Bỏ việc sau đại dịch – Người lao động đã đi đâu ?


NDTBD tổng hợp bài viết về việc bỏ việc sau đại dịch

Cuộc “bỏ việc toàn cầu”: Covid chỉ là xúc tác!

Nguyên nhân cho cuộc bỏ việc toàn cầu này có thể sâu xa hơn những hiện tượng bề mặt về điều kiện việc làm, tiền lương, và đại dịch COVID-19 chỉ là chất xúc tác để quá trình này diễn ra nhanh hơn, đột ngột hơn.

 Ảnh: The Week

Đầu tiên là cách định giá các khâu trong chuỗi lao động. Ngày xưa đã thấy nhiều phi lý như lương của các “lao động thiết yếu” thấp hơn nhiều lần so với lao động của loại công việc “đặt ra cho có”. 

Đây là cách dịch lịch sự cho khái niệm “bullshit jobs” của David Graeber, người cho rằng đến một nửa công việc hiện nay là tào lao, vô nghĩa như luật sư doanh nghiệp, các chuyên gia quan hệ công chúng, quản lý cấp trung, tiếp thị từ xa…

Dù đồng ý hay không với lập luận của ông này, phải thừa nhận thu nhập của những người đang làm các loại “bullshit jobs” cao gấp nhiều lần thu nhập của những người mà nhờ COVID-19 người ta mới nhận ra họ là “lao động thiết yếu”. Cứ nhìn một người bán hàng trong siêu thị, một công nhân lắp ráp máy móc, một điều dưỡng trong phòng hồi sức phải làm việc luôn tay suốt ngày chúng ta sẽ thấy đồng lương họ nhận được không tương xứng với sức lực họ bỏ ra.

Đó là ngày trước. Nay với các đột phá công nghệ, sự phi lý trong thu nhập như thế càng kinh khủng hơn, càng vô lý hơn. Thử tưởng tượng cảnh một nhân viên kho hàng Amazon hằng ngày phải đi lại hàng chục cây số, lương 15 đôla/giờ tối lại về đọc tin lại một startup nữa vừa gọi vốn thành công, nâng trị giá công ty lên 100 tỉ đôla, còn người sáng lập nay giàu thêm 10 tỉ đôla nữa! 

Các startup thành công như thế thì ít nhưng tiền dư thừa rót vào cho họ là có thật và báo chí tung hô thêm nữa nên cái tâm lý muốn làm giàu nhanh chóng, muốn trở thành triệu phú qua đêm lan rộng hơn bao giờ hết.

Dĩ nhiên, “công nhân thiết yếu” làm sao tham gia startup nhưng công nghệ (lại là công nghệ) bày ra cho họ nhiều con đường làm giàu khác, từ mua bán chứng khoán qua ứng dụng online đến làm các kênh YouTube, từ mua bán tiền ảo đến đầu tư vào các loại tài sản ảo, từ bán hàng đa cấp đến bán hàng qua mạng… 

Dù thật hay ảo, nhiều người sẵn lòng từ bỏ công việc cực nhọc, nhàm chán, lương còm cõi hằng ngày của họ để theo đuổi giấc mơ đổi đời nhanh chóng.

Nói cách khác, trước đây cách định giá các khâu trong chuỗi lao động buộc công nhân làm đôi giày Nike, may bộ đồ Hugo Boss chỉ nhận về 1 đôla; người làm tiếp thị, lo chuyện quảng cáo hưởng 10 đôla thì nay chênh lệch đó càng lớn gấp nhiều lần trong nền kinh tế số. Tài sản của Mark Zuckerberg lên đến 116 tỉ đôla còn nhân viên kiểm duyệt nội dung để tránh tai tiếng cho Mark, cho Facebook lương cũng chỉ 15 đôla/giờ.

Nguyên nhân thứ hai đằng sau hiện tượng công nhân bỏ việc là đại dịch buộc nhiều người xác định lại các ưu tiên của cuộc sống. Với nguyên nhân đầu, chúng ta chưa thấy tác động rõ nét lên người lao động ở Việt Nam tuy cũng có bán hàng đa cấp, cũng có mua bán tiền ảo nhưng với nguyên nhân thứ hai này, rõ ràng 4 tháng buộc phải ở yên trong nhà trọ chật hẹp, đông đúc, người lao động nhập cư ắt phải so sánh cuộc sống làm việc liên tục tăng ca vất vả nhưng lương chỉ đủ sống trong môi trường bí bách, tù túng so với không gian thoáng đãng ở quê nhà. 

Họ phải so sánh chi phí giữ trẻ cao, tiền thuê nhà ngốn thêm một mớ và đủ loại chi phí không tên, kể cả Internet để duy trì liên lạc với gia đình và tìm chút giải trí qua mạng sau những giờ quần quật. Họ thà về quê cơm rau với cha mẹ còn hơn tiếp tục cuộc sống đầy rủi ro ở thành thị.

Có lẽ những cái chết vì COVID-19 họ từng chứng kiến quanh họ buộc họ phải bằng mọi cách về với gia đình để phục hồi về mặt tâm lý. Như thế tiền bạc không có nhiều ý nghĩa nên dù có được trợ cấp, dù có khả năng sẽ sớm đi làm hưởng lương trở lại cũng không thể ngăn họ tìm đường về quê.

Trong bối cảnh đó chủ doanh nghiệp đã làm được gì để hỗ trợ công nhân? Hầu như không có gì cả. Thử tưởng tượng cảnh “3 tại chỗ” với cá nhân từng người trong chúng ta: làm sao có thể yên tâm lắp ráp máy móc, khâu giày, may quần áo khi phải nằm bó gối trong căn lều bé tí, điều kiện vệ sinh tối thiểu cũng không đủ, ăn uống theo bữa cơm công nghiệp và cứ hết căn lều đến chạy máy… ai mà chịu đựng được trong thời gian dài. Làm sao họ không so sánh với những người lương cao gấp bội nhưng được “làm từ nhà”, không bị phơi nhiễm rủi ro mắc bệnh.

***

Nhìn ra thế giới thấy hầu như các nhà kinh tế không thể đưa ra bất kỳ giải pháp nào khả thi cho vấn nạn “The Great Resignation” này. Thậm chí có ông đòi chính phủ các nước cắt giảm trợ cấp nhanh nhanh lên để buộc công nhân phải đi làm. Có ông tìm giải pháp ở tự động hóa sản xuất bằng robot và có ông dọa đầu tư nước ngoài sẽ chảy đi nơi khác!

Có chăng là một cuộc “cách mạng” thay đổi cách định giá các khâu lao động để các ông chủ hãng xe công nghệ như Uber không thể trở thành tỉ phú sau vài ba năm, còn tài xế của họ vẫn chật vật trả tiền lãi ngân hàng vay để mua xe chưa xong. 

Ở đây không những có sự phi lý trong chênh lệch thu nhập mà còn một phi lý cực kỳ lớn hơn: giá trị lao động ngày càng bị teo tóp trong khi giá trị của đồng vốn tài chính ngày càng phình to; người giàu dựa vào tài sản sẵn có sẽ ngày càng giàu thêm trong khi thu nhập của “công nhân thiết yếu” đã nhiều năm không đổi.

Chiếu theo lập luận của tác giả khái niệm “bullshit jobs” thế giới này chỉ cần một lượng lao động thật sự nhỏ hơn thực tế nhiều lần để duy trì cuộc sống, kể cả lương thực, thực phẩm, dịch vụ, hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Nay làm sao để hủy bỏ các loại công việc “làm cho có”, rồi nhà nước tiến hành các chương trình “thu nhập cơ bản phổ quát” (Universal Basic Income) từng bàn mấy năm nay. 

Đây là chuyện khó ở mức “đội đá vá trời” vì chỉ một sắc thuế toàn cầu đánh lên các doanh nghiệp đa quốc gia để ngăn họ chuyển giá mà bàn tới bàn lui vẫn chưa kết thúc, thử hỏi đến bao giờ mới đánh thuế được lên tài sản (wealth) chứ không phải lên thu nhập (income) để xóa bớt hố sâu giàu nghèo hiện nay?

—-

Cuộc bỏ việc quy mô lớn: Kết thúc để khởi đầu

Từ mùa xuân 2021, giới kinh tế đã bắt đầu nhận thấy một hiện tượng lạ – người lao động ở Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới lũ lượt tự nguyện nghỉ việc – và gọi đó là “cuộc bỏ việc quy mô lớn” (The Great Resignation).

 Ảnh: Hiệp hội Quản trị nhân sự Hoa Kỳ

Theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ do The New York Times dẫn lại, gần 4,3 triệu lao động Mỹ đã tự nguyện nghỉ việc trong tháng 8 năm nay, tăng 300.000 người so với tháng 7 và cũng là con số cao kỷ lục trong hai thập niên kể từ khi chính phủ nước này bắt đầu triển khai thống kê. Lũy kế từ tháng 4 đến đầu tháng 9, số lao động nghỉ việc ở Mỹ đã vượt 15 triệu người, theo một báo cáo hồi đầu tháng 9 của Hãng tư vấn McKinsey.

40% trong số 4.929 lao động được McKinsey khảo sát ở Úc, Canada, Singapore, Vương quốc Anh và Mỹ cho biết họ có khả năng sẽ bỏ việc trong vòng 3 đến 6 tháng tới; 18% cho biết ý định nghỉ việc của họ dao động từ “có khả năng” đến “gần như chắc chắn”. Một khảo sát trên 30.000 lao động tuổi từ 18-25 thuộc 31 quốc gia của Microsoft hồi tháng 6 cho thấy 41% đang cân nhắc nghỉ việc trong năm nay.

Ai tạo sóng?

Theo Bộ Lao động Mỹ, trong số lao động nghỉ việc có những người đã tìm được việc mới trước khi nghỉ, có người chưa có chỗ mới nhưng tự tin mình sẽ tìm được việc, và cả những người lựa chọn hoàn toàn rời bỏ thị trường lao động dù chưa đến tuổi hưu. Nhóm đối tượng thứ 2 – nghỉ ngang dù chưa tìm việc mới – chiếm 36% trong khảo sát của McKinsey.

Thống kê của Bộ Lao động Mỹ và số liệu của McKinsey đều cho thấy các doanh nghiệp trong ngành giải trí và khách sạn có nguy cơ mất nhân viên cao nhất. Cụ thể, gần 7% lao động trong ngành lưu trú và ăn uống đã bỏ việc trong tháng 8, tức “cứ 14 nhân viên khách sạn, nhà hàng, quán bar thì có 1 người nói lời tạm biệt chỉ trong 1 tháng” – cây bút Derek Thompson viết trên tạp chí The Atlantic.

Bên cạnh đó, nhiều nhân viên trong lĩnh vực y tế và nhân viên cổ cồn trắng tham gia khảo sát của McKinsey cũng cho biết họ có kế hoạch nghỉ việc trong tương lai gần. Thậm chí 1/3 nhân viên trong ngành giáo dục – những người được cho là ít có xu hướng nghỉ việc nhất – khi được hỏi cũng trả lời rằng “hơi có khả năng” họ sẽ bỏ việc. Tỉ lệ tương ứng đối với nhân viên các ngành sản xuất hàng hóa và thương mại – vận tải – tiện ích là 43% và 38%.

Khảo sát của McKinsey cũng tìm ra nhiều nguyên nhân khiến người lao động lựa chọn nghỉ việc. Đáng lưu ý, “được công ty công nhận”, “được quản lý xem trọng” và “có cảm giác gắn kết với công ty” là 3 yếu tố mà người lao động cho là quan trọng nhất và có tác động lớn đến quyết định nghỉ việc của họ, nhưng lại bị người sử dụng lao động đánh giá thấp.

Vì sao người lao động muốn đổi việc trong năm 2021. Dữ liệu tính đến tháng 2-2021. -Nguồn: Hiệp hội Quản trị nhân sự Hoa Kỳ

Người trẻ hăng hái ra đi

Mark Hamrick, nhà phân tích kinh tế cấp cao của công ty dịch vụ tài chính tiêu dùng Mỹ Bankrate, cho rằng người trẻ, cụ thể là thế hệ Z (18-24 tuổi) và kế đó là thế hệ thiên niên kỷ (25-40 tuổi) đang dẫn đầu trong cuộc nghỉ việc quy mô lớn, bởi họ khao khát thay đổi và không có nhiều vướng bận với chỗ làm cũ.

Khảo sát trên 2.452 người tìm việc của Bankrate hồi tháng 8 cho thấy 77% người được hỏi thuộc thế hệ Z và 63% thế hệ thiên niên kỷ có dự định sẽ nghỉ việc; trong khi đó tỉ lệ này ở thế hệ “bùng nổ trẻ em” (57-75 tuổi) chỉ là 33%.

“Thế hệ Z và thế hệ thiên niên kỷ là những thành viên dễ chuyển chỗ nhất trong lực lượng lao động vì nhiều lý do. Họ không kiếm được nhiều tiền như những người đồng nghiệp lớn tuổi hơn, cấp cao hơn, nên họ mong muốn tìm được công việc được trả lương cao hơn và họ có xu hướng hiểu biết về công nghệ hơn, vì vậy họ có lợi thế tốt hơn để tận dụng cơ hội làm việc từ xa” – Hamrick nói với CNBC.

Thompson cũng cho rằng “các gói hỗ trợ liên quan đến đại dịch, chính sách hoãn tiền thuê nhà và xóa nợ học đại học đã giúp mọi người, nhất là người trẻ và thu nhập thấp, có thể tự do rời công việc họ ghét để tìm một cái gì đó mới mẻ”.

Gió đổi chiều

Theo báo cáo của Bộ Lao động Mỹ, số lượng vị trí cần tuyển dụng trong tháng 8 vào khoảng 10,4 triệu, đã giảm so với mức kỷ lục 11,1 triệu vào tháng 7. Đặt con số này cạnh 4,3 triệu lao động nghỉ việc trong cùng tháng, The New York Times nhận định đây là bằng chứng mới nhất cho thấy cán cân quyền lực trên thị trường việc làm đang nghiêng về phía người lao động chứ không phải bên sử dụng lao động.

Tương tự, tạp chí Time cũng nhận xét “một điều lớn lao” đang diễn ra trong thị trường lao động ở Mỹ: người lao động đang chiếm ưu thế so với các doanh nghiệp, vốn đang vật lộn để khôi phục kinh tế sau gần 2 năm lao đao vì đại dịch. “Từ các văn phòng cao cấp đến nhà máy, người lao động đang đòi lương cao hơn, giờ làm việc linh hoạt hơn, phúc lợi và đãi ngộ tốt hơn” – Time viết. Và họ đang nắm đằng chuôi, bởi nếu giới chủ không thể hoặc không đồng ý đáp ứng các yêu cầu trên, “nhiều người sẽ đình công, nghỉ việc hoặc tìm chỗ khác tốt hơn”.

Thompson, cây bút chuyên về kinh tế của The Atlantic, cũng nhìn nhận từ “great” trong “the great resignation” theo nghĩa “tuyệt vời” đối với người lao động, thay vì (quy mô) lớn. “Ngày càng nhiều người nghỉ việc để có một khởi đầu mới. Họ ra đi vì tin rằng họ có thể làm tốt hơn, được đối đãi tốt hơn. Cuộc bỏ việc quy mô lớn đang tăng tốc và nó đã tạo ra một thời điểm quan trọng trong lịch sử kinh tế Hoa Kỳ” – Thompson viết.

Cũng với góc nhìn đó, Ryan Rolansky – giám đốc điều hành mạng xã hội việc làm LinkedIn – cho rằng những gì đang diễn ra nên được gọi là “cuộc đại cải tổ” (The Great Reshuffle), tức người lao động thay đổi chỗ làm hàng loạt, kèm theo đó là thay đổi tư duy của cả nhân viên và doanh nghiệp.

“Ngay lúc này, tất cả các công ty, giám đốc điều hành đang suy nghĩ lại về cách thức hoạt động và văn hóa doanh nghiệp (…). Mặt khác, các nhân viên trên toàn cầu đang suy nghĩ lại về cách họ làm việc, tại sao họ làm việc và điều họ muốn làm nhất với sự nghiệp và cuộc sống của họ” – Rolansky nói với Time.

Cụ thể, nhiều công ty bắt đầu nhận ra lương cao không còn là liều thuốc hữu hiệu giúp khích lệ tinh thần làm việc và sự gắn bó của người lao động. Thay vào đó, họ bắt đầu chú trọng vào quyền tự chủ của nhân viên nhiều hơn, công nhận họ nhiều hơn, sắp xếp giờ làm việc linh hoạt hơn và ngày nghỉ hợp lý hơn, cũng như thực hiện bất cứ điều gì làm cho cuộc sống làm việc thú vị hơn.

Chính LinkedIn và các công ty công nghệ như Bumble và đã đóng cửa một tuần trong năm nay để nhân viên nghỉ ngơi và chống lại tình trạng kiệt sức. Công ty dịch vụ tài chính Fidelity Investments đang thử nghiệm cho phép một số nhân viên làm việc 30 giờ một tuần, chịu giảm lương một chút nhưng vẫn giữ đầy đủ phúc lợi của họ. Công ty Highwire Public Relations, có văn phòng tại một số thành phố lớn của Mỹ, đang cố bỏ 30% các cuộc họp để nhân viên khỏi phải tốn nhiều thời gian tương tác qua ứng dụng Zoom, và lý tưởng nhất là giúp ngày làm việc ngắn hơn và hiệu quả hơn. Tương tự, các nhà tuyển dụng khác đã triển khai nhiều chương trình thúc đẩy sự đồng cảm, với hy vọng làm cho nhân viên cảm thấy họ được đánh giá cao và xem trọng.

Làn sóng lan ra toàn cầu 

Theo Washington Post ngày 18-10, “cuộc nghỉ việc quy mô lớn” ở Mỹ đã dần trở thành hiện tượng toàn cầu, và nguyên nhân chính có vẻ là chuyện tiền lương.

Theo số liệu do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) do Politico Europe dẫn lại, lực lượng lao động tại 38 nước thành viên của tổ chức này đã giảm đi khoảng 20 triệu người so với trước khi đại dịch COVID-19 xuất hiện. Trong số đó, 14 triệu người đã rời bỏ thị trường lao động và hiện không đi làm hay tìm kiếm bất cứ cơ hội việc làm nào. Con số này cao hơn 3 triệu so với năm 2019.

Một khảo sát được công bố vào tháng 8 cho thấy 1/3 các công ty ở Đức gặp phải tình trạng khan hiếm nhân viên lành nghề. Cùng tháng đó, Detlef Scheele – cục trưởng Cục Việc làm Liên bang Đức – nói với tờ Süddeutsche Zeitung rằng nước này sẽ cần nhập khẩu 400.000 lao động có tay nghề cao mỗi năm để bù đắp sự thiếu hụt trong một loạt các ngành, từ chăm sóc điều dưỡng đến công nghệ xanh.

“Thẳng thắn mà nói thì vấn đề nằm ở tiền lương” – Andrew Watt, người đứng đầu bộ phận kinh tế châu Âu tại Viện Chính sách kinh tế vĩ mô thuộc Quỹ Hans Böckler của các công đoàn Đức, nói với Politico Europe. “Muốn người lao động quay lại những công việc vốn khó khăn với đồng lương ít ỏi này thì tiền lương phải tăng trước đã”.

Ở các nước Mỹ Latin và vùng Caribe, 26 triệu người đã mất việc làm vào năm ngoái trong bối cảnh đại dịch khiến nhiều hoạt động phải tạm ngừng, theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) của Liên Hiệp Quốc. Phần lớn các công việc được phép hoạt động lại là các ngành nghề phi chính thức, điều này đồng nghĩa với việc mức lương thậm chí còn thấp hơn và mức độ bấp bênh cao hơn trong khi các lĩnh vực này vốn đã chịu sự bất bình đẳng kinh tế sâu sắc.

“Những công việc này nói chung không ổn định, lương thấp, không được bảo trợ xã hội hay bất kỳ quyền lợi nào” – Vinícius Pinheiro, giám đốc khu vực của ILO, cho biết trong một cuộc họp báo hồi tháng 9. Pinheiro cũng lưu ý về tác động không cân xứng của đại dịch đối với thanh thiếu niên trong khu vực. Theo một nghiên cứu hồi đầu năm nay, cứ 6 người trong độ tuổi từ 18 đến 29 ở Mỹ Latin và Caribe thì có 1 người đã nghỉ việc kể từ khi đại dịch bắt đầu.

Các nền kinh tế đa dạng ở châu Á cũng đang gánh chịu những vấn đề khác nhau. Một phiên bản khác của “cuộc nghỉ việc quy mô lớn” đang diễn ra tại Trung Quốc, nơi mà thế hệ lao động trẻ có cái nhìn chán nản với triển vọng tương lai và chẳng mấy hào hứng với mức lương tương đối thấp tại các đô thị sản xuất vốn là những vùng thúc đẩy phát triển kinh tế của quốc gia này.

Và tất nhiên là cả Việt Nam, khi khoảng 1,3 triệu lao động rời các thành phố lớn để về quê trong giai đoạn cao điểm của dịch đã không trở lại, theo Tổng cục Thống kê. Nhiều người lao động nghèo ở châu Á cũng đã chọn về quê sống, vì ít nhất họ vẫn có nhà để ở và thức ăn để ăn. Đây cũng là một dạng nghỉ việc.

CBSNews ngày 13-10 dẫn dữ liệu của công ty về dịch vụ quản trị nhân sự Gusto cho biết 5,5% lao động nữ ở Mỹ bỏ việc vào tháng 8, so với tỉ lệ 4,4% của nam. Còn trong tháng 9, Gusto ghi nhận gần 300.000 phụ nữ đã rời bỏ thị trường lao động ở Mỹ; phần lớn vị trí bị bỏ trống được nam giới lấp đầy.

Phụ nữ là đối tượng gặp khó khăn nhiều nhất khi đại dịch diễn ra. Họ phải gánh vác nhiệm vụ chăm sóc con cái khi trường học vẫn chưa mở cửa lại, trong khi các điểm giữ trẻ thì hiếm hoi và đắt đỏ. Thêm vào đó, công việc của họ chủ yếu là các ngành nghề tiếp xúc trực tiếp với khách hàng – vốn bị ảnh hưởng nặng nề bởi đợt bùng phát dịch mới nhất do biến thể Delta.

Tỉ lệ phụ nữ chịu đựng hội chứng “cháy sạch” (burnout) nơi làm việc cũng cao hơn nam giới, theo McKinsey và Tổ chức Lean In – một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động với phương châm giúp đỡ phụ nữ thành công hơn trong sự nghiệp.

Theo một báo cáo hồi tháng 9 của Lean In, khoảng 1/3 phụ nữ cho biết họ đã cân nhắc rời khỏi lực lượng lao động hoặc chuyển hướng sự nghiệp của mình trong năm nay, tỉ lệ này cao hơn con số 1/4 khi bắt đầu đại dịch.

Lao động tự do và tự do lao động

Theo báo Wall Street Journal, cuộc bỏ việc quy mô lớn “không phải là cuộc tháo chạy điên cuồng khỏi văn phòng mà là đích đến của một hành trình dài hướng đến tự do”. Sau một thời gian dài khao khát được tự do tự tại trong công việc và thực sự trải nghiệm sự linh hoạt trong thời COVID-19, nhiều người muốn tiếp tục được tự do như thế khi mọi thứ dần trở lại bình thường.

 Ảnh: Inc.com

Thăm dò trên 5.291 thành viên LinkedIn vào đầu tháng 3-2021 cho thấy 50% chọn tính linh hoạt về địa điểm và giờ giấc là ưu tiên hàng đầu khi chọn việc làm, tiếp theo là cân bằng giữa công việc và đời sống (45%), có bảo hiểm y tế (41%), tiền lương (36%) và văn hóa công sở (36%).

Khoảng 10 triệu người Mỹ đang muốn chuyển từ làm việc toàn thời gian sang làm việc tự do, và 73% trong số họ lấy lý do là muốn tiếp tục được làm việc từ xa và linh hoạt, theo một khảo sát gần đây của mạng việc làm Upwork. Đó không phải là ý tưởng tồi. Theo một thăm dò khác của Upwork, 53% doanh nghiệp được hỏi cho biết việc buộc phải chuyển sang làm việc từ xa trong đại dịch đã khiến họ sẵn sàng sử dụng lao động tự do hơn trước đây.

Theo Forbes ngày 15-10, những người bỏ việc thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em ở Mỹ có lẽ đã chọn nghỉ hưu sớm vì tích lũy đủ tài sản, những lao động lớn tuổi hơn thì nghỉ vì muốn có cơ hội tốt hơn. Những người trẻ chọn học tập nâng cấp kỹ năng, hoặc chuyển sang ngành mới có nhiều cơ hội và thỏa mãn nghề nghiệp hơn, hoặc “chuyển hướng sang các loại công việc mới và tái định vị bản thân thành chủ doanh nghiệp hoặc nhà kinh doanh chứng khoán”.

Trở thành doanh nhân đang là xu hướng ở Mỹ, và “nói mình đang làm việc cho một startup giờ đây là một biểu tượng của thành công”. Mỹ đã chứng kiến một đợt “bùng nổ startup” và số lượng nộp đơn thành lập doanh nghiệp tăng mạnh; cả năm 2020 có 4,3 triệu hồ sơ được nộp còn 10 tháng đầu năm nay là 3,8 triệu, theo Business Insider.

Xu hướng này đã bắt đầu từ sớm và cuộc bỏ việc quy mô lớn chỉ làm tăng tốc tiến trình này mà thôi. Cụ thể, theo tạp chí chuyên về các doanh nghiệp nhỏ mới nổi Inc, trong những ngày đầu của đại dịch, Mỹ đã có số doanh nghiệp mới thành lập “nhiều hơn bất kỳ quý nào trong lịch sử”, riêng startup thì có 1,4 triệu công ty mới mở.

Trong khi đó, số lượng nhà đầu tư trẻ tuổi, mới chơi lần đầu cũng đã tăng mạnh trên các sàn và nền tảng giao dịch, đầu tư chứng khoán. Robinhood, ứng dụng giao dịch cổ phiếu nhắm đến thế hệ thiên niên kỷ và thế hệ Z, hiện có khoảng 22,5 triệu tài khoản được mở và đa số vẫn đang hoạt động tích cực. Tiền mã hóa và NFT – bỏ tiền để mua quyền sở hữu các tài sản kỹ thuật số – cũng là lựa chọn đầu tư của nhiều người vừa nghỉ việc.

Trong khi đó, làn sóng nghỉ việc ở Trung Quốc vốn đã bắt đầu từ trước, với phong trào “nằm thẳng” của người trẻ, tìm kiếm điều mới mẻ và làm các công việc khiến họ thấy “trọn vẹn”, có ý nghĩa hơn là vùi mình nơi công sở và theo truyền thống công việc, nhà cửa, hôn nhân ổn định. Những người nghỉ việc ở Trung Quốc và các thành viên làn sóng bỏ việc toàn cầu giống nhau ở chỗ cùng tìm kiếm sự tự do và linh hoạt.

Năm 2016, thăm dò của LinkedIn cho biết Trung Quốc có khoảng 30 triệu lao động tự do; năm nay con số do chính phủ cung cấp là hơn 200 triệu, gần 1/4 tổng lực lượng lao động Trung Quốc. Các công ty cũng sử dụng lao động tự do nhiều hơn. Theo báo cáo của Đại học Nhân dân Trung Quốc, 55% công ty ở nước này có dùng lao động tự do trong năm 2020.

South China Morning Post dẫn một báo cáo của nền tảng tuyển dụng online Zhaopin năm 2020 cho biết người Trung Quốc dưới 30 tuổi định nghĩa công việc hoàn hảo là “công việc mang lại sự tự do trong khi vẫn có thể theo đuổi đam mê”. Cũng trong báo cáo này, “chủ cửa hàng độc lập” và “nhiếp ảnh gia tự do” là 2 nghề được giới trẻ mong muốn nhất.

Nền kinh tế số trị giá 6.000 tỉ USD của Trung Quốc cung cấp sẵn nhiều nền tảng khác nhau để người trẻ thử sức với kinh doanh và khởi nghiệp, thay vì cố lấy cho được “bát cơm sắt” – công ăn việc làm với mức thu nhập ổn định và phúc lợi khi về già – như thế hệ trước. “So với thế hệ cha mẹ và ông bà (…) thế hệ trẻ cho rằng họ không cần việc làm chính thức hay một nghề thông thường để kiếm sống” – South China Morning Post nhận xét.

—-

Nguồn bài viết trên cung cấp tại :

https://cuoituan.tuoitre.vn/cuoc-song-muon-mau/cuoc-bo-viec-toan-cau-covid-chi-la-xuc-tac-1612090.html

https://cuoituan.tuoitre.vn/van-de-su-kien/cuoc-bo-viec-quy-mo-lon-ket-thuc-de-khoi-dau-1612089.html

https://cuoituan.tuoitre.vn/van-de-su-kien/lao-dong-tu-do-va-tu-do-lao-dong-1612091.html

Bitcoin là tài sản cán mốc ‘nghìn tỷ đô’ nhanh nhất


Bitcoin trở thành tài sản nhanh nhất đạt mức vốn hoá thị trường nghìn tỷ đô sau 12 năm.Tâm lý nhà đầu tư với BTC đang ở mức cực kỳ lạc quan, khi đồng tiền ảo này có thêm khoảng 500 tỷ USD vốn hóa thị trường trong năm nay.

Bitcoin - nguoidentubinhduong.com

Tâm lý Bullish

Thị trường tiền ảo vốn trị giá 500 tỷ USD đã cán mốc “câu lạc bộ nghìn tỷ” vào đầu năm nay. Tác động từ truyền thông góp phần củng cố tâm lý “bullish” của nhà đầu tư, bao gồm:

1. Các CEO lớn hưởng ứng tiền ảo

Elon Musk và Jack Dorsey đã đầu tư khá lớn vào BTC thông qua Tesla và Square. Khoản đầu tư 1,5 tỷ USD vào Bitcoin của Tesla được ước tính lớn hơn lợi nhuận từ toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty trong 2020.

2. Quỹ ETF tham gia

Nhiều quỹ ETF với danh mục chính là Bitcoin đã được các cơ quan quản lý của Canada phê duyệt và một số đã ra mắt trên Sở giao dịch chứng khoán Toronto (TSX). Trong nhiều năm, Quỹ Tín thác Bitcoin Grayscale (GBTC) là phương tiện đầu tư duy nhất mà nhà đầu tư có thể nắm giữ Bitcoin trên thị trường chứng khoán.

3. Các tổ chức tài chính cuối cùng cũng vào cuộc?

Mastercard, Visa và Bank of New York Mellon cũng có các động thái để khách hàng sử dụng tiền ảo dễ dàng.

Nghìn tỷ tiếp theo?

Tốc độ thay đổi nhanh chóng ngày nay khiến nhóm Big Tech nhích gần tới nghìn tỷ tiếp theo. Câu hỏi đặt ra là liệu Bitcoin cũng sẽ tiếp bước?

Bảo Linh (Theo Visual Capitalist) / NDH.vn