Vào trong hoang dã: Một cách tìm ý nghĩa cuộc sống


Hãy bước ra thế giới ngoài kia, dấn thân và mạo hiểm, bạn sẽ tìm thấy ý nghĩa cuộc sống. Muốn vậy, hãy sống đời sống tự do, nhất là tâm trí bạn.

Tìm kiếm gian nan, thử thách

“Tôi đã có một cuộc sống hạnh phúc” là lời từ biệt ngắn gọn của Christopher Johnson McCandless vào ngày 18/8/1992, sau 112 ngày bước chân vào nơi hoang dã và cũng là ngày cậu ra đi mãi mãi khi ở tuổi 24.

Một trong những hành động cuối cùng của cậu là chụp chân dung chính mình. Trong bức ảnh, cậu đứng gần chiếc xe buýt dưới bầu trời Alaska cao vời vợi, một tay cầm lời từ biệt chĩa vào ống kính máy ảnh, tay kia giơ cao như chào tạm biệt với vẻ hạnh phúc. Khuôn mặt cậu hốc hác nhưng sự đau khổ, cô đơn, thất vọng không thể hiện trong bức ảnh. Cậu đang mỉm cười và ánh mắt cậu trông thanh thản, bình an.

Chris McCandless tự đặt cái tên mới sau khi đốt bỏ mọi thứ: Alexander Supertramp (Siêu Lang Thang). Lớn lên ở vùng ngoại ô giàu có thuộc Washington, Mỹ trong một gia đình khá giả với cha là nhà khoa học làm việc cho NASA, mẹ là một nhà kinh doanh thành đạt, cậu học hành giỏi giang và từng là vận động viên chạy bộ cừ khôi. Sau khi tốt nghiệp loại ưu Đại học Emory, McCandless liền bỏ đi biệt tăm, đổi tên và tặng toàn bộ 24.000 Mỹ kim trong tài khoản tiết kiệm cho một quỹ từ thiện, bỏ lại chiếc ô tô và hầu hết tài sản, đốt hết tiền mặt trong ví. Rồi cậu tự gây dựng cuộc sống mới, đi lang thang khắp Bắc Mỹ để tìm kiếm những trải nghiệm sống động và phi thường. Gia đình không hề biết cậu ở đâu, làm gì cho tới khi thi thể của cậu được phát hiện ở Alaska.

Là một thanh niên vô cùng mạnh mẽ, có lý tưởng sống kiên định, một kiểu lý tưởng không dễ gì ăn nhập vào lối sống hiện đại. McCandless say mê tác phẩm của Lev Tolstoy và đặc biệt là cách mà nhà văn Nga vĩ đại ấy từ bỏ cuộc sống giàu có và quyền quý để mong sống những ngày cuối đời trong yên bình và cô đơn. Khi tiến về rừng rậm và băng giá Alaska – chuyến đi mà theo McCandless là “hành trình vĩ đại” cuối cùng, cậu ý thức rất rõ và không hề mang chút ảo tưởng nào rằng mình đang đi tới một vùng đất đầy mật ngọt. Gian nan, thử thách mới chính là điều mà cậu tìm kiếm.

Cái chết của Siêu Lang Thang trở thành một đề tài gây tranh cãi tại Mỹ. Một bên là sự ngưỡng mộ vì lòng quả cảm và lý tưởng sống, bên còn lại là sự nổi giận, xem cậu như một gã “chập mạch”, một gã ái kỷ bỏ mạng vì ngạo mạn và xuẩn ngốc.

Người đọc, trước khi theo chân hành trình của McCandless và có thể cả khi gấp cuốn sách lại, sẽ có quan điểm riêng về McCandless. Câu hỏi không phải là điều gì đã xảy ra, mà là đoạn kết ấy có ý nghĩa gì.

Sống đã là cuộc hành trình tìm kiếm ý nghĩa của nó

Con người thường luôn trong một hành trình nào đó, dù ý nghĩa hay vô vị. Những người hùng tâm thì tìm kiếm hành trình vĩ đại, cống hiến cho nhân loại, tìm cách bù đắp cho những điều còn thiếu sót của tạo hóa đặt trong những người yếu thế, khiếm khuyết. Những kẻ tầm thường thì tìm kiếm lợi ích cá nhân, thỏa mãn cái tôi. Dẫu gì, với mỗi kiểu người, hành trình đó luôn có ý nghĩa. Và vì nó ý nghĩa, nó thôi thúc hành động dù ngu ngốc hay thông minh. Gọi là gì thì tùy thuộc vào nhận thức, lối sống và quan điểm từng người. Tôi đã có một cuộc sống ý nghĩa, hay cuộc đời này là vô vị, cõi tạm lại không phụ thuộc vào tiêu chuẩn nào cả.

Tác giả Jon Krakauer bị ám ảnh bởi những chi tiết về cuộc đời của McCandless, cũng như những nét tương đồng giữa ông và chàng trai trẻ, đã dành hơn một năm lần theo dấu vết từ những dòng nhật ký, những người đã gặp McCandless để phục dựng lại hành trình của chàng trai mà ông thấy rất đặc biệt này.

Chắp nối những dữ liệu đó và thực hiện rất nhiều cuộc phỏng vấn, tìm hiểu rất nhiều tài liệu khoa học, tâm lý học và chính tác giả cũng là một nhà leo núi nổi tiếng đã đặt mình vào hàng trăm tình huống nguy hiểm trong những nơi hoang dã, có kiểu suy nghĩ về gia đình giống McCandless, như về đạo đức người cha để rồi kết luận rằng McCandless không phải là gã trai ngu xuẩn, ích kỷ. Trên hết, đấy là người khát khao tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống một cách cực đoan và nồng nhiệt. Cậu ấy dũng cảm hơn chúng ta vì đã hành động. Còn chúng ta, hằng ngày ngồi đó, làm việc làng nhàng, suy nghĩ nông cạn, và bị bao thứ cám dỗ che mờ quyết tâm và lòng khao khát đi tìm ý nghĩa cuộc sống.

Rốt cuộc ý nghĩa cuộc sống là gì?

Thành Cát Tư Hãn sau mỗi trận thắng được các tướng dưới quyền tung hô, đã nói rằng: “Không có thứ gì tốt đẹp cho đến khi thật sự kết thúc”. Thứ tốt đẹp nhất theo ông là sau chiến thắng của một cuộc chiến, nơi vó ngựa của đoàn quân ông trải dài từ Á sang Âu, ông và binh lính được về nhà, nơi mà “đàn bà, con gái, rượu, sữa, hay còn gọi là gia đình đang chờ với niềm kiêu hãnh về những kẻ chinh phạt thế giới”.

Người ta đã tổng hợp những trang nhật ký của McCandless để nhận ra rằng cậu không phải vào nơi hoang dã để thỏa mãn một loại sở thích, mà chính nhờ sống trong hoang dã, cậu đã tìm được ý nghĩa đích thực của cuộc sống. Đấy là chân thành, giản đơn và gia đình. Những câu hỏi về cuộc sống đã thưa thớt dần giai đoạn về sau, thay vào đó là gạch dưới những đoạn văn mà cậu tâm huyết trong những cuốn sách mang theo.

Chẳng hạn, McCandless gạch dưới đoạn văn trong tác phẩm Hạnh phúc gia đình của Lev Tolstoy: “Anh ấy đã đúng khi nói rằng niềm hạnh phúc đích thực trên đời này là sống vì người khác. Trên tất cả, tôi cần em với tư cách là người bạn đời và nếu được là cả những đứa con. Trái tim người đàn ông còn có thể mong muốn điều gì hơn thế nữa”. Và McCandless đã quyết định tìm đường quay lại. Cậu đã học cách tha thứ, khoan dung và bắt đầu chấp nhận người khác. Cậu đã sẵn sàng về với thế giới văn minh.

Con người, trên tư cách là một giống loài có nhận thức, nhưng lại không phải sàn sàn một kiểu như nhau. Số phận mỗi người lại nằm trong nhận thức và hành động. Điều đó phân biệt giữa người này với người kia, giữa người tâm trí bao la hay nhỏ nhen ích kỷ, giữa người thấy đời đáng sống và cơ hội lồng lộng với kẻ chán ghét tất thảy mọi thứ.

McCandless đã viết cho Ron Franz – một ông cụ tốt bụng, sống cô độc, an nhàn, đã rất mến thương và lo lắng cho cậu, khuyên cậu hãy sống với cuộc sống xã hội: “Cháu muốn nhắc lại lời khuyên cháu đã từng nói với ông, rằng cháu nghĩ ông nên thay đổi hẳn cách sống và bắt đầu làm những việc táo bạo mà trước đó ông không bao giờ nghĩ đến, hoặc lưỡng lự chưa muốn làm. Nhiều người sống thật nhàm chán nhưng lại không có ý định thay đổi bởi quá quen với sự ổn định, với sự phục tùng và thói bảo thủ. Những thứ đó có vẻ đem lại sự yên ổn, nhưng trên thực tế không gì phá hủy khát khao khám phá hơn là một tương lai bảo đảm”.

Hãy bước ra thế giới ngoài kia, dấn thân và mạo hiểm, bạn sẽ tìm thấy ý nghĩa cuộc sống. Muốn vậy, hãy sống đời sống tự do, nhất là tâm trí bạn.

Theo DNSG

Nghe tiếng hành tinh thầm thì


Tất cả thanh âm của một hệ sinh thái, từ tiếng suối chảy róc rách đến tiếng ríu rít chim ca, hòa phối với nhau tạo thành một “khung cảnh âm thanh” (soundscape) độc nhất, như một thứ “vân tay” của môi trường sống đó ở một trạng thái nhất định. Thế nhưng, loài người đã mang đến sự tuyệt chủng và biến đổi khí hậu – những sự ồn ã làm thay đổi cách thiên nhiên thầm thì.

Tiếng ồn từ tàu bè có thể ảnh hưởng đến việc giao tiếp của cá heo. Ảnh: Richard Steinberger/500pxTiếng ồn từ tàu bè có thể ảnh hưởng đến việc giao tiếp của cá heo. Ảnh: Richard Steinberger/500px

Các nhà khoa học đã chia thế giới âm thanh thành hai nhóm. “Giao hưởng địa lý” (geophony) gắn với các hoạt động tự nhiên như thác nước đổ hay tiếng ầm ầm của động đất. Còn lại là “giao hưởng sinh học” (biophony) được tạo ra bởi các sinh vật sống. Và rồi tiếng ồn của con người vang lên khắp quả đất, đến nỗi chúng ta đã phải gọi tên nhóm âm thanh thứ ba: “ồn ã nhân gian” (anthropophony).

Sự tĩnh lặng đáng lo của rừng già

Khi Eddie Game gắn một vài thiết bị ghi âm nhỏ bằng chiếc ví lên những thân cây ở Papua New Guinea, anh ấy đã ở sâu trong dãy núi Adelbert, cách con đường gần nhất khoảng ba ngày đi bộ băng rừng. Một loại máy sẽ ghi nhận siêu âm – âm thanh mà tai ta không thể nghe thấy; loại máy còn lại dành cho những âm thanh trong ngưỡng nghe của tai người. Hi vọng lũ chuột sẽ không ngoạm mất phần micro hay dây buộc.

Mặc dù rừng mưa nhiệt đới chỉ che phủ khoảng 6% bề mặt Trái đất, chúng là nơi sinh sống của hơn một nửa số loài động thực vật. Trong khung giờ sôi động nhất, những cánh rừng thật sự rung động bởi âm thanh: khỉ kêu, vượn hú, chim hót líu lo, côn trùng rả rích, ếch kêu ồm ộp, mèo rừng gầm gừ, và còn nào là dơi và các loài gặm nhấm, bò sát… Sức sống của một hệ sinh thái rừng thường biểu hiện qua lượng tiếng ồn bên trong nó. Vì thế, âm thanh sinh học (bioacoustic) lâu nay đã được sử dụng trong nghiên cứu và bảo tồn.

“Có một tín hiệu rất rõ ràng mỗi khi một môi trường bị suy thoái, đó là nó trở nên yên tĩnh hơn” – tác giả Livie Campbell dẫn lời Game trong một bài viết trên trang OneZero hồi tháng 2-2020. Game, nhà khoa học phụ trách khu vực châu Á – Thái Bình Dương thuộc Tổ chức The Nature Conservancy, cho biết đã đến 6 quốc gia và chứng kiến điều tương tự: sự biến mất của những điệp khúc lúc bình minh.

Sử dụng âm thanh để lập bản đồ đa dạng sinh học của một khu rừng có thể giúp lấp đầy những thiếu sót của các phương pháp đo lường truyền thống. Ảnh chụp vệ tinh chỉ cho ta thấy những tán rừng từ trên cao và có thể bỏ sót việc chặt phá có chọn lọc ở các tầng cây thấp. Bẫy ảnh khó mà điểm mặt hết các động vật hoang dã cư ngụ trong rừng. Vì vậy, âm thanh là một tín hiệu môi trường quan trọng và những thay đổi thường có thể được nghe thấy trước khi ta nhìn thấy. Ngoài ra, soundscape của một hệ sinh thái khỏe mạnh có thể dùng làm thước đo cho sự biến đổi của môi trường đó.

Trở lại túp lều ở Papua New Guinea, Game ngồi với đôi chân trần và đeo tai nghe, tâm trí bị choáng ngợp bởi những âm thanh phức tạp gấp nhiều lần so với lúc anh ấy đến đó đặt thiết bị. Dữ liệu âm thanh nhún nhảy trên màn hình máy tính, tiếng động của mỗi loài được biểu hiện bằng những đường sóng màu sắc. Các loài khác nhau tạo ra âm thanh ở tần số khác nhau. Với một khu rừng khỏe mạnh, những đường sóng xuất hiện ở mọi tần số, và ngược lại.

Một dịp khác, khi so sánh mức độ đa dạng của khu rừng đã bị khai thác và chưa bị khai thác ở Borneo (Indonesia), nhóm của Game đã bố trí một mạng lưới các micro cách nhau khoảng 1km trong cả hai loại rừng. Họ phát hiện một xu hướng đáng lo ngại: sự đồng hóa. “Trong những khu rừng không bị chặt phá, mỗi kilômet âm thanh nghe hoàn toàn khác nhau. Ở những nơi đã bị can thiệp, tất cả đều nghe có vẻ giống nhau” – Game giải thích.

“Nhưng có quá muộn để bắt đầu lập bản đồ bioacoustic khi một lượng lớn sự đa dạng sinh học đã bị mất đi?” – Livie Campbell đặt câu hỏi, và Game đáp: “Soundscape không chỉ là một cách để ghi lại sự suy thoái trong thế giới tự nhiên của chúng ta; chúng còn là một công cụ để ta có thể hành động trước sự mất mát của muôn loài”.

Sự ồn ào nguy hiểm của đại dương

Trái ngược với hình dung của loài người trên mặt đất, đại dương cũng ồn ào náo nhiệt không kém những cánh rừng, với âm thanh cao vút của những chú cá heo vui vẻ hay tiếng kêu uy lực của cá voi. Có khoảng 20.000 loài cá đã biết có khả năng nghe và khoảng 800 loài có thể tự phát ra âm thanh để săn mồi, thu hút bạn tình, định hướng và giao tiếp. Đó là chưa kể những con tàu động cơ diesel đang gầm rú ngang dọc khắp mặt biển.

Biến đổi khí hậu có thể làm tăng âm lượng của bản giao hưởng dưới biển, do lẽ nước biển ấm hơn đã làm “kích động” một thành phần nghệ sĩ “nhỏ mà có võ” trong dàn nhạc này: loài tôm pháo (snapping shrimp), theo tạp chí Wired.

Tôm pháo sử dụng chiếc càng quá khổ của mình như một khẩu súng lục tạo ra bong bóng khí với tiếng nổ hơn 210 decibel, trong khi một phát súng thật sự chỉ vào khoảng 150 decibel. Loài giáp xác này sống ở hầu hết các vùng biển nhiệt đới trên thế giới, sử dụng loại vũ khí âm thanh để hạ gục con mồi.

Vì tôm là sinh vật máu lạnh, chúng phản ứng lại các điều kiện môi trường. Đầu năm nay, các nhà khoa học đã công bố một phát hiện rằng nhiệt độ nước biển tăng khiến tôm pháo “nổ súng” nhanh hơn và to hơn, có nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động của các sinh vật biển khác. “Nó giống như bạn đang dự một bữa tiệc bình thường và rồi ai đó bật nhạc to lên, và bữa tiệc bùng cháy” – thành viên nhóm nghiên cứu, Aran Mooney, nhà sinh học biển thuộc Viện Hải dương học Woods Hole (Mỹ), nói với Wired.

Rõ ràng chúng ta có thể nghe thấy khí hậu đang thay đổi. Nhưng buồn thay, những gì nghe được ở các đại dương lại là những ồn ào hỗn loạn có hại cho sinh vật. Ở Bắc Cực, lớp băng trên mặt biển đã giảm đáng kể do nhiệt độ tăng, tạo ra những vùng nước “lộ thiên” rộng lớn và tồn tại trong thời gian dài. Khi gió thổi qua vùng nước này, nó tạo ra hàng triệu bong bóng khí tí hon và những con sóng, hợp thành tiếng ồn xa lạ. Và hệ sinh thái tại đây “không tiến hóa để đối phó với sự xáo trộn như vậy”, theo nhà hải dương học Kate Stafford (ĐH Washington, Mỹ).

Các loài động vật như cá voi đầu cong (Balaena mysticetus) vốn sống ở những vùng nước tương đối yên tĩnh, nay lại phải đối mặt với nhiều tiếng ồn hơn do lượng băng biển – vốn là một lớp “cách âm” của thế giới dưới nước tránh khỏi những âm thanh ngoài môi trường – suy giảm, cũng như sự bùng nổ của tàu vận chuyển và thăm dò dầu mỏ. “Tại một số thời điểm, khi tiếng ồn của máy khoan trở nên lớn hơn, tất cả chúng (cá voi) ngừng kêu, chúng chẳng buồn nói chuyện nữa” – Stafford kể trên Wired.

Hệ sinh thái đại dương vốn đang đối mặt với ô nhiễm, hiện tượng axít hóa, và giới nghiên cứu lo ngại rằng tiếng ồn sẽ là “nhát dao cuối cùng” lên các loài có nguy cơ tuyệt chủng, theo tạp chí khoa học Nature.

Eddie Game lắng nghe dữ liệu âm thanh ghi nhận trong rừng. Ảnh: The Nature ConservancyEddie Game lắng nghe dữ liệu âm thanh ghi nhận trong rừng. Ảnh: The Nature Conservancy

Bức tranh có vẻ u ám, song tin tốt là chúng ta có thể cắt giảm “tiếng động nhân sinh” dễ dàng và nhanh chóng hơn so với việc giải quyết hiện tượng axít hóa đại dương hay ngành công nghiệp nhiên liệu hóa thạch, theo Nature.

Chẳng hạn, năm 2017 cảng Vancouver (Canada) bắt đầu chính sách chiết khấu cho những con tàu chạy… êm, khiến Canada trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng sáng kiến khuyến khích tài chính để giảm tiếng ồn đại dương và khí thải. Tháng 11-2018, trong nghị quyết bảo tồn sức khỏe đại dương, Liên Hiệp Quốc cũng ghi nhận “nhu cầu cấp thiết” về nghiên cứu và hợp tác để giải quyết các tác động của anthropophony.

Cần nhớ rằng anthropophony cũng gây hại cho sức khỏe con người như đối với động vật, bao gồm vấn đề giảm thính lực, tăng căng thẳng, rối loạn giấc ngủ hay suy giảm nhận thức. Sẽ thật xấu hổ khi chúng ta bật âm thanh tự nhiên ở nơi làm việc để cải thiện tâm trạng nhưng lại bỏ qua những cơ hội nhằm cứu lấy những bản giao hưởng thật sự của hành tinh.

(*) Độc giả có thể thử nghe một số bản ghi âm rừng nhiệt đới Borneo (Indonesia) tại http://acoustics.safeproject.net/

“Tuyệt chủng” đồng nghĩa với việc chúng ta có thể mãi mãi đánh mất một số âm thanh tự nhiên, nhưng Trái đất vẫn còn hi vọng. Khi mà sự nóng lên toàn cầu đang gây tổn hại loài san hô trên toàn thế giới, các nhà nghiên cứu đã bước đầu thành công trong việc thu hút cá quay trở lại các rạn san hô bị suy thoái bằng cách phát đi âm thanh của rạn san hô khỏe mạnh – thực tế là tiếng của những loài cá, tôm và các sinh vật khác sống ở đó.

Làm thế nào để biết một loài vẫn còn tồn tại nếu ta không thể nhìn thấy nó? Trên những vách đá hiểm trở của đảo Kauai (Hawaii, Mỹ), nơi trú ngụ của những con chim Puaiohi (Myadestes palmeri) cuối cùng trên Trái đất, các nhà nghiên cứu đang sử dụng bioacoustic để tìm và bảo vệ chúng.

Trong khi đó, Rainforest Connection – một tổ chức phi lợi nhuận có trụ sở tại Mỹ – lại sử dụng bioacoustic để “nghe lén” hoạt động săn trộm và phá rừng ở Indonesia, Cameroon, Ecuador, Brazil và Peru. Tổ chức này dùng trí tuệ nhân tạo để phát hiện âm thanh của cưa máy, tiếng súng hoặc xe tải trong các đoạn ghi âm. Khi có nghi ngờ, hệ thống sẽ ngay lập tức gửi cảnh báo đến các kiểm lâm địa phương.

Lê My / TTCT