Bệnh Đột Quỵ


Đột quỵ – căn bệnh của thời đại

Đột quỵ được ví như “sát thủ giấu mặt”, là nguyên nhân tử vong đứng thứ 3 chỉ sau ung thư và bệnh tim mạch, nhưng đứng hàng đầu về tỉ lệ tàn tật. Nếu trước đây đột quỵ thường gặp ở người lớn tuổi thì nay bệnh nhân của căn bệnh này dần dần trẻ hóa.

Di chứng của căn bệnh này đang trở thành một vấn đề lớn cho cả gia đình lẫn xã hội. Nhiều người đang là trụ cột của gia đình, bỗng thành người tàn phế, sống hoàn toàn phụ thuộc vào người thân.

Gãy trụ cột gia đình

Chị nằm gần như bất động, đầu cạo trọc, lỗ mũi gắn đủ thứ dây nhợ, chỉ còn đôi mắt thỉnh thoảng chớp chớp như muốn nói điều gì. Chỉ mới đây thôi người phụ nữ này vẫn khỏe mạnh, một tay chèo chống nuôi hai đứa con cùng mẹ già suốt bao năm qua.

Thực tại đầy éo le này là của chị Huỳnh Thị Nguyệt, 44 tuổi, quê ở huyện Cái Bè (Tiền Giang). Đang sống bình an với việc bán phở mỗi ngày ở quê, thu nhập chừng 200 ngàn/ngày, chị bất ngờ gặp tai họa vào rạng sáng 17-12.

“Khoảng 1h sáng bà ấy thức dậy đi chợ mua đồ về nấu phở, đột nhiên té nhào đập đầu xuống nền gạch. Bà ấy cố hết sức lết vào nhà đập cửa kêu cứu hai đứa con rồi nhờ người đưa đi cấp cứu trong tình trạng méo miệng, ú ớ, tay và chân liệt một bên”, anh Nguyễn Văn Lý (43 tuổi), người thân của bệnh nhân, kể.

Gia đình tức tốc chuyển chị lên bệnh viện huyện và chỉ ít phút kiểm tra, bác sĩ quyết định chuyển thẳng lên Bệnh viện Nhân dân 115 ngay trong đêm với hi vọng kịp thời gian vàng. Chị nhanh chóng được chẩn đoán hình ảnh, phẫu thuật lấy huyết khối thông tắc mạch máu trong não.

Được cứu thoát khỏi lưỡi hái tử thần, nhưng di chứng để lại cho chị khá nặng nề. Hôm chúng tôi gặp (5 ngày sau phẫu thuật), chị nằm gần như bất động, chưa nói được gì dù đôi môi mấp máy.

“Bây giờ mọi sinh hoạt, ăn uống tôi đều phải phụ giúp chị” – anh Lý nói – “Từ ngày bà ấy nhập viện, mọi việc trong gia đình bị đảo lộn hết”. Phía sau chị Nguyệt, hai đứa con và người mẹ già yếu chưa biết trông cậy vào đâu. `

Cuộc đời của ông Mai Văn Sang (53 tuổi, ngụ huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận) thay đổi hoàn toàn sau một giấc ngủ. Chỉ sau một cơn “ú ớ” giữa đêm khuya, giờ đây ông Sang phải nằm trên giường bệnh, mọi sinh hoạt đều trông chờ vào người vợ, vốn là người sống phụ thuộc lâu nay.

Với một mẫu khoai mì bình thường chỉ đủ trang trải chi tiêu hằng ngày và lo cho con gái út học đại học, từ khi ông Sang nhập viện, gia đình rơi vào cảnh bí bách, các con gom góp chút đỉnh, cộng với tiền vay mượn để trang trải viện phí.

 “Tui bị tiểu đường lâu. Ở nhà ổng là vai chính, đến chén dĩa tui còn không rửa được. Giờ ổng đổ bệnh, tui cũng yếu lắm, có đỡ nổi ổng đâu” – bà Nguyễn Thị Hồng Diệu (vợ ông Sang) than thở. 

Người phụ nữ này chỉ biết nhắc đi nhắc lại lời bác sĩ dặn dò, rằng “Sau ca mổ, di chứng của ổng nặng nề lắm, có thể sẽ nằm liệt một chỗ, gia đình từ nay cố gắng chăm sóc”.

Hiếm gia đình nào lại mang nỗi ám ảnh về đột quỵ như gia đình chị Nguyễn Thị Kim Long ở huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Có đến 5 người thân của chị bị đột quỵ, trong đó 3 người đã qua đời.

Gác lại công việc dạy học để vào bệnh viện chăm sóc anh trai đột quỵ, chị Long nói: “Nếu anh tôi không thể phục hồi, tôi là người duy nhất có thể gánh vác công việc gia đình. Nhưng tôi còn chồng con và phải lo cho cha mẹ già nữa”. Chị cố gắng gạt đi những ý nghĩa về ngày mù mịt có thể sẽ xảy ra đó.

Người anh trai này của chị Long (anh Nguyễn Minh Trãi, 40 tuổi) là người thứ 5 trong gia đình chị bị đột quỵ. Hôn nhân không trọn vẹn, anh Trãi sống với cha mẹ già và là trụ cột của gia đình ba người. 

Trước đây, anh chạy xe ôm, sau đó chạy taxi. Một năm nay dịch bệnh bùng phát, taxi ế ẩm, anh chuyển qua chạy thời vụ cho các nhà xe du lịch đi khắp Tây Nguyên, miền Tây. Ngày 22-12 vừa qua trở thành ngày định mệnh khi đột nhiên anh gây tai nạn do va quẹt một chiếc xe gắn máy lúc đang cầm lái trên đường.

“Tai nạn không nghiêm trọng. Nhưng người đi đường thấy anh trong trạng thái lơ mơ nên tìm cách liên lạc đưa về nhà. Từng chứng kiến nhiều người trong gia đình đột quỵ, tôi đoán được triệu chứng và chuyển ngay vào bệnh viện cấp cứu”, chị Long kể.

Tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai, bệnh nhân được tiêm hai mũi thuốc tiêu sợi huyết nhưng không có tác dụng. Anh được chuyển lên Bệnh viện Nhân dân 115 cấp cứu.

Sau khi được can thiệp làm tan cục huyết khối, anh thoát khỏi nguy cơ tử vong nhưng nửa người bên phải yếu, và chưa thể nói chuyện. Chuyện phục hồi của anh, như bác sĩ nói, còn “tùy vào khả năng, cơ địa của mỗi người”.

Chị Long nói rằng chị bị ám ảnh, không biết lúc nào sẽ đến lượt mình. “Ngoài anh trai đang bị đột quỵ, cách đây một năm người chị cả của tôi cũng bị đột quỵ qua đời tại bệnh viện. 

Trước đó cha tôi chỉ trong vòng 6 năm đã từng trải qua 3 lần bị đột quỵ và may mắn đều qua khỏi, đó là chưa kể em trai của mẹ và em gái của ba đều qua đời do đột quỵ ở tuổi đời còn rất trẻ”, chị Long kể trong lúc thay tã cho người anh đang nằm bất động trên giường bệnh.

Trong 1 tháng đầu tiên thành lập (tính từ ngày 9-11-2020), Trung tâm đột quỵ Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) tiếp nhận 1.000 bệnh nhân cấp cứu, 10% trong số này dưới 44 tuổi – lứa tuổi được cho là trẻ với bệnh đột quỵ.

Bác sĩ Mai Duy Tôn, giám đốc trung tâm, cho biết xu hướng bệnh nhân đột quỵ ngày càng trẻ: “Chúng tôi đã gặp bệnh nhân đột quỵ mới 14 tuổi. Giữa tháng 12-2020 có gần 10 bệnh nhân trẻ điều trị tại trung tâm”.

Khoảng đầu tháng 12-2020, Trung tâm đột quỵ Bệnh viện Bạch Mai tiếp nhận một thiếu niên 14 tuổi. Em tới bệnh viện với biểu hiện đau đầu nhiều. 

Kết quả chụp cắt lớp cho thấy có dị dạng mạch não, nhưng rất may là chưa có rối loạn về vận động. Bệnh nhân còn trẻ nên các bác sĩ đã tìm cách can thiệp bằng phẫu thuật để điều trị triệt căn.

Theo bác sĩ Tôn, hầu hết bệnh nhân đột quỵ ở lứa tuổi trẻ có liên quan đến các yếu tố nguy cơ: tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa, các bệnh lý tim mạch, lối sống không lành mạnh như lạm dụng thuốc lá, rượu bia, ít vận động thể lực… 

Ngoài ra, có một tỉ lệ nhất định có liên quan đến bất thường bẩm sinh, các dị dạng mạch máu từ khi còn nhỏ và khi bất thường này đủ lớn, mạch máu sẽ vỡ, hoặc một số người có yếu tố tăng đông (khuynh hướng dễ sinh huyết khối), dễ làm tắc nghẽn mạch máu.

Phần lớn bệnh nhân đột quỵ sẽ gặp các di chứng như liệt vận động, ảnh hưởng vùng chức năng về nhận thức, ngôn ngữ, như hôn mê kéo dài, nói ngọng… 

Nhưng có một số bệnh nhân tử vong trong thời gian ngắn ngay sau khi có tình trạng bệnh, như ca bệnh của diễn viên Chí Tài gần đây.

Từng có một số ca tử vong do dị dạng mạch máu, bệnh nhân mới dưới 40 tuổi, mạch máu vỡ gây chảy máu ồ ạt, chèn ép các chức năng về hô hấp, tuần hoàn, lụt não, bệnh diễn biến cấp tính với lượng máu chảy rất nhiều trong một thời gian ngắn dẫn đến tử vong, bệnh nhân hoàn toàn không có dấu hiệu để dự báo bệnh trước đó.

Đột quỵ và thuốc lá – cặp đôi tai họa

Hôm 15-12, Trung tâm đột quỵ Bệnh viện trung ương quân đội 108 tiếp nhận hai ca bệnh nhồi máu não cấp. Cả hai bệnh nhân, 44 và 48 tuổi, đều có tiền sử nghiện thuốc lá lâu năm.

Bệnh nhân 44 tuổi nghiện thuốc lá lâu năm, vào viện do đột ngột liệt nửa người bên phải, tình trạng nặng tăng dần, từ nói khó khăn tới không thể nói được, ý thức lơ mơ. 

Các bác sĩ chẩn đoán bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não bán cầu trái, tắc động mạch não bên trái, tiến hành can thiệp lấy huyết khối và đặt stent ở dốc động mạch cảnh.

Bệnh nhân 48 tuổi nghiện thuốc lá trên 20 năm, mỗi ngày trung bình hút 1,5 gói thuốc. Bệnh nhân đang làm việc thì đột nhiên tê yếu nửa người bên trái, không nhấc được chân tay lên. Tại Bệnh viện 108, bệnh nhân này cũng được chẩn đoán liệt nửa người trái do nhồi máu não cấp.

Theo bác sĩ Nguyễn Văn Tuyến, giám đốc Trung tâm đột quỵ Bệnh viện 108, ngoài những yếu tố về sắc tộc, giới tính, gene không thể thay đổi được, có những căn nguyên dẫn đến đột quỵ có thể thay đổi, đặc biệt là dự phòng các yếu tố nguy cơ.

“Đột quỵ đặc biệt cao ở những người có từ 2-3 yếu tố nguy cơ trở lên. Hai bệnh nhân trên tuổi còn trẻ, tiền sử hoàn toàn khỏe mạnh, tập thể dục thường xuyên, không bị tăng huyết áp, không bị tiểu đường, xét nghiệm mỡ máu bình thường, không có yếu tố nguy cơ nào khác ngoài hút thuốc lá lâu năm” – ông cho biết.

Sức khỏe hai bệnh nhân này đều đang tiến triển tốt do đến bệnh viện trong thời gian vàng (giờ thứ 3 – thời gian đưa vào bệnh viện và giờ thứ 6 – thời gian cấp cứu, từ khi khởi phát bệnh) và được can thiệp kịp thời.

Tuy nhiên nhiều bệnh nhân khác không được may mắn như vậy. Theo bác sĩ Tôn, nhiều ca bệnh đột quỵ để lại di chứng suốt đời như liệt vận động, rối loạn ngôn ngữ, ảnh hưởng về nhận thức… Người bệnh cũng dễ bị đột quỵ trở lại nếu không giữ gìn…

Cả nước mới có 12 trung tâm đột quỵ

Bộ Y tế hướng dẫn mỗi tỉnh thành nên có một trung tâm/khoa đột quỵ để có thể tiếp nhận bệnh nhân sớm, điều trị kịp thời trong giờ vàng, nhưng đến nay, cả nước mới có 12 trung tâm đột quỵ. 

Mục tiêu từ nay đến năm 2025 sẽ phải phủ sóng các trung tâm này trên toàn quốc để nâng cao chất lượng dự phòng sớm và điều trị cho người dân được tốt hơn.

Tại TP.HCM, Trung tâm đột quỵ của Bệnh viện Nhân dân 115 có quy mô lớn nhất, đầy đủ kỹ thuật điều trị đột quỵ và cũng là bệnh viện đầu tiên của châu Á nhận “Chứng nhận đạt chuẩn chất lượng điều trị vàng” của Hội Đột quỵ thế giới.

Chi phí điều trị cho bệnh nhân đột quỵ

Theo ông Mai Duy Tôn, giám đốc Trung tâm đột quỵ Bệnh viện Bạch Mai, các chi phí điều trị tùy thuộc vào chỉ định can thiệp cụ thể, thời điểm bệnh nhân vào viện sớm hay muộn, có biến chứng kéo dài hay không.

“Nếu bệnh nhân được đưa vào bệnh viện sớm (tốt nhất là trong vòng 4 giờ 30 phút kể từ khi khởi bệnh, không có chỉ định can thiệp), chi phí điều trị sẽ trong khoảng 20 triệu đồng. 

Nếu bệnh nhân có chỉ định can thiệp, chi phí khoảng 60 – 200 triệu đồng. Trường hợp bệnh nhân bị biến chứng, liệt, cần nhiều người hỗ trợ, chăm sóc thì chi phí là không thể tính toán hết”.

Bé trai 3 tuổi bị đột quỵ

Bệnh viện Nhi đồng thành phố (TP.HCM) vừa cứu sống bé trai 3 tuổi (tỉnh Vĩnh Long) bị đột quỵ xuất huyết não. Trước đó, bé đang chơi với bạn thì bất ngờ té xuống sàn, co giật và bất tỉnh. 

Gia đình tức tốc đưa bé đến bệnh viện. Các bác sĩ cho biết nguyên nhân khiến bé bị xuất huyết não là túi phình mạch máu não. Các bác sĩ đã đặt stent chuyển dòng để tránh tình trạng xuất huyết não thêm mà không cần phẫu thuật.

Theo TS Trần Viết Lực, giảng viên khoa thần kinh Trường ĐH Y dược Hà Nội, tỉ lệ tái phát đột quỵ là 15 – 40% trong số bệnh nhân còn sống sót.

Để giảm nguy cơ tái phát đột quỵ cần phải xác định và kiểm soát chặt chẽ các yếu tố nguy cơ mà hàng đầu là tăng huyết áp – dẫn đến đột quỵ ở cả hai thể gồm nhồi máu não và chảy máu não.

HOÀNG LỘC – LAN ANH – XUÂN LONG / Theo TTCT


Đột quỵ: Tàn phế ghê gớm hơn tử vong

“Theo Hội Đột quỵ của Mỹ, cứ trong 100 bệnh nhân bị đột quỵ thì có đến 70 người không thể quay trở lại công việc trước đó. Tử vong do đột quỵ thật đáng sợ nhưng theo tôi, cái ghê gớm hơn là sự tàn phế, đặc biệt với những người còn trẻ tuổi” – PGS.TS.BS Nguyễn Huy Thắng, phó chủ tịch Hội Đột quỵ Việt Nam, trưởng khoa bệnh lý mạch máu não Bệnh viện Nhân dân 115 TP.HCM, nói với TTCT.

Nhưng nhắc đến đột quỵ, nhiều người vẫn rất mơ hồ, thậm chí có người còn nghĩ do trúng gió…

Đột quỵ có hai loại, do tim và não, đều xuất phát từ thuyên tắc mạch máu nuôi tim hoặc não. Đột quỵ tim thường gây tử vong rất nhanh (sau vài giờ), trong khi với đột quỵ não, thời gian dẫn đến tử vong có thể kéo dài vài ngày. 

Thường bệnh lý đột quỵ chủ yếu liên quan đến tuổi tác, nhưng trước đây tuổi thường gặp là 60, nay có xu hướng trẻ hóa, có lúc đột quỵ xảy ra với những người trẻ dưới 14 tuổi.

Dấu hiệu của một người bị đột quỵ khá dễ nhận biết, người bình thường cũng có thể chẩn đoán được: đột nhiên bị yếu nửa người, tay, chân cùng một bên; méo miệng; nói đớ, ú ớ hoặc hỏi câu này người bệnh trả lời câu khác…

Vậy đâu là sự giống nhau và khác nhau giữa đột quỵ ở người lớn tuổi và người trẻ (trẻ em), thưa bác sĩ?

Có sự khác biệt về nguyên nhân. Với người cao tuổi, đột quỵ thường liên quan đến các bệnh lý tuổi tác: cao huyết áp, tiểu đường, xơ vữa mạch máu, rối loạn chuyển hóa lipid… Trải qua một thời gian mắc bệnh, nếu không được kiểm soát tốt, họ có nguy cơ bị đột quỵ. 

Còn đột quỵ ở người trẻ (trẻ em) chủ yếu do bẩm sinh như tim bẩm sinh hoặc dị dạng các mạch máu trong não. Ở lứa tuổi này, các dấu hiệu ban đầu khá mờ nhạt, rất dễ nhầm lẫn với những bệnh lý co giật, viêm màng não, yếu liệt tay chân…

Mặt khác, trẻ em châu Á thường bị đe dọa bởi bệnh moyamoya (rối loạn mạch máu tiến triển hiếm gặp trong não), gây chít hẹp mạch máu, cũng là một nguyên nhân đột quỵ.

Về mặt quy trình điều trị đột quỵ cấp của thế giới, ở trẻ em và người lớn đều giống nhau là cùng sử dụng thuốc tiêu sợi huyết tĩnh mạch, hoặc lấy huyết khối thông tắc mạch máu lớn. 

Tuy vậy, đột quỵ ở người trưởng thành thường dễ dàng điều chỉnh, ở trẻ em lại rất khó bởi do bẩm sinh. Nếu được phát hiện điều trị trong “thời gian vàng”, trẻ em lại có lợi thế hơn về khả năng phục hồi các chức năng vận động; chức năng thần kinh, vì thế các tai biến thường thấp hơn.

BA MỐC THỜI GIAN VÀNG

Bác sĩ vừa nhắc đến “thời gian vàng” cứu người bệnh. Thời gian vàng ở đây được hiểu như thế nào?

Thời gian vàng là thời gian mà nếu bệnh nhân đột quỵ được đưa đến đúng thời điểm đó có thể được điều trị cứu sống. Chúng ta có 3 giờ vàng gồm 3 giờ, 4,5 giờ và 6 giờ. 

Nếu 100 bệnh nhân đến trong vòng 3 giờ sẽ có 90% người đủ điều kiện điều trị tái thông tan cục huyết khối; đưa đến trong vòng 4,5 giờ chỉ còn 50-60%, và trong vòng 6 giờ chỉ còn 30-40%.

Ngoài 3 giờ vàng này, một số trung tâm đột quỵ hiện nay được trang bị thêm công cụ sử dụng trí tuệ nhân tạo RAPID. Ứng dụng này cho phép mở rộng cửa sổ điều trị lên đến 24 giờ so với 6 giờ trước đây, nghĩa là có thêm 18 giờ cho những người bệnh không may phát hiện muộn bị đột quỵ. 

Tuy nhiên chỉ tối đa 20% bệnh nhân đủ điều kiện xử lý theo quy trình này do nhiều trường hợp phát hiện muộn hoặc khâu chẩn đoán ban đầu không xác định được nguyên nhân dẫn đến đột quỵ.

Như vậy, thời gian là chìa khóa quan trọng nhất để cứu sống người bệnh đột quỵ?

Đúng thế. Đối với đột quỵ, yếu tố giúp bác sĩ điều trị thành công là thời gian. Nếu tiết kiệm được thời gian, sẽ tiết kiệm được nhu mô não. 

Nghiên cứu thấy rằng với một bệnh nhân bị tắc mạch máu não lớn, cứ mỗi phút trôi qua có khoảng 2 triệu tế bào não sẽ mất đi không thể phục hồi. Khi phát hiện một người có dấu hiệu đột quỵ, cách tốt nhất là đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế gần nhất và có khả năng điều trị đột quỵ. 

Nếu chúng ta đưa bệnh nhân đến cơ sở gần nhất nhưng không có khả năng điều trị đột quỵ, rồi lại chuyển đến một bệnh viện khác, thì điều này đôi khi làm mất thời gian vàng.

Tuyệt đối tránh thực hiện các biện pháp gây hại cho bệnh nhân như hạ áp, nhể kim đầu ngón tay, uống thuốc không rõ loại.

Để giải quyết các vấn đề này, dự kiến đầu năm 2021, Hội Đột quỵ TP.HCM sẽ đưa vào sử dụng một app hỗ trợ bệnh nhân. Đó là dù bất cứ ở đâu, nếu có triệu chứng bị đột quỵ, app này sẽ hỗ trợ tìm bệnh viện có khả năng điều trị đột quỵ gần nhất.

Chuyên gia hàng đầu của ngành đột quỵ, giáo sư thần kinh học Luis Caplan (Mỹ) nói: “Để điều trị, phòng ngừa một cách tối ưu, chúng ta hãy tìm hiểu cơ chế của đột quỵ”. Ở nhiều hội nghị, các bác sĩ thường nhắc đến câu nói này.

Đó là câu mà chúng tôi luôn nằm lòng. Bởi đột quỵ có nhiều nguyên nhân, nếu hiểu được nguyên nhân gốc rễ trước khi điều trị thì việc phòng ngừa mới đạt được hiệu quả tối ưu. 

Như một bệnh nhân đột quỵ do bất thường nhịp tim, cụ thể là rung nhĩ, nếu bác sĩ không tìm ra được nguyên nhân rung nhĩ mà vội vã cho các loại thuốc khác thì chắc chắn sớm muộn bệnh nhân đó sẽ bị đột quỵ trở lại. Ngược lại, khi xác định được thủ phạm gây ra đột quỵ, ắt sẽ có phác đồ, chiến lược điều trị phù hợp.

Đâu là rào cản lớn nhất trong điều trị bệnh nhân đột quỵ ở Việt Nam hiện nay, thưa bác sĩ? 

Điều trị đột quỵ không chỉ phụ thuộc vào bác sĩ đột quỵ. Muốn cứu sống người bệnh trong giờ vàng, đòi hỏi một sự quan tâm, phối hợp tốt, từ lãnh đạo bệnh viện đến giữa các êkip ở các bộ phận, khoa phòng. 

Một số nơi vẫn chưa có sự liên thông giữa lãnh đạo bệnh viện, bác sĩ cấp cứu – hình ảnh học – đột quỵ – ngoại thần kinh – hồi sức… khiến giờ vàng cứu người bệnh vuột mất.

Ở các nước đang phát triển đang có sự khác biệt với phương Tây trong phòng ngừa thứ phát. Điều này có thể đến từ sự sai sót của các bác sĩ tuyến sau hoặc từ ý thức tuân thủ điều trị của người bệnh quá kém. Nhiều bệnh nhân sau đột quỵ may mắn phục hồi nghĩ rằng “mình đã bình thường và không cần uống thuốc nữa”. 

Điều này rất nguy hiểm, bởi việc phòng ngừa phải lâu dài, thậm chí suốt đời. Một số bệnh nhân chuyển qua sử dụng thực phẩm chức năng vốn chỉ có tác dụng hỗ trợ chứ không thể thay thế được các loại thuốc bác sĩ kê toa.

Đã có khá nhiều bệnh viện được trao chứng nhận đạt “Tiêu chuẩn vàng điều trị đột quỵ” của Hội Đột quỵ thế giới. Chứng nhận này sẽ mang lại lợi ích gì cho người bệnh?

Ở Việt Nam thậm chí có bệnh viện còn đạt tiêu chuẩn kim cương. Tiêu chuẩn này có thể hiểu là chuẩn mực chung, bao gồm các khuyến cáo tiến bộ, bắt buộc bác sĩ phải làm cho bệnh nhân. 

Tiêu chuẩn này giúp xác định bệnh nhân có được sử dụng thuốc tiêu sợi huyết; lấy huyết khối; phòng ngừa thứ phát, kê toa các loại thuốc thiết yếu; chẩn đoán bằng các phương tiện hình ảnh học hiện đại. Điều này có nghĩa người bệnh đột quỵ ngày càng có lợi hơn.

Bác sĩ có thể đưa ra các dự báo về xu hướng đột quỵ thời gian tới?

Dựa trên các nghiên cứu gần đây, có một dự báo rất không hay cho các nước đang phát triển, khu vực Đông Nam Á, kể cả Trung Quốc, trong đó có Việt Nam: tỉ lệ đột quỵ tăng theo cấp số cộng. Trong khi ở các nước phương Tây, Âu Mỹ, tỉ lệ đột quỵ mỗi năm giảm rõ rệt…

Lý do là lối sống ở các nước đang phát triển đang có xu hướng thiếu lành mạnh, khả năng gìn giữ sức khỏe khá thấp, điển hình tỉ lệ hút thuốc lá quá nhiều, đặc biệt nam giới (70% bệnh nhân đột quỵ nam giới đều hút thuốc lá).

Việt Nam đang ở đâu trong bản đồ điều trị đột quỵ thế giới? 

Cách đây 25 năm, Việt Nam chỉ có một máy CT-Scan. Điều này có nghĩa khi có một bệnh nhân đột quỵ, bác sĩ không thể thấy gì trong đầu họ, không thể biết đột quỵ do tắc mạch máu, chảy máu, vỡ mạch máu hay u bướu. 

Gần như có một câu hỏi to tướng không thể lý giải được. Khi đã không lý giải được, bác sĩ sẽ không thể chặn đứng diễn tiến của bệnh, chỉ còn cách điều trị triệu chứng giúp bệnh nhân giảm bớt sự khó chịu.

Giờ đã khác hẳn. Trong điều trị đột quỵ cấp, chúng ta đã làm được tất cả các kỹ thuật như tiêu sợi huyết tĩnh mạch, lấy huyết khối bằng dụng cụ trong khoảng thời gian ngắn nhất, giống như các nước phát triển.

Mặt khác, các phương tiện chẩn đoán hình ảnh hiện đại (MR, CT-Scan, phần mềm trí tuệ nhân tạo RAPID) giúp bác sĩ thấy rất rõ tất cả các tổn thương trong não. Xa hơn, có thể thấy được thể tích các nhu mô não đã chết, đang chết và có thể chết.

Bác sĩ Nguyễn Huy Thắng

HOÀNG LỘC thực hiện / Theo TTCT

Đọc để hiểu: Ung thư trị bằng tâm không phải bằng thuốc.


Ung thư là bệnh có thể tấn công bất kỳ ai, có người vượt qua được, có người phải từ bỏ. Chữa bệnh bằng “tâm pháp” hiện đang được xem là giải pháp hỗ trợ hữu hiệu khi mắc bệnh.

Phương pháp dùng năng lượng tự thân để chữa ung thư

Chúng ta luôn đặt câu hỏi, tại sao đều là mắc ung thư, nhưng có người chữa khỏi, có người phải ra đi? Chúng ta luôn cảm thấy khó tin khi những người “bị bệnh viện trả về” lại vẫn tiếp tục sống lâu nhiều năm sau đó?

Để tìm câu trả lời này, nhóm chuyên gia ung thư mà đại diện là bác sĩ Trương Hỷ Phong, Khoa ung thư máu, Bệnh viện Trịnh Châu (Trung Quốc) đã nghiên cứu và công bố kết quả bất ngờ về việc làm thế nào để sử dụng năng lượng tự thân tạo ra kỳ tích phục hồi chức năng sau khi ung thư.

Tại sao ung thư có thể “giết” người này, mà “tha” người khác?

Như chúng ta đều biết, ung thư là một loại bệnh khó chữa. Nhưng khó không có nghĩa là không thể chữa khỏi, càng không phải là bệnh vô phương cứu chữa. Điều này đã được chứng minh bằng rất nhiều các trường hợp chiến thắng ung thư trên toàn thế giới.

Có một điều chúng ta phải đặt câu hỏi, tại sao có người chữa khỏi, có người lại không? Ngoài ra, tại sao một số bệnh nhân bị ung thư giai đoạn cuối vẫn chữa khỏi, trong khi những người khác mới mắc ở giai đoạn đầu vẫn phải từ giã cuộc đời?

Thậm chí tệ hơn, tại sao một số người gần như không điều trị mà bệnh tự biến mất, còn một số người điều trị kịp thời nhưng lại tái phát? Lý do sâu xa của việc này là điều rất đáng để các bác sĩ, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân nên dành thời gian xem xét nghiêm túc.

Để giải thích cho hiện tượng này, đa số cộng đồng y tế chỉ có thể giải thích một cách “hời hợt và đáng thất vọng” rằng đó là do sự khác biệt của từng cá nhân. Vậy, rốt cuộc thì sự khác biệt cá nhân đó cụ thể là gì?

Liệu chúng ta có thể giải thích được bí mật về sự khác biệt đó không? Nếu chúng ta tìm thấy một quy luật nào đó, dùng nguyên lý đó để hỗ trợ các bệnh nhân điều trị và phục hồi bệnh của mình được hay không?

Trải qua nhiều thời gian nghiên cứu nghiêm túc và công phu, chúng tôi (BS Trương Hỷ Phong) thấy rằng đằng sau những bí mật huyền diệu đó đều có một nguyên tắc cụ thể. Đó chính là sự khác biệt giữa những bệnh nhân điều trị lâm sàng, khi thái độ và trạng thái tâm lý tốt, hành vi tích cực thì rất dễ tạo nên những kết quả phục hồi kỳ diệu.

Ngược lại, người nào tâm lý càng bất ổn, thái độ tiêu cực, hành vi thiếu lạc quan thì kết quả điều trị phục hồi kém, thậm chí tử vong nhanh chóng. Điều này mở ra cho nhóm nghiên cứu rất nhiều cảm hứng và niềm tin.

diwali festival oil lamps

Thứ nhất: Sức đề kháng của cơ thể

Sức đề kháng của bệnh nhân ung thư là một trong những yếu tố quyết định có chiến thắng bệnh ung thư hay không. Điều này đã được chứng minh thông qua việc có nhiều người cùng giới tính, cùng độ tuổi, cùng mắc 1 loại bệnh ung thư ở cùng một giai đoạn phát triển bệnh, cùng dùng 1 phác đồ điều trị nhưng kết quả điều trị giữa họ không hoàn toàn giống nhau.

Ngược lại, có những người không nhận được sự điều trị và can thiệp y tế kịp thời hoặc đã chữa nhưng không khỏi, bị bệnh viện trả về lại có thể vượt qua được lưỡi hái tử thần, sống bình thường như chưa từng mắc bệnh.

Những ví dụ trên cho thấy, chức năng tự chữa lành của cơ thể là vô cùng mạnh mẽ và đặc biệt quan trọng. Có thể nói một cách không khoa trương rằng, sức đề kháng trong nội tại cơ thể là nhân tố cơ bản nhất để chiến thắng ung thư, chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào thuốc.

Những giai đoạn điều trị lâm sàng, năng lượng nội tại của cơ thể có thể giúp nâng cao hiệu quả điều trị, thúc đẩy quá trình phục hồi nhanh hơn. Sau giai đoạn điều trị, nó lại giúp duy trì lâu dài hiệu quả điều trị và phòng chống sự tái phát hoặc di căn.

Điều này cho chúng ta biết rằng, điều trị ung thư phải dựa vào sự kết hợp giữa y học và bản thân người bệnh. Bác sĩ điều trị dựa trên cơ sở khoa học, bệnh nhân phải tích cực phối hợp, chủ động can thiệp và áp dụng tất cả năng lượng nội tại của bản thân để nâng cao khả năng chữa trị.

Thứ hai: Tâm lý đối mặt với bệnh tật

Bệnh nhân ung thư tự thân họ đều có một khả năng tâm lý tiềm ẩn vô cùng lớn. Năng lực tiềm ẩn này có thể hỗ trợ việc hồi phục tình trạng bệnh thông qua sự kết nối giữa tâm sinh lý và hệ miễn dịch, là nhân tố quyết định có tính cốt lõi đến quá trình điều trị và phục hồi.

Vì vậy, khi một người biết mình đã mắc bệnh thì cần phải làm gì?

Một số người sau khi biết “tin dữ” đã có thái độ phản ứng dữ dội với sự việc, khiến cho năng lực tiềm ẩn này tiếp tục khiến cho bệnh trở nên nặng hơn, thúc đẩy tế bào ung thư trở thành ác tính, làm giảm hiệu quả điều trị, dễ dàng tái phát và di căn nhanh.

Đáng tiếc rằng có rất nhiều bệnh nhân rơi vào hoàn cảnh này.

Một số trường hợp khác, họ tự nhận thức bệnh và thay đổi quan niệm, họ tư duy tích cực, dẫn dắt năng lực tiềm ẩn trong cơ thể đi theo hướng ngược lại đám đông vừa nói ở trên, khiến cho năng lực tự thân trong cơ thể được phóng thích, chống lại và loại bỏ các tế bào ung thư.

Từ đó bệnh ung thư tiến triển theo chiều hướng nhẹ dần, quá trình điều trị thuận lợi, sức khỏe hồi phục nhanh và tránh được di căn.

Thật đáng tiếc rằng trong quá trình điều trị thực tế, vì trạng thái tinh thần suy sụp nên năng lực nội tại này không được phát huy. Hiện tượng này tiếp tục diễn ra trong nhiều bệnh nhân mà họ không thể điều chỉnh tâm lý, số người như vậy khá đông dẫn đến hậu quả đáng tiếc mà chính các bác sĩ cũng không thể giúp được.

Đâu là lý do? Làm sao để mọi bệnh nhân đều hiểu rằng trạng thái tâm lý trong việc chữa bệnh vô cùng quan trọng? 

Thứ ba: Phương pháp điều trị bằng “tâm pháp”

Trạng thái tâm lý của bệnh nhân là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình điều trị và phục hồi sức khỏe. Sau đây là một số điều cần biết.

Công thức điều trị

Hiệu quả điều trị và phục hồi chức năng = Trạng thái tâm lý + Mức độ nghiêm trọng của bệnh

Công thức trên cho thấy, hiệu quả trong điều trị và phục hồi của bệnh ung thư (tỷ lệ chữa khỏi bệnh, thời gian có thể sống, chất lượng cuộc sống) có thể so sánh với mức độ nghiêm trọng của bệnh (loại bệnh, giai đoạn bệnh, tính chất của bệnh).

Điều này có thể dễ hiểu, rằng nếu cùng một loại bệnh, thì bệnh càng nặng, hiệu quả điều trị càng thấp. Còn cách điều trị càng hợp lý, thì hiệu quả càng tốt. Sau khi phân tích công thức trên, chúng ta có thể phát hiện thêm rằng, bệnh nặng hay không đều đã được định hình rõ khi vừa phát hiện, điều này không thể làm đảo ngược nữa.

Trong khi đó, điều trị hợp lý nghĩa là bạn sẽ được áp dụng một phác đồ điều trị khoa học, có sẵn. Kết quả điều trị cũng sẽ nằm trong phạm vi đã được dự đoán trước, yếu tố này là cố định. Nói một cách dễ hiểu, khi bệnh ở một mức độ nào đó, can thiệp y tế cũng chỉ giải quyết được trong phạm vi đó thôi, ít khi có sự đột biến.

Nhưng ngược lại, yếu tố tâm lý trong quá trình điều trị có thể có những tác động vô cùng khác biệt giữa người này và người khác, giữa giai đoạn bệnh này và giai đoạn bệnh khác. Điều khác biệt này chính là kết quả dẫn đến mỗi người một số phận sau khi mắc ung thư.

Tóm lại, những người có thái độ tiêu cực bi quan thì khả năng miễn dịch của cơ thể sẽ suy yếu, bệnh sẽ diễn biến nặng hơn. Còn những người có thái độ lạc quan tích cực, hệ miễn dịch sẽ phát triển mạnh hơn, hỗ trợ khả năng phục hồi nhanh hơn.

Khi chúng ta đã biết công thức để chiến thắng ung thư rồi, vẫn rất khó để thuyết phục người mắc bệnh nên thực hiện theo như vậy. Lý do là một khi đã mắc ung thư, nếu nhắc họ nhìn những người đã chiến thắng ung thư để học tập, người bệnh sẽ ngay lập tức nghĩ rằng đó là thiểu số, thiếu sự tin tưởng, và khó cải thiện tâm trạng bi quan buồn rầu.

Trạng thái tâm lý để đối mặt với quá trình điều trị bệnh ung thư giống như đồng hồ đếm ngược. Người nhanh chóng thay đổi thái độ thì bệnh sẽ phục hồi nhanh, còn người làm chậm quá trình này thì sẽ hết thời gian vàng để điều trị.

Thứ tư: Giải pháp thay đổi nhận thức

Có một công thức chung, là sau khi biết mình mắc bệnh nan y, bạn hãy cứ buồn khổ một chút, sốc một chút, sau đó là bình tĩnh trở lại, rồi bắt đầu chuyển thái độ, trở nên mạnh mẽ và kiên cường hơn. Bạn phải tự tìm thấy lý do là phải tiếp tục được sống, có khát vọng sống mãnh liệt.

Từ mục tiêu này, bạn sẽ đọc thông tin về bệnh tình, tìm kiếm bác sĩ, ổn định tâm lý và tiến hành quá trình chữa bệnh để quyết tâm giữ lấy sự sống.

Sau khi đã tìm hiểu và biết rõ về bệnh, trao đổi với bác sĩ, nói chuyện với những người đã chiến thắng ung thư, dần dần sẽ nhận thức được rằng, ung thư không đáng sợ như người ta vẫn tưởng, ung thư không có nghĩa là chết.

Sau khi vượt qua điều này, tâm trạng của người bệnh sẽ hoàn toàn thay đổi, họ tin rằng ung thư có thể chữa khỏi. Khi mang trong mình niềm tin này, tự nhiên sẽ thay đổi thái độ, tin rằng bệnh sẽ chuyển biến tốt, từ cơ sở này, năng lượng tự thân trong cơ thể sẽ phát triển, hệ miễn dịch tăng lên, đẩy lùi bệnh tật.

Khi đã có tinh thần tốt nhất để chữa bệnh, người bị ung thư sẽ có thái độ tích cực hơn trong việc phối hợp với bác sĩ, có tinh thần đấu tranh với bệnh, điều chỉnh cân bằng dinh dưỡng, tập thể dục hợp lý, kiên trì trong thời gian dài thì cuối cùng, hiệu quả chữa bệnh sẽ đạt được mức độ lý tưởng nhất.

Trong suốt quá trình điều trị, các bác sĩ đã rút ra kinh nghiệm tâm lý chữa lành ung thư, gọi là “tâm pháp” với sơ đồ tóm tắt như sau:

Nuôi khát vọng được sống Nhận thức rõ về lý thuyết chữa bệnh theo khoa học → Nhìn nhận đúng về bệnh → Nuôi dưỡng thái độ tích cực Duy trì một tâm trạng tốt → Giữ niềm tin vững chắc Có ý chí mạnh mẽ → Có hành động tích cực → Nhận kết quả khả quan.

Đây là một quy trình điều trị bệnh bằng tâm lý tích cực, nó giống như quá trình phân chia tế bào hạt nhân, có thể kích hoạt nảy mầm những hạt giống miễn dịch đang tiềm ẩn trong cơ thể, khi năng lượng bên trong cơ thể phát triển ở mức cao, sẽ phá hủy tế bào ung thư, tạo ra kỳ tích, hồi phục kỳ diệu trong điều trị.

Đây cũng là một quy luật chính xác trong việc phục hồi chức năng, nó không chỉ mở khóa những bí mật cho chúng ta hiểu về sự phục hồi kỳ diệu sau khi mắc ung thư, mà còn giúp bệnh nhân đi đúng hướng, giúp giới y học đi đúng con đường nên đi trong quá trình điều trị.

Đây là một phương pháp phòng chống và điều trị ung thư được nhóm nghiên cứu gọi là “Tâm pháp” (biện pháp điều trị bằng trái tim). Chỉ cần bệnh nhân hiểu rõ được những tác dụng kỳ diệu của năng lượng bên trong cơ thể một cách nghiêm túc, tin tưởng thì việc điều trị ung thư sẽ đạt được những kỳ tích mà chính bạn cũng cảm thấy khó tin.

*Theo Health/Cancer

theo Trí Thức Trẻ