Phương Tây “bó tay” với Facebook


Những sự kiện gần đây cho thấy bất kể những nỗ lực của chính bản thân Facebook, mạng xã hội này không thể chữa lành các khuyết tật của nó bởi nó là một sản phẩm lỗi của kỷ nguyên số.Minh họa: Ilan ConradoMinh họa: Ilan Conrado

Trong một chuyên đề về mạng xã hội đăng hồi tháng 10-2020, tờ The Economist cho biết chỉ 10% người Mỹ nghĩ mạng xã hội như Facebook hay Twitter là có lợi và đến 2/3 nghĩ chúng gây hại cho xã hội. Chẳng hạn từ tháng 2 đến nay, YouTube xác định được hơn 200.000 video “nguy hiểm hay sai lạc” về COVID-19.

Điểm đặc biệt là dù theo khuynh hướng chính trị nào, người ta cũng đang phẫn nộ với Facebook: phe tả nói mạng xã hội này đầy rẫy thuyết âm mưu QAnon, đậm đặc làn sóng kích động chủ nghĩa da trắng thượng đẳng làm người dùng chìm lấp trong một dòng chảy tin giả và xúc cảm hận thù. Phe hữu thì cáo buộc Twitter, Facebook kiểm duyệt thông tin, mà đình đám nhất gần đây là vụ xóa hay nhấn chìm đường dẫn đến những bài báo khui chuyện được cho là tham nhũng trong nhà Joe Biden, ứng cử viên tổng thống Mỹ.

Khi mạng xã hội đứng ra phân giải đúng sai

Tờ New York Post đăng một bài gây xôn xao dư luận về con trai của ứng cử viên tổng thống Joe Biden. Chưa biết đúng sai, Twitter đã xóa hết mọi đường dẫn mọi người đăng lên để dẫn về bài báo này; Facebook thì dùng thuật toán để các bài viết có dẫn đến bài báo này chìm lấp đâu đó, không hiện lên trên trang của người dùng. Nói cách khác, hai mạng xã hội chính yếu hiện nay bỗng gán cho mình vai trò kiểm duyệt nội dung người dùng đưa lên, tự nhận định nội dung này đúng – cho đăng; nội dung kia nghi ngờ – lột xuống hay ẩn đi.

Trước nay Facebook vẫn luôn tự cho mình là một “nền tảng công nghệ” chứ không phải là nơi xuất bản tin tức, nên họ không chịu trách nhiệm về nội dung người dùng đưa lên; ai nói gì người đó tự chịu trách nhiệm lấy. Chỉ có một số ngoại lệ như hình ảnh dung tục, ngôn ngữ gây hận thù, phân biệt chủng tộc, cổ vũ cho bạo lực… Facebook phải xóa ngay để khỏi bị rắc rối với luật pháp.

Thế nhưng trong vai trò là một mạng xã hội, làm sao Facebook hay Twitter có thể đứng ra tự quyết định đâu là tin đúng, đâu là tin sai? Giao cho trí tuệ nhân tạo của máy tính dẫn tới những quyết định sai lầm như dán nhãn phân biệt chủng tộc cho các bài diễn văn của Tổng thống A. Lincoln. Giao cho người kiểm duyệt thì các quyết định gỡ hay không gỡ tùy thuộc vào thiên kiến của người được giao.

Vụ bài báo New York Post là một minh họa điển hình cho tình thế tiến thoái lưỡng nan của các mạng xã hội khi muốn kiểm duyệt thông tin. Với một người bình thường, họ sẽ có sẵn một số thiên kiến: New York Post là báo lá cải do trùm báo chí Rupert Murdoch nắm, không đáng tin cậy. Chỉ còn vài tuần là đến ngày bầu cử tổng thống Mỹ, nên tin về ông Joe Biden ắt là có chủ đích. Bản tin dựa vào nguồn là đĩa cứng một chiếc laptop bị bỏ quên. Đáng nghi quá. Thế là Twitter gỡ hẳn, còn Facebook dìm sâu.

Dĩ nhiên chỉ một thời gian ngắn sau đó, Twitter phải thừa nhận đây là quyết định sai lầm: họ không có thẩm quyền quyết định đúng – sai trong trường hợp này; tin trên báo chí, dù có là báo lá cải vẫn là tin do tờ báo đó chịu trách nhiệm. Hằng ngày biết bao tin do báo chí đưa lên, không một mạng xã hội nào đủ năng lực “duyệt” thêm một tầng nấc nữa rồi mới cho người dùng tải lên mạng xã hội của mình.

Thao túng suy nghĩ của cả xã hội

Nhưng đó chỉ là phần nổi của một tảng băng khổng lồ. Facebook đầy rẫy thông tin sai lệch, thông tin cố tình bóp méo, thông tin đặt ngoài bối cảnh dễ gây hiểu nhầm. Mặc dù chúng tác động rất lớn lên các luồng dư luận xã hội thì có bao giờ, có ai đặt vấn đề Facebook cần làm gì với các thông tin như thế?

Hiện nay một phần rất lớn thông tin báo chí đến với người đọc là qua giới thiệu trên Facebook. Một bài được chia sẻ nhiều trên Facebook sẽ có lượng người đọc nhiều gấp trăm lần, ngàn lần một bài khác cũng đăng trên báo đó nhưng chìm lỉm trên mạng xã hội. Từ đó mới thấy một nguy cơ rất lớn Facebook kiểm soát được người dân một nước đọc tin gì nhiều, hay che khuất một tin khác. Nguy cơ này đã hiển hiện ở góc độ Facebook đang làm mọi cách để giữ chân người dùng – tin tức mang tính giật gân, câu khách sẽ được thuật toán Facebook ưu tiên hiển thị.

Trong một tương lai rất gần, các rủi ro khác có thể xuất hiện: giả thử một tổng thống nhiệm kỳ tới của nước Mỹ đe dọa chẻ nhỏ Facebook ra để ngăn chặn tình trạng độc quyền của nó, lấy gì bảo đảm không có chuyện Mark Zuckerberg không ưu ái cho ông này, tin tốt về ông cho lan truyền mạnh, tin xấu dìm sâu. Hay giả thử Zuckerberg làm chính trị, với Facebook trong tay, anh ta dễ dàng tung ra các chiến dịch truyền thông có lợi cho mình. Hay giả dụ Facebook sợ TikTok cạnh tranh bèn xúi báo chí đưa tin bài tiêu cực về TikTok một cách tinh vi. Tất cả giả định này chưa xảy ra, nhưng lấy gì đoan chắc nó không diễn ra trong tương lai?

Nói cách khác, người sử dụng Facebook đều biết đến khái niệm “tạo trend” – tức biến một chuyện nào đó thành một đề tài nóng trên mạng xã hội rồi dùng các luồng ý kiến có ảnh hưởng để “lèo lái” dư luận theo hướng mình muốn. Đây là một “nghệ thuật” với các bậc phù thủy có thể sau một đêm hướng cả dư luận xã hội về một câu chuyện gì đó. Nhưng cứ nghĩ mà xem, phù thủy như thế là rất ít, chi phí cao, có lúc thành công, có lúc chìm lỉm – trong khi đó “thầy” của các phù thủy này chính là Mark Zuckerberg, hoàn toàn vì một lý do gì đó, đưa ra bất kỳ “trend” nào cho mọi người say mê bàn tán, viết lách, bình luận, chia sẻ. Cứ nghĩ Facebook đang dần nắm cái quyền lực vô hạn, cho phép ai được quyền nói gì, đề tài nào là cấm kỵ, bóp nghẽn tiếng nói nào – cái viễn cảnh này thật đáng sợ.

Giải quyết đống bùi nhùi này như thế nào?

Phải nói là những người lãnh đạo các mạng xã hội cũng đang đau đầu giải quyết bài toán “tự do ngôn luận” trên không gian mạng. Vấn đề, như tờ Economist đặt ra, là không thể để một nhúm các tay quản trị doanh nghiệp quyết định các giới hạn của tự do ngôn luận; đây là chuyện của công chúng, của toàn xã hội. Người ta đang lo ngại, dưới áp lực của hai bên cả bảo thủ lẫn cấp tiến, các mạng xã hội sẽ dần siết lại định nghĩa “nội dung có thể chấp nhận được”; họ sẽ đóng vai trò người kiểm duyệt nội dung mà không ai có quyền khiếu nại.

Đồng thời để bán được thêm nhiều quảng cáo, các hãng công nghệ sẽ viết những thuật toán bày mâm bày bát cho người đọc toàn những thông tin những thuật toán này nghĩ sẽ buộc người đọc chú ý. Thế nhưng bọn lừa đảo, những kẻ bán hàng giả, những người chuyên tác động lên luồng dư luận và các chuyên gia truyền thông của đủ các bên lại biết tận dụng những thuật toán đó để gửi thông tin của họ nhờ bắn tới đối tượng họ nhắm đến.

Cách giải quyết, theo tờ Economist, là thay đổi mô hình kinh doanh của các hãng công nghệ đang làm chủ các mạng xã hội, buộc chúng cạnh tranh lẫn nhau. Trong lĩnh vực điện toán đám mây, cạnh tranh đã làm tăng chất lượng, giảm giá dịch vụ. Thay đổi mô hình có thể là thay đổi chuyện ai làm chủ dữ liệu; chủ nhân mạng xã hội nay chỉ được quyền thu một mức phí sử dụng cố định, ngoài ra không được khai thác dữ liệu người dùng để bán quảng cáo. Tiền quảng cáo sẽ về tay cá nhân người dùng hoặc tập thể người dùng. Nếu người dùng có quyền di chuyển dữ liệu đi theo mình khi dời sang một mạng xã hội khác, các mạng sẽ phải cạnh tranh nhau, mạng mới có điều kiện ra đời và môi trường mạng sẽ được làm sạch hơn bây giờ.

Giải pháp này có vô vàn thử thách như giá trị thị trường của các hãng như Facebook sẽ bay mất hàng trăm tỉ đôla, đời nào họ chịu một cách dễ dàng. Người dùng dọn đi qua mạng xã hội khác là chuyện dễ, nhưng mối quan hệ bạn bè đã kết nối mới là chuyện khó dứt bỏ. Làm sao để liên thông các mạng xã hội với nhau như mạng viễn thông thì mới giải quyết được vướng mắc này.

Hoặc giới chức quản lý có thể bắt đầu bằng cách buộc các mạng xã hội trao quyền cho người dùng được chọn thông tin gì sẽ xuất hiện trên trang cá nhân của họ mà không chịu tác động của thuật toán gây tò mò, thuật toán câu view. Giải pháp gì cũng phải làm sạch môi trường của các mạng xã hội, hiện đã đậm đặc sự hận thù, ganh ghét, mắng chửi khắp nơi.

Lấy ví dụ đang có một cuộc tranh luận rất nghiêm túc trên báo chí lan qua mạng xã hội, bỗng có người đưa tin giả để cổ vũ cho một bên. Vì là tin giả, nó hấp dẫn, nó lôi cuốn nên được chia sẻ và lan ra như đám cháy rừng. Bên kia phát hiện đây là tin giả, lên án dữ dội bên tung tin và nhân đó họ sổ toẹt mọi lập luận nghiêm túc trước đây. Đây là chuyện xảy ra hằng ngày với bất kỳ đề tài gì vì trong 100 người có ý kiến, cứ cho là 99 người suy xét cẩn thận trước khi nêu ý kiến của mình một cách nghiêm túc, chỉ có 1 người cố tình làm ẩu, bịa ra tin giả. Sẽ luôn có 1% này trên mạng xã hội bất kể nỗ lực ngăn chặn của chính Facebook hay của người dùng khác. Chính 1% này làm mọi cuộc tranh luận trên Facebook dù bắt đầu rất nghiêm túc, hữu ích rồi cũng rơi vào chỗ lăng mạ nhau vì dựa trên thông tin sai.

NGUYỄN VŨ / Theo TTCT

Hệ lụy tin giả và ứng xử của doanh nghiệp


Tác động của tin giả không chỉ đối với các cá nhân mà cả doanh nghiệp, thị trường, và thậm chí là mối quan hệ giữa các quốc gia…

Trong khoảng hai năm qua, tin giả (fake news) trên mạng xã hội đã phát triển rất mạnh và chưa từng có. Tác động của tin giả không chỉ đối với các cá nhân mà cả doanh nghiệp, thị trường, và thậm chí là mối quan hệ giữa các quốc gia. 

Dưới góc nhìn của ông Lê Quốc Minh, Phó tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, người có nhiều nghiên cứu về tin giả trên mạng xã hội, tin giả đang lan truyền với mức độ khủng khiếp và thực sự trở thành cuộc khủng hoảng trên thế giới.


“Cuộc khủng hoảng trên thế giới”

Theo ông Minh, nhiều người coi tin giả chỉ mang tính chất tác động có quy mô nhỏ và nghĩ rằng những tin giả này vô thưởng vô phạt, trò đùa cá nhân, mục đích có thể là những chủ thể nhất định. Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, đặc biệt là trong hai ba năm qua, những thông tin này rất dễ lan truyền với một tốc độ nhanh và quy mô lớn. Có những thông tin tưởng chừng đơn giản nhưng lại lan rộng khắp nơi và có thể tạo ra một nhận thức sai lầm về một vấn đề nào đó.

Ví dụ câu chuyện thuần túy là va chạm giao thông. Nhiều người không để ý nhưng khi được chia sẻ thì lại thu hút sự quan tâm rất lớn. Người thì bình luận theo hướng tích cực, tiêu cực, người thì chỉ trích. Một cá nhân vi phạm luật giao thông ngay lập tức người ta có thể tìm ra cá nhân này là ai, địa chỉ, số điện thoại thế nào, người trong gia đình… Nhiều đối tượng trên mạng đã quá khích, không chỉ dừng lại câu chuyện là phản ánh một sự việc sai trái của một cá nhân mà đi moi móc đời tư của những người liên quan.

Những thông tin trên mạng xã hội dù đúng mà chưa được phản ánh một cách đầy đủ, cân bằng cũng có thể tạo ra nhận thức sai. Theo ông Lê Quốc Minh, tin giả đang lan truyền với mức độ khủng khiếp và thực sự trở thành cuộc khủng hoảng trên thế giới.

Theo một số thống kê, khi diễn ra bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016, lượng người tiếp cận tin giả còn cao hơn người tiếp cận thông tin trên báo chí. Điều đó có nghĩa tin giả đang có ảnh hưởng vô cùng to lớn.

Cái khó của tin giả, theo Phó tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, là bất kể ai cũng có thể tung tin giả lên được vì nền tảng có sẵn, trong khi nền tảng mạng xã hội lại là nền tảng giúp cho tin giả lan truyền một cách không phụ thuộc vào bất kỳ một cái gì khác. Mỗi cá nhân hoàn toàn có thể tự tung các video clip trên Youtube, Facebook hoặc các nền tảng mạng xã hội khác và nó cứ nhân lên với tốc độ chóng mặt.

Khi đó, người này bình luận, người kia chia sẻ, người khác thì download về và chế ra thành các sản phẩm khác nữa. Thực tế đã cho thấy sự tràn lan rất nhiều, từ vấn đề cá nhân giải trí, liên quan đến các ngôi sao nghệ sỹ, đến vấn đề kinh tế liên quan đến doanh nghiệp doanh nhân, thậm chí cả vấn đề chính trị. “Tin giả bây giờ tràn lan khủng khiếp”, ông Lê Quốc Minh, nhấn mạnh.

Thứ nữa, do tốc độ tăng trưởng của mạng xã hội gần đây rất nhanh, mạnh, các thuật toán của mạng xã hội cũng được cái tiến rất nhiều cho nên khi một thông tin được đẩy lên thì các thuật toán này giúp những thông tin được xuất hiện trên news feed của những người có mối quan tâm, trong khi ngày trước đăng lên như vậy sẽ bị chìm đi. Một số phỏng đoán cho rằng, trong tương lai tới đây, tin giả có thể còn tăng mạnh hơn do sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) nên việc tiếp cận công nghệ của người dùng cũng rẻ hơn, dễ hơn.

Hệ lụy tin giả và ứng xử của doanh nghiệp

Một doanh nghiệp làm ăn tốt luôn luôn có sự cạnh tranh. Bên cạnh sự cạnh tranh lành mạnh là không lành mạnh. Theo ông Lê Quốc Minh, bất kỳ doanh nghiệp nào, dù thành công ở mức lớn hay nhỏ đều có khả năng bị cạnh tranh lành mạnh lẫn không lành mạnh, và cũng không thể tránh khỏi những người dùng những thủ đoạn rất bẩn thỉu và tin giả là một trong những biện pháp vừa rẻ vừa dễ, trong nhiều trường hợp còn che giấu được nguồn phát tán, sẽ bị lợi dụng.

Lâu nay chúng ta mới để ý thông tin giả liên quan đến những doanh nghiệp lớn. Đơn cử như doanh nghiệp lớn xây dựng những khu nhà, đường xá hay khu nghỉ, nhiều người biết, quan tâm nên chia sẻ nhiều hơn. Tuy nhiên, tin giả đối với các doanh nghiệp nhỏ cũng bắt đầu phổ biến, ở mọi địa phương và đôi khi còn khó kiểm soát hơn.

Thực tế, ngày càng nhiều người biết cách tận dụng công cụ hiện đại, những nền tảng mảng xã hội để phát tán thông tin giả. Số lượng tin giả đối với doanh nghiệp, kinh doanh cũng tăng lên tỷ lệ thuận với tin giả trong các lĩnh vực khác nói chung. Các cách thức phát tán tin giả với doanh nghiệp phổ biến như, đối thủ cạnh tranh sử dụng tin giả để tấn công phía bên kia, dùng những cách thức để bôi xấu về những sự cố đã từng xảy ra trong quá khứ và khi một sự cố vừa xảy ra thì họ sẽ tìm mọi cách để họ nhân rộng sự lên.

Hay những tin giả hoàn toàn không có thật liên quan đến vấn đề kinh doanh, vấn đề quan hệ cá nhân của những cán bộ cấp cao, vấn đề bằng cấp, đầu tư mờ ám, liên quan đến nguồn tiền bất hợp pháp… có rất nhiều cách thức để làm ảnh hưởng đến một doanh nghiệp, đối thủ. Hoặc cũng có những người không phải cạnh tranh, thích “cuội” cho vui hoặc gây rối loạn, đã tạo ra câu chuyện bịa bạc để gây ảnh hưởng cho công ty dù… chẳng để làm gì.

Ông Lê Quốc Minh cho rằng, rất nhiều doanh nghiệp hiện còn lúng túng khi phải đối phó với tin giả. Nhất là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa không có đội xử lý truyền thông và PR chuyên nghiệp, hoặc không có một đội ngũ để phát hiện ra các nguy cơ và phát hiện các vụ tin giả. Hoặc có doanh nghiệp thì chủ quan, chưa hiểu được tầm quan trọng của mạng xã hội hay truyền thông nói chung và chưa có sự đầu tư đúng mức hoặc tiết kiệm kinh phí.

Theo ông Minh, câu chuyện truyền thông giờ cực kỳ nghiêm trọng. Truyền thông mà không kiểm soát được thì nó có thể khiến cho một doanh nghiệp lên hay xuống là chuyện rất bình thường. Trong khi truyền thông bây giờ lại là truyền thông xã hội, là thứ truyền thông rất khó kiểm soát. Ví dụ một số doanh nghiệp bị “xì” ra một số thông tin thì ngay lập tức chỉ số chứng khoán giảm sút, hay có những tin đồn liên quan đến các nhân vật cao cấp trong doanh nghiệp, như bắt bớ, khởi tố… thì không chỉ tác động đến đơn vị đó mà rất nhiều hoạt động liên quan cũng bị ảnh hưởng.

Cách thức để hạn chế tối đa tin giả

Vậy doanh nghiệp cần ứng xử như thế nào và có các cách thức gì để hạn chế tối đa thông tin giả cũng như khủng hoảng trên mạng xã hội?

Theo ông Minh, trước hết là cách thức chủ động. Doanh nghiệp cần chủ động thông tin về hoạt động sản xuất, kết quả kinh doanh, những đóng góp cho cộng đồng, hoạt động từ thiện… Những thông tin mang tính chất tham khảo này rất quan trọng. Vì khi xảy ra một sự kiện (tin giả xuất hiện) thì người dùng sẽ tìm kiếm thông tin về doanh nghiệp đó và thấy doanh nghiệp có nhiều thông tin tích cực.

Khi người dùng tiếp cận được tin giả thì họ sẽ nghi ngờ, đánh giá thận trọng bởi nghĩ rằng “không thể nào một công ty toàn làm những điều tốt đẹp mà đùng cái lại có một thông tin xấu”, điều đó cũng khiến người tiếp cận tin giả sẽ dừng lại một chút thay vì tin tưởng ngay lập tức và chia sẻ tức thì.

Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều công ty không quan tâm đến việc chủ động xây dựng hình ảnh của công ty theo thời gian dài và đưa kiến thức của người dùng là một đơn vị hoạt động nghiêm chỉnh, nghiêm túc, kinh doanh hiệu quả… Do vậy, khi xảy ra cuộc khủng hoảng người ta tìm lại thông tin về doanh nghiệp chỉ toàn thấy thông tin xấu, còn thông tin tích cực thì không thấy đâu.

Về cách thức bị động, nghĩa là khi bị sai phạm nhất định (từ chính doanh nghiệp) hoặc tin giả xuất hiện thì phải xử lý rất nhanh chóng. Cụ thể doanh nghiệp phải chứng minh, xử lý ngay những người có sai phạm chịu trách nhiệm về sai phạm đấy. Có quy trình xử lý rất minh bạch, phản ứng với công chúng, người tiêu dùng, với truyền thông một cách nhanh chóng. Như lập đội xử lý khủng hoảng, cung cấp thông tin cho báo chí kịp thời, sử dụng kênh truyền thông xã hội, sẵn sàng đối thoại với người chất vấn, tìm nguyên nhân tại sao và chịu trách nhiệm cụ thể.

Theo ông Minh, khi xảy ra khủng hoảng các doanh nghiệp thường rất hoảng hốt, khi đó sẽ dẫn đến tình trạng vội vã đưa ra những phản ứng, không đưa ra được chiến lược phù hợp, nên việc phản bác và xử lý không hiệu quả. Mỗi doanh nghiệp sẽ có cách thức xử lý khác nhau, tuy nhiên, các doanh nghiệp lớn sẽ nhanh tay và xử lý khá quyết liệt về vấn đề tin giả hơn. Dù vậy, cũng có cách thức xử lý hiệu quả, dập tắt ngay được tin giả nhưng cũng có những cách thức xử lý lại còn đổ thêm dầu vào lửa.

Ông Lê Quốc Minh cho rằng, nguyên tắc xử lý khủng hoảng truyền thông, đặc biệt là xu hướng trên mạng xã hội hiện nay, là minh bạch thông tin trong tất cả mọi hoạt động bởi đây là vấn đề vô cùng quan trọng. Đặc biệt minh bạch khi chưa xảy ra khủng hoảng mới quan trọng, còn khi xảy ra một cuộc khủng hoảng rồi mới minh bạch thì sẽ luôn luôn chậm sau một bước.

“Minh bạch hoạt động, minh bạch quản trị, minh bạch trong quan hệ, trong kinh doanh – những yếu tố rất quan trọng trong việc giảm thiểu việc xảy ra tin giả. Đối thủ không có cơ gì nữa để nêu vì mọi yếu tố vấn đề thuế má, đóng bảo hiểm, quy trình sản phẩm, lao động, thưởng phạt nghiêm minh… rất rõ ràng, hay bản thân nội bộ cũng rất rõ ràng minh bạch, không có vấn đề gì che giấu cả”, ông Minh nói và cho rằng, khi công khai hết tất cả những thông tin như vậy thì sẽ giảm phát tán tiếp tục của tin giả.

Mạnh Chung – http://vneconomy.vn