‘Đừng nên phí thời gian học ngoại ngữ’


Học ngôn ngữ bản địa dường như là mục tiêu hiển nhiên đối với bất cứ ai ra nước ngoài. Nhưng trong một thế giới càng ngày càng toàn cầu hóa thì liệu đây có phải là cách sử dụng thời gian hiệu quả hay không? Đây là chủ đề đang ngày càng thu hút nhiều tranh luận sôi nổi.

Tiếng Anh là đủ?

Ngày càng có nhiều công ty đa quốc gia và công ty khởi nghiệp lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ làm việc chính thức, ngay cả khi họ không đặt trụ sở tại một nước nói tiếng Anh. 

Những người dưới 20 tuổi tỏ ra chấp nhận thứ ngôn ngữ toàn cầu này ở mức độ cao hơn nhiều so với các thế hệ trước. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc tiếp xúc với thanh thiếu niên người bản địa bằng tiếng Anh so với trước đây. 

Hội đồng Anh ước tính đến năm 2020 sẽ có hai tỷ người trên thế giới sử dụng tiếng Anh, tức là trên một phần tư dân số thế giới. 

Chưa hết, trong khi người ta vẫn chưa lý giải được vì sao giới trẻ thời nay nhảy việc nhiều hơn các thế hệ trước, thì mô hình làm việc linh hoạt ở một địa điểm khác vẫn là mục tiêu chủ yếu của nhiều người trẻ tuổi. 

Hồi 2017, khảo sát thường niên do Diễn đàn Kinh tế thế giới tài trợ cho thấy 81% những người được vấn ý trong độ tuổi từ 18 đến 35 từ hơn 180 quốc gia nói họ sẵn sàng ra nước ngoài làm việc. Việc ‘có khả năng làm việc và sinh sống ở bất cứ nơi đâu’ là một trong những nhân tố quan trọng nhất khiến họ cảm thấy tự do hơn trong môi trường của mình. 

Tuy nhiên, đối với những người sẵn sàng đến một nước khác nhưng lại không có ý định chắc chắn sẽ ở lại lâu dài thì việc dành những lúc rảnh rỗi chìm đắm trên các ứng dụng hay các lớp học ngoại ngữ có thực sự đem lại ý nghĩa gì nhiều không, nếu họ có thể vẫn dùng tiếng Anh để sống được? 

“Bạn không nhận được thành quả ngay tức thì cho sự đầu tư này,” Sree Kesanakurthi, một nhà tư vấn IT ở Ấn Độ đã từng làm việc ở Dubai, Singapore, Stockholm và Brussels, nói. Anh cảm thấy thoải mái với việc sử dụng ngôn ngữ toàn cầu cả trong công việc lẫn trong giao tiếp xã hội. 

Nhà tư vấn 31 tuổi này cho rằng nếu ai đó chuyển đến một nước khác trong thời gian chưa tới hai năm thì nên tập trung vào việc thăng tiến trong công việc và ‘tìm những người cùng chung suy nghĩ’ để kết bạn, có thể là thông qua các câu lạc bộ người nước ngoài hoặc thông qua các hoạt động thể thao và văn hóa ở địa phương. 

‘Trí tuệ văn hóa’

“Có rất nhiều cộng đồng khiến bạn cảm thấy tự do, không phải là người xa lạ ở một đất nước mà bạn không quen thuộc,” anh nói.

“Bạn có thể tồn tại rất dễ dàng ở nhiều nơi trên thế giới mà không cần phải biết nói ngôn ngữ bản địa,” David Livermore, tác giả của cuốn ‘Leading with Cultural Intelligence: The New Secret to Success’, nhận xét.

“Tôi không nghĩ rằng nói lưu loát ngôn ngữ bản địa là cần thiết nếu thời gian được điều tới làm việc không quá năm năm,” ông nói. “Khả năng thích nghi với các quy ước giao tiếp, giao lưu xã hội có lẽ quan trọng không kém, nếu không nói là hơn thế.”

Nghiên cứu của ông, vốn được thực hiện trọng suốt hơn 10 năm tại 30 quốc gia, phân tích khái niệm ‘trí tuệ văn hóa’ (CQ), mà ông phân ra làm bốn lĩnh vực chính:

– Có động cơ và sự yêu thích để làm việc trong môi trường khác văn hóa.

– Hiểu biết về những điểm tương đồng và khác biệt văn hóa

– Có chiến lược giúp theo dõi, phân tích và điều chỉnh kế hoạch trong những bối cảnh văn hóa xa lạ

– Có khả năng hành động bằng cách chọn sử dụng hành vi bằng lời nói hoặc không bằng lời nói, tùy theo bối cảnh

Mặc dù chấp nhận là ‘ngôn ngữ cũng có tầm quan trọng nào đó’, ông cho rằng ‘năng lực đối phó, điều chỉnh phù hợp và kiên trì bền bỉ mới là năng lực quan trọng nhất trong bốn năng lực trí tuệ văn hóa để thành công khi ra nước ngoài’.

“Bạn có thể nghĩ về nó như là sự thích ứng tình cảm và nhận thức cần thiết để đối phó với việc sống bên ngoài văn hóa quê hương của mình,” ông nói.

Cần phải học văn hóa sở tại?

Nhưng có một số nơi rõ ràng là khó thích nghi hơn so với những nơi khác: chẳng hạn như những quốc gia mà quy ước văn hóa và xã hội khác xa so với quê nhà và nơi mà tiếng Anh không được người dân sử dụng rộng rãi.

“Có những khác biệt rất lớn trên toàn cầu,” Eero Vaara, giáo sư về tổ chức và quản lý ở Trường Kinh doanh, Đại học Aalto, Phần Lan với trọng tâm nghiên cứu về các tập đoàn đa quốc gia, nói.

Nhật Bản là một đất nước thu hút người ngoại quốc mà ông chỉ ra là nơi những trí thức trẻ tuổi có thể bị sốc văn hóa mạnh mẽ do quy tắc ứng xử xác định ở cả môi trường làm việc lẫn bối cảnh thân mật. 

Trong những thứ gây bối rối cho người nước ngoài có những quy tắc ứng xử như cúi đầu, giữ thể diện và tránh xung đột, lịch sự và đúng giờ đến mức cực đoan, tôn trọng sự im lặng và làm việc nhiều giờ.

“Nếu bạn thiếu sự nhạy cảm văn hóa và bắt đầu cố gắng hợp tác hay đem đến điều gì đó mới mẻ thì sẽ không có tác dụng gì đâu… rõ ràng hết sức cần thiết để đầu tư vào học hỏi văn hóa,” ông giải thích trong khi nhấn mạnh rằng người ngoại quốc phải ý thức rằng không phải tất cả người bản địa đều tuân theo những khuôn mẫu ứng xử quốc gia.

Chụp lại hình ảnh, Ryu Miyamoto, 53 tuổi đang sống ở Takarazuka, ngoại vi Osaka, đã lấy một cái tên đặc Nhật

Ryu Miyamoto, 53 tuổi đang sống ở Takarazuka, ngoại vi Osaka, đến từ Mỹ nhưng lấy một cái tên đặc Nhật từ khi mới chuyển đến sống ở đó.

Ông cho biết ông đã chứng kiến nhiều người ngoại quốc phải vất vả thích ứng với các quy ước văn hóa ở Nhật Bản và phải về nước thường xuyên vào những kỳ nghỉ hay về luôn ngay khi nhiệm kỳ công tác kết thúc.

Tuy nhiên, ông cho rằng mình trở nên ‘lưu loát về mặt văn hóa’ và ‘có chút Nhật hóa’ chỉ trong vòng khoảng ba năm.

“Nếu mọi người không khiến tôi nhớ đến mỗi ngày qua cách cư xử của họ đối với tôi thì tôi không nhận ra là mình không phải người Nhật,” ông nói.

“Người Nhật vẫn xem người ngoại quốc, hay ‘gaijin’ theo cách gọi của họ, là người ngoài… Nhưng những người gần gũi với tôi, họ không xem tôi là ‘gaijin’… Tôi nghĩ tôi là một trường hợp hơi đặc biệt.”

Mặc dù có biết chút ít tiếng Nhật trước khi đến và giờ đã nói được lưu loát, ông cho rằng học hỏi những quy tắc văn hóa, đắm chìm vào các kênh truyền hình Nhật Bản và thậm chí tự học cách nấu món ăn Nhật Bản cũng quan trọng đối với việc thích nghi như học ngôn ngữ.

Trên quan điểm kinh doanh, Miyamoto lập luận rằng lấy một cái tên Nhật cũng giúp ông dễ dàng xây dựng quan hệ khi ông lập công ty giáo dục của riêng mình.

“Nếu tôi gọi điện cho ai đó và nói tên tiếng Mỹ của tôi họ sẽ không hiểu, họ sẽ giống như là ‘anh nói chữ đó như thế nào? Hoặc là họ sẽ nói ‘không’. Nhưng nếu tôi nói rằng ‘đây là Miyamoto’ thì họ sẽ nó là ‘À, được rồi, tốt’.

‘Không thích nói tiếng Anh’

Một điều có thể người ngoại quốc không nhận ra là sự trải nghiệm khi cố gắng đạt được sự lưu loát văn hóa ở những quốc gia mà, nhìn bề ngoài, có vẻ như không đòi hỏi mấy việc họ phải có điều chỉnh cá nhân.

Chẳng hạn như Hà Lan và các nước Nordic cạnh tranh nhau để giành vị trí hàng đầu trong bảng xếp hạng Chỉ số Thông thạo Tiếng Anh toàn cầu hàng năm, thế nhưng lại không có danh tiếng quốc tế gì mấy trong việc có sự khác biệt đáng kể so với các khu vực khác ở Bắc Âu (thay vào đó, họ thường được tôn vinh là những nước đi đầu trong hiệu quả và sáng tạo). 

Điều này cho thấy những người ngoại quốc nói tiếng Anh – nhất là những người đến từ những nơi khác trong thế giới phương Tây – sẽ ít có nhu cầu phải học ngôn ngữ bản địa hay đối mặt với những quy ước ứng xử bất ngờ hơn.

Tuy nhiên theo Caroline Werner, giám đốc điều hành của ‘Settle into Stockholm’, một công ty khởi nghiệp cung cấp các khóa học ngôn ngữ và văn hóa được dành cho những trí thức trẻ chuyển đến sống và làm việc ở thủ đô Thụy Điển, thì ‘rất nhiều người phạm lỗi là không thật sự cảm nhận những quy ước văn hóa’ ở bán đảo Scandinavia.

Các bài học của bà bao gồm tất cả mọi thứ từ những chủ đề nên tránh đụng đến trong những bữa ăn trưa hay những bữa tiệc tối (nhìn chung nói về tôn giáo, chính trị hay bạn kiếm được bao nhiêu tiền là những chủ đề cấm kỵ ở Thụy Điển) cho đến giải mã làm sao để kết bạn và hẹn hò ở một quốc gia vốn né tránh nói chuyện phiếm và nơi mà hơn phân nửa dân số sống một mình.

Trong khi đó, bà cũng là người cổ súy mạnh mẽ cho việc người ngoại quốc ít nhất nên học một chút ngôn ngữ bản địa ở quốc gia mà họ đến ngay cả khi không có khả năng họ sử dụng ngôn ngữ đó lại nếu họ chuyển đến nơi khác.

“Tôi cảm thấy đó là một cơ hội, chứ không phải lãng phí thời gian, để bạn thật sự biết được mọi người bằng một cách mà bạn không có được nếu bạn không bao giờ học ngoại ngữ,” bà nói.

“Rất nhiều người Thụy Điển nói tiếng Anh tốt khi để thể hiện sự lịch sự,” bà cho biết. “Nhưng nếu họ muốn thoải mái thật sự, thì họ chẳng hề 100% thoải mái khi nói tiếng Anh.”

Dễ đi vào cơ cấu quyền lực

Nghiên cứu về ngôn ngữ của Eero Vaara tại các tập đoàn đa quốc gia càng chứng minh cho nhận định rằng bỏ thời gian để học những kiến thức thiết yếu của ngôn ngữ sở tại là hoàn toàn đáng để làm đối với người ngoại quốc, thậm chí đối với những người sống ở những nước có trình độ tiếng Anh lưu loát cao. 

Theo nghiên cứu này thì việc học ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc hội nhập vào cơ cấu quyền lực sở tại nếu bạn muốn định cư ở nước ngoài hay ra nước ngoài làm việc trong tương lai.

“Có những hội kín hay là những phần của tổ chức, không phải là tổ chức chính thức mà là dạng mạng lưới, và có những cuộc nói chuyện không chính thức rất khó tiếp cận,” ông giải thích và lưu ý rằng khả năng ngoại ngữ sẽ đóng vai trò then chốt trong việc kết nối với nhóm hội kín này cả về nghề nghiệp lẫn ở mức độ cá nhân.

Ví dụ, nếu bạn là người Anh nhưng muốn leo lên những thang bậc của ‘một tổ chức Nga đã có mặt hàng trăm năm nay’ thì việc học tiếng Nga nhiều khả năng sẽ tạo thêm giá trị về lâu dài. 

Tuy nhiên, ‘nếu bạn là người Anh làm việc cho chi nhánh của một công ty Anh ở Nga, theo Vaara, thì mặc dù vẫn rất có ích nhưng việc biết tiếng Na lưu loát có lẽ không mấy tác dụng.

Nhưng để phân biệt rạch ròi khi nói đến việc lưu loát cả ngôn ngữ lẫn văn hóa vẫn là một vấn đề phức tạp đối với nhiều người sống và làm việc ở nước ngoài.

Chụp lại hình ảnh, Sima Mahdjoub, 30 tuổi, vốn là người Pháp nhưng đã sống ở chín nước

Sima Mahdjoub, 30 tuổi, vốn là người Pháp nhưng đã sống ở chín nước bao gồm Anh, Úc và Tây Ban Nha, mới đây đã quyết định định cư ở Thuỵ Điển một thời gian, phần lớn là do lối sống ngoài trời ở nước này. 

Cô đã trở nên thông thạo tiếng Thụy Điển và cố gắng để hiểu những quy ước làm việc bản địa (“ở Pháp bạn có thể đạt được thỏa thuận chỉ trong một cuộc họp. Nhưng điều này là không thể ở Thụy Điển”), nhưng cô nói rằng cô chưa bao giờ nghĩ mình là người Thụy Điển, hay trở nên thông thạo hoàn toàn nền văn hóa của nước sở tại.

“Ở các nước Nam Âu nhìn chung chúng tôi có xu hướng ăn nói rất mạnh mẽ, rất thể hiện mình trong cả những tình cảm tích cực lẫn tiêu cực,” cô giải thích và cho rằng cô không muốn mất đi những ‘bản năng tự nhiên’ này vốn hiếm gặp ở các quốc gia vùng Scandinavia.

“Điều đó cũng có thể bởi vì tôi đã nhìn thấy người khác làm chủ được, nhưng đối tôi tôi là người quá trực tiếp và tôi quá bị ảnh hưởng bởi nhiều nền văn hóa nên không muốn trở thành như vậy.”

Trong khi đó, Sree Kesanakurthi hiện là một chuyên gia tư vấn IT ở Brussels cho biết anh đang học tiếng Pháp bởi anh muốn bám rễ chặt hơn ở các quốc gia vùng Benelux so với các nơi khác mà anh từng sống qua. 

Tuy nhiên anh cũng chẳng suy nghĩ nhiều nếu như anh không bao giờ có được sự lưu loát ngôn ngữ và văn hóa hoàn toàn.

“Ngôn ngữ bản địa thì quan trọng khi cần mua nhà cửa, xử lý giấy tờ hay các thứ như thuế má, kế toán,” anh nói.

“Tuy nhiên, tôi không lo lắm về việc tôi hội nhập như thế nào. Miễn là tôi có bạn bè tốt xung quanh thì tôi sẽ ổn. Suy cho cùng nếu tôi sinh ra ở nước ngoài… thì dù sao đi nữa mọi người đối với tôi cũng có sự khác biệt.”

Nguồn: BBC tiếng Việt / tác giả: Maddy Savage / Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Capital.

Thành ngữ tiếng anh ( 100 câu thông dụng)


  1. “A civil denial is better than a rude grant” – Mất lòng trước, được lòng sau.
  2. “A clean fast is better than a dirty breakfast.” – Đói cho sạch, rách cho thơm.
  3. “A clean hand wants no washing.” – Vàng thật không sợ lửa.
  4. “A danger foreseen is haft avoided” – Cẩn tắc vô ưu.
  5. “A friend in need is a friend indeed” – Hoạn nạn mới biết bạn hiền.
  6. “A good deed is never lost.” – Làm ơn không bao giờ thiệt.
  7. “A good face is a letter of recommendation” – Nhân hiền tại mạo
  8. “A good name is better than riches.” – Tốt danh còn hơn lành áo.
  9. “A good wife makes a good husband” – Vợ khôn ngoan làm quan cho chồng.
  10. “A house divided against itself cannot stand”. – Bẻ đũa không bẻ được cả nắm.
  11. “A man is known by the company he keeps.” – Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.”
  12. “A miss is as good as a mile.” – Sai một ly, đi một dặm.
  13. “A sound mind in a sound body.” – Một tinh thần minh mẫn trong một thân thể khoẻ mạnh.
  14. “A tale never loses in the telling” – Tam sao thất bản.
  15. “A word is enough to the wise.” – Người khôn nói ít hiểu nhiều.
  16. “Absence makes the heart grow fonder” – Sự xa vắng làm tăng thêm tình yêu.
  17. “Actions speak louder than words” – Hay làm hơn hay nói.
  18. “After rain comes fair weather” – Sau cơn mưa trời lại sáng.
  19. “All bread is not baked in one oven.” – Không nên vơ đũa cả nắm.
  20. “All roads lead to Rome.” – Đường nào cũng về La Mã.
  21. “All that live must die.” – “Sinh giả tất tử.”
  22. “All truth is not always to be told.” – “Sự thật cũng có lúc không nên nói.”
  23. “An eye for an eye and a tooth for a tooth.” – “Ân đền, oán trả.”
  24. “Anything may happen.” – “Không ai đoán trước được chữ ngờ.”
  25. “Barking dogs seldom bite.” – “Chó sủa là chó không cắn”.
  26. “Beauty is only skin deep.” – Cái nết đánh chết cái đẹp.”
  27. “Better die standing than live kneeling.” – Thà chết vinh còn hơn sống nhục.
  28. “Better late than never.” – “Chậm trễ còn hơn không.”
  29. “Carry coals to Newcastle.” – Chở củi về rừng.
  30. “Cut your coat according to your cloth.” – “Liệu cơm gắp mắm.”
  31. “Diamond cut diamond.” – “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn.”
  32. “Doing nothing is doing ill.” – “Nhàn cư vi bất thiện.”
  33. “Do not play with edged tools.” – “Chơi dao có ngày đứt tay.”
  34. “Each day brings its own bread.” – “Trời sinh voi, trời sinh cỏ.”
  35. “East or west, home is best.” – “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.”
  36. “Even a worm will turn.” – “Con giun xéo lắm cũng quằn.”
  37. “Every is not Sunday.” – “Sông có khúc, người có lúc.”
  38. “Every dog is a lion at home.” – “Rừng nào, cọp nấy.”
  39. “Every fault needs pardon.” – “Mỗi lỗi lầm cần sự tha thứ.”
  40. “Every man has his faults.” – Nhân vô thập toàn.”
  41. “Everybody’s business is nobody’s business.” – Lắm sãi không ai đóng cửa chùa.”
  42. “Experience is the best teacher.” – “Trăm hay không bằng tay quen.”
  43. “Family affairs should be kept private.”
  44. “Far from eye, far from heart.” – “Xa mặt cách long.”
  45. “Fasting come after feasting.” – “Lên voi, xuống chó.”
  46. “Fine clothes do not make the gentleman.” – “Tấm áo không làm nên thầy tu.”
  47. “First impression are most lasting.” – “Ấn tượng ban đầu khó quên.”
  48. “First think, then speak.” – “Đánh lưỡi bảy lần trước khi nói.”
  49. “From bad to worse.” – “Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa.”
  50. “Good vine needs no bush.” – “Hữu xạ tự nhiên hương.”
  51. “Good words are worth much and cost little.” – Lời nói chẳng mất tiền mua.”
  52. “Grasp all, lose all.” – “Tham thì thâm.”
  53. “Great minds think alike.” – “Những tư tưởng lớn gặp nhau.”
  54. “He carries fire in one and water in the other.” – “Vừa ăn cướp vừa la làng.”
  55. “He laughs best who laughs last.” – “Cười người chớ vội cười lâu, cười người hôm trước hôm sau người cười.”
  56. “He that commits a fault thinks everyone speaks of it.” – “Có tật giật mình.”
  57. “Health is not valued till sickness comes.” – “Có đau yếu mới biết quý sức khoẻ.”
  58. “In the country of the blind, one-eyed man is a king.” – “Trong xứ mùa, kẻ chột làm vua.”
  59. “It is an ill bird that fouls its own nest.” – “Đừng vạch áo cho người xem lưng.”
  60. “It is easier to get money than to keep it.” – “Có không khó, giữ mới khó.”
  61. “It is never too late to mend.” – “Biết sữa lỗi thì không bao giờ muộn.”
  62. “It is the first step that costs.” – “Vạn sự khởi đầu nan.”
  63. “Judge a man by his work.” – “Xem việc biết người.”
  64. “Keep your mouth shut and your eyes open.” – Chúng ta hãy biết lắng nghe nhiều hơn là nói.”
  65. “Knowledge is power.” – “Tri thức là sức mạnh.”
  66. “Let bygones be bygones.” – “Hãy để quá khứ qua đi.”
  67. “Lies have short legs.” – “Đường đi hay tối, nói dối hay cùng.”
  68. “Like teacher, like pupil.” – “Thầy nào, trò nấy.”
  69. “Live not to eat, but eat to live.” – “Ăn để sống, chứ không phải là sống để ăn.”
  70. “Lost time is never found again.” – “Thời gian qua đi không bao giờ trở lại.”
  71. “Love cannot be forced.” – “Ép dầu, ép mỡ, ai nỡ ép duyên.”
  72. “Love me, love my dog.” – “Yêu nhau yêu cả đường đi.”
  73. “Man proposes, God disposes.” – Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên.”
  74. “Many a good cow has a bad calf.” – “Cha mẹ sinh con, trời sinh tánh.”
  75. “Many men, many minds.” – “Chín người, mười ý.”
  76. “Men may meet but mountains never.” – “Quả đất tròn.”
  77. “Misfortune has it uses.” – “Trong cái rủi có cái may.”
  78. “Misfortunes never come alone.” – “Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí.”
  79. “More haste, less speed.” – “Dục tốc bất đạt.”
  80. “My house is my castle.” – “Đèn nhà ai nấy sáng.”
  81. “Never quit certainly for hope.” – “Thả mồi bắt bóng.”
  82. “Never say: “die up, man try.” – “Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo.”
  83. “Never do things by halves.” – “Ắn đến nơi, làm đến chốn.”
  84. “Never write what you dare not sign.” – “Bút sa, gà chết.”
  85. “No flying from fate.” – “Chạy trời không khỏi nắng.”
  86. “No wisdom like silence.” – “Im lặng là vàng.”
  87. “Nothing venture, nothing have.” – “Liều ăn nhiều.”
  88. “Once a thief, always a thief.” – “Ăn cắp quen tay, ngủ ngày quen mắt.”
  89. “One good turn deserves another.” – “Ở hiền gặp lành.”
  90. “One swallow does not make a summer.” – “Một cánh én không làm nên mùa xuân.”
  91. “Out of sign, out of mind.” – “Xa mặt, cách lòng.”
  92. “Poverty is no crime.” – “Nghèo không phải là cái tội.”
  93. “Practice makes perfect.” – “Nghề dạy nghề.”
  94. “Pride goes before a fall.” – “Trèo cao, té đau.”
  95. “Prevention is better than cure.” – “Phòng bệnh hơn chữa bệnh.
  96. “Promise is debt.” – “Lời hứa là lời danh dự.”
  97. “Rely only on yourself is an old proverb.” – “Tự lực cánh sinh.”
  98. “Scratch my back, and I’ll scratch yours.” – “Có qua có lại.”
  99. “Seeing is believing.” – “Trăm nghe không bằng một thấy.”
  100. “Spare the rod and spoil the child.” – “Yêu cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi.”

Tham khảo tại vndoc.com