn và đáng tin cậy, bảo vệ sự riêng tư cho các cá nhân ở mọi nơi trên thế giới. Theo cách đó, tiêu chuẩn này có thể giúp các tổ chức và cá nhân sẵn sàng ứng phó, phát hiện, theo dõi và xử lý các cuộc tấn công như:

  • Các cuộc tấn công xã hội bằng công nghệ
  • Đột nhập (hacking)
  • Phần mềm nguy hiểm
  • Phần mềm gián điệp
  • Các phần mềm không mong muốn khác

Tiêu chuẩn ISO/IEC 27032:2012, Công nghệ thông tin – Các kỹ thuật bảo mật – Hướng dẫn về an ninh mạng được phát triển với sự hợp tác của Ủy ban kỹ thuật ISO/IEC JTC 1, Công nghệ thông tin, Tiểu ban SC 27, Kỹ thuật bảo mật công nghệ thông tin.

Hà Lê

————————————————–

Nhà Trắng dự kiến ban hành Sắc lệnh An ninh mạng vào đầu năm 2013

Theo nguồn tin từ Nhà Trắng, Tổng thống Obama dự kiến sẽ ban hành Sắc lệnh An ninh mạng (Executive Order) vào đầu năm 2013, trong đó phác thảo các mục tiêu an ninh nhằm bảo vệ cơ sở hạ tầng xung yếu quốc gia. Phát ngôn viên Nhà Trắng – Caitlin Hayden từ chối thông báo cụ thể thời gian ban hành, tuy nhiên Hayden khẳng định, chính quyền đã tiếp cận rộng rãi với khu vực tư nhân và Quốc hội để thăm dò ý kiến và hiện vẫn đang tiếp tục thảo luận các chính sách trong sắc lệnh.

Tổng thống Obama dự kiến sẽ ban hành Sắc lệnh An ninh mạng (Executive Order) vào đầu năm 2013

Phản ứng trước thông tin này, James Lewis – Giám đốc chương trình chính sách công cộng và công nghệ thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế Mỹ (Center for Strategic and International Studies) cho rằng, việc ban hành sắc lệnh có khả năng vấp phải tranh cãi quyết liệt tại Quốc hội và tạo ra một gánh nặng về các vấn đề tài chính, qua đó sắc lệnh khó có khả năng được ban hành ngay sau kỳ nghỉ lễ sắp tới.

Được biết, tháng 09/2012, giới truyền thông Mỹ từng tiết lộ một bản dự thảo sắc lệnh an ninh mạng bị rò rỉ từ Nhà Trắng, được soạn thảo dựa trên Dự luật An ninh mạng 2012 (Cybersecurity Act of 2012). Sau đó vào tháng 11/2012 một bản dự thảo khác nhằm thăm dò ý kiến tiếp tục được công bố, trong đó giới thiệu các ưu đãi khuyến khích các công ty cơ sở hạ tầng xung yếu tự nguyện tham gia vào một chương trình hỗ trợ các tiêu chuẩn an ninh mạng.

trandaiquang.net lược dịch (Nguồn: SCMagazine)

——————————————–

GovTech công bố 10 bài viết về an ninh mạng được quan tâm nhất trong năm 2012

Ngày 21/12/2012, trang tin an ninh mạng Mỹ – GovTech đã công bố bảng xếp hạng 10 sự kiện an ninh mạng nổi bật nhất từng được GovTech đưa tin trong năm 2012. Theo đó, các sự kiện chủ yếu liên quan đến quyền riêng tư, mã độc và các mối đe dọa an ninh mạng nghiêm trọng trong những năm gần đây, bao gồm:

1) Trang web tiết lộ mức lương của công chức tại thành phố New York (Mỹ) cùng một số dữ liệu tài chính khác liên quan đến nhà nước được ra mắt trong năm 2008, làm dấy lên mối lo ngại về quyền riêng tư của đông đảo cán bộ và công chức Mỹ.

2) Bảng xếp hạng 10 mối đe dọa an ninh mạng do hãng bảo mật Fortinet (Mỹ) thực hiện và GovTech công bố vào năm 2010.

3) Hệ thống gửi tiền cho tù nhân tại Florida (Mỹ). Theo đó, người dân tại đây được phép gửi tiền vào tài khoản riêng của tù nhân, số tiền được tù nhân sử dụng để mua thức ăn.

4) Cảnh sát bang Chicago (Mỹ) phủ nhận thông tin bị nhóm tin tặc Anonymous tấn công trang web của đơn vị.

5) Vụ tấn công vào chương trình chăm sóc y tế MedicAid của bang Utah (Mỹ), gây rò rỉ 280.000 số an sinh xã hội và 500.000 thông tin cá nhân bao gồm tên, địa chỉ, số điện thoại của người dân.

6) Hàng triệu thông tin cá nhân, số tài khoản thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ của người dân bang Nam Carolina (Mỹ) đã bị rò rỉ và hiện đang nằm trong tay tội phạm mạng.

7) Sự ra đời của mã độc tàng hình “Frankenstein” có khả năng tự biến đổi để không bị phát hiện, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Texas đã tạo ra “Frankenstein” nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu chống lại các mã độc của tội phạm mạng.

8) Bài viết về 7 đặc điểm của một mật khẩu yếu, giúp cư dân mạng tránh những sai sót cơ bản khi thiết lập một mật khẩu an toàn.

9) Nội dung buổi phỏng vấn của GovTech với tin tặc có biệt danh “Mafiaboy” về tình hình an ninh mạng tại các cơ quan chính quyền địa phương. Được biết, “Mafiaboy” từng đánh sập máy chủ của Yahoo! khi chỉ mới 15 tuổi.

10) Bảng xếp hạng Top 10 quốc gia đứng đầu thế giới về hoạt động của tội phạm mạng.

trandaiquang.net lược dịch (Nguồn: GovTech)

———————————————————–

Năm 2014: Thiết bị kết nối Internet sẽ trở thành công cụ ám sát

Theo dự đoán của Hãng bảo mật Internet Identity (IID), an ninh CNTT vào năm 2013 sẽ không có nhiều sự thay đổi. Theo đó, các vấn đề chính trong năm 2013 sẽ là sự tiếp tục phát triển của các loại mã độc trên thiết bị di động, gia tăng các cuộc tấn công kiểu APT (Mối nguy hiểm cao thường trực) cho phép tin tặc truy cập qua các “cửa hậu” (backdoor) nhằm tấn công vào các mục tiêu cũng như nhiều vụ xâm phạm dữ liệu hơn với nạn nhân là các doanh nghiệp hàng đầu thế giới.

Tuy nhiên, theo nhận định của Rod Rasmussen – Chủ tịch kiêm Giám đốc Kỹ thuật tại IID, năm 2014 sẽ có nhiều biến động với việc xuất hiện hình thức “giết người qua các thiết bị kết nối”, các hệ thống tấn công quân sự bị xâm nhập, các thảm họa đối với cơ sở hạ tầng và nhiều vấn đề khác.

Theo đó, vào năm 2014, Rod Rasmussen cho rằng khủng bố mạng sẽ hoành hành cùng với những sự cố chủ yếu khởi nguồn từ các thiết bị kết nối Internet. Cụ thể, máy bay không người lái sử dụng trong mục đích tấn công quân sự cũng có thể bị khủng bố chiếm quyền điều khiển, lập trình thay đổi mục tiêu tấn công, máy điều hòa nhịp tim điều khiển từ xa, ô-tô được kết nối Internet có hệ thống điều khiển tự động, thiết bị truyền nước biển (IV drip) có thể bị can thiệp chỉ với “một cú nhấp chuột”.

Các vụ giết người có thể được thực hiện với nguy cơ bị phát hiện hoặc bị kết án là rất thấp. Lịch sử loài người cho thấy, nếu tìm được một cách thức giết người mới, nó sẽ dần dần được sử dụng. Ngoài ra, IID dự đoán về cuộc chiến tranh mạng “với các nước công khai thực hiện các cuộc tấn công gián điệp và phá hoại mạng” cũng có chiều hướng gia tăng, chỉ cần một đợt tấn công vào cơ sở hạ tầng xung yếu như hệ thống mạng lưới điện có thể gây thiệt hại lên đến hàng tỷ USD.

Chủ tịch IDD cho biết, giải quyết được các vấn đề trên cũng sẽ giúp giải quyết những vấn đề bế tắc của Đạo luật An ninh mạng (Cybersecurity Act), cho phép chia sẻ mối đe dọa an ninh mạng giữa các doanh nghiệp và giữa doanh nghiệp với chính phủ. Rasmussen hy vọng Quốc hội sẽ ban hành quy định an ninh mạng mới nhằm đưa ra một khuôn khổ pháp lý đảm bảo an ninh thông tin, cho phép các doanh nghiệp và cơ quan chính phủ chia sẻ thông tin mà không cần lo ngại đến các rủi ro trong tương lai.

trandaiquang.net lược dịch (Nguồn: InfoSecurity Magazine

————————————————–
(VnMedia) – Tác giả của cuốn sách trắng “Viễn cảnh An ninh mạng: Bảo mật và 

Công nghệ thế kỷ 21 – sự kết hợp khó khăn” và cũng là Phó Chủ tịch cao cấp kiêm Giám đốc Bảo mật Toàn cầu Tập đoàn Huawei, ông John Suffolk vừa có chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam đã chia sẻ thông tin trên.

Trong chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam từ ngày 21 đến 23/11/2012, ông John Suffolk, Phó Chủ tịch cao cấp kiêm Giám đốc Bảo mật Toàn cầu Tập đoàn Huawei (Huawei Technologies) đã gặp gỡ các nhà quản lý, chia sẻ với các chuyên gia bảo mật mạng và giới truyền thông của Việt Nam về những kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc xây dựng hệ thống chính sách quản lý, pháp lý về bảo mật không gian mạng.

John Suffolk cũng đã giới thiệu Sách trắng (White Paper) do ông biên soạn có tiêu đề “Viễn cảnh An ninh mạng: Bảo mật và Công nghệ thế kỷ 21 – sự kết hợp khó khăn”. Cuốn Sách trắng đã giới thiệu bức tranh với quan điểm mở và thẳng thắn của Huawei về an ninh mạng, nêu khái quát hướng tiếp cận của Huawei đối với thách thức từ an ninh mạng và chuỗi cung ứng toàn cầu, cũng như những đề xuất giải quyết các vấn đề này theo cách chủ động và thực tế của ngành công nghiệp.

Sách trắng đưa ra một loạt quan điểm và nhận định chủ yếu. Để đưa ra một giải pháp hiệu quả cho toàn ngành và mang tính toàn cầu, cần bình tĩnh ngồi bàn bạc dựa trên thực tế chứ không phải đấu tranh trong chính trị hay trên thương trường.

Theo sách trắng, trong một thế giới với hơn 87% dân số sử dụng di động, trong đó Kho ứng dụng của Apple có trên 25 tỷ lượt tải về, và Kho ứng dụng Google Play có trên 20 tỷ lượt tải về, điều hết sức thực tế đó là an ninh mạng trở thành thách thức ngày càng lớn, đòi hỏi phải có những giải pháp toàn diện và hợp lý.

An ninh mạng không phải là vấn đề của riêng một quốc gia hay một doanh nghiệp cụ thể nào. Tất cả những người có liên quan, như các quốc gia và ngành công nghiệp cần nhận thức được rằng an ninh mạng là vấn đề chung của toàn cầu đòi hỏi phải có các biện pháp tiếp cận dựa trên rủi ro, các quy trình tiêu chuẩn và hợp tác quốc tế nhằm vượt qua thách thức.

An ninh mạng là một vấn đề toàn cầu. Việc truyền tải và xử lý dữ liệu là một hoạt động toàn cầu và lưu lượng dữ liệu không theo các ranh giới quốc gia hay các phán quyết lãnh thổ của chính phủ hay tòa án.

Đặc biệt, cuốn sách cũng nêu ra quan điểm của Huawei, Tập đoàn Huawei không, và sẽ không, hỗ trợ, tha thứ hoặc tiến hành các hoạt động có chủ định lấy cắp những thông tin nhạy cảm liên quan đến bất kỳ quốc gia, công ty hoặc một cá nhân nào hoặc chủ ý cho phép công nghệ của mình được sử dụng cho các mục đích bất hợp pháp.

Vì sự sinh tồn của chính mình, Huawei chưa bao giờ làm ảnh hưởng đến bất kỳ quốc gia nào hoặc có ý định lấy cắp, các thông tin tình báo quốc gia, các tin mật của doanh nghiệp hoặc làm phát tán thông tin cá nhân và Huawei sẽ không bao giờ hỗ trợ hoặc tha thứ cho các hành động như trên hoặc hỗ trợ bất kỳ đối tượng nào từ bất kỳ quốc gia nào muốn Huawei thực hiệc các hành động trên mà được cho là bất hợp pháp tại mọi quốc gia…

Nhiều con số ấn tượng cũng được nêu ra trong sách Trắng. Chẳng hạn, tính đến cuối năm 2011, đã có tới 5,96 tỷ người sử dụng di động trên toàn thế giới, chiếm 86% dân số thế giới, tăng 12,3% so với năm 2010. Các ứng dụng viễn thông và Internet ngày càng phổ biến rộng rãi. Thị phần smartphone ngày càng tăng qua các năm. Số ứng dụng cho smartphone đang tăng mạnh.

Số ứng dụng trong kho ứng dụng Apple đạt mốc 25 tỷ lượt tải về; mỗi người dùng iPhone, iPod Touch và iPad trung bình tải về 79 lượt. Tuy nhiên, smartphone sử dụng càng nhiều thì càng có nhiều lý do và phương pháp tấn công chúng. Từ năm 2004-2011, tỷ lệ phần mềm độc hại trên smartphone đã tăng thêm 600%.

Anonymous công bố thông tin bị rò rỉ liên quan tới điện hạt nhân của Việt Nam


 

Ngày 5/7/2012, tổ chức Anonymous đã công bố 1.2 Gigabyte dữ liệu nội bộ từ công ty Innodata Isogen. Tổng cộng có 40 Gigabyte sẽ được phát hành, bao gồm cả thông tin liên lạc của nhà cung cấp dữ liệu kinh doanh Thomson-Reuters vẫn chưa được tiết lộ.

 

any

 

Các thông tin bị rò rỉ chủ yếu chứa các tài liệu từ Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), đặc biệt có tài liệu liên quan đến sự phát triển của một cơ sở hạ tầng hạt nhân tại Việt Nam. Những tập tin này bao gồm các tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt, bản scan hộ chiếu công vụ, thông tin cá nhân của một số cán bộ.

Bên cạnh đó Anonymous còn công bố một số tài liệu liên quan tới sự cố điện hạt nhân Fukushima.

 

(Theo Par-anoia)

http://www.vnisa.org.vn

Đi tìm bản sắc võ Việt – Những bí ẩn chưa được giải mã


 

 

Theo võ sư Lê Kim Hòa, trong dân gian còn rất nhiều bài võ hay, chiêu thức lạ cùng các phương thức luyện khí, luyện công đặc sắc. Việc tiếp tục tìm kiếm, sưu tầm những tinh hoa võ thuật còn tản mát vẫn đang tiếp tục.

Võ sư Đoàn Thọ Sơn và võ sư Phan Văn Quảng phân thế Độc lư thương – Ảnh: C.T

Xin nhắc lại một chút về bài Hùng kê quyền. Đây là bài quyền mô phỏng các thế đánh của gà chọi (gà nòi) sáng tạo nên. Tương truyền tác giả là Nguyễn Lữ, một trong Tây Sơn tam kiệt vốn lừng danh về võ nghệ. Bài quyền này nghe truyền tụng đã lâu, nhưng không ai biết hình bóng ra sao, tưởng chừng đã vĩnh viễn thất truyền.

Bất ngờ tại hội nghị chuyên môn võ thuật cổ truyền lần thứ nhất năm 1993, lão võ sư Ngô Bông truyền nhân Hùng kê quyền xuất hiện. Nhìn các thế đánh và nghiên cứu lời thiệu, hội đồng các võ sư nhận định bài quyền còn giữ được nguyên bản và chọn ngay vào hệ thống các bài võ thống nhất.

Còn biết bao nhiêu cái hay, cái đẹp của võ dân tộc chưa được nhận diện, nghiên cứu? Thử nêu lên một vài công phu lạ tồn tại trong dân gian từ lâu đời. Đó là môn võ gồng. Ngay cả từ điển tiếng Việt cũng có đề cập: “Thuật lên gồng cho là có thể làm cho đánh vào người không biết đau, thậm chí chém vào người không đứt”. Điều này làm chúng tôi nhớ lại lời của võ sư Lê Văn Kiển (Tám Kiển) chưởng môn võ phái Nam tông lúc còn sống: “Ngày xưa theo thầy học võ còn bị đao, kiếm chém chảy máu thì chưa được hạ sơn”. Nghe giống như công phu Thiết bố sam của Thiếu lâm tự luyện cho thân thể đạt đến tầng công đao thương bất nhập.

Thầy Tám Kiểng kể lúc lên Sài Gòn làm quản lý cho sòng bạc Đại thế giới, có lần ông bị đám giang hồ dùng mã tấu chém xả xuống vai. Thấy ông lên gồng và tỉnh rụi, bọn chúng liền tháo chạy, từ đó không dám đụng tới ông nữa. Lúc ở độ tuổi bát tuần, ông vẫn còn minh mẫn nhanh nhẹn, và có biểu diễn thử để chứng minh gồng là có thật.

Chúng tôi nhớ lúc còn nhỏ theo thầy học võ, chưa từng nghe nói đến khái niệm về nội công. Nhưng võ gồng trong dân gian thì nghe nói đến rất nhiều. Rồi có lần chúng tôi chứng kiến một đàn ông trung niên bị một đám thanh niên du đãng dùng cây, gậy vây đánh ở khu Trại Bò cạnh QL1 chạy ngang TX.Tuy Hòa. Chỉ thấy người đàn ông rùng chân xuống bộ đưa hai tay che đầu chịu đòn. Tưởng đâu nhịn cho qua chuyện, không ngờ thấy đám du đãng quá hung hãn, bất ngờ ông chớp nhoáng tung đòn, trong nháy mắt đám thanh niên đều bị hạ gục. Đám đông mục kích có người kêu to lên: Võ gồng! Lúc ấy chúng tôi nhìn thấy mà thán phục lắm.

Sau này trao đổi với nhiều võ sư, họ đều có chung nhận định võ gồng là môn khí công thượng thừa hoàn toàn của người Việt, được che đậy dưới lớp vỏ thần bí. Đó là phép vận động các bộ phận cơ thể kết hợp vận khí cùng cách xúc cốt, tán cốt làm cho gân cơ xương khớp và da thịt trở nên rắn chắc như sắt thép. Đến nay môn võ này vẫn còn nằm trong màn bí ẩn!

Một môn võ khác không kém phần bí hiểm hay được nhắc tới trong những lần cao đàm khoát luận về võ học ở các miệt vườn. Công phu này có tên rất dân dã gọi là môn trói bộ. Đó là kỹ thuật trói, khóa không cần đến dây cột, làm cho kẻ bị bắt giữ không thể cựa quậy, cử động. Có người giải thích trói bộ là kỹ thuật đánh tháo khớp vai, khớp chỏ, khớp đùi rồi bẻ quặt chân tay ra sau bắt phải nằm yên. Giống như người ta vẫn thường khóa chéo hai cánh gà, làm cho gà không thể chạy dù không dùng dây nhợ gì. Hoặc đó có thể là một kỹ thuật điểm huyệt làm cho cơ thể tê liệt, bất động chăng?

Võ gồng là môn khí công thượng thừa hoàn toàn của người Việt, được che đậy dưới lớp vỏ thần bí

Mới đây chúng tôi có gặp võ sư Nguyễn Ngọc Hùng, là thầy dạy của nữ võ sĩ Trần Hiếu Ngân đoạt huy chương bạc tại Olympic Sydney 2000. Hôm ấy bên bờ biển giữa tiếng sóng ầm vang, võ sư Hùng tiết lộ: “Hơn mười năm theo đuổi tôi đã học được môn trói bộ từ một vị đại tá đặc công đã nghỉ hưu. Đây là kỹ thuật bí truyền của võ Việt, ít truyền dạy ra ngoài”. Khi chúng tôi đề nghị hãy thử biểu diễn với cậu học trò của ông là đại úy công an Nguyễn Bảo Quốc, ông nói món này “sống để dạ, chết mang theo” không thể đem ra thử được!

Có một câu chuyện không kém phần thú vị nữa là giả thuyết về sự tương đồng giữa kỹ thuật võ Tây Sơn và võ muay Thái. Người nêu giả thuyết này là bác sĩ Trần Đại Sỹ vốn am tường võ học, làu thông cổ sử và dịch lý, sử dụng được nhiều thứ tiếng. Ông sống ở nước ngoài và có điều kiện nghiên cứu, đối chiếu so sánh. Theo ông đời nhà Trần võ học Việt Nam đạt đến đỉnh cao với nhiều phái võ lớn gọi chung là dòng võ Đông-a. Triều đại nhà Hồ tiếp thu và kế nghiệp dòng võ này. Khi Hồ Quý Ly bại trận, con cháu phải chạy về lánh nạn ở Nghệ An vốn là vùng đất phát tích họ Hồ. Nơi đây xưa gọi là đất Cửu Chân có nhiều dòng võ Việt cổ sơ còn giữ nguyên gốc. Con cháu họ Hồ đã phối hợp võ Đông-a và võ Cửu Chân tạo ra dòng võ mới. Đây là môn võ có tính sát thủ dữ dội, khắc tinh của các phái võ Trung Quốc như Đường lang (Thoong loòng), Tung sơn Thiếu lâm.

Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, quân chúa Nguyễn từng vượt qua sông Linh Giang bắt một số dân đưa vô Nam khai hoang lập ấp. Hậu duệ họ Hồ đã đứng chân ở vùng đất Tây Sơn – Bình Định và khai sáng nên dòng võ Tây Sơn sau này. Điều đó giải thích tính thiện chiến của các đạo quân Tây Sơn từng đánh cho quân Xiêm La và quân Thanh thất điên bát đảo.

Khi Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, nhiều tướng lĩnh bỏ trốn sang đất Xiêm La ẩn náu. Họ đã truyền bá võ thuật và hình thành nên môn muay Thái. Đây là môn võ có đòn thế khốc liệt và nhiều nét tương đồng với võ Tây Sơn. Bác sĩ Trần Đại Sỹ khẳng định ông đã sang Thái Lan nghiên cứu, thấy tại các tổng đường võ phái bài vị thờ các tổ sư đều đề chữ Nho, tên các tổ là người Việt.

 

 

Nguồn: Cao Thụ – Thanh Niên Online

 

GS. Trần Văn Giàu, người thầy mà tôi học mãi.


Lê Sơn
 Khi còn học trung học ở tỉnh nhà miền Trung, bên ngoại tôi có người ông, từ đầu thế kỷ XX, vào Sài Gòn làm nghề thợ may, đến khi gần 70 tuổi, ông giao tiệm may cho con gái, trở về ở nhà thờ họ tộc dưỡng già. Trong họ có 4 cụ tuổi suýt soát nhau, qua lại trà thuốc, đánh cờ, chuyện trò. Mỗi sáng sớm, 4 cụ kéo nhau ra bờ sông Trà Khúc hóng nắng ban mai, có khi họ nối lưng nhau đi bộ 2 cây số qua tỉnh lỵ ăn don rồi mới về. Trông 4 cụ ai cũng khen khí cốt tiêu sái, tiên phong đạo cốt.

Nhà thờ họ ngoại tôi, gần tỉnh lỵ, vườn tược rộng rãi, con cháu nội ngoại các nhà ở xa, thường về nhà thờ họ ăn ở đi tỉnh học cho tiện. Chúng tôi được giao nhiệm vụ bưng bê cơm nước, trà thuốc phục vụ các cụ, nên thường la cà hóng chuyện các cụ. Chúng tôi thích nghe chuyện của cụ thợ may Sài Gòn, vì ông lưu lạc Sài Gòn gần 60 năm, lưu trữ cả kho chuyện lạ mà bọn thiếu niên chúng tôi rất thích nghe. Ông thường nhắc đến Trần Văn Giàu như một nhân vật hùng biện đến huyền thoại. Ông nói, bấy giờ Sài Gòn vừa khởi nghĩa Tháng Tám thành công, nhiều phe phái nổi lên lắm, phe anh chị trộm cướp có, phe quốc gia tư sản có, phe cộng sản đệ tứ có… Họ xưng hùng xưng bá gây rối ren lắm. Chỉ có Trần Văn Giàu mới khóa miệng chúng được. Rồi ông kể những cuộc diễn thuyết của Trần Văn Giàu trước cả trăm ngàn thính giả mà ông được dự. Ông ca tụng Trần Văn Giàu như một vị anh hùng cứu nước đầy tài năng, nào Trần văn Giàu đã từng du học Pháp, du học Liên Xô, được Bác Hồ cử về nước lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tháng Tám thành công ở Nam bộ.

Bấy giờ là những năm đầu của thập niên 60, miền Nam do chính quyền Ngô Đình Diệm quản lý, ai nhắc đến Bác Hồ là bị tù. Ông thợ may Sài Gòn cũng chỉ dám nói những chuyện ấy trong gia đình họ tộc. Tôi vừa hơn 10 tuổi, thích nghe chuyện anh hùng, hình ảnh người anh hùng Trần Văn Giàu chiếm một vị trí rất lớn trong tâm hồn tôi.

Ông thợ may Sài Gòn là em ruột Cử nhân Nguyễn Đình Quản. Ông Cử Quản tham gia lãnh đạo phong trào khất thuế ở Quảng Ngãi bị tù Côn Đảo, chung thân biệt xứ, hy sinh ngoài Côn Đảo năm 1913. Trong tác phẩm “Thi tù tùng thoại” nổi tiếng, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhắc nhiều đến Cử Quản, ca ngợi Cử Quản là một con người có chí khí và đởm lược. Cử Quản bị tù, các em ông phần lớn bỏ xứ vào Sài Gòn sinh nhai và dễ dàng hòa nhập vào các phong trào yêu nước tại chỗ. Ông thợ may Sài Gòn có 2 người con, người con trai ra đi từ những ngày đầu Nam bộ kháng chiến và hy sinh trong thời chống Pháp ở trong Nam, chưa vợ con chi. Ông thương tiếc mãi người con trai, nên đến tuổi già, ông tìm về sống nơi quê nhà, giữa bà con họ tộc, xóm giềng cho đỡ nhớ con, như ông nói, mà còn để đỡ cô đơn, nhưng ông không bao giờ nói ra.

 

o0o

 

Đến những năm cuối thập kỷ 80, tôi theo học lớp “trên đại học” lần đầu tiên mở tại TP.HCM, có nhiều vị thầy đáng kính nổi tiếng giảng dạy, trong đó có những khuôn mặt nổi bật như Giáo sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Trần Đức Thảo, Giáo sư Vũ Khiêu, Giáo sư Phạm Đức Dương, Giáo sư Văn Tạo, Giáo sư Phan Lạc Tuyên…

Tôi thích lối giảng bài đầy nhiệt thành của thầy Giàu, tôi khâm phục sự uyên bác và lý luận khúc chiết của thầy Giàu. Thầy mở ra cho chúng tôi một khung trời văn hóa tư tưởng rất rộng lớn, nhưng tôi nhớ mãi câu thầy nói đại khái là:

“Kho kiến thức của nhân loại ngày nay vô cùng phong phú, nhiều tác phẩm giá trị mà thanh niên ta cần phải tiếp cận. Phải nhanh chóng chuyển thành tiếng Việt cho mọi người cùng tham khảo thì kiến thức mới sâu rộng. Đối với nước ta công việc dịch thuật là hết sức cần thiết hiện nay. Thanh niên ta không thể chỉ đọc những gì cha chú ta viết, mà thanh niên ta cần đọc càng nhiều những tác phẩm vĩ đại của nhiều người thuộc các nền văn minh khác viết…”.

Cuối khóa học, tôi vinh dự được lọt vào top ten, rồi ngày phát bằng, tôi lại được đích thân thầy Giàu trao bằng “Cao học Sử”. Làm viên chức Nhà nước cấp quận, ngoài công việc chuyên môn hàng ngày, tôi dành nhiều thời giờ cho sách vở, nhưng rất chung chung. Ngành khoa học lịch sử có đến hàng chục chuyên ngành, mênh mông lắm. Tôi nhớ mãi câu nói trên kia của thầy Giàu và hướng mình vào mũi nhọn dịch thuật. Thế là tôi tập trung trước hết cho chữ Nho, vì trước đây tôi được các thầy Nguyễn Đăng Thục, Trần Trọng San… đánh giá cao về Hán văn, môn này tôi đỗ Bình thứ, mà khóa học ấy chẳng có ai đỗ Bình hoặc Ưu cả. Tôi đã từng được thầy Nguyễn Đăng Thục giao cho dịch một số bài ngắn trong “Ẩm băng thất” của Vương Dương Minh khi tôi học năm thứ tư. Khi ấy thầy chê tôi dịch chưa đạt và giảng giải thêm các chỗ còn yếu. Tôi vẫn thường xuyên đọc sách chữ Nho, Liêu Trai, Nho lâm ngoại sử, Hồng lâu mộng, Tây sương ký… Tôi đã thử dịch trọn bộ “Nho lâm ngoại sử”, dịch dở dang “Liêu Trai chí dị” và một số tác phẩm khác, đều chỉ vì thích mà làm, gọi là cho vui, chứ chưa tính việc theo hẳn nghề dịch thuật, trong khi tôi vẫn an phận với công việc của một nhân viên Nhà nước cấp quận. Tôi vẫn tiếp tục theo chuyên ngành Dân tộc học mà tôi thích, bấy giờ mới có vài ba Phó Tiến sĩ, để rồi đến cuối năm 1995, tôi bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ. Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, Viện trưởng Viện Dân tộc học và Tôn giáo Việt Nam, giáo sư phụ trách phản biện I trong Hội đồng giám khảo chấm bài cho tôi, sau một tháng đọc luận án của tôi, giáo sư bảo riêng tôi:

“Cậu không nên tiếp tục làm việc hành chánh, mà nên chuyển hẳn qua nghiên cứu thì sẽ có ích hơn. Vì cậu rất phù hợp với nghiên cứu, tôi tin sau 10 năm nghiên cứu, cậu sẽ vượt tôi”.

Có lẽ thầy đọc trong luận án của tôi, bài dịch một chương chữ Nho trong Gia Định thành thông chí và bài dịch nguyên một tiểu luận tiếng Pháp của GS Nguyễn Văn Khoan, người Việt Nam lấy học vị Tiến sĩ Sorbonne đầu tiên từ những năm 1920, làm việc ở Viện Viễn Đông Bác cổ. GS Nguyễn Văn Khoan đã bỏ ra trên 10 năm nghiên cứu, viết 32 trang tiếng Pháp về Đình làng và tục lệ cổ của cư dân đồng bằng sông Hồng cực hay, mà chưa ai dịch ra tiếng Việt.

Lời động viên của thầy hết sức ấn tượng, nhưng tôi chưa cảm thấy tự tin lắm, vẫn công việc hành chánh và lan man với đủ loại sách Ta, Tàu, Tây, chưa thể tìm ra hướng đi mũi nhọn thích hợp cho mình.

Thế rồi, nửa cuối năm 2002, Giải thưởng Trần Văn Giàu ra đời, năm 2003 đi vào hoạt động. Giải thưởng do NNC Trần Bạch Đằng làm Chủ tịch, Ủy ban Giải thưởng gồm 7 thành viên. Các Ủy viên UB Giải thưởng Trần Văn Giàu đều là các học giả uy tín trong sử học và triết học, đều có công việc thường xuyên của riêng từng người. Họ đứng trong Ủy ban Giải thưởng TVG là được cụ Giàu và cụ Bạch Đằng mời kiêm nhiệm, vài ba tháng mới họp một lần. Thế là Giải thưởng cần có một nhân viên trực Văn phòng Giải thưởng. Các cụ cũng đã nhắm ít nhất là Thạc sĩ. Điều kiện ấy cũng không khó tìm người, nhưng một Tiến sĩ chịu ngồi suốt ngày suốt tuần, một mình một phòng để trực mà không có lương, chỉ có phụ cấp 500.000 đồng/tháng thì mới khó tìm.

Tiến sĩ, Đại tá Nguyễn Hữu Nguyên, Viện phó Viện Lịch sử quân sự, là người được các cụ nhắm tới trước, nhưng anh đang ôm cả núi công việc của tỉnh Long An, chiến trường mà anh gắn bó thời chống Mỹ. Anh Nguyên lớn hơn tôi 2 tuổi, là bạn đồng môn top ten Cao học Sử năm nào, anh nhắm tôi thay thế anh, anh giới thiệu tôi với Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu và đến thuyết phục tôi:

“Sơn vẫn thường nói là khâm phục cụ Giàu, nay làm lính cho cụ thì hợp quá rồi. Lại còn được làm việc với các vị trong Ủy ban Giải thưởng do cụ Bạch Đằng làm Chủ tịch thì còn gì thích hơn”.

Thế là từ năm 2003, tôi làm thư ký văn phòng của Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu, tức là từ khi Giải thưởng đi vào hoạt động cho đến nay đã hơn 8 năm. Hàng ngày tôi ngồi tại văn phòng Giải thưởng tiếp khách, đọc sách, tổ chức hội họp của các vị với nhau hoặc với khách. Tôi thích nhất là được tỉnh táo quan sát cung cách và phương pháp làm việc của các bậc cây đa cây đề trong sự nghiệp nghiên cứu mà bắt chước. Tôi đọc tất cả các tác phẩm gửi dự giải thưởng, toàn những sách có giá trị đã được đánh giá cao, thì người ta mới gửi tới dự giải.

Được gần gũi với những cây đại thụ trong làng văn hóa Nam bộ, thấy họ làm họ sống, tôi đã học được nhiều, tôi bắt đầu viết và dịch.

Vạn sự khởi đầu nan! Nhưng kiến tha lâu đầy tổ, mỗi ngày tôi lập chí ngồi vào máy khoảng 15 tiếng, đều đặn suốt 8 năm như thế, nên đến nay, tôi đã có trên 10 tác phẩm trình làng.

Điều mà tôi muốn nói ở đây, là ảnh hưởng hết sức lớn mang tính quyết định của cụ Giàu đối với tôi. Hàng ngày, tôi tiếp những vị lão thành đến hỏi thăm sức khỏe cụ Giàu. Tôi đọc thấy nơi các vị khách ấy sự chân tình, lòng yêu mến sâu nặng và tinh thần cảm phục đối với một người luôn luôn cao hơn mình một cái đầu về nhiều phương diện. Đó là những vị xưa kia làm việc dưới quyền cụ Giàu, là các thế hệ học trò cụ Giàu, thậm chí có những vị chỉ nghe đến danh tiếng cụ Giàu. Trong đó, có nhiều vị giữ cương vị cao, thậm chí rất cao trong hệ thống Đảng, chính quyền, Hội, Đoàn Trung ương và các tỉnh, thành từ Bắc chí Nam, đương chức hoặc đã về hưu. Tôi cũng bắt đầu đọc có hệ thống tủ sách khá phong phú của văn phòng Giải thưởng, mà trong đó có đầy đủ sách của cụ Giàu và của các nhà lãnh đạo, của nhiều học giả nổi tiếng viết về cụ Giàu. Bấy giờ tôi đã hơn 50 tuổi, càng đọc tôi càng thấy cụ Giàu lớn quá, làm được nhiều việc quá, chỉ tính riêng trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng.

Tôi bắt đầu lập chương trình cho mình và làm việc một cách cần cù. Khởi nghiệp bằng chữ Nho trước. Phải tìm các bản sách có ích cho văn hóa mà chưa ai dịch. Lúc này, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Nhuận, Phó Viện  trưởng Viện Hán Nôm, qua PGS. TS. Phan An, Viện Khoa học xã hội tại TP.HCM, biết tôi người Quảng Ngãi bảo tôi dịch “Học văn dư tập” của ông quan to kiêm nhà thơ, người đồng hương Trương Đăng Quế. Hòa thượng Thích Phước Sơn, Phó Viện trưởng Viện Phật học TP.HCM, Thượng tọa Thích Đồng Bổn, Ban Phật giáo Việt Nam khuyến khích tôi dịch “Đại Đường Tây vực ký” của thầy Đường Tăng Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh. Tôi nhận lời dịch, chỉ nhờ các sư phụ chỉ dạy thêm và chịu bỏ công nhuận sắc cho. Đến đầu năm 2007 thì hoàn thành bản dịch và nhuận sắc, 2 cuốn sách đã ra đời. Tôi tiếp tục dịch một số tác phẩm chữ Hán có tiếng của các tác giả Nho học nước ta mà chưa ai dịch. Tôi cũng tham gia dịch một số sách Phật học như “Đại bát Niết bàn kinh”…

Nhưng theo cụ Giàu, tôi đã không dừng lại ở việc dịch thuật chữ Hán. PGS. TS. Nguyễn Văn Lịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu, Chủ nhiệm bộ môn Việt Nam học, Đại học Khoa học và Nhân văn TP.HCM, kéo tôi vào kho sách Tây học hiện đại, thuộc chuyên ngành Dân tộc học của tôi. Các sách tiếng Anh, tiếng Pháp đang thịnh hành ở phương Tây mà Việt Nam rất cần nhưng chưa ai dịch. Tôi chủ biên và đồng dịch các tác phẩm “Anthropology: The study of man” (Nhân chủng học: Khoa học về con người), “Anthropological Theory” (Lý thuyết Nhân loại học) và tự mình dịch “Le Japon d Aujourd hui” (Nhật Bản ngày nay).

Những tác phẩm trên rất cần cho thanh niên ta tham khảo, nhưng nguyên tác đều dày cả ngàn trang, lượng tiêu thụ hạn hẹp, nên không thu hút các nhà dịch thuật. Mỗi cuốn sách ấy tôi phải làm hàng nhiều năm trời mới xong, mà thật ra chỉ với cung cách sinh hoạt nghiêm túc, môi trường hoạt động của Giải thưởng Trần Văn Giàu mới giúp tôi nhẫn nại và cầu tiến như thế.

Từ khi đọc một cách có hệ thống các tác phẩm của thầy Trần Văn Giàu và được gần gũi làm việc dưới sự chỉ dạy thân tình của các vị trong Ủy ban Giải thưởng mang tên cụ Giàu, tôi đã có được hướng đi rất rõ ràng cùng với phương pháp làm việc có hiệu quả. Đến nay, sau 8 năm cần cù trong sự ưu ái của các vị là cây đa cây đề, tôi đã có trên 10 đầu sách. Chính thầy Giàu đã mở lối đi cho tôi thật sáng sủa. Tôi mong muốn làm một trò nhỏ của thầy Giàu, dịch ra tiếng Việt các tác phẩm có ích cho văn hóa nước nhà, là thực hiện một chút gì đối với hoài bão vĩ đại của thầy Giàu. Năm nay, đã 62 tuổi, tôi sẽ theo suốt cuộc đời sự nghiệp mà thầy Giàu đã vạch ra cho tôi.

                                                                                                 Ngày 16-12-2010

                                                                       LÊ SƠN (LÊ SƠN PHƯƠNG NGỌC)

LƯỢC SỬ TÊN HỌ NGƯỜI VIỆT


Nguyễn Vy-Khanh

Nghiên cứu tất cả hệ thống tên họ các dân tộc trên thế giới cho
thấy người Việt có lẽ là một dân tộc đầu tiên, cùng với người
Trung Hoa và Ðại Hàn, có một hệ thống tên họ đơn giản và hợp
lý nhất. Người Nhật mải đến năm 1872 mới được quyền có họ,
trước đó chỉ có các ngài đạiđanh (samourais) là có đặc quyền đó.
Theo lịch sử Trung quốc, việc đặt họ tên bắt đầu từ năm 2852
trước Công nguyên, khi vua Phục Hi ra lệnh bắt dân chúng phải
có một “gia tính” hay “tộc tính” để dễ phân biệt các hệ phái gia
đình và định phép tắc hôn nhân. Ðến thế kỷ thứ V trước Công
nguyên ở Trung quốc đã có hai loại “gia tính” được dùng: “tính”
là họ gốc, do cha truyền con nối hoặc do vua ban, và dành cho
nam giới; “thị” là họ cành, tức tên đặt khi mới sanh dùng cho cả
nam lẫn nữ. Giới quý tộc vừa có Tính vừa có Thị, dân giả thì chỉ
có tính. Từ đó phát xuất thành ngữ “bá” hoặc “bách tính”. Con
trai đàn ông xưng “thị” để phân biệt sang hèn, con gái đàn bà
xưng “tính” để phân biệt hôn nhân.
Theo huyền thoại, Lạc Long Quân và các vua Hùng đều rất gần
dân chúng, biết hết sự tình của con dân. Như Lạc Long Quân chỗ
ở là thủy phủ nhưng khi dân cần đến, đứng trên bờ gọi là ngài sẽ
lên giúp dân. Nhân số bành trướng, lãnh thổ Bách Việt cũng
thiên di từ phía nam sông Dương-tử xuống đồng bằng sông
Hồng, hội nhập văn hóa và đồng hóa người Mường và các sắc
dân địa phương. Tuy nhiên văn hóa nông nghiệp nền tảng của
Việt tộc vẫn luôn trội bật. Do đó hơn hai ngàn năm trước, tổ tiên
ta đã nghĩ lập ra “sổ điền” cốt để nhà vua kiểm kê nhân và dân
số hàng năm hoặc theo một thời hạn cố định, mục đích nhằm
phân chia ruộng nương thời đó thuộc về nhà vua. Việc phân chia
này đòi hỏi một sự hiểu biết tường tận từng nóc gia. Với họ và
tên gọi, quan chức triều đình có thể ấn định số người trong mỗi
gia đình. Về sau thêm “sổ đinh” hoặc “sổ bộ”, ghi họ tên chính
thức về hộ tịch từng cá nhân và gia đình. Rồi từ “sổ bộ”, mỗi gia
đình lập một sổ riêng, ghi chú tất cả những việc cưới hỏi, sinh đẻ
và tang ma. Ðó là nguồn gốc của gia phả.
Nếu lịch sử là quá khứ và nền tảng của một dân tộc thì gia phả là
lịch sử hình thành và phát triển của gia tộc. Gia phả phát xuất từ Trung quốc dưới dạng thức “thế bản” từ thời nhà Chu (111-256 trước Công nguyên) trong khi ở Việt Nam có thể gia phả đã có từ trước, nhưng theo lịch sử biên chép thì gia phả xuất hiện từ năm 1026 vào thời vua Lý Thái Tổ, gia phả đầu tiên được gọi là
Hoàng-triều ngọc-điệp. Tục làm gia phả phát triển mạnh ở hai
miền Bắc và Trung, trong Nam rất ít gia đình làm gia phả ở đấy
còn được gọi là “gia phổ” và biến thái thành “tông chi” tức tờ
“tông chi tông đồ” cốt để phân phối gia tài hơn là để phân chia
ngành ngọn của gia đình. Theo ông Dã Lan Nguyễn Ðức Dụ, lý
do là để tránh sự khủng bố của thực dân PhápTrong gia phả, người đứng đầu ngành trưởng (trưởng họ, trưởng tộc) có bổn phận ghi hết những chi tiết về thân thích và dòng dõi; những người con khác sao lại bản gia phả chính đó. Các gia
đình giữ gìn kỹ lưỡng và truyền từ đời cha tới đời con. “Họ” theo
nghĩa gốc có liên hệ với nhà và dưới chế độ phong kiến, nối kết
con người với đất ruộng: một mái nhà, một gia đình, một họ. Họ
và tên của một người định vị trí của cá nhân người đó trong xã
hội, xác định cá thể trong một toàn thể.
Họ tên của người Việt thông thường gồm có theo thứ tự: họ, chữ
lót hoặc tên đệm, và tên gọi. Trừ một vài ngoại lệ, người Việt
thường gọi nhau bằng tên gọi (prénom, petit nom; first name):
bà Nhị, cô Yến, ông Khanh, cụ Mục, cháu Khuê, v.v.

Họ (Tính):
Số họ người Việt rất hạn chế, có khoảng 140 họ khác nhau –
chúng tôi ghi lại trong danh sách ở cuối bài. Do đó có thành ngữ
“trăm họ” (bách tính, còn đọc là “bá tánh”) thời xưa thường dùng
để chỉ dân chúng cả nước. Ông Dã Lan Nguyễn Ðức Dụ trong
cuốn Gia Phả đã dẫn có nói đến ba trăm họ tối đa có thể có
nhưng ông đã không lập danh sách. Cũng theo ông, người Trung
quốc cũng chỉ có ba trăm họ trong khi người Nhật Bản xử dụng
đến một trăm ngàn tên họ khác nhau. Người Pháp gọi “họ” là
“nom de famille” và “patronyme”, người Anh Mỹ, “family name”
và “patronym”.
Những họ Việt Nam thường gặp nhất là Nguyễn, Phạm, Phan,
Trần, Lê, /, Trương, Huỳnh/Hoàng. Nhiều người mang cùng
một họ không có nghĩa là họ có cùng một gốc gác. Thời xưa và
nhất là ở nhà quê, người ta phân biệt nhau bằng cách gọi “họ
Nguyễn làng Tiên Ðiền”, “họ Nguyễn làng Tây Sơn“, v.v. Trong nhiều làng thôn, tất cả mọi người cùng mang một họ. Có người
cắt nghĩa là vì vào thời lập quốc, người Việt chỉ có một tổ tiên
chung là Lạc Long Quân và Âu Cơ. Ðến thời hiện đại, những
người Việt này chứng minh mỗi dòng họ một tổ tiên riêng.
Từ khi bị người Tàu đô hộ, người Việt chính thức theo chế độ
phụ hệ, do đó con cái phải lấy họ cha. Theo dân luật, con phải
lấy họ cha, không có vấn đề tự do lựa chọn. Họ không thể cho
người ngoài họ dùng và trên nguyên tắc không thể thay đổi. Có
hẳn cả một hiệp ước quốc tế năm 1959 về thay đổi họ. Tuy
nhiên trong Nam từ thời Pháp thuộc có khuynh hướng dùng cả
họ cha và họ mẹ mà đặt cho con, thí dụ con đầu lấy họ cha thì
con thứ lấy họ mẹ, anh chị em ruột mà họ khác nhau là vì vậy!

Họ kép:
Nhiều gia đình mang họ kép, như Vũ-Ðỗ Thìn, Ðặng-Trần Huân,
Trần-Lê Quang, v.v.. Tuy nhiên cần phân biệt hai loại họ kép:
– Họ + tên đệm: Các họ Ðặng-Xuân, Ðặng-Vũ và Ngô-Vi, Ngô-
Thời, xuất phát từ một gia đình gốc họ Ðặng và họ Vũ, nhưng vì
muốn phân biệt chi nhánh nên đã thêm tên đệm vào họ. Yếu tố
này không phải là họ, nhưng giữ nhiệm vụ tên lót trung gian giữa
họ và tên. Nhưng những họ đi kèm với tên đệm “Bá, Thúc” phải
được coi như họ đơn, vì những tên lót này chỉ là những chữ lót
chung.
– Họ kép hợp bởi hai họ: Ðây là những họ kép chính thức.
Thường thấy có: Vũ-Ðỗ, Nguyễn-Trần, Trần-Lê, Hồ-Ðặng, Lê-
Phan, Vũ-Phạm, Ðặng-Trần. Vì một lý do nào đó, một người xử
dụng họ kép và truyền lại cho các thế hệ sau. Trước hết là
trường hợp người con nuôi, y thêm họ gia đình cha mẹ nuôi vào
họ gốc. Họ mới đi trước họ gốc. Ðó là hoàn cảnh của nhà thơ
Ðặng-Trần Côn, tác giả Bích-Câu kỳ-ngộ và Chinh Phụ Ngâm
Khúc. Là con nuôi của một gia đình họ Ðặng, ông vốn tên là Trần
Côn. Con cháu thường vẫn tiếp tục giữ họ kép đó. Nhưng có
trường hợp có người con lấy lại họ cũ, như con cháu Vũ-Phạm
Hàm, gốc họ Phạm, làm con nuôi người bạn của cha họ Vũ nên
mới có họ kép là Vũ-Phạm. Về sau, có người còn giữ họ Vũ-
Phạm, nhưng đa số lấy lại họ gốc là Phạm vì ông chỉ truyền họ
kép Vũ-Phạm cho một trong chín người con.
Một lý do khác thông thường hơn. Vua chúa ngày xưa thường cho phép một số quan lại có công với triều đình hoặc đỗ đạt cao
được đổi tên và có khi cho phép theo họ của vua (quốc tính),
xem đó là một cách tưởng thưởng trọng hậu. Có người bỏ hẳn
họ gốc để lấy họ vua như Mạc Cảnh Vinh được chúa Sãi Nguyễn-
Phúc Nguyên cho phép đổi thành Nguyễn-Phúc Vinh. Nhưng
thường người được đổi họ được phép giữ họ gốc ghép vào họ
mới mà thành ra họ kép. Huỳnh Ðức, quan triều đại Gia-Long trở
thành Nguyễn-Huỳnh Ðức. Các con ông là Nguyễn-Huỳnh Thành,
Nguyễn-Huỳnh Thừa, v.v.. Tuy nhiên con gái vẫn giữ họ gốc
Huỳnh vì con gái không mang quốc tính. Chỉ có thời Tống Nho
mới có những phân biệt nam nữ như vậy!
Hiện nay người ta thấy có nhiều họ kép loại nhưng thường gồm
hai họ của vợ chồng dùng đặt cho con cái. Các họ kéo mới này
không thể trường tồn vì không được mọi người và tục lệ chấp
nhận. Hơn nữa, những người con của họ, một khi lập gia đình lại
sẽ đổi họ kép đặt cho con, họ kép của người phối ngẫu mới có
thể là một họ khác.

Nguồn gốc họ người Việt:
– Họ các triều đại: Ða số người Việt mang một họ trong số 16
dòng họ đã từng cai trị lẫy lừng trong lịch sử. Theo thứ tự niên
đại, đó là những họ Thục, Trưng, Triệu, Mai, Khúc, Lý, Phùng,
Kiều, Ngô, Ðinh, Lê, Trần, Hồ, Mạc, Trịnh và Nguyễn. Hoặc họ là
con cháu thật sự của những dòng họ kể trên, hoặc họ xử dụng
như mượn họ hoặc bị bắt buộc mang những họ đó nhưng khác
họ thật.
Có gia đình tự ý đổi lấy họ đương triều để chứng tỏ sự trung
thành. Có người do nhà vua ban cho như Nguyễn Trãi có lúc đổi
tên là Lê Trãi theo họ nhà vua. Một số khác bị bắt buộc phải đổi
họ của triều đại vừa bị lật đổ để lấy họ đương triều để chứng
giám lòng trung thành với triều đại mới. Trong nhiều trường hợp,
triều đình bó buộc dân gian bỏ họ gốc để lấy quốc tính để tránh
những nhóm phản động có ý lật đổ triều đình hay làm loạn đưa
người họ triều triều đại vừa bị lật đổ vào cho có lý do chính trị (ý
trời, “thuận thiên”). Nhà Nguyễn thời Gia Long và MInh Mạng đã
bắt những người họ Lê đổi họ thành Nguyễn chỉ vì thời đó những
kẻ cầm đầu những phong trào phản động mang họ Lê: Lệ
Riêng họ Nguyễn, còn là họ triều đại quân chủ cuối cùng, có
thêm một lý do khác khiến họ này trở nên thông dụng nhưng lại khó hiểu dưới mắt người Tây phương. Ðời Trần Thái-Tông
(1232), sau khi đã đoạt ngôi nhà Lý, Trần Thủ Ðộ lấy lý do tổ
nhà Trần tên Lý, đã bắt tất cả những người họ Lý là họ dòng vua
vừa bị hoán vị, lẩn dân gian, phải đổi làm họ Nguyễn; tuy nhiên
ý đồ thật sự là khai tử dòng vua Lý để sẽ không còn ai nhớ đến
dòng họ Lý nữa.
Ngoài ra, có người cải đổi tên họ vì trốn sưu thuế, trốn lính hoặc
bất đắc dĩ phải đổi lấy họ đương triều vì ông cha bị tội hình như
“tru di tam tộc” – cũng là lý do tại sao ngày xưa khi đi thí phải
khai họ ba đời. Có người đổi họ vì một lý do riêng tư khác. Như
Hàn Thuyên vốn họ Nguyễn, được vua Trần ban cho họ Hàn vì
ông làm bài văn ném xuống sông khiến cá sấu bỏ đi, như chuyện
Hàn Dũ bên Trung Hoa trước đó. Và vì Hàn Thuyên hay làm thơ
phú bằng quốc âm nên về sau các nhà văn học sử có khi gọi thơ
văn chữ Nôm là thơ văn “Hàn luật”. Hoặc như Hồ Quý Ly tổ tiên
gốc người Chiết Giang (Trung Hoa) sang nước ta định cư, đến tổ
tiên đời thứ tư là Hồ Liêm làm con nuôi nhà họ Lê nên đổi lấy họ
Lê. Nhưng khi Hồ Quý Ly dấy nghiệp, ông lấy lại họ Hồ và đặt cả
quốc hiệu là Ðại Ngu vì ông nhận làn dòng dõi nhà Ngu.
Hoặc vì kiên tên húy của vua chúa, nhiều người phải đổi họ, như
ông trạng Hoàng Nghĩa Phú (1511), tổ tiên vì kiêng tên vua Lý
mà đổi ra họ Trịnh, rồi lại phải đổi ra họ Trần; đến đời Trần Khắc
Minh mới đổi lấy lại họ Hoàng. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ
vốn họ Hồ và dòng dõi Hồ Quý Ly, sau lấy họ mẹ là Nguyễn.
Cùng trường hợp với Nguyễn Quang Bích là cháu đời thứ hai của
Ngô Quyền.

Hoàng-tộc (patriline) nhà Nguyễn:
Chúng tôi mở dấu ngoặc bàn về họ gia đình vua nhà Nguyễn
(1802-1945) vì các họ thuộc về gia đình này không khỏi gây thắc
mắc cho nhiều người, nhất là đối với người nước ngoài, như làm
sao họ có thể hiểu cha họ Bửu mà con họ Vĩnh. Dòng chúa
Nguyễn đến đời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635) mới
dùng chữ lót “phúc”. Con cháu gia đình họ Nguyễn này, từ đời
Minh Mạng (1820-1841) trở đi, đã phân biệt nhau theo dòng và
thế hệ bằng nhiều “họ mới” khác nhau. Theo thứ tự, con cháu
cùng một đời mang cùng một họ riêng nhưng luôn hiểu ngầm là
họ Nguyễn. Cứ mỗi “họ mới” là một đời, bắt nguồn từ bài Ðế-hệ
thi của vua Minh Mạng, dùng cho “chánh hệ” (primary royal branch) tức dòng vua Gia Long:
Miên Hồng (Hường) Ưng Bửu Vĩnh
Bảo Quý Ðịnh Long Trường
Hiền Năng Khang Kế Thuật
Thế Thoại Quốc Gia Xương

Thí dụ: Miên Tông (Thiệu Trị), Miên Thẩm Tùng Thiện Vương,
Miên Trinh Tuy Lý Vương
Hồng Nhậm (Tự Ðức), Hồng Bảo (nổi loạn năm 1848), Hồng Dật
(Hiệp Hòa)
Ưng Trình, Ưng Quả, Ưng Kỳ, Ưng Lịch (Hàm Nghi), Ưng Thuyên
Bửu Ðảo (Khải Ðịnh), Bửu Lân (Thành Thái), Bửu Lộc, Bửu Hội
Vĩnh San (Duy Tân), Vĩnh Thụy (Bảo Ðại), Vĩnh Lộc Bảo Long,
Bảo Quốc, v.v.
Như sẽ trình bày trong phần tiếp về chữ lót, cách định họ trước
này bị ảnh hưởng người nhà Thanh (Mãn Châu) lúc đó đang cai
trị Trung Hoa. Vua Minh Mệnh là vị vua nhà Nguyễn chịu nhiều
ảnh hưởng của Trung quốc. Theo phong cách của những người
trong giới vua chúa và quan lại nhà Thanh, một ông tổ dụng
công nghĩ ra đặt saûn chữ lót cho nhiều thế hệ nối tiếp, có khi
cho là do thần truyền mộng. Ðó là nguồn gốc của nguyên tắc “hệ
thi” có thể dùng cho nhiều đời liên tiếp.
Tuy nhiên các họ từ bài “đế-hệ thi” nói trên chỉ được dùng cho
hậu duệ dòng vua Minh Mạng, vì ngoài “dế-hệ thi” vua còn làm
mười bài “phiên-hệ thi” nhắm cho mười ông hoàng anh em của
vua. Tưởng cũng cần biết, vua Gia Long có cả thảy 13 hoàng
nam; vua Minh Mạng tên Nguyễn-Phúc Ðãm là hoàng tử thứ tư
và trưởng nam là hoàng tử Cảnh đã qua đời lúc trẻ tuổi. Sau khi
phổ biến 10 bài “phiên-hệ thi” thì Quang-Oai Công, ông hoàng
thứ 10 cũng chết trẻ, còn một số ông hoàng khác cũng tuyệt tự
sớm hoặc từ đời thứ hai. Ðó là lý do tại sao đến nay trong thực
tế chỉ có bốn bài “phiên-hệ thi” được dùng cho hậu duệ bốn ông
hoàng kể sau:
– AnhÐuệ Hoàng Thái-tử (Nguyễn-Phúc Cảnh, hoàng trưởng-tử
của vua Gia Long):
Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng Liên Huy Phát Bội Hương
Linh Nghi Hàm Tấn Thuận
Vỹ Vọng Biểu Khôn Quang
Hoàng-tử Cảnh mất khi 22 tuổi, ông có hai con trai: Mỹ Ðường bị
chú là Minh Mạng kết tội và giáng làm dân đinh, con cháu chỉ
được phụ chép vào sau tôn-phả, và người con thứ hai Mỹ Thùy
mất sớm. Kỳ-Ngoại Hầu Cường Ðể và các con ông là Tráng Cử,
Tráng Liệt, Tráng Ðinh thuộc nhánh (phòng) này.
– Kiến-An Vương (hoàng tử thứ năm):
Lương Kiến Ninh Hòa Thuật
Du Hành Suất Nghĩa Phương
Dưỡng Dĩ Tương Thức Hảo
Cao Túc Thể Vi Tường
Kiến-An quận-công Lương Viên cũng như ông Hòa Giai và con
Thuật Hanh, Thuật Hy thuộc phòng này.
– Ðịnh-Viễn Quận-vương (hoàng tử thứ sáu):
Tĩnh Hoài Chiêm Viễn Ái
Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha
Nghiêm Khắc Do Trung Ðạt
Liên Trung Tập Bát Da
Ông Tĩnh Cơ cũng như Chiêm Nguyên và các con Viễn Ngô, Viễn
Cẩm, Viễn Tống hay ông Chiêm Tân và con Viễn Bào đều thuộc
nhánh này.
– Từ-Sơn Công (hoàng tử thứ mười ba):
Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm
Phu Văn Ái Diệu Dương
Bách Chi Quân Phụ Dực
Vạn Diệp Hiệu Khuông Tương
Từ Ðàn, Thể Ngô cũng như giáo sư Dương Kỵ và con là Quỳnh
Trân, ông Dương Thanh và con Quỳnh Nam đều là hậu duệ con
trai út của vua Gia Long.
Các bài “phiên-hệ thi” và “đế-hệ thi” đồng thời là những bài thơ
chữ Hán đúng niêm luật và có ý nghĩa; tài của “tác giả” là ở đó, không một chữ trùng điệp. Ở mười một bài tứ tuyệt! Người ta
vẫn tương truyền là “ngự chế” do thần mộng! Các bài này năm
1823, được vua Minh Mạng ra lệnh cho khắc lên một cuốn sách
kim-loa.i (“kim sách”) bằng vàng ròng cho bài “đế-hệ thi” và
muời cuốn bằng bạc (“ngân sách”) cho mười bài “phiên-hệ thi”.
Các kim và ngân sách này được bảo trì kỹ lưỡng cho đến thời Tự
Ðức thì phần lớn phải nấu ra kim loại để trả nợ chiến phí bốn
triệu đồng cho Pháp và Tây-ban-nha theo hiệp ước Nhâm-tuất
(1962). Không ai biết sự thật ra sao vì đến ngày Bảo Ðại, vị vua
cuối cùng của nhà Nguyễn thoái vị, các sách kim loại này đã biến
mất!
Vua Minh Mạng cũng quyết định rằng hậu duệ của Triệu-tổ Tịnh
Hoàng-đế Nguyễn Kim mà không phải là hậu duệ ngành vua Gia
Long, tức hoàng tộc “tiền hệ”, thì chỉ dùng họ “Tôn-thất”. Riêng
về nữ giới hậu duệ của vua Minh Mạng thì dùng các cách gọi sau
đây, thay đổi theo thứ tự thế hệ:
o  Công-chúa : chị em vua Minh Mạng
o  Công-nữ : con của vua
o  Công tôn-nữ: cháu của vua
o  Công-tằng tôn-nữ : chắt của vua
o  Công-huyền tôn-nữ: chít của vua
o  Lai-huyền tôn-nữ : con của chít của vua MM.
Người trong hoàng tộc thuộc “đế-hệ thi” thường không để
“Nguyễn-phúc” hay “Tôn-thất” phía trước họ mới như Bảo Long,
Bửu Dưỡng, Ưng Quả,… trong khi những người thuộc “phiên-hệ
thi” thì lại hay dùng “Tôn-thất” trước họ mới như Tôn-thất Viễn-
Bào, Tôn-thất Dương Kỵ,…
Nói chung, các “họ mới” này giúp đoán biết người nào thuộc
hoàng tộc nhà Nguyễn và là hậu duệ của ngành Gia Long, Minh
Mạng hay Nguyễn Kim. Tuy nhiên, các “họ” này không thật là
“họ” theo nguyên nghĩa, do đo chúng tôi sẽ không ghi vào danh
sách các họ ở cuối bài. Riêng con cháu dòng nhà Lê cũng có một
hệ thống tên lót “Cam, Hồng, Phước” để phân biệt thế hệ, tuy
nhiên chúng tôi chưa tìm được tài liệu (*) để có thể xác nhận.

Họ dân gian:
Trong số “trăm họ” hiện được dùng, có chừng 30 họ là gốc Việt
hoàn toàn, lúc đầu vốn là họ bộ tộc. Chúng tôi nói “họ” Việt mà không nói “người” Việt vì đến nay, mấy ai có thể chứng minh là
thuần “len” hay “máu” Việt.
Ngược dòng lịch sử, Việt tộc xuất phát từ đồng bằng phía Nam
sông Dương-tử bên Tàu. Bị người Hán xâm chiếm, tổ tiên ta đã
phải thiên cư xuống phía Nam và lập quốc ở vùng đồng bằng
sống Hồng, Bắc Việt. vào khoảng thế kỷ thứ IV trước Công-
nguyên. Từ năm 1069, người Việt nam tiến chiếm toàn thể nước
Chiêm-Thành năm 1693 và chiếm đóng phần đồng bằng phía
đông Cam-Bốt tức Thủy Chân-Lạp năm 1759. Cuộc Nam tiến đã
dừng lại khi người Pháp chiếm đóng và thành lập Ðông dương
thuộc địa. Phần khác, nước ta từng bị nhà Hán và các triều đại
Trung quốc sau đó đô hộ cả ngàn năm, một số quân lính sang
đất Giao Chỉ rồi ở lại lập gia đình sanh con đẻ cháu. Mặt khác
nữa, nước ta đã từng đón nhận nhiều người Hoa đến tị nạn hoặc
di trú. Ðáng kể nhất là quần thần nhà Minh tới định cư ở Nam
Việt ta sau khi bị người Mãn Châu (Thanh) xâm chiếm nước họ.
Ðó là lý do lịch sử của một số họ Việt gốc Hoa như Khổng, Lưu,
Trương, Mai, Lâm, Lữ, Nhan, Sử, Tăng, Trịnh, Vương, v.v. hoặc
gốc Miên như Thạch, Sơn, Danh, Kim, Lâm là năm họ nhà
Nguyễn đã ban cho, hoặc gốc Chàm như Chế, Chiêm, v.v. hoặc
họ của đồng bào thiểu số (trong nước hiện gọi là “dân tộc”) như
Linh, Giáp, Ma, Ðèo, Kha, Diêu, Vi, Quách, Nông, Chữ, Ngân,
Ông, Trà, Lang, Lục, sầm, v.v.

Ý-NGHĨA HỌ NGƯỜI VIỆT:
Tất cả họ Việt Nam đều có một ý nghĩa ngữ nguyên. Trong số
“trăm họ”, có những họ xưa tới ba bốn ngàn năm, vào thời đại
mà mỗi bộ tộc có một tượng vật riêng, hoặc cây cỏ hoặc cầm
thú. Sau đó những tên biểu hiệu tượng vật đó được một số gia
tộc dùng làm họ, thí dụ họ Âu. Một số khác biểu tượng nghề
nghiệp như họ Ðào (thợ gốm), hoặc cách sinh sống của bộ tộc,
như họ Trần. Một số biểu tượng nơi bắt gốc bộ tộc hoặc gia đình.
Họ lúc đầu là họ bộ tộc, đó là lý do người Anh và Pháp gọi là
“patronym(e)” để phân biệt với “nom de famille / family name”.
Lúc đầu được ghi chép bằng chữ Hán, sau thêm chữ Nôm rồi
“quốc ngữ” hóa, họ người Việt theo dòng lịch sử bị nhiều ảnh
hưởng, đã biến đổi hoặc hiểu sai lạc, khiến cho người thời nay
khó hiểu được ý nghĩa sơ nguyên của họ. Cùng một phát âm như của ngày hôm nay, chưa chắc một chữ đã gợi lên cùng một ý
nghĩa, như các họ Ðinh hiện được hiểu là “công dân”, “người”.
Quách nghĩa là vật chắc chắn, có sức đối kháng mà cũng có
nghĩa là “lớp thành ngoài”. Họ Lê vốn nghĩa là “dân chúng” nói
chung.
Vì những lý do đã nêu, các họ được ghi chép lại, được hiểu là
phải viết như một danh từ chung, nhưng không nên hiểu là có
cùng một ý nghĩa như danh từ đó. Cũng như người Pháp có các
họ Boucher, Boulanger … có thể từ nguyên gốc để chỉ những
nghề của tổ tiên họ. Các chữ không nhất thiết phải gợi lên hành
động, trạng thái hoặc đối tượng của danh từ, nhất là từ khi có
chữ quốc ngữ la-tinh, các chữ gợi hình ít hơn và cũng dễ gây
hiểu lầm hơn. Tên họ ghi chép trong các từ điển hiện nay nên
được xem như không có ý nghĩa chắc chắn, vì thế ta không thể
khẳng định họ viết như thế phải nghĩa là thế này hoặc họ đó
tương đương với danh từ chung diển tả sự vật hoặc hành động.

Phần II

Yếu tố tạo thành
tên họ người Việt
Ðặt tên cho con hoặc để gọi một người nào, người Việt vẫn dùng
một họ đơn hoặc kép, một chữ lót hoặc tên đệm biểu chỉ tính
giống hoặc chữ lót chung và một tên (gọi) đơn hoặc kép. Cách
dùng này có từ thời lập quốc, ít ra là từ khi có sách sử và thư
tịch. Tuy nhiên ngày xưa và nhất là ở một số tỉnh miền Trung,
người đàn ông thường có tên họ đơn giản chỉ gồm hai thành tố
mà thôi, tên và họ : Trần Ðiền, Bùi Kỷ, Nguyễn Du, Võ Hồng, …
Ở trên chúng tôi đã trình bày về lai lịch và các loại họ đơn và
kép. Trong phần này chúng tôi nói đến các yếu tố chính gồm tên
lót và tên gọi cũng như những loại tên khác người Việt vẫn dùng
để cá nhân hoặc độc đáo hoá chính mình.

1. CHỮ LÓT :
“Chữ lót” hay “tên đệm” trong tiếng Anh thường gọi là “middle
name” nhưng đúng ra phải là “padding/qualifying name”. Tiếng Pháp có thể là “nom interme’diaire” hay “mot intercalaire”. Chữ
lót đã được xử dụng từ thời lập quốc xa xưa : ngư phủ Chử Cù
Vân trong huyền thoại Chử Ðồng-tử và công chúa Tiên Dung thời
vua Hùng (2 tới 3 ngàn năm trước Công-nguyên), anh bà Triệu
Ẩu (248) tên gọi là Triệu Quốc Ðạt.
Chữ lót hoặc tên đệm thường được xử dụng nhất là “văn” và
“thị” phân biệt phái nam với phái nữ. “Văn” nghĩa là “người có
học”, “nhà nho”. “Thị” có nghĩa là “đàn bà”. Có thuyết lịch sử cho
rằng “thị” phát sinh ra gốc họ hàng (thị tộc), có ý ám chỉ nhờ
người đàn bà mà tộc họ được tồn tại và kéo dài. Theo một số
nhà ngữ học, “văn” và “thị” có nghĩa là “con trai của…”, “con gái
của…” và là dấu vết ảnh hưởng văn hóa Mã Lai. Cách phân biệt
nam nữ tiện lợi và dễ hiểu này không còn được người thời nay
yêu chuộng lắm, vì người ta cho là thiếu cá tính. Do đó người
Việt nay có khuynh hướng chọn những chữ lót khác, hay, đẹp và
được chủ quan xem là thích hợp hơn với từng cá nhân.
Sự thay đổi này có thể có nhiều mục đích: làm rõ nghĩa tên gọi,
tạo một âm hưởng dễ nghe, hoặc tạo giây liên lạc họ hàng.
Ngoài “văn” và “thị”, những tên lót chung thường thấy dùng là:
phúc, đình, ngọc, bá, thúc, cao, công, huy, như, tường, anh,
đức, sĩ, viết, quang, …
Một loại chữ lót thứ ba dùng để chỉ thứ tự con cái cùng một gia
đình và chỉ dùng cho con trai: “Mạnh” cho con cả, “Trọng” cho
thứ nam và “Quý” cho con trai thứ ba trở đi. Mạnh, Trọng, Quý
vốn gốc chỉ ba tháng của một mùa theo âm lịch. Cách dùng này
đã thành thông thường dù nguyên gốc, “Mạnh” dùng cho con cả
dòng thứ trong khi “Bá” mới là con cả dòng trưởng. Tuy nhiên
Bá, Trọng, Quý còn có những nghĩa khác tùy tên gọi đi sau chứ
không nhất thiết thuộc vào ý nói trên. Thí dụ Bá Tòng, Trọng
Kiều (cầu nặng), Quý Châu. “Giáp” và “nguyên” cũng thuộc loại
chữ lót này, dùng để chỉ con trai đầu lòng, thí dụ : Lê Giáp Hải,
Vũ Nguyên Khang.
Loại chữ lót thứ tư dùng để phân biệt các ngành cùng một gia
đình gốc mà ra. “Bá”, “Thúc” thường được dùng trong loại này.
“Bá” dùng đặt cho con nhà bác hoặc dòng trưởng, “Thúc” con
nhà chú hoặc dòng thứ. Ngoài ra, cũng cùng một mục đích kể
trên, một số gia đình dùng những chữ lót khác như “Vi, Thời”,
“Xuân, Vũ” : Ngô Vi Thụ, Ngô Thời Nhậm và Ðặng Xuân Quang,
Ðặng Vũ Biền. Một số gia đình khác, thường thuộc giới quan cách, sáng chế chữ
lót để phân biệt thế hệ: tất cả con cái một thế hệ sẽ mang cùng
một chữ lót. Chế độ đặt tên này rất bành trướng bên Trung-Hoa
trong giới quan lại, bắt chước người Mãn Châu tức nhà Thanh lúc
bấy giờ. Một ông tổ dụng công đặt chữ lót cho nhiều đời nối tiếp,
theo nguyên tắc “hệ thi” chúng tôi đã trình bày ở phần trên,
khiến con cháu dù tẩu tán lập nghiệp phương xa cứ nhìn chữ lót
là nhận được họ hàng và biết thuộc thế hệ thứ mấy để tiện bề
xưng hô. Thường những chữ lót định trước này được ghi trong
gia phả để con cháu đời sau biết mà theo, dưới hình thức những
câu thơ 4 hoặc 5, 7 chữ. Theo thứ tự, những chữ này trở nên tên
đệm. Và đến thế hệ cuối cùng, phải nghĩ ra những tên đệm khác
!
Ở Việt Nam có họ Dương Khuê (Hà Ðông) đã phỏng theo cách
này. Ông đã đặt một bài hệ thi gồm 16 chữ, mỗi thế hệ cứ dựa
vào đó mà đặt tên lót: Dương Tự Quán, Dương Tự Ðề > Dương
Thiệu Tống, Dương Thiệu Tước > Dương Hồng Tuân, Dương
Hồng Phong > Dương Vân Hán, v.v.
Về phần phái nữ, ngoài chữ lót thông dụng “thị” còn thấy dùng
những tên lót khác như “Nữ” và “Diệu”, chữ lót sau thường dùng
ở Huế : Lê thị Diệu Trang, … Ở thời hiện đại, tên phụ nữ thường
mất hẳn chữ lót “thị” và nhiều chữ lót khác được dùng như :
ngọc, thanh, mỹ, thu, tuyết, v.v. dù các chữ lót này không hẳn
chỉ dùng cho phái nữ. Nữ có thể là Vũ Ngọc Lan, Trương Thu
Thủy, Nguyễn Mỹ Dung, … trong khi Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn
Thành Công, … rõ là nam giới !

2. Tên Gọi (Danh) :
Tên gọi còn được gọi là “tên đẻ”, đặt khi mới sinh và “tên bộ”,
tên ghi ở sổ Bộ. Tên, người Pháp gọi là “prénom” và người Anh,
Mỹ gọi là “first name” (hay “personal name”) vì đặt trước họ,
trong khi người Việt cũng như nhiều dân tộc Á đông khác, tên
được đặt sau họ. Một lý do là truyền thống tôn kính gia tộc họ
hàng trên trước cá nhân.
Tên thường được chọn một cách tự do hơn. Một cách tổng quát,
người nhà quê và bình dân chỉ lựa một tên (đơn, tức độc văn
danh), người giàu hoặc có học hoặc tự cho sang trọng hoặc học
làm sang, thì có khuynh hướng đặt tên kép (song văn thanh). Ý
nghĩa tên gọi trong trường hợp sau cùng này nằm trong cả hai hoặc ba yếu tố tạo nên tên gọi. Tên gọi kép thường dễ tìm thấy
trong các từ điển, thí dụ : Hào-Kiệt, Tuấn-Kiệt, Anh-Hùng,
AnhÐũng, Bạt-Tu.y, Kỷ-Cương, An-Khang, Chi-Lan, Diễm-Kiều,
Ðoan-Trang, Tinh-Hoa, v.v.. Cùng trường hợp với một số chữ lót
như “ngọc, thanh, …”, nhiều tên gọi có thể dùng cho cả nam lẫn
nữ vì nói chung toàn bộ tên họ của một người thường mới cho
biết người đó là nam hay nữ : Hiền, Tuyền, Kim, Hoàng, Nhân,
v.v.
Trên lý thuyết, mỗi người có một tên gọi khác nhau. Khác, vì tùy
theo tín ngưỡng hoặc tư tưởng người ta muốn gán cho tên gọi,
hoặc tùy theo tính tình và trí tưởng tưỡng của người đặt tên. Mỗi
người có thể đặt tên cho con cháu hoặc đổi tên mình theo ý
muốn, cả những tên kỳ dị hay đặc thù không giống ai. Tên đơn
giản thường thấy ở giới bình dân hoặc ở thôn quê như: Ổi, Mít,
Tèo, Bướm, Tí, Hĩm, Cu, … Nhà nào sanh con khó nuôi hoặc hay
bị bệnh tật sài đẹn thường đặt cho con những tên xấu xí để “quỷ
thần” tha như Vẹo, Ðủi, Ðen, … Có người không dám đặt tên con
quá hay sợ bị quở hay chê cười. Thời xưa, các cụ còn phải tham
khảo các bậc túc nho hoặc biết chữ và tỏ ra thận trọng trong việc
đặt tên cho con cháu.
Tuy nhiên, theo thói tục, việc đặt tên thường được căn cứ theo
truyền thống và tín ngưỡng, nhất là trên nguồn gốc và quyền lực
có thể có của tên gọi. Tên gọi còn có thể diễn tả những ước ao
hoặc lý tưởng đặt cho đứa trẻ mới chào đời như một thông điệp
nhờ đứa trẻ tinh khiết làm người đưa tin hoặc báo tin cho đời. Từ
khi hàng triệu người Việt phải bỏ nước ra đi chẳng hạn, nhiều
người đặt tên cho con là Nam Quân, Phục Quốc, Hồi Hương,…
cũng trong ý nghĩa đó. Nhà nhân chủng học Claude Le’vi-Strauss
trong La pensée sauvage (1962) đã đề cao tầm quan trọng của ý
nghĩa tiềm ẩn của tên gọi (4).
Ở hải ngoại, người Việt khi đổi quốc tịch có khuynh hướng đổi
tên hoặc thêm tên gọi tiếng bản xứ, đã làm mất hẳn hay giảm đi
yếu tố duy nhất và độc đáo của tên gọi. Dĩ nhiên có những tên
gọi đẹp và đầy ý nghĩa trong tiếng Việt đã trở nên … khó nghe
khi phát âm theo tiếng bản xứ như Côn, Công, Dung, Dũng,
Phúc, Quy, …
Tóm một chữ, tên gọi có quan hệ đến tương lai của đứa trẻ và
mọi người nói chung sẽ cùng mang tên gọi suốt đời.
Một cách cụ thể, tên gọi có thể là tên sông hồ, núi non, hoa quả, cây cỏ (Tùng, Bách, Mai, Trúc, Lan, Hòe, Quế,…), màu sắc, chim
chóc hoặc cầm thú (Long, Lân, Quy, Phượng, Loan, Yến,…), bốn
mùa (Xuân, Hạ, Thu, Ðông), tháng, năm (Tí, Sửu, Dần. Mão,
Mẹo, Thìn, Tỵ,…), ngọc quý (Pha, Châu, Ngọc, Quỳnh,…), tên
thuộc về loại kim (Cương, Chung, Liệu,…), loại đá (Thạch, Bích,
Thạc, Nha, Sa, …), phúc đức, phẩm hạnh hoặc hình dung tốt
đẹp (Phúc, Lộc, Khang, Ninh, Thạnh, Vĩnh, Trường, …). Nhiều
người thông hiểu chữ Hán có khuynh hướng lấy từ kinh sách,
châm ngôn, điển tích hoặc đặt tên theo bộ chữ Hán. Học giả
Phạm Quỳnh, tên Quỳnh thuộc bộ Ngọc, nên đã đặt tên con theo
cùng bộ Ngọc : Khuê, Dao, … Người ta cũng lấy địa danh, chổ ở,
nơi sanh quán hay nguyên quán hoặc tên các nhân vật tiểu
thuyết (nhưng tránh lấy tên các nhân vật lịch sử). Cũng vì lý do
tôn trọng tổ tiên, mọi người đều tránh lấy tên ông bà cha mẹ đặt
cho con cháu, khác với người Tây phương. Cuốn gia phả là cẩm
nang để con cháu tránh đặt trùng tên gọi với ông bà tổ tiên.
Về cách đặt tên trong một gia đình, có người đặt tên con cái
theo vần hoặc lấy cùng một chữ cái, hoặc tất cả tên gọi các con
tạo thành một ý hoặc dùng tất cả tên một loại mà đặt cho con:
thí dụ tên bốn mùa, tên các phẩm hạnh (Hạnh, Nhân, Trí, Tín,..;
Phước, Lộc Thọ,..) tên ngũ hành hay ngũ tinh (Kim, Mộc, Thủy,
Hỏa, Thổ), ngũ phúc (Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh), tứ duy (Lễ,
Nghĩa, Liêm, Sỉ), tứ đức (Hiếu, Ðễ, Trung, Tín cho con trai; Công,
Dung, Ngôn, Hạnh cho con gái), tứ linh (Long, Lân, Quy,
Phượng). Trở ngại là khi con sanh ra nhiều hay ít hơn bộ chữ. Và
cách đặt tên này chỉ dễ dàng trong xã hội xưa “tam thê bảy
thiếp” và sanh con còn là “bổn phận” của phụ nữ như ghi trong
luật Hồng Ðức và Gia Long cũng như đàn ông tuyệt tự còn là lỗi
lớn với ông bà tổ tiên. Ðời nay, người phụ nữ bình quyền, ly dị
đã thành thói thường, tình gia tộc ngày càng suy yếu thì cách đặt
tên này ngày càng khó thực hiện.
Một khuynh hướng đặt tên khác cũng nên ghi nhận dù không
thật sự phổ biến, đo là cách đặt một tên gọi cho tất cả con trai
hoặc gái, chữ lót sẽ làm phần việc phân biệt mỗi đứa con. Con
gái : Hồng Ly, Mai Ly, Trúc Ly; con trai : Anh Khoa, Tuấn Khoa,
v.v.
Ngoài tên bộ là tên gọi chính thức trên giấy tờ hộ tịch, người ta
có thể có thêm tên tục (vulgar name), tên cúng cơm, tên thân
mật, tên lịch sự, do chính mình hoặc do người ngoài đặt cho
mình. Trước khi có tên bộ thường đã có tên tục (domestic name)
để gọi trong nhà; nhất là thời xưa chỉ khi đến tuổi đi học, cha mẹmới làm giấy tờ hộ tịch cho con, lúc đó mới chọn tên đẹp đẽ cho
con – đứa trẻ lúc đó sẽ có hai tên gọi, tên tục đã có và tên gọi ở
trường (name at school). Các tên tục thường nghe : Cu Tí, Cu
Nhớn, Cu Tẹo, Ðĩ Lớn, Ðĩ Con, Ðĩ Út,… Trong Nam người ta còn
gọi con theo thứ tự: Hai, Ba, Tư,.. Tên bộ có thể thay đổi. Cụ
Nguyễn Khuyến vốn tên Nguyễn Thắng vì rớt thi Hội năm 1865
đã xin đổi thành Khuyến. Nhà thơ sông Vị Trần Tế Xương từng
đổi hai lần nhưng chỉ đổi tên lót, từ Cao thành Tế và cuối cùng là
Kế.

3. Các tên khác :
Ngoài tên ra, người Việt có bút hiệu, bí danh khi cần và theo
truyền thống Nho giáo và Trung-Hoa, ta còn có tên tự, tên hiệu,
tên tước, tên thụy và tên đạo..
Tên tự là tên chữ, thường phải đi đôi với tên gọi (Danh) và theo
kinh sách, thường là một câu chữ Nho có ý hay nghĩa lạ, như Tố-
Như Nguyễn Du, Sĩ-Tải Trương Vĩnh Ký, Lệ-Thần Trần Trọng
Kim, Ưu-Thiên Bùi Kỷ, Sở-Cuồng Lê Dư, Ứng-Hoè Nguyễn Văn
Tố, Quán-Chi Ðào Trinh Nhất, …
Khác với tên tự, tên hiệu và bút hiệu không theo nguyên tắc đi
với tên gọi mà tự do lựa chọn, tùy sở thích. Tên hiệu (symbolic
name) do chính đương sự hoặc cha mẹ đặt cho, thường có ngụ ý
hoài bảo, chí khí như Sào-Nam Phan Bội Châu, Ức-Trai Nguyễn
Trãi, Bạch-Vân Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tiên-Ðiền Nguyễn Du, Hạo-
Nhiên Nghiêm Toản, hoặc nói lên gốc gác, liên hệ như Tản-Ðà
Nguyễn Khắc Hiếu, Lương-Ðường Phạm Quỳnh, ….
Bút hiệu (nom de plume, penname) là tên hiệu của người cầm
bút, tự do đặt và có thể thay đổi nhiều lần hoặc dùng nhiều bút
hiệu một lúc. Bút hiệu thường gồm hai chữ hoặc hơn và có thể
mang hình thức của tên thật như Hồ Biểu Chánh (Hồ Văn Trung),
Hoàng Cầm (Bùi Tằng Việt), Thẩm Thệ Hà (Tạ Thành Kỉnh),
Cung Trầm Tưởng (Cung Thúc Cần), Dương Nghiễm Mậu (Phí
IÙch Nghiễm), Lý Hoàng Phong (Ðoàn Tường), Tô Kiều Ngân (Lê
Mộng Ngân), Nguyễn Kiên-Trung (Nguyễn Mạnh Côn), Hà
Thượng Nhân (Phạm Xuân Ninh), Mai Trung Tĩnh (Nguyễn Thiệu
Hùng), Vương Ðức Lệ (Lê Ðức Vượng), Trần Thy Nhã-Ca (Trần
Thị Thu-Vân), Trần Tuệ-Mai (Trần Thị Gia-Minh), Hoàng Hương
Trang (Hoàng Thị Diệm Phương), Lê Xuyên (Lê Bình Tăng), Tô
Thùy Yên (Ðinh Thành Tiên), Chu Vương Miện (Nguyễn Văn Thưởng), Phạm Thiên Thư (Phạm Kim Long), Trần Dạ Từ (Lê Hà
Vĩnh), Võ Phiến (Ðoàn Thế Nhơn), Trần Hoài Thư (Trần Quý
Sách), Vũ Hạnh (Nguyễn Ðức Dũng), v.v.. Bút hiệu có thể là tên
địa lý như sinh quán, trường hợp của Tô Hoài, Thanh Châu, Sa-
Giang Trần Tuấn Kiệt, Kiên Giang Hà Huy Hà, có khi do đảo lộn
tên thật như Biển Ngũ Nhy (Nguyễn Bính, thân phụ nhà văn An
Khê), Khái Hưng (Trần Khánh Giư), Thế-Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), J.
Lebai (Lê Bái), có khi có thể chỉ là tên những người thân yêu như
Mai Thảo, Thế Uyên, Thanh Tâm Tuyền, thậm chí có khi do tình
cờ như Tam IÙch trước đã hay ký mật hiệu XXX. Nhiều nhà văn
không hề dùng bút hiệu như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Thị
Vinh, Nguyễn Mộng Giác. Có nhà ký tên thật nhưng lược tên gọi
như Nguyễn Bính (Thuyết), Phạm Duy (Cẩn), hay lược họ như
Nguyên Hồng (Nguyễn), Hữu Loan (Nguyễn), Huy Cận (Cù),
Xuân Diệu (Ngô), Nhật Tiến (Bùi), Túy Hồng (Nguyễn Thị). Có
người lại chỉ nỗi tiếng với tên thật như Hồ Hữu Tường, Võ Hồng,
Nguyễn Ngọc Ngạn, v.v.
Riêng “biệt danh” hay “sước hiệu” (surnom, deuxième prénom,
sobriquet ; nickname) thường do người khác đặt cho, gán cho và
thường có ý trêu chọc hoặc miêu tả ác ý diện mạo hoặc tật xấu
của người đó. Nhà văn Nguyễn Tuân có sước hiệu là “Tuân mũi
to”, Phạm Quỳnh “kính trắng tiên sinh”, một cựu tổng thống
miền Nam “tổng lì”, v.v.
“Tên tước” hay “tước hiệu” thường được phong cho, chỉ thấy ở
giới quý tộc, quan lại: Ôn-Như hầu Nguyễn Gia Thiều, Tùng-
Thiện vương Miên Thẩm, v.v.
Bí danh thường được những người làm chính trị, cách mạng và
cả công an, quân đội sử dụng để bảo mật. Bí danh khác với tên
“cách mạng” như của một số đảng viên cộng sản ở Việt Nam,
trong thực tế là một cách đổi tên, muốn dâng hiến cho công tác
hay chối bỏ quá khứ, gia đình: Lê Ðức Thọ, Mai Chí Thọ, Xuân
Thủy, Trường Chinh, v.v.
Trong các tên khác có “tên thụy” tức tên hèm (posthumous
name). Khác với “tên cúng cơm” là tên vốn có của một người khi
mới sanh hay lúc nhỏ, tên hèm là tên tự chọn khi tuổi già để
dùng vào việc cúng giỗ và thờ phượng, ý là người chết sẽ biết
tên mà về. Nếu không kịp tự chọn, người nhà tìm đặt cho người
vừa chết để con cháu khấn vái, cúng giỗ. Tên thụy còn là tên ghi
vào sớ hoặc do nhà vua truy tặng để tưởng nhớ công đức người
chết. Tục lệ đặt tên thụy khởi từ đời Tây Chu bên Trung-quốc : đình thần căn cứ vào sự nghiệp hoặc hành vi, đức độ của nhà
vua lúc còn sống mà đặt tên thụy cho vua. Lúc đầu thường dùng
một trong bốn chữ Văn, Vũ, U và Lệ nhưng về sau chỉ dùng Vũ
và Văn là hai chữ để khen. Sau lại đổi thành “miếu hiệu” như vua
Gia Long có miếu hiệu Thế-tổ Cao Hoàng-đế, Tự Ðức được tặng
là Dực-tôn Anh Hoàng-đế, v.v.
Riêng “tên húy” tức tên phải kiêng tránh, thường là tên thành
hoàng của làng xã hoặc tên của vua chúa và hoàng gia cũng như
miếu hiệu, hoặc tên của quan lớn sở tại. Người dân giả lỡ trùng
tên phải đổi hay đọc trại ra hay lệch đi. Phan Huy Chú vốn tên
tục là Hiệu vì kiêng húy đã phải đổi thành Chú. Ðời vua Minh
Mạng thứ 13 (1832) còn đặt ra lệ hễ các quan cùng tỉnh trùng
tên thì người kém phẩm trật phải đổi tên. Ðó là lý do Cảnh đọc
thành Kiểng, Thái thành Thới, Hòa thành Huề, Anh thành Yêng,
v.v. Hay tìm tiếng giống nghĩa mà thay vào : Riêu thay Canh,
Tập thay Học, v.v. Ngày xưa đi thi mà không biết để tránh tên
húy là phạm trường qui, bị hỏng thi đã đành, có khi còn bị tù tội.
Cuối cùng là “tên đạo” : nếu theo đạo Phật là “pháp danh”
(Buddhist religious name), là những tên đặt khi quy y; nếu theo
Thiên Chúa giáo, có “tên thánh” (nom de baptême, patron-saint’s
name) khi rửa tội, thí dụ Pétrus Ký tức Trương Vĩnh Ký. Có ngộ
nhận cho rằng tên thánh là lai căng mất gốc. Thật ra tên thánh
là tên chỉ dùng trong phạm vi tôn giáo, cũng như phápđanh của
người theo đạo Phật, còn thì người theo đạo Thiên Chúa hay Cơ
Ðốc vẫn mang tên họ như bất cứ người theo đạo nào khác. Ngộ
nhận này đã dần mất sau biến cố 30-4-1975 khi người Việt vì
nhu cầu hội nhập ở nước ngoài, đã lấy cả tên gọi của người bản
xứ.

Phần III

TÊN HỌ NGƯỜI VIỆT
Ở XỨ NGƯỜI
Sau khi đã trình bày lịch sử, nguồn gốc và ý nghĩa họ tên người
Việt, chúng tôi xin được bàn đến một số vấn đề liên quan đến
việc xử dụng tên họ và khía cạnh chính tả của tên họ Việt Nam
dùng ở xứ người nói chung.
Phương cách lý tưởng nhất vẫn là phép viết họ tên như ở quê
nhà. Người Việt ở Pháp vẫn theo giải pháp này vì người Pháp đã
quen với tên họ người mình từ thời thực dân ở Việt Nam, biết
phân biệt họ với tên.
Sau 1975, hàng triệu người Việt đã bỏ nước tới định cư ở nhiều
nước khắp thế giới. Vấn đề viết tên họ được đặt ra khi hệ thống
hành chánh bắt buộc và sự xử dụng máy điện toán trở thành phổ
thông. Người Việt phải thật sự đương đầu với tên họ của chính
mình. Nhu cầu nảy sinh tìm hiểu tên họ, giải thích cho người bản
xứ và ngay cả lựa chọn họ tên mình. Ðó là chưa kể những
trường hợp hy hữu phải kể cả giai thoại mới mong có người hiểu
như tên họ con cháu nhà Nguyễn. Sở di trú làm sao hiểu được
cha họ Vĩnh mà con ruột lại họ Bảo !
Ở Việt Nam ta vẫn có thói quen lấy tên gọi (prénom, first name)
làm mốc để lập danh sách: Nguyễn An-Khang sẽ được liệt kê ở
vần Kh, trước Khanh và sau Kha. Cách dùng này có từ đã mấy
ngàn năm và được sử dụng trong mọi trường hợp, từ thư tịch,
lịch sử cũng như sổ lương bổng, danh sách cử tri, ở học đường.
Một khi ở hải ngoại, dù thế nào đi nữa, ta vẫn phải giữ lấy “họ”
(family name, nom de famille) cho minh bạch. Có người cốt tránh
hiểu lầm hay cốt dễ phát âm, vì muốn tránh họ một chữ cụt
ngủn như “Lê”, “Lý”, “Ðỗ”, “Võ / Vũ”, đã ghép tên lót vào làm họ
mới : Lê Văn, Ðỗ Văn biến thành “Levan”, “Dovan”. Phái nữ
thường họ tên dài có khi gồm 4, 5 chữ, thành ra có người ghép
tên lót “thị” vào làm họ : Võ Thị thành Vothi. Dễ cho người bản
xứ nhưng đồng hương làm sao nhận ra nhau, nhất là người đó
lại có tên gọi theo người bản xứ như Mike, André, Katherine,
Joseph, v.v. !
Trong trường hợp “họ kép”, ta cứ dùng họ kép như người bản
xứ, đàn ông cũng như đàn bà (vì lập gia đình theo dân luật cũ),
thí dụ Maurice Marleau-Ponty, Claude Le’vi-Strauss, Cecil Day-
Lewis, vv. Vậy Phan-Trần Nam và Ðặng-Vũ Tuấn-Kiệt nên trở
thành Nam Phan-Tran và Tuan-Kiet Dang-Vu. Với cách này, ta còn có thể phân biệt họ kép với họ đơn + tên lót vì tên lót vẫn
nên giữ thứ tự của nó dù họ tên có phải đảo ngược theo người
bản xứ: Nguyễn Thị Nhị nên trở thành Nhi Thi Nguyen.
Về họ kép, cả hai yếu tố phải viết hoa và nên dùng gạch nối.
Theo lệ tổng quát và phép chính tả Việt ngữ, tất cả những yếu tố
bổ túc cho nhau về ngữ ý phải viết với gạch nối, cũng như những
yếu tố chính trong danh từ riêng (địa lý hoặc họ, tên) phải viết
hoa. Trên nguyên tắc, “Văn”, “Thị” và tất cả những chữ lót chung
như “Ðình, Ngọc, Xuân, Huy,…” tương đương với “von, vonder,
von und zu” của người Ðức, “op de, ten, van den, van der” của
người Hà Lan không phải viết hoa và không được gạch nối với họ
cũng như tên (nhưng vì nhu cầu thực tế, chúng tôi viết hoa trong
bài này). Từ khi có chữ “quốc ngữ” la tinh, trên các sách báo
xuất bản ở Việt Nam, các nhà văn nhà báo có thói quen gạch nối
tất cả các yếu tố của họ tên, ngay cả trường hợp chỉ có 2 yếu tố
như Nguyễn Du, Phạm Duy. Ðiều này nhiều nhà ngữ học Việt
Nam không chấp nhận. Về ngữ ý cũng như theo truyền thống,
cách dùng này rất sai lầm.
Ðối với “tên kép”, ta nên giữ thứ tự của cả hai yếu tố tạo thành
vì trong nhiều trường hợp, nếu đảo ngược tên kép đó sẽ mất hết
ý nghĩa đối với người Việt và khó mà cắt nghĩa với người bản xứ
ý nghĩa tên của mình. Một khuynh hướng dung hòa dùng cả hai
tên gọi kép để con cái có thể xử dụng theo nhu cầu ở xứ người
hay sau này về nước: Catherine Hy-Khuê, Joseph An-Khang. Nói
chung, ta cứ dùng “tên kép” như người bản xứ : Jean-Paul
Sartre, Paule-Andrée T., Jean-Marie B.. Do đó Lê Hào-Kiệt nên
viết là Hao-Kiet Lê, Nguyễn Joseph An-Khang thành Joseph An-
Khang Nguyen hơn là Kiet Hao Le và Joseph Khang An Nguyen.
Vũ Thị Ngọc-Lan, Trần Thị Bích-Ngo.c thành Ngoc-Lan Thi Vu và
Bich-Ngoc Thi Tran, tránh Bich-Ngoc Tran-thi hay Thi Bich Ngoc
Tran và Lan Ngoc Thi Vu, vì Lan-Ngo.c và Ngọc-Bích khác nghĩa
với Ngọc-Lan và Bích-Ngo.c! Cũng vậy, Cung Văn Hòa nên đổi
thành Hoa Van Cung thay vì Hoa Cung Van. Riêng đối với tên họ
dài như họ hậu duệ nhà Nguyễn, ta có thể viết tắt yếu tố tên
dệm.
Họ tên phái nữ là một phức tạp khác. Khác với người Tây
phương, người đàn bà Việt Nam dù đã lập gia đình vẫn xử dụng
tên họ con gái trên giấy tờ hộ tịch, hành chánh và thư từ, dù
ngoài đời họ vẫn thường được gọi theo tên gọi của chồng, nhất
là trong giới trí thức và chính trị gia: bà giáo sư Tăng Xuân An,
bà đại sứ Trần Văn Chương, v.v.. Người đàn bà Tây phương từ tạo thiên lập địa tới gần đây đã không có những “quyền lợi” đó
của nữ giới con Rồng cháu Tiên, họ phải đổi lấy họ chồng một
khi lập gia đình. Mọi người chỉ biết họ qua họ chồng, dù làm thủ
tướng và dù đã ly dị. Khi các bà khám phá gì mới cho nhân loại
hay ra luận án tiến sĩ, người ta cũng chỉ biết họ qua tên chồng:
bà Marie Curie, mấy ai biết họ bà là Sklodowska và là người Ba-
lan !
Mấy thập niên gần đây, dưới áp lực của các phong trào đòi bình
quyền của nữ giới, dân luật nhiều quốc gia đã bắt đầu cho các
bà đổi lấy họ thời con gái và còn đi xa hơn khi không còn bắt
phải có tên cha cho đứa trẻ sơ sinh và đứa bé có thể lấy họ mẹ.
Nữ giới Việt Nam đến xứ người đông đảo vào cuối thời thịnh đạt
của chế độ tộc trưởng, phải theo luật xứ người mà mất họ gốc,
từ nay có thể đổi lấy lại họ thời con gái.
***
Ở Việt Nam khó mà nói rằng người mình lầm lộn nhau vì tên họ
hiểu theo nghĩa rộng. Họ được bổ túc bởi tên gọi và chữ lót
chung hoặc tên thế hệ, luôn tạo thành một đơn vị độc đáo. Một
lớp học có thể có nhiều học sinh tên Hùng, nhưng khác họ và tên
lót. Ngoài ra ta còn có nhiều cách để phân biệt nhau tùy hoàn
cảnh, bằng nguồn gốc địa lý, bằng chức tước, địa vị xã hội, bằng
lãnh vực chuyên môn hay nghề nghiệp, bằng diện mạo, gốc gác,
cha mẹ, họ hàng, v.v..
Hoàn cảnh sống mới ở xứ người đặt người Việt trước những lựa
chọn khó khăn về văn hóa. Hội nhập hay giữ bản sắc nguồn cội?
Uốn theo tục người hay nên giữ phong hóa dân tộc? Nên “Pháp
hóa” / “Anh hóa” tên Việt như đã từng xảy ra với những người
Do thái và Ðông Âu ở Pháp hay Bắc Mỹ (5). Thiết tưởng sự sống
còn của văn hóa Việt Nam ở ngay những đặc điểm Việt. Một
trong những đặc điểm đó là tên họ Việt Nam. Làm sao giữ được
tên họ tức gốc nguồn thì ta vẫn là ta. Nếu để mất gốc, mình sẽ
hết là mình mà ta cũng chẳng còn là ta. Tên họ vừa là vốn liếng
văn hóa vừa là ký hiệu làm người. Họ tên là yếu tố văn hóa nền
tảng của một dân tộc và là báu vật văn hóa mà tổ tiên đã để lại
cho con cháu, nhất là tổ tiên Việt Nam đã luôn ở vào thế chẳng
đặng đừng, bị động, luôn bị xâm lăng và thu hút bởi những nền
văn hóa vừa mạnh vừa bạo như Hoa Ấn lân bang và Tây phương
thực dân. Ngày nay con cháu Việt đang phải chịu nhận văn hóa
người và ở ngay trên lãnh thổ của người ! Hy vọng một số ý kiến
đã trình bày sẽ giúp ích cho người Việt trong việc xử dụng, cải đổi hay vay mượn tên họ nơi xứ người.

http://www.sugia.vn

TIẾP CẬN ĐỊA DANH THỦ DẦU MỘT: Nhìn từ góc độ lịch sử, từ nguyên… (Quá trình hình thành và thời điểm xuất hiện)


Minh Châu
 Thủ Dầu Một (TDM) là tên cũ của tỉnh Bình Dương (BD) trước năm 1956, tồn tại 87 năm (1869-1956) và đã gắn liền với lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển của vùng đất, nay là địa bàn tỉnh BD. Địa danh này đã được nhiều tác giả, sách báo tìm hiểu, giải thích về xuất xứ, lai lịch, từ nguyên… nhưng đến nay cũng chưa có được sự thống nhất và sức thuyết phục cao. Chúng tôi cho rằng việc tìm hiểu nói trên cần nên tiếp tục, nhất là việc xác định chính xác thời điểm xuất hiện của địa danh này vẫn gần như còn bỏ trống…

Gần đây, nhân được đọc mấy bài báo, bài nghiên cứu (của một nhà văn và của một thạc sĩ sử học) đề cập đến vấn đề địa danh TDM… chúng tôi thấy có đôi điều muốn được trao đổi thêm với các tác giả bài viết nói trên.

Về bài viết thứ nhất, cách đây chưa lâu, nhà văn Nguyễn Yên Mô, một thành viên tham dự trại sáng tác văn học năm 2006 tại BD (do Tạp chí Văn nghệ QĐND và Hội VHNT Bình Dương tổ chức) có sáng tác bút ký “Bình Dương, hương đất tình người”(1). Bút ký được chọn đăng và được lấy tên đặt thành tiêu đề chung cho tuyển tập thơ văn của trại sáng tác. Điều đáng nói là trong bút ký này tác giả đã thuật lại việc đi tìm hiểu về lai lịch tên gọi TDM. Nhà văn đã viết: “Người ta bảo “thủ” tức là đứng đầu, “một” tức là duy nhất, “dầu” tức là cây dầu (…). Thế còn “Thủ Đức”, “Thủ Thừa”, “Thủ Thiêm”? Đó là ông quan đứng đầu “trấn”(?). Rồi ông nêu lên một câu hỏi mà thực chất là một phát hiện của riêng mình để giải thích tên gọi TDM: “Ngày xưa TDM cũng là một trấn(?). Có phải quan trấn thủ đất này tên gọi là “Một”(?) sđđ trang 187.

Qua đoạn viết trên cho thấy cái tên nôm na TDM đã gợi nhiều sự chú ý thu hút đối với những người muốn tìm hiểu nó và sự tìm hiểu quả là không đơn giản chút nào! Bằng chứng nhà văn đã gặp không ít lúng túng và cả sự mơ hồ khi hiểu về địa danh này. Thực ra, TDM chưa bao giờ là một đơn vị hành chính cấp “trấn”, cũng không có bất cứ tài liệu, tác giả nào nhắc đến chuyện đất TDM có một ông Trấn thủ tên là Một như tác giả đã nghĩ.

Tuy nay TDM không còn là tên riêng của một tỉnh, nhưng từ lâu TDM vẫn luôn là lỵ sở, thủ phủ hành chính của vùng đất này và hiện nay còn có một thị xã (thành phố) sầm uất, xinh đẹp vẫn mang tên TDM. Mới đây, ngôi trường đại học chính quy lớn nhất của địa phương cũng mang tên Đại học Thủ Dầu Một. Chắc chắn mai đây, cùng với BD, TDM sẽ là những thành phố công nghiệp – dịch vụ năng động quan trọng hàng đầu của Bình Dương và của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cũng như của cả nước.

Từ những điều trình bày ở trên, cho thấy việc tiếp tục tìm hiểu, thảo luận thêm một cách thấu đáo về tên gọi TDM, địa danh luôn gắn liền với lịch sử của xứ này, là điều cần thiết nên làm.

Tên TDM đã được hình thành ra sao về mặt lai lịch, từ nguyên?

Trước hết, xin được điểm lại một số giải thích đáng chú ý hơn cả của các nhà nghiên cứu có uy tín chung quanh sự hình thành cụm từ địa danh TDM. Đồng thời thử nêu lên một cách lý giải, tiếp cận nhìn từ góc độ lịch sử, từ nguyên cũng như về thời điểm xuất hiện của địa danh này.

Trước đây cũng có những tác giả cho rằng tên TDM có nguồn gốc từ tiếng Campuchia. Chẳng hạn, như nhà soạn từ điển Lê Văn Đức, nhà ngữ học Lê Ngọc Trụ, ở phần địa danh (trang 260) trong “Việt Nam từ điển” (Sài gòn TB 1970) cho rằng tên TDM do âm Việt đọc tiếng Cao Miên (sic) “Thun Doán Bôth” (có nghĩa là gò có đỉnh cao nhất) mà ra (lỵ sở TDM ở trên ngọn đồi ven sông Sài gòn)(2).

Nhưng phần đông tác giả khác (kể cả người viết bài này) đều nghĩ TDM là một cụm từ tiếng Việt được hình thành từ sự kết hợp giữa hai thành tố: “Thủ” (từ Hán – Việt có nghĩa là “giữ”vì nơi đây có đồn binh để canh giữ, kiểm soát); “Dầu Một” là tên đất, được cấu tạo theo cách: “Tên một loài thảo mộc + từ chỉ số lượng”. Ví dụ như các địa danh “Quéo Ba” (ở Long An), “Xoài Đôi” (ở Phú Nhuận, TP.HCM). Theo truyền khẩu vì đồn binh canh giữ tại huyện lỵ Bình An nằm trên ngọn đồi có cây dầu lớn quen gọi là “cây dầu một” nên tên gọi THỦ DẦU MỘT ra đời.

Học giả Vương Hồng Sển trong từ điển “Tiếng nói miền Nam” TP.HCM xb 1997, trang 645) cho rằng người Campuchia gọi tên TDM là “Chhocutal MucyDoem” (Chhocutal: gỗ dầu; Mucy: một; Doem: cây) có nghĩa là “cây dầu một” theo đúng cách hiểu ở trên(3). Người Hoa cũng dùng tên “Thổ Long Mộc” (cây rồng đất: có thể hiểu đây là cây dầu rái hay dầu lông có chứa chất nhựa rất dễ cháy nổ gọi là “mãnh hỏa du”, để chỉ vùng đất TDM. Trong hồi ký viết về vùng đất TDM (xuất bản tại Paris 1863), đại úy L.C Grammont (viên sĩ quan Pháp đánh chiếm và quân quản TDM trong thời gian 1961-1962), cũng hiểu “thủ” là “giữ”; “dầu một” là một loại cây nên đã dùng cụm từ Pháp để chuyển nghĩa tên TDM “garde – un arbre” (garde: giữ un arbre: một cây).

Riêng chữ “thủ” còn có người hiểu theo nghĩa là “đầu”, đứng đầu như trong các từ kép “thủ sở”, “thủ phủ” là nơi đặt trụ sở một đơn vị hành chính.  Trong “Kỷ yếu TDM – Bình Dương 300 năm hình thành…” (XB 1998), nhà nghiên cứu địa bạ Nguyễn Đình Đầu giải thích địa danh TDM: “Trong địa phận làng này xưa có thủ sở gần cây dầu lớn nhất…” (trang 49).

Trên đây là một số giải thích về địa danh TDM. Tuy việc làm này cần nên tiếp tục, nhưng đến nay chúng ta cũng có thể đi đến một cách lý giải, tiếp cận có nhiều cơ sở có thể thuyết phục và chấp nhận được (phần lý giải này đã được trình bày trong cuốn sách “Lối xưa đất Thủ” của chúng tôi xuất bản 2009)(4). Chẳng hạn, tên gọi “dầu một” hay là vùng có nhiều cây dầu lông, dầu rái (miệt dầu). Việc dùng tên thảo mộc (cây đặc sản hay đặc biệt) để tạo thành một địa danh vẫn là cách thường thấy tại nước ta, nhất là ở miền Nam. Thí dụ: các địa danh “Trảng Bàng” (khoảng đất rộng có nhiều cây bàng), Gò Vấp (gò có nhiều cây vấp, cây lim). Ngay ở thị xã TDM có tên xóm Gò Cầy (gò có nhiều cây cầy, cây Kơ-nia (?)). Còn tên đất liên quan đến cây dầu rái (dầu lông) thì có nhiều, khá phổ biến như tên huyện Gò Dầu (ở Tây Ninh), xóm Suối Dầu (ở Nha Trang). Riêng ở TDM – Bình Dương trước đây có rất nhiều cây dầu, ngày nay loại cây này vẫn còn khá nhiều trên khu đồi UBND Tỉnh ủy Bình Dương. Chắc rằng tên Dầu Một và cả tên TDM bắt nguồn từ tên loài cây này mà ra. Từ “Thủ” (là do có đồn binh để trấn thủ hay đó là nơi “thủ sở”) ghép với từ “dầu một” thành tên TDM đều có thể hợp lý, vì từ xưa đến nay nơi đây luôn là lỵ sở của vùng đất TDM – BD trước năm 1956 của tỉnh Sông Bé sau ngày giải phóng cũng như tỉnh BD hiện nay.

  • Địa danh TDM có từ bao giờ?

Đây là câu hỏi không dễ có được câu trả lời chính xác, thỏa đáng. Vì thế, đến nay câu trả lời đó vẫn còn bỏ trống, tất nhiên không được nhầm lẫn các mốc thời điểm cụ thể rõ ràng trong các quyết định thành lập các địa danh đơn vị hành chính cấp hạt, tiểu khu, tỉnh TDM với tên gọi dân gian TDM được hình thành từ những đặc điểm riêng, tạo nên một địa danh khó có tên thứ hai trùng lắp.

 

Tên gọi TDM có lẽ được hình thành từ một quá trình lắp ghép các tên gọi dân gian quen thuộc và chắc chắn có trước khi người Pháp đánh chiếm vùng đất Biên Hòa – Bình An. 

Đến năm 1869, lần đầu tiên tên TDM được đặt cho một đơn vị hành chính cấp hạt: Hạt (tham biện) TDM (1869-1876), tiếp theo là tiểu khu (hành chính) TDM (1876-1889) rồi tỉnh TDM (1889-1956).

Trả lời câu hỏi tên TDM có từ bao giờ, TS. Lê Trung Hoa, một tác giả chuyên khảo về địa danh cũng chỉ xác định được rằng tên TDM phải có trước năm 1871(5). Có được sự xác định này chắc là TS. Lê Trung Hoa đã dựa vào một số cứ liệu trong một cuốn sách viết về lịch sử đường phố Thi Sách ở quận I, TP.HCM, có liên quan đến địa danh TDM như sau: “…Đường nay thuộc loại xưa nhất Sài Gòn (…), từ ngày 2-6-1871 đến 1877 đường đặt  tên là đường TDM (…). Năm 1955 đổi thành đường Thi Sách”(6). Nhưng như trên đã dẫn, ngay từ năm 1869 (trước thời điểm TS. Hoa đưa ra đến 2 năm) tên TDM đã được đặt cho một đơn vị cấp hạt (hạt hành chính TDM 1869-1876).

Mới đây trên ấn phẩm “Thông tin khoa học và đào tạo số 01-2010 của trường Đại học Thủ Dầu Một, ở bài viết: “TDM tên gọi và lịch sử”, tác giả, ThS. Sử học Vương Quốc Khanh có đưa ra một số sử liệu và nhận định về thời điểm xuất hiện địa danh TDM như sau: “Theo truyền thuyết tên TDM có vào thế kỷ XVI, khi nhà Nguyễn lập chính quyền ở đây”(?) (trang 28). Cách mấy dòng sau đó, tác giả đưa ra mấy cứ liệu và khẳng định”. Thật ra, tên TDM ra đời ngày 5-11-1876 (…) là một đơnvị hành chánh tiểu khu (…). Đến ngày 20-12-1899, Toàn quyền Đông Dương đổi tiểu khu ra thành tỉnh” (trang 29).

Qua mấy nhận định trên đây, chúng tôi có đôi điều muốn được trao đổi thêm với tác giả bài báo. Và nhân đây xin trình bày cách lý giải có thể xác định được thời điểm xuất hiện địa danh TDM.

Theo tác giả bài báo là khó xác định thời điểm trên vì “theo truyền thuyết tên TDM có vào thế kỷ XVI”, nghĩa là vào một thời điểm nào đó trong khoảng thời gian từ 1501 đến 1600 (điều này sẽ trao đổi sau) và chỉ có thể biết đến TDM như là một đơn vị hành chính cấp tiểu khu TDM vào 1876. Nhưng nếu phải nói về đơn vị hành chính TDM đầu tiên lẽ ra phải nhắc đến hạt (tham biện) TDM xuất hiện từ  năm 1869 trước năm bài báo trên đã dẫn (1876) đến 7 năm. Đáng nói hơn là thời điểm TDM trở thành đơn vị hành chính cấp tỉnh (ngang hàng với tỉnh Biên Hòa mà trước đó chỉ là một huyện của tỉnh này) vào năm 1889 chứ không phải như tác giả đã dẫn là năm 1899 (nếu đây không phải là lỗi in ấn). Được biết tất cả tài liệu viết về TDM đều ghi đó là năm 1889. Cũng theo bài viết “tên TDM có vào thế kỷ XVI…”, chúng tôi cho rằng đó là quãng thời gian quá sớm nếu so với quá trình mở đất và định cư của cư dân miền ngoài trên đất Đồng Nai – Gia Định lúc bấy giờ. Cũng như việc xác định thời điểm “Nhà Nguyễn lập chính quyền ở đây” vào thế kỷ XVI là hoàn toàn không chính xác. Bởi lẽ đó là sự kiện lịch sử quan trọng đã được ghi chép rõ ràng: “Năm Mậu Dần (1698)… Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược Cao Miên đem xứ Đồng Nai đặt huyện Phước Long và đặt dinh Trấn Biên”. (ĐN NTC)(7).  Đất TDM sau này lúc bấy giờ nằm trên địa bàn tổng Bình An thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên nói trên.

Như vậy Nhà Nguyễn lập chính quyền ở đây vào cuối thế kỷ XVII, chứ không phải vào thế kỷ XVI như bài báo đã xác định.

Có thể xác định được thời điểm xuất hiện địa danh TDM

Chính cột mốc năm 1689, nhất là năm 1808 cho ta cơ sở để có thể xác định được thời điểm hình thành tên gọi TDM. Cụm từ Thủ – Dầu Một chỉ có thể hình thành khi hội đủ điều kiện có thêm thành tố “thủ”, nghĩa là khi tại đây đã xây dựng đồn bình để trấn giữ (thủ sở) hoặc đã trở thành lỵ sở (thủ phủ) của vùng đất này. Được biết “Dầu Một” là tên gọi dân gian của địa danh Phú Cường như sách ĐNNTC đã ghi: “Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường huyện Bình An, tục danh chợ Dầu Một ở bên huyện lỵ” (sđd tr.35). Còn đồn bình Bình An rất có thể được xây dựng từ sau năm 1808, khi tổng Bình An được nâng thành huyện. Theo sách ĐNNTC ở phần “quan Tấn (đồn binh, Thủ sở để canh giữ…) cho biết từ đầu đời Minh Mạng tại phủ Phước Long có đặt các “thủ sở” (còn gọi là bảo, hay pháo đài) để giữ nơi quan yếu” (sđd trg 31) như bảo Phước Thắng (huyện Phước An – nay là Vũng Tàu) lập 1838; Pháo đài Tả Định (huyện Nghĩa An – nay là Thủ Đức) lập 1834; Bảo đất Tam Kỳ (huyện Bình An, sau là TDM) lập 1848. Riêng ở huyện Bình An có thêm đồn Thị Tính (1823) “để trấn giữ man dâu” và đồn Chơn Thành (1840)… Như vậy các đồn binh, thủ sở đều thiết lập sau năm 1808.

Như vậy, cụm từ địa danh TDM xuất hiện sớm nhất không thể trước năm 1808, tức là thời điềm tổng Bình An được nâng thành huyện. Quá trình hình thành địa danh TDM có thể diễn tiến như sau. Lúc đầu tên Dầu Một (tục danh của Phú Cường) được nhóm lưu dân người Việt dùng để gọi một ngôi chợ (chợ Phú Cường) hay một xóm thôn tại đây, khi đồn binh được lập thì gọi là chợ Thủ rồi sau đó ghép thành tên chợ TDM. Đến 1869 người Pháp thấy địa danh này nói lên được đặc điểm của địa phương, lại rất quen thuộc với cư dân nên họ dùng đặt tên cho đơn vị hành chính đầu tiên là hạt TDM, rồi sau đó là tỉnh TDM vào năm 1889.

Địa danh TDM do lưu dân người Việt đặt ra, muốn biết khoảng thời gian của địa danh này xuất hiện vào lúc nào? (thế kỷ XVI như tác giả bài báo khẳng định) chúng ta hãy điểm một số cột mốc chính cuộc nam tiến của dân tộc.

Vào thời nhà Lê, đến cuối thế kỷ XVI, lãnh thổ nước Đại Việt mới đến đèo Cù Mông (ranh giới giữa tỉnh Phú Yên và Bình Định). Đến đầu TK XVII “năm 1611 (…) Nguyễn Hoàng phát quân đánh chiếm đất từ đèo Cù Mông đến Đại Lãnh (…) lập thành phủ Phú Yên (Đào Duy Anh, lãnh thổ nước Đại Việt và sự hình thành dân tộc Việt)(8). Non thế kỷ sau, chúa Nguyễn Phúc Chu tiếp tục mở rộng lảnh thổ: “Năm 1697 lấy đất Phan Rang và Phan Rí, đặt dinh Bình Thuận” (sđd tr.461). Đây chính là vùng đất cực nam miền Trung nước ta hiện nay.

Về thời điểm người Việt định cư lập thành xóm, thôn đầu tiên ở vùng đất Đồng Nai – Gia Định vẫn chưa được các nhà nghiên cứu thống nhất vì nói chung rất khó xác định. Trước 1698, hầu hết di dân người Việt đến đây sống rải rác, xen kẽ với cư dân bản địa. Từ khi Nguyễn Hữu Cảnh lập các đơn vị hành chính đầu tiên (1698) mới có những nhóm di dân đông đúc từ vùng Ngũ Quảng được khuyến khích vào đây khai khẩn vùng đất mới này. Sách “Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ (XB 1987, tr.38, do Huỳnh Lứa chủ biên) cho rằng chủ yếu “cuộc di dân của người Việt diễn ra trong TK XVII(9). Lê Bá Thảo trong cuốn sách “Địa lý vùng đồng bằng sông Cửu Long” cho biết: “Vùng quanh Sài Gòn chỉ được khai phá và có dân dịnh cư vào năm 1672”(10). Như thế “vùng quanh Sài Gòn” trong đó có vùng Bình An – TDM đến nửa sau thế kỷ XVII mới được khai phá và có dân định cư, làm sao địa danh tiếng Việt như TDM (kể cả Dầu Một) có thể xuất hiện vào thế kỷ XVI, vì đến hàng trăm năm sau (1600-1808) các đơn vị hành chánh cấp huyện cùng với các đồn bình thủ sở mới thiết lập.

Tóm lại, tên gọi Thủ Dầu Một dã được nhiều người tìm hiểu, có nhiều cách giải thích và vẫn chưa có câu giải đáp hoàn toàn thỏa đáng, được mọi người chấp nhận. Vì thế việc tìm hiểu này cần nên tiếp tục. Từ suy nghĩ đó và nhân có mấy bài báo, nhận định đã nêu, bài viết ngắn này muốn được trao đổi thêm và đưa ra một số cách tiếp cận như đã trình bày ở trên. Hy vọng rằng cách tiếp cận, lý giải này góp thêm một số cơ sở có sức thuyết phục nhiều hơn, đặc biệt là phần thử xác định thời gian, thời điểm xuất hiện các địa danh Dầu Một, TDM mà lâu nay có thể nói gần như bỏ trống. Qua đây, người viết cũng mong nhận được trao đổi, phản hồi từ những người cùng quan tâm vấn đề được nêu trên, cũng như những người cùng yêu mến quê hương TDM – BD.

Chú thích:

1. Nhiều tác giả, Bình Dương, hương đất tình người, NXB Trẻ 2006 (trang 187).

2. Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ “Việt Nam từ điển, Sài Gòn TB 1970 (trang 260).

3. Vương Hồng Sển, Từ điển Tiếng nói miền Nam, XB T.P.HCM 1997 (trang 645).

4. Nguyễn Hiếu Học, Lối xưa đất Thủ, NXB Trẻ 2009 (trang 11-14).

5. TC KTNN số 283/1998 mục Ai? Sao?

6. Nguyễn Thắng, Nguyễn Đình Tư, Đường phố TP.HCM, XB 2001 (trang 110).

7. ĐNNTC Lục tỉnh Nam kỳ, dịch giả Tu Trai Nguyễn Tạo (Tập Thượng TB1 1973, trang 2).

8. Đào Duy Anh, tác phẩm được tặng thưởng giải Hồ Chí Minh, XBKHXH, trang 448.

9+10. Nhiều tác giả, Nam bộ đất và người, tập VI, NXB TP.HCM, trang 84.

 

http://www.sugia.vn