Tìm về cộng đồng cư dân Việt ở Bình Dương


* VĂN THỊ THÙY TRANG

 Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung đến vùng Đông Nam bộ. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay là một trong những vùng đất mới để cộng đồng cư dân đến sinh cơ, lập nghiệp. Họ bao gồm nhiều thành phần trong xã hội thời bấy giờ, những nông dân nghèo khổ, lầm than chốn quê nhà; là những người chạy trốn sự truy đuổi của chính quyền phong kiến, những người trốn lính, trốn thuế… vì bức xúc cuộc sống mà bất chấp nguy hiểm đi tìm nơi nương thân, mưu lập cuộc sống mới.

Bình Dương nơi dừng chân của đoàn quân di cư người Việt cùng với các địa bàn khác trên khu vực như Mô Xoài, Cù lao Phố, Bến Nghé. Bởi nơi ấy dân di cư thường theo các cửa biển, con sông để tìm vùng đất tốt định cư. Những vùng đất tốt, thuận tiện giao thông thủy bộ ở Bình Dương nhất là chung quanh thị xã Thủ Dầu Một vốn là vùng giáp sông Đồng Nai, sông Sài Gòn chính là những nơi định cư lý tưởng thuở đầu khai phá.
Đầu tiên người Việt đến vùng Lái Thiêu trung tâm là Bình Nhâm. Số cư dân phát triển dọc theo sông (sài Gòn), theo sông Thị anh (Bến Cát) Tân An… dân Ba, Tân Uyên dọc sông Đồng Nai, dần đến vùng vùng định cư của người Việt.
Hệ thống hành chính được thiết lập theo địa đồ năm 1698. Sau đó, triều Nguyễn đã có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút lưu dân đến khai hoang, lập làng vùng Gia Định – Đồng Nai. Trong bối cảnh đó Bình Dương cũng nhanh chóng được khai phá. Theo nhà nghiên cứu địa bạ Nguyễn Đình Đầu thì vùng đất Bình An (Bình Dương trước đây) là nơi có nhiều ruộng đất nhất củatỉnh Biên Hòa, chứng tỏ đây là vùng đất có đông cư dân nông nghiệp nhất. Vùng xung quanh Thủ Dầu Một sau này như Phú Cường, Lái Thiêu, Phú Lợi, Tân Khánh, Tân Uyên, Cù lao Rùa là những xóm đông đúc của Bình Dương từ thuở Tân Khánh, Tân Uyên, Cùa lao Rùa là những xóm đông đúc của Bình Dương từ thuở mở cõi thời nhà Nguyễn.
Từ khi vùng đất Bình Dương được thiết lập thì cư dân người Việt ở đây Phát triển nhanh chóng. Nhiều ấp, nhiều làng mới đượchình thành theo sự tăng trưởng của dân cư. Người Việt đa phần cư trú ở đồng bằng tập trung theo cộng đồng dân cư, vỡ hoang trồng lúa nước hoa màu bằng những dụng cụ thô sơ như cuốc, xuổng, liềm… chăn nuôi gia súc gia cầm “con trâu là đầu cơ nghiệp”…
Người Việt ở Btnh Dương cũng phụ thuộc theo từng giai đoạn lịch sử Việt Nam. Có sự phân chia giữa hai giai cấp và nhiều tầng lớp xã hội khác nhau như địa chủ, phú hào, nông dân, lệ nông, gia nô… cuộc sống nông nghiệp luôn phụ thuộc vào thiên nhiên, người Việt liên kết với nhau dụa vào nhau mà sống. Thôn xóm làng xã của người Việt được tổ chức chặt chẽ, quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết thành một cơ sở đơn vị gia đình là sự cấu thành gia tộc.
Người Việt quan niệm về ăn uống là cho ngon miệng chứ không mấy chú trọng về chất lượng. Bữa ăn là để tập hợp đủ các thành viên trong gia đình vừa ăn vừa trò chuyện, thăm hỏi nhau. Mọi hành động của người Việt nói ra đều có chữ ăn đứng đầu như ăn nói, ăn mặc, ăn ở, ăn uống, ăn học… Người Việt ở Bình Dương không ưa uống trà như ở miền Trung, miền Bắc. Tuy nhiên, rượu trà, trầu cau là những thứ không thể thiếu trong lễ nghĩa. Người đàn ông có thú uống rượu, hút thuốc, phụ nữ thì ăn trầu “miếng trầu là đầu câu chuyện”.
Cộng đồng người Việt đầu tiên ở Bình Dương mặc theo kiểu miền Bắc, miền Trung. Phụ nữ thường mặc áo cánh ngắn bằng vải nâu, cổ tròn viền nhỏ, tà mở, bên trong là tấm yếm màu vàng tơ tằm, dưới mặc váy. Về sau để phù hợp với công việc lao động họ mặc áo cánh gài nút giữa, không có túi, vạt áo sau trùm mông và mặc quần, trên đầu dùng khăn vải màu sáng hoặc kẻ ô gập lại vắt lên đầu. Đến lễ hội thì mặc áo dài và chiếc khăn vuông gấp chéo góc quàng vai cũng được phụ nữ trung niên trang điểm thêm. Trong lễ cưới cô dâu, chú rể đều mặc áo dài (chú rể đội khăn đóng) chân đi hài Nam Định.
Đặc biệt, nhiều làng nghề thủ. công định hình và phát triển trên đất Thủ Dầu Một. Ở đây xuất hiện đội ngũ đóng thuyền và thợ mộc, các kiểu bàn tròn, tủ thờ, giường đi vào thơ ca “Qua rằm mười sáu trăng treo, Anh đóng giường lèo cưới vợ Lái Thiêu”. Cư dân người Việt ở Bình Dương vốn có tay nghề sơn mài và kỹ thuật khảm cừ từ miền Bắc, miền Trung vào được thể hiện trên tủ thờ, ghế tựa, tràng kỷ hương án… lần lượt khai thác thế mạnh ở vùng đất giàu chủng loại gỗ quý như gõ, cẩm lai, giáng hương…tạo nên một nghề độc đáo và nổi tiếng cho Bình Dương – có danh mộc đất Thủ “Ai về chợ Thủ hỏi chủ Thợ”. Một minh chứng của nghề là ngôi miếu Mộc Tổ ở Lái Thiêu, các làng nghề mộc ở Phú Thọ, Chánh Nghĩa…; làng sơn mài Bến Thế, Tương Bình Hiệp… là những cụm dân cư Việt lưu truyền những nghề thủ công độc đáo của tỉnh Bình Dương. Sau này, người Pháp cho mở trường Bá nghệ Thực hành Thủ Dầu Một năm 1901, nghề mộc càng có điều kiện phát triển trên cơ sở tiếp thu kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những trong nước mà còn cả thị trường ngoài nước.
Về dân số: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cư dân Việt ở Bình Dương có 80.066 người (niên giám Địa chí Thủ Dầu Một của thực dân Pháp). Năm 1915, cư dân Việt có 89.318 người. Năm 1925, có 105.968 người Việt gốc Nam kỳ, 4.122 người Việt gốc Trung kỳ, Bắc kỳ…
Đến năm 1867, dân số có 1 .913 người Việt có đăng hộ tịch và 45.912 người Việt không được đăng hộ tịch. Người Việt ở Bình Dương còn có sự biến đổi khác, vào thời kỳ xuất hiện một đội ngũ công nhân cao su ngày càng nhiều theo nhu cầu mở rộng đồn điền cao su của thực dân Pháp trên địa bàn Thủ Dầu Một – Đông Nam bộ.
Thời kỳ cận hiện đại, mật độ dân số người Việt Bình Dương không ngừng thay đổi, luôn được bổ sung từ nhiều nguồn, nhiều nơi. Năm 1954, từ nguồn di cư người Việt từ các tỉnh phía Bắc vào, một số người Việt ớ miền Trung đến với chính sách “Dinh điền” của chế độ Sài Gòn trước năm 1975. Sau ngày giải phóng thống nhất đất nước,
nhân dân xiêu tán các nơi đã nhanh chóng hồi hương, lấp dần các khoảng trống ở các vùng Bến Cát, Tân Uyên, Dầu Tiếng… họ là một bộ phận dân cư đi kinh tế mới, khai hoang phục hóa. Dân số người Việt thời chống Mỹ đến năm 1998 là 468.146 người.
Ngày nay, Bình Dương một vùng đất năng động và phát triển mạnh về kinh tế các khu công nghiệp, thu hút hàng ngàn lực lượng công nhân khắp mọi miền đáp ứng nhu cầu việc làm. Số lượng dân cư luôn biến đổi theo sự phát triển cân bằng của xã hội. Cộng đồng cư dân người Việt ở Bình Dương trải qua nhiều sự đổi thay của lịch sử, nhưng họvẫn giữ vững truyền thống ”Uống nước nhớ nguồn”, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, sống chan hòa cùng chung tay xây dựng cuộc sống mới văn minh, giữ vững bản sắc dân tộc.
V.T.T.T
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Địa chí Sông Bé NXB Sông Bé, 1991.
2. Tạp chí xưa và nay – số 45B (11-1997)
3. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1930-1975) – NXB Chính trị Quốc gia, 2003.
4. Bình Dương đất lành chim đậu – 1999
5. Bình Dương thời đổi mới NXB Thanh Niên.
6. Tư liệu thuyết minh Bảo tàng, 2005

Bước đầu tìm hiểu về cộng đồng người Hoa Phước Kiến ở phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương


Phát – Đỗ Tiên

Hiện nay ở phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một có 2.780 người Hoa đang sinh sống, trong đó hầu hết là người Hoa đến từ huyện An Khê – Phước Kiến- Trung Quốc.

An Khê là một huyện miền núi nghèo nàn lạc hậu. Thời phong kiến vùng quê này luôn xảy ra cảnh “bán vợ đợ con”, cuộc sống kham khổ, đói rét. Một số người bất nhẫn trước cảnh bị áp bức, nghèo hèn đành rời bỏ quê hương đi tìm nơi làm ăn sinh sống. Họ lên tàu đến những đất nước lân cận, trong đó có Việt Nam. Những người tiên phong đến định cư tại Chánh Nghĩa ngày nay có lẽ chỉ vào khoảng thế kỷ XIX, muộn hơn so với Biên Hòa và Sài Gòn. Bởi vì căn cứ vào thời gian lập miếu xưa nhất là miếu Thiên Hậu khoảng giữa thế kỷ XIX. Và, lò gốm xưa nhất ở Chánh Nghĩa cũng được xây dựng khoảng giữa thế kỷ XIX. Đó là lò Vương Lương ở khu vực Bà Lụa ngày nay. Tuy nhiên, dòng chảy di dân An Khê (Ta) Sang Chánh Nghĩa nhiều nhất khoảng đầu thế kỷ XX, mà cao trào là từ những năm 1930 đến 1948. Thời kỳ mà Trung Quốc có nhiều biến động lịch sử. Chế độ phong kiến đã bị lật đổ bởi cuộc cách mạng của Quốc Dân đảng. Nhưng khi lãnh đạo Tôn Trung Sơn mất năm 1925, Tưởng Giới Thạch đã phản bội tư tưởng của Tôn Trung Sơn và xảy ra sự đối đầu với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nội chiến lại xảy ra, tình hình hỗn loạn, thổ phỉ phá quấy, trộm cắp, cướp bóc liên miên. Vùng đất nghèo càng thêm nghèo, trốn sự lam lũ đói rách, trốn bị bắt lính, trốn sự bất ổn của xã hội, họ rời bỏ quê hương ngày càng nhiều. Những người đi trước bắt đầu đón những người thân trong gia đình, bà con trong tộc họ, xóm giềng, bạn bè… lần lượt di dân sang hợp thành một cộng đồng người Hoa đông đúc như ngày nay.
Người Hoa ở Chánh Nghĩa đa phần là họ Lý, họ Vương và một số ít họ khác. Ban đầu họ đến vùng đất mới làm thuê để sinh sống, chủ yếu là làm thợ lò gốm. Từ hai bàn tay trắng, qua thời gian làm việc cật lực cộng với chiến thủ cao, có một số người đã xây dựng lò gốm để làm chủ. Khu vực Chánh Nghĩa có địa hình và địa thế thuận lợi để đắp lò làm gốm. Thế là các lò gốm dần dần mọc lên bên cạnh khu vực Lái Thiêu, Chòm Sao, Tân Khánh… năm 1910 ở Phú Cường (khu vực Chánh Nghĩa ngày nay lúc bấy giờ thuộc làng Phú Cường) đã có 14 lò gốm, cho đến nay ở phường Chánh Nghĩa đã có gần 100 lò gốm. Người Phước Kiến ở Chánh Nghĩa chỉ một số ít làm các nghề khác như buôn bán, rang xay cà phê còn thì đa số làm thợ lò gốm.
Gốm Chánh Nghĩa chủ yếu là gốm gia dụng như chén, tô, dĩa, thố, lu, khạp… phong cách thô sơ, mộc mạc không có nét cầu kỳ, tinh tế như gốm Lái Thiêu. Khu vực tập trung các lò gốm trải trên một diện tích rộng. Vì vậy, nơi đây còn có địa danh là Lò Chén. Các tên gọi “khu lò chén”, “ngã ba Lò Chén” vẫn còn tồn tại cho đến nay. Gốm Chánh Nghĩa cũng đã góp phần tạo nên sự thăng hoa của gốm Bình Dương trên khắp cả nước, trở thành một trong các ngành nghề truyền thống đặc trưng của Bình Dương.
Người Hoa khi rời bỏ quê hương, tài sản mang theo có thể rất ít. Nhưng với bản tính cần cù nhẫn nại, chịu khó, họ đã tạo nên cơ ngơi sung túc trên quê hương thứ hai này.
Khu vực Lò Chén dân cư ngày càng đông đúc. Người Hoa ở đây hòa nhập khá tự nhiên vào cộng đồng người Việt. Tuy nhiên, họ vẫn luôn giữ những nét đặc sắc trong văn hóa của dân tộc mình.
Ở bất cứ cộng đồng người nào, khi nhập cư sinh sống trên một vùng đất nào đó, họ đều mang theo truyền thống tín ngưỡng của mình. Người Hoa cũng vậy. Nhất là trong buổi đầu định cư, họ vừa trải qua những ngày sóng gió lênh đênh trên biển nhiều gian nan, trắc trở, thì khi đến vùng đất mới được bình an vô sự, họ đều hướng về các thần linh để tạ ơn. Họ lập nên những miếu thờ dù ban đầu chỉ là những gian nhà lá đơn sơ để thờ những vị thánh mà họ cho là hiển linh đã cứu giúp họ.
Thiên Hậu Thánh Mẫu là một điển hình. Xuất xứ từ châu Mi, huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, cô gái họ Lâm tương truyền là người đắc đạo, hiển ứng thần thông cứu người bị nạn trên biển. Hầu hết lưu dân người Hoa ra đi bằng đường biển nên họ rất tôn thờ Bà. Không chỉ riêng người Phúc Kiến, Hoa kiều ở bất cứ nơi đâu đều lập miếu thờ Bà.
Ở khu vực Chánh Nghĩa, vào năm 1867, những người Phước Kiến đã lập ngôi miếu thờ Thiên Hậu trên bờ rạch hương chủ Hiếu, năm 1871 miếu được tôn tạo, đến năm 1880 họ xin chính quyền cất thêm nhà hội. Sau khi miếu bị cháy, năm 1923 miếu được di dời về địa điểm đối diện vòng xoay ngã sáu, bên cạnh trường tiểu học Nguyễn Du hiện nay, đó là thiên Hậu cung, nhân dân quen gọi là chùa Bà Thủ Dầu Một. Miếu dù có nguồn gốc đầu tiên là do những người Phước Kiến lập, nhưng sau đó cả bốn bang người Hoa Phước Kiến, Triều Châu, Quảng Đông và Sùng Chính đã chung sức xây dựng, tôn tạo, quản lý và tổ chức lễ hội long trọng đầy màu sắc vào ngày Rằm tháng giêng hàng năm. Lễ hội này trở thành lễ hội truyền thống thu hút hàng triệu lượt người từ khắp nơi đổ về không chỉ người Hoa mà người Việt cũng tụ hội chung vui.
Ngoài việc chung sức giữ gìn truyền thống lễ hội rằm tháng giêng của Thiên Hậu cung, người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa còn có truyền thống thờ cúng những vị nam thần mà những nơi thờ tiêu biểu là Phước võ điện và Phước An miếu, dân quanh vùng quen gọi là chùa ông Bổn.
Phước điện thờ Huyền Thiên Thượng Đế, được những người họ Vương xây dựng khoảng năm 1885, hiện tọa lạc tại khu 9, phường Chánh Nghĩa. Huyền Thiên Thượng Đế là một vị thần do Thượng Đế phân thân, còn được gọi là Chân Vũ hoặc Chân Võ. Theo truyền thuyết, ngài có hai tướng rùa và rắn (Vui – Xà tướng quân) phụ trợ cùng với 36 tướng khác tuần du về phương bắc để trấn áp, thu phục tà ma cứu người lương thiện, cuộc tuần du đó gọi là Bắc du Chân Võ. Lễ hội Phước Võ điện tổ chức vào 2 ngày 24 và 25-2 âm lịch. Cứ 4 năm mới đáo lệ một lần do có sự luân phiên tổ chức của nhóm họ Vương các nơi khác. Đó là các miếu thờ:
– Ngọc Hư cung ở khu 7, thị trấn Lái Thiêu.
– Phước Thọ đường ở xã Hưng Định, huyện Thuận An.
– Phước Nghĩa đường ở Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên. Huyền Thiên Thượng Đế lần lượt được thỉnh về tạm trú mỗi nơi một năm. Ngài ở nơi nào thì nơi đó tổ chức lễ hội. Chương trình lễ hội cả bốn nơi đều giống nhau. Phần chính của lễ hội là nghi thức rước kiệu Huyền Thiên Thượng đế, Nam triều Đại Đế, Phật Bà Quan Âm đi tuần du suốt đêm quanh khu vực. Đám rước có sự hộ tống của hẩu, lân, sư, rồng rộn rã, tưng bừng. Trong lễ hội có hát hò Quảng thu hút rất đông cư dân quanh vùng.
Phước An miếu hiện tọa lạc tại khu 7, phường Chánh Nghĩa do người Hoa họ Lý lập năm 1882 thờ Thất phủ Đại nhân các vị họ Lực, Chu, Quách, Tiêu, Triệu, Lý và Châu. Tương truyền vào đời nhà Hán, có 360 sĩ từ đi thi đã tụ hội lại trong một căn hầm để đàn ca hát xướng. Tiếng ồn vang đến tai của trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng – tổ của thầy pháp) ông nổi giận bèn lừa vua lấy chiếu chỉ rồi đọc than chú cho sụp hầm giết chết 360 người. Oan hồn các sĩ tử cứ báo mộng kêu oan với nhà vua. Khi biết rõ sự tình, vua bèn phong cho các sĩ tử bị chết oan mỗi người là Đại nhân của phủ họ. Người họ nào thì thờ đại nhân họ đó. Tìm hiểu từ những người cao tuổi thì ở quê hương An Khê của họ Lý đã có miếu thờ thất phủ đại nhân từ lâu đời. Khi sang định cư tại Chánh Nghĩa ngày nay người Hoa họ Lý cũng lập miếu thờ Thất phủ Đại nhân, trước tiên là để tạ ơn các vị thần đã phò trợ cho họ được an cư lạc nghiệp, sau đó là giải quyết nhu cầu tinh thần, an ủi những người xa xứ luôn nhớ và tiếp nối truyền thống tín ngưỡng từ cố hương.
Hàng năm vào ngày 16 tháng giêng, Phước An miếu tổ chức lễ rước kiệu ông tuần du suốt ngày suốt đêm quanh khu dân cư. Từng gia đình hoặc một nhóm gia đình bày chung hương án, bánh trái bên đường đón đám rước có thầy pháp làm lễ cúng cầu ông giải trừ tà ma, phù hộ cho gia đình làm ăn phát đạt, an khang thịnh vượng… hộ tổng đám rước cũng không thể thiếu hẩu, lân, sư, rồng với trống chiêng, chập chả âm thanh rộn ràng vang xa hàng cây số.
Ngoài lễ rước kiệu ngày 16 tháng giêng hàng năm, cứ 3 năm Phước An miếu tổ chức lễ hội một lần vào 3 ngày từ 12 đến 14-8 âm lịch. Trong lễ hội có thầy pháp tụng cúng, có hình thức lên đồng xỏ xiên quai (một thanh sắt tròn dài xỏ xiên qua 2 má cạnh mép miệng) và chủ yếu là hát cúng hò Quảng với nhiều tuồng tích. Cũng như lễ hội ở Phước Võ điện, lễ hội ở Phước An miếu thu hút rất đông người.
 
Ngoài 2 ngôi miếu thờ Ông kể trên, người hoa ở Chánh Nghĩa còn có miếu thờ Phật Bà Ouan Âm gọi là Bích Liên đình tọa lạc tại khu 7, phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một. Việc thờ Quan Âm tại đây không mang theo nghi thức Phật giáo. Cũng giống như Thiên Hậu Thánh Mẫu, người Hoa cho rằng Phật Bà Quan âm là vị cứu nạn, cứu nguy cho người trên biển. Ở đây bên cạnh Phật Bà còn kết hợp thờ các vị Tam Thánh (Quan Công, Quan Bình, Châu Xương), Hồng Hài Nhi, Hà Tiên Cô, Na Tra và Bảo Sanh Đại Đế. Mỗi khi Phước An miếu tổ chức rước kiệu hoặc lễ hội đều thỉnh Phật Bà với các vị thờ ở Bích Liên đình lên Phước An miếu cùng tuần du, cùng chứng giám lễ hội.
Nói đến lễ hội và tín ngưỡng của người Hoa ở Chánh Nghĩa không thể không nói đến nghi thức múa hẩu. Đó là một hình thức múa lốt đặc trưng của người Hoa Phước Kiến ở Bình Dương mà không có nơi nào có kể cả ở TP.HCM. Cái lốt con hẩu có đầu là chiếc mặc nạ tròn rất hung tợn, được vẽ nhiều màu sắc, quanh đầu râu ria xồm xoàm gắn với thân là một tấm vải màu vàng rực, rộng và dài khoảng 3 – 4m. Đuôi là đuôi thật của trâu hoặc bò phơi khô cột chặt vào phần cuối cùng của tấm vải. Múa hẩu cũng có 2 người múa đầu và múa đuôi nhưng khác hẳn với múa lân hoặc sư tử bởi vì hẩu không trèo leo, nhún nhảy theo kiểu vui chơi. Hình thức cơ bản khi múa hẩu là đầu rướn lên cao, xoay mặt qua lại, lúc thì co lượn, trườn dài, lăn tròn xuống đất. Múa hẩu biểu diễn trong lễ cúng ở Phước An miếu và các lễ vía Huyền Thiên Thượng Đế chứ không biểu diễn để vui chơi hội hè. Về sau khi kết hợp tổ chức lễ hội Thiên Hậu Thánh Mẫu, hẩu cũng tham gia rước Bà du xuân.
Theo tín ngưỡng Đạo giáo, không biết nguồn gốc từ đâu, các bang hội người Hoa ở Bình Dương đều công nhận mỗi bang có một cốt con vật riêng (trong can chi). Người Phước Kiến cốt con hổ, Triều Châu cốt con ngựa, Quảng Đông cốt con dê và Sùng Chính cốt con chó. Do đó, khi xếp đội hình rước kiệu Bà Thiên hậu du xuân thì nhất định các con hẩu luôn luôn đi đầu. Vì người Hoa cho rằng hẩu đại diện người Phước Kiến cũng tức là hổ nên cần phải đi đầu để dẹp đường cho Bà du xuân, nếu hẩu đi sau sẽ ăn hết những con vật (ngựa, dê và chó kể trên) đi trước, như vậy người Hoa các bang khác sẽ không được thuận lợi trong công việc làm ăn.
Như vậy, hẩu là một linh vật, múa hẩu là nghi thức thờ các gia đình người Hoa. Những người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa luôn mở rộng cửa đón hẩu và nhà múa lễ trong những ngày đầu xuân.
Về phong tục tập quán, người Hoa Phước Kiến Chánh Nghĩa vẫn duy trì tục dán liễn đỏ trong các dịp Tết, cưới hỏi, tang ma… Cũng như tất cả người Hoa nói chung, người Phước Kiến rất chuộng màu đỏ, hoa cho màu đỏ là màu may mắn, hạnh phúc. Trong các lễ hội hoặc các lễ cúng khác người Phước Kiến thường nhuộm trứng vịt màu đỏ để thỉnh lộc miếu ông hoặc cúng lễ đầy tháng, thôi nôi. Khi thôi nôi hoặc đầu tháng, người Phước Kiến vẫn còn giữ phong tục làm bánh nếp (gần giống với kiểu bánh ít trần của người Việt ở Nam bộ) bột pha màu đỏ và trứng vịt cũng nhuộm đỏ đem cho các gia đình xung quanh và bà con bạn bè thân thuộc.
Nhìn chung, trong quá trình cộng cư lâu dài với người Việt, sự giao thoa văn hóa thường xuyên xảy ra, người Việt lâu dần cũng có một vài nếp nghĩ theo tập quán của người Hoa. Người Hoa cũng vậy, nhưng những biểu tượng có tính đặc trưng của mỗi tộc người luôn luôn tồn tại một cách riêng biệt không hề lẫn lộn.
 Ngày nay, cộng đồng người Hoa ở Việt Nam là một trong 54 dân tộc trong đại gia đình cộng đồng dân tộc Việt Nam. Thuở ban đầu từ Trung Quốc sang làm ăn sinh sống, họ là những “Hoa kiều” dần dần đã trở thành những công dân Việt Nam. Thế hệ con cháu họ là thế hệ người Việt Nam nhưng cội nguồn văn hóa tín ngưỡng là cội nguồn văn hóa Trung Hoa mà ngày nay đã tạo thành những cành lá sum sê trong vườn văn hóa Việt Nam. Những thành tựu về mặt kinh tế, những đóng góp về mặt xã hội của người Hoa đã góp phần tạo nên sự bền vững cho Tổ quốc Việt Nam, quê hương thứ hai của họ.
Người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa nói riêng và người Hoa ở Bình Dương nói chung đã góp phần không nhỏ trong những thành tựu về kinh tế – văn hóa- xã hội của tỉnh nhà.
L.P -ĐT
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Các tài liệu điền dã cá nhân.
Địa chuông Bé. NXBTH Sông Bé năm 1991
Trần Hồng Liên: Văn hóa người hoa ở Nam bộ tín ngưỡng và tôn giáo. NXBKHXH.
– Sở VH-TT tỉnh Bình Dương: Sơ khảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian và truyền thống tỉnh Bình Dương.  Lưu hành nội bộ tháng 5-1998.

Dấu xưa xe ngựa… đất Thủ – Bình Dương…


 

HIẾU HỌC – HOÀNG ANH

 (Chiếc xe thổ mộ Bình Dương)

Cùng nhắc đến hình ảnh chiếc xe ngựa, nhưng trong câu thơ đầy xúc cảm của Bà Huyện Thanh Quan: “Dấu xưa của xe ngựa hồn thu thảo” thì mênh mông một nỗi u hoài muôn thuở của con người trước sự phế hưng biến đổi cùng năm tháng: “Nền cũ lâu đài bóng tịch dương”. Còn “dấu xưa xe ngựa…” sắp nói sau đây là nỗi buồn man mác, khi nhớ về chiếc xe thổ mộ (xe ngựa) cụ thể, một hình ảnh quen thuộc đã gắn liền với cuộc sống của cư dân Bình Dương từ những năm tháng xa xưa cho đến tận thời gian gần đây. Thế mà hiện nay đã gần như vắng bóng trên đường phố và cả đường làng ở vùng nông thôn Bình Dương.

Trở lại thời mới khai khẩn miền đất mới phương Nam, đất Thủ Dầu Một là một trong những cái nôi hình thành chiếc xe thổ mộ ở Nam bộ. Trong từ điển tiếng Việt miền Nam, học giả Vương Hồng Sển giải thích: “Xe thổ mộ là chiếc xe do một ngựa kéo dùng chở hàng hóa cho khách bộ hành vùng ngoại ô Sài Gòn, Chợ Lớn, Lái Thiêu” (sđd trang 643). Có nhiều giải thích vì sao xe ngựa được gọi là xe thổ mộ. Về nguồn gốc, địa chí thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, xe ngựa của Nam bộ là phỏng theo mô hình kiểu xe song mã của Âu châu. Các nhà văn Sơn Nam, Nguyễn Nguyên giải thích “thổ mộ” bắt nguồn từ hai chữ “thảo mã” nghĩa là loại xe dùng ngựa để chở cỏ của người Trung Quốc. Người khác cho rằng, trước đây việc chở quan tài để chôn xa phải dùng đến xe ngựa đưa đến chỗ đất (thổ) mồ mả (mộ), nên quen gọi xe ngựa là xe thổ mộ (theo ông Hoàng Anh SGGP số 375/1998). Nhưng số đông tác giả cho rằng, vì mui chiếc xe có hình khum khum mu rùa, giống như nấm mộ (mả đất) nên xe được gọi là xe thổ mộ. Ngoài ra có nhiều cụ già Bình Dương lại khẳng định rằng, thổ mộ là tên gọi xe Thủ Dầu Một do nói nhanh, nói gọn của người Nam bộ mà thành. Cách giải thích trên, nhất là giải thích xe thổ mộ là tên để chỉ xe ngựa Thủ Dầu Một còn phải được tìm hiểu thêm. Nhưng rõ ràng, đất Thủ Dầu Một – Bình Dương có nhiều mối quan hệ trong việc hình thành, sáng tạo cũng như việc sớm sử dụng một cách rộng rãi và lâu dài đối với chiếc xe thổ mộ này.

Từ cuối thế kỷ XIX, đất Thủ Dầu Một là nơi nghề thủ công phát triển mạnh, kinh tế giao thông hàng hóa rộng khắp nhờ vào nguồn nhân lực, thợ lành nghề đông đảo, nguyên vật liệu gỗ rừng, khoáng sản đặc dụng, dồi dào, lại ở vị trí thuận lợi cho việc giao thương đường thủy, đường bộ, tạo nên một quang cảnh tấp nập “trên bến dưới thuyền”, nhu cầu đi lại, chuyên chở hàng hóa rất lớn. Đường bộ, ngoài đôi chân, phương tiện giao thông gần như duy nhất là xe ngựa, vì thế nghề chế tác xe thổ mộ và nghề chuyên chở bằng loại xe này nhanh chóng phát triển. Sự phát triển này còn ghi rõ trong các bài vè, câu hát, ca dao… và trong bài vè chợ Thủ dưới đây cho thấy cùng với nghề mộc (trại cưa) nghề xe thổ mộ rất thịnh hành, số xe tại bến xếp thành hàng dài để chở khách:

“Xuống tới đầu chợ

Trại cưa trước mặt

Thổ mộ có hàng

Rủ nhau soạn bàn

Đi về Bưng Cải

Mênh mông đại hải

Khắp cả Châu Thành”

( chợ Thủ – trích Dân ca Sông Bé, NXB Tổng hợp 1991, trang 49)

Từ xưa nay, chợ Thủ Dầu Một luôn là ngôi chợ trung tâm của tỉnh lỵ, chợ đầu mối đưa nhận khách và hàng hóa đi về giữa Thủ Dầu Một và Sài Gòn – Gia Định hoặc giao nối đi về các thị trấn làng xã trong tỉnh. Vì thế trong bài “Vè 47 chợ” đã mô tả nét đặc biệt về sự nhộn nhịp ra vào “dọc ngang” của đoàn xe thổ mộ tại ngôi chợ quan trọng hàng đầu này:

“…Thiên hạ thất kinh

Là chợ Hớn Quản

Khô như bánh tráng

Là chợ Phan Rang

Xe thổ mộ dọc ngang

Là chợ Thủ Dầu Một

Khỏi lo ngập lụt

Là chợ Bưng Cầu…”

                                 (Vè 47 chợ)

Theo nhiều tài liệu, vào đầu thế kỷ XX, phương tiện giao thông của cả miền Đông Nam bộ chỉ có khoảng năm ba chiếc ô tô (lúc bấy giờ gọi là xe điện), chạy các tuyến đường Sài Gòn – Chợ Lớn, Sài Gòn – Hóc Môn, Sài Gòn – Thủ Dầu Một. Đó là những chiếc xe đò còn rất thô sơ, nhưng chỉ những người quyền quý, có tiền mới dám sử dụng. Còn đa số dân lao động thường đi bộ, khá hơn thì đi xe thổ mộ, nhất là khi có hàng hóa cần phải chuyên chở thường phải dùng đến loại xe ngựa này. Vì vậy, xe thổ mộ có cơ hội phát triển nhanh. Các cơ sở đóng xe ngựa và nuôi ngựa đã sớm được hình thành và cũng hình thành luôn cả một đội ngũ chuyên làm nghề đánh xe ngựa. Tuy xe ngựa đã xuất hiện nhiều nơi ở Nam bộ, nhưng vào thời ấy cả vùng Đông Nam bộ chỉ có vài ba nơi có khả năng sản xuất được chiếc xe ngựa và thường dùng loại phương tiện này là ở Hóc Môn, Gò Vấp, Thủ Dầu Một và Lái Thiêu. Hai trong 4 địa danh ấy nằm trên địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay; Điều đó cho thấy, xe thổ mộ thời xa xưa đã rất phát triển ở Bình Dương. Người ta vẫn gọi xe sản xuất tại đây là xe Thủ Dầu Một để phân biệt với xe nơi khác. Hơn thế, trong việc truyền miệng trong dân gian, nhiều người còn tin rằng chợ Thủ, chợ Lái Thiêu là cái nôi đầu tiên sản sinh ra chiếc xe “thùng Thủ”, tức là chiếc xe ngựa – xe thổ mộ đã nói trên.

Nhiều cụ già đất Thủ cho rằng ở các vùng Tương Bình Hiệp, Tân An, Hiệp An, Phú Cường có nhiều cơ sở đóng thùng xe rất đẹp, bền chắc và trang nhã. Còn nơi làm bánh xe, trục xe bền chắc hơn cả là vùng Thuận Giao, An Thành vì nơi đây có nhiều thợ rèn lành nghề.

Theo các tác giả Pháp là L.De Grammont và Baurac, các chiếc xe song mã sang trọng được đưa vào đất Bình Dương và miền Đông Nam bộ để phục vụ cho một số quý tộc, quan lại Pháp vào những năm 90 thế kỷ XIX. Thấy loại xe này đẹp và tiện dụng, người thợ Bình Dương vốn khéo tay liền mô phỏng để chế tác ra chiếc xe thổ mộ. Việc mô phỏng này thành công dễ dàng, vì ở Bình Dương không chỉ có thợ mộc giỏi mà còn có nhiều loại gỗ quý tốt cứng chắc để làm xe. Lúc đầu trục xe, căm xe làm bằng gỗ cứng, về sau cải tiến làm bằng sắt do các thợ rèn tài nghệ đảm nhiệm, nên xe càng chắc chắn di chuyển càng thêm dễ dàng. Từ chỗ thùng xe đóng không mui, sau cải tiến thành có mui che mưa nắng thêm tiện lợi. Ban đầu chưa có đèn chuông, về sau có gắn đèn chai lồng và lục lạc để báo hiệu…  Đặc biệt, khi hoàn chỉnh một chiếc xe, việc chọn giống ngựa ô, ngựa khỏe ở vùng Tân Sơn Nhất, Gò Vấp, Hóc Môn là một bổ sung rất quan trọng để chiếc xe thổ mộ được đưa ra sử dụng. Kiểu dáng, kích thước của chiếc xe thổ mộ có thể thay đổi cho thích hợp tùy theo công việc sử dụng, nhưng nói chung, vẫn luôn có sự cải tiến cho đẹp hơn, tiện dụng hơn. Kích cỡ xe thổ mộ về sau dài và rộng hơn xe thời trước.

Xe thổ mộ có lợi thế là rẻ tiền, gọn nhẹ, đi lại được nhiều nơi có địa hình phức tạp, nhất là phù hợp với số đông người lao động thời bấy giờ. Nếu tính từ lúc ra đời, xe thổ mộ đất Thủ đã tồn tại trên 100 năm. Trước năm 1945, Bình Dương có rất nhiều xe ngựa, riêng tại chợ Thủ có 3 bến xe thổ mộ với gần 50 chiếc. Tiền xe một người đi xấp xỉ tiền một tô hủ tiếu cho đoạn đường trung bình 10km.

Nhiều người cho rằng vị tiền bối của nghề đóng xe ngựa ở Thủ Dầu Một là cụ Trần Văn Ký, sinh năm 1883. Nhưng người sắm xe thổ mộ sớm nhất tại vùng đất này là ông Hương quản Luốc ở xã Định Hòa (gần chợ Bưng Cầu, thị xã Thủ Dầu Một).

Người cũng nổi danh về nghề đánh xe ngựa mà còn nhiều nơi đều biết tiếng không ai khác hơn là người con trai của vị tiền bối Trần Văn Ký nói trên: đó là ông Sáu Xích, đã có hơn 40 tuổi nghề. Theo ông Sáu, nghề đóng xe ngựa từ xưa không có trường đào tạo mà chỉ là nghề truyền thụ trong gia đình: cha dạy con, con dạy cháu. Cũng theo ông Sáu, phần gay go nhất trong các công đoạn đóng xe vẫn thuộc về phần gia công bánh xe và các bộ phận chịu lực tải, phần thân xe và gọng kéo thì đơn giản. Bánh xe là phần chịu tải chính phải tuyệt đối bảo đảm trong quá trình chế tạo. Một bánh xe ngựa có 6 miếng đà, 12 thanh căm phải làm bằng gỗ giáng hương hoặc gỗ chò. Khó khăn nhất đòi hỏi tay nghề cao là khâu làm sao cho vành đai đế niềng 6 miếng vỏ khít mí.

Hiện nay, nghề xe thổ mộ không còn hoạt động nữa, nhưng Bình Dương vẫn còn là nơi hiếm hoi ở miền Đông Nam bộ có khả năng phục chế được nhiều kiểu xe ngựa trước đây để phục vụ cho nhu cầu của một số cơ sở, trung tâm điện ảnh, du lịch ở phía Nam.

Riêng ông Sáu Xích vừa nói ở trên, nhờ vào kinh nghiệm tay nghề và uy tín cá nhân, ông nhận được hợp đồng tái tạo xe ngựa cho các khu du lịch trong nước và khách nước ngoài. Nhiều loại xe ngựa như xe kính (xe ngựa chở khách có hai cửa), xe lá liễu có mui đều được ông chế tác theo yêu cầu của nơi đặt hàng. Giá một chiếc xe thổ mộ ít nhất cũng trên mười mấy triệu đồng, xe lá liễu thì còn cao giá hơn. Ông Sáu cũng cho biết xu hướng thẩm mỹ của khách mua xe hiện nay: “Chừng mấy năm gần đây yêu cầu thẩm mỹ trong cách trang trí cũng bắt đầu có xu hướng cổ chuộng xưa, cho nên tôi cũng sản xuất theo đơn đặt hàng những chiếc xe thổ mộ, xe lá liễu thu nhỏ để trang trí…”.

Được biết số đơn đặt hàng của các quán cà phê lớn, sang trọng ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh càng gia tăng đối với sản phẩm bánh xe ngựa do ông sản xuất để dùng vào việc trang trí có tính hoài cổ này. Giả một bánh xe ngựa (không dùng để chạy) hơn cả triệu bạc.

Tương tự như vậy, theo nghệ nhân Trần Văn Trí, chủ cơ sở mỹ nghệ Trung Trí cũng cho biết nghề làm bánh xe bò ở các vùng Hưng Định, Vĩnh Phú cũng có cơ may phục hồi đáng kể. Những bánh xe bò làm ra ở đây không phải dùng cho chiếc xe bò mà được xuất khẩu qua nhiều nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Úc, Nhật Bản… để trang trí các khu du lịch, khu resort của họ (Báo Tuổi Trẻ số 256 ngày 18-9-2008).

Một nghệ nhân khác cũng rất nổi tiếng, không phải vì ông chỉ có tài phục chế được các cỗ xe ngựa của Bình Dương xưa, mà trực tiếp tham gia nhiều bộ phim ở nhiều nơi, nhiều phim trường gần mấy chục năm nay, để làm sống lại hình ảnh, bóng dáng của chiếc xe ngựa vùng quê Nam bộ, mà tiêu biểu hơn cả là chiếc xe ngựa Bình Dương do chính ông phục chế và sử dụng trong nhiều phim. Người đó là ông Hai Sộp, con trai của vị tiền bối trong nghề xe thổ mộ là ông Hương quản Luốc đã nói trên. Ông Hai Sộp hiện ở gần Cầu Ngang, chợ Búng, thị trấn An Thạnh. Ông có cả một khu đất rộng dùng cho tàu ngựa là cơ sở để phục chế xe ngựa.

Từ năm 1990, ông Hai đã được mời xuống Long Xuyên đóng phim: “Thời thơ ấu” (kịch bản của nhà văn Nguyễn Quang Sáng) đi bằng chính chiếc xe ngựa do ông chế tác. Sau đó, ông lại xuống Cần Thơ tham gia phim “Chân trời nơi ấy” (đạo diễn Trần Vịnh), tiếp theo là các phim “Trường xưa kỷ niệm” (tại Bình Dương), “Giai điệu quê hương”, “Mùi đu đủ xanh”, “Người Bình Xuyên”… Cũng trong năm 1990, một hãng phim truyền hình Pháp mời ông hỗ trợ cho 9 chiếc xe ngựa (theo yêu cầu của hãng) để thực hiện bộ phim “Người tình”. Thành công của phim này có những đóng góp không nhỏ của ông.

Nhờ chiếc xe ngựa Bình Dương và tài năng của mình, ông đã nghiễm nhiên thành “diễn viên đánh xe ngựa” đặc biệt và quý hiếm vì đồng thời là nhà cung cấp đạo cụ cho các hãng phim trong và ngoài nước ở các cảnh quay có sử dụng ngựa hoặc xe ngựa.

Ngoài việc “đóng phim”, ông còn đem ngựa, xe ngựa tham gia các lễ hội lớn như Festival Huế và thường nhận đóng vai phục chế các kiểu xe theo đơn đặt hàng của các hãng phim, các khu du lịch như: Bình Quới, Văn Thánh…

Sở dĩ ông làm được nhiều việc chung quanh cái nghề (chế tác và sử dụng ngựa) tưởng chừng như đã đi dần vào sự quên lãng vì ông có được vốn hiểu biết sâu sắc về nghề này. Nhất là nhờ ông có được lòng say mê và cả sự quý trọng nghề truyền thống của cha ông. Được biết, khi nghề sản xuất và chạy xe thổ mộ ở Bình Dương đã không thể tồn tại và phát triển nữa, các đồng nghiệp của ông đều chuyển nghề… Bao nhiêu đồ phụ tùng xe ngựa của bạn bè giải nghệ, ông đều thu mua, gom lại chất đầy kho. Không ngờ sau đó trở thành “kho tư liệu” quý hiếm không dễ ai cũng có được. Nói về con người đặc biệt này, nhạc sĩ Võ Đông Điền – một nhạc sĩ nổi tiếng ở Bình Dương đã viết: “Giữa cái tất bật hối hả của cuộc sống công nghiệp vẫn còn có một người âm thầm muốn níu lại hồn quê”. Người đó chính là nghệ nhân Hai Sộp.

Như thế, nghề chế tác và chạy xe thổ mộ là một nghề truyền thống khá lâu đời, gắn bó, quen thuộc với cư dân Bình Dương trong nhiều thập kỷ. Tuy nay nghề này không còn hoạt động nữa, nhưng vẫn còn ghi lại nhiều dấu ấn đậm nét trong trí nhớ nhiều người ở đây. Hình ảnh chiếc xe ngựa trên các nẻo đường làng, trong các lễ hội, đám cưới quê… đã từng tồn tại như một nét sinh hoạt văn hóa của người Bình Dương và có lẽ của cả vùng quê Đông Nam bộ xưa. Vì thế, đến nay vẫn có nhiều người, trong đó không ít người trẻ tuổi vẫn luôn hy vọng rằng, chiếc xe thổ mộ thân quen ấy rồi sẽ tái hiện ở đâu đó trong những không gian của các lễ hội hoặc ở các khu du lịch văn hóa, sinh thái của đô thị Bình Dương cũng như các đô thị đang trên đường công nghiệp hóa và hiện đại hóa…

H.H – H.A

Ghi chú: Bài viết có tham khảo TL về chiếc xe ngựa TDM – BD của các tác giả: Trường Ký, Đỗ Ngọc, Lê Công Hiếu, Vũ Hùng, Điền Vũ trên các báo và TC Bình Dương.

http://www.sugia.vn