Càng làm nhiều vị trí, càng có nhiều cơ hội phát triển


 

 

Chỉ sau hơn 10 năm làm việc ở IBM, Tấn Long trở thành một trong những tổng giám đốc đầu tiên của IBM Việt Nam là người Việt. Trầm tính nhưng không xa cách, năng nổ trong công việc nhưng không vì thế mà thiếu sự quan tâm đến các đồng nghiệp…

 

Tốt nghiệp Trường Tổng hợp Kỹ thuật điện ST. Pertersburg đầu năm 1997 sau 10 năm học đại học và tiến sĩ, Võ Tấn Long đến với ngành công nghệ thông tin khá là tình cờ. Ngành anh theo học là nghiên cứu về vật liệu và thiết bị vi điện tử, do vậy thường chỉ phù hợp với các viện nghiên cứu hoặc giảng dạy. Nhưng anh về nước đúng lúc IBM cần một người quản dự án.

Công việc lúc đầu chỉ là hỗ trợ kỹ thuật cho khâu kinh doanh dòng máy chủ, sau đó vừa làm kỹ thuật vừa làm kiến trúc hệ thống, rồi chuyển sang quản lý một nhóm kinh doanh… Chỉ sau hơn 10 năm làm việc ở IBM, Võ Tấn Long trở thành một trong những tổng giám đốc đầu tiên của IBM Việt Nam là người Việt. Trầm tính nhưng không xa cách, năng nổ trong công việc nhưng không vì thế mà thiếu sự quan tâm đến các đồng nghiệp… đó là những cảm nhận ban đầu của bất cứ ai khi tiếp xúc với Võ Tấn Long. Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu từ những ngày đầu, khi anh bước chân vào IBM, anh cho biết:

Khi bắt đầu làm ở IBM, công việc của tôi hoàn toàn là kỹ thuật. Sau đó vừa làm kỹ thuật, vừa làm kiến trúc hệ thống. Công việc thú vị ở chỗ là mình phải luôn tìm tòi cái mới, nhiều khi phải tự học. Năm 2004, IBM ở Việt Nam có tổng giám đốc mới là người Singapore – lúc đó quy mô của IBM ở đây còn rất nhỏ. Ông đặt ra mục tiêu là phải thay đổi cơ cấu đội ngũ, cách tiếp cận thị trường.

Thời điểm đó tôi đã có kinh nghiệm bảy năm làm việc ở IBM, nhưng có lẽ đã đến lúc đi vào lối mòn, cần phải có một môi trường mới. Ông ấy đưa tôi sang quản lý một nhóm kinh doanh. Tôi rất lo lắng bởi vì từ xưa đến nay là dân kỹ thuật, và không phải là người quảng giao, và hình như cũng cảm thấy làm việc với máy móc “ổn” hơn làm việc với con người…

Và khi chuyển sang làm kinh doanh, anh thấy làm việc với con người có “ổn” không?

Thấy tôi còn do dự, tổng giám đốc lúc đó bảo tôi: Đó không phải là việc khó, mà vấn đề ở chỗ biết mình phải làm cái gì và dẫn dắt đội ngũ ấy đến đâu. Phải xây dựng cho bản thân niềm tin là mình làm được. Cái thật sự khác biệt giữa người làm được và người không làm được là ở niềm tin ấy. Đó là điều tôi học được. Và quả thật, công việc kinh doanh giúp tôi phát triển rất nhiều. Cách tư duy cũng khác hẳn. Đối với người làm kỹ thuật, mọi việc cần phải theo những bước thứ tự mạch lạc. Nhưng người làm kinh doanh lại có cách nghĩ khác, linh hoạt hơn rất nhiều: Không nhất thiết sau A phải là B, sau B phải là C… Kinh doanh lại thêm cách tiếp cận lôgic, có cấu trúc của người làm kỹ thuật là một sự trải nghiệm thú vị. Làm được điều đó cũng chính là tự tin và tạo niềm tin cho những người xung quanh. Điều đó không chỉ có lợi trong công việc, mà còn nhiều mối quan hệ nữa trong xã hội, gia đình.

Có lợi hơn cả trong công việc điều hành sau này của anh, khi đã ở vị trí tổng giám đốc là gì?

Tôi cho rằng, mô hình về kỹ năng của một người hiện nay phải giống như chữ T: Phải có chuyên môn sâu, nhưng không thể thiếu được một loạt các kỹ năng xã hội khác. Ví dụ trong bối cảnh toàn cầu hóa, anh cần có kỹ năng văn hóa, xã hội không chỉ ở nước mình mà còn của các dân tộc khác, các nước khác. Tất cả các kỹ năng ấy được coi là gạch ngang của chữ T. hội càng phát triển thì gạch ngang của chữ T càng quan trọng. Dù là ở vị trí nào thì ngoài kiến thức chuyên môn sâu (gạch dọc của chữ T), anh vẫn phải có những kỹ năng, kinh nghiệm, hiểu biết khác. Truyền thống bổ nhiệm lãnh đạo của IBM là thường chọn những người đã kinh qua nhiều vị trí làm việc khác nhau chứ không đi theo chiều dọc chữ T.

Tuy vậy, người đã từng qua vị trí kinh doanh vẫn có lợi thế hơn. Ở Việt Nam, người mình không kém bất cứ ai ở nét dọc của chữ T (đi thi quốc tế ở nhiều bộ môn khác nhau, nắm bắt khoa học kỹ thuật rất tốt…), nhưng tại sao tốt nghiệp đại học ra không đủ khả năng để làm ở các công ty nước ngoài? Đơn thuần là 2/3 trong số họ không đáp ứng được yêu cầu ngoại ngữ, 1/3 còn lại thì vẫn cần từ 6-18 tháng để hòa nhập vào với môi trường đó, vì thiếu kỹ năng xã hội và kỹ năng làm việc theo nhóm.

Ở Việt Nam, kỹ năng làm việc trong xã hội chỉ tập trung ở ngành dọc. Nói một cách cụ thể, ở IBM có một số nhân viên người Việt rất giỏi nhưng khi làm việc, cái mà họ thiếu là những kỹ năng xã hội để tạo ra sự khác biệt. Và do đó không có khả năng tạo ra một nhóm làm việc với mình thì không đi xa được. Anh có thể rất giỏi chuyên môn nhưng lại không có khả năng sắp đặt công việc theo một trình tự nhất định để người khác có thể cùng làm việc hoặc hỗ trợ thì cũng rất khó thành công.

Anh có nghĩ mình là người may mắn khi làm việc ở một môi trường như vậy?

Nếu như tôi không ở vị trí như ngày hôm nay thì liệu có cuộc trò chuyện của chúng ta hiện nay không, mặc dù tôi vẫn là tôi với những tố chất được tạo nên từ một quá trình học hành, trải nghiệm… Nói thế để thấy rằng, bản thân mỗi con người chỉ là một phần của sự thành công, phần còn lại là mình có cơ hội được làm việc ở trong một môi trường chuyên nghiệp, và cơ hội đó lại mang lại cho mình sự phát triển bản thân nhiều hơn nữa. Hai điều này tương hỗ lẫn nhau và cùng phát triển. Làm việc trong IBM, tôi luôn có cơ hội được tiếp cận với những điều thách thức bản thân mình. Con người như lò xo, nếu không bị nén lại thì cũng khó mà có sức bật. Qua mỗi lần như vậy là mình lớn lên một chút. Đối với những người thực sự muốn phát triển bản thân thì càng qua nhiều công việc bao nhiêu, càng nhiều kinh nghiệm bấy nhiêu. Ở ta, việc thay đổi công việc hầu như là một ý nghĩ “cực chẳng đã”. Còn ở nước ngoài thì ngược lại, đó là cơ hội.

Anh đánh giá thế nào về vị trí của ngành công nghệ thông tin (CNTT) Việt Nam trên thế giới?

Kinh nghiệm làm việc nhiều năm trong ngành Công nghệ thông tin cho phép tôi nghĩ rằng người Việt Nam có thể cung cấp được dịch vụ, sản phẩm có chất lượng toàn cầu. Đây là sự chuyển biến không chỉ về lượng mà còn vì chất. Hiện, Việt Nam đứng thứ hai về tốc độ phát triển về thị trường CNTT trên thế giới.

Theo anh, tốc độ phát triển CNTT như thế có ảnh hưởng như thế nào tới xã hội?

Ai cũng có thể nhìn thấy CNTT là tác nhân tạo ra một số thay đổi lớn về nhận thức, về xã hội, về công việc của mỗi người. Khoảng chục năm trước đây, nếu nói đến việc để tiền trong tài khoản ngân hàng thì ai cũng e ngại. Hoặc nếu như muốn chuyển tiền cho ai đó là cả một mớ thủ tục hành chính và phí cũng tương đối cao. Hoặc mua một cái gì mà không cần đến cửa hàng là điều không tưởng. Nhưng bây giờ đó là những việc rất bình thường. Nói tóm lại, CNTT đã giúp thay đổi quan trọng về nhận thức để hòa nhập với thế giới, nâng cao chất lượng cuộc sống bằng những dịch vụ tiên tiến. Tác động đó ảnh hưởng đến từng người…

 

Với sự phát triển công nghệ như thế thì liệu trong tương lai gần có xảy ra tình trạng thất nghiệp?Tôi không nghĩ vậy. Sự phát triển công nghệ sẽ thay đổi cơ cấu lao động, nhưng nó không tạo ra sự thất nghiệp. Nếu như mình nhìn công nghệ, hay kỹ thuật nói chung là một phương tiện nâng cao năng suất lao động thì rất dễ nhầm là sẽ tạo ra sự thất nghiệp. Nhưng nếu nhìn ngược lại thì bao giờ cũng thấy được một sự cân đối giữa nhu cầu nâng cao năng suất lao động và sự phát triển.

Có những giai đoạn mà sự phát triển đòi hỏi phải nâng cao năng suất lao động. Cách đây mấy tháng tôi có dịp nghe bài trình bày của ông Erich Clementi – một lãnh đạo cấp cao của IBM. Ông đưa ra câu hỏi là tại sao câu chuyện về Cách mạng khoa học kỹ thuật (Cái nồi hơi) lại xảy ra ở Anh chứ không phải ở Đức hay nước nào khác? Bởi vì lúc đó khoa học kỹ thuật (KHKT) ở Anh rất lạc hậu, đòi hỏi phải có sự phát triển đột biến, nâng cao đời sống xã hội. Đó là một câu trả lời rất xác đáng cho các vấn đề của Việt Nam hiện nay: Với 89 triệu dân và 95% là đã được xóa mù chữ, người Việt Nam được thế giới công nhận là cần cù, chăm chỉ.

Nhưng sự đãi ngộ có xứng đáng với sự cần cù chăm chỉ ấy không? Không. Là bởi vì phần lớn là làm thuê, là công nhân… KHKT tạo ra năng suất lao động, cụ thể là năng suất lao động trong một giờ sẽ nhiều hơn vì vậy, càng nhiều người làm thì càng tạo ra nhiều của cải hơn, sức phát triển càng lớn. Nói một cách cụ thể: Nếu tôi là chủ một doanh nghiệp có 1.000 lao động thì tôi vẫn muốn giữ 1.000 người ấy và tìm một phương cách sản xuất nào đó để tăng doanh thu lên gấp đôi, chứ không thể là muốn giảm đi một nửa người để doanh thu vẫn giữ như cũ. Do vậy, công nghệ không bao giờ tạo nên sự thất nghiệp mà chỉ tạo nên năng suất và sự phát triển xã hội. Ở Việt Nam điều này càng quan trọng vì nếu như mình không tiếp cận với KHKT tiên tiến thì mình sẽ mãi mãi là đất nước mà người ta đến vì giá nhân công rẻ. Đó là một trong các vấn đề mà chính phủ và các doanh nghiệp cần lưu ý.

Là một người gắn bó với công nghệ thông tin, anh nhận xét thế nào về khả năng xuất khẩu công nghiệp phần mềm của Việt Nam trong những năm tới?

Tại Việt Nam, khi nói đến thị trường phần mềm, chúng ta thường đề cập đến hai phân loại: thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu.

Thứ nhất là thị trường phần mềm dành cho các khách hàng trong nước. Theo đánh giá của chúng tôi năm nay, chi phí dành cho thị trường này chiếm khoảng 10% tổng chi phí của Việt Nam dành cho CNTT. Nếu muốn biến Việt Nam thành nước mạnh về CNTT thì thị trường phần mềm cần phải mang lại những giá trị ở tầm cỡ lớn hơn cũng như thị trường này phải có được một ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển nền kinh tế. Để có được điều này, đội ngũ CNTT không chỉ làm phần mềm một cách đơn giản mà phải thực sự hiểu biết cả về nghiệp vụ của lĩnh vực được ứng dụng, biến những lợi ích công nghệ thành những giá trị kinh doanh chính.

Thứ hai là thị trường xuất khẩu phần mềm. Đây là một thị trường tiềm năng cho Việt Nam nếu chúng ta thực sự biết tận dụng. Có thể nói cho đến nay, Ấn Độ, sau đó là Trung Quốc, nằm trong số những quốc gia chiếm thị phần lớn nhất trong phân đoạn này. Vì thế, để cạnh tranh được với họ, đối với các chuyên gia CNTT của Việt Nam, ngoài việc cần nâng cao kiến thức CNTT nói chung, chúng ta còn cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh về mặt chuyên môn cũng như phải không ngừng tích lũy và gia tăng bề dày kinh nghiệm của mình.

Hiện nay, có thể nói tại Việt Nam, các hoạt động xuất khẩu các phần mềm mang tính chất như một giải pháp trọn gói là rất ít mà chúng ta chủ yếu cung cấp phần mềm theo phương thức outsourcing (gia công) nhưng cũng rất ít doanh nghiệp làm được điều này. Nếu muốn Việt Nam có thể xuất khẩu các giải pháp phần mềm trọn gói trong các lĩnh vực ví dụ như ngân hàng hay viễn thông, thì trước tiên các giải pháp đó buộc phải có bề dày thử nghiệm thành công tại Việt Nam hoặc các nước trong khu vực trước, cũng như phải có sức cạnh tranh với các giải pháp tương tự trên thị trường. Khi thực sự có được điều đó, Việt Nam có thể hướng tới các thị trường tiềm năng như các nước có trình độ phát triển gần như Việt Nam, các nước đang phát triển trong khu vực, hoặc các nước mới phát triển ở châu Mỹ Latin và châu Phi.

Anh nhận định như thế nào về các xu hướng CNTT trong năm 2012?

Năm 2012 sẽ là năm đặt ra nhiều thách thức lớn hơn với nền kinh tế toàn cầu cũng như nền kinh tế Việt Nam, do khủng hoảng nợ công vẫn còn đang tiếp diễn tại những nền kinh tế “lõi” trong khu vực. Trong bối cảnh biến động của thị trường tài chính hiện nay, các doanh nghiệp sẽ không chỉ gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn để tái đầu tư mà còn phải đối mặt với tình trạng nhu cầu của người tiêu dùng sụt giảm, doanh nghiệp thiếu sức cạnh tranh.

Song song với những chính sách vĩ mô từ chính phủ Việt Nam trong việc duy trì chặt chẽ chính sách tiền tệ, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút vốn, các doanh nghiệp vẫn phải chủ động “vượt bão” bằng cách thúc đẩy các hoạt động tự tái cấu trúc toàn diện, nghiên cứu những hình thức phát triển sản xuất, kinh doanh để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc giải mã bài toán về trên phụ thuộc vào chiến lược nâng cao sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường; chú ý đào tạo nguồn nhân lực, đón đầu được các xu hướng CNTT chủ đạo trong tương lai và đẩy nhanh đầu tư cho công nghệ.

Trong bối cảnh chi tiêu dành cho công nghệ thông tin sẽ được thắt chặt hơn, những doanh nghiệp biết sử dụng CNTT làm một công cụ đắc lực để tiết kiệm chi phí và đẩy mạnh năng suất sẽ có khả năng tạo sự khác biệt trên thị trường.

Mấy năm gần đây, chương trình KidSmart của IBM đã thu hút được sự quan tâm của ngành giáo dục. Vậy nên, có vẻ như các anh đang có chiến lược “tấn công” vào thị trường giáo dục?

Được làm quen với CNTT từ nhỏ sẽ giúp các em có những nhận thức mới, có hướng tư duy mới. Đó chính là việc giáo dục từ gốc. Ngoài KidSmart, IBM còn có các chương trình hỗ trợ giáo dục từ lứa tuổi mầm non đến sau đại học. Hàng trăm trường học và hàng trăm nghìn học sinh, sinh viên đang được hưởng lợi từ các chương trình này.Ngoài ra, các năm gần đây IBM đều cử chuyên gia đến những đơn vị khó khăn trong lĩnh vực kinh doanh và giúp đơn vị đó, cơ sở đó, vùng đó về khả năng làm kinh doanh (không chỉ về lĩnh vực CNTT mà là ở tất cả các lĩnh vực kinh doanh), truyền đạt kinh nghiệm về khả năng phát triển. Năm 2011, các nhân viên và lãnh đạo của IBM Việt Nam đã đóng góp hơn 5.000 giờ hoạt động tình nguyện trong nhiều dự án vì cộng đồng khác nhau tại Việt Nam, trong khuôn khổ chương trình Trách nhiệm Xã hội. Ngoài các dự án tài trợ thường niên, trị giá hơn 15 tỉ đồng, IBM còn tài trợ gần 4 tỉ đồng cho 23 dự án tại 20 trường đại học, tổ chức phi lợi nhuận, các trung tâm đào tạo và nghiên cứu trong nước, nhằm huy động tinh thần tình nguyện trong cộng đồng.

Một ngày làm việc của ông tổng giám đốc như thế nào?

Thực ra với một người làm CNTT thì khó có thể nói bắt đầu từ khi nào và kết thúc vào lúc nào. Bây giờ người ta ít nói về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống mà nói đến sự tích hợp giữa công việc và cuộc sống. Trong tình cảnh toàn cầu hóa nhiều khi không có lựa chọn. Bản thân tôi, có những người làm việc với mình 4, 5 năm trời nhưng chưa bao giờ gặp mặt, hoặc họ ở tận nửa địa cầu bên kia. Do vậy, muốn được việc thì mỗi người lại phải chịu thiệt một chút. Điều này dẫn đến chuyện công việc của một doanh nghiệp không dừng lại trong tám giờ hành chính nữa. Công việc được phân đoạn ra rất nhiều.

Tôi đọc được một câu chuyện ngụ ngôn ở đâu đó rằng: Có một đống cát, một đống sỏi, và một đống đá phải cho vào một cái bình. Có người đã đổ sỏi, cát và đá vào thì không thể được. Nhưng người khác đã làm lại bằng cách đổ đá vào trước, sau đó là sỏi và cát… Như vậy, trong cuộc sống của mình có đá, có sỏi, có cát. Mình biết cách đặt cái gì vào trước, thì những thứ còn lại lách vào được hết. Có lẽ đó là phương châm để tôi sử dụng 24 tiếng trong ngày làm sao có thể đủ cho vừa làm việc, vừa nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động.

Đó là những chia sẻ thú vị về công việc, vậy cuộc sống ngoài công việc của anh thế nào?

Thời gian rảnh rỗi, tôi cũng làm những công việc thường nhật như bao người như dạy con học, tập thể dục, đọc sách… Có thể nói đọc sách là thói quen của tôi từ hồi còn nhỏ. Tôi tranh thủ đọc sách bất cứ khi nào có thể. Winning là tiêu đề một quyển sách mà tôi thường đọc lại khi có điều kiện. Tác giả của nó là Jack Welch (cựu CEO của Công ty GE). Quyển sách này nói về cách quản lý cũng như cách thức để làm sao xây dựng được một tập thể thành công.

Nhìn tổng thể con đường đi của anh có vẻ trơn tru, nhưng thực tế, có khi nào anh cảm thấy rất mệt mỏi, thất vọng?

Nơi tôi làm việc luôn có sức ép, dù ở bất cứ vị trí nào. Nhiều khi nó là sức ép nội tại vì mình muốn hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Cũng có những lúc tôi nản chí. Nhưng chỉ ngay sáng hôm sau, tỉnh táo hơn lại nghĩ: Nếu mình bỏ cuộc thì mình lại thua một ai đó, hoặc thua đối thủ cạnh tranh của mình, hoặc cụ thể hơn là thua những khó khăn của mình, thua bản thân vì vấn đề bản thân mình gặp phải… Và thật không thể tin được là qua mỗi lần như vậy thì tôi lại càng cảm thấy khó khăn bớt đi rất nhiều ở những lần sau.

Xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện.

 

 

Theo DNSG

Hai tin tốt, một tin xấu


 

Kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã xuất hiện tín hiệu tích cực, biểu hiện ở một số điểm như CPI đang giảm dần, thặng dư cán cân thanh toán quốc tế, dự trữ ngoại hối cho dù còn mỏng nhưng cũng đã tăng thêm 1-2 tỷ USD. Nhưng nền kinh tế lại xuất hiện một rủi ro mới là vấn đề nợ xấu và thanh khoản của hệ thống ngân hàng (NH), dẫn đến rủi ro về thanh khoản chủ yếu do nợ xấu trong bất động sản (BĐS). Bên cạnh đó, một tin xấu khác là đầu năm 2012 lại có nhiều doanh nghiệp (DN) tuyên bố phá sản.

 

 

Kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã xuất hiện tín hiệu tích cực, biểu hiện ở một số điểm như CPI đang giảm dần, tháng 2 tăng 1,37% so với tháng trước và tăng 16,44% so với cùng kỳ năm ngoái, dự báo CPI của tháng 3 và 4 sẽ ở mức thấp khoảng trên dưới 1%, như vậy cả năm 2012 khả năng CPI sẽ kiểm soát được ở mức một con số. 

Thặng dư cán cân thanh toán quốc tế, dự trữ ngoại hối cho dù còn mỏng nhưng cũng đã tăng thêm 1-2 tỷ USD, tổng đầu tư cho nền kinh tế giảm, tháng 1/2012 xuất siêu…

Nhưng nền kinh tế lại xuất hiện một rủi ro mới là vấn đề nợ xấu và thanh khoản của hệ thống ngân hàng (NH), dẫn đến rủi ro về thanh khoản chủ yếu do nợ xấu trong bất động sản (BĐS). Hiện bong bóng tài chính cao gấp hai lần GDP.

Bên cạnh đó, một tin xấu khác là đầu năm 2012 lại có nhiều doanh nghiệp (DN) tuyên bố phá sản.

Theo thống kê của Bộ Kế hoạc và Đầu tư, trong tổng số gần 600.000 DN đăng ký kinh doanh trên cả nước, tính đến hết năm 2011, đã có hơn 50.000 DN làm ăn thua lỗ, trong đó không ít DN giải thể, phá sản.

Còn theo số liệu từ Tổng Cục thuế, nợ thuế năm 2011 tiếp tục tăng 29,5% so với năm 2010 (năm 2010 tăng 17,9% so với 2009). Thậm chí, một công ty lớn như Hoàng Anh Gia Lai tiền thuế nợ lên cũng tới hàng trăm tỷ đồng….

Nguyên nhân được nêu ra là do sức tiêu thụ hàng hóa chậm, NH thắt chặt cho vay, nhiều DN chấp nhận nộp phạt để chiếm dụng tiền thuế làm vốn kinh doanh, việc thanh toán tiền hàng trong giao dịch mua bán giữa các bên còn chậm, nhằm mục đích chiếm dụng vốn lẫn nhau, dẫn đến tình trạng nợ đọng thuế.

Dù các giải pháp thoát khó có tính chất vĩ mô, nhưng những ý kiến của các chuyên gia kinh tế được DNSG ghi lại dưới đây cũng đề cập đến những việc làm cụ thể cho DN từng ngành nghề.

 


Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại – Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách Tài chính Tiền tệ Quốc gia: 
Tập trung đào tạo nhân lực 

– Trước nay, người ta nói nhiều đến tái cơ cấu, nhưng trên thực tế, muốn tái cơ cấu phải đảm bảo được các tiền đề như ổn định nền kinh tế vĩ mô, hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đến thời điểm này, tôi vẫn khẳng định chất lượng nguồn nhân lực là sức cạnh tranh dài hạn của một quốc gia cũng như của từng DN.

Như vậy, trong các ngành sản xuất công nghiệp, để giải quyết khó khăn trước mắt, tôi cho rằng, các DN nên chuyển từ một ngành công nghiệp gia công, lắp ráp sang phát triển các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

Tham gia vào những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong mạng sản xuất và chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu. Qua đó, mở rộng thị trường, bảo đảm tăng trưởng.

Nông nghiệp vẫn là một lợi thế lớn của Việt Nam. Vì vậy, DN hoạt động trong lĩnh vực này sẽ có cơ hội vượt rào trong thời gian sớm nhất.

Nhưng để làm được, cần đầu tư cao hơn để phát triển nền nông nghiệp nhiệt đới đa chức năng, tạo ra những mô hình sản xuất có năng suất cao, chất lượng tốt để chiếm lĩnh thị trường các nước mà nhu cầu ngày càng tăng khi nguồn cung đang ngày càng bị giới hạn.

Đối với các ngành dịch vụ, DN cần tập trung vào một số vấn đề như: ngoài các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, dịch vụ tài chính, viễn thông cần tập trung phát triển các ngành có lợi thế khác.

Chẳng hạn, dịch vụ logistics gắn với dịch vụ thương mại, dịch vụ hàng hải, các dịch vụ làm thuê bên ngoài. Ngoài ra, dịch vụ y tế, giáo dục cũng là những lĩnh vực có triển vọng phát triển trong tương lai.

Vậy trong thời điểm khó khăn này, các DN xem xét việc phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao đảm bảo sự vận hành hiệu quả, an toàn của các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tài chính.

 


TS. Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia: 
Giữa năm, lãi suất mới giảm 

– Những khó khăn của DN hiện tại đều xuất phát từ NH. Như vậy, tái cấu trúc hệ thống NH thương mại là cần kíp nhất. Bởi lẽ, nếu sự bất ổn của hệ thống NH kéo dài có thể làm giảm đầu tư tư nhân nội địa và đầu tư nước ngoài, áp lực tăng tỷ giá hối đoái có thể sẽ gia tăng.

Bên cạnh đó, vấn đề nhức nhối cũng cần giải quyết ngay đó là hàng tồn kho cuối năm 2011 tăng gây khó khăn cho sản xuất những tháng đầu năm 2012.

Vì vậy, trong lúc đợi hệ thống NH tái cấu trúc, các DN cần rà soát lại kế hoạch kinh doanh gắn với kế hoạch tài chính và sự vận động của dòng tiền. Cần tập trung vào những sản phẩm có khả năng tăng trưởng, tiêu thụ nhanh để thu hồi vốn sớm.

Ngoài ra, mở rộng thị trường nội địa, tăng xuất khẩu các mặt hàng có thể thay thế Thái Lan, xâm nhập thi trường Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Phi…

Đặc biệt, tiến hành tái cấu trúc DN để nâng cao sức cạnh tranh. Nghĩa là DN cần nhận thức rằng chiến lược tăng doanh thu, lợi nhuận chỉ là kết quả cần đạt đến. Muốn đạt được mục tiêu này phải bắt đầu từ chiến lược nâng cao sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường.

Chú ý đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ để chuẩn bị hành trang cần thiết khi kinh tế thế giới vượt qua thời kỳ trì trệ.

Đến thời điểm này, lạm phát đã xuống nhưng lòng tin của người dân chưa có, cộng thêm thanh khoản của NH chưa được cải thiện nên lãi suất không thể giảm.

Như vậy, chừng nào chưa dứt điểm được chuyện thanh khoản của NH thì DN vẫn khó có thể vay vốn để sản xuất kinh doanh.

Với tính toán của tôi, dự báo phải từ tháng 6, lãi suất mới có thể xuống rõ ràng, nên các DN không thể ngồi chờ đợi mà phải tự thân vận động mới mong không bị phá sản.

 


TS. Trần Du Lịch – Ủy viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội: 
Cứu nơi nào có thị trường 

Trong các nguyên nhân khiến DN phải giải thể hay ngừng hoạt động, ngoài nguyên nhân khách quan thì còn có nguyên nhân chủ quan là năng lực quản lý của DN (trong đó có các NH thương mại cổ phần) còn yếu kém.

Nhìn rộng hơn, hạ tầng – thể chế – và nhân lực là ba nút cổ chai đang thắt chặt cơ thể kinh tế vĩ mô.

Nếu xét thực tế, khó khăn của năm nay khác hẳn so với khó khăn của năm 2011, nếu không nói là khó khăn hơn rất nhiều. Cụ thể, năm 2011, dù khó khăn nhưng DN vẫn có hai lợi thế là tăng xuất khẩu từ 22% lên 33% và ngành nông nghiệp được mùa được giá.

Sang năm 2012, khó khăn về vĩ mô vẫn còn đó nhưng hai lợi thế này lại không còn vì xuất khẩu trì trệ và nông nghiệp thì gặp dịch bệnh, thiên tai…

Như vậy, việc các DN đang phải chịu đựng vấn đề về thanh khoản vốn và lãi suất NH đã phát sinh hệ lụy rất lớn trong việc kinh doanh sản xuất của các DN trong nước. Theo tôi, trách nhiệm của Nhà nước là cần phải rã băng từ từ ở những DN có thể tác động.

Chẳng hạn, bất động sản (BĐS) và chứng khoán được cho là hai thị trường khó khăn nhất hiện nay thì phải có sự gắn kết với thị trường tiền tệ.

Thị trường chứng khoán và BĐS ảm đạm do hạn chế tín dụng nên cần có giải pháp để làm ấm hai thị trường này ngay trong năm 2012. Dù ở quy mô nào thì hai thị trường này luôn là tín hiệu lạc quan hay bi quan của bức tranh kinh tế vĩ mô.

Thực ra, hệ quả của sự yếu kém về quản lý dẫn đến tình trạng đầu cơ thái quá trong giai đoạn 2006 – 2007 mà hệ luỵ của nó vô cùng to lớn, kéo dài cho đến nay vẫn chưa có giải pháp khắc phục có hiệu quả.

Cụ thể, đặc điểm lớn nhất của hai thị trường này là do đầu cơ thái quá nên làm méo mó toàn bộ cung cầu. Do vậy, để sửa chữa sai lầm, Chính phủ cần có ngay một chính sách tín dụng hướng vào chỗ nào đang có thị trường để cứu.

Một khi BĐS và thị trường chứng khoán phục hồi, các khoản nợ xấu tại NH cũng được thanh toán, như thế thanh khoản được cải thiện thì việc giảm lãi suất cho vay là chuyện đương nhiên.

Với tôi, bí quyết đầu tư của việc kinh doanh BĐS chỉ là chọn đúng vị trí và sử dụng tiền của người khác.

Như vậy, những DN không có tầm nhìn chiến lược tốt về vị trí cũng như phân khúc thì đành chịu, còn những DN đang đi đúng hướng phát triển ở phân khúc trung bình thì Chính phủ chắc chắn sẽ thông vốn để dự án hoàn thành.

Nói điều này để thấy rằng các DN BĐS muốn tồn tại vượt qua giai đoạn khó khăn này cần phải tự mình tái cấu trúc lại mục tiêu kinh doanh của mình sao cho phù hợp với cung cầu của thị trường.

 

Viện Nghiên cứu Toàn cầu Mckinsey (McKinsey Global Institute) vừa công bố nghiên cứu “Đưa kinh tế Việt Nam lên tầng cao hơn” (Taking Vietnam’s economy to the next level) nhấn mạnh tới các yếu tố vĩ mô và chính sách quản lý của Việt Nam.

McKinsey đã khen ngợi thành tích của kinh tế Việt Nam cho đến năm 2010, trước khi cảnh báo rằng Việt Nam cần phải nỗ lực cải tiến năng suất lao động nếu muốn duy trì thành quả tăng trưởng đã qua.

McKinsey đề ra cho Việt Nam bốn ưu tiên cải cách về chính sách:

-Thứ nhất là sửa sai để bảo đảm ổn định vĩ mô.

-Thứ hai là tăng cường các thành tố của năng suất, là giáo dục và hạ tầng cơ sở, với sự nhấn mạnh về hiệu năng và minh bạch trong giáo dục và đào tạo và về hạ tầng cơ sở cho kỹ nghệ du lịch.

-Thứ ba là định lại nghị trình kinh tế theo hai hướng là phải có phối hợp và tập trung vào một số ngành công nghiệp.

-Thứ tư là phải tiếp tục cải cách vai trò và khả năng của chính phủ để có thể áp dụng một chính sách tinh tế hơn.

 

 

QUỲNH CHI

http://doanhnhansaigon.vn

Khúc Hải Vân


 

Khúc Hải Vân: Tôi muốn chia sẻ ánh sáng với mọi người
Minh Hoàng
 

Bên cạnh Phạm Sơn Hà vóc người nhỏ nhắn, kiệm lời, vẻ ưu tư như lúc nào cũng đang nhìn vào sâu thẳm những nghĩ suy hướng nội luôn xuất hiện một hình ảnh hoàn toàn trái ngược. Khúc Hải Vân vui nhộn, cởi mở, thân thiện với mọi người chung quanh; cứ như anh không có thời gian cho những âu lo về cuộc sống. Vẻ ngoài của hai thanh niên khiếm thị cùng trạc tuổi ấy toát lên sự khác biệt về tính cách nhưng họ là một đôi bạn có chung những ý tưởng và cùng nhau hành động nhằm chia sẻ kiến thức công nghệ và cơ hội tự lực mưu sinh cho những người đồng cảnh ngộ.
Năm 2005, Khúc Hải Vân luôn có mặt trong mọi hoạt động của ngày hội tôn vinh Hiệp sĩ CNTT cùng với Hiệp sĩ Phạm Sơn Hà. Hôm đến thăm trại trẻ mồ côi ở thành phố Hạ Long, hình ảnh anh chàng beo béo đứng trên sân khấu mời cả hội trường cùng cất cao tiếng hát lạc quan, yêu đời đã để lại trong lòng mọi người có mặt những ấn tượng đậm nét, đầy cảm xúc.

“Cứ bước đi rồi đường sẽ bằng phẳng”
Đam mê và nhiệt huyết, con đường đến với cộng đồng của Vân bắt đầu từ năm 1998, vào cuối cấp 2 cậu đã là thành viên của nhóm tình nguyện trẻ do báo Sinh Viên VN tổ chức. Đến tận bây giờ khi đã dành phần lớn thời gian cho việc dạy học và không còn hoạt động như trước nữa nhưng các thành viên trong nhóm tình nguyện trẻ vẫn còn nhớ rất rõ anh chàng “Vân lật đật” vui tính và hăng hái tham gia vào các hoạt động quyên góp, giúp đỡ, dạy học cho trẻ lang thang và có hoàn cảnh khó khăn một cách nhiệt tình trong những năm cuối cấp 2 và cấp 3. Bảy năm trôi qua là bảy năm với những hoạt động xã hội và cống hiến không ngừng nghỉ cho cộng đồng đã tôi luyện cho Vân trở thành một con người khác. Bản lĩnh hơn trên lớp học và mạnh mẽ hơn trong cuộc sống, cậu đang dần khẳng định chính mình với xã hội bằng cách trở thành một người thầy, bằng những nỗ lực của bản thân để giúp đỡ những người cùng cảnh ngộ.
Từ việc chiếc máy đánh chữ nổi bị hỏng trong kỳ thi đại học Vân đã được một người bạn giới thiệu đến với máy tính để học đánh văn bản bài thi trên đó. Chính trong những lần đầu tiên chạm vào bàn phím Vân đã hiểu rằng hai chữ “tin học” chính là bước ngoặt cuộc đời mình. Sau khi trượt đại học lần đầu Vân quyết định dành trọn thời gian trong một năm để tập trung vào tin học. Là người khiếm thị bẩm sinh nên việc học tập của Vân thật không dễ dàng gì. Từ việc phải tự mày mò, học thuộc lòng các thao tác phím, có những lúc Vân cảm thấy bất lực bởi nhiều phần mềm quá phức tạp “đến người sáng mắt còn phải chật vật chứ đừng nói đến người khiếm thị”. Mày mò nhiều, khó khăn nhiều nhưng cuối cùng Vân đã gặp được Phạm Sơn Hà và bắt đầu làm quen với các phần mềm chuyên dụng dành cho người khiếm thị. Những bước chập chững đầu tiên với JAWS (phần mềm đọc màn hình) đã qua rất nhanh và sau đó là những ngày say mê mày mò “vọc” máy. Khi đã có được vốn kiến thức trong tay, Vân với Hà đã cùng có ý tưởng thành lập một trung tâm đào tạo tin học cho người khiếm thị. Từ tấm lòng và nhiệt huyết của đôi bạn Hà, Vân cùng với sự cộng tác của vài người bạn cùng cảnh ngộ, trung tâm Tia Sáng đã ra đời vào giữa năm 2005.
Nhớ lại những ngày đầu thành lập trung tâm, Vân nói “Chính bản thân đã từng đến các trung tâm, cửa hàng tin học để xin thực hành cài đặt phần mềm nhưng chỉ nhận được những lời từ chối nên em và anh Hà cùng nghĩ rằng thành lập trung tâm sẽ là cách tốt nhất để những người khiếm thị như mình có thể đến với CNTT dễ dàng hơn”. Khi được hỏi có nghĩ đến những khó khăn sẽ gặp phải khi thành lập trung tâm không Vân quả quyết “Cũng biết đó là một con đường không bằng phẳng nhưng mình cứ cố gắng bước từng bước rồi thì cũng sẽ đến lúc nó phải bằng phẳng thôi anh”.

Chia sẻ ánh sáng với mọi người
Năm 2005, Khúc Hải Vân thi đỗ vào Khoa Văn, trường Đại học Nhân Văn Hà Nội; vừa là sinh viên, Vân vẫn dành thời gian làm “thầy giáo” ở Trung tâm Tia Sáng. Hai năm qua, Vân đã cùng với Phạm Sơn Hà mở ra cánh cửa, dẫn dắt gần 60 học viên khiếm thị tiếp cận kho tàng tri thức qua công nghệ thông tin. Vân đã góp phần tạo ra bộ giáo trình đào tạo tin học cho người khiếm thị bằng âm thanh và hiện anh cùng các thành viên trong nhóm đang gấp rút hoàn thành việc chuyển đổi bộ giáo trình này sang công nghệ Daisy Book (sách điện tử kỹ thuật số dễ tiếp cận cho người khuyết tật) để có thể phục vụ cho người khiếm thị vào tháng 7 sắp tới.
Do trung tâm chưa có được một đường dây liên lạc cố định nên chiếc máy City phone trên tay Vân đã trở thành đầu cầu liên lạc, hỗ trợ giải đáp tin học cho các học viên của trung tâm. Tính ra mỗi ngày phải có tới hàng chục cú điện thoại của các học viên và “người quen” gọi đến nhờ giải đáp kỹ thuật. Khi tôi tò mò hỏi về tần xuất số lần trả lời điện thoại trong ngày Vân cười xòa và nói “Chuông luôn reo mọi lúc mọi nơi, trả lời nhiều khi đến mệt, nhưng được cái vui. Vui lắm anh ạ”. Hoạt bát và “mở” khi nói về niêm đam mê tin học là vậy nhưng anh chàng lại tỏ ra khá rụt rè khi đề cập về mình. Khi được hỏi về lý do chính dẫn mình đến “nghiệp làm thầy”, Vân trầm ngâm một lúc và nói “Có kiến thức cách nhìn nhận cuộc sống của những người khiếm thị sẽ khác, họ sẽ tự vươn lên tìm ra ánh sáng mới cho mình. Em đã tìm thấy ánh sáng và rất muốn chia xẻ điều đó với mọi người”. Rất đơn giản nhưng câu trả lời này quả thật đã nói lên thật nhiều điều.

Dự định cho ngày mai
Trung tâm không có nguồn thu mà chỉ dựa vào nỗ lực của các thầy, phương tiện dạy học hầu hết vẫn là các máy tính cũ. Khó khăn chồng chất nhưng xem ra các học viên không phụ công thầy khi cố công học tập và cứ 3 tháng lại có một lớp học viên mới tốt nghiệp góp phần biến những ước mơ “ánh sáng” thành hiện thực. Nhớ lại những ngày đầu cùng Phạm Sơn Hà gây dựng trung tâm Ánh Sáng, Vân bồi hồi nói “Chỉ cách đây hơn một năm thôi, tin học dành cho người khiếm thị còn là một cái gì đó thật xa vời. Bây giờ suy nghĩ mọi người đã khác và đó cũng là cơ hội để truyền bá kiến thức cho những người khiếm thị như mình”.
Hiện nay, Vân sống nhờ nguồn thu nhập chính là việc giao báo cho các công ty phát hành. Khi được hỏi sao không sử dụng kiến thức tin học để kiếm sống, có thu nhập cao hơn nghề giao báo, Vân nói: “Việc tốt hơn thì có nhưng đều phải làm suốt 8 tiếng mỗi ngày. Như vậy sẽ không có thời gian dạy tin học miễn phí cho người khiếm thị. Với em thì cứ kiếm đủ ăn và tiếp tục dạy là vui rồi”.
Vân và các bạn đã và đang triển khai một kênh hỗ trợ giáo trình và công nghệ đào tạo cho các trung tâm tin học dành cho người khuyết tật tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Mặc dù tự nhận mình là hơi “tham” nhưng cả Vân và Hà đều rất tâm huyết với cái “tham” này.
Một ngôi nhà nhỏ nép mình bên đường cái, một lớp học nhỏ với những chiếc máy tính cũ và tuổi đời của người thầy xem ra cũng còn rất nhỏ so với những học trò lớn tuổi. Nhưng với một tấm lòng và trái tim khát khao cống hiến, người thầy trẻ tuổi này đã và đang ngày ngày cố gắng chỉ cho những học trò khiếm thị của mình thấy một thứ ánh sáng mới, ánh sáng của công nghệ và tri thức….

 
Khúc Hải Vân luôn sẵn sàng giao lưu với bạn đọc e-CHÍP theo số điện thoại: 04.9133.582 hoặc qua địa chỉ mail: Khuchaivan1982@gmail.com.

Nghề sơn mài truyền thống tại Bình Dương


 

 

Nghề sơn mài truyền thống tại Bình Dương

Bình Dương, trong tiến trình phát triển vùng đất mang đậm nét văn hoá làng nghề thủ công truyền thống. Sơn mài là một trong những làng nghề nổi tiếng, đã định vị trên địa bàn hơn 300 năm. Từ lối chế tác cha truyền con nối, các lớp nghệ nhân luôn dày công gởi cả tâm huyết để dần hoàn thiện thành tác phẩm sơn mài nghệ thuật lừng danh, với vẽ đẹp lộng lẫy và sâu lắng.

Làng Tương Bình Hiệp – chiếc nôi nghề sơn mài Bình Dương
Các nghề thủ công truyền thống sơn mài, chạm khắc, đồ mộc đã có từ rất sớm và phát triển mạnh ở đất Thủ – Bình Dương, vùng được định hình và phát triển nghề chủ yếu ở thị xã Thủ Dầu Một (Chánh Nghĩa, Phú Cường, Tương Bình Hiệp, Tân An, Định Hòa). Chiếc nôi nghề sơn mài Bình Dương là làng Tương Bình Hiệp.
Theo tư liệu lịch sử – “Gia Định Thành Thống Chí” của Trịnh Hoài Đức, thì nghề sơn mài ở Bình Dương có từ thế kỷ XVII, do di dân từ miền Trung, miền Bắc mang theo vào vùng đất mới. Sau thời gian khai khẩn đất đai, đồng áng, sinh cơ lập nghiệp, họ đã thực hiện những bức tranh sơn mài đầu tiên – chủ yếu quét sơn vẽ tranh cảnh. Những bức vẽ cây đa, bến nước, mái đình, tre làng, … được tái hiện trên tranh giúp họ vơi đi nổi nhớ quê nhà…


Bức tranh vẽ cảnh sinh hoạt đồng quê

Làng Sơn mài được biết đến nhiều và tiêu biểu nhất ở Bình Dương, là làng sơn mài Tương Bình Hiệp ra đời vào thế kỷ XVIII. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi: “… ở làng Thủ Dầu Một, dân chúng có nghề làm sơn theo kiểu cổ khá thịnh vượng…”. Người Bình Dương thời ấy đã sớm nhận ra lợi thế của vùng đất này đã dần hình thành nên làng thủ công đặc sắc. Với nguồn nguyên liệu gỗ các loại, kết hợp với sơn dầu Phú Thọ – một loại nhựa có màu sắc đẹp, lạ, bóng, bền đã tạo nên lớp men đen bóng cho những tác phẩm đơn giản ban đầu mà nghệ nhân đã không ngừng hoàn thiện kỹ thuật đã đào tạo lớp kế thừa nghề cổ truyền và phát triển lâu dài trong xã hội.
Dưới thời thuộc Pháp năm 1901, thực dân Pháp cho mở trường dạy nghề Mỹ nghệ gọi là Trường Bá nghệ thực hành Thủ Dầu Một, để phục vụ công tác khai phá thuộc địa. Từ đó, nghề thủ công mỹ nghệ có thêm đội ngũ thợ lành nghề được đào tạo chính quy, đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử phát triển của các nghề thủ công cổ truyền ở Bình Dương.
Đầu Thế kỷ XX các nhóm thợ “Thủ” tập trung tại làng Tương Bình Hiệp – Phú Cường chủ yếu là sản xuất các mặt hàng sơn mài và điêu khắc gỗ. Tên tuổi các thợ Xù Nhồng, Phèn, Dựa được vang danh khắp nơi, cùng lớp nghệ nhân trẻ có học vấn, tốt nghiệp ở các trường mỹ thuật như Cao Đẳng Mỹ thuật Đông Dương, mỹ thuật Gia Định, Biên Hòa, Thủ Dầu Một.
Theo số liệu thống kê năm 1945, ở Bình Dương có 10 cơ sở sản xuất sơn mài. Riêng làng Tương Bình Hiệp có hơn 300 hộ gia đình làm nghề. Đặc biệt, xưởng sơn mài Thành Lễ thành lập 1943 là cơ sở sản xuất lớn nhất thời bấy giờ tạo tiếng tăm trong và ngoài nước.
Tranh sơn mài khảm xà cừ
Đỉnh cao của sơn mài Bình Dương ở thời điểm 1945 – 1975. Sự ra đời của xưởng sơn mài Thành Lễ, do hai nghệ nhân Trương Văn Thành và Nguyễn Văn Lễ sáng lập. Xưởng lúc bấy giờ quy tụ được nhiều nghệ nhân nổi tiếng trong vùng như Thái Văn Ngôi, Ngô Từ Sâm, Trần Văn Nam… hàng sơn mài giai đoạn này xuất khẩu sang các nước Châu Âu, có giá trị thương mại lớn. Hàng sơn mài thời này đạt đỉnh cao về số lượng, với trình độ mỹ thuật và chất lượng nghệ thuật, sự đa dạng phong phú. Đó là thời vàng son nhất của ngành sơn mài. Tại hội chợ Munich (Đức) 1964, sản phẩm được tặng huy chương vàng, hội chợ công thương sài gòn 1974, triển lãm kinh tế, khoa học kỹ thuật toàn quốc năm 1975 sơn mài Bình Dương được huy chương vàng.
Sơn mài – sản phẩm truyền thống độc đáo, lắm công phu
Sơn mài Bình Dương nổi tiếng được khách hàng ưa chuộng, bởi từ nguyên liệu gỗ đến khâu cuối cùng của sản phẩm phải trải qua quá trình 25 công đoạn, mỗi công đoạn đòi hỏi một nghệ thuật riêng tỷ mỉ và công phu. Một qui trình sơn mỗi sản phẩm phải mất từ 3 đến 6 tháng mới đảm bảo yêu cầu chất lượng.
Năm 1975 đến nay, sau nhiều biến đổi, ngành sơn mài ổn định và phát triển. Sơn mài cổ điển vẫn được ưa chuộng, thêm vào đó hàng loạt các mẫu mã hiện đại, phù hợp với yêu cầu cơ chế thị hiếu mới.
Trải qua nhiều thế hệ, sơn mài trên vùng đất Bình Dương vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, đó là sự tinh xảo, nhẹ nhàng thanh thoát, đậm đà tính cách Á đông. Ngày nay, các cơ sở tại làng sơn mài Tương Bình Hiệp có khả năng sản xuất khá đa dạng các sản phẩm sơn mài, từ những bức tranh nghệ thuật đến các loại tủ, bàn ghế… Bên cạnh các loại tranh sơn mài, còn có các sản phẩm sơn mài để sử dụng và trang trí như: bình, lọ, dĩa, vòng tay, hộp… Sản phẩm sơn mài nói chung có rất nhiều phương pháp thể hiện như: sơn mài sơn lộng, sơn mài vẽ mỏng, sơn mài khoét trũng, sơn mài đắp nổi, sơn mài cẩn trứng, sơn mài cẩn xà cừ, cẩn ốc… sự đa dạng về sản phẩm, về sự kết hợp sơn mài với các chất liệu khác như gốm, tre… có nhiều xưởng sản xuất, xuất khẩu hàng sơn mài như các xí nghiệp Thành Lễ, Đồng Tâm, Hùng Hương…

Tranh sơn mài cẩn trứng

Với bề dày truyền thống và lịch sử phát triển vùng đất hơn 300 năm, nghề sơn mài trên đất Bình Dương vẫn giữ vững đậm đà bản sắc dân tộc. Ngày nay, sự phát triển về khoa học công nghệ, nghề sơn mài với sự kế thừa truyền thống kết hợp với hiện đại đã góp phần tạo nên tính đa dạng mẫu mã, phong phú về chất liệu… Sơn mài đã và đang là nguồn cảm hứng thẫm mỹ của các thế hệ nghệ nhân tài hoa, là tiếng nói nghệ thuật mang tính nhân bản cho bạn bè trong nước và thế giới hiểu thêm về bản sắc độc đáo của văn hóa dân gian Việt Nam.
Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp không những là niềm tự hào của bao thế hệ nơi đây, mà còn là một nét văn hóa truyền thống đặc trưng của vùng đất đáng trân trọng. Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, các cấp các ngành, cùng với sự đồng lòng của nghệ nhân, người thợ, doanh nghiệp yêu nghề. Ngày 29/8/2006, Hiệp hội Sơn mài – Điêu khắc Bình Dương được thành lập tại Quyết định số: 3838/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương. Hiệp hội sẽ là cầu nối quan trọng, góp phần gìn giữ và phát huy thế mạnh nghề truyền thống sơn mài ở Bình Dương.

TÌM HIỂU NHẠC VÕ TÂY SƠN



 Bộ môn văn hóa này, theo dân thoại Bình Ðịnh gọi là “Nhạc Võ Tây Sơn” và theo nhạc pháp gọi là “Song Thủ Ðả Thập Nhị Cổ”. Ai cũng biết, sắc thái đặc biệt trong nền văn hóa cổ xưa của người Việt nổi bật hơn cả là việc dùng trống. Những cuộc khai quật đã đem đến cho các nhà khảo cổ cái trống đồng mà đặc trưng hơn cả là “trống đồng Ngọc Lũ” là chứng cớ đặc biệt của nền văn minh Việt.
TỪ VĂN MINH TRỐNG ÐỒNG
“Tiếng trống từ xưa đến nay đối với dân tộc Việt Nam vẫn là hiệu lệnh để thi hành công việc tập đoàn, để báo hiệu một công việc có quan hệ chung, trống ra quân, trống ngũ liên, trống thu không, trống cầm canh… thường ở đình làng nào cũng có cái trống lớn để báo hiệu, trước khi là một công việc nghệ thuật từ trống chầu đến cầm chầu cho con hát. Vậy dụng ý của trống đồng là đại biểu uy lực của thủ lãnh quần chúng, ban hành mệnh lệnh để rồi trở nên huy hiệu của mệnh lệnh và trở nên thiêng liêng, cho đến thời quốc gia độc lập mới có đền thờ “Ðồng Cổ” như là quốc giáo (1).Vì vậy, ta có thể nói rằng việc chế tạo và sử dụng trống là sở trường của Văn Hoá Việt Nam, và không có chi là lạ khi ta biết rằng trong thời Tây Sơn (1788-1802) sắc thái đặc biệt nọ của văn hóa dân tộc được anh em Nguyễn Nhạc khai thác đến triệt để, thì nghệ thuật chơi trống cũng đưa đến tuyệt đỉnh
ÐẾN NHẠC VÕ TÂY SƠN
Nhạc khí căn bản của nhạc võ Tây Sơn là một dàn trống do quân Tây Sơn dùng khi thao diễn quân sĩ tại võ trường, khi xuất quân cho khí thế thêm mạnh mẽ, khi thúc quân lướt tới trận mạc cho mau lẹ, khi cần hành quân tiến thối nhịp nhàng, khi hãm thành cho uy thế thêm mãnh liệt, hoặc là khi khải hoàn mà reo mừng thắng trận.Bộ trống đúng theo kinh điển gồm 12 cái, mỗi cái mang tên một con giáp của thập nhị chi: tí, sửu, dần, mẹo, thìn… và khi học nhạc thì tên các con giáp này cũng là tên các cung bậc do tiếng trống phát ra. Ðường kính mỗi trống lớn, nhỏ khác nhau, da bịt trống thì căng chùng, thẳng cũng khác nhau nên tiếng trống cao thấp khác nhau.
NGHỆ THUẬT ÐÁNH TRỐNG
Khi đánh trống thì nghệ sĩ dùng roi trống (dùi trống), có khi bỏ cả roi trống mà chỉ dùng những ngón tay, dùng bàn tay, dùng nắm tay, dùng cùi chỏ… nghĩa là dùng đủ cả bộ phận của hai tay. Trường hợp dùng roi trống thì cứ mỗi nhịp điệu cử động của ta là ta có thể nghe được bốn âm thanh phát ra: nơi đầu roi trống (1), kéo sang đuôi roi trống (2), hạ cùi chỏ xuống (3), và bật ngửa nắm tay vào mặt trống (4). Cứ như thế mà hai tay của nghệ sĩ nhảy múa trên 12 cái trống khi lơi lả nhẹ nhàng, khi dồn dập gấp rút, khi phấn khởi khoan thai. Chỉ có hai cái tay mà đánh cả một dàn trống 12 cái nên nhạc pháp gọi là “Song Thủ Ðả Thập Nhị Cổ”.
Tuy nhiên, trong trường hợp mà nghệ sĩ vượt khỏi tầm kinh điển đến bậc siêu thặng thì ngoài 12 cái trống đặt ngay trước mặt để cho hai tay sử dụng theo đúng nhạc pháp Song Thủ Ðả Thập Nhị Cổ, hãy còn đặt thêm 5 cái trống khác ở phía sau: một cái đặt ngang nơi đầu để đầu ngả ngửa húc vào, hai cái đặt ngay hai bên hông cho hai cùi chỏ thúc vào và còn hai cái nữa thì đặt cho vừa tầm hai gót chân để đá hậu vào, vị chi là 17 cái trống. Nghệ sĩ “chơi” nổi 17 cái trống (ông Tám Ngang) thì không còn nữa, mà trước đây chỉ còn có nghệ sĩ chơi được 12 trống mà thôi. Tuy nhiên, khi nghe xem thì vẫn thấy là siêu việt.
Trước khi chơi, nghệ sĩ đi một đường quyền, bái tổ rồi mới bắt đầu đánh trống và các bản nhạc lần lượt nổi lên. Nghệ sĩ, điệu bộ hùng dũng, công lực dồn lên nét mặt, trổ ra hai tay dồn dập bên 12 cái trống xem như một nghệ sĩ đang múa đường quyền bên 12 cái trống kiểu lăng ba vi bộ nên mới gọi là nhạc võ. Nghệ sĩ chơi bộ môn này cần phải biết võ thuật và khiếu thẩm âm để sự biệu diễn tăng thêm phần ngoạn mục.
NGHỆ THUẬT BỊ MAI MỘT
Những năm trước đây, không nghe ai nhắc đến “Nhạc Võ Tây Sơn” là vì một lẽ dễ hiểu. Thói đời thắng được thì là vua mà thua là giặc. Khi nhà Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn Gia Long chiến thắng, nhà Tây Sơn bị nhà Nguyễn tru di đến nỗi mộ phần của các Ngài cũng bị quật lên, nghiền xương tán nhỏ làm thuốc súng bắn xuống biển, các tôi trung nhà Tây Sơn đều phải mai danh ẩn tích. Thậm chí đến những cái hay của nhà Tây Sơn cũng phải dấu đi kẻo để lộ cho người khác biết được đi báo thì sẽ bị tù đày. Do đó mà di tích nhà Tây Sơn đều bị phá bỏ hết. Ðồng bào Bình Khê thương nhớ ba Ngài lén lập đền thờ mà bề ngoài cũng phải ngụy trang là miếu thờ thần. Ai có thương nhớ giữ được cái gì hay của Ba Ngài thì để bụng chẳng dám phô trương vì sợ chính quyền nhà Nguyễn mà hay được thì không tránh khỏi hậu quả khốc hại. Nhạc võ Tây Sơn cũng cùng chung cái số phận này.
Tôi cũng xin phép mở một cái dấu ngoặc tại đây để nêu lên một lý do thứ hai (Thi sĩ Quách Tấn cho biết: Ngày xưa, môn võ thuật Bình Ðịnh chia làm 4 bộ môn: côn, quyền, kiếm, cổ (trống) chứ không phải kích.Về môn Cổ thì võ sinh thường treo lủng lẳng ngay hàng, hàng năm, muời cái trống (loại trống chầu hát bội) để tập võ. Võ sinh sẽ đánh, đá vào cá cái trống ấy. Trống bị sức mạnh đánh, đá sẽ văng ra xa và nhờ dây treo thối ngược lại. Lối tập võ bằng trống này, một là để tạo những cú đánh (đấm), đá mạnh, nặng cân hơn; hai là để tập sự nhanh nhẹn chống đỡ, tránh né. Nếu ai không tinh mắt lẹ tay thì chắc chắn sẽ bị trống thối ngược lại đập cho vỡ mặt, gãy xương.Lần về sau, dường như con người mỗi ngày một yếu dần nên không còn ai dám tập võ bằng trống nữa mà tập bằng những bao đựng cát hoặc bằng bưởi, bòng… Từ đó, danh từ tập võ bằng trống không còn ai dám nhắc tới vì nhắc tới cũng thêm hổ thẹn với người xưa, dần dà rồi mai một.
Có người bảo Nhạc Võ Tây Sơn là biến thể của lối tập võ bằng trống này. Ðiều đó không lấy gì làm chắc. Nhưng nếu quả vậy thì nhà Tây Sơn thật là kỳ tài đã khéo khai thác từ bộ môn võ thuật chuyển sang bộ môn âm nhạc, rồi lại dùng âm nhạc mà giáo dục võ thuật, gây không khí hào hứng trong quần chúng, kích động lòng hăng say chiến đấu của các chiến sĩ bằng tiếng trống.Ngày nay, tại Kampuchia, người ta cũng dùng trống để tập võ. Trên võ đài Miên mà thiếu tiếng trống thì võ sinh không tài nào biểu diễn được). Xin khép ngoặc lại.
NHƯNG CÓ NGƯỜI CÒN GIỮ ÐƯỢC CHÂN TRUYỀN
Nhưng may thay, vận nước đổi dời, khi thực dân bị lật đổ, nhà Nguyễn cũng nhào theo thì chỉ có hai người, một ở Bình Khê (nay là Tây Sơn) và một ở Tuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh, còn giữ được cái chân truyền ấy và xem như quốc bảo. Người ở Bình Khê là ông Tám Ngang, ông là người sử dụng được 17 cái trống, ông đem dạy lại cho ba người: hai đứa con trai ông và một người học trò. Ðứa con trai đầu chết, đứa thứ hai thì năm 1954 ở trong đoàn văn công của tập kết ra Bắc, còn lại người học trò kia là nghệ sĩ Tân Phong (tức Nguyễn Phong). Người ở Tuy Phước tên là ông Bầu Thơm (tức Võ Ðôn) là một ông bầu hát bội và cũng là một nhạc sư về loại nhạc hát bội, ông dạy lại một người học trò đó là nghệ sĩ Mười Thông (tức Hoàng Thông) là một nghệ sĩ hát bội và một roi trống hát bội có hạng.Hai ông thầy vì tuổi già đã qui tiên còn lại hai người học trò trên kia, tuy không phải bậc siêu đẳng đánh nổi 17 trống, song cũng học được đúng truyền thống của nhạc pháp “Song Thủ Ðả Thập Nhị Cổ”. Trước năm 1975, ở Phù cát có anh Nguyễn Việt cũng tập đánh được 12 trống và ở Bình Khê có hai em bé gái (một em 7 tuồi, và một em 12 tuổi) do đoàn Ca Võ Nhạc Tây Sơn đào tạo cũng tập đánh được 5 trống (ngũ âm) xem rất ngộ.Riêng Tân Phong, anh là một nghệ sĩ chơi thạo các môn như vẽ vời, ca hát, đờn địch, đắp tượng, chạm trổ, điêu khắc, viết tuồng, đóng kịch… Cái gì anh cũng thảy làm được. Nghe đâu anh cũng đã thất lộc cách đây vài năm. Xin thắp cho anh một nén hương lòng thương tiếc một người bạn tài hoa.
GIÓNG TRỐNG KHẮP NƠI
Trước năm 1975, anh Tân Phong vì mang nặng một tinh thần dân tộc nên anh sẵn sàng muốn truyền lại cho đoàn hậu bối cái quốc túy của văn hóa dân tộc, anh cũng đã thuận lời mời đi trình diễn Nhạc Võ Tây Sơn này nhiều nơi. Tôi còn nhớ:Ngày 8-11-1967, Hội Văn Hoá Bình Dân Sài Gòn mời anh trình diễn tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ tại Sải Gòn nhân có buổi lễ của cơ quan UNESCO tổ chức tại trường này.Ngày 11 và 12-1-1968, trình diễn tại rạp Thống Nhất Sài Gòn và sân Tinh Võ Chợ Lớn do ban Quản Trị Ðiện Tây Sơn Bình Khê tổ chức dưới sự giúp đỡ của Hội Ðức Trí Thể Dục SAMIPIC (Société pour l’Amélioration Moral Intellectuelle et Physique des Indochinois de Cochinchine) và đoàn thể Vovinam.Ngày 16-8-1969, trình diễn tại Trung Tâm Văn Hoá Bình Ðịnh tại Qui Nhơn nhân ngày khánh thành Trung Tâm này có sự chứng kiến của ông Quốc Vụ Khanh Mai Thọ Truyền, đặc trách Văn Hoá, ông Ðại sứ Ðại Hàn Dân Quốc và rất đông quan khách Việt Hàn Mỹ tham dự.Ngày 15-3-1970, được phái đoàn điện ảnh Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thu hình và đã trình chiếu trên màn ảnh truyền hình Việt Nam vào đêm 25-4-1970 tại Sài Gòn và tại Cần Thơ, Qui Nhơn, Huế vào các đêm kế tiếp.Ngày 18-6-1970, được phái đoàn Ðiện ảnh Bộ Thông Tin thu hình làm phim tài liệu và sẽ trình chiếu trên các màn ảnh ciné và truyền hình.Nghe đâu, sau năm 1975, hai em bé ở Bình Khê mà đoàn Ca Nhạc Võ Tây Sơn đào tạo năm nào nay cũng đã mang trống Tây Sơn đi đánh xứ người, được nhân dân nhiều nước tán thưởng.Ngoài ra, hàng năm vào ngày mồng 5 Tết tại điện Tây Sơn Bình Khê, tiếng trống kích cảm của môn Nhạc võ Tây Sơn đã vang lên mở đầu cho chương trình tế lễ vua Quang Trung và lễ hội Tết đống Ða, kỷ niệm trận chiến thắng quân Thanh oanh liệt nhất trong lịch sử của vua Quang Trung Nguyễn Huệ vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1979.Ai có dự xem trên phim ảnh các lối đánh trống ở nước ngoài đều phải công nhận rằng nghệ thuật đánh trống của Tây Sơn thật là kỳ ảo.Trước năm 1975, ban Phổ biến Nhạc Võ Tây Sơn lại còn biểu diễn phối hợp giữa Nhạc võ Tây Sơn và Võ thuật Bình Ðịnh bằng cách khi nhạc võ nổi lên thì các võ sinh nam nữ ở bên ngoài đi những đường quyền, những đường côn, siêu, đao… múa, đá, tọa, nhảy nhịp nhàng theo tiếng trống và đờn, kèn, xụp xõa, mõ phụ họa xem chẳng khác chi những corps de ballet của Tây phương.
BÀI BẢN NHẠC VÕ
Vì mang danh là nhạc võ nên bài bản phần nhiều cũng mang tính chất quân sự như bài: Khai Trường, Xuất Quân, Hành Quân, Hãm Thành, Khải Hoàn.Nhạc võ Tây Sơn, muốn biểu diễn đúng theo truyền thống và xem cho đẹp mắt thì trước hết, đi đầu là bộ phận của chiêng, trống, có quân hầu, lọng che; theo sau là hai toán quân (mặc áo cạp nẹp, chân quấn vòng ve, đầu đội nón dấu, tay cầm đao, kiếm, côn…) rồi đến giàn Nhạc Võ đặt trên một chiếc xe đẩy (Nhạc trưởng đứng giữa, hai bên là bốn nhạc công: đờn, kèn, xụp xõa, mõ phụ họa); sau rốt là vị tướng chỉ huy lẫm liệt trên mình voi hoặc ngựa.Bắt đầu biểu diễn, vị tướng kêu gọi:Ngoài biên thùy quân thù xâm lấnTrong nội tình đất nước lâm nguyPhận làm trai sinh tử nẹ chiQuyết một dạ lên đường cứu quốc!Nhạc trưởng tiếp theoAnh em ơi!(Toàn thể nhạc công) “Dạ”Lệnh trên đà ban xuốngPhận dưới phải thi hànhDùng kế mưu kích cổ đa thanhÐịch lầm tưởng hùng binh vạn độiÐằng trước khởi chinh cổ, giàn nhạc võ nổi lên và lần lượt theo các bài bản do vị tướng chỉ huy.
1.- Bài Khai Trường
Bài Khai Trường chỉ dùng để luyện tập quân sĩ hay chào mừng các vị tướng chỉ huy khi cần đến diễn võ trường. Ðiệu nhạc khoan thai, hùng dũng.Thuở xưa, mỗi dịp có vị Hoàng đế hay vị Nguyên soái đến diễn võ trường để mở một cuộc diễn võ, tập võ hay là chọn tướng sĩ thì khi vị ấy bước vào võ trường, mỗi xứ có một điệu nhạc riêng để chào mừng nhà lãnh đạo. Riêng đối với quân Tây Sơn, điệu nhạc đó là ba hồi trống khai trường. Nhưng mà nhạc hát bội thường chỉ có hai cái trống căn bản gọi là “trống âm” và “trống dương” hay “trống quân” và “trống chiến”. Nếu người ta biết rằng hát bội ngày nay là do cụ Ðào Tấn ở Bình Ðịnh lập thành qui chế, thì phép đánh trống của hát bội cũng đánh nhái theo điệu Khai Trường của Nhạc Võ Tây Sơn.Trống Khai Trường của hát bội phải đánh đúng ba sách, mỗi sách tám phách. Khi đánh đúng 24 phách, nhạc sĩ mở ra thành trống chiến và chờ cho trống quân gióng giáp ba hồi lại 9 tiếng thì người trống chiến phải thét theo. Khi thét xong, nghĩa là khai trường xong thì nhạc sĩ mở trống ra cho nghệ sĩ ra sân khấu. Lúc đó thì người hát hát thứ gì, nam, khách hay xuân… thì người đánh trống phải đánh theo thứ ấy. Nhưng thường người đánh trống chỉ được quyền đánh khi người nghệ sĩ trên sân khấu đã “thủ” và “vĩ”. Nếu người đánh trống tự ý đánh theo, gọi là đánh nhái.Nói về bài bản của nhạc hát bội thì có 8 bài kể từ bài nhịp một đến nhịp tám còn âm thanh hay hoặc dở tùy theo người nhạc sĩ bắt già hay non mà thôi.
2.- Bài Xuất Quân
Xuất quân có nghĩa là đem quân đội ra chiến trường, nó có nghĩa là khởi hành và bao giờ khởi hành thì điệu nhạc phải làm sao cho tinh thần chiến sĩ phấn khởi lên, hăng hái lên và cũng phải gây cho được trong lòng mọi người một niềm tin chiến thắng. Do đó, nhạc xuất quân của Nhạc Võ Tây Sơn theo điệu này là một điệu nhạc hùng, nhịp của nó càng nhặt làm cho tim mọi người đập càng lúc càng mau, nghe hăng hái, phấn khởi.
3.- Bài Hành Quân
Ta tưởng tượng một đạo quân hùng hậu đã xuất quân trong tình thần tối cao nhưng mà sau một khúc đường dài chắc hẳn cũng đã thấy mệt mỏi. Trong lúc ấy vị tướng chỉ huy chỉ kêu gọi nầng cao tinh thần suông, chúng ta có cảm tưởng rằng lời kêu gọi ấy không được đáp ứng. Trái lại, nếu lời khuyến khích là một lời êm ái, dịu dàng, có vẻ vui vẻ, có vẻ đùa cợt … thay vì đem lời hùng hồn thì đem lời an ủi êm ái, chắc có lẽ kết quả sẽ hay hơn.Ðọc truyện Tàu, chúng ta còn nhớ lúc Quản Di Ngô ngồi trong cũi để được đưa về nước Tề thì thấy các quân khiêng cũi hơi mệt mỏi nên Quản Di Ngô bèn đặt ra những bài ca, bài hát để cho quân sĩ đi theo nhịp bài ca mà quên mệt mỏi. Còn trong dã sử của Tây Sơn, người Bình Khê thường thuật lại rằng: Khi quân Tây Sơn đi ra Thăng Long ngày đêm không nghỉ phải hai người võng một người thì tránh sao khỏi cái việc khiêng liên tiếp mười mấy ngày, quân Tây Sơn cũng có thể mệt mỏi, và huyền thoại truyền rằng vua Quang Trung mới bày ra chuyện thi đua kể chuyện tiếu lâm để cho quân sĩ hào hứng quên sự mệt mỏi và, chúng tôi cũng tin rằng không biết chừng dàn trống của Nhạc Võ Tây Sơn lúc ấy lại trổi khúc hành quân nhằm mục đích giống như mục tiêu của việc thi đua kể chuyện tiếu lâm trên kia.Khúc nhạc này của Nhạc Võ Tây Sơn cũng diễn tả được cái ý nghĩ đó. Khúc nhạc này có đoạn nhạc sĩ chỉ đánh thuần bằng tay không, bằng những ngón tay, bàn tay, nắm tay và cùi chỏ nghe rất vui tai và xem đẹp mắt.
4,- Bài Hãm Thành
Bây giờ chúng ta lại tưởng tượng tiếp như đoàn quân Tây Sơn đã đến dưới chân thành và vị tướng chỉ huy đã ra lệnh hãm thành thì phận sự của nhạc sĩ sử dụng giàn trống là phải gây cho chiến sĩ một tinh thần nỗ lực tối đa để công phá thành trì hầu cướp được cho mau lẹ. Ðiệu nhạc này nghe thật là sôi nổi, dồn dập, kích động tối đa lòng dũng cảm của mọi người.
5.- Bài Khải Hoàn
Và sau cùng là bài Khải Hoàn. Ðiệu nhạc này dĩ nhiên âm thanh phải diễn đạt cho được sự vui mừng, phấn khởi, hò reo của kẻ chiến thắng.Ai đã có nghe xem Nhạc Võ Tây Sơn sẽ nhận rõ điều đó. Tôi nói nghe và xem vì Nhạc Võ Tây Sơn xem đã đẹp mắt mà nghe cũng vui tai. Ðiệu bộ và âm thanh hòa nhịp khi khoan, khi nhặt, khi bổng, khi trầm, khi lơi lả, lúc dồn dập thật là khó tả.

 

Hồ Phi Long

https://sites.google.com/site/thuvienvohoc

Thị xã Thủ Dầu Một – Vùng đất phương Nam


This slideshow requires JavaScript.

Ít ai tưởng tượng được rằng sự thay đổi của một vùng đất, từ chỗ xa xôi, vắng vẻ trở thành đô thị sầm uất, nhộn nhịp, ngập tràn sức sống chỉ diễn ra trong vòng mấy năm. Giờ đây hình ảnh của một đô thị hiện đại hòa quyện với những nét văn hóa truyền thống chẳng còn xa lạ đối với du khách trong và ngoài nước. Thị xã Thủ Dầu Một, vùng đất phương Nam đang thực sự trở nên cuốn hút, hấp dẫn mọi người.

Để đánh giá sự phát triển của một đô thị thì có lẽ chỉ cần nhìn ngắm phong cảnh khi chiều tắt, ánh sáng của đèn đường rực rỡ khắp muôn nơi. Kể từ khi tái lập tỉnh Bình Dương cho đến nay, với vị trí thuận lợi là trung tâm chính trị văn hoá xã hội của tỉnh, thị xã Thủ Dầu Một đã được chú trọng đầu tư phát triển về mọi mặt, đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ tầng. Nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km, trên quốc lộ 13, tuyến đường Bắc – Nam thị xã đã trở thành một đầu mối giao lưu buôn bán quan trọng. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn ở mức cao, hơn 11%, cơ cấu kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ, thị xã đang có những bước chuyển đổi không ngừng.
Là một vùng đất nổi tiếng phương Nam với những nghề thủ công truyền thống được người di cư miền Bắc xây dựng nên, thị xã Thủ Dầu Một được biết đến như một cái nôi của nghề gốm sứ, sơn mài và điêu khắc gỗ với một phong cách đặc trưng riêng. Giờ đây khi nghề làm gốm sứ đã được quy hoạch đưa ra ngoài thị xã thì nghề làm điêu khắc gỗ, sơn mài dường như có điều kiện được chăm chút phát triển hơn. Với quy trình công việc theo hướng chuyên môn hoá cao, mỗi công đoạn điêu khắc gỗ được một nhóm thợ thực hiện nên tốc độ tiêu thụ sản phẩm làm ra rất cao, đáp ứng ngay nhu cầu của thị trường. Hiện nay sản phẩm điêu khắc gỗ thông dụng là những tượng tròn, đồ gia dụng và các vật dụng trang trí đủ kiểu dáng. Nắm bắt được thị hiếu khách hàng đó là sự nhanh nhạy của những người làm nghề điêu khắc gỗ. Sản phẩm làm ra giờ đây không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn được tiêu thụ mạnh ra thị trường nước ngoài với những đơn đặt hàng lớn, có giá trị kinh tế cao. Với việc chia ra nhiều công đoạn khác nhau: khắc chạm, đánh bóng, mài dũa, phun sơn… công việc của người thợ trở nên thuận tiện. Nhờ đó những sản phẩm gỗ điêu khắc làm ra tinh xảo hơn và đẹp hơn. Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống mang dấu ấn của vùng đất Thủ Dầu Một ngày càng có nhiều uy tín trên thị trường. Từ lâu người ta đã biết đến vùng đất nơi phương Nam xa xôi này không chỉ có các cơ sở sản xuất sơn mài nổi tiếng như: Thành Lễ, Sông Đồng mà còn có cả một làng nghề làm tranh sơn mài, đó là làng sơn mài Tương Bình Hiệp.
Giờ đây do sự phát triển của nhiều loại sơn ngoại đa dạng về màu sắc đã làm cho sản phẩm sơn mài trở nên phong phú hơn. Tuy nhiên vẫn còn có những cơ sở làm tranh sơn mài theo kiểu truyền thống. Trong số đó được biết đến nhiều nhất là cơ sở sản xuất tại gia đình của bác Tám Khiêm, một người đã có hơn 50 năm lăn lộn với nghề. Có lẽ làm tranh sơn mài theo kiểu truyền thống là phức tạp hơn cả nhưng bù lại chất lượng tranh dường như càng để lâu càng tốt. Để sản xuất ra một sản phẩm hoàn chỉnh từ gỗ nguyên liệu đến khâu cuối cùng phải trải qua quá trình lên tới hơn 25 công đoạn. Công việc của mỗi công đoạn lại đòi hỏi phải có nghệ thuật riêng, vừa tỉ mỉ lại vừa công phu. Có công đoạn phải làm đi làm lại nhiều lần mới đạt yêu cầu. Để hoàn thành một tác phẩm sơn mài truyền thống sử dụng chủ yếu chất liệu sơn ta, thời gian có thể lên đến 5, 6 tháng, lâu hơn rất nhiều so với việc sử dụng chất liệu hiện đại. Trải qua nhiều thế hệ, nghề sơn mài nơi đây vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, đó là sự tinh xảo nhẹ nhàng thanh thoát, đậm đà tính cách Á Đông. Ngày nay khách trong và ngoài nước có thể đến đặt mua và yêu cầu chuyển đến bất kỳ nơi đâu các loại sản phẩm sơn mài như: bàn ghế, tủ, bình, tranh… Khách đến với gia đình bác Khiêm đều hiểu rằng để có những tác phẩm sơn mài thật sự chất lượng, độ bền cao không thể vội vàng. Và những tác phẩm sơn mài có chất lượng sẽ luôn được khẳng định bởi thời gian.

Kiên trì với cách làm của mình, gia đình bác Khiêm không chỉ góp phần tôn vinh vẻ đẹp của sơn mài truyền thống mà còn khẳng định làm tranh sơn mài theo cách truyền thống vẫn có chỗ đứng trên đất Thủ Dầu Một này. Sự phát triển nhiều chiều, đa dạng của nghề sơn mài Tương Bình Hiệp không chỉ là niềm tự hào của một làng nghề mà còn là di sản văn hoá đáng trân trọng của cả dân tộc ta.

Hơn 300 năm những người di cư đã đến đây khai phá, dựng nhà lập ấp, xây dựng cuộc sống ổn định lâu dài. Và cho đến hôm nay những ngôi đền, ngôi chùa có trên trăm năm tuổi vẫn được người dân nơi đây trân trọng giữ gìn, được du khách gần xa biết đến. Ớ ngay trung tâm thị xã Thủ Dầu Một có ngôi chùa Bà, thờ Thiên hậu Thánh mẫu được xây dựng vào giữa thế kỷ 19. Hàng năm lễ hội chùa Bà được tổ chức vào 3 ngày từ 13 – 15 tháng 1 Âm lịch, thu hút lên đến cả triệu người đến tham dự cúng lễ, cầu phúc, cầu lộc cho năm mới. Lễ hội chùa Bà Thủ Dầu Một giờ đây đã trở thành một lễ hội dân gian lớn với những nét văn hoá độc đáo nổi tiếng ở vùng Đông Nam Bộ.

Trong số những ngôi chùa ở Bình Dương thì chùa Hội Khánh là một ngôi chùa cổ thuộc diện lâu đời nhất ở xứ này. Chùa do Thiền sư Đại Ngạn xây dựng từ năm 1741. Chùa cũng đã được trùng tu, xây lại nhiều chỗ vì chiến tranh tàn phá. Vào giữa những năm 20 của thế kỷ 20 cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã từng đến đây cùng với hoà thượng Từ Văn để truyền bá tư tưởng yêu nước trong giới Phật giáo. Hiện chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ có giá trị nghệ thuật cao. Ngay gian chính điện có chiếc cửa võng trạm trổ công phu với hình ảnh 18 vị la hán đứng xung quanh Phật tổ. Hai bên tường của Chính điện có bộ tượng Thập điện Minh Vương và bộ Thập bát La Hán. Hơn 260 năm nay, chùa Hội Khánh đã trở thành danh lam của Thủ Dầu Một không chỉ đơn thuần nó là ngôi cổ tự có giá trị về kiến trúc nghệ thuật.

Hình ảnh Thị xã Thủ Dầu Một hôm nay khác xưa thật nhiều. 40 năm về trước nơi đây từng nổi tiếng với 2 nhà tù chủ yếu giam giữ tù chính trị. Nhà tù Phú Lợi nằm trong địa bàn thị xã nay đã trở thành di tích tố cáo những tội ác dã man của chính quyền ngụy. Dưới thời kỳ Ngô Đình Diệm nơi đây đã trở thành nhà tù lớn nhất miền Nam, ở đây lúc nào cũng có khoảng 5.000 đến 6.000 tù nhân. Ngày 1/12/1958 đã xảy ra vụ đầu độc tù nhân làm hàng trăm người trúng độc. Đảng ủy trong nhà tù đã kịp thời chỉ đạo giải độc cho anh em và tổ chức các tù nhân đấu tranh khi thấy địch không có ý định cứu chữa cho bệnh nhân. Kẻ thù đã điên cuồng đàn áp, đánh đập những người bị đầu độc, đày đi các trại giam khác và thủ tiêu các tù chính trị trong đêm 2/12 cho đến hết ngày 3/12, sự kiện này đã gây nên làn sóng phản đối trong nước và quốc tế. Và cho đến hôm nay ngày 1/12/1958 đã đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng kiên cường của tù nhân trong nhà tù Phú Lợi. Đó cũng là dấu mốc của lịch sử cách mạng tỉnh Bình Dương cũng như cả nước trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Dáng dấp của một đô thị hiện đại dường như đã xoá nhòa những dấu vết của đau thương và chiến tranh. Cái mà người dân nơi đây mong muốn gìn giữ nhất chính là những giá trị văn hoá được cha ông truyền lại. Nhà cổ trên đất Thủ Dầu Một hiện nay chỉ còn vài căn trong đó còn lại nguyên vẹn nhất có lẽ là nhà của ông Trần Công Vàng ở phường Phú Cường. Mái lợp âm dương, khá thấp so với lối kiến trúc hiện nay những bên trong lúc nào cũng thoáng mát nhờ bốn phía đều có cửa sổ. Vật liệu xây dựng chủ yếu là các loại danh mộc quý như sao, cẩm lai, gỗ mun, huỳnh đường… Tuy đã trải qua 4 đời với trên 1,5 thế kỷ, các vật dụng sinh hoạt gia đình hoặc trang trí hầu như còn giữ nguyên vẹn. Đáng chú ý là 3 bộ bàn ghế bành tượng khảm ốc xà cừ với mặt bàn là các phiến đá cẩm thạch, 3 bộ đèn Huê Kỳ lạ mắt bằng đồng có tuổi thọ trên 100 năm hiện vẫn đang sử dụng. Và rất nhiều những hiện vật cổ kính dùng cho việc gia đình hàng ngày đều được lưu giữ cẩn thận. Ngôi nhà giờ đây vẫn do gia đình quản lý với sự quan tâm giúp đỡ rất nhiều từ chính quyền địa phương cũng như của Bảo tàng tỉnh Bình Dương. Trong thời gian tới đây những ngôi nhà cổ này sẽ được trùng tu để mãi vẫn giữ lại một nét văn hoá đặc sắc của vùng đất Thủ Dầu Một.

Thủ Dầu Một vùng đất phương Nam xa xôi luôn sẵn sàng đón nhận bất kỳ ai muốn lập nghiệp, tìm cho mình một cuộc sống có tương lai tốt đẹp. Với tốc độ công nghiệp hoá nhanh, dần trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, dường như ở nơi đây làm bất cứ nghề gì cũng sống được. Nghề nuôi bò sữa phát triển ở đây cũng chưa lâu, cả thị xã có hơn 300 con bò sữa trong khi nhu cầu sữa tươi lại rất lớn. Gia đình ông Toại ở phường Chính Nghĩa cũng đã nuôi bò được mấy năm. Giờ đây ông có 20 con bò trong đó có 13 con đang cho sữa. Chỉ tính riêng tiền lãi từ việc bán sữa hàng ngày ông cũng thu về được hơn 200 nghìn. Hiện ông đang muốn mở rộng thêm chuồng trại, nuôi thêm bò và đưa năng suất sữa của đàn bò ngày càng tăng cao.

Sự thay đổi của thị xã Thủ Dầu Một trong những năm gần đây là một điều tất yếu. Vùng đất này có tất cả những điều kiện thuận lợi để trở thành một thành phố vệ tinh của thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai. Với những chính sách thông thoáng, chính quyền thị xã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương. Càng ngày càng có nhiều doanh nghiệp làm ăn phát đạt mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ra nhiều nước trên thế giới. Công ty chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc Kim Long đã phát triển hơn 10 năm nay. Hai vợ chồng ông Chung Kim chủ công ty đã lăn lộn, vất vả trong nhiều năm để sản phẩm thức ăn gia súc ngày càng đạt chất lượng cao, có chỗ đứng trên thị trường. Mạnh bạo, dám đầu tư lớn, công ty vừa triển khai một dây chuyền chế biến thức ăn gia súc khép kín, điều khiển hoàn toàn tự động, nhờ đó sản phẩm thức ăn gia súc sẽ đảm bảo chất lượng và an toàn. Cùng với việc xây dựng một trang trại nuôi lợn lớn, công ty đang phấn đấu trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu tham gia thị trường xuất khẩu thịt lợn. Những người có suy nghĩ như ông Chung Kim ngày càng nhiều trên vùng đất này. Chính họ đã và đang tạo nên bước phát triển vượt bậc cho thị xã Thủ Dầu Một.

Hương vị của cây trái Nam Bộ luôn tạo nên những điều mới lạ đối với khách du lịch. Với định hướng quy hoạch phát triển các nhà vườn dọc sông Sài Gòn, thị xã đã khuyến khích người dân lập nên.

(nguồn: Báo Bình Dương)

Bài học “đắc nhân tâm” của Viettel trên đất Haiti


 

Liên doanh viễn thông Natcom đã bắt đầu thử nghiệm cung cấp dịch vụ tại Haiti.

 

Xây dựng mạng viễn thông tại Haiti sau thảm họa động đất khốc liệt, Tập đoàn Viễn thông Quân  đội (Viettel) còn đặt mục tiêu “trẻ chăn trâu cũng dùng di động” như đã làm tại Việt Nam.

Sau chuyến khảo sát thực tế tại Haiti, một quốc gia nghèo ở vùng biển Caribbean (tháng 10/2009), lãnh đạo Viettel quyết định tham gia thầu mua lại 60% cổ phần của công ty viễn thông Teleco. Ngày 7/1/2010, Ủy ban Hiện đại hóa doanh nghiệp của Haiti (CMEP) công bố Viettel thắng thầu. Tuy nhiên hai bên vẫn cần đàm phán về một số điểm chưa thông nhất để đi đến thỏa thuận cuối cùng.

Theo dự kiến, ngày 15/1/2010, Viettel sẽ cử đoàn đại biểu sang Haiti để đàm phán ký kết các hợp đồng. Song, vào ngày 12/1/2010, thảm họa động đất đã xảy ra tại đất nước này, khiến Viettel mất liên lạc với phía Haiti một tháng trời. Hơn 200.000 người chịu thương vong, thủ đô Port-au-Prince của Haiti gần như bị san phẳng, hơn hai triệu người lâm vào cảnh không nhà, các mạng viễn thông đều bị sập và tê liệt hoàn toàn…

Ngay sau khi liên lạc được nối lại, Viettel gửi thư cho phía Haiti, khẳng định cam kết tiếp tục hợp tác. Đầu tháng 4/2010, Viettel cử một đoàn khảo sát giúp phía Haiti đánh giá hiện trạng của công ty Teleco sau động đất, đưa ra các phương hướng khắc phục, cũng là để khẳng định quyết tâm đầu tư vào Haiti của tập đoàn này.

Trước đó, chính quyền Haiti, công ty Teleco đều cho rằng, hợp tác với Viettel coi như chấm dứt, vì liệu có nhà đầu tư nào còn hứng thú đổ tiền vào một quốc gia mới xảy ra một thảm họa thiên nhiên vào loại tồi tệ nhất trong lịch sử? Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó tổng giám đốc Viettel thì giải thích khá đơn giản: “Thứ nhất, văn hóa của người Việt Nam nói chung và Viettel nói riêng là khi bạn bè gặp khó khăn, mình nên ở lại giúp đỡ chứ không bỏ đi. Thứ hai, người Viettel đã cam kết điều gì thì sẽ làm điều đó. Thứ ba, chúng tôi cho rằng, các khó khăn tại Haiti chỉ là ngắn hạn. Theo quy luật tự nhiên, sau khó khăn sẽ là thuận lợi”.

Những người biết rõ hoàn cảnh thê thảm của Haiti sau động đất cảm thấy ái ngại cho Viettel. Sau thảm họa, hơn 80% hạ tầng mạng của công ty viễn thông liên doanh Natcom (Teleco trước đây) đã bị phá hủy hoàn toàn. Tình trạng chính trị tại Haiti lúc đó khá bất ổn, bạo động, biểu tình diễn ra thường xuyên. Cộng với bệnh dịch tả lây lan nhanh sau động đất, cướp đi sinh mạng của hàng nghìn người, làm cho thử thách đối với hãng viễn thông Việt Nam nhân lên gấp bội.

Những khó khăn này đã không ngăn được bước tiến của liên doanh viễn thông Natcom mà Viettel chiếm 60% vốn. Chỉ sau 3 tháng kể từ khi Viettel tiếp quản Teleco, khoảng 70% mạng lưới của công ty này đã được khôi phục lại. Số trạm phát sóng đạt con số 1.000 – lớn hơn mạng di động lớn nhất ở nước này là Digicel (mới chỉ có 700 trạm phát sóng). Đây là điều mà chính người của Viettel có lẽ cũng không dám nghĩ tới hơn một năm trước.

“Chúng tôi làm được là nhờ sự hợp tác rất tốt của những nhân viên Teleco trước đây. Sự giúp đỡ của hơn 1.000 nhân viên Haiti tại Natco và rất nhiều người dân ở đất nước này chính là sức mạnh giúp chúng tôi hoàn thành được những mục tiêu tưởng chừng không thể vượt qua”, ông Nguyễn Đức Thành, Tổng giám đốc Natcom, nói.

Một lãnh đạo cấp cao của Viettel phân tích: “Tiếp tục đầu tư vào Haiti sau thảm họa động đất, Viettel sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Thế nhưng, cũng có những cơ hội nảy sinh”.

Thứ nhất, Viettel đến với Teleco khi họ đang tuyệt vọng, nhờ vậy khoảng cách giữa hai bên được rút ngắn nhanh chóng. Hai bên dễ dàng tìm được tiếng nói chung, cũng như sự đồng cảm trong việc đồng cam, cộng khổ tái thiết lại công ty trong muôn vàn khó khăn, và tạo ra tốc độ xây dựng thần tốc.

Thứ hai, sau thảm họa động đất, khoảng cách giữa các công ty viễn thông được thu hẹp lại rất nhiều bởi các hãng khác cũng phải xây dựng hạ tầng lại như Natcom. Thứ ba, giá cước di động ở Haiti hiện khoảng 10 cent/phút, trong khi Viettel đã có kinh nghiệm ở thị trường chỉ 3 cent/phút, nên cơ hội ở đây vẫn khả quan.

Khi tiến ra các thị trường nước ngoài như Campuchia, Lào, Viettel thường thực hiện các chương trình xã hội có ý nghĩa trước khi thực hiện các hoạt động kinh doanh. Hệ quả là tập đoàn nhận được sự ủng hộ tích cực của chính quyền, các nhân viên bản địa, cũng như người dân của nước sở tại. Haiti là thị trường kế tiếp.

“Đây sẽ là phép thử lớn nhất đối với bản lĩnh của Viettel từ trước tới nay. Hiện nay, chúng tôi đã giành được những kết quả ban đầu trong việc xây dựng hạ tầng kinh doanh với sự hỗ trợ tốt từ nhân viên bản địa, cũng như chính quyền. Thế nhưng, việc đạt được thành công ở thị trường Haiti với giấc mơ “trẻ chăn trâu cũng dùng di động” như Việt Nam vẫn là bài toán không đơn giản”, lãnh đạo cấp cao của Viettel nói.

 

MINH CHÂU

http://vneconomy.vn

Tin tặc ngày càng gia tăng – Hội nghị Hacktivity 2011


Ngày 17-18 tháng 9 năm 2011, Hacktivity, hội nghị hacker lớn nhất tại Trung và Đông Âu lần này sẽ được tổ chức tại Millenáris. Hội nghị diễn ra trong 2 ngày với không khí trang trọng,  bao gồm các bài thuyết trình, hội thảo, trò chơi, và cuộc thi chung kết Trung và Đông Âu của Global CyberLympics, tấn công hardware, tiệc tối và tham dự của hơn 1000 hackers trên khắp thế giới.

Hacktivity là hội nghị về An Toàn Thông tin lớn nhất của Hungary và đã trở thành một sự kiện quốc tế được nhiều người quan tâm. Năm nay là năm thứ 8 của hội nghị. Như các năm trước, diễn giả sẽ bao gồm đại diện của các hãng An ninh thông tin hàng đầu. Thành tích và kinh nghiệm chuyên sâu của các diễn giả sẽ được trình bày tại hội nghị. Do vậy, chuyên gia IT từ các nơi đã phải ứng tuyển để được thuyết trình tại hội nghị trước một thời gian dài. Ban tổ chức đã nhận được hơn 60 ứng cử từ hơn 15 quốc gia và đã chọn ra 28 diễn giả tốt nhất cho hội nghị lần này.

Cũng như những năm trước đó, hai diễn giả lớn của năm nay là những người rất nổi tiếng trong lĩnh vực này. Mở đầu hội nghị ngày thứ 7 sẽ là ông Peter Szor – một người gốc Hungary đang sinh sống tại Mỹ và còn được gọi với cái tên là Cha đẻ của Virus Protection. Cuốn sách dài 650 trang của ông có tên „The Art of Computer Virus Research and Defense” (tạm dịch là Nghệ thuật nghiên cứu và phòng chống virus máy tính) vừa được xuất bản ở Hungary, không chỉ là một tài liệu mang tính chất khoa học mà còn là một nghiên cứu lớn nhất về các loại virus máy tính hiện nay. Ông Peter Szor tốt nghiệp đại học Veszprém tại Hungary, chuyên ngành Công nghệ thông tin. Phần mềm diệt virus đầu tiên của ông có tên Pasteur được hoàn thành trong những năm 90 (hiện được ngân hàng OTP sử dụng). Năm 1996, ông làm việc cho một công ty tiền thân của F-Secure tại Phần Lan, sau đó trở thành kỹ sư trưởng tại Symantec năm 1999, và gần đây gia nhập McAfee. Tại CARO (Computer AntiVirus Researcher’s Organization), ông đã làm việc cùng nhiều chuyên gia an ninh như John McAfee, Mikko Hypponen ,Eugene Kaspersky. Peter Szor còn là tác giả của hơn 40 phát minh, mẫu diệt và ngăn chặn xâm nhập virus máy tính.

Diễn giả lớn của phiên hội nghị ngày chủ nhật là ông Raoul „Nobody” Chiesa đến từ Italy, một chuyên gia về tội phạm mạng nổi tiếng của Châu Âu. Trong những năm 80 và 90, ông đã từng là một trong những hacker đầu tiên của Italy. Sau đó đến năm 1997, ông thành lập @Mediaservice.net Srl, một công ty tư vấn an ninh trung gian. Năm 2003, công ty của ông bắt đầu hợp tác với “UNICRI” (United Nations Interregional Crime and Justice Research Institute) – Viện nghiên cứu pháp lý và tội phạm liên khu vực của Liên hợp quốc. Đến năm 2010, ông đã được chọn là một trong 30 chuyên gia về An ninh thông tin hàng đầu của Châu Âu hỗ trợ Giám đốc ENISA đến năm 2012 tại PSG, Permanent Stakeholders Group.

Ngoài ra, rất nhiều diễn giả từ các quốc gia khác cũng tham dự hội nghị. Ông Vivek Ramachandran, người thành lập securitytube.net đến từ Ấn Độ. Ông Joseph McCray, cựu nhân viên Air Force và đã từng giành nhiều giải thưởng của EC-Council từ USA sẽ đến tham dự hội nghị. Ông Ertunga Arsal, chuyên gia SAP và Alexander Kornbrust, chuyên gia Oracle đến từ nước Đức. Ông Pavol Luptak, chủ tịch Slovakian OWASP và  Michele Orru, chuyên viên tấn công thử nghiệm của Royal Bank – Scotland đến từ Italy. Bên cạnh các chuyên gia nước ngoài nổi tiếng còn có sự tham dự của các diễn giả Hungary mới nổi như Csaba Barta, chuyên gia tư vấn an ninh của Deloitte Zrt., người đã được bình  bầu là diễn giả hay nhất tại Hackers Halted và lần này ông sẽ thuyết trình về Computer Forensics. Ông László Klock đến từ kancellar.hu, đã giành giải thưởng Hacktivity Wargame năm trước và ông sẽ trình bày nghiên cứu của mình về virtualization security (An ninh ảo hoá)

Bên cạnh các bài thuyết trinh có rất nhiều các chương trình khác như hội thảo interactive hello, thử nghiệm tấn công hardware như mở khoá, thử nghiệm ardunio, các trò chơi: Wargame, CTF, đường dẫn của hacker, phục hồi máy tính cũ, một bữa tiệc tối thứ 7, và trận chung kết Trung và Đông Âu đầu tiên trong năm nay của Global CyberLympics tại Hacktivity 2011. Các trò chơi do EC-Council tổ chức sẽ chia làm 7 nhóm tương ứng với mỗi khu vực trên thế giới, mỗi nhóm gồm 6 người. Người thắng cuộc sẽ được mời tham dự trận chung kết tổ chức tại Mỹ.

Tại hội nghị, các chuyên gia (CISA, CISM, CISSP) còn có cơ hội thu thập điểm CPE. Ban tổ chức đặt mục tiêu thu hút từ 1000 đến 1200 người tham dự hội nghị năm nay. Đây là cũng là một địa điểm tổ chức mới : Hội trường B của Millenáris rộng 4590m2 với cơ sở hạ tầng chuyên nghiệp, nhà hàng, hai phòng lớn và một vài phòng nhỏ. Phòng lớn nhất với sức chứa 1000 người tham dự.

Để biết thêm chi tiết về chương trình và đăng ký tại:

http://www.hacktivity.com
Facebook: http://www.facebook.com/hacktivity
Twitter:  twitter.com/hacktivity2011
Hội nghị hacker lớn nhất tại Đông và trung tâm châu Âu được tổ chức vào ngày 17 – 18 tháng 9 năm 2011, tại địa điểm Millenáris, Building B, H-1024 Budapest Kis Rókus u. 16-20.
Thông tin chi tiết về hội nghị này được đưa trên trang web https://hacktivity.com/en/