Siêu chu kì hàng hoá – Lạm phát – Chứng khoán


Lạm phát ảnh hưởng thế nào đến thị trường chứng khoán

Hình minh hoạ thị trường chứng khoán

Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường chứng khoán? Phố Wall hồi giữa tháng 5 giảm điểm, một phần là do lạm phát đã có dấu hiệu tăng cao nhưng việc lạm phát hiện tại có ảnh hưởng tiêu cực trong dài hạn lên thị trường chứng khoán hay không vẫn là một dấu hỏi. 

Lạm phát cao thường được coi là tín hiệu tiêu cực cho thị trường chứng khoán vì khiến cho chi phí vay, chí phí đầu vào (nguyên vật liệu, lao động) tăng theo, và giảm mức sống của người dân. Điều quan trọng nhất là lạm phát sẽ khiến cho tăng trưởng thu nhập kỳ vọng giảm xuống, gây áp lực cho giá cổ phiếu. 

Lạm phát trái kỳ vọng là vấn đề

Tất nhiên, thị trường chứng khoán chắc chắn sẽ đưa ra dự báo về mức lạm phát mỗi năm, và thông qua đó điều chỉnh lợi nhuận kỳ vọng để thoát khỏi sức ảnh hưởng của lạm phát. 

Ví dụ, nếu nhà đầu tư đặt mục tiêu tỷ suất lợi nhuận ròng 6%/năm sau lạm phát (bao gồm cổ tức), và mức lạm phát đang ở 2%/năm, họ chắc chắn sẽ mong muốn tỷ suất lợi nhuận trong năm đó ít nhất 8%. 

Nhưng nếu lạm phát đột ngột tăng từ 2% lên 4% trong một khoảng thời gian ngắn, những dữ liệu thu thập trong quá khứ cho thấy thị trường sẽ phản ứng tiêu cực. 

Đó là vì nhà đầu tư giờ đây đòi hỏi tỷ suất lợi nhuân cao hơn để bù đắp lại những rủi ro họ phải đối mặt. Thay vì lợi nhuận 8%, nhà đầu tư sẽ nâng kỳ vọng lên ít nhất 10% và giá cổ phiếu sẽ nhiều khả năng giảm xuống. 

Sự thay đổi trong kỳ vọng là minh chứng rõ ràng nhất từng được ghi nhận trong quá khứ. Một nghiên cứu vào năm 2000 được thực hiện bởi A. Shape tới từ Fed kết luận rằng “kỳ vọng thị trường về tỷ suất lợi nhuận thực tế, đặc biệt là trong dài hạn, thường tỷ lệ thuận với lạm phạm kỳ vọng… lạm phát khiến cho kỳ vọng về tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu dài hạn tăng”. Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán.

Lạm phát thời bùng nổ và khủng hoảng

Để hiểu được mối lên hệ trên thực sự không phải là điều dễ dàng. Các cổ phiếu phản ứng tiêu cực với lạm phát thậm chí còn mạnh hơn khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Mức độ phản ứng lớn hơn nhiều so với thời điểm nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ. 

Điều này hoàn toàn hợp lý. Khi nền kinh tế đang giảm tốc, lợi nhuận cũng như doanh thu thường giảm xuống, với không ai quan tâm tới vấn đề lạm phát. Khi nền kinh tế bùng nổ, lợi nhuận chắc chắn sẽ tăng cao (giống như thời điểm hiện tại) và nền kinh tế rất có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao hơn.

Tùy ngành nghề và lĩnh vực

Tác động của lạm phát là không giống nhau giữa các lĩnh vực. Ví dụ, cổ phiếu tăng trưởng có khả năng sẽ giảm giá khi lạm phát tăng cao. Đó là vì các cổ phiếu tăng trường có kỳ vọng lợi nhuận cao hơn trong tương lai, và khi lạm phát tăng cao, những kỳ vọng tương lai đó chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. 

Hãy mường tượng, bạn có một công ty giá trị có thể làm ra được 1 USD mỗi năm trong vòng 10 năm. Bạn cũng có một công ty tăng trưởng nhưng chỉ có thể làm ra 0,1 USD trong năm tới, nhưng 0,2 USD trong năm tiếp theo, 0,4 USD trong năm tiếp theo nữa, và cứ thế sau 10 năm, công ty này được kỳ vọng sẽ thu về 10 USD. 

Đối với cổ phiếu giá trị, mỗi năm, công ty sẽ mang lại một mức lợi nhuận không đổi. Đối với cổ phiếu tăng tưởng, lợi nhuận sẽ tăng cao trong tương lại.

Các nhà đầu tư mua cổ phiếu tăng trưởng thường tính toán giá trị hiện tại của dòng lợi nhuận trong tương lai. Khi lạm phát hoặc lãi suất bắt đầu tăng cao hơn kỳ vọng sẽ khiến cho giá trị đó giảm xuống. 

Một phần lý do là lãi suất đối với trái phiếu phi rủi ro của chính phủ cũng sẽ tăng lên, khiến cho trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn so với cổ phiếu.

Một lý do khác là lạm phát và lãi suất cao hơn sẽ ảnh hưởng tới triển vọng lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp.

“Cổ phiếu tăng trưởng có thời gian đáo hạn bình quân lâu hơn so với cổ phiếu giá trị vì chúng có thể mang lại lợi nhuận cao hơn trong tương lại”, theo Larry Swedroe. Giám đốc trung tâm nghiên cứu của Viện quản lý Tài sản chiến lược Buckingham. “Nếu như lạm phát tăng cao, mức lợi nhuận bạn nhận được trong tương lai cũng giảm xuống”. 

Các cổ phiếu công ty có vốn hóa nhỏ, đặc biệt là các cổ phiếu tăng trưởng, thường bị ảnh hưởng vì nhạy cảm hơn đối với lãi suất. 

Các cổ phiếu cổ tức cao, giống như cổ phiếu lĩnh vực tiện ích và bất động sản, cũng sẽ bị ảnh hưởng vì nhà đầu tư giờ đây có trái phiếu lãi suất cao của chính phủ như là một phương án thay thế, vì cổ tức thường không bắt kịp đà tăng của lạm phát.

Lạm phát mang lại điều tích cực gì cho thị trường chứng khoán?

Lạm phát không hẳn “tồi tệ” như mọi người vẫn nghĩ. Lạm phát thậm chí còn giúp mang lại một số lợi ích nhất định. Ví dụ, trong một vài trường hợp, lạm phát vừa phải có thể giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

“Lạm phát vừa phải nên được nhìn nhận là hiện tượng tốt, vì là dấu hiệu cho một nền kinh tế đang tăng trưởng, và các doanh nghiệp có thể nâng giá bán hàng hóa, dịch vụ của mình”, Swedroe chia sẻ. 

Thậm chí, tại nhiều thời điểm, lạm phát đạt đến “điểm tối ưu”. “Khi đánh giá tỷ suất lợi nhuận trên sàn S&P 500, có điều chỉnh với lạm phát, kết quả cho thấy mức tỷ suất lợi nhuận thực tế cao nhất đạt được khi lạm phát từ 2% tới 3%”, theo bài viết của chuyên gia phâm tích đầu tư Kristina Zucchi trên Investopedia.

Đó là điều mà đang có ở thời điểm hiện tại.

Các cổ phiếu cũng có thể có vài biện pháp bảo vệ để chống lại lạm phát, theo Zucchi. “Theo lý thuyết, cổ phiếu nên có một vài biện pháp phòng hộ đối với lạm phát, vì doanh thu và lợi nhuận của một công ty nên tăng trưởng tương đồng với tỷ lệ lạm phát, sau một giai đoạn điều chỉnh” bà cho biết.

Tại sao thị trưởng nổi sóng khi CPI chỉ tăng vừa phải?

Lạm phát chỉ mang lại những lo lắng. “Khi lạm phát tăng quá cao, Fed bắt buộc phải hành động”, ông chia sẻ.

“Nếu như thị trường cho rằng Fed sẽ có những biện pháp thắt chặt trong trường hợp lạm phát chạm 4%, thị trường sẽ bắt đầu có những phản ứng trước khi Fed đưa ra hành động. Fed không thể hiện rõ mức độ của hành động mà họ sẽ thực hiện”. Do đó, thị trường đang tham gia một trò chơi mang nhiều tính chất dự đoán. 

Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán. 

Vì tính thanh khoản mà Fed cung cấp là một chỉ số quan trọng giúp hình thành nên giá cổ phiếu, việc loại bỏ đi nó sẽ gây ra những tác động tiêu cực, vì điều đó có nghĩa là sẽ có ít tiền hơn được bơm vào thị trường.

Trọng Đại (Theo CNBC) / NDH

—-

Khi nào siêu chu kỳ hàng hóa tiếp theo xảy ra?

Hình minh hoạ Siêu Chu Kì Hàng Hoá

Trong bối cảnh các chính phủ ồ ạt đổ tiền để phục hồi kinh tế thông qua loạt dự án cơ sở hạ tầng và năng lượng sạch, thị trường hàng hóa xuất hiện dấu hiệu phát triển bùng nổ với giá cả lên cao nhất nhiều năm, dấy lên lo ngại về lạm phát. Các sự kiện chấn động như vậy làm giàu cho những quốc gia và thương nhân đang kiểm soát nguồn tài nguyên cũng như có đủ sức mạnh để định hình thị trường hàng hóa thế giới.

Siêu chu kỳ là gì?

Siêu chu kỳ là trong một thời gian dài, thị trường chứng kiến tăng trưởng nhu cầu mạnh tới nỗi các nhà cung cấp phải vật lộn để đáp ứng đủ, từ đó dẫn tới tình trạng giá cả hàng hóa liên tục tăng trong nhiều năm, đôi khi là kéo dài hơn một thập kỷ. Điều này trái ngược với một chu kỳ tăng giá ngắn ngủi được tạo ra bởi cú sốc nguồn cung như mất mùa hay đóng cửa các mỏ quặng.

Siêu chu kỳ có xu hướng xảy ra trùng với thời kỳ công nghiệp quá và đô thị hóa nhanh. Siêu chu kỳ gần nhất được “châm ngòi” bởi sự phát triển chóng mặt của Trung Quốc sau khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, động thái giúp loại bỏ các rào cản đối với thương mại.

Các chuyên gia kinh tế xác định có 3 siêu chu kỳ khác từng xảy ra kể từ đầu thế kỷ 20, mỗi siêu chu kỳ lại bị chi phối bởi một sự kiện chuyển đổi. Quá trình công nghiệp hóa tại Mỹ tạo ra siêu chu kỳ đầu tiên vào đầu những năm 1900. Siêu chu kỳ thứ 2 đến từ làn sóng tân trang vũ trang và sự trỗi dậy của Đức Quốc Xã trong những năm 1930. Cuối cùng, quá trình tái thiết ở châu Âu và Nhật Bản sau Thế Chiến II thúc đẩy siêu chu kỳ thứ 3.sieu-chu-ky-1-5945-1622343002.jpg

Điều gì có thể kích hoạt siêu chu kỳ tiếp theo?

Mỹ đã bơm hàng nghìn tỷ USD để ngăn chặn nền kinh tế sụp đổ trong cuộc khủng hoảng y tế vì đại dịch Covid-19. Quốc gia này cũng lên kế hoạch tăng chi tiêu vào hạ tầng để xây dựng lại hệ thống cầu đường và lưới điện, những dự án cần một khối lượng vật liệu, như thép và xi măng, khổng lồ.

Hậu đại dịch, các quốc gia lớn khác tại châu Âu và khu vực khác có thể cũng đổ tiền vào cuộc chuyển đổi năng lượng, từ chuyển sang dùng điện tái tạo, xe điện tới mọi thứ cần thiết để loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm. Điều này có nghĩa là họ sẽ cần nhiều đồng hơn để sản xuất xe điện và trạm sạc điện, cùng với các vật liệu khác để làm cuộc cách mạng điện như lithium, cobalt, nickel, than chì và đặc biệt là đất hiếm, thứ cần cho các sản phẩm công nghệ cao và pin.

Dấu hiệu là gì?

Đầu năm 2021, giá nhiều hàng hóa bùng nổ và có một số dự báo cho rằng chúng sẽ tiếp tục tăng mạnh.

Giá đồng vượt 10.000 USD/tấn trong tháng 4 và Trafigura Group, nhà kinh doanh đồng hàng đầu thế giới, dự đoán giá có thể chạm 15.000 USD/tấn trong thập kỷ tới.

Giá đậu tương và ngô cũng lên cao nhất trong nhiều năm qua do nhu cầu tăng mạnh ở Trung Quốc khi quốc gia này tái đàn lợn. Làn sóng xây dựng mạnh mẽ gây bất ngờ cho các nhà máy cưa ở Bắc Mỹ khi đẩy giá gỗ xẻ lên kỷ lục.

Giá vận chuyển cũng tăng mạnh với Chỉ số Drewry World Container ngày 27/5 cho thấy cước phí vận chuyển một container 40 ft từ Thượng Hải, Trung Quốc, đến Rotterdam, Hà Lan, tăng lên 10.174 USD, tăng 3,1% so với một tuần trước đó và 485% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất kể từ khi bắt đầu ghi nhận năm 2011. Giá dầu cũng phục hồi trước dấu hiệu cho thấy mọi người bắt đầu lái xe nhiều hơn.

Sẽ kéo dài bao lâu?

Giá kim loại cao là quyết định của các công ty khai khoáng lớn trên thế giới cách đây nửa thập kỷ nhằm ngừng bơm nguồn cung khổng lồ vào thị trường thế giới và tập trung cải thiện khả năng sinh lời. Giờ đây, việc mở rộng các mỏ mới sẽ mất nhiều thời gian ngay cả khi Trafigura ước tính thế giới cần thêm 10 triệu tấn đồng mỗi năm tới năm 2030.

Việc Trung Quốc kiểm soát khí thải cũng có thể tác động đến giá, với các nhà sản xuất thép đang chịu áp lực lớn trong việc hạn chế sản lượng. Có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ một nửa sản lượng kim loại toàn cầu, đang tích trữ nguyên liệu thô.

Trong số những chuyên gia lạc quan, nhóm phân tích tại JPMorgan Chase & Co dự đoán đà tăng giá của thị trường hàng hóa sẽ làm nên thời kỳ phục hồi kinh tế bùng nổ hậu đại dịch. Một số người khác lại cho rằng đợt tăng giá đột biến này có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn do người tiêu dùng tập trung nhiều hơn vào dịch vụ, giảm bớt nhu cầu vào những mặt hàng thâm dụng như điện tử và thiết bị gia dụng.

Tại sao siêu chu kỳ lại quan trọng?

Một mặt, siêu chu kỳ có thể thúc đẩy lạm phát. Tức là giá hàng hóa tăng có nguy cơ đẩy giá thực phẩm, từ lát sandwich tới tòa nhà chọc trời, lên cao. Thật vậy, năm 2021 đã gây ra một cuộc tranh luận về khả năng các ngân hàng trung ương có thể phải giảm các biện pháp hỗ trợ kinh tế, một ý tưởng đã làm chao đảo thị trường tài chính.

Tuy nhiên, giá hàng hóa bùng nổ có thể gây ra những hậu quả to lớn đối với sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tiền và quyền lực. Cuốn sách “The World for Sale” từng nhận định cần phải hiểu cách dầu mỏ và kim loại làm giàu cho những quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú như Australia, Brazil, Chile, Arab Saudi và Nigeria, cũng như việc dòng tiền chảy từ thị trường vào túi của các ông trùm và quan chức tham nhũng ra sao.

Những siêu chu kỳ như vậy có thể tác động đến chiến tranh, tranh chấp biến giới và thay đổi tiến trình lịch sử.

Thanh Long (Theo Bloomberg) / NDH

Thị trường chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn


Khi kinh tế và chứng khoán “đường tình đôi ngả”

“Tôi chưa bao giờ thấy thị trường cổ phiếu và nền kinh tế xa cách nhau như lần này”, Mohamed El Erian, cố vấn kinh tế trưởng của Tập đoàn Allianz và chủ tịch Trường Queens’ College thuộc Đại học Cambridge, nhận định khi trả lời phỏng vấn CNBC đầu năm 2021. Ông là một trong những kinh tế gia có ảnh hưởng và nhận xét chính xác nhất về diễn biến kinh tế thế giới năm 2020 mà tôi biết.

Hình minh hoạ thị trường chứng khoán

Kinh tế toàn cầu trải qua một năm 2020 đầy mất mát. Bản đồ tăng trưởng của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) toàn màu đỏ: ở châu Á, số nền kinh tế không rơi vào suy thoái chỉ đếm trên đầu ngón tay – mà đây là khu vực lâu nay được coi là có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới. Việt Nam may mắn là một trong số đó, nhưng mức tăng trưởng cũng chỉ là 2,91%, kém rất xa mức bình quân tính từ 2010.

Kinh tế xấu – chứng khoán 
lại tăng

Con số tăng trưởng kinh tế dương này làm lu mờ phần nào những khó khăn thật của nền kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 9-2020, cả nước có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch COVID-19, bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập. Nghĩa là tính gần đúng thì cứ 3 người dân, có một người giảm thu nhập do dịch bệnh. Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất: gần 70% lao động bị ảnh hưởng.

Thống kê số doanh nghiệp thành lập mới (giảm 2,3%) và ngừng hoạt động (tăng gần 14%) trong năm 2020 cho thấy một khó khăn khác. Bù trừ cho nhau, các con số đó đồng nghĩa trung bình mỗi tháng có gần 8.500 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, đi kèm là rất nhiều công ăn việc làm mất đi. Doanh nghiệp dừng hoạt động hàng loạt thì nợ xấu của ngân hàng cũng tăng lên, dù chưa mạnh – đã vượt mức 2% từ cuối quý 3. 

Mức này chưa nguy hiểm, nhưng cũng không còn tốt như đầu năm. Thật ra, tỉ lệ nợ xấu thấp này được hỗ trợ không ít bởi thông tư 01/2020, vốn có các điều kiện ràng buộc còn lỏng lẻo với ngân hàng. Theo báo cáo của FiinGroup, nếu không có thông tư 01 về cơ cấu lại nợ, tỉ lệ nợ xấu và tỉ lệ tạo mới nợ xấu trong năm 2020 sẽ ở mức cao hơn đáng kể.

Trong bức tranh kinh tế nhiều điểm tối như vậy, việc thị trường chứng khoán tăng mạnh kể từ đáy tháng 4-2020 là đáng ngạc nhiên. Vào khoảng tháng 2-2020, hầu hết dân đầu tư cổ phiếu mà tôi nói chuyện đều bày tỏ năm nay chỉ hi vọng không lỗ là được. Cần nhớ lại không lâu trước đó, năm 2019 khép lại với mức tăng trưởng chưa tới 8% của VN-Index và 3% của VN30 Index. Có người đùa là mua cổ phiếu tệ hơn gửi tiết kiệm ngân hàng.

Vậy mà đến cuối 2020, bất kể nhà đầu tư ở thị trường nào, từ Mỹ, Anh, Úc, cho tới VN, ai ai cũng nói với tôi là họ rất hài lòng với thành quả đầu tư của mình. Nhiều phương tiện truyền thông hình dung năm 2020 là năm thăng hoa của chứng khoán Việt. Một trong những đặc thù đáng chú ý là sự gia tăng vai trò của dòng tiền từ các nhà đầu tư nội địa. 

Điều này cũng tương tự xu thế ở nhiều nước khác, khi nhà đầu tư cá nhân trở thành lực lượng năng động nhất trên thị trường giai đoạn tháng 3 đến tháng 8-2020.

Giá của “tiền rẻ”

Với đa số giới phân tích tài chính, nguyên nhân chỉ có hai chữ: “tiền rẻ”. Ngân hàng trung ương nhiều nước trên thế giới đang kéo lãi suất xuống thấp đến mức không thể thấp hơn và bơm vào thị trường tài chính một lượng tiền cực lớn, ước tính sơ bộ gần 8.000 tỉ đôla. 

“Đóng góp” lớn nhất trong đó là Mỹ, khoảng 3.000 tỉ đôla, khiến bảng cân đối tài sản của Cục Dự trữ liên bang (FED) tăng từ 4.000 tỉ lên trên 7.000 tỉ đôla. FED bơm tiền bằng cách mua lại trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty Mỹ, đẩy lãi suất ngắn và trung hạn ở Mỹ về gần 0% và lãi suất dài hạn 10 năm về chỉ còn 1%.

Lãi suất quá thấp là nguyên nhân chính đẩy giá đủ loại tài sản, bao gồm bất động sản và cổ phiếu. Trong dịch COVID-19, giá nhà ở Anh và Mỹ đều tăng mạnh, vì các khoản vay mua nhà đang có lãi suất thấp kỷ lục. Tương tự, do các tài sản tài chính thay thế như gửi tiết kiệm, trái phiếu chính phủ có mức lãi suất chỉ trên 0% một chút, thậm chí âm (nếu mua trái phiếu châu Âu), các nhà tư vấn tài chính đành khuyên khách hàng mua cổ phiếu, nhất là các cổ phiếu công nghệ. 

Bất chấp suy thoái kinh tế, giá một số cổ phiếu công nghệ của Mỹ tăng 5-10 lần, khiến Elon Musk trở thành người giàu nhất thế giới và nhiều người mua cổ phiếu công nghệ của Mỹ trở thành triệu phú sau năm khốn khó với đại đa số dân chúng vừa qua.

Mỉa mai thay, trong khi Ngân hàng Thế giới (WB) công bố 2020 là năm mà hàng chục triệu người sẽ phải quay về sống dưới mức nghèo khổ, thì thị trường chứng khoán thế giới lại tạo ra một lượng lớn triệu phú mới.

Ở VN, lãi suất cũng bị giảm thấp như ở nhiều nước, do đó nhiều người đã rút tiền tiết kiệm để mua cổ phiếu. Ngoài ra, còn một lượng lớn nhà đầu tư chuyển vốn từ bất động sản vào chứng khoán, đẩy giá cổ phiếu càng tăng mạnh. Một trải nghiệm cá nhân: năm qua, nhiều người quen vốn rất thành đạt trong lĩnh vực bất động sản đã hỏi tôi cách “chơi cổ phiếu” với số tiền bỏ vào không nhiều tỉ đồng mỗi người.

Bi hài “nhà đầu tư F0”

Giới kinh doanh cổ phiếu trong năm qua kháo nhau vài câu chuyện buồn cười về các nhà đầu tư mới tham gia thị trường kiểu này, thường được gọi là các “nhà đầu tư F0”.

Ở VN, do có nhiều nhà đầu tư mới tham gia thị trường, mà thị trường có nhiều mã cổ phiếu giông giống nhau, nên có người được tư vấn mua cổ phiếu VIC (Tập đoàn Vingroup) lại đi mua VCI (Công ty chứng khoán Bản Việt), mua lầm, nhưng rốt cuộc VCI lại lời hơn VIC rất nhiều!

Trên thế giới thì vào khoảng tháng 3, do nhiều người đổi sang dùng dịch vụ hội thoại trực tuyến Zoom của Công ty Zoom Video Communications (mã cổ phiếu ZM), nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ đổ vào mua cổ phiếu của công ty… Zoom Technologies (ZTNO) – vốn chẳng “lan quyên” gì với ZM cả. Vậy mà ZTNO cũng tăng được từ gần 2 đôla lên hơn 20 đôla, rồi khi thông tin “cải chính” đã loan đi rộng rãi, lại rớt xuống còn… 0,2 đôla! (ZM thì đã tăng 4 lần so với đáy tháng 3-2020).

Gần đây lại thêm một vụ tương tự: ông Musk, giờ đã là người giàu nhất thế giới, đăng dòng trạng thái “Sử dụng Signal” trên Twitter, nhiều người lập tức đổ vào mua cổ phiếu Signal Advance. Sau đó nhiều người mới biết té ra Signal là ứng dụng tin nhắn được mã hóa do một tổ chức phi lợi nhuận phát triển, chứ chẳng dính líu gì tới công ty niêm yết Signal Advance cả! Tờ Financial Times đăng hình cổ phiếu Signal Advance tăng… 4.600% kèm bình luận mỉa mai: thị trường “hoàn toàn bình thường”.

Nhưng những chuyện tiếu lâm đó còn che giấu những bi kịch. Năm 2020, một bạn trẻ 20 tuổi ở Mỹ đầu tư quyền chọn (option) qua Robinhood. Vì là “tay chơi mới”, không biết cách đọc và tính toán lời lỗ của quyền chọn, nên bạn ấy bị lỗ nhẹ, nhưng cũng do không biết, lại tưởng mình lỗ hơn 700.000 đôla. Quá hoảng sợ, nhà đầu tư đó đã tự tử! Trong những dòng di thư căm phẫn để lại, bạn trẻ đấy nói không biết mình đang làm gì.

Tình trạng “đường tình đôi ngả” của nền kinh tế thực so với thị trường cổ phiếu, cũng như những câu chuyện về giới đầu tư F0 như thế đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm.

Đó là việc hàng chục triệu người bị ảnh hưởng tiêu cực, giảm thu nhập, thất nghiệp, trong khi hàng trăm ngàn người kiếm được nhiều tiền chỉ nhờ “tiền rẻ”, lãi suất thấp qua hoạt động đầu cơ tài sản tài chính, cụ thể là cổ phiếu. Dịch COVID-19 sẽ khiến khoảng cách giàu nghèo càng lớn thêm. Tiền mà chính quyền tưởng là đi vào hỗ trợ nền kinh tế thật ra chạy lòng vòng trong hệ thống tài chính, và chỉ làm giàu cho một số ít người. Bong bóng tài sản hình thành, còn kinh tế vẫn khó khăn, thất nghiệp vẫn hoàn thất nghiệp.

Mặt khác, khi chứng khoán tăng điểm nhờ tiền rẻ, nó còn gây ra nguy cơ “nghiện tiền rẻ” – vòng xoáy xuống đáy mà chỉ cần một động thái thắt chặt quy định về các kênh hỗ trợ tài chính – chẳng hạn như sửa đổi thông tư 01 – thị trường sẽ “hồi hộp” ngay.

Trong bối cảnh dịch bệnh, các ngân hàng thương mại vẫn phải giữ lãi suất thấp, thậm chí là “hi sinh” để giảm lãi suất hơn nữa, như chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước gần đây. Như vậy thì tiền sẽ vẫn rẻ, và bong bóng cổ phiếu còn có thể phình to. Đến khi tiền bị rút về, lãi suất bắt đầu tăng, sự tháo chạy của “dòng tiền F0” có thể gây ra hoảng loạn. 

Lúc đó, nhiều người sẽ mất tiền, thậm chí là mất trắng – nhất là những người tham gia ở đỉnh của cơn sóng hiện nay, cũng là những người ít hiểu biết về thị trường nhất và bị thu hút vào chơi cổ phiếu do thấy ai cũng đang “khoe giàu” nhờ chứng khoán. Thiết kế chính sách do đó phải nhắm vào khôi phục nền kinh tế thực, hướng dòng tiền vào nơi cần nhất, cụ thể là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang rất thiếu vốn, cơ sở hạ tầng, lĩnh vực sản xuất… thay vì để tiền rẻ chỉ đem lại lợi ích cho giới đầu tư và đầu cơ tài chính.

HỒ QUỐC TUẤN / Theo TTCT


VN-Index gần ngưỡng kỷ lục:

Những gam màu lẫn lộn

Thị trường chứng khoán đang bùng nổ bất ngờ khi VN-Index ngấp nghé vượt đỉnh cũ. Nhưng chỉ số càng tăng, không ít nỗi lo càng lớn.

Chứng khoán Việt Nam những ngày đầu năm tăng liên tiếp, tiến sát 1.200 điểm – cột mốc mà không mấy chuyên gia dự đoán cách đây chưa lâu. Thanh khoản toàn thị trường cũng tăng vọt: chỉ trong tuần đầu tiên của năm, hơn 1,07 tỉ cổ phiếu, tương ứng giá trị giao dịch hơn 21.350 tỉ đồng, đã đổi chủ.

Không khí hưng phấn

Dòng tiền đang đổ rất mạnh vào thị trường đặc biệt đến từ khối nội. Thống kê của Ủy ban Chứng khoán nhà nước cho thấy trong năm 2020, nhà đầu tư trong nước mở mới hơn 390.000 tài khoản chứng khoán – mức kỷ lục từ trước tới nay và tăng đến 109% so với năm trước.

VN-Index đang hưởng lợi từ môi trường lãi suất thấp mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng để hỗ trợ nền kinh tế vượt đại dịch. Lãi suất kỳ hạn một năm đã giảm mạnh từ 8% xuống chỉ còn 6%. Theo nhận định của chứng khoán Rồng Việt, trong các tháng tới, dòng tiền dự kiến vẫn tiếp tục đổ mạnh vào chứng khoán bởi “lãi suất cho vay và tiền gửi tiết kiệm có thể tiếp tục giữ ở mức thấp do doanh nghiệp vẫn cần ít nhất 1-2 năm để hồi phục. Các ngành hưởng lợi là những lĩnh vực có sử dụng đòn bẩy tài chính cao”.

Các chỉ số vĩ mô góp phần làm tăng sức nóng thị trường, bao gồm triển vọng kinh tế phục hồi sáng sủa. Thống kê chính thức cho thấy tỉ lệ thất nghiệp giảm xuống 2,5% sau mức cao nhất vào tháng 6 là 2,7%. Tốc độ tăng trưởng tiêu dùng và tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ cũng khả quan hơn và được dự báo tăng vào năm 2021. 

Là quốc gia kiềm chế COVID-19 hiệu quả, VN trở thành một điểm đến của giới đầu tư quốc tế. Một sự so sánh là Trung Quốc: dòng tiền FII (tiền đầu tư nước ngoài từ các định chế tài chính) đổ vào quốc gia này tăng mạnh 25% trong năm 2020 ngay sau khi Trung Quốc kiểm soát được đại dịch. Sự tăng giá của đồng nhân dân tệ cũng giúp hàng hóa xuất khẩu của VN cạnh tranh hơn.

Nguy cơ bong bóng

Nhưng trên bức tranh đa sắc, vẫn có những gam màu xám. Không ít lo ngại xuất hiện khi VN-Index tăng quá nhanh trong bối cảnh triển vọng phục hồi của nền kinh tế vẫn chỉ là dự báo.

Vina Capital nhận định có tình trạng dòng tiền nóng rót quá nhiều vào chứng khoán và bất động sản, thay vì nền kinh tế thực. Số lượng tài khoản chứng khoán mở mới tăng vọt phản ánh giấc mơ của nhiều người dân – những nhà đầu tư đơn lẻ – trong việc tìm kiếm lợi nhuận cao hơn khi kênh gửi tiết kiệm ngân hàng không còn hấp dẫn. Một khi nhiều người tham gia hơn, khuynh hướng đầu cơ cũng sẽ được đẩy lên cao.

Những lúc hưng phấn thế này cũng chính là khi phải nhắc lại các bài học sụp đổ trong quá khứ. Theo chứng khoán Rồng Việt, hành vi bầy đàn (herd behavior) thường xuất hiện khi con người làm theo người khác thay vì đưa ra các quyết định thật sự độc lập và duy lý. 

Trong lĩnh vực tài chính, hành vi này dễ dẫn đến lựa chọn bất hợp lý, không dựa trên tính toán thực tế và tạo ra bong bóng tài sản. Mặt bằng lãi suất thấp cũng khiến chi phí sử dụng vốn giảm, đồng nghĩa các loại cổ phiếu thường được định giá ở mức cao hơn giá trị nội tại (intrinsic value), một cạm bẫy rất nguy hiểm với nhà đầu tư cá nhân.

Thông tin vĩ mô cũng không chỉ toàn màu hồng. Thực tế là năm 2021 này, VN vẫn phải đối mặt hai thách thức lớn hiển hiện: rủi ro bị Mỹ áp thuế hàng xuất khẩu và nguy cơ nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng mạnh. Đó là chưa kể rủi ro tái bùng phát COVID-19.

Hiện Ngân hàng Nhà nước đang có ý định sửa đổi thông tư 01/2020 có hiệu lực ngay đầu năm nay nhằm đảm bảo sự an toàn và lành mạnh của nền tài chính quốc gia trong trung hạn. Theo đó, hệ thống ngân hàng có thể bị buộc phải xác định lại hợp lý hơn cơ cấu lãi, thời điểm, thời gian, đối tượng của các khoản cho vay, và xác định những khoản trích lập dự phòng để đảm bảo an toàn khi xảy ra tình huống không mong đợi.

Nếu thông tư được sửa đổi theo hướng đó, báo cáo lợi nhuận của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể, thậm chí có thể chuyển từ dương sang âm ở một số ngân hàng nhỏ. “Tuy tin tưởng vào triển vọng phục hồi của nền kinh tế cũng như khả năng chính phủ không muốn lặp lại bài học khủng hoảng nợ xấu giai đoạn 2011-2012, nhưng chúng tôi cho rằng giới phân tích thường đánh giá thấp rủi ro thực tế của nợ xấu với quy mô có thể tăng mạnh từ 2-3% trước đại dịch lên tới 8-10% vào cuối 2021 trong tình huống tệ nhất”, Vina Capial cảnh báo.

Năm 2020, các nhóm ngành tăng trưởng mạnh nhất là tài chính – ngân hàng, bất động sản, trong khi nhóm cổ phiếu năng lượng, du lịch, và hàng không chịu áp lực bán mạnh nhất. Xu thế đó có thể sẽ tiếp tục trong năm nay.

NAM MINH / Theo TTCT


Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn

Theo số liệu từ Bloomberg, 2 phiên điều chỉnh mạnh vừa qua đã giúp định giá P/E của VN-Index “hạ nhiệt”, chỉ còn khoảng 18,9, trong khi vào cuối tuần giao dịch trước, P/E VN-Index lên tới xấp xỉ 20. Thời gian tới khi các doanh nghiệp công bố KQKD quý 4 sẽ giúp P/E thị trường tiếp tục giảm xuống bởi lợi nhuận quý 4 được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng.
Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn
chứng khoán Việt Nam bất ngờ giảm sâu trong phiên giao dịch 19/1

Trái với diễn biến tích cực của nhiều thị trường Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…chứng khoán Việt Nam bất ngờ giảm sâu trong phiên giao dịch 19/1. Có thời điểm chỉ số VN-Index mất tới 74,71 điểm (-6,27%), mức giảm kỷ lục từ trước tới nay. Tuy vậy, lực cầu giá cao tăng lên trong phiên chiều đã giúp các chỉ số thu hẹp đà rơi và VN-Index đóng cửa chỉ còn giảm 60,94 điểm (-5,11%) xuống 1.131 điểm.

Mức giảm 5,11% trong phiên giao dịch đã đưa VN-Index trở thành thị trường có biến động “tệ” nhất Châu Á trong phiên 19/1. Vốn hóa sàn HoSE sau phiên 19/1 cũng bị “thổi bay” hơn 225 nghìn tỷ đồng (~9,7 tỷ USD).

Dù thị trường vừa trải qua phiên điều chỉnh mạnh, khiến nhiều nhà đầu tư “F0” e sợ nhưng theo nhiều chuyên gia lâu năm thì đây là điều cần thiết để giúp thị trường bền vững hơn khi đã tăng khá “nóng” trong những tháng qua.

Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn - Ảnh 1.
P/E VN-Index đã “hạ nhiệt” sau 2 phiên điều chỉnh liên tiếp

Trong 5 năm qua, đỉnh P/E của VN-Index vào khoảng 22 và đây cũng là lúc VN-Index lập đỉnh 1.200 điểm vào đầu tháng 4/2018. Với P/E hiện chưa tới 19 lần, có thể nói định giá thị trường hiện chưa phải quá cao so với lịch sử.

Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn - Ảnh 2.
P/E các TTCK Châu Á cao vượt trội so với Việt Nam

Không chỉ có định giá thấp so với quá khứ, TTCK Việt Nam cũng đang có định giá hấp dẫn hơn các quốc gia khu vực khi P/E TTCK Thái Lan hiện lên tới 26.x, P/E Philippines 28.7 hay P/E TTCK Indonesia gần 30. Trong khi đó, tăng trưởng của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp Việt Nam được dự báo vượt trội so với các quốc gia trong khu vực. Khảo sát các Công ty chứng khoán cho biết tăng trưởng lợi nhuận năm 2021 của các doanh nghiệp niêm yết sẽ ở mức trên 20%.

Bên cạnh yếu tố định giá hấp dẫn, TTCK Việt Nam cũng đang được kỳ vọng đón dòng vốn ngoại trở lại sau khi đã bán ròng mạnh trong năm 2020. Việc được nâng tỷ trọng lớn nhất trong rổ Frontier Markets (cận biên), cùng với kỳ vọng nâng hạng thị trường mới nổi (Emerging Markets) hay các yếu tố vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế, kiểm soát dịch bệnh hàng đầu khu vực được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam trở thành tâm điểm thu hút đầu tư trong thời gian tới. Trên thực tế, dòng vốn ETFs đang đổ mạnh vào TTCK Việt Nam trong những ngày đầu năm mới. Tính riêng tuần giao dịch 11-15/1 có tới gần 1.000 tỷ đồng đổ vào thị trường thông qua các quỹ ETFs.

Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn - Ảnh 3.
Dòng vốn ETFs đang đổ mạnh vào TTCK Việt Nam trong những ngày đầu năm 2021

Báo cáo cập nhật nhanh diễn biến thị trường của CTCK MBS cho biết diễn biến giảm nhanh và mạnh thường sẽ không kéo dài mà chỉ trong 1-2 phiên giao dịch. Các cổ phiếu bị bán sàn sẽ sớm phục hồi ngay sau khi giao dịch ổn định trở lại. MBS cho rằng nhà đầu tư có thể xem xét mua tại các vùng hỗ trợ dự kiến từ 1.033 – 1.064 điểm.

Minh Anh / Theo Doanh Nghiệp & Tiếp Thị

Khả năng chống chịu bất ổn tài chính của Việt Nam ở mức trung bình-khá


Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV vừa đánh giá về khả năng chống chịu bất ổn tài chính của Việt Nam dựa trên bảy dấu hiệu rủi ro đặc trưng của một cuộc khủng hoảng tài chính.

Năm 2020, hệ thống tài chính Việt Nam phải chống chịu với những rủi ro toàn cầu | Ảnh: https://doanhnhansaigon.vn/
Năm 2020, hệ thống tài chính Việt Nam phải chống chịu với những rủi ro toàn cầu | Ảnh: Doanhnhansaigon


TS. Cấn Văn Lực, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính-tiền tệ quốc gia, người đứng đầu nhóm nghiên cứu, cho biết, xu hướng vay nợ nhiều do lãi suất thấp thời gian qua cộng với suy thoái kinh tế toàn cầu do tác động bởi đại dịch Covid-19 khiến Chính phủ các nước phải bơm tiền hỗ trợ nền kinh tế, dẫn đến các rủi ro tài chính toàn cầu – nhất là bong bóng nợ và bong bóng tài sản – đang tăng lên.


Mặc dù nhận diện được điều này nhưng chính phủ các nước buộc phải tiếp tục cung cấp các gói hỗ trợ và chấp nhận những nguy cơ do thâm hụt ngân sách, nợ công và nợ xấu tăng. WB, IMF đánh giá bất ổn tài chính toàn cầu năm 2020 là “khác biệt nhất so với các cuộc khủng hoảng tài chính lịch sử” với mức độ không chắc chắn cao nhất, phạm vi diễn ra rộng và khả năng kéo dài chưa biết được hồi kết.
Do hiện nay quy mô thị trường tài chính của Việt Nam tương đương 366,3% GDP, tác động của các rủi ro tài chính toàn cầu đối với Việt Nam là không nhỏ. Đối chiếu với 7 dấu hiệu rủi ro đặc trưng chung của gần 400 cuộc khủng hoảng tài chính trong giai đoạn 1970-2007, các nhà nghiên cứu ở Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV (BTRI) đã cố gắng đánh giá mức độ nguy hiểm mà hệ thống tài chính Việt Nam phải đối mặt.


Nguy cơ “bom nợ”: cấp độ 3/6
Báo cáo cho rằng rủi ro nợ công và thâm hụt ngân sách của Việt Nam tăng nhanh, song thấp hơn nhiều so với các nước mới nổi và trong tầm kiểm soát. Hai con số này ước tính lần lượt khoảng 55 – 57% và 5% so với GDP chưa đánh giá lại; còn so với mức GDP mới điều chỉnh, các con số này có thể giảm khoảng 10 điểm phần trăm – theo TS. Cấn Văn Lực.

Tuy nhiên, ông cảnh báo, áp lực trả nợ của Việt Nam ngày càng tăng (từ 23% lên 25% so với thu ngân sách) trong điều kiện tăng trưởng GDP và các nguồn thu ngân sách có xu hướng giảm.


Nguy cơ đảo chiều vốn ngoại: cấp độ 2/6
Mặc dù khoảng 808 triệu USD vốn đầu tư gián tiếp đã rút khỏi thị trường chứng khoáng Việt Nam trong năm qua và xu hướng này có thể còn tiếp diễn, song mức rủi ro không đáng lo ngại như mức rút 2-30 tỷ USD ở các thị trường mới nổi thuộc các nước Châu Á, Châu Mỹ La tinh và Châu Phi khác.
Nhờ kiểm soát tốt dịch bệnh và triển vọng tích cực của nền kinh tế, Việt Nam đang có lợi thế để thu hút đầu tư mới một cách có chọn lọc.

Rủi ro biến động thị trường chứng khoán và bất động sản: cấp độ 3/6
Mặc dù thị trường chứng khoán đã chứng kiến sự sụt giảm khá mạnh (tháng 3, 7 và 8/2020 so với đầu năm) song gần đây đã phục hồi mạnh: VNIndex và tăng 14,4% so với đầu năm, HNXIndex thậm chí tăng 77,5%. Thị trường bất động sản cũng giảm mạnh nhưng mức độ sụt giảm không lớn như giai đoạn 2008-2009.
Nhóm nghiên cứu nhận định, mặc dù chu kì phục hồi của các thị trường này có thể kéo dài hơn dự kiến trong 2 năm tới, nhưng sẽ tăng trưởng bền vững hơn trong trung – dài hạn. Với những bước tiến về thể chế, công nghệ, quy mô thị trường, mức độ chuyên nghiệp, năng lực hệ thống quản lý – giám sát, họ kì vọng các thị trường này sẽ bứt phá vào giai đoạn 2022-2025.


Rủi ro giảm giá nội tệ: cấp độ 2/6

Áp lực giảm giá VND không lớn như nhiều thị trường mới nổi. Nhìn chung trên thế giới, do đồng USD có xu hướng yếu đi nên nhiều loại tiền tệ khác ít bị ảnh hưởng, chủ yếu chỉ ảnh hưởng mạnh với một số đồng tiền châu Mỹ La tinh.
Dự báo mức giảm giá VND so với USD sẽ không quá 0,2% cả năm 2020 và khoảng 1-1,5% năm 2021. Rủi ro mất giá sẽ không lớn như những năm 2008, 2011 với mức mất giá gần 10%. Tuy nhiên, báo cáo vẫn khuyến nghị tiếp tục tăng cường dự trữ ngoại hối và nâng cao năng lực điều hành tỷ giá để góp phần ổn định vĩ mô.


Rủi ro nợ xấu: cấp độ 3/6, có thể tăng lên cấp độ 4/6

Trong khi thế giới đang ở mức rủi ro cao thì nợ xấu của hệ thống tài chính của Việt Nam đang ở mức trung bình khá và có nguy cơ tăng lên mức khá.
Nếu hạch toán đầy đủ các khoản giảm thu từ lãi và các khoản hỗ trợ do cơ cấu lại nợ, trích lập dự phòng rủi ro khi Thông tư 01 hết hiệu lực, tỷ lệ nợ xấu nội bảng có thể lên đến 3% cuối năm 2020 (so với mức 1,89% cuối năm 2019) và nợ xấu gộp lên tới khoảng 5% cuối năm 2020 (so với mức 4,65% cuối năm 2019). Con số này có thể tiếp tục duy trì trong năm 2021.


Thu nhập của các ngân hàng thương mại có thể bị giảm 15-20% trong 2020-2021. Tuy sức chống chịu của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã tốt hơn khi càng nhiều ngân hàng đáp ứng được tiêu chuẩn Basel II, nhưng nó cũng cần phải cải thiện hơn nữa trong quá trình số hóa diễn ra trong vòng một vài năm tới để đạt ngưỡng an toàn tốt hơn.


Rủi ro thể chế không theo kịp sự phát triển của thị trường tài chính: cấp độ 2/6

Các chuyên gia đánh giá rằng những bước tiến về thể chế đã góp phần nâng cao sức chịu đựng của nền kinh tế và hệ thống tài chính Việt Nam, nổi bật là hệ thống luật chuyên ngành đang được chuẩn hóa, hoàn thiện theo thông lệ quốc tế; hình thành được mạng lưới an toàn tài chính và nâng cao năng lực quản trị rủi ro theo hướng chủ động.


Trong bối cảnh Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Chứng khoán bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/1/2021, TS. Cấn Văn Lực bày tỏ hi vọng trong thời gian ngắn tới, các hành lang pháp lý khác như Luật Ngân hàng nhà nước, Luật Tổ chức tín dụng và các quy định thử nghiệm Sandbox cho Fintech sẽ sớm được sửa đổi hoặc hoàn thiện.


Rủi ro tội phạm tài chính ngân hàng: cấp độ 3/6
Báo cáo nhận định rằng đây là vấn đề “khá thách thức”. Theo Báo cáo, 8 tháng đầu năm 2020 của công ty an ninh mạng Viettel, 90% trong số 3 triệu vụ cảnh báo tấn công mạng mà họ quản lý là nhắm đến hệ thống tài chính – ngân hàng Việt Nam.
Mặc dù triển khai nhiều giải pháp và dần làm chủ được tới 90% hệ sinh thái các sản phẩm an toàn an ninh mạng, nhưng các thách thức về thể chế, năng lực tổ chức quản lý; lỗ hổng bảo mật; lừa đảo chiếm đoạt tài khoản ngân hàng dự báo còn sẽ tiếp tục tăng.

Đánh giá mức độ rủi ro bất ổn tài chính 2020 | Dữ liệu từ báo cáo của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV | Biểu đồ: KHPT
Đánh giá mức độ rủi ro bất ổn tài chính 2020 | Dữ liệu từ báo cáo của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV | Biểu đồ: KH&PT

Về tổng thể, hệ thống tài chính tiền tệ của Việt Nam hiện ở cấp độ rủi ro trung bình khá 3/6, tức có thể biến động từ 10-30% so với thông thường.
Tham khảo báo cáo phân tích đầy đủ về rủi ro bất ổn tài chính toàn cầu và Việt Nam năm 2020 tại đây.

Ngô Hà / khoahocphattrien.vn

%d bloggers like this: