Hạnh phúc dưới góc nhìn của các nền văn hóa khác nhau


Hạnh phúc dưới góc nhìn của các nền văn hóa khác nhau

Hạnh phúc và niềm vui có thể có ý nghĩa khác nhau ở những nơi chốn khác nhau. Tất cả chúng ta đều nhận được niềm vui từ những điều khác biệt, nhưng bạn có thể ngạc nhiên về cách các nền văn hóa trên thế giới quan niệm về ý tưởng khó tìm nhất này.

Mỗi triết lý có giá trị riêng trong việc giúp những người theo nó đạt được cảm giác hài lòng và vui vẻ. Dưới đây là một số trong những điều thú vị nhất:

Đạo giáo Trung Quốc ( Vô vi – Wu-Wei)

Một câu chuyện ngụ ngôn của Trung Quốc kể về cuộc gặp gỡ hư cấu giữa Đức Phật, Khổng Tử và Lão Tử, 3 người sáng lập ra các trường phái tư tưởng hàng đầu của Trung Quốc. Trong câu chuyện này, họ tìm thấy một chậu chất lỏng không rõ nguồn gốc, nhúng ngón tay vào và đưa lên miệng. Đó là giấm. Khổng Tử nếm nó và ông nhăn mặt.

Đức Phật nếm nó và nó có vị đắng đối với ngài, giống như chính cuộc đời vậy. Lão Tử nếm thử, mỉm cười và nói: “À, đây là giấm!” Từ ngữ “Wu-Wei” (Vô vi) có nghĩa là “không cưỡng cầu” và là một trong những giáo lý chính của Đạo giáo. Trong triết lý của Vô vi, mọi người không được khuyến khích chống lại thế giới hoặc cố gắng thay đổi nó, mà là hãy tận hưởng niềm vui trong cách mọi thứ đang diễn ra và làm các công việc mà không bị chi phối bởi thành công hay thất bại.

Coorie (Scotland)

Bắt nguồn từ tiếng Scotland, nghĩa đen của “coorie” là ôm ấp, và như một phong cách sống, nó là lễ kỷ niệm mùa đông lạnh giá. Cách một người quan sátCoorie là làm cho bản thân được thoải mái nhất có thể khi ở nhà và ăn những món ăn thịnh soạn, ấm áp, phù hợp nhất trong một ngày lạnh giá.

Tất nhiên, để tận hưởng trọn vẹn niềm vui này, người ta phải có một cảm nhận đầy đủ về cái lạnh. Đây là lý do tại sao các “học viên” của Coorie được khuyến khích đi bộ đường dài và tận hưởng mùa đông tuyệt đẹp ngoài trời.

Mudita (Phật giáo)

Trong tiếng Phạn cổ của Ấn Độ, “Mudita” có nghĩa là “niềm vui”, nhưng trong Phật giáo, nó còn được tinh chỉnh hơn nữa để có nghĩa là một loại niềm vui không bị che lấp bởi hoàn cảnh và niềm kiêu hãnh cá nhân; vui vẻ trước hạnh phúc của người khác mà không cho là nhờ mình mà có hoặc thèm muốn nó. Điều này nghe có vẻ dễ dàng, nhưng loại niềm vui thấu cảm này được coi là đức tính khó tu dưỡng nhất trong Phật giáo.

Philotimo (Hy Lạp)

Từ “Philotimo” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tình yêu danh dự”, nhưng điều đó không giải thích đầy đủ về nó. Tất cả những người nói tiếng Hy Lạp bản ngữ dường như đều hiểu bằng trực giác. Đức tính không thể giải đáp này, thay vì chỉ là một điều, bao hàm toàn bộ lối sống bao gồm lòng tử tế đối với người lạ, lòng biết ơn, phẩm giá, hy sinh bản thân, lòng hiếu khách và sự lạc quan.

Shinrin-Yoku (Nhật Bản)

Truyền thống tò mò và tương đối mới mẻ này (có từ đầu những năm 1980) trong tiếng Nhật có nghĩa là Shinrin-Yoku (Tắm trong rừng), nhưng thay vì tìm một con suối trong rừng và nhảy vào đó, nó thực sự có nghĩa là đắm mình trong rừng.

Thực tế mà nói, người ta có thể đạt được điều này bằng cách đi vào một khu rừng và cố gắng trải nghiệm nó bằng tất cả các giác quan: chạm vào vỏ cây và lá (hiển nhiên là phải tránh những thứ độc hại), lắng nghe sự sống của khu rừng, hít thở cảm giác của cuộc sống này trong lúc đi lang thang xung quanh.

Pantsdrunk / Kalsarik#nni (Phần Lan)

Nếu Kalsarik#nni nghe tương tự như Coorie, đó là bởi vì cả hai cuối cùng đều bắt nguồn từ tiếng Đan Mạch “Hygge” , một triết lý của người Bắc Âu về sự ấm cúng. Nhưng Kalsarik#nni của Phần Lan còn thoải mái hơn một bước (hoặc lùi xa hơn, tùy thuộc vào người bạn yêu cầu): trong khi các xu hướng khác nhấn mạnh vào việc làm cho ngôi nhà của bạn càng ấm cúng càng tốt thì việc trang bị quần dài đòi hỏi bạn phải thoải mái nhất có thể khi ở trong nhà.

Pantsdrunk theo nghĩa đen có nghĩa là “cởi bỏ quần áo, ăn vặt và xem TV trong khi uống đồ uống có cồn”, không có ý định rời khỏi nhà sau đó. Nó thật đơn giản, đó là một phẩm chất. Biết đâu, có thể bạn đang thực hành nghi thức kiểu Phần Lan này mà không hề nhận ra!

Ikigai (Okinawa, Nhật Bản)

Hòn đảo Okinawa của Nhật Bản đáng chú ý vì nhiều lý do, một trong số đó là tỷ lệ sống lâu cao của những người cao tuổi. Mặc dù chế độ ăn uống có thể đóng góp một phần vào điều này, nhưng một yếu tố quan trọng hơn có thể là người Okinawa có Ikigai (Mục đích sống, lý do tồn tại) hoặc một lý do để thức dậy vào buổi sáng.

Theo triết lý này, nếu bạn tham gia vào những việc bạn vốn có sở trường, bạn thích làm, khiến bạn cảm thấy có mục đích và bạn có thể được trả tiền thì hoàn toàn không có lý do gì khiến bạn muốn nghỉ hưu, miễn là cơ thể bạn cho phép bạn làm công việc của mình.

Lykke (Đan Mạch)

Sự thoải mái không phải là công thức duy nhất để mang lại hạnh phúc mà Đan Mạch cung cấp. Không giống như Hygge (tâm trạng thoải mái, hài lòng) thúc đẩy sự ấm cúng (xem Coorie và Kalsarik#nni để biết các dẫn xuất của Scotland và Phần Lan), Lykke (hạnh phúc) thực hiện theo cách tiếp cận chủ động hơn nhiều để đạt được hạnh phúc, tích cực hơn trong thói quen hàng ngày của bạn, ví dụ như đi lại bằng xe đạp, đồng thời cố gắng kết nối mạnh mẽ hơn với gia đình và hàng xóm của mình, thúc đẩy ý thức cộng đồng và họ hàng bằng cách lan tỏa sự giúp đỡ, chia sẻ các nguồn lực và phát triển một mối quan hệ tốt đẹp.

Simcha (Do Thái giáo Hasidim)

Giống như các lối sống và triết lý khác được liệt kê ở đây, ý nghĩa của Simcha trong tiếng Do Thái chỉ đơn giản là “niềm vui”, “hạnh phúc”, nhưng trong bối cảnh của Do Thái giáo Hasidim (một nhánh của Do Thái giáo Chính thống), nó còn có nghĩa nhiều hơn thế.

Theo một số giáo sĩ Do Thái Hasidim có ảnh hưởng nhất, hạnh phúc không chỉ là điều đáng mơ ước, mà đó còn là một mitzvah: một điều răn và một đặc ân. Như vậy, nó được xem như là một vấn đề của sự lựa chọn, và một trong đó mang ý nghĩa tinh thần sâu sắc. Trên thực tế, Baal Shem Tov, người sáng lập thuyết Hasim, coi hạnh phúc tự bản thân nó như một hình thức tôn thờ, và do đó, bất kỳ công việc nào mang lại cho bạn niềm vui đều là phục vụ Đức Chúa Trời.

Bất kỳ triết lý nào trong số này có thể phù hợp với bạn, nhưng quan trọng hơn, mỗi triết lý có thể giữ một bí mật, khi kết hợp với phần còn lại, sẽ dẫn đến việc tạo ra một công thức độc đáo của riêng bạn vì hạnh phúc, vốn được thiết kế để dành riêng cho chính bạn.

Theo Doanhnhanplus

Liệu Coronavirus sẽ thay đổi thái độ của chúng ta về cái chết?


Yuval Noah Harari: Liệu Coronavirus sẽ thay đổi thái độ của chúng ta về cái chết? Có khi ngược lại

Liệu đại dịch Coronavirus có đưa chúng ta trở về với truyền thống hơn, và chấp nhận những thái độ về sự chết – hay củng cố thêm những nỗ lực của chúng ta nhằm kéo dài sự sống?

Một con chiên ngồi trong Thánh đường Westminster ở trung tâm London ngày 17/3/2020.Ảnh: Tolga Akmen/AFP qua Getty Images


Thế giới hiện đại đã bị định hình bởi niềm tin rằng loài người có thể láu hơn và đánh bại cái chết. Đó đã là một thái độ mới mang tính cách mạng. Trong phần lớn chiều dài lịch sử, loài người đã ngoan ngoãn phục tùng cái chết. Cho đến thời kỳ hiện đại gần đây, hầu hết các tôn giáo và hệ tư tưởng đều xem cái chết không chỉ là một định mệnh không thể tránh khỏi của chúng ta, mà còn như nguồn gốc chính cho ý nghĩa cuộc sống. Những sự kiện quan trọng nhất của sự tồn tại con người xảy ra sau khi bạn thở hơi cuối cùng. Chỉ khi đó bạn mới hiểu ra những bí mật thực sự của đời sống. Chỉ khi đó bạn mới có được sự cứu rỗi vĩnh cửu, hay chịu đọa đày mãi mãi. Trong một thế giới không có cái chết – và do đó, không có thiên đường, địa ngục hay sự đầu thai – các tôn giáo như Thiên chúa giáo, Hồi giáo hay Ấn Độ giáo có thể đã không có ý nghĩa gì. Trong phần lớn chiều dài lịch sử, những bộ óc giỏi nhất của loài người đã chỉ bận bịu đưa ra ý nghĩa cho sự chết, chứ không nỗ lực đánh bại nó.

Sử thi Gilgamesh1, thần thoại về Orpheus và Eurydice, Kinh thánh, kinh Qur’an, kinh Vedas, và vô số kinh sách và truyện kể khác đã kiên nhẫn giải thích cho loài người đau khổ rằng chúng ta chết bởi vì Thượng đế, Vũ trụ, hay Mẹ Thiên nhiên muốn thế, và chúng ta nên chấp nhận định mệnh đó với sự khiêm tốn và biết ơn. Có lẽ một ngày nào đó Thượng Đế có thể bãi bỏ cái chết thông qua một động tác siêu hình vĩ đại như là lần xuống thế thứ hai của đức Giêsu Kitô chẳng hạn. Nhưng việc sắp đặt những biến cố lớn như thế rõ ràng là vượt quá tầm mức [nghĩ bàn] của loài người xác phàm. 

Rồi sau đó cuộc cách mạng khoa học nổ ra. Với các nhà khoa học, cái chết không phải là một bản án siêu nhiên – nó chỉ là một vấn đề kỹ thuật. Con người chết không phải vì Thượng Đế nói vậy, mà là do sự cố kỹ thuật nào đó. Ví dụ tim ngừng bơm máu. Ung thư đã phá hủy gan. Virus sinh sôi trong phổi. Và cái gì gây ra mọi vấn đề kỹ thuật này? Là các vấn đề kỹ thuật khác. Tim ngừng bơm máu là vì không đủ ô-xy đi đến cơ tim. Các tế bào ung thư lan truyền trong gan bởi vì có sự đột biến gien ngẫu nhiên nào đó. Các virus làm tổ trong phổi ta vì ai đó đã hắt hơi trong xe buýt. Chẳng có gì siêu hình trong đó cả. 

Và khoa học tin rằng mỗi vấn đề kỹ thuật đều có một giải pháp kỹ thuật. Chúng ta không cần đợi đến lúc Chúa Kitô xuống thế lần hai để vượt qua cái chết. Một nhóm nhà khoa học trong một phòng thí nghiệm có thể làm việc đó. Nếu trước đây cái chết theo quan niệm truyền thống là chuyên môn của các giáo sĩ và nhà thần học trong những bộ áo thầy tu đen, thì ngày nay đó là những người trong bộ áo choàng phòng thí nghiệm trắng. Nếu trái tim run rẩy, chúng ta có thể kích thích nó bằng một thiết bị điều hòa nhịp tim, hay thậm chí cấy ghép một quả tim mới. Nếu ung thư hoành hành, chúng ta có thể giết nó bằng bức xạ. Nếu virus sản sinh ra nhanh trong phổi, chúng ta có thể đánh bại nó bằng các loại thuốc mới. 

Đúng là hiện tại chúng ta không thể giải quyết mọi vấn đề kỹ thuật. Nhưng chúng ta đang làm việc để giải quyết. Những bộ óc siêu nhất không còn tiêu tốn thời gian của họ vào việc cố gắng đưa ra ý nghĩa cho cái chết. Thay vào đó, họ đang bận tìm cách kéo dài cuộc sống. Họ đang nghiên cứu những hệ thống vi trùng, sinh lý, và gien gây ra bệnh tật và tuổi già, và đang phát triển những loại thuốc mới và cách điều trị mang tính cách mạng. 

•••
Trong cuộc đấu tranh để kéo dài sự sống của mình, loài người đã có thành công đáng kể. Trong hai thế kỷ vừa qua, tuổi thọ trung bình đã tăng từ dưới 40 năm lên đến 72 trên toàn thế giới, và đến hơn 80 ở một số nước phát triển. Đặc biệt, trẻ em đã thành công trong việc thoát được nanh vuốt của tử thần. Cho đến thế kỷ 20, ít nhất một phần ba số trẻ em chưa bao giờ sống được đến tuổi trưởng thành. Những đứa trẻ thông thường không chống nổi các bệnh thời thơ ấu như kiết lỵ, sởi, và đậu mùa. Ở nước Anh thế kỷ thứ 17, khoảng 150 trong số 1.000 trẻ sơ sinh bị chết trong vòng năm đầu tiên, và chỉ có khoảng 700 sống được đến tuổi 15. Ngày nay, chỉ có năm trong số 1.000 trẻ em Anh bị chết trong năm đầu, và 993 em sống khỏe để kỷ niệm sinh nhật thứ 15. Trên toàn thế giới, tỷ lệ tử vong trẻ em giảm xuống còn dưới 5%.
Loài người đã rất thành công trong nỗ lực bảo vệ và kéo dài sự sống, vì thế thế giới quan của chúng ta đã thay đổi một cách sâu sắc. Trong khi các tôn giáo truyền thống coi cuộc sống sau khi chết là nguồn ý nghĩa chính, thì từ thế kỷ thứ 18, các hệ tư tưởng như chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa nữ quyền đã không còn quan tâm đến thế giới bên kia nữa. Chính xác thì điều gì sẽ xảy đến với một nhà cộng sản sau khi ông ta hay bà ta chết đi? Cái gì xảy ra với một nhà tư bản? Điều gì xảy ra với một nhà nữ quyền? Chẳng thể tìm đâu được câu trả lời trong các tác phẩm của Karl Marx, Adam Smith hay Simone de Beauvoir.
Duy nhất có một hệ tư tưởng hiện đại vẫn trao cho cái chết một vai trò trung tâm đó là chủ nghĩa dân tộc. Trong những thời điểm thi vị và tuyệt vọng hơn của nó, chủ nghĩa dân tộc hứa hẹn rằng bất cứ ai hy sinh cho quốc gia thì sẽ sống mãi trong trí nhớ tập thể của dân tộc. Nhưng lời hứa này quá mờ nhạt nên ngay cả những người dân tộc chủ nghĩa nhất cũng không thực sự biết nên làm gì với nó. Làm thế nào để bạn thực sự “sống” trong ký ức? Nếu bạn chết rồi, làm sao bạn biết được nhân dân có nhớ về bạn hay không? Woody Allen đã từng được hỏi liệu ông ấy có hy vọng được sống mãi trong ký ức của các khán giả xem phim không. Allen trả lời: “Tốt hơn là tôi nên sống mãi trong căn hộ của tôi”. Thậm chí một số tôn giáo truyền thống cũng đã chuyển hướng trọng tâm của mình. Thay vì hứa hẹn về thiên đường nào đó sau khi chết, họ đã bắt đầu cố gắng dành nhiều nỗ lực vào những gì mà họ có thể làm cho bạn trong chính cuộc sống hiện tại.
_________

Chỉ có một hệ tư tưởng hiện đại vẫn còn trao cho cái chết một vai trò trung tâm: đó là chủ nghĩa dân tộc.

_________

Liệu đại dịch viêm phổi cấp hiện nay có làm thay đổi thái độ của con người về cái chết? Có lẽ là không. Mà chỉ là ngược lại. Covid-19 có thể sẽ khiến chúng ta chỉ có nâng gấp đôi nỗ lực để bảo vệ sinh mạng người. Về phản ứng mang tính văn hóa chủ đạo đối với Covid-19 thì đó không phải là sự cam chịu – mà là một kết hợp của giận dữ và hy vọng.
Khi một bệnh dịch nổ ra trong một xã hội tiền-hiện đại như châu Âu thời trung cổ, người dân tất nhiên là sợ hãi cho mạng sống của mình và bị đánh gục bởi cái chết của những người thân, nhưng phản ứng văn hóa chính chỉ là một sự cam chịu. Các nhà tâm lý học có thể gọi đó là sự “bất lực tập nhiễm”2. Người dân thì tự bảo nhau đó là ý Chúa – hoặc có lẽ đó là sự trừng phạt thiêng liêng cho tội lỗi của loài người. “Chúa biết rõ mọi sự. Chúng ta là loài người xấu xa xứng đáng với điều ấy. Và bạn sẽ thấy, cuối cùng nó sẽ thành ra tốt đẹp cả. Đừng lo lắng, người tốt sẽ được phần thưởng trên trời. Và đừng phí thời gian tìm kiếm thuốc thang. Bệnh này được Chúa đem đến để trừng phạt chúng ta. Những ai nghĩ rằng con người có thể vượt qua bệnh dịch này bằng tài khéo léo của mình thì chỉ chất thêm tội kiêu căng vào những tội lỗi khác của họ. Chúng ta là ai mà có thể phá được kế hoạch của Chúa?”
Những thái độ ngày nay là hoàn toàn ngược lại. Mỗi khi có thảm họa làm chết nhiều người – một tai nạn tàu lửa, một vụ cháy cao ốc, hay một trận bão lớn – chúng ta có xu hướng xem nó như là một thất bại của con người có thể phòng ngừa được, chứ không phải là một sự trừng phạt thần thánh hay một tai họa thiên nhiên không thể tránh được. Nếu công ty hỏa xa đã không hà tiện ngân quỹ dành cho an toàn, nếu chính quyền thành phố đã áp dụng các quy định phòng chữa cháy tốt hơn, và nếu chính phủ đã gửi sự trợ giúp đến nhanh hơn – thì những người này có lẽ đã được cứu sống. Ở thế kỷ 21, cái chết hàng loạt đã trở thành một lý do tự động cho những vụ án và điều tra. 

Cảng Vila, Vanuatu, sau trận lốc xoáy Cyclone Pam vào tháng 3/2015. Ảnh: Dave Hunt/Getty Images

Đây cũng là thái độ của chúng ta đối với dịch bệnh. Trong khi một số người thuyết pháp tôn giáo nhanh chóng mô tả bệnh AIDS như là sự trừng phạt của Chúa Trời đối với những người tình dục đồng giới, thì xã hội hiện đại lại khoan dung loại bỏ cái nhìn đó, và ngày nay nói chung chúng ta coi sự lan truyền của AIDS, Ebola hay các bệnh dịch gần đây khác như là những thất bại về mặt tổ chức. Chúng ta cho rằng loài người có tri thức và các công cụ cần thiết để kiềm chế những bệnh dịch ấy, và nếu một bệnh lây nhiễm dù bị vượt khỏi sự kiểm soát, thì đó là do sự thiếu năng lực của con người chứ không phải là sự nổi giận của thần thánh. Covid-19 không là một ngoại lệ với quy tắc này. Cuộc khủng hoảng còn lâu mới kết thúc, nhưng trò chơi đổ lỗi đã bắt đầu rồi. Các quốc gia kết tội lẫn nhau. Các chính trị gia thù nghịch ném trách nhiệm sang nhau như một quả lựu đạn đã rút chốt. 

Cùng với cơn giận dữ, cũng có một niềm hy vọng to lớn. Các anh hùng của chúng ta không phải là những tu sĩ mà họ chôn người chết và bào chữa cho tai ương – mà anh hùng là những thầy thuốc cứu được nhiều mạng sống. Và những siêu anh hùng của chúng ta là nhiều nhà khoa học trong phòng thí nghiệm. Cũng giống y như khán giả xem phim biết rằng Người Nhện và Nữ thần Chiến binh3 cuối cùng sẽ đánh bại những kẻ xấu và cứu được thế giới, chúng ta cũng chắc chắn rằng trong vòng vài tháng, cũng có thể là một năm, các nhà khoa học sẽ đưa ra được những cách điều trị hiệu quả đối với Covid-19 và thậm chí có cả vắcxin. Khi đó chúng ta sẽ cho con virus corona xấu xa thấy ai mới là sinh vật quan trọng nhất trên hành tinh này! Câu hỏi trên môi mọi người từ Nhà Trắng, qua Phố Wall cho đến các ban-công ở Ý là: “Khi nào sẽ có vắcxin?”. Khi nào. Chứ không phải là Liệu. 

•••
Khi nào thì thực sự sẽ có vắcxin và đại dịch sẽ qua đi, và thu hoạch chính của nhân loại sẽ là gì? Rất có khả năng, sẽ là: chúng ta cần đầu tư nhiều nỗ lực hơn nữa vào việc bảo vệ mạng sống con người. Chúng ta cần có nhiều bệnh viện hơn, nhiều bác sĩ hơn, nhiều y tá hơn. Chúng ta cần dự trữ nhiều máy trợ thở hơn, nhiều trang thiết bị bảo hộ hơn, nhiều bộ xét nghiệm hơn. Chúng ta cần đầu tư nhiều tiền bạc hơn vào việc nghiên cứu các mầm bệnh chưa biết đến và phát triển các phương pháp điều trị mới. Chúng ta không được mất cảnh giác một lần nữa.
___________

Cuộc khủng hoảng còn lâu mới kết thúc, nhưng trò chơi đổ lỗi đã bắt đầu rồi. Các chính trị gia đổ vấy trách nhiệm cho nhau.
____________

Một số người có thể tranh luận rằng đây là một bài học sai lầm, và rằng cuộc khủng hoảng dịch sẽ dạy cho chúng ta phải khiêm tốn. Chúng ta không nên quá tin chắc vào khả năng của mình để chế ngự các lực lượng thiên nhiên. Nhiều trong số những người phản đối này là những nhóm chống đối cổ xưa, họ thuyết giáo về tính khiêm tốn trong khi lại tự tin 100% rằng họ biết mọi câu trả lời đúng đắn. Một số người cố chấp không thể thay đổi bản thân – ví dụ, một mục sư phụ trách việc học tập Kinh thánh hàng tuần cho chính phủ của Donald Trump đã lên tiếng rằng bệnh dịch này cũng là sự trừng phạt thiêng liêng cho tình trạng đồng tính luyến ái. Nhưng ngay cả những người mẫu mực nhất về đạo đức truyền thống ngày nay cũng đã đặt niềm tin của họ vào khoa học hơn là vào Kinh văn. 

Giáo hội Thiên chúa giáo đã chỉ dẫn các con chiên không đi lễ nhà thờ. Israel đã đóng cửa các giáo đường trong nước. Cộng hòa Hồi giáo Iran đang không khuyến khích người dân đến thăm các thánh đường. Mọi loại đền thờ và giáo phái đã ngừng các nghi lễ công cộng. Và tất cả là vì các nhà khoa học đã thực hiện các tính toán, và khuyến cáo là nên đóng cửa các nơi linh thiêng này. 

Tất nhiên, không phải tất cả những ai cảnh báo chúng ta về sự ngạo mạn của con người đều mơ trở về thời trung cổ. Ngay cả các nhà khoa học cũng đồng ý rằng chúng ta cần phải thực tế trong những mong ước của mình, và rằng chúng ta không nên phát triển niềm tin mù quáng vào năng lực của các bác sỹ có thể che đỡ cho chúng ta khỏi mọi tai ương của cuộc sống. Trong khi toàn nhân loại đã trở nên mạnh hơn bao giờ hết, thì những con người cá nhân vẫn cần phải đối mặt với tính yếu đuối của mình. Có lẽ, trong một hay hai thế kỷ nữa, khoa học sẽ giúp kéo dài cuộc sống con người một cách vô hạn, nhưng bây giờ thì chưa. Với một ngoại lệ khả dĩ của số ít những trẻ em con nhà tỷ phú, tất cả chúng ta ngày nay đều sẽ chết trong tương lai, và tất cả chúng ta sẽ mất đi những người thân yêu. Chúng ta phải thừa nhận tính chất phù du của cuộc đời con người. 

Một thánh đường trống rỗng ở Shahr-e-Ray, phía nam Tehran hồi tháng 3/2020.Ảnh: Ebrahim Noroozi/AP

Trong nhiều thế kỷ, con người sử dụng tôn giáo như một cơ chế phòng vệ, tin rằng họ có thể tồn tại mãi mãi ở thế giới bên kia. Hiện nay, đôi khi con người chuyển sang sử dụng khoa học như một cơ cấu phòng thủ thay thế, tin rằng các bác sỹ sẽ luôn cứu được mình, và rằng mình sẽ sống mãi trong căn hộ riêng. Thực ra, chúng ta cần một cách tiếp cận cân bằng hơn. Chúng ta cần tin vào khoa học để đối phó với các bệnh dịch, nhưng chúng ta vẫn cần tự gánh vác trách nhiệm xử lý sự ngắn ngủi và sự chết của đời sống cá nhân. 

Cuộc khủng hoảng do đại dịch hiện nay quả thật có thể khiến nhiều người hơn nhận thức được bản chất không trường cửu của cuộc đời và những thành tựu của con người. Tuy nhiên, nền văn minh hiện đại của chúng ta, như một toàn thể, sẽ hầu như có thể đi theo một hướng ngược lại. Được nhắc nhở về tính mỏng manh của mình, nền văn minh sẽ phản ứng bằng cách xây dựng những phương tiện phòng vệ mạnh hơn. Khi đại dịch Coronavirus qua đi, tôi không trông đợi rằng chúng ta sẽ thấy một sự tăng lên đáng kể nào về ngân sách của các phòng nghiên cứu triết học. Mà tôi xin cá rằng, chúng ta sẽ thấy một sự tăng lên ồ ạt về ngân quỹ cho các trường y và các hệ thống chăm sóc sức khỏe. 

Và có lẽ đó là điều tốt nhất chúng ta có thể trông đợi, với cái nhìn của con người. Dù gì thì các chính phủ cũng không quá giỏi về triết học. Đó không phải là lãnh vực của họ. Các chính phủ thực sự phải tập trung vào việc xây dựng các hệ thống y tế tốt hơn. Còn các cá nhân thì cứ việc nâng cao trình độ triết học. Các bác sỹ không thể giải được điều bí ẩn khó hiểu về sự tồn tại cho chúng ta. Nhưng họ có thể mua cho chúng ta thêm thời gian để vật lộn với nó. Chúng ta làm gì với thời gian đó là tùy thuộc vào chính chúng ta.

Tác giả: Yuaval Harari


Chú thích:

1 Vua của thành Erech miền nam Babylonia.
2 Tâm lý bất lực do huấn luyện; tâm lý tập nhiễm bất lực; sự bất lực có điều kiện; căn bệnh bi quan.3 Spiderman và Wonder Woman.

* Trong cuộc chiến chống coronavirus, nhân loại đang thiếu vắng lãnh đạo

Nguồn: https://www.theguardian.com/books/2020/apr/20/yuval-noah-harari-will-coronavirus-change-our-attitudes-to-death-quite-the-opposite

Ngô S. Đồng Toản dịch / Theo khoahocphattrien.vn

Công nghệ và Tôn giáo: cùng nhau phát triển


Công nghệ và tôn giáo

Tôn giáo đang ở đâu và sẽ như thế nào trong thời đại 4.0? Đó là một câu hỏi, một thách thức lớn mà các nhà hoạt động tôn giáo nhất định phải quan tâm. Và việc ứng dụng công nghệ vào cơ sở tôn giáo phải chăng là cần thiết để tôn giáo gần gũi hơn với con người?

Hãy điểm qua một vài ví dụ tại các cơ sở Phật giáo.

Màn hình LCD và nến sạc LED

Tại chùa Bayan Lepas (Penang, Malaysia), nhà chùa không còn phát cho phật tử những mảnh giấy để ghi tên người quá cố và nguyện ước của họ trong các buổi cầu nguyện nữa. Thay vào đó, các màn hình LCD 50 inch được treo ở hai vách của phòng cầu nguyện sẽ hiển thị tên tuổi của người mất và chuyển sang tên người khác sau mỗi 3 giây.

Tên của người quá cố được thiết kế lồng trong hình hoa sen bay về phía lòng bàn tay của Đức Phật, như hàm ý rằng linh hồn của họ được Đức Phật đón nhận, độ trì. Chùa cũng cung cấp cho tín đồ cả nến sạc LED vì nó không chỉ thân thiện với môi trường mà còn giúp phòng cháy.

Máy xin xăm

Tại chùa Bà Thiên Hậu (Kualar Lumpur, Malaysia), người muốn xin xăm không phải tốn công lắc lon như trước mà chỉ cần cầm cả bó xăm bao gồm các thẻ xăm nhựa có in số bỏ vào một chiếc lon lớn, ngay lập tức một thẻ xăm sẽ tự động nảy lên. Người xin xăm đến hộc tủ có số xăm tương ứng, mở ra là lấy được giấy giải xăm bao gồm ba thứ tiếng Mã Lai – Hoa – Anh.

Còn ở miếu Văn Võ (Đài Trung, Đài Loan), người xin xăm chỉ cần bỏ xu 10 đài tệ vào khe của tủ kính đặt ở tay phải của pho tượng Khổng Tử, nhạc trỗi lên, “nàng tiên” robot trong tủ đi vào trong, vài giây sau bưng ra khay đựng lá xăm được cuộn tròn và thả ra một khe khác. Người xin xăm cũng có thể lấy xăm bằng cách bấm vào màn hình cảm ứng ở một chiếc máy khác trong điện thờ này.

Nhà sư robot

Tại chùa Long Tuyền (Bắc Kinh, Trung Quốc), nhà sư robot tên Xian’er đã thu hút hàng ngàn lượt phật tử đến tham quan ngôi chùa có tuổi đời trên 500 năm này. Nhà sư chỉ cao 60 cen ti mét, mũm mĩm, ngộ nghĩnh như nhân vật hoạt hình, có thể đọc kinh Phật và trả lời mỗi lần 20 câu hỏi cho những ai viết câu hỏi lên tấm bảng điện tử trước ngực anh ta. Với những câu hỏi ngoài khả năng, Xian’er sẽ nói “Không biết” hoặc “Để tôi hỏi lại sư phụ đã”.

Chùa Kodaiji 400 năm tuổi ở Kyoto đã ra mắt robot android tên Mind Mindar đứng trên bệ cao 195 cen-ti-mét, nặng 60 ki lô gam, được làm bằng silicon và nhôm, mô phỏng hình tượng nữ thần của lòng thương xót Kannon nổi tiếng trong văn hóa Phật giáo Nhật Bản.

Mindar trung tính về giới tính, biết tụng kinh, cúi đầu, đánh trống và rung chuông. Ngoại hình của Mindar được giữ ở mức gần giống như một robot trần trụi, có thể thấy rõ dây nhợ ở phần thân. Một camera được cấy vào mắt trái của Mindar để lấy nét đối tượng, giúp nó linh hoạt hơn trong giao tiếp bằng mắt. Mindar còn có thể trả lời các câu hỏi bằng tiếng Nhật và nhà chùa sẽ chiếu phụ đề tiếng Anh và tiếng Trung lên tường.

Thuyết giảng bằng ánh sáng công nghệ

Trước tình trạng người trẻ tham dự các buổi nói chuyện Phật giáo giảm sút dần, nhà sư Gyosen Asakura, trụ trì chùa Asakura (Fukui, Nhật Bản) đã phát minh ra hoio – công nghệ hợp nhất hình ảnh, kinh điển Phật giáo truyền thống với ánh sáng điện tử rực rỡ, bắt mắt – để thể hiện những hình ảnh về cuộc sống của linh hồn sau khi chết ở cõi Cực Lạc trong các buổi thuyết giảng.

Nghĩa trang kỹ thuật số

Bên cạnh khuôn viên nghĩa trang truyền thống, chùa Koukoko-ji (Tokyo, Nhật Bản) đã thiết lập nghĩa trang kỹ thuật số Ruriden trong một ngôi nhà nhỏ với hơn 2.000 pho tượng pha lê được chiếu sáng bằng đèn LED tông màu xanh lam. Mỗi pho tượng đại diện cho một người đã mất (hoặc sẽ mất). Hài cốt của người quá cố được đặt trong một hộp lưu trữ nằm ngay phía sau bức tượng Phật. Khi thân nhân của người mất quẹt thẻ từ vào hệ thống truy cập của Ruriden, tượng Phật của thân nhân họ sẽ phát ra một ánh sáng màu khác để họ định vị dễ dàng hơn. Nhiều công dân Nhật đã tìm hiểu và đăng ký cho mình “một suất” tại Ruriden.

Các nước châu Á là vậy, còn Việt Nam thì sao?

Hiện nay, kỹ thuật thạch táng tro cốt người chết đã được đưa vào nhiều nhà thờ, chùa ở các thành phố lớn. Ép cốt thạch táng là công nghệ lấy tro cốt người mất từ hũ cốt truyền thống (hình búp sen, tròn, bầu dục…) ra, ép tro cốt đó thành dạng khối rắn chắc như đá granit, sau đó chuyển vào hũ vuông. Hình ảnh và thông tin người mất được khắc chìm vào khối pha lê được gắn ngay bên trên hũ thạch táng. Công nghệ này tạo cảm giác thẩm mỹ, trang nhã, thân thiện, tiết kiệm diện tích cho nhà để cốt, từ đó đáp ứng được nguyện vọng gửi tro cốt ngày càng nhiều của cư dân sống tại các đô thị.

Ngoài ra, các cơ sở tôn giáo ở Việt Nam và nước ngoài hiện nay đều có trang web riêng hoặc Facebook như một kênh thông tin trực tuyến chính thức. Nhiều trang web được đầu tư công phu, có pháp thoại trực tuyến, tư vấn trực tuyến, thông báo các khóa tu học và vô số kinh, sách tôn giáo của nhiều tác giả trong và ngoài nước, ngôn ngữ đa dạng, bản dịch phong phú dưới nhiều định dạng khác nhau, rất thuận tiện cho người đọc sử dụng.

Cuối năm 2018 và đầu năm 2019, báo chí ở TPHCM đồng loạt đưa tin về máy xin xăm tự động ở chùa Vạn Phật (quận 5, TPHCM) và cho biết người dân rất hứng thú đến chùa để tìm hiểu và “dùng thử” chiếc máy này. Thật ra, đây chính là mẫu máy đã có ở miếu Văn Võ (Đài Loan) từ trước đó vài năm đã mô tả ở phần trên bài viết.

Vài thông tin như trên cho thấy các cơ sở tôn giáo đã bắt kịp xu hướng của thời đại, mang lại cảm giác hiện đại, tiện ích và gần gũi cho tín đồ. Không chỉ có vậy, việc ứng dụng công nghệ ở cơ sở tôn giáo còn góp phần bảo vệ môi trường. Trước khi sử dụng màn hình LCD và nến LED, chùa Bayan Lepas phải đốt khoảng 1.000 mẩu giấy khổ A4 sau các buổi cầu nguyện.

Tương tự, khi diện tích đất không mở rộng và ngày càng đắt đỏ mà số lượng người mất ngày càng tăng thì nghĩa trang kỹ thuật số là một cách thiết thực để bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên đất. Người thân của người mất cũng không phải mất phí bảo dưỡng mộ và đôi khi trở thành “nạn nhân” của các vấn nạn tại nghĩa trang truyền thống.

Việc sử dụng công nghệ trong tôn giáo cũng là nỗ lực để tương thích với con người hôm nay – vốn đã thân thiết quá mức với điện thoại thông minh, máy tính bảng và vô số vật chất kỹ thuật khác. Khi giới thiệu robot Xian’er vào năm 2015, chùa Long Tuyền tuyên bố rằng họ hy vọng việc sử dụng công nghệ tiên tiến sẽ giúp việc truyền bá Phật giáo thuận lợi hơn. Robot này truyền tải thông điệp: tôn giáo và khoa học không mâu thuẫn, hoàn toàn có thể song hành với nhau. Xian’er còn có tác dụng thu hút một thế hệ trẻ hiểu biết công nghệ cao của Trung Quốc đến với đạo Phật.

Nhưng điều đáng băn khoăn là: tôn giáo vốn coi trọng những triết lý và hành động sâu sắc, tinh tấn từ bản ngã con người. Do đó, nếu chúng ta đến với tôn giáo chỉ vì tò mò và niềm vui thích thụ hưởng những công nghệ mới mẻ thì liệu có quá màu mè và hời hợt?

Trong tác phẩm Đạo Phật ngày nay (phần Hiện đại hóa), Thích Nhất Hạnh cho rằng “Mỗi lần xã hội biến thiên với những cơ cấu sinh hoạt của nó là mỗi lần đạo Phật phải chuyển mình vươn tới những hình thái sinh hoạt mới để thực hiện những nguyên lý linh động của mình. Sau mỗi lần lột xác như thế, đạo Phật biến thành trẻ trung và lấy ngay lại được phong độ và khí lực của thời nguyên thủy”. Bậc chân sư cũng rất sâu sắc khi nhận định: vấn đề đặt ra cho đạo Phật là vấn đề hiện đại hóa (actualisation) mà không phải là vấn đề tân thời hóa (modernisation).

Ý tưởng của Thích Nhất Hạnh có thể là câu trả lời thỏa đáng cho nỗi băn khoăn có nên ứng dụng công nghệ vào tôn giáo không. Quả vậy, những yếu tố công nghệ hấp dẫn là phương tiện để con người hân hoan hơn khi bước vào ngôi nhà tôn giáo, còn tìm ra những giáo lý kỳ diệu và sâu xa thì muôn đời phụ thuộc vào tự lực của cá nhân. 

Diễm Trang – TBKTSG