Bỏ việc sau đại dịch – Người lao động đã đi đâu ?


NDTBD tổng hợp bài viết về việc bỏ việc sau đại dịch

Cuộc “bỏ việc toàn cầu”: Covid chỉ là xúc tác!

Nguyên nhân cho cuộc bỏ việc toàn cầu này có thể sâu xa hơn những hiện tượng bề mặt về điều kiện việc làm, tiền lương, và đại dịch COVID-19 chỉ là chất xúc tác để quá trình này diễn ra nhanh hơn, đột ngột hơn.

 Ảnh: The Week

Đầu tiên là cách định giá các khâu trong chuỗi lao động. Ngày xưa đã thấy nhiều phi lý như lương của các “lao động thiết yếu” thấp hơn nhiều lần so với lao động của loại công việc “đặt ra cho có”. 

Đây là cách dịch lịch sự cho khái niệm “bullshit jobs” của David Graeber, người cho rằng đến một nửa công việc hiện nay là tào lao, vô nghĩa như luật sư doanh nghiệp, các chuyên gia quan hệ công chúng, quản lý cấp trung, tiếp thị từ xa…

Dù đồng ý hay không với lập luận của ông này, phải thừa nhận thu nhập của những người đang làm các loại “bullshit jobs” cao gấp nhiều lần thu nhập của những người mà nhờ COVID-19 người ta mới nhận ra họ là “lao động thiết yếu”. Cứ nhìn một người bán hàng trong siêu thị, một công nhân lắp ráp máy móc, một điều dưỡng trong phòng hồi sức phải làm việc luôn tay suốt ngày chúng ta sẽ thấy đồng lương họ nhận được không tương xứng với sức lực họ bỏ ra.

Đó là ngày trước. Nay với các đột phá công nghệ, sự phi lý trong thu nhập như thế càng kinh khủng hơn, càng vô lý hơn. Thử tưởng tượng cảnh một nhân viên kho hàng Amazon hằng ngày phải đi lại hàng chục cây số, lương 15 đôla/giờ tối lại về đọc tin lại một startup nữa vừa gọi vốn thành công, nâng trị giá công ty lên 100 tỉ đôla, còn người sáng lập nay giàu thêm 10 tỉ đôla nữa! 

Các startup thành công như thế thì ít nhưng tiền dư thừa rót vào cho họ là có thật và báo chí tung hô thêm nữa nên cái tâm lý muốn làm giàu nhanh chóng, muốn trở thành triệu phú qua đêm lan rộng hơn bao giờ hết.

Dĩ nhiên, “công nhân thiết yếu” làm sao tham gia startup nhưng công nghệ (lại là công nghệ) bày ra cho họ nhiều con đường làm giàu khác, từ mua bán chứng khoán qua ứng dụng online đến làm các kênh YouTube, từ mua bán tiền ảo đến đầu tư vào các loại tài sản ảo, từ bán hàng đa cấp đến bán hàng qua mạng… 

Dù thật hay ảo, nhiều người sẵn lòng từ bỏ công việc cực nhọc, nhàm chán, lương còm cõi hằng ngày của họ để theo đuổi giấc mơ đổi đời nhanh chóng.

Nói cách khác, trước đây cách định giá các khâu trong chuỗi lao động buộc công nhân làm đôi giày Nike, may bộ đồ Hugo Boss chỉ nhận về 1 đôla; người làm tiếp thị, lo chuyện quảng cáo hưởng 10 đôla thì nay chênh lệch đó càng lớn gấp nhiều lần trong nền kinh tế số. Tài sản của Mark Zuckerberg lên đến 116 tỉ đôla còn nhân viên kiểm duyệt nội dung để tránh tai tiếng cho Mark, cho Facebook lương cũng chỉ 15 đôla/giờ.

Nguyên nhân thứ hai đằng sau hiện tượng công nhân bỏ việc là đại dịch buộc nhiều người xác định lại các ưu tiên của cuộc sống. Với nguyên nhân đầu, chúng ta chưa thấy tác động rõ nét lên người lao động ở Việt Nam tuy cũng có bán hàng đa cấp, cũng có mua bán tiền ảo nhưng với nguyên nhân thứ hai này, rõ ràng 4 tháng buộc phải ở yên trong nhà trọ chật hẹp, đông đúc, người lao động nhập cư ắt phải so sánh cuộc sống làm việc liên tục tăng ca vất vả nhưng lương chỉ đủ sống trong môi trường bí bách, tù túng so với không gian thoáng đãng ở quê nhà. 

Họ phải so sánh chi phí giữ trẻ cao, tiền thuê nhà ngốn thêm một mớ và đủ loại chi phí không tên, kể cả Internet để duy trì liên lạc với gia đình và tìm chút giải trí qua mạng sau những giờ quần quật. Họ thà về quê cơm rau với cha mẹ còn hơn tiếp tục cuộc sống đầy rủi ro ở thành thị.

Có lẽ những cái chết vì COVID-19 họ từng chứng kiến quanh họ buộc họ phải bằng mọi cách về với gia đình để phục hồi về mặt tâm lý. Như thế tiền bạc không có nhiều ý nghĩa nên dù có được trợ cấp, dù có khả năng sẽ sớm đi làm hưởng lương trở lại cũng không thể ngăn họ tìm đường về quê.

Trong bối cảnh đó chủ doanh nghiệp đã làm được gì để hỗ trợ công nhân? Hầu như không có gì cả. Thử tưởng tượng cảnh “3 tại chỗ” với cá nhân từng người trong chúng ta: làm sao có thể yên tâm lắp ráp máy móc, khâu giày, may quần áo khi phải nằm bó gối trong căn lều bé tí, điều kiện vệ sinh tối thiểu cũng không đủ, ăn uống theo bữa cơm công nghiệp và cứ hết căn lều đến chạy máy… ai mà chịu đựng được trong thời gian dài. Làm sao họ không so sánh với những người lương cao gấp bội nhưng được “làm từ nhà”, không bị phơi nhiễm rủi ro mắc bệnh.

***

Nhìn ra thế giới thấy hầu như các nhà kinh tế không thể đưa ra bất kỳ giải pháp nào khả thi cho vấn nạn “The Great Resignation” này. Thậm chí có ông đòi chính phủ các nước cắt giảm trợ cấp nhanh nhanh lên để buộc công nhân phải đi làm. Có ông tìm giải pháp ở tự động hóa sản xuất bằng robot và có ông dọa đầu tư nước ngoài sẽ chảy đi nơi khác!

Có chăng là một cuộc “cách mạng” thay đổi cách định giá các khâu lao động để các ông chủ hãng xe công nghệ như Uber không thể trở thành tỉ phú sau vài ba năm, còn tài xế của họ vẫn chật vật trả tiền lãi ngân hàng vay để mua xe chưa xong. 

Ở đây không những có sự phi lý trong chênh lệch thu nhập mà còn một phi lý cực kỳ lớn hơn: giá trị lao động ngày càng bị teo tóp trong khi giá trị của đồng vốn tài chính ngày càng phình to; người giàu dựa vào tài sản sẵn có sẽ ngày càng giàu thêm trong khi thu nhập của “công nhân thiết yếu” đã nhiều năm không đổi.

Chiếu theo lập luận của tác giả khái niệm “bullshit jobs” thế giới này chỉ cần một lượng lao động thật sự nhỏ hơn thực tế nhiều lần để duy trì cuộc sống, kể cả lương thực, thực phẩm, dịch vụ, hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Nay làm sao để hủy bỏ các loại công việc “làm cho có”, rồi nhà nước tiến hành các chương trình “thu nhập cơ bản phổ quát” (Universal Basic Income) từng bàn mấy năm nay. 

Đây là chuyện khó ở mức “đội đá vá trời” vì chỉ một sắc thuế toàn cầu đánh lên các doanh nghiệp đa quốc gia để ngăn họ chuyển giá mà bàn tới bàn lui vẫn chưa kết thúc, thử hỏi đến bao giờ mới đánh thuế được lên tài sản (wealth) chứ không phải lên thu nhập (income) để xóa bớt hố sâu giàu nghèo hiện nay?

—-

Cuộc bỏ việc quy mô lớn: Kết thúc để khởi đầu

Từ mùa xuân 2021, giới kinh tế đã bắt đầu nhận thấy một hiện tượng lạ – người lao động ở Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới lũ lượt tự nguyện nghỉ việc – và gọi đó là “cuộc bỏ việc quy mô lớn” (The Great Resignation).

 Ảnh: Hiệp hội Quản trị nhân sự Hoa Kỳ

Theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ do The New York Times dẫn lại, gần 4,3 triệu lao động Mỹ đã tự nguyện nghỉ việc trong tháng 8 năm nay, tăng 300.000 người so với tháng 7 và cũng là con số cao kỷ lục trong hai thập niên kể từ khi chính phủ nước này bắt đầu triển khai thống kê. Lũy kế từ tháng 4 đến đầu tháng 9, số lao động nghỉ việc ở Mỹ đã vượt 15 triệu người, theo một báo cáo hồi đầu tháng 9 của Hãng tư vấn McKinsey.

40% trong số 4.929 lao động được McKinsey khảo sát ở Úc, Canada, Singapore, Vương quốc Anh và Mỹ cho biết họ có khả năng sẽ bỏ việc trong vòng 3 đến 6 tháng tới; 18% cho biết ý định nghỉ việc của họ dao động từ “có khả năng” đến “gần như chắc chắn”. Một khảo sát trên 30.000 lao động tuổi từ 18-25 thuộc 31 quốc gia của Microsoft hồi tháng 6 cho thấy 41% đang cân nhắc nghỉ việc trong năm nay.

Ai tạo sóng?

Theo Bộ Lao động Mỹ, trong số lao động nghỉ việc có những người đã tìm được việc mới trước khi nghỉ, có người chưa có chỗ mới nhưng tự tin mình sẽ tìm được việc, và cả những người lựa chọn hoàn toàn rời bỏ thị trường lao động dù chưa đến tuổi hưu. Nhóm đối tượng thứ 2 – nghỉ ngang dù chưa tìm việc mới – chiếm 36% trong khảo sát của McKinsey.

Thống kê của Bộ Lao động Mỹ và số liệu của McKinsey đều cho thấy các doanh nghiệp trong ngành giải trí và khách sạn có nguy cơ mất nhân viên cao nhất. Cụ thể, gần 7% lao động trong ngành lưu trú và ăn uống đã bỏ việc trong tháng 8, tức “cứ 14 nhân viên khách sạn, nhà hàng, quán bar thì có 1 người nói lời tạm biệt chỉ trong 1 tháng” – cây bút Derek Thompson viết trên tạp chí The Atlantic.

Bên cạnh đó, nhiều nhân viên trong lĩnh vực y tế và nhân viên cổ cồn trắng tham gia khảo sát của McKinsey cũng cho biết họ có kế hoạch nghỉ việc trong tương lai gần. Thậm chí 1/3 nhân viên trong ngành giáo dục – những người được cho là ít có xu hướng nghỉ việc nhất – khi được hỏi cũng trả lời rằng “hơi có khả năng” họ sẽ bỏ việc. Tỉ lệ tương ứng đối với nhân viên các ngành sản xuất hàng hóa và thương mại – vận tải – tiện ích là 43% và 38%.

Khảo sát của McKinsey cũng tìm ra nhiều nguyên nhân khiến người lao động lựa chọn nghỉ việc. Đáng lưu ý, “được công ty công nhận”, “được quản lý xem trọng” và “có cảm giác gắn kết với công ty” là 3 yếu tố mà người lao động cho là quan trọng nhất và có tác động lớn đến quyết định nghỉ việc của họ, nhưng lại bị người sử dụng lao động đánh giá thấp.

Vì sao người lao động muốn đổi việc trong năm 2021. Dữ liệu tính đến tháng 2-2021. -Nguồn: Hiệp hội Quản trị nhân sự Hoa Kỳ

Người trẻ hăng hái ra đi

Mark Hamrick, nhà phân tích kinh tế cấp cao của công ty dịch vụ tài chính tiêu dùng Mỹ Bankrate, cho rằng người trẻ, cụ thể là thế hệ Z (18-24 tuổi) và kế đó là thế hệ thiên niên kỷ (25-40 tuổi) đang dẫn đầu trong cuộc nghỉ việc quy mô lớn, bởi họ khao khát thay đổi và không có nhiều vướng bận với chỗ làm cũ.

Khảo sát trên 2.452 người tìm việc của Bankrate hồi tháng 8 cho thấy 77% người được hỏi thuộc thế hệ Z và 63% thế hệ thiên niên kỷ có dự định sẽ nghỉ việc; trong khi đó tỉ lệ này ở thế hệ “bùng nổ trẻ em” (57-75 tuổi) chỉ là 33%.

“Thế hệ Z và thế hệ thiên niên kỷ là những thành viên dễ chuyển chỗ nhất trong lực lượng lao động vì nhiều lý do. Họ không kiếm được nhiều tiền như những người đồng nghiệp lớn tuổi hơn, cấp cao hơn, nên họ mong muốn tìm được công việc được trả lương cao hơn và họ có xu hướng hiểu biết về công nghệ hơn, vì vậy họ có lợi thế tốt hơn để tận dụng cơ hội làm việc từ xa” – Hamrick nói với CNBC.

Thompson cũng cho rằng “các gói hỗ trợ liên quan đến đại dịch, chính sách hoãn tiền thuê nhà và xóa nợ học đại học đã giúp mọi người, nhất là người trẻ và thu nhập thấp, có thể tự do rời công việc họ ghét để tìm một cái gì đó mới mẻ”.

Gió đổi chiều

Theo báo cáo của Bộ Lao động Mỹ, số lượng vị trí cần tuyển dụng trong tháng 8 vào khoảng 10,4 triệu, đã giảm so với mức kỷ lục 11,1 triệu vào tháng 7. Đặt con số này cạnh 4,3 triệu lao động nghỉ việc trong cùng tháng, The New York Times nhận định đây là bằng chứng mới nhất cho thấy cán cân quyền lực trên thị trường việc làm đang nghiêng về phía người lao động chứ không phải bên sử dụng lao động.

Tương tự, tạp chí Time cũng nhận xét “một điều lớn lao” đang diễn ra trong thị trường lao động ở Mỹ: người lao động đang chiếm ưu thế so với các doanh nghiệp, vốn đang vật lộn để khôi phục kinh tế sau gần 2 năm lao đao vì đại dịch. “Từ các văn phòng cao cấp đến nhà máy, người lao động đang đòi lương cao hơn, giờ làm việc linh hoạt hơn, phúc lợi và đãi ngộ tốt hơn” – Time viết. Và họ đang nắm đằng chuôi, bởi nếu giới chủ không thể hoặc không đồng ý đáp ứng các yêu cầu trên, “nhiều người sẽ đình công, nghỉ việc hoặc tìm chỗ khác tốt hơn”.

Thompson, cây bút chuyên về kinh tế của The Atlantic, cũng nhìn nhận từ “great” trong “the great resignation” theo nghĩa “tuyệt vời” đối với người lao động, thay vì (quy mô) lớn. “Ngày càng nhiều người nghỉ việc để có một khởi đầu mới. Họ ra đi vì tin rằng họ có thể làm tốt hơn, được đối đãi tốt hơn. Cuộc bỏ việc quy mô lớn đang tăng tốc và nó đã tạo ra một thời điểm quan trọng trong lịch sử kinh tế Hoa Kỳ” – Thompson viết.

Cũng với góc nhìn đó, Ryan Rolansky – giám đốc điều hành mạng xã hội việc làm LinkedIn – cho rằng những gì đang diễn ra nên được gọi là “cuộc đại cải tổ” (The Great Reshuffle), tức người lao động thay đổi chỗ làm hàng loạt, kèm theo đó là thay đổi tư duy của cả nhân viên và doanh nghiệp.

“Ngay lúc này, tất cả các công ty, giám đốc điều hành đang suy nghĩ lại về cách thức hoạt động và văn hóa doanh nghiệp (…). Mặt khác, các nhân viên trên toàn cầu đang suy nghĩ lại về cách họ làm việc, tại sao họ làm việc và điều họ muốn làm nhất với sự nghiệp và cuộc sống của họ” – Rolansky nói với Time.

Cụ thể, nhiều công ty bắt đầu nhận ra lương cao không còn là liều thuốc hữu hiệu giúp khích lệ tinh thần làm việc và sự gắn bó của người lao động. Thay vào đó, họ bắt đầu chú trọng vào quyền tự chủ của nhân viên nhiều hơn, công nhận họ nhiều hơn, sắp xếp giờ làm việc linh hoạt hơn và ngày nghỉ hợp lý hơn, cũng như thực hiện bất cứ điều gì làm cho cuộc sống làm việc thú vị hơn.

Chính LinkedIn và các công ty công nghệ như Bumble và đã đóng cửa một tuần trong năm nay để nhân viên nghỉ ngơi và chống lại tình trạng kiệt sức. Công ty dịch vụ tài chính Fidelity Investments đang thử nghiệm cho phép một số nhân viên làm việc 30 giờ một tuần, chịu giảm lương một chút nhưng vẫn giữ đầy đủ phúc lợi của họ. Công ty Highwire Public Relations, có văn phòng tại một số thành phố lớn của Mỹ, đang cố bỏ 30% các cuộc họp để nhân viên khỏi phải tốn nhiều thời gian tương tác qua ứng dụng Zoom, và lý tưởng nhất là giúp ngày làm việc ngắn hơn và hiệu quả hơn. Tương tự, các nhà tuyển dụng khác đã triển khai nhiều chương trình thúc đẩy sự đồng cảm, với hy vọng làm cho nhân viên cảm thấy họ được đánh giá cao và xem trọng.

Làn sóng lan ra toàn cầu 

Theo Washington Post ngày 18-10, “cuộc nghỉ việc quy mô lớn” ở Mỹ đã dần trở thành hiện tượng toàn cầu, và nguyên nhân chính có vẻ là chuyện tiền lương.

Theo số liệu do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) do Politico Europe dẫn lại, lực lượng lao động tại 38 nước thành viên của tổ chức này đã giảm đi khoảng 20 triệu người so với trước khi đại dịch COVID-19 xuất hiện. Trong số đó, 14 triệu người đã rời bỏ thị trường lao động và hiện không đi làm hay tìm kiếm bất cứ cơ hội việc làm nào. Con số này cao hơn 3 triệu so với năm 2019.

Một khảo sát được công bố vào tháng 8 cho thấy 1/3 các công ty ở Đức gặp phải tình trạng khan hiếm nhân viên lành nghề. Cùng tháng đó, Detlef Scheele – cục trưởng Cục Việc làm Liên bang Đức – nói với tờ Süddeutsche Zeitung rằng nước này sẽ cần nhập khẩu 400.000 lao động có tay nghề cao mỗi năm để bù đắp sự thiếu hụt trong một loạt các ngành, từ chăm sóc điều dưỡng đến công nghệ xanh.

“Thẳng thắn mà nói thì vấn đề nằm ở tiền lương” – Andrew Watt, người đứng đầu bộ phận kinh tế châu Âu tại Viện Chính sách kinh tế vĩ mô thuộc Quỹ Hans Böckler của các công đoàn Đức, nói với Politico Europe. “Muốn người lao động quay lại những công việc vốn khó khăn với đồng lương ít ỏi này thì tiền lương phải tăng trước đã”.

Ở các nước Mỹ Latin và vùng Caribe, 26 triệu người đã mất việc làm vào năm ngoái trong bối cảnh đại dịch khiến nhiều hoạt động phải tạm ngừng, theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) của Liên Hiệp Quốc. Phần lớn các công việc được phép hoạt động lại là các ngành nghề phi chính thức, điều này đồng nghĩa với việc mức lương thậm chí còn thấp hơn và mức độ bấp bênh cao hơn trong khi các lĩnh vực này vốn đã chịu sự bất bình đẳng kinh tế sâu sắc.

“Những công việc này nói chung không ổn định, lương thấp, không được bảo trợ xã hội hay bất kỳ quyền lợi nào” – Vinícius Pinheiro, giám đốc khu vực của ILO, cho biết trong một cuộc họp báo hồi tháng 9. Pinheiro cũng lưu ý về tác động không cân xứng của đại dịch đối với thanh thiếu niên trong khu vực. Theo một nghiên cứu hồi đầu năm nay, cứ 6 người trong độ tuổi từ 18 đến 29 ở Mỹ Latin và Caribe thì có 1 người đã nghỉ việc kể từ khi đại dịch bắt đầu.

Các nền kinh tế đa dạng ở châu Á cũng đang gánh chịu những vấn đề khác nhau. Một phiên bản khác của “cuộc nghỉ việc quy mô lớn” đang diễn ra tại Trung Quốc, nơi mà thế hệ lao động trẻ có cái nhìn chán nản với triển vọng tương lai và chẳng mấy hào hứng với mức lương tương đối thấp tại các đô thị sản xuất vốn là những vùng thúc đẩy phát triển kinh tế của quốc gia này.

Và tất nhiên là cả Việt Nam, khi khoảng 1,3 triệu lao động rời các thành phố lớn để về quê trong giai đoạn cao điểm của dịch đã không trở lại, theo Tổng cục Thống kê. Nhiều người lao động nghèo ở châu Á cũng đã chọn về quê sống, vì ít nhất họ vẫn có nhà để ở và thức ăn để ăn. Đây cũng là một dạng nghỉ việc.

CBSNews ngày 13-10 dẫn dữ liệu của công ty về dịch vụ quản trị nhân sự Gusto cho biết 5,5% lao động nữ ở Mỹ bỏ việc vào tháng 8, so với tỉ lệ 4,4% của nam. Còn trong tháng 9, Gusto ghi nhận gần 300.000 phụ nữ đã rời bỏ thị trường lao động ở Mỹ; phần lớn vị trí bị bỏ trống được nam giới lấp đầy.

Phụ nữ là đối tượng gặp khó khăn nhiều nhất khi đại dịch diễn ra. Họ phải gánh vác nhiệm vụ chăm sóc con cái khi trường học vẫn chưa mở cửa lại, trong khi các điểm giữ trẻ thì hiếm hoi và đắt đỏ. Thêm vào đó, công việc của họ chủ yếu là các ngành nghề tiếp xúc trực tiếp với khách hàng – vốn bị ảnh hưởng nặng nề bởi đợt bùng phát dịch mới nhất do biến thể Delta.

Tỉ lệ phụ nữ chịu đựng hội chứng “cháy sạch” (burnout) nơi làm việc cũng cao hơn nam giới, theo McKinsey và Tổ chức Lean In – một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động với phương châm giúp đỡ phụ nữ thành công hơn trong sự nghiệp.

Theo một báo cáo hồi tháng 9 của Lean In, khoảng 1/3 phụ nữ cho biết họ đã cân nhắc rời khỏi lực lượng lao động hoặc chuyển hướng sự nghiệp của mình trong năm nay, tỉ lệ này cao hơn con số 1/4 khi bắt đầu đại dịch.

Lao động tự do và tự do lao động

Theo báo Wall Street Journal, cuộc bỏ việc quy mô lớn “không phải là cuộc tháo chạy điên cuồng khỏi văn phòng mà là đích đến của một hành trình dài hướng đến tự do”. Sau một thời gian dài khao khát được tự do tự tại trong công việc và thực sự trải nghiệm sự linh hoạt trong thời COVID-19, nhiều người muốn tiếp tục được tự do như thế khi mọi thứ dần trở lại bình thường.

 Ảnh: Inc.com

Thăm dò trên 5.291 thành viên LinkedIn vào đầu tháng 3-2021 cho thấy 50% chọn tính linh hoạt về địa điểm và giờ giấc là ưu tiên hàng đầu khi chọn việc làm, tiếp theo là cân bằng giữa công việc và đời sống (45%), có bảo hiểm y tế (41%), tiền lương (36%) và văn hóa công sở (36%).

Khoảng 10 triệu người Mỹ đang muốn chuyển từ làm việc toàn thời gian sang làm việc tự do, và 73% trong số họ lấy lý do là muốn tiếp tục được làm việc từ xa và linh hoạt, theo một khảo sát gần đây của mạng việc làm Upwork. Đó không phải là ý tưởng tồi. Theo một thăm dò khác của Upwork, 53% doanh nghiệp được hỏi cho biết việc buộc phải chuyển sang làm việc từ xa trong đại dịch đã khiến họ sẵn sàng sử dụng lao động tự do hơn trước đây.

Theo Forbes ngày 15-10, những người bỏ việc thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em ở Mỹ có lẽ đã chọn nghỉ hưu sớm vì tích lũy đủ tài sản, những lao động lớn tuổi hơn thì nghỉ vì muốn có cơ hội tốt hơn. Những người trẻ chọn học tập nâng cấp kỹ năng, hoặc chuyển sang ngành mới có nhiều cơ hội và thỏa mãn nghề nghiệp hơn, hoặc “chuyển hướng sang các loại công việc mới và tái định vị bản thân thành chủ doanh nghiệp hoặc nhà kinh doanh chứng khoán”.

Trở thành doanh nhân đang là xu hướng ở Mỹ, và “nói mình đang làm việc cho một startup giờ đây là một biểu tượng của thành công”. Mỹ đã chứng kiến một đợt “bùng nổ startup” và số lượng nộp đơn thành lập doanh nghiệp tăng mạnh; cả năm 2020 có 4,3 triệu hồ sơ được nộp còn 10 tháng đầu năm nay là 3,8 triệu, theo Business Insider.

Xu hướng này đã bắt đầu từ sớm và cuộc bỏ việc quy mô lớn chỉ làm tăng tốc tiến trình này mà thôi. Cụ thể, theo tạp chí chuyên về các doanh nghiệp nhỏ mới nổi Inc, trong những ngày đầu của đại dịch, Mỹ đã có số doanh nghiệp mới thành lập “nhiều hơn bất kỳ quý nào trong lịch sử”, riêng startup thì có 1,4 triệu công ty mới mở.

Trong khi đó, số lượng nhà đầu tư trẻ tuổi, mới chơi lần đầu cũng đã tăng mạnh trên các sàn và nền tảng giao dịch, đầu tư chứng khoán. Robinhood, ứng dụng giao dịch cổ phiếu nhắm đến thế hệ thiên niên kỷ và thế hệ Z, hiện có khoảng 22,5 triệu tài khoản được mở và đa số vẫn đang hoạt động tích cực. Tiền mã hóa và NFT – bỏ tiền để mua quyền sở hữu các tài sản kỹ thuật số – cũng là lựa chọn đầu tư của nhiều người vừa nghỉ việc.

Trong khi đó, làn sóng nghỉ việc ở Trung Quốc vốn đã bắt đầu từ trước, với phong trào “nằm thẳng” của người trẻ, tìm kiếm điều mới mẻ và làm các công việc khiến họ thấy “trọn vẹn”, có ý nghĩa hơn là vùi mình nơi công sở và theo truyền thống công việc, nhà cửa, hôn nhân ổn định. Những người nghỉ việc ở Trung Quốc và các thành viên làn sóng bỏ việc toàn cầu giống nhau ở chỗ cùng tìm kiếm sự tự do và linh hoạt.

Năm 2016, thăm dò của LinkedIn cho biết Trung Quốc có khoảng 30 triệu lao động tự do; năm nay con số do chính phủ cung cấp là hơn 200 triệu, gần 1/4 tổng lực lượng lao động Trung Quốc. Các công ty cũng sử dụng lao động tự do nhiều hơn. Theo báo cáo của Đại học Nhân dân Trung Quốc, 55% công ty ở nước này có dùng lao động tự do trong năm 2020.

South China Morning Post dẫn một báo cáo của nền tảng tuyển dụng online Zhaopin năm 2020 cho biết người Trung Quốc dưới 30 tuổi định nghĩa công việc hoàn hảo là “công việc mang lại sự tự do trong khi vẫn có thể theo đuổi đam mê”. Cũng trong báo cáo này, “chủ cửa hàng độc lập” và “nhiếp ảnh gia tự do” là 2 nghề được giới trẻ mong muốn nhất.

Nền kinh tế số trị giá 6.000 tỉ USD của Trung Quốc cung cấp sẵn nhiều nền tảng khác nhau để người trẻ thử sức với kinh doanh và khởi nghiệp, thay vì cố lấy cho được “bát cơm sắt” – công ăn việc làm với mức thu nhập ổn định và phúc lợi khi về già – như thế hệ trước. “So với thế hệ cha mẹ và ông bà (…) thế hệ trẻ cho rằng họ không cần việc làm chính thức hay một nghề thông thường để kiếm sống” – South China Morning Post nhận xét.

—-

Nguồn bài viết trên cung cấp tại :

https://cuoituan.tuoitre.vn/cuoc-song-muon-mau/cuoc-bo-viec-toan-cau-covid-chi-la-xuc-tac-1612090.html

https://cuoituan.tuoitre.vn/van-de-su-kien/cuoc-bo-viec-quy-mo-lon-ket-thuc-de-khoi-dau-1612089.html

https://cuoituan.tuoitre.vn/van-de-su-kien/lao-dong-tu-do-va-tu-do-lao-dong-1612091.html

Những thuật ngữ thường dùng trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa


Những thuật ngữ thường dùng trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa
Tiền tệ mã hóa
  • Address: Địa chỉ để nhận tiền mỗi khi muốn chuyển tiền. Trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa, địa chỉ không phải là public key nhưng nó là public key được mã hoá dưới dạng base64 và có mã kiểm tra để tránh trường hợp gõ nhầm một vài ký tự dẫn đến sai địa chỉ.
  • Algorithm: Thuật toán, trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa thì thuật toán thường nói đến thuật toán băm mà loại tiền kỹ thuật số đó sử dụng.
  • Altcoin: Viết đầy đủ là Alternate Coins, thuật ngữ này có nghĩa nói đến các loại coin khác. Ban đầu chỉ có Bitcoin cho đến khi có nhiều coin khác thì người ta nghĩ ra thuật ngữ này để chỉ các loại coin không phải Bitcoin.
  • AML: Đây là từ viết tắt của Anti Money Laundering có nghĩa là một quy định về chống rửa tiền.
  • API: Đây là từ viết tắt của Application Programing Interface có nghĩa là giao diện lập trình ứng dụng. Thường một phần mềm muốn mở các kênh để giao tiếp với các phần mềm khác thì người ta tạo ra các giao diện lập trình ứng dụng này để các phần mềm khác dễ dàng tương tác được với phần mềm đó. Đối với các hệ điều hành thì API được dùng để giúp cho các phần mềm chạy trên hệ điều hành đó sử dụng các chức năng được xây dựng sẵn trong hệ điều hành chỉ bằng việc sử dụng các quy tắc giao tiếp quy định trong API. Sau này các website cũng tạo ra các giao diện lập trình ứng dụng để các lập trình viên của các bên thứ ba dễ dàng viết các phần mềm kết nối và tương tác với trang web của họ. Facebook nhờ phát triển bộ API mạnh mẽ đã giúp các lập trình game và các nhà phát triển ứng dụng tạo ra rất nhiều ứng dụng trên nền Facebook, nhờ đó Facebook chiến thắng Myspace để trở thành mạng xã hội lớn nhất hành tinh.
  • ASIC:Là viết tắt của Application Specific Integrated Circuit có nghĩa là mạch tích hợp cho một ứng dụng cụ thể. Thường trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa có sử dụng các thuật toán băm nhất định cho việc tạo Blockchain và các máy đào coin thường được thiết kế cho những thuật toán nhất định giúp cho tăng tốc độ đào coin. Ví dụ máy đào Bitcoin có ASIC với thuật toán SHA256 còn máy đào ASIC đào Dash thì được tạo ra cho thuật toán X11 của Dash.
  • Balance: Số dư của ví tiền kỹ thuật số, hay còn được biết là số tiền còn lại trong ví mà bạn có thể tiêu được.
  • Block: Trong thế giới tiền kỹ thuật số thì mỗi block là một nhóm các giao dịch và cơ sở dữ liệu của tiền kỹ thuật số chính là một chuỗi các khối của các giao dịch này. Các loại tiền kỹ thuật số khác nhau sử dụng các khối có độ lớn khác nhau. Ví dụ hiện tại Bitcoin sử dụng một khối có độ lớn là 1 MB, tuy nhiên điều này có thể thay đổi trong tương lai. Người ta nói tất cả các giao dịch được lưu vào một cuốn sổ cái thì mỗi block ví như một một trang trong cuốn sổ đó.
  • Blockchain :Có nghĩa là chuỗi các khối chứa các giao dịch được kết nối với nhau theo dạng móc xích có liên quan chặt chẽ với nhau. Đây là từ khoá chỉ cho việc ứng dụng kỹ thuật móc xích các khối thành chuỗi kết nối với nhau và sử dụng công nghệ mạng ngang hàng để lưu đồng bộ dữ liệu trên tất cả các nút mạng. Vì công nghệ này sử dụng các nút mạng được kết nối ngang hàng với nhau nên có thể thời gian ở các nút mạng không giống nhau nên việc sử dụng các khối kết nối móc xích như vậy để đảm bảo thứ tự thời gian của chúng.
  • Block explorer:Đây là một công cụ giúp các lập trình viên, các nhà nghiên cứu về blockchain theo dõi và lần tìm các giao dịch. Đây là công cụ giúp cho lĩnh vực tiền tệ mã hóa có được sự minh bạch.
  • Block reward:Đây là từ nói về phần thưởng cho thợ đào coin nào đào được một khối. Trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa sử dụng cơ chế Proof of Work thì các máy đào phải thi nhau giải được một đoạn băm có độ khó nào đó để giành được quyền tạo một khối. Máy đào nào giải được trước sẽ có quyền tạo khối và nhận được phần thưởng cho việc tạo khối đó.
  • Block size:Có nghĩa là kích thước của một khối.
  • Block time:Có nghĩa là thời gian để thực hiện một khối. Ví dụ với Bitcoin thì có thời gian trung bình là 10 phút cho mỗi khối ,còn Dash lại quy định thời gian trung bình cho mỗi khối là khoảng 2 phút rưỡi. Nếu các máy đào giải được đoạn băm với độ khó nhất định sớm hơn thời gian trung bình thì độ khó được tăng lên, còn nếu các máy đào làm chậm hơn so với thời gian trung bình thì độ khó lại giảm đi.
  • Bitcoin :Là loại tiền kỹ thuật số hoàn chỉnh đầu tiên sử dụng kỹ thuật blockchain.
  • BTC: Đây là từ viết tắt của Bitcoin hay đơn vị tính của tiền điện tử Bitcoin.
  • Budget: Ngân sách. Đối với tiền kỹ thuật số như Dash có sử dụng một cơ chế để cấp vốn cho các dự án của cộng đồng nhằm cải tiến công nghệ hoặc giúp cho loại tiền đó được trở nên phổ biến thì ngân sách ở đây có nghĩa là khoản vốn được sinh ra bởi hệ thống dành cho các dự án của cộng đồng.
  • Circulating Supply:Đây là chỉ số về các loại tiền kỹ thuật số, nó cho biết số tổng lượng coin đang được lưu hành trên thị trường của loại tiền đó.
  • Confirm: Hay còn gọi là xác nhận các máy đào coin đã thực hiện việc xác thực một giao dịch. Thông thường trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa thì cứ một khoảng thời gian nhất định thì máy đào coin sẽ thực hiện xác nhận các giao dịch trong một khối. Một giao dịch càng được nhiều việc xác nhận thì giao dịch đó càng an toàn. Trong giao dịch thông thường thì các ví thường yêu cầu có khoảng 6 xác nhận để nó được coi là đảm bảo an toàn.
  • Cryptocurrency: Có nghĩa là tiền mã hoá, hay tiền kỹ thuật số, hay tiền điện tử.
  • Cryptography: Có nghĩa là ngành mật mã học, hoặc phương pháp mã hoá hay lĩnh vực nghiên cứu về việc biến đổi nội dung một thông điệp thành một định dạng mà chỉ những người có chìa khoá mới có thể đọc được nội dung của nó.
  • DAPI: Là viết tắt của Decentralized Application Programing Interface, đây là một khái niệm được đưa ra bởi Evan Duffield người sáng lập ra Dash. DAPI có nghĩa là giao diện lập trình ứng dụng phi tập trung, tức là đây là một giao diện lập trình cho các ứng dụng để tương tác với hệ thống phi tập trung của Dash mà không cần phải tương tác với một máy chủ nào mà hệ thống Dash sẽ tự động truy xuất dữ liệu trên hệ thống nhằm cung cấp dữ liệu hoặc phương thức giao tiếp cho các chương trình bên ngoài hoặc xây dựng nhằm tận dụng công nghệ nền tảng của Dash.
  • DAO: Là viết tắt của Decentralized Autonomous Organization, có nghĩa là một hệ thống hoạt động tự động và phi tập trung. Sự tự động ở đây có nghĩa là không cần sự điều khiển hay ra lệnh mà tự suy luận và hành động. Một hệ thống tự động có thể xem như một tổ ong hay một tổ kiến khi mà mỗi thành viên của hệ thống tự biết nhiệm vụ của mình và thực hiện nhiệm vụ của mình mà không cần sự ra lệnh hay cho phép của các thành viên khác.
  • DarkSend: Đây là tên gọi cũ của công nghệ PrivateSend của Dash cho phép người dùng Dash có thể gửi tiền cho nhau một cách ẩn danh và đảm bảo sự riêng tư cao.
  • Dash: Là một loại tiền kỹ thuật số, là một công nghệ tiền mã hóa phi tập trung. Dash cũng có nghĩa là tiền mặt điện tử, tiếng Anh gọi là Digital Cash. Dash cũng là tên của đơn vị tiền kỹ thuật số có tên là Dash, 1 Dash cũng như một Đồng, một Đô la, một Bitcoin…
  • Dash Drive:Hay còn gọi là DashDrive là công nghệ đặc biệt của Dash (phát hành với bản Evolution của Dash) cho phép lưu trữ thông tin về các ví của người dùng trên ổ cứng của các Masternode. Điều này cho phép người dùng có thể truy cập ví của mình ở bất cứ đâu từ ví trên máy tính, trên điện thoại, thậm chí trên web thông qua giao diện lập trình ứng dụng phi tập trung của Dash.
  • Decentralize:Có nghĩa là phi tập trung.
  • Decentralized Oracle:Đây là một khái niệm mới được đưa ra bởi Evan Duffield, người sáng lập ra Dash. Công nghệ này cho phép các masternode truy vấn đến các nguồn dữ liệu khác nhau và hệ thống Dash sẽ tự động biểu quyết để chọn và đánh giá tính chính xác của thông tin dựa trên kết quả biểu quyết tự động giữa một nhóm tối thiểu n nút ngẫu nhiên của các masternode. Đây là yếu tố then chốt đảm bảo cho một hợp đồng thông minh (smart contract) thực sự đảm bảo được tính chất phi tập trung.
  • Decrypt: Có nghĩa là giải mã, là biến đổi những thông điệp đã được mã hoá thành định dạng mà có thể đọc được. Decrypt là ngược lại của Encrypt (mã hoá).
  • Decryption:Có nghĩa là sự giải mã.
  • Deflation:Có nghĩa là giảm phát và ngược lại với ý nghĩa của lạm phát. Giảm phát có nghĩa là khi lượng cung tiền ít hơn nhu cầu lưu thông của loại tiền đó khiến giá của nó tăng lên.
  • Duff:Đơn vị nhỏ nhất của Dash. Một Duff bằng 0.00000001 Dash. Duff cũng là mấy chữ cái đầu của Duffield (Họ của Evan Duffield người sáng lập ra Dash).
  • Dump:Có nghĩa là xả, hay bán tống bán tháo ra ngoài thị trường để rút tiền về. Đây là một khái niệm với những trader tiền mã hóa trên các sàn giao dịch. Một số trader trên sàn giao dịch tiền mã hóa khi thấy loại coin mình nắm giữ có tin xấu thì người đó tìm cách bán tống bán tháo số tiền của mình để rút ra càng sớm càng tốt.
  • Ethereum:Đây là tên một loại tiền điện tử, một công nghệ blockchain đầu tiên có khả năng cho phép nhúng các đoạn chương trình có khả năng của một ngôn ngữ lập trình hoàn chỉnh vào blockchain.
  • ETH:Là ký hiệu viết tắt của Ethereum hay là một đơn vị của loại tiền điện tử Ethereum.
  • Electrum:Là tên một loại ví của tiền điện tử, loại ví này không tải toàn bộ blockchain về máy trạm của người dùng mà thay vào đó nó truy cập đến blockchain nằm trên máy chủ. Electrum không đảm bảo tính phi tập trung, tuy nhiên nó cho phép người dùng có được sự tiện lợi và nhanh chóng do không phải tải toàn bộ blockchain về máy trạm.
  • Encrypt:Có nghĩa là mã hoá, tức là biến một thông điệp thông thường thành một dạng bí mật mà bình thường không thể nào đọc được. Ngược lại với Encrypt là Decrypt (giải mã).
  • Encryption:Có nghĩa là sự mã hoá.
  • Exchange:Là sàn giao dịch (tiền mã hóa, hoặc chứng khoán).
  • Fee: Nghĩa là phí, hay còn gọi là phí giao dịch là chi phí mà chúng ta phải trả cho mạng lưới cho mỗi giao dịch chuyển tiền.
  • Fork: Trong lĩnh vực phần mềm mã nguồn mở thì ai cũng có thể sử dụng mã nguồn mở của người khác cho các phần mềm của mình miễn sao cũng phải tiếp tục để cho phần mềm của mình ở dạng mã nguồn và người khác cũng có thể sử dụng tiếp được. Fork là cách sử dụng mã nguồn của một phần mềm trước đó sau đó thay đổi đi để tạo ra một chức năng khác. Ví dụ ban đầu phần mềm Bitcoin được lập ra nhưng sau đó Dash được tạo ra trên nền tảng ban đầu của phần mềm Bitcoin, tất nhiên Dash cũng thay đổi rất nhiều để tạo ra một biến thể khác. Đến lượt nó lại có nhiều phần mềm khác Fork ra từ Dash như PIVX, Bitsend,… Không có giới hạn về việc thay đổi nhiều hay ít, miễn sao dùng phần mềm mã nguồn mở của người khác sau đó thay đổi để thành riêng của mình thì quá trình đó gọi là fork.
  • FUD: Là viết tắt của Fear – Uncertainty – Doubt có nghĩa là Sợ hãi – Không chắc chắn – Nghi ngờ. Điều này ám chỉ việc lo lắng, sợ hãi, và cảm thấy không chắc chắn khi quyết định đầu tư, mua bán, hoặc giao dịch trên các sàn giao dịch tiền tệ mã hóa. FUDer có nghĩa là người có những đặc điểm như sợ hãi, không chắc chắn và nghi ngờ. Để không bị coi là FUDer thì chúng ta nên dành thời gian tìm hiểu thật kỹ lưỡng kể cả những yếu tố về công nghệ cũng như về kinh tế học để khi quyết định thì chúng ta có một sự chắc chắn và tự tin.
  • Full node:Tiền kỹ thuật số sử dụng công nghệ mạng ngang hàng Peer To Peer (P2P) và mạng ngang hàng coi mỗi một máy kết nối vào mạng lưới như là một nút mạng, mỗi nút mạng có thể bật hoặc tắt và các máy khi kết nối mạng sẽ phải đồng bộ hoặc truy cập dữ liệu từ các nút mạng có đầy đủ thông tin. Full node là một nút mạng mà có chứa đầy đủ toàn bộ dữ liệu của các giao dịch. Một mạng lưới có nhiều full node đảm bảo dữ liệu được nhân bản rộng rãi và điều đó tránh được nguy cơ bị đánh tráo dữ liệu.
  • Funding:Đây là một thuật ngữ của giới đầu tư có nghĩa là sự cấp vốn. Có thể đó là sự cấp vốn cho các dự án hoặc sự cấp vốn cho các công ty khởi nghiệp. Lĩnh vực tiền tệ mã hóa mới sử dụng khái niệm này bởi Dash vì bản thân hệ sinh thái của Dash có khả năng cấp vốn cho các dự án của cộng đồng giúp phát triển thêm các tính năng mới cho hệ thống hoặc các dự án làm gia tăng giá trị cho hệ sinh thái này.
  • Github:Vì lĩnh vực tiền tệ mã hóa thì cần đảm bảo tính minh bạch và mã nguồn mở nên các phần mềm của lĩnh vực này thường sử dụng một công cụ quản lý mã nguồn là Github. Đây là một công cụ quản lý và chia sẻ mã nguồn phần mềm có thể được sử dụng miễn phí nên được rất nhiều những người lập trình ứng dụng blockchain sử dụng vì tính minh bạch, công khai và khả năng hợp tác giữa các lập trình viên rất cao của nó.
  • Governance:Đây cũng là một thuật ngữ mới được sử dụng trong thời gian gần đây do lĩnh vực tiền tệ mã hóa có rất nhiều người tham gia hệ sinh thái nên rất khó khăn cho việc đồng thuận để chọn lựa những hướng đi nhất định cho cộng đồng. Governance là cách thức cho phép cộng đồng có thể đưa ra quyết định chung mà không tạo ra mâu thuẫn. Đây cũng có nghĩa là quản trị, hay cai trị. Một hệ thống tiền tệ mã hóa thì không chỉ cần có một hệ thống quản trị mà còn cần hệ thống quản trị phi tập trung (Decentralized Governance), tức là không cần thiết phải tin tưởng vào một người hay một tổ chức nào mà cộng đồng có thể đưa ra quyết định bằng cách bỏ phiếu. Công nghệ mã hoá cho phép cộng đồng có thể bỏ phiếu và kiểm soát được việc bỏ phiếu đó sao cho công bằng và minh bạch.
  • Hard wallet:Đây có nghĩa là ví cho tiền kỹ thuật số dưới dạng một phần cứng (hay ví cứng) riêng biệt chứ không chỉ là một phần mềm nằm trên máy tính hoặc điện thoại. Việc sử dụng ví cứng có được đặc tính bảo mật tốt hơn ví mềm vì nếu hacker có xâm nhập được vào máy tính của nạn nhân muốn chuyển tiền đi thì ví mềm chỉ bị giới hạn bởi mật khẩu và hacker có thể cài vào máy của nạn nhân phần mềm theo dõi bàn phím để đọc được mật khẩu, còn ví cứng thì lại đòi hỏi mật khẩu nhập trực tiếp trên phần cứng của ví mà phần cứng đó không thể cài hoặc rất khó có thể cài mã theo dõi.
  • Hash:Còn gọi là phép băm. Trong lĩnh vực tin học thì băm có nghĩa là một loại phương thức trích chọn đặc trưng sao cho với một đoạn văn bản nào đó thì chỉ có thể chọn ra một đoạn mã đặc trưng mà không thể nào tìm được đoạn mã giống như vậy cho một đoạn văn bản khác và ngược lại là không thể cùng một đoạn văn bản mà có thể sinh ra hai đoạn mã băm khác nhau. Ngoài ra phép băm có tính chất một chiều, tức là khi cho một thông điệp qua hàm băm ta có thể tính ra mã băm nhưng không thể làm ngược lại được. Phép băm được sử dụng nhiều cho lĩnh vực chữ ký điện tử và quản lý mật khẩu. Phép băm này được sử dụng chính trong lĩnh vực blockchain để đảm tính xác thực của thông tin tránh giả mạo vì các thuật toán băm thường được chứng minh tính tương ứng 1-1 giữa thông điệp và mã băm. Có rất nhiều thuật toán băm khác nhau trong đó thông dụng như SHA256, SHA3, MD5,…
  • Hash rate:Là tốc độ tính toán để thực hiện phép băm. Hash rate càng cao thì tốc độ xử lý phép băm càng nhanh. Hash rate thường để so sánh khả năng xử lý của các máy đào cho các loại tiền kỹ thuật số. Với các thuật toán khác nhau thì tốc độ xử lý băm cũng khác nhau cho nên đôi khi một máy có khả năng tính toán mạnh nhưng xử lý thuật toán băm này lại chậm hơn một máy có khả năng kém hơn nhưng thực hiện thuật toán băm khác.
  • Hype:Có nghĩa là sự thổi phồng hoặc cường điệu. Trong lĩnh vực giao dịch mua bán tiền kỹ thuật số thì một loại tiền bị thổi giá lên cao khác thường được gọi là bị Hype.
  • ICO:Là từ viết tắt của Initial Coin Offering, đây là dạng huy động vốn ban đầu, tức là nhóm phát triển có thể bán ra một lượng coin ban đầu cho công chúng giống như việc phát hành cổ phiếu lần đầu của các công ty ra thị trường đại chúng (IPO – Initial Public Offering).
  • Inflation:Có nghĩa là sự lạm phát. Sự lạm phát tăng khi lượng tiền cung lớn hơn lượng hàng hoá trên thị trường khiến cho giá của hàng hoá trở nên đắt đỏ hơn. Inflation ngược nghĩa với Deflation.
  • InstantSend:Là công nghệ của Dash cho phép một giao dịch chuyển tiền diễn ra rất nhanh chóng khoảng trên dưới 1 giây trong khi thời gian xử lý một khối (block) của Dash là trung bình 2 phút rưỡi.
  • InstantX:Là tên cũ của InstantSend.
  • Investor:Có nghĩa là nhà đầu tư.
  • Investment:Có nghĩa là sự đầu tư.
  • IoT:Là viết tắt của từ Internet of Things có nghĩa là các thiết bị thông minh như máy giặt thông minh, camera thông minh, tủ lạnh thông minh… những thiết bị thông minh này có thể kết nối vào mạng Internet như các máy tính. Nó giúp cho việc quản lý và theo dõi từ xa, và giúp các thiết bị này có thể hoạt động tự động và độc lập.
  • Keepkey:Đây là thương hiệu của một loại ví cứng.
  • Key:Có nghĩa là chìa khoá. Trong lĩnh vực tiền tiền tệ mã hóa thì người ta sử dụng công nghệ mã hoá công khai và chữ ký điện tử. Mã hoá công khai có nghĩa sử dụng 2 khoá riêng biệt một dùng để mã hoá dữ liệu còn một dùng để mở khoá. Tiền điện tử sử dụng một khoá công khai có biến đổi đi để dùng làm địa chỉ nhận tiền, còn khoá bí mật dùng để gửi chuyển tiền đi. Trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa thì Key thường ám chỉ khoá bí mật.
  • KYC:Đây là viết tắt của từ Know Your Customer có nghĩa là một quy định buộc các tổ chức tài chính phải biết về khách hàng của họ. Quy định này là cách để các chính phủ chống việc rửa tiền hoặc các loại tội phạm trong các giao dịch chuyển tiền.
  • Ledger: Sổ cái trong kế toán. Trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa thì mọi giao dịch của tiền mã hóa được lưu vào trong một cơ sở dữ liệu giống như một sổ cái của các kế toán.
  • Mainnet: Là mạng chính thức. Trong lĩnh vực tiền tệ mã hóa người ta dùng 2 mạng lưới khác nhau: một là mạng chính thức và một là mạng thử nghiệm. Hai mạng lưới này hoạt động giống nhau và cùng sử dụng chung một phần mềm chỉ khác ở chỗ là có tuỳ chọn khi chạy phần mềm khác nhau. Mạng chính thức kết nối các phần mềm ví với nhau và dùng cho các giao dịch thông thường, còn mạng thử nghiệm dùng để các lập trình viên thử nghiệm để viết phần mềm, kiểm tra lỗi và thử nghiệm các tính năng của các phần mềm.
  • Marketcap: Tổng giá trị thị trường của một loại coin. Giá trị này được tính bằng giá khớp lệnh gần nhất nhân với tổng số coin lưu hành trên thị trường của một loại coin nào đó. Giá trị này có thể biến động tuỳ theo nhu cầu của thị trường giữa người mua và người bán ở từng thời điểm.
  • Masternode: Là một nút (node) mạng trong mạng lưới ngang hàng trong mạng lưới của Dash, một masternode cần có thêm một chút điều kiện hơn so với các nút mạng thông thường, để chạy được một masternode thì chủ của nó phải đặt cọc một lượng 1000 Dash và có địa chỉ IP tĩnh chạy trong trung tâm dữ liệu và máy tính đó cần có một cấu hình đủ mạnh. Masternode của Dash được sử dụng cho các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng lưới của Dash như PrivateSend, InstantSend, Decentralized Governance…
  • Miner: Máy đào coin hoặc người vận hành các máy đào coin để kiếm lợi nhuận bằng việc cung cấp năng lực tính toán để thực hiện việc xác thực các giao dịch cho mạng lưới tiền kỹ thuật số.
  • Mining: Đào coin
  • MNO: Là viết tắt của Masternode Owner có nghĩa là chủ của Masternode.
  • Multisig: Có nghĩa là một ví sử dụng kỹ thuật với nhiều chữ ký, tức là một ví mà cần phải có nhiều chìa khoá cùng sử dụng thì mới có thể chuyển được tiền. Ví multisig dùng cho một tổ chức hay một công ty. Giả sử ví đó có 3 người có chìa khoá dùng để chuyển tiền và quy định ít nhất có 2 người cùng ký thì mới chuyển được. Tương tự vậy có thể có quy định ví cần 5 khoá và tối thiểu 3 khoá mới chuyển tiền đi được… Dash do kế thừa của Bitcoin nên có khả năng này, nhiều loại tiền kỹ thuật số không kế thừa từ Bitcoin không có khả năng này.
  • Node: Là một nút mạng tức là một phần mềm chạy trên một máy tính tham gia vào mạng lưới với các máy tính khác cũng chạy cùng phần mềm đó trên mạng ngang hàng. Trên mạng ngang hàng thì mỗi một node (nút) được coi ngang hàng với nhau.
  • Open source:Mã nguồn mở. Mã nguồn mở thường được nói nhiều trong lĩnh vực phần mềm nơi mà những lập trình viên cung cấp mã nguồn phần mềm của họ viết công khai lên mạng để mọi người đều có thể xem và sử dụng.
  • Paper wallet:Là ví tiền điện tử được in ra giấy cho mục đích lưu trữ ngoài máy tính, điều này giúp cho nó tránh bị hacker đánh cắp.
  • Peers:Là nói đến các nút mạng ngang hàng trong mạng mang hàng (Peer to Peer).
  • Poloniex: Là tên của một sàn giao dịch nhiều loại tiền mã hóa khác nhau, nhất là các loại Altcoin.
  • Pool : Thuật ngữ này được sử dụng với những người đào coin, tức là cung cấp các thiết bị của mình cho việc xác thực các giao dịch của một loại tiền kỹ thuật số và đổi lại người ta được trả công. Khi việc đào coin được nhiều người tham gia thì việc cạnh tranh trở nên khó khăn và rất khó để dành chiến thắng. Nếu không hợp sức và chia đều rủi ro thì có người cả năm đào mà chẳng trúng block nào. Bởi vậy nhiều thợ mỏ có thể tập hợp năng lực tính toán của mình để cùng nhau dò tìm để được nhận giải thưởng. Nếu một trong các thợ mỏ tìm được block thì sẽ chia đều cho các thành viên của nhóm tuỳ theo năng lực tính toán của từng người. Như vậy khả năng trúng block cho toàn nhóm là cao nhưng lại chia đều nên thợ mỏ có được phần thưởng tuy nhỏ để trang trải chi phí. Pool là cách để tập hợp nhiều thợ mỏ để cùng nhau đào và chia nhau giải thưởng. Thông thường với các loại coin nhiều người biết như Bitcoin thì mỗi Pool có thể có hàng ngàn thợ mỏ/máy đào khác nhau, thậm chí nhiều hơn.
  • Private key:Có nghĩa là khoá riêng hay khoá bí mật. Trong lĩnh vực mã hoá thì có một lĩnh vực gọi là mã hoá bất đối xứng hay mã hoá công khai. Lĩnh vực này để mã hoá và giải mã thông tin chúng ta cần 2 chìa khoá, một dùng để khoá (mã hoá thông tin) và một để mở (giải mã thông tin). Chìa khoá dùng để mã hoá gọi là chìa khoá công khai, có thể cung cấp cho tất cả những ai mà ta muốn nhận thông tin dưới dạng mã hoá từ họ, còn chìa khoá bí mật (hay còn gọi chìa khoá riêng) dùng để giải mã thì ta giữ riêng, khi thông tin được mã hoá với khoá công khai rồi thì chỉ ai có chìa khoá bí mật mới giải mã để đọc được thông điệp. Chìa khoá bí mật đó gọi là Private key (hay còn gọi là secret key) còn chìa khoá công khai gọi là public key.
  • PrivateSend:Đây là một dịch vụ chuyển tiền ẩn danh của Dash. Dash được phát triển lên từ Bitcoin nên kế thừa dịch vụ chuyển tiền với sự minh bạch và bán ẩn danh của Bitcoin. Điều đó có nghĩa là các giao dịch chuyển tiền của Bitcoin không có chứa thông tin về tên người gửi và người nhận, thay vào đó là các địa chỉ là chuỗi ký tự khoá loằng ngoằng. Tuy nhiên, nếu biết địa chỉ của một người thì chúng ta có thể biết là địa chỉ đó có số dư thế nào và giao dịch với những địa chỉ khác ra sao. Dịch vụ PrivateSend giúp đảm bảo sự riêng tư bằng cách xáo trộn các nguồn đầu vào và đầu ra nhằm giúp đảm bảo thông tin được riêng tư và người ta không có cách nào truy tìm được nguồn gốc tiền của một người cũng như không biết anh ta có giao dịch với người nào khác nữa.
  • Proposal:Có nghĩa là một đề xuất. Trong hệ sinh thái của Dash, các lập trình viên, các nhóm lập trình, marketing,… có thể đề xuất một dự án giúp bổ sung giá trị cho hệ sinh thái của Dash và các chủ masternode có thể bỏ phiếu thông qua. Nếu được bỏ phiếu thông qua một đề xuất thì người chủ của đề xuất đó sẽ được cấp một lượng vốn để anh ta hay nhóm của anh ta có kinh phí thực hiện công việc. Đây là một đặc điểm ưu việt khá thú vị của Dash giúp cho hệ sinh thái này làm việc giống như một tổ chức tự động phi tập trung.
  • ProtocolCó nghĩa là giao thức hay cách thức chuẩn để các bên có thể giao tiếp được với nhau, thường là các máy tính có thể làm việc với nhau thông qua mạng. Thường đối với các mạng máy tính thì có giao thức mạng như TCP/IP, IPX/SPX,… còn các hệ thống tiền điện tử cũng có các giao thức như giao thức bitcoin, giao thức dash,… để các thành phần tham gia các hệ thống có cùng giao thức này có thể làm việc và giao tiếp với nhau.
  • Proof of Work: Dịch sang tiếng Việt có nghĩa là chứng tỏ năng lực làm việc đây là một kỹ thuật để chọn ra thợ mỏ nào xứng đáng để được trao quyền tạo block và nhận giải thưởng cho việc xác thực giao dịch. Nó cũng là cách khuyến khích người dùng đầu tư máy móc cho việc xác thực giao dịch và đảm bảo tính an ninh cho mạng lưới thanh toán. Kỹ thuật này cho phép những người có năng lực tính toán (hàm băm) nhanh hơn thì có nhiều hơn cơ hội để đào trúng và nhận giải thưởng. Nhờ việc cạnh tranh nhau để đào trúng bằng việc nâng cấp thiết bị có tốc độ nhanh hơn thì khả năng đảm bảo an ninh cho mạng lưới thanh toán càng cao hơn.
  • Proof of Stake:Đây là một kỹ thuật khác cũng dùng để xác thực các giao dịch nhưng thay vì phải cạnh tranh nhau về năng lực tính toán để xác thực và được quyền nhận phần thưởng thì kỹ thuật này lại ưu tiên cho những người giữ một lượng coin trong ví lớn hơn và lâu hơn. Kỹ thuật này không dùng các máy đào và không cạnh tranh về năng lực tính toán cho việc đào mỏ nên tiết kiệm chi phí cho thiết bị và năng lượng cho máy hoạt động, nhưng nó chỉ ưu tiên cho người ban đầu có nhiều coin và bật phần mềm ví cho hoạt động nhiều. Điều này không tạo được động lực cho những người biết đến muộn và việc trả thưởng dựa vào số coin trước có nên không tạo được động lực cạnh tranh cho người tham gia. Có nhiều tranh luận về sự ưu/nhược giữa Proof of Work và Proof of Stake nhưng cho đến nay thì chưa có coin nào dùng Proof of Stake giữ được thành công.
  • Proof of Service:Đây là một kỹ thuật được sử dụng trong Dash. Nó không phải dùng cho việc xác thực các giao dịch, tạo block mà là một kỹ thuật giúp người dùng đầu tư máy móc và đặt cọc một số coin nhất định nhằm cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho các dịch vụ gia tăng cho hệ sinh thái của Dash. Kỹ thuật này tạo động lực cho người tham gia máy móc làm hạ tầng cho mạng bậc hai, tức là các nút mạng dạng Masternode.
  • Public key:Như đã giải thích trong phần Private Key, Public key là chìa khoá dùng để mã hoá thông tin. Các hệ thống tiền điện tử không sử dụng trực tiếp việc mã hoá thông tin mà sử dụng một ứng dụng của mã hoá thông tin đó là công nghệ chữ ký điện tử. Kỹ thuật này giúp đảm bảo thông tin vẫn giữ được sự minh bạch nhưng không bị giả mạo. Public key được sử dụng làm địa chỉ (không dùng trực tiếp khoá này mà dùng mã hoá nó ở dạng dễ đọc), còn khoá riêng thì dùng làm chìa khoá để chuyển tiền.
  • Pump:Bơm tiền ra mua một loại coin nào đó, điều này có thể làm giá của loại coin đó tăng cao nếu như có nhiều người bơm tiền ra mua nó.
  • Pump and Dump:Có nghĩa bơm tiền vào để mua sau đó bán ra để kiếm lời chứ không muốn giữ lâu. Một loại coin được gọi là Pump and Dump là loại coin không đáng để giữ lâu mà chỉ có thể kiếm lời trong ngắn hạn.

NNT Group / Nguoidentubinhduong.com tổng hợp

Ba cách để chơi tiền kĩ thuật số mà không cần phải mua


Bạn không cần phải mua Bitcoin hay các đồng tiền kĩ thuật số khác để kiếm lợi từ chúng

Giờ đây có một tin tức tốt từ Bitcoin và các đồng tiền kĩ thuật số khác dành cho bạn. Rất nhiều đọc giả trong số các bạn có thể biết những người kiếm được nhiều tiền từ tiền kĩ thuật số.

Tuy nhiên, điều quan trọng là phải thận trọng khi tiếp cận một loại tài sản mới và bất ổn như tiền kĩ thuật số. Có lẽ cách tốt nhất để đầu tư vào lĩnh vực này không phải là mua trực tiếp tiền kĩ thuật số, mà có một phương pháp khác.

Cổ phiếu cùng tiền kĩ thuật số và đầu tư blockchain

Rõ ràng, tôi không nói về việc mua các cổ phiếu như Riot Blockchain (NASDAQ: RIOT), hay bất kỳ công ty nào đột nhiên trở thành một công ty “blockchain” hoặc “cryptocurrency” sau sự nổi lên năm 2017.

Thay vào đó, một cách thông minh để chơi tiền kĩ thuật số chính là cùng với cổ phiếu có thể kiếm được nhiều tiền nếu tiền kĩ thuật số vẫn được yêu thích, nhưng ngay cả khi người ta không hứng thú với nó nữa, mọi thứ vẫn ổn. Square (NYSE: SQ) có lẽ là ví dụ yêu thích của tôi. Square gần đây đã cho phép mua và bán Bitcoin cho người dùng ứng dụng Square Cash, không tính phí và việc mua bitcoin dễ dàng với một vài lần vuốt màn hình điện thoại di động.

Nếu sự phổ biến của Bitcoin tiếp tục bùng nổ, có thể có một nguồn doanh thu lớn cho Square (trong khi không có phí, vẫn có sự khác biệt giữa giá mua và giá bán). Tuy nhiên, nếu Bitcoin tàn lụi, như nhiều người dự đoán, hệ sinh thái tài chính doanh nghiệp nhỏ đang phát triển nhanh của Square sẽ tiếp tục phát triển.

Một blockchain ETF

Đây là một ý tưởng tương tự như mua cổ phiếu của các công ty có đầu tư liên quan tới tiền kĩ thuật số, nhưng thay vì chỉ chọn một, bạn đầu tư vào hàng chục. Gần đây, đã có một số quỹ Quỹ ETF đến với thị trường. Mặc dù những điều này tương đối mới nhưng chúng lại đầu tư vào các công ty như Overstock.com, Intel, Cisco, NVIDIA, và Square, đây chỉ là một vài cái tên.

Hãy kiểm tra cơ cấu phí trước khi bạn đầu tư vào blockchain ETF, nhưng chắc chắn đó là cách để đầu tư vào tiền kĩ thuật số trong khi đồng thời mua các doanh nghiệp có uy tín.

Hợp đồng tương lai

Điều này gần với việc mua tiền kĩ thuật số, nhưng với một số khác biệt đáng chú ý. Hợp đồng tương lai Bitcoin được liệt kê trên CME Group và Cboe Global Markets và có sẵn thông qua một số môi giới trực tuyến lớn cho các nhà đầu tư cá nhân.

Về cơ bản, một hợp đồng tương lai cho phép bạn đặt cược vào giá tương lai của một hàng hóa hoặc tài sản bằng cách đặt một số tiền bây giờ – được gọi là yêu cầu ký quỹ. Đối với Hợp đồng tương lai Bitcoin, các yêu cầu về khoản ký quỹ thay đổi tùy thuộc vào giao dịch và môi giới, nhưng thường ở mức 40%.

Lấy một ví dụ đơn giản, giả sử Bitcoin được giao dịch với giá 10.000 đô la và bạn muốn “đặt cược” rằng giá sẽ tăng cao hơn từ nay đến tháng 4. Bạn có thể mua một hợp đồng tương lai bằng cách bỏ ra 4.000 USD cho mỗi Bitcoin, dựa trên yêu cầu ký quỹ 40% và “sở hữu” lợi nhuận nếu Bitcoin tăng. Nếu bạn muốn đặt cược vào Bitcoin giảm, bạn có thể đặt $ 4.000 và thu lợi nhuận nếu giá giảm.

Rõ ràng, tôi không khuyến khích giao dịch giao sau đối với các nhà đầu tư mới làm quen, hoặc cho bất cứ ai thực sự không hiểu các hợp đồng tương lai.

Cách để không chơi tiền kĩ thuật số

Cuối cùng, có một vài cách mà các nhà đầu tư chơi tiền kĩ thuật số gián tiếp nên tránh bằng mọi giá.

Tôi đã đề cập đến Riot Blockchain và các công ty tương tự, nhiều công ty không có hoạt động kinh doanh sinh lợi và chỉ có một số hoạt động kinh doanh sơ lược.

Cũng có Quỹ Đầu tư Bitcoin (NASDAQOTH: GBTC), đây là cái gần nhất với ETF Bitcoin hiện có trên thị trường. Ý tưởng ở đây chính là quỹ ủy thác sẽ lấy tiền của các nhà đầu tư và đổ vào đầu tư Bitcoin, nhưng cổ phiếu có giá trị lớn hơn giá trị của Bitcoin mà quỹ ủy thác thực sự sở hữu. Bạn nên mua những loại Bitcoin thực tế hơn là đầu tư vào chúng thông qua quỹ này.

Điểm mấu chốt là có một số cách để đầu tư vào tiền kĩ thuật số mà không cần mua chúng. Một số là một ý tưởng hay, trong khi một số khác thì nên tránh. Tôi tin rằng cách tốt nhất để chơi tiền kĩ thuật số là với các công ty phát đang phát triển có nền tảng tốt, có các hoạt động kinh doanh khác, trong trường hợp cơn sốt Bitcoin qua đi.

Bitcoin lên 258.000X – Đây là kế hoạch của bạn

Hãy xem xét điều này, đầu tư 1000 đô la vào Bitcoin vào tháng 7, 2010 sẽ trị giá hơn 258 triệu đô la bây giờ. Nếu bạn đã từng tự hỏi làm thế nào một nhóm người Mỹ hàng ngày kiếm được rất nhiều tiền trong thị trường tăng trưởng này, trong khi bạn không kiếm được, hoặc nếu bạn muốn tận dụng lợi thế của thị trường đang bùng nổ này… thì có một số thông tin đáng kinh ngạc mà bạn cần nhìn thấy để tin tưởng.

Và ngược lại với những gì bạn nghĩ, bí mật ở đây là không nằm ở việc đầu tư vào ICO “kế tiếp không thể bỏ lỡ”, hoặc tiền kĩ thuật số mà hàng xóm kể cho bạn.

Sn_Nour

Theo Tapchibitcoin.vn/ Fool