Khai phá não bộ với khoa học thần kinh


Khai phá não bộ với khoa học thần kinh, siêu năng lực như những võ sư là điều có thể

Hơn 10 phút tập não với một cỗ máy fMRI có thể đáng giá cả chục năm khổ luyện của một võ sư.

Đâu đó trên thế giới này, bạn có thể đã nghe nhiều câu chuyện về những võ sư, những nhà tu hành mang trong mình “siêu năng lực”. Họ đã dành cả đời tu tập, thiền định và luyện hơi thở để có được khả năng làm chủ cảm giác và cảm xúc.

Những võ sư không biết đau còn những nhà sư thì không biết đến mọi ham muốn. Trong khi nhiều người còn hoài nghi, khoa học nói rằng những khả năng đó là hoàn toàn có thể. Chỉ có điều, những nhà tu hành đang luyện tập nó “trong bóng tối”, theo đúng nghĩa đen của nó.

Đào tạo khả năng của não bộ theo lối tu hành, bạn sẽ không bao giờ nhìn thấy và biết được chính xác điều gì đang diễn ra trong não bộ. Điều đó giống như một vận động viên thể hình tập tạ, mà không bao giờ được soi gương.

Đào tạo não bộ với khoa học thần kinh và các thiết bị tiên tiến thì khác. Trong đó, bạn có thể nhìn thấy chính xác những gì đang diễn ra trong não mình. Hiệu quả tập luyện sẽ tăng gấp bội và các nhà khoa học cho biết: Chỉ hơn 10 phút tập não với một cỗ máy fMRI có thể đáng giá tương đương vài chục năm khổ luyện của những võ sư.


Những võ sư không biết đau và những nhà sư không biết đến mọi ham muốn, khoa học có thể giải thích
Những võ sư không biết đau và những nhà sư không biết đến mọi ham muốn, khoa học có thể giải thích

Điều gì xảy ra khi bạn nhìn thấy được tâm trí của mình?

Bạn có bao giờ gặp khó khăn để kiểm soát cảm giác căng thẳng, muộn phiền hay tức giận? Một kỹ thuật được khá nhiều người áp dụng: Hít thở sâu. Thật đáng tiếc, nó làm việc với một số người, còn một số người thì không, họ sẽ cần một đêm xả stress ở ngoài quán bar.

Khó khăn nằm ở đâu trong việc kiểm soát mọi cảm giác và cảm xúc? Đó là bởi bạn không có khả năng nhìn xuyên vào não bộ, để biết chính xác những cảm xúc: vui buồn, lo lắng, sợ hãi… trông như thế nào.

Chúng vốn là những thứ gì đó quá trừu tượng và bí ẩn. Chỉ khi mà cảm giác và xúc cảm hiện hình và trở nên cụ thể hơn, bạn mới biết cách kiểm soát được chúng dễ dàng hơn.

Đó chính là ý tưởng đằng sau một kỹ thuật mới được gọi là fMRI (chụp cộng hưởng từ chức năng) thời gian thực. Trong đó, các nhà khoa học sẽ sử dụng từ trường để quét liên tục mọi tín hiệu thần kinh trong não bộ. Tín hiệu đó được tái hiện lại bằng hình ảnh giúp bạn cảm nhận được chúng một cách trực quan.

Cho nên trong trường hợp bạn có ý định luyện tập tâm trí của mình, có một máy fMRI thời gian thực sẽ giống như một vận động viên thể hình đang tập luyện trước gương. Anh ta sẽ biết khi mình nâng tạ thì nhóm cơ nào sẽ được tập trung và nó có hiệu quả hay không.

Còn bạn, khi bạn thở hoặc tập trung chú ý vào điều gì, bạn sẽ biết hiệu ứng xảy ra với não bộ là thế nào và từ đó ra quyết định có nên tiếp tục thở hoặc tập trung như vậy nữa hay không.


Một hệ thống fMRI thời gian thực, nơi người tham gia có thể nhìn thấy những gì đang diễn ra trong não bộ mình
Một hệ thống fMRI thời gian thực, nơi người tham gia có thể nhìn thấy những gì đang diễn ra trong não bộ mình

Trình diễn kỹ thuật fMRI thời gian thực đầu tiên đã được thực hiện vào năm 2005. Trong đó, các nhà khoa học sử dụng nó giúp những người tham gia trông thấy và kiểm soát cơn đau của họ. Có tất cả 8 người được đưa vào máy chụp fMRI trong khi chịu một kích thích nóng trên da.

Các nhà khoa học biến tín hiệu tại vỏ não hồi đai trước, vùng não chuyên xử lý các cơn đau thành một hình ảnh ngọn lửa trực quan. Thông qua một số chiếc lược điều khiển tâm trí, chẳng hạn như lãng quên hoặc tập trung vào cơn đau, cảm nhận cường độ và làm chủ nó, những người tham gia có thể học cách kiểm soát kích thước của ngọn lửa.

Và bởi ngọn lửa chính là hiện hình của những kích thích thời gian thực xảy ra tại vỏ não hồi đai trước, kiểm soát được ngọn lửa cũng là cách mà người tham gia kiểm soát cơn đau của họ.

Các nhà khoa học tạo ra một bảng câu hỏi đến đánh giá những cơn đau theo thang điểm 10. Đáng ngạc nhiên là chỉ với một buổi học 13 phút, những học viên kiểm soát được ngọn lửa đã giảm được 50% cảm giác đau của mình.

Bạn có thể tưởng tượng 13 phút này với quá trình tập luyện hàng chục năm thậm chí cả đời của một võ sư, những người cũng biết cách kiểm soát cơn đau của họ, nhưng gián tiếp qua hơi thở hoặc thiền định.


Khi cảm giác và xúc cảm hiện hình và trở nên cụ thể hơn, bạn sẽ kiểm soát được chúng dễ dàng hơn
Khi cảm giác và xúc cảm hiện hình và trở nên cụ thể hơn, bạn sẽ kiểm soát được chúng dễ dàng hơn

Những hứa hẹn của fMRI và khoa học thần kinh

Nghiên cứu năm 2005 đã mở ra một thời ỳ bùng nổ cho kỹ thuật fMRI. Các nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng diễn ra trên khắp thế giới và được cập nhật từng tháng một. Đến thời điểm hiện tại, nó đã phát triển đến mức kết hợp được với công nghệ thực tế ảo.

Các ứng dụng tiềm năng của fMRI chưa dừng lại. Một nghiên cứu trong năm nay nói rằng kỹ thuật này có thể giúp những người béo phì kiểm soát não bộ để giảm cân. Nghe có vẻ điên rồ kiểu “giảm cân bằng niềm tin”.

Nhưng thực sự, nghiên cứu đăng trên tạp chí Appetite trình bày cách những người này học được cơ chế não bộ phản ứng với các loại thức ăn. Từ đó, họ có thể đào tạo não mình lựa chọn và thích những thực phẩm lành mạnh hơn, ít calo và ít gây tăng cân hơn.

Cũng trong năm 2017, một nghiên cứu khác tập trung vào nhóm đối tượng những người mắc chứng rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD). Các nhà khoa học chỉ ra bằng quá trình học kiểm soát vùng vỏ não trước trán phải, những thanh thiếu niên bị ADHD đã có thể giảm triệu chứng của bệnh và tăng sự chú ý kéo dài.

Những lợi ích được ghi nhận tới 11 tháng sau khi họ tự điều trị bằng nhận thức, chứng minh rằng việc đào tạo não bộ có thể tạo ra những tác dụng lâu dài.

Trở lại năm 2016, nghiên cứu cũng cho thấy những người lớn tuổi sử dụng fMRI có thể cải thiện được khả năng não bộ. Nghiên cứu năm 2015 chỉ ra ngay cả những người trẻ cũng có thể sử dụng nó để đào tạo các phản hồi thần kinh, khiến họ tập trung hơn và giảm xao nhãng.

Các nghiên cứu gần đây liên tục chỉ ra bằng chứng kỹ thuật đào tạo não bộ có thể được sử dụng để điều trị rối loạn căn tẳng hậu sang chấn (PTSD) ở những cựu chiến binh, chứng trầm cảm, lo âu và thậm chí là cai thuốc lá.

Một nghiên cứu của Đại học Texas còn chỉ ra con người hoàn toàn có thể tự kiểm soát và điều chỉnh lượng dopamine tiết ra trong não, một chất dẫn truyền thần kinh tạo cảm giác thỏa mãn sau khi sử dụng chất kích thích. Ứng dụng của việc kiểm soát được dopamine, ít nhất cũng giúp điều trị bệnh Parkinson.


fMRI đã phát triển đến mức kết hợp được với công nghệ thực tế ảo
fMRI đã phát triển đến mức kết hợp được với công nghệ thực tế ảo

Và tương lai của siêu năng lực

Tất cả những liệt kê phía trên chứng tỏ cho chúng ta thấy fMRI có thể được sử dụng trong vô số cách để tạo ra vô số ứng dụng. Nhưng ngay tại thời điểm hiện tại, chúng ta chưa thể với tay đến chúng được.

Chụp fMRI thời gian thực yêu cầu thiết bị cồng kềnh và đắt tiền, nên nó chỉ được sử dụng trong trường hợp ưu tiên, khi không có một biện pháp can thiệp nào khác giúp cho bệnh nhân.

Mặc dù vậy, cũng như bất kể một công nghệ mới nào từ trước đến nay, chúng ta hi vọng sẽ chứng kiến các cỗ máy chụp cộng hưởng từ sẽ ngày càng thu nhỏ, rẻ hơn và dễ tiếp cận với người dùng hơn. Khi đó, thế giới sẽ trở nên như thế nào là điều mà bạn có thể tưởng tượng.

Não bộ có một tiềm năng rất lớn chưa thể được khai phá. Bởi đối với đa số chúng ta, những gì xảy ra bên trong não bộ hoàn toàn là bí ẩn.

Bạn có thể tưởng tượng điều này giống như một vận động viên thể hình tập luyện mà không bao giờ nhìn được cơ thể của chính anh ta, không biết được hình dạng, kích thước của từng khối cơ. Anh ta sẽ không thể biết bài tập và động tác nào sẽ tác động đến bộ phận nào, ở mức độ nào.

Chúng ta luôn đòi hỏi phản hồi thị giác khi luyện tập một bộ môn thể chất nào đó. Vậy thì điều tương tự cũng xảy ra với việc đào tạo não bộ và nhận thức.


Não bộ có một tiềm năng rất lớn mà chúng ta chưa thể khai phá
Não bộ có một tiềm năng rất lớn mà chúng ta chưa thể khai phá

Trở lại với kết quả của nghiên cứu fMRI năm 2005, chúng ta đã chứng kiến hiệu quả của chỉ 13 phút tập luyện não bộ. Thật khó để tưởng tượng điều gì sẽ diễn ra nếu trong tương lai, khi chúng ta có thể mục sở thị những tín hiệu não bộ và đào tạo chúng mỗi ngày, kéo dài hàng tuần thậm chí hàng năm.

Như một nguyên tắc cơ bản, 10.000 giờ làm việc sẽ biến bạn thành một chuyên gia. Cùng một khoảng thời gian tương tự, liệu con người có thể làm chủ được tâm trí của mình tới đâu? Có vẻ như một thế hệ người sở hữu siêu năng lực não bộ trong tương lai, không hề nằm ngoài trả lời của câu hỏi này.

Tham khảo BBC / Genk.vn

Thất nghiệp mùa dịch hủy hoại cơ thể và tinh thần như mất ngủ, trầm cảm


Ảnh minh hoạ :)

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm

Mất việc không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống mà còn để lại những tác động đến sức khỏe thể chất và tinh thần mà nếu không phát hiện sớm sẽ dẫn tới hậu quả lâu dài.

Mất việc là một trong những trải nghiệm tồi tệ nhất trong sự nghiệp của bạn, đặc biệt là khi nó đến một cách đột ngột. Mất việc trong lúc Covid-19 đang bùng phát lại càng khiến tình trạng stress thêm nghiêm trọng. Khi ấy, bạn không chỉ mất đi một nguồn thu nhập ổn định mà còn đánh mất cả mục đích, thói quen và những người bạn đồng nghiệp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của bạn.

Những tín hiệu cảnh báo cơ thể đang bị ảnh hưởng từ chuyện thất nghiệp

1. Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều

Một trong những dấu hiệu đầu tiên là sự thay đổi của giấc ngủ.

Theo Kristin Bianchi – bác sĩ tâm lý tại Trung tâm Thay đổi Hành vi và Rối loạn lo âu (Mỹ), bạn có thể sẽ bị khó ngủ, không cảm thấy buồn ngủ, hoặc dậy sớm hơn dự định.

1-2 đêm mất ngủ là chuyện bình thường, nhưng nếu tình trạng này xảy ra thường xuyên, nó thực sự rất đáng lo ngại. “Họ sẽ trở nên lo lắng nếu cứ mất ngủ triền miên”, cô cho biết.

Kể cả khi thất nghiệp, áp lực trong công việc cũ vẫn có thể đeo bám bạn dai dẳng. Patricia Haynes – phó giáo sư Khoa Khoa học Thúc đẩy Sức khỏe của ĐH Arizona – đã tiến hành một nghiên cứu về tác động lâu dài của các yếu tố gây stress nơi công sở lên sức khỏe con người sau khi bị sa thải. Bà và các đồng nghiệp phát hiện rằng những người cảm thấy bất an hay chịu áp lực từ việc đấu đá nơi công sở thường bị mất ngủ sau khi mất việc.

“Càng nhiều rào cản, ví dụ như rào cản chính trị, rào cản trong việc thăng chức, những thứ khiến cho mọi người không thể làm tốt công việc của họ – tất cả những yếu tố gây stress đó đều liên quan tới tình trạng mất ngủ sau khi người lao động mất việc”, bà nói.

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm - Ảnh 1.

2. Sức khỏe tinh thần sụt giảm

Theo khảo sát của Gallup trên 356.000 người Mỹ, càng thất nghiệp lâu, bạn càng dễ bị trầm cảm. Cứ 5 lao động lại có 1 người thất nghiệp trong vòng 1 năm cho biết mình đang điều trị trầm cảm.

Bianchi cho biết, hai dấu hiệu trầm cảm rõ nhất ở những người lao động bị mất việc là khi họ không còn hứng thú với những hoạt động mình từng thích trước kia và khi họ cảm thấy tâm trạng xuống dốc trong 2 tuần liên tiếp. “Nó hơi giống với sự buồn bã, chán nản. Đôi khi, nó lại thể hiện dưới hình thức giận dữ hoặc khó chịu”, Bianchi miêu tả.

3. Thay đổi tính cách, ít dễ chịu hơn

Một nghiên cứu năm 2015 của Tạp chí Tâm lý học Ứng dụng cho thấy, tình trạng thất nghiệp có thể dẫn đến những thay đổi cơ bản trong tính cách. 

Tổng cộng có 6.769 người Đức đã tham gia nghiên cứu và hoàn thành bài kiểm tra tính cách trong vòng 4 năm. Kết quả là, tính cách của những người mất việc có sự thay đổi đáng kể, nhất là ở mức độ dễ chịu, so với những người vẫn giữ được việc. Ngoài ra, nam giới được cho là dễ chịu hơn trong vòng 2 năm đầu thất nghiệp, nhưng sau đó sẽ bớt thân thiện dần.

Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng những thay đổi này là do cách nhìn của bạn thay đổi sau khi thất nghiệp dài hạn. “Khi mới thất nghiệp, họ vẫn có động lực để xử sự bình thường nhằm tìm kiếm một công việc mới hoặc để khiến cho những người xung quanh yên tâm. Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài vài năm, những động lực này sẽ mất dần”, tác giả của nghiên cứu cho biết.

4. Cơ thể nhức mỏi, đau nửa đầu, đau bụng

Khi cơ thể bị stress, cơ bắp của bạn sẽ cứng lại để bảo vệ bạn khỏi những nguy cơ tiềm tàng. Đó là một phần phản ứng tự vệ của cơ thể. Thế nhưng, tình trạng này kéo dài có thể dẫn tới các căn bệnh mãn tính như đau nửa đầu. Ngoài ra, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cũng tìm thấy mối liên hệ giữa stress vì mất việc với các cơn đau ở lưng và chi trên.

Vì não bộ thường xuyên gửi tín hiệu xuống dạ dày, stress vì thất nghiệp cũng có thể gây khó chịu ở vùng bụng. “Đối với rối loạn lo âu, các triệu chứng của bệnh dạ dày xuất hiện là điều không có gì lạ. Rất nhiều người cho biết họ bị đau bụng”, Bianchi nói. “Khi lo lắng, chúng ta thường bị đau đầu và đau cơ”.

5. Khẩu vị thay đổi đáng kể

Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, stress có thể làm tăng hoặc giảm khẩu vị. Những thay đổi này “có thể kèm theo tăng cân hoặc sụt cân”, Bianchi cho biết.

Làm gì để bảo vệ sức khỏe trong thời kỳ thất nghiệp

1. Hình thành thói quen

Theo bác sĩ tâm lý học Lisa Orbé-Austin, người lao động sau khi mất việc nên thiết lập một chuỗi thói quen mới để bản thân không quá nhàn rỗi và có động lực sống mỗi ngày. Bạn có thể tập thể dục, hẹn bạn ăn trưa, nghỉ ngơi sau hàng giờ ngồi tìm việc.

“Khi cảm thấy bất lực – kiểu ‘Tôi không có lương, tôi đang thất nghiệp’, bạn nên hình thành một thói quen nào đó để bản thân có việc mà làm”, cô khuyên.

Theo Haynes, dậy sớm mỗi sáng vào cùng một giờ, ăn uống đầy đủ và chăm chỉ hoạt động sẽ giúp ích nhiều cho những lao động bị mất việc.

2. Cố gắng tham gia một hoạt động nào đó

Khi thất nghiệp, bạn rất dễ cảm thấy vô dụng. Bạn sẽ nghĩ: Mình bỏ ra bao nhiêu công sức như thế mà chẳng có gì thay đổi. Theo Bianchi, cách duy nhất để loại bỏ cảm giác này là cố gắng thực hiện những hoạt động đem lại niềm vui và sự hiệu quả.

“Điều này không chỉ cải thiện tâm trạng mà còn giúp bạn cảm thấy có ích, đủ động lực để sống tiếp, kể cả khi đang thất nghiệp”, cô nói. “Nó sẽ giúp bạn kiên cường hơn.”

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm - Ảnh 4.

3. Cẩn thận tâm lý bi quan quá mức

Theo Bianchi, khi mọi người suy sụp và mất tinh thần, họ thường bỏ qua những điều tích cực. “Họ quá tập trung vào những điều tiêu cực và thất vọng mà mình trải qua”, cô cho biết.

Một trong những cách hữu hiệu để xua tan những ý nghĩ tai hại này là ghi chép lại những việc mình đã làm được và cảm thấy tự hào. “Đó có thể là những hành động do bạn tự chọn, hoặc bạn có thêm vào các phản hồi tích cực”, Bianchi giải thích. Những lời khen ngợi hay việc có ai đó gọi đến để hỏi thăm bạn cũng là dấu hiệu cho thấy bạn đã thiết lập được một mối quan hệ tích cực.

Bianchi giải thích, bằng cách nhắc nhở bản thân về các giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, bạn sẽ “tăng cường sự tự tin trong lúc phải đối mặt với những mất mát từ chuyện thất nghiệp”.

(Theo HuffPost)

Ngọc Hà / Theo ICTVietNam

Mạng xã hội đang khiến cho con người trở nên tự ti hơn


Sử dụng mạng xã hội quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tinh thần.

Có lẽ điều này sẽ khiến bạn ngạc nhiên nhưng việc sử dụng mạng xã hội kéo dài thực sự có thể khiến chúng ta rơi vào trạng thái buồn bã. Mặc dù tạo ra cuộc cách mạng trong cách thức con người kết nối với nhau, nhưng hệ quả của việc lạm dụng mạng xã hội chính là tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của chúng ta.

Các nghiên cứu đã xâu chuỗi việc sử dụng mạng xã hội với tình trạng gia tăng mức độ trầm cảm, lo lắng và cô đơn. Dưới đây là một số tác động tiêu cực mà mạng xã hội có thể tác động đến sức khỏe tinh thần của bạn.

Gây nên chứng Cyberostracism

Việc sử dụng phương tiện truyền thông mạng xã hội được kích thích bởi nhu cầu thuộc về nội tại của chính con người – sự thúc đẩy hình thành các kết nối đầy ý nghĩa giữa các cá nhân với nhau. Đó còn do nỗi sợ hãi bị chối bỏ hoặc còn được nhiều người gọi là “FOMO”. Nó thúc đẩy chúng ta tìm đọc các cập nhật trạng thái thường xuyên của bạn bè và liên tục lướt trên các dòng thời gian.

Nhiều người trong chúng ta phụ thuộc vào phương tiện truyền thông xã hội ngay cả với những tương tác hàng ngày và việc sử dụng nó đã thấm sâu vào mọi khía cạnh của đời sống. Ngày càng có nhiều nghiên cứu về những tác động tiêu cực của mạng xã hội, bao gồm cả hệ quả dẫn đến quá trình có tên thuật ngữ là “cyberostracism” (tạm dịch: loại trừ xã hội trực tuyến).

Cyberostracism bắt đầu từ 0 lượt thích và bình luận

Bị tẩy chay ảnh hưởng đến lòng tự trọng, tâm lý kiểm soát, cảm giác thân thiết, cũng như quan điểm của chúng ta về ý nghĩa của sự tồn tại. Theo một nghiên cứu năm 2018 của các nhà nghiên cứu từ Đại học bang Illinois, Mỹ thì cyberostracism trên mạng truyền thông xã hội thường xảy đến khi tương tác không được phản hồi.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng khi bài đăng của chúng ta không được nhìn nhận (tức là không nhận được những lượt like và bình luận), chúng ta dễ cảm thấy bị chối bỏ và loại trừ bởi những người khác.

Khi điều này lặp đi lặp lại nhiều lần, chẳng hạn như bạn chỉ nhận được một vài lượt thích và bình luận trên nhiều bài đăng của mình trong một thời gian dài, nó có thể dẫn đến “cảm giác bị xa lánh, trầm cảm, bất lực và bao trùm là cảm giác vô nghĩa”.

Rơi vào vòng xoáy của “Seen” và “Unfriend”

Một nghiên cứu độc lập của các nhà nghiên cứu từ Đại học Mannheim ở Đức đã phát hiện ra mô hình tương tự trong cách chúng ta trải qua cảm giác bị chối bỏ trên mạng xã hội. Chẳng hạn như một số trải nghiệm nhất định trên Facebook, Twitter hoặc Instagram gây ra cảm giác bị tẩy chay khi mà không nhận được tương tác trở lại ngay lập tức.

Cảm giác chờ đợi được phản hồi sau một tin nhắn đã “seen” (đã xem) có thể thổi bùng nên những suy nghĩ tiêu cực đó. Và việc phải chờ đợi ai đó chấp nhận lời mời kết bạn cũng mang lại kết quả tệ hại tương tự. Những trải nghiệm này, theo các nhà nghiên cứu, đặt mọi người vào “chế độ chờ đợi” gần như mọi lúc.

Và mạng xã hội là nơi mà mọi nhu cầu đó đều bị dập tắt ngay lập tức, mỗi phút giây phản hồi chậm trễ sẽ có thể chôn vùi một người trong “hố sâu” của cảm giác bị xa lánh, ruồng bỏ. Theo các nhà nghiên cứu, tình trạng tương tự cũng có thể xảy ra khi ai đó unfriend (hủy kết bạn) chúng ta trên mạng xã hội.

Mang lại cảm giác tự so sánh cực kỳ độc hại

Điều này đã không còn gì mới mẻ trong xã hội hiện đại, con người vẫn luôn so sánh bản thân và cách sống của mình với những người xung quanh trong hàng trăm năm qua. Nhưng vì mạng xã hội, bạn sẽ không chỉ thấy hàng xóm của mình đang làm gì, bạn thậm chí còn bị “nhồi nhét” trong những dòng cập nhật trạng thái của mọi người, ở mọi nơi, đang làm gì.

Bạn lướt liên tục những News Feed của bạn bè và nhìn thấy họ vượt qua được những cột mốc đáng nhớ trong cuộc sống, khoe thành tích mới nhất của họ, chiếc ô tô mới bóng láng hoặc những món đồ trang sức lấp lánh. Kết quả là, bạn tự vấn bản thân mình và cuối cùng tự chôn vùi tâm trí trong cảm giác thất bại.

Theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Social and Clinical Psychology, những cảm nhận trên là một trong nhiều hậu quả của tương tác trung gian kỹ thuật số. “So sánh xã hội xảy ra khi mọi người tự động soi chiếu bản thân họ với những người khác về khả năng hoặc thuộc tính mà họ tự cho là quan trọng”, các nhà nghiên cứu giải thích.

So sánh bản thân với bạn bè trên mạng xã hội

Các nền tảng truyền thông xã hội như Facebook và Instagram mang đến rất nhiều lý do để người dùng so sánh mình với bạn bè và tất cả những người nổi tiếng mà họ theo dõi.

Chúng ta có thể tự cuốn bản thân vào so sánh xã hội trên Facebook khi tính toán số lượt thích và bình luận mà mình nhận được so với bạn bè. Từ đó, nó trở thành một vấn đề thật sự khi mà nhiều người chỉ “tô vẽ” phiên bản tốt nhất của họ trên mạng xã hội.

Vì vậy, khi so sánh bản thân với những phiên bản hoàn hảo của ai đó trên mạng xã hội, chúng ta sẽ có xu hướng cảm thấy mình thấp kém hơn. Thường xuyên nhìn thấy những bức chân dung về cuộc sống hoàn hảo của người khác trên mạng xã hội sẽ khiến chúng ta cảm thấy cuộc sống thật thiếu thốn. Điều này có thể kích động hoặc làm trầm trọng thêm các cảm xúc tiêu cực và làm gia tăng các triệu chứng trầm cảm mỗi ngày.

Ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể của bạn

Hàng loạt nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội kéo dài và cảm giác không hài lòng về hình thể. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tác động lên hình ảnh cơ thể của một người đều được cả nam giới và nữ giới cảm nhận. Ví dụ, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Body Image đã phát hiện ra rằng việc sử dụng mạng xã hội kéo dài có thể gây ra những lo ngại về hình ảnh cơ thể ở phụ nữ trẻ.

Những người dành nhiều thời gian trên mạng xã hội có xu hướng so sánh ngoại hình của họ với bạn bè, đồng nghiệp ở xa và thậm chí cả những người nổi tiếng. Họ cũng thường đánh giá ngoại hình của mình xấu hơn so với những người khác.

Điều này đặc biệt trở nên nghiêm trọng vì người dùng hiện đại dần lạm dụng các ứng dụng chỉnh sửa ảnh. Sự hiện diện phổ biến của các bức ảnh được chỉnh sửa “nặng đô” tạo ra một hình ảnh cơ thể không thực tế mà đối với nhiều người là gần như không thể đạt tới hoặc duy trì được vóc dáng đó.

Những mưu cầu về cơ thể không thực tế này có thể khiến chúng ta cảm thấy bất mãn, hạ thấp giá trị bản thân và thậm chí gây ra chứng rối loạn ăn uống ở một số người.

Phong trào Body Positivity (được tự do sống với hình thể, vẻ đẹp của bản thân) đã cố gắng làm cho khái niệm về vẻ đẹp trở nên toàn diện hơn, tập trung vào vẻ đẹp bản thể như một đặc điểm quan trọng để mọi người cố gắng vươn tới, nhưng mạng xã hội cuối cùng vẫn đánh giá cao vẻ ngoài hào nhoáng của bạn, thứ có thể góp phần tạo nên hình ảnh cơ thể tiêu cực hoặc so sánh độc hại với người khác.

Tạm sống xa mạng xã hội

Tất cả những nghiên cứu này đều dẫn về một điều: tạm ngưng dùng mạng xã hội sẽ tốt cho bạn. Với tất cả các tác động tiêu cực đã chỉ ra đối với sức khỏe tâm thần của con người, việc giảm thời gian dành cho các mạng xã hội thực sự có thể khiến bạn hạnh phúc hơn rất nhiều. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc hạn chế sử dụng mạng xã hội có tác động tích cực đến sức khỏe của con người theo thời gian.

Giang Vu theo MakeUseOf / Theo vnreview.vn