Bạn có thể đóng góp mã nguồn cho một dự án nguồn mở ?


Can you contribute code to an open source project?
By Randy Metcalfe
Lời người dịch: Khi bạn, dù là cá nhân hay là một tổ chức, ví dụ như một trường cao đẳng hay đại học, tham gia vào cộng đồng phát triển phần mềm nguồn mở của một dự án nguồn mở cụ thể nào đó, ví dụ Moodle chẳng hạn, thì bạn sẽ rất cần quan tâm tới việc những đóng góp mã có bản quyền của bạn sẽ được quản lý như thế nào trong dự án đó. Rất có thể bạn sẽ nên ký một thỏa thuận giấy phép của người đóng góp trước khi thực hiện việc đóng góp mã của mình vào dự án đó. Hơn nữa, thực tế cũng sẽ chỉ ra rằng, ngoài vấn đề đó ra, thì sự đóng góp cho dự án là đứng sau tính bền vững của dự án, mà trước hết để thực hiện được nó, bạn sẽ thấy cần phải chuyển sang một mô hình phát triển mở.
Vì bạn đã viết một số mã
Bạn đã viết một số mã cho một dự án mà bạn từng đôi lúc đi theo. Bạn đang tham gia trong danh sách thảo luận thư điện tử của những người sử dụng. Bạn từng âm thầm đi theo trong danh sách thảo luận thư điện tử của các lập trình viên. Bạn đã tải về mã nguồn được thấy trong kho được xây dựng vào ban đêm, và bạn đã viết bản vá đầu tiên của bạn cho một vài tính năng của mã mà bạn nghĩ cần vọc.
Phần mềm là một tác phẩm có bản quyền
Mã nguồn đối với các ứng dụng phần mềm là một tác phẩm có bản quyền. Bản quyền nảy sinh ngay khi các ý tưởng được đặt vào trong một số vật trung gian cố định, nó có thể là giấy hay điện tử. Không gì đặc biệt cần phải được thực hiện cho mã để được bảo vệ bằng bản quyền.
Những người nắm giữ bản quyền có quyền bố trí tư liệu bản quyền của họ theo ý của họ. Điều này bao gồm việc cấp phép nó để được sử dụng theo những cách thức khác nhau.
Các dự án phần mềm nguồn mở (PMNM) phát hành mã nguồn theo các giấy phép được OSI chứng thực. Để bản vá của bạn được sử dụng trong dự án, nó cũng có thể cần phải được cấp phép theo cùng giấy phép đó. Bạn có thể hoàn tất điều đó hoặc bằng các cách sau:
  • kỹ về bản quyền trong mã cho dự án; hoặc
  • cấp phép cho mã để sử dụng trong dự án theo một giấy phép phù hợp
Một số dự án khăng khăng chỉ định bản quyền. Điều đó nhất định làm cho mọi điều dễ dàng hơn cho họ sau này khi họ cần làm việc với các vấn đề về cấp phép. Đó chỉ là một trong một số khả năng.
Hầu hết các dự án chỉ yêu cầu rằng bạn cấp phép mã mà bạn muốn đóng góp theo một giấy phép tương thích với giấy phép của dự án.
Trong cả 2 trường hợp, ràng buộc y hệt áp dụng; chỉ người nắm giữ bản quyền có sức mạnh hoặc tái chí định quyền của họ hoặc cấp phép cho tư liệu bản quyền của họ.
Bạn có quyền cấp phép cho tư liệu bản quyền này không?
Bạn có phải là người nắm giữ bản quyền không?
Hầu hết các nhân viên trong thực tế không phải là những người nắm giữ bản quyền đối với tư liệu có bản quyền được sinh ra như một phần công việc của họ. Điều này sẽ khác từ cơ quan này tới cơ quan khác, và có thể giữa các vai trò công việc trong một cơ quan. Xin lưu ý: đã viết mã này ở nhà sẽ không, bản thân nó, chỉ ra rằng bạn nắm giữ bản quyền về nó; bạn vẫn cần kiểm tra các điều khoản làm việc của bạn.
Liệu bạn có là người nắm giữ bản quyền đối với tư liệu như vậy hay không nên được nói ra theo các điều khoản làm việc của bạn. Nếu bạn không thể thấy bất kỳ thứ gì ở đó, thì bạn có thể muốn kiểm tra bất kỳ chính sách nào của cơ quan, như một chính sách các Quyền Sở hữu Trí tuệ, nó được tham chiếu trong hợp đồng làm việc của bạn.
Bạn phải thiết lập xem ai là người nắm giữ bản quyền trước khi bạn đi bất kỳ đâu xa hơn (và lý tưởng trước khi bạn thậm chí có điều này xa hơn).
Trên thực tế bạn có phải là người nắm giữ bản quyền không?
Nếu bạn là người nắm giữ bản quyền
Nếu bạn trong thực tế là người nắm giữ bản quyền đối với tư liệu có bản quyền mà bạn đã tạo ra, thì xin chúc mừng! Bạn có thể làm gì bạn muốn với sở hữu trí tuệ của riêng bạn. Điều này bao gồm việc cấp phép nó để được sử dụng trong một dự án nguồn mở. Bạn có thể thậm chí muốn chỉ định bản quyền của bạn cho dự án theo yêu cầu, hoặc cho tổ chức bảo trợ (như Quỹ Phần mềm Tự do – FSF) mà đang đỡ đầu cho dự án.
Bạn thậm chí có quyền cấp phép đôi cho mã nguồn của bạn nếu bạn muốn. Điều này có thể xảy ra nếu bạn định cấp phép cho nó cho một người hoặc nhóm theo một giấy phép này và cấp phép nó cùng một lúc cho người khác hoặc nhóm khác theo một giấy phép khác. Điều này là có khả năng vì người nắm giữ bản quyền có thể làm bất kỳ điều gì mà họ muốn với từ liệu có bản quyền của họ.
Nếu bạn không phải là người nắm giữ bản quyền
Nếu bạn không phải là người nắm giữ bản quyền thì bạn phải có được sự đồng ý của người nắm giữ bản quyền đối với bất kỳ điều gì bạn muốn làm với tư liệu có bản quyền. Thường thì điều này được nói ra trong các điều khoản làm việc của bạn.
Để đóng góp bản vá của bạn cho dự án nguồn mở trong trường hợp ví dụ của chúng tôi, người nắm giữ bản quyền cần phải đồng ý rõ ràng cho sự đóng góp của bạn đối về sở hữu trí tuệ của nó. Hơn nữa, đáng lưu ý là điều này không có hiệu ứng nào lên bản thân bản quyền cả.
Mã được đóng góp cho các dự án nguồn mở thường giữ lại bản quyền của người nắm giữ bản quyền gốc ban đầu. Để đăng ký bản quyền tác giả của bạn cho cơ quan của bạn, một qui trình chính thống hơn nhiều có thể cần thiết để được bắt đầu. Thường thì điều này có liên quan tới các tài liệu pháp lý cần thiết phải được thay đổi, truyền bản quyền từ bên này sang bên khác. Điều này có thể là một qui trình phiền hà. Kết quả là nó rất hãn hữu trong thiết lập ở các trường cao đẳng và đại học.
Nhưng thậm chí nếu bản quyền không được tái chỉ định, thì sự đồng ý phải giành được trước khi mã có thể được đóng góp cho dự án. Hơn nữa, trong một dự án được quản lý tốt thì bạn sẽ được yêu cầu cung cấp sự đồng ý này ở dạng của một thỏa thuận giấy phép của người đóng góp.
Làm thế nào bạn có được sự đồng ý của đại học và cao đẳng của bạn để đóng góp tư liệu có bản quyền của họ cho một dự án nguồn mở?
Đi đâu trước: lãnh đạo phòng của bạn
Hầu như chắc chắn con đường của bạn sẽ đưa bạn qua bất kể sự giám sát sở hữu trí tuệ nào đối với tổ chức của bạn. Ví dụ nếu bạn làm việc ở UK HE, có khả năng sẽ là các dịch vụ pháp lý, các dịch vụ nghiên cứu, và có khả năng là đơn vị chuyển giao công nghệ của cơ quan bạn. Nhưng nơi đầu tiên để bắt đầu là với lãnh đạo hoặc người đứng đầu phòng của bạn.
Nếu bạn may mắn, thì người quản lý của bạn hoặc người lãnh đạo phòng bạn sẽ từng được ủy quyền sức mạnh để quyết định những vấn đề như vậy. Có một ví dụ tốt về điều này xảy ra tại đơn vị các Dịch vụ Điện toán Đại học Oxford.
Nếu bạn không được may mắn cho lắm, thì người quản lý bạn hoặc người đứng đầu phòng của bạn có thể không có được ủy quyền này nhưng ít nhất sẽ biết tập các bước chính thức phải được thực hiện trong tổ chức của bạn để đạt được sự đồng ý của nó để đóng góp bản vá của bạn cho một dự án nguồn mở.
Điều này có thể sẽ có nghĩa là việc tiếp cận phòng các dịch vụ pháp lý tổ chức của bạn. Họ có thể thường cần một sự xác minh từ một vài đơn vị độc lập, như đơn vị chuyển giao công nghệ, như đối với giá trị có thể của sở hữu trí tuệ theo yêu cầu và bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào mà cơ quan đó có thể chịu như là kết quả của sự phát hành này đối với IPR của nó.
Đáng tiếc là các bước có liên quan có thể là vô số, và hầu như không thể tránh khỏi là dị thường đối với tổ chức của bạn. Họ cũng không đảm bảo rằng sự đồng ý sẽ sớm đến.
Cách thức tốt hơn
Các tổ chức có suy nghĩ sớm nhận thức được rằng những đóng góp mã, dù ở dạng các bản vá hay thậm chí ở dạng các module đáng kể hơn, là một phần của những gì được đi theo bằng sự tham gia mang nặng tính cơ quan với nguồn mở. Nhưng làm thế nào họ tạo thuận lợi nhất cho qui trình này?
Ví dụ, khi Đại học Mở từng bắt tay vào lựa chọn Moodle như là môi trường học ảo (VLe) trong tương lai của mình, nó cũng đã thiết lập cách mà nó có thể tham gia với sự phát triển đang diễn ra của Moodle. Kết quả là một đầu tư đáng kể, nhưng có định lượng và bao hàm trong sự phát triển nguồn mở. Sự đóng góp của Đại học Mở về sở hữu trí tuệ của nó cho dự án Moodle không chỉ làm cho Moodle mạnh hơn. Nó đứng ra như một ví dụ về thực tiễn tốt trong sự cam kết của viện trường với cộng đồng nguồn mở.
Một ví dụ khác là cách mà Đại học Cambridge bắt đầu tham gia vào chương trình đối tác của Sakai. Trong những giai đoạn đầu của Sakai, trọng tâm chính là về việc tạo ra một khung hành chính cho nhóm các viện trường giáo dục có liên quan trong dự án. Mục tiêu chính là để đảm bảo rằng các phát hành phần mềm được sản xuất đúng thời điểm và tuân theo danh sách các ưu tiên được đồng thuận. Tuy nhiên trong một số dự án thí điểm của Sakai thì đã trở nên rõ ràng rằng sự đóng góp có điều phối của các viện trường cho sự phát triển mã chỉ là thứ yếu so với tính bền vững tổng thể của dự án. Cambridge và các đối tác khác đã hiểu được rằng việc xây dựng một cộng đồng xung quanh mã được chia sẻ thực sự là quan trọng hơn, và như là kết quả của những nỗ lực của họ theo đường hướng này, dự án đã chuyển sang một mô hình phát triển mở nhiều hơn.
Có những ví dụ khác về sự tham gia của các viện trường tương tự đang diễn ra trong các trường cao đẳng và đại học khắp nước Anh. Chúng tôi vui mừng để bổ sung ví dụ của bạn vào bài viết này. Xin hãy viết cho chúng tôi theo info@oss-watch.ac.uk và nói cho chúng tôi biết về điều đó.
So you’ve written some code
You’ve written some code for a project that you’ve been following for some time. You are participating on the users email discussion list. You have been quietly following the developers email discussion list. You have downloaded the source code found in the nightly build repository, and you have written your first patch for some feature of the code that you think needs tweaking.
Can you contribute this patch to the project?
Software is a copyright work
Source code for software applications is a copyright work. The copyright arises as soon as the ideas are placed in some fixed medium, which could be paper or electronic. Nothing special needs to be done for the code to be protected by copyright.
Copyright holders have the right to dispose of their copyright material as they see fit. This includes licensing it to be used in a variety of ways.
Open source software projects release their source code under OSI-certified licences. In order for your patch to be used in the project, it too would need to be licenseable under the same licence. You could accomplish that by either:
  • signing over the copyright in the code to the project; or
  • licensing the code for use in the project under an appropriate licence
Some projects insist upon the assignment of copyright. That certainly makes things easier for them later when they need to deal with licensing matters. That is just one of a number of possibilities.
Most projects merely require that you license the code you wish to contribute under a licence compatible with the project’s licence.
In either case, the same constraint applies: only the copyright holder has the power to either reassign their copyright or license their copyright material.
Do you have the right to license this copyright material?
Are you the copyright holder?
Most employees are not in fact the copyright holders for copyright material that is generated as part of their work. This will vary from institution to institution, and possibly between job roles within an institution. Please note: having written this code at home will not, by itself, indicate that you hold the copyright on it; you still need to check your terms of employment.
Whether you are the copyright holder for such material should be spelled out in your terms of employment. If you cannot find anything there, you may want to check any institutional policies, such as an Intellectual Property Rights policy, that are referenced by your employment contract.
You must establish who the copyright holder is before you go any further (and ideally before you’ve even got this far).
Are you in fact the copyright holder?
If you are the copyright holder
If you are in fact the copyright holder for the copyright material that you have generated, congratulations! You can do what you wish with your own intellectual property. This includes licensing it to be used in an open source project. You may even wish to assign your copyright to the project in question, or to the umbrella organisation (such as the Free Software Foundation) that is sponsoring the project.
You even have the right to dual license your code should you wish. This would occur if you were to license it to one person or group under one licence and license it at the same time to another person or group under a different licence. This is possible because the copyright holder can do anything they wish with their copyright material.
If you are not the copyright holder
If you are not the copyright holder then you must have the consent of the copyright holder for anything you wish to do with their copyright material. Often this is spelled out in your terms of employment.
In order to contribute your patch to the open source project in our example case, the copyright holder needs to explicitly consent to your contribution of its intellectual property. Moreover, it is worth noting that this has no effect upon the copyright itself.
Code contributed to open source projects often remains the copyright of the original copyright holder. In order to sign over your institution’s copyright, a much more formal process would need to be started. This usually involves legal documents needing to be exchanged, passing the copyright from one party to another. This can be an onerous process. As a result it is much more rare in the college and university setting.
But even if copyright is not being reassigned, consent must be obtained before the code can be contributed to the project. Furthermore, in a well managed project you will be required to provide this consent in the form of a contributor licence agreement.
How do you get the consent of your college or university to contribute their copyright material to an open source project?
Where to go first: the head of your department
Almost certainly your route is going to take you through whoever oversees intellectual property for your organisation. For example if you work in UK HE, that is likely to be legal services, research services, and possibly your institution’s technology transfer unit. But the first place to start is with your manager or department head.
If you are in luck, your manager or department head will have been delegated the power to decide such matters. There is a good example of this occurring at Oxford University Computing Services.
If you are slightly less lucky, your manager or department head may not have this delegated authority but at least will know the official set of steps that must be taken within your organisation in order to achieve its consent to contribute your patch to an open source project.
This will probably mean approaching your organisation’s legal services department. They would usually need a determination from some independent body, such as the technology transfer unit, as to the probable value of the intellectual property in question and any liability that the institution may be incurring as a result of this release of its IPR.
Regrettably the steps involved may be numerous, and are almost inevitably peculiar to your organisation. Nor do they guarantee that consent will be forthcoming.
A better way
Forward thinking institutions recognise that contributions of code, whether in the form of patches or even more substantial modules, are part of what is entailed by robust institutional engagement with open source. But how can they best facilitate this process?
For example, when the The Open University embarked upon the choice of Moodle as its future virtual learning environment (VLE), it also established how it would engage with Moodle’s ongoing development. The result is a substantial, but quantified and contained, investment in open source development. The Open University’s contribution of its intellectual property to the Moodle project doesn’t merely make Moodle stronger. It stands as an example of good practice in institutional engagement with the open source community.
Another example is the way University of Cambridge became involved in the Sakai partnership program. In the early stages of Sakai the main focus was on creating an administrative framework for the consortium of educational institutions involved in the project. The main aim was to ensure that the software releases were produced on time and according to an agreed list of priorities. However during a number of Sakai pilots it became evident that coordinating institutional contribution to the development of the code was only secondary to the overall sustainability of the project. Cambridge and other partners understood that building a community around the shared code was actually more important, and as a result of their efforts in this direction the project moved to a more open development model.
Dịch: Lê Trung Nghĩa

 

Cuộc sống không giới hạn: Vẫy vùng trong tuyệt vọng


“Nếu tôi tồn tại trên đời này chỉ để chịu đựng sự xa lánh và cô đơn… nếu tôi là gánh nặng cho mọi người và tôi không có tương lai… thì tôi nên kết thúc cuộc sống của mình ngay bây giờ”.

Phải thú thật rằng trong một thời gian dài tôi đã không tin mình có bất kỳ năng lực nào để kiểm soát diễn tiến của cuộc đời mình. Tôi đã ráng sức để tìm hiểu xem mình có ý nghĩa gì trong thế giới này hoặc con đường nào mình nên đi. Khi còn chưa thực sự trưởng thành, tôi tin rằng với hình hài dị biệt như thế thì chẳng có điều gì tốt đẹp chờ đợi tôi hết.

 

 NICK-VUJICIC-d
Cha mẹ Nick từng đau khổ than với Thượng đế tại sao người lại để điều này xảy ra – Ảnh: TL

 

Gia đình lớn của tôi không thể lúc nào cũng ở bên cạnh để che chở cho tôi được. Một khi tôi đã bước chân đến trường là chẳng thể giấu đi đâu được cái sự thật rằng tôi rất khác biệt so với mọi người. Cha tôi quả quyết với tôi rằng Chúa không hề sai lầm, nhưng nhiều lúc tôi không thể rũ bỏ được cái cảm giác rằng tôi là một ngoại lệ của quy luật đó.

“Tại sao Người không thể cho con dù chỉ một cánh tay thôi!”, tôi thường hỏi Chúa. “Hãy thử tưởng tượng những gì con có thể làm nếu con có một cánh tay!”.

Kế hoạch tự tử

Một hôm tôi đang ngồi trên mặt chiếc bàn quầy rất cao ở trong bếp nhìn mẹ nấu bữa tối – một thói quen giúp tôi tìm thấy sự an ủi và thư giãn – thì những ý nghĩ tiêu cực bỗng ập đến, tôi muốn ném mình xuống khỏi mặt bàn. Tôi nhìn xuống bên dưới, nghĩ rằng mình sẽ lao xuống, nhưng rồi nỗi sợ hãi lấn át sự tuyệt vọng nên tôi ngưng lại. Lúc bấy giờ tôi đang vật lộn với cảm giác tuyệt vọng, rằng cuộc đời tôi rồi đây sẽ vô cùng khó khăn. Chúa dường như không đáp lại lời nguyện cầu của tôi. Nhìn mẹ làm việc trong nhà bếp, tôi bỗng nhiên không muốn trở thành gánh nặng của bà.

Thế là ý định quăng mình xuống lại tiếp tục tấn công tôi. Tôi loay hoay tính toán xem mình nên lao xuống phía nào, để đảm bảo rằng tôi sẽ gãy cổ và chết ngay tức thì. Nhưng rồi tôi tự bảo mình rằng tôi không nên làm thế, chủ yếu bởi vì nếu ném mình xuống mà không chết thì sẽ phải giải thích tại sao tôi lại thất vọng đến nhường ấy. Cái lần tôi suýt nữa tự hủy hoại mình đó quả là đáng sợ. Đáng lẽ nên nói cho mẹ biết tôi đang nghĩ gì, nhưng tôi ngại. Tôi không muốn làm mẹ hoảng sợ.

Khi ấy tôi còn nhỏ, và mặc dù được sống giữa những người yêu thương mình, tôi đã không tìm đến họ để tâm sự về nỗi lòng của mình. Tôi có những nguồn giúp đỡ và sẻ chia, nhưng tôi đã không sử dụng những nguồn ấy, và đó là một sai lầm… Nhưng lúc đó trong lòng tôi tràn ngập tuyệt vọng. Khi ấy tôi đã quyết định rằng để chấm dứt mọi nỗi đau khổ, tôi nhất định phải kết thúc cuộc sống của mình.

Một buổi chiều sau khi tan học, tôi hỏi mẹ rằng liệu bà có thể giúp đưa tôi vào bồn tắm để tôi dầm nước một lúc không. Khi mẹ ra khỏi phòng tắm, tôi bảo mẹ đóng cửa lại. Sau đó tôi ngâm mình xuống nước, ngâm đến tận tai. Trong im lặng, những ý nghĩ rất nặng nề, u ám lan tràn. Tôi đã lên kế hoạch cho việc tôi muốn làm từ trước.

Nếu Chúa không mang nỗi khổ đau của tôi đi và nếu không có mục đích nào dành cho tôi trong cuộc đời này… nếu tôi tồn tại trên đời này chỉ để chịu đựng sự xa lánh và cô đơn… nếu tôi là gánh nặng cho mọi người và tôi không có tương lai… thì tôi nên kết thúc cuộc sống của mình ngay bây giờ.

Ở trong bồn tắm, tôi cố gắng tính xem có thể giữ được bao nhiêu không khí trong phổi trước khi tôi lật úp người xuống. Mình có thể nín thở trước khi mình lật úp người xuống không? Mình sẽ hít vào một hơi thật sâu, hay chỉ hít vào nửa chừng thôi? Mình có nên thở ra rồi hãy lật người không?

Cuối cùng tôi cứ lật người và úp mặt mình xuống nước. Theo bản năng, tôi giữ hơi. Bởi vì phổi của tôi rất khỏe, nên tôi giữ được người mình nổi được một lúc lâu.

Khi trong phổi tôi đã cạn không khí, tôi lại lật người lên.

Mình có thể làm được việc đó rồi.

Nhưng những ý nghĩ u ám vẫn bám lấy tôi: Mình muốn thoát khỏi cuộc đời này. Mình chỉ muốn biến mất khỏi thế giới này.

Tôi trút hết không khí trong phổi ra và lại lật úp người xuống một lần nữa. Tôi biết mình có thể giữ hơi được ít nhất mười giây, vậy nên tôi đếm…10… 9… 8… 7… 6… 5… 4… 3…

Trong khi tôi đếm, một hình ảnh vụt hiện trong đầu tôi: hình ảnh cha mẹ tôi đang đứng trước mộ tôi khóc trong đớn đau. Tôi nhìn thấy đứa em trai bảy tuổi, Aaron, cũng đang khóc. Tất cả những người thân yêu nhất của tôi đều đang khóc và nói rằng đó là lỗi của họ, rằng lẽ ra họ phải làm được nhiều hơn cho tôi.

Tôi không thể nào chịu đựng nổi cái ý nghĩ bỏ lại những người thân của mình, để họ đau khổ và tự dằn vặt bản thân về cái chết của tôi trong suốt phần đời còn lại.

Mình ích kỷ quá.

Tôi vội lật người lên và hít vào một hơi thật sâu. Tôi không thể làm điều đó. Tôi không thể để lại cho gia đình mình gánh nặng của sự mất mát và cảm giác có lỗi.

“Hãy khuấy nó lên!”

Trong một thời gian dài đến khó tin, tôi đã nghĩ rằng nếu cơ thể tôi “bình thường” hơn thì cuộc sống sẽ dễ dàng biết bao. Điều mà tôi không hiểu là tôi không nhất thiết cứ phải là người bình thường, tôi chỉ cần là chính tôi… Ban đầu tôi không sẵn sàng đối mặt với sự thật rằng điều thực sự tồi tệ không phải là những khiếm khuyết về thân thể của tôi, mà là những giới hạn mà tôi tự đặt ra cho mình và tầm nhìn hạn hẹp về các khả năng có thể xảy ra trong cuộc sống.

Nếu bạn không được ở vị trí mà bạn mong muốn hoặc không đạt được những gì bạn hy vọng đạt được, thì nhiều khả năng lý do không nằm ở xung quanh bạn, không nằm ở bên ngoài bạn mà ở trong chính bản thân bạn. Hãy nhìn nhận trách nhiệm một cách sáng suốt và sau đó hãy hành động. Tuy nhiên, trước hết bạn phải tin tưởng vào bản thân mình và giá trị của mình. Bạn không thể ngồi đó đợi người khác phát hiện ra cơ may giúp bạn. Bạn không thể ngồi yên chờ đợi điều kỳ diệu xảy ra hoặc chờ đợi “cơ hội thích hợp”. Bạn nên coi mình là chiếc đũa và thế giới là nồi thịt hầm của bạn. Hãy khuấy nó lên!

 

Nick Vujicic

Thanhnien online

Càng làm nhiều vị trí, càng có nhiều cơ hội phát triển


 

 

Chỉ sau hơn 10 năm làm việc ở IBM, Tấn Long trở thành một trong những tổng giám đốc đầu tiên của IBM Việt Nam là người Việt. Trầm tính nhưng không xa cách, năng nổ trong công việc nhưng không vì thế mà thiếu sự quan tâm đến các đồng nghiệp…

 

Tốt nghiệp Trường Tổng hợp Kỹ thuật điện ST. Pertersburg đầu năm 1997 sau 10 năm học đại học và tiến sĩ, Võ Tấn Long đến với ngành công nghệ thông tin khá là tình cờ. Ngành anh theo học là nghiên cứu về vật liệu và thiết bị vi điện tử, do vậy thường chỉ phù hợp với các viện nghiên cứu hoặc giảng dạy. Nhưng anh về nước đúng lúc IBM cần một người quản dự án.

Công việc lúc đầu chỉ là hỗ trợ kỹ thuật cho khâu kinh doanh dòng máy chủ, sau đó vừa làm kỹ thuật vừa làm kiến trúc hệ thống, rồi chuyển sang quản lý một nhóm kinh doanh… Chỉ sau hơn 10 năm làm việc ở IBM, Võ Tấn Long trở thành một trong những tổng giám đốc đầu tiên của IBM Việt Nam là người Việt. Trầm tính nhưng không xa cách, năng nổ trong công việc nhưng không vì thế mà thiếu sự quan tâm đến các đồng nghiệp… đó là những cảm nhận ban đầu của bất cứ ai khi tiếp xúc với Võ Tấn Long. Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu từ những ngày đầu, khi anh bước chân vào IBM, anh cho biết:

Khi bắt đầu làm ở IBM, công việc của tôi hoàn toàn là kỹ thuật. Sau đó vừa làm kỹ thuật, vừa làm kiến trúc hệ thống. Công việc thú vị ở chỗ là mình phải luôn tìm tòi cái mới, nhiều khi phải tự học. Năm 2004, IBM ở Việt Nam có tổng giám đốc mới là người Singapore – lúc đó quy mô của IBM ở đây còn rất nhỏ. Ông đặt ra mục tiêu là phải thay đổi cơ cấu đội ngũ, cách tiếp cận thị trường.

Thời điểm đó tôi đã có kinh nghiệm bảy năm làm việc ở IBM, nhưng có lẽ đã đến lúc đi vào lối mòn, cần phải có một môi trường mới. Ông ấy đưa tôi sang quản lý một nhóm kinh doanh. Tôi rất lo lắng bởi vì từ xưa đến nay là dân kỹ thuật, và không phải là người quảng giao, và hình như cũng cảm thấy làm việc với máy móc “ổn” hơn làm việc với con người…

Và khi chuyển sang làm kinh doanh, anh thấy làm việc với con người có “ổn” không?

Thấy tôi còn do dự, tổng giám đốc lúc đó bảo tôi: Đó không phải là việc khó, mà vấn đề ở chỗ biết mình phải làm cái gì và dẫn dắt đội ngũ ấy đến đâu. Phải xây dựng cho bản thân niềm tin là mình làm được. Cái thật sự khác biệt giữa người làm được và người không làm được là ở niềm tin ấy. Đó là điều tôi học được. Và quả thật, công việc kinh doanh giúp tôi phát triển rất nhiều. Cách tư duy cũng khác hẳn. Đối với người làm kỹ thuật, mọi việc cần phải theo những bước thứ tự mạch lạc. Nhưng người làm kinh doanh lại có cách nghĩ khác, linh hoạt hơn rất nhiều: Không nhất thiết sau A phải là B, sau B phải là C… Kinh doanh lại thêm cách tiếp cận lôgic, có cấu trúc của người làm kỹ thuật là một sự trải nghiệm thú vị. Làm được điều đó cũng chính là tự tin và tạo niềm tin cho những người xung quanh. Điều đó không chỉ có lợi trong công việc, mà còn nhiều mối quan hệ nữa trong xã hội, gia đình.

Có lợi hơn cả trong công việc điều hành sau này của anh, khi đã ở vị trí tổng giám đốc là gì?

Tôi cho rằng, mô hình về kỹ năng của một người hiện nay phải giống như chữ T: Phải có chuyên môn sâu, nhưng không thể thiếu được một loạt các kỹ năng xã hội khác. Ví dụ trong bối cảnh toàn cầu hóa, anh cần có kỹ năng văn hóa, xã hội không chỉ ở nước mình mà còn của các dân tộc khác, các nước khác. Tất cả các kỹ năng ấy được coi là gạch ngang của chữ T. hội càng phát triển thì gạch ngang của chữ T càng quan trọng. Dù là ở vị trí nào thì ngoài kiến thức chuyên môn sâu (gạch dọc của chữ T), anh vẫn phải có những kỹ năng, kinh nghiệm, hiểu biết khác. Truyền thống bổ nhiệm lãnh đạo của IBM là thường chọn những người đã kinh qua nhiều vị trí làm việc khác nhau chứ không đi theo chiều dọc chữ T.

Tuy vậy, người đã từng qua vị trí kinh doanh vẫn có lợi thế hơn. Ở Việt Nam, người mình không kém bất cứ ai ở nét dọc của chữ T (đi thi quốc tế ở nhiều bộ môn khác nhau, nắm bắt khoa học kỹ thuật rất tốt…), nhưng tại sao tốt nghiệp đại học ra không đủ khả năng để làm ở các công ty nước ngoài? Đơn thuần là 2/3 trong số họ không đáp ứng được yêu cầu ngoại ngữ, 1/3 còn lại thì vẫn cần từ 6-18 tháng để hòa nhập vào với môi trường đó, vì thiếu kỹ năng xã hội và kỹ năng làm việc theo nhóm.

Ở Việt Nam, kỹ năng làm việc trong xã hội chỉ tập trung ở ngành dọc. Nói một cách cụ thể, ở IBM có một số nhân viên người Việt rất giỏi nhưng khi làm việc, cái mà họ thiếu là những kỹ năng xã hội để tạo ra sự khác biệt. Và do đó không có khả năng tạo ra một nhóm làm việc với mình thì không đi xa được. Anh có thể rất giỏi chuyên môn nhưng lại không có khả năng sắp đặt công việc theo một trình tự nhất định để người khác có thể cùng làm việc hoặc hỗ trợ thì cũng rất khó thành công.

Anh có nghĩ mình là người may mắn khi làm việc ở một môi trường như vậy?

Nếu như tôi không ở vị trí như ngày hôm nay thì liệu có cuộc trò chuyện của chúng ta hiện nay không, mặc dù tôi vẫn là tôi với những tố chất được tạo nên từ một quá trình học hành, trải nghiệm… Nói thế để thấy rằng, bản thân mỗi con người chỉ là một phần của sự thành công, phần còn lại là mình có cơ hội được làm việc ở trong một môi trường chuyên nghiệp, và cơ hội đó lại mang lại cho mình sự phát triển bản thân nhiều hơn nữa. Hai điều này tương hỗ lẫn nhau và cùng phát triển. Làm việc trong IBM, tôi luôn có cơ hội được tiếp cận với những điều thách thức bản thân mình. Con người như lò xo, nếu không bị nén lại thì cũng khó mà có sức bật. Qua mỗi lần như vậy là mình lớn lên một chút. Đối với những người thực sự muốn phát triển bản thân thì càng qua nhiều công việc bao nhiêu, càng nhiều kinh nghiệm bấy nhiêu. Ở ta, việc thay đổi công việc hầu như là một ý nghĩ “cực chẳng đã”. Còn ở nước ngoài thì ngược lại, đó là cơ hội.

Anh đánh giá thế nào về vị trí của ngành công nghệ thông tin (CNTT) Việt Nam trên thế giới?

Kinh nghiệm làm việc nhiều năm trong ngành Công nghệ thông tin cho phép tôi nghĩ rằng người Việt Nam có thể cung cấp được dịch vụ, sản phẩm có chất lượng toàn cầu. Đây là sự chuyển biến không chỉ về lượng mà còn vì chất. Hiện, Việt Nam đứng thứ hai về tốc độ phát triển về thị trường CNTT trên thế giới.

Theo anh, tốc độ phát triển CNTT như thế có ảnh hưởng như thế nào tới xã hội?

Ai cũng có thể nhìn thấy CNTT là tác nhân tạo ra một số thay đổi lớn về nhận thức, về xã hội, về công việc của mỗi người. Khoảng chục năm trước đây, nếu nói đến việc để tiền trong tài khoản ngân hàng thì ai cũng e ngại. Hoặc nếu như muốn chuyển tiền cho ai đó là cả một mớ thủ tục hành chính và phí cũng tương đối cao. Hoặc mua một cái gì mà không cần đến cửa hàng là điều không tưởng. Nhưng bây giờ đó là những việc rất bình thường. Nói tóm lại, CNTT đã giúp thay đổi quan trọng về nhận thức để hòa nhập với thế giới, nâng cao chất lượng cuộc sống bằng những dịch vụ tiên tiến. Tác động đó ảnh hưởng đến từng người…

 

Với sự phát triển công nghệ như thế thì liệu trong tương lai gần có xảy ra tình trạng thất nghiệp?Tôi không nghĩ vậy. Sự phát triển công nghệ sẽ thay đổi cơ cấu lao động, nhưng nó không tạo ra sự thất nghiệp. Nếu như mình nhìn công nghệ, hay kỹ thuật nói chung là một phương tiện nâng cao năng suất lao động thì rất dễ nhầm là sẽ tạo ra sự thất nghiệp. Nhưng nếu nhìn ngược lại thì bao giờ cũng thấy được một sự cân đối giữa nhu cầu nâng cao năng suất lao động và sự phát triển.

Có những giai đoạn mà sự phát triển đòi hỏi phải nâng cao năng suất lao động. Cách đây mấy tháng tôi có dịp nghe bài trình bày của ông Erich Clementi – một lãnh đạo cấp cao của IBM. Ông đưa ra câu hỏi là tại sao câu chuyện về Cách mạng khoa học kỹ thuật (Cái nồi hơi) lại xảy ra ở Anh chứ không phải ở Đức hay nước nào khác? Bởi vì lúc đó khoa học kỹ thuật (KHKT) ở Anh rất lạc hậu, đòi hỏi phải có sự phát triển đột biến, nâng cao đời sống xã hội. Đó là một câu trả lời rất xác đáng cho các vấn đề của Việt Nam hiện nay: Với 89 triệu dân và 95% là đã được xóa mù chữ, người Việt Nam được thế giới công nhận là cần cù, chăm chỉ.

Nhưng sự đãi ngộ có xứng đáng với sự cần cù chăm chỉ ấy không? Không. Là bởi vì phần lớn là làm thuê, là công nhân… KHKT tạo ra năng suất lao động, cụ thể là năng suất lao động trong một giờ sẽ nhiều hơn vì vậy, càng nhiều người làm thì càng tạo ra nhiều của cải hơn, sức phát triển càng lớn. Nói một cách cụ thể: Nếu tôi là chủ một doanh nghiệp có 1.000 lao động thì tôi vẫn muốn giữ 1.000 người ấy và tìm một phương cách sản xuất nào đó để tăng doanh thu lên gấp đôi, chứ không thể là muốn giảm đi một nửa người để doanh thu vẫn giữ như cũ. Do vậy, công nghệ không bao giờ tạo nên sự thất nghiệp mà chỉ tạo nên năng suất và sự phát triển xã hội. Ở Việt Nam điều này càng quan trọng vì nếu như mình không tiếp cận với KHKT tiên tiến thì mình sẽ mãi mãi là đất nước mà người ta đến vì giá nhân công rẻ. Đó là một trong các vấn đề mà chính phủ và các doanh nghiệp cần lưu ý.

Là một người gắn bó với công nghệ thông tin, anh nhận xét thế nào về khả năng xuất khẩu công nghiệp phần mềm của Việt Nam trong những năm tới?

Tại Việt Nam, khi nói đến thị trường phần mềm, chúng ta thường đề cập đến hai phân loại: thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu.

Thứ nhất là thị trường phần mềm dành cho các khách hàng trong nước. Theo đánh giá của chúng tôi năm nay, chi phí dành cho thị trường này chiếm khoảng 10% tổng chi phí của Việt Nam dành cho CNTT. Nếu muốn biến Việt Nam thành nước mạnh về CNTT thì thị trường phần mềm cần phải mang lại những giá trị ở tầm cỡ lớn hơn cũng như thị trường này phải có được một ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển nền kinh tế. Để có được điều này, đội ngũ CNTT không chỉ làm phần mềm một cách đơn giản mà phải thực sự hiểu biết cả về nghiệp vụ của lĩnh vực được ứng dụng, biến những lợi ích công nghệ thành những giá trị kinh doanh chính.

Thứ hai là thị trường xuất khẩu phần mềm. Đây là một thị trường tiềm năng cho Việt Nam nếu chúng ta thực sự biết tận dụng. Có thể nói cho đến nay, Ấn Độ, sau đó là Trung Quốc, nằm trong số những quốc gia chiếm thị phần lớn nhất trong phân đoạn này. Vì thế, để cạnh tranh được với họ, đối với các chuyên gia CNTT của Việt Nam, ngoài việc cần nâng cao kiến thức CNTT nói chung, chúng ta còn cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh về mặt chuyên môn cũng như phải không ngừng tích lũy và gia tăng bề dày kinh nghiệm của mình.

Hiện nay, có thể nói tại Việt Nam, các hoạt động xuất khẩu các phần mềm mang tính chất như một giải pháp trọn gói là rất ít mà chúng ta chủ yếu cung cấp phần mềm theo phương thức outsourcing (gia công) nhưng cũng rất ít doanh nghiệp làm được điều này. Nếu muốn Việt Nam có thể xuất khẩu các giải pháp phần mềm trọn gói trong các lĩnh vực ví dụ như ngân hàng hay viễn thông, thì trước tiên các giải pháp đó buộc phải có bề dày thử nghiệm thành công tại Việt Nam hoặc các nước trong khu vực trước, cũng như phải có sức cạnh tranh với các giải pháp tương tự trên thị trường. Khi thực sự có được điều đó, Việt Nam có thể hướng tới các thị trường tiềm năng như các nước có trình độ phát triển gần như Việt Nam, các nước đang phát triển trong khu vực, hoặc các nước mới phát triển ở châu Mỹ Latin và châu Phi.

Anh nhận định như thế nào về các xu hướng CNTT trong năm 2012?

Năm 2012 sẽ là năm đặt ra nhiều thách thức lớn hơn với nền kinh tế toàn cầu cũng như nền kinh tế Việt Nam, do khủng hoảng nợ công vẫn còn đang tiếp diễn tại những nền kinh tế “lõi” trong khu vực. Trong bối cảnh biến động của thị trường tài chính hiện nay, các doanh nghiệp sẽ không chỉ gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn để tái đầu tư mà còn phải đối mặt với tình trạng nhu cầu của người tiêu dùng sụt giảm, doanh nghiệp thiếu sức cạnh tranh.

Song song với những chính sách vĩ mô từ chính phủ Việt Nam trong việc duy trì chặt chẽ chính sách tiền tệ, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút vốn, các doanh nghiệp vẫn phải chủ động “vượt bão” bằng cách thúc đẩy các hoạt động tự tái cấu trúc toàn diện, nghiên cứu những hình thức phát triển sản xuất, kinh doanh để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc giải mã bài toán về trên phụ thuộc vào chiến lược nâng cao sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường; chú ý đào tạo nguồn nhân lực, đón đầu được các xu hướng CNTT chủ đạo trong tương lai và đẩy nhanh đầu tư cho công nghệ.

Trong bối cảnh chi tiêu dành cho công nghệ thông tin sẽ được thắt chặt hơn, những doanh nghiệp biết sử dụng CNTT làm một công cụ đắc lực để tiết kiệm chi phí và đẩy mạnh năng suất sẽ có khả năng tạo sự khác biệt trên thị trường.

Mấy năm gần đây, chương trình KidSmart của IBM đã thu hút được sự quan tâm của ngành giáo dục. Vậy nên, có vẻ như các anh đang có chiến lược “tấn công” vào thị trường giáo dục?

Được làm quen với CNTT từ nhỏ sẽ giúp các em có những nhận thức mới, có hướng tư duy mới. Đó chính là việc giáo dục từ gốc. Ngoài KidSmart, IBM còn có các chương trình hỗ trợ giáo dục từ lứa tuổi mầm non đến sau đại học. Hàng trăm trường học và hàng trăm nghìn học sinh, sinh viên đang được hưởng lợi từ các chương trình này.Ngoài ra, các năm gần đây IBM đều cử chuyên gia đến những đơn vị khó khăn trong lĩnh vực kinh doanh và giúp đơn vị đó, cơ sở đó, vùng đó về khả năng làm kinh doanh (không chỉ về lĩnh vực CNTT mà là ở tất cả các lĩnh vực kinh doanh), truyền đạt kinh nghiệm về khả năng phát triển. Năm 2011, các nhân viên và lãnh đạo của IBM Việt Nam đã đóng góp hơn 5.000 giờ hoạt động tình nguyện trong nhiều dự án vì cộng đồng khác nhau tại Việt Nam, trong khuôn khổ chương trình Trách nhiệm Xã hội. Ngoài các dự án tài trợ thường niên, trị giá hơn 15 tỉ đồng, IBM còn tài trợ gần 4 tỉ đồng cho 23 dự án tại 20 trường đại học, tổ chức phi lợi nhuận, các trung tâm đào tạo và nghiên cứu trong nước, nhằm huy động tinh thần tình nguyện trong cộng đồng.

Một ngày làm việc của ông tổng giám đốc như thế nào?

Thực ra với một người làm CNTT thì khó có thể nói bắt đầu từ khi nào và kết thúc vào lúc nào. Bây giờ người ta ít nói về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống mà nói đến sự tích hợp giữa công việc và cuộc sống. Trong tình cảnh toàn cầu hóa nhiều khi không có lựa chọn. Bản thân tôi, có những người làm việc với mình 4, 5 năm trời nhưng chưa bao giờ gặp mặt, hoặc họ ở tận nửa địa cầu bên kia. Do vậy, muốn được việc thì mỗi người lại phải chịu thiệt một chút. Điều này dẫn đến chuyện công việc của một doanh nghiệp không dừng lại trong tám giờ hành chính nữa. Công việc được phân đoạn ra rất nhiều.

Tôi đọc được một câu chuyện ngụ ngôn ở đâu đó rằng: Có một đống cát, một đống sỏi, và một đống đá phải cho vào một cái bình. Có người đã đổ sỏi, cát và đá vào thì không thể được. Nhưng người khác đã làm lại bằng cách đổ đá vào trước, sau đó là sỏi và cát… Như vậy, trong cuộc sống của mình có đá, có sỏi, có cát. Mình biết cách đặt cái gì vào trước, thì những thứ còn lại lách vào được hết. Có lẽ đó là phương châm để tôi sử dụng 24 tiếng trong ngày làm sao có thể đủ cho vừa làm việc, vừa nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động.

Đó là những chia sẻ thú vị về công việc, vậy cuộc sống ngoài công việc của anh thế nào?

Thời gian rảnh rỗi, tôi cũng làm những công việc thường nhật như bao người như dạy con học, tập thể dục, đọc sách… Có thể nói đọc sách là thói quen của tôi từ hồi còn nhỏ. Tôi tranh thủ đọc sách bất cứ khi nào có thể. Winning là tiêu đề một quyển sách mà tôi thường đọc lại khi có điều kiện. Tác giả của nó là Jack Welch (cựu CEO của Công ty GE). Quyển sách này nói về cách quản lý cũng như cách thức để làm sao xây dựng được một tập thể thành công.

Nhìn tổng thể con đường đi của anh có vẻ trơn tru, nhưng thực tế, có khi nào anh cảm thấy rất mệt mỏi, thất vọng?

Nơi tôi làm việc luôn có sức ép, dù ở bất cứ vị trí nào. Nhiều khi nó là sức ép nội tại vì mình muốn hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Cũng có những lúc tôi nản chí. Nhưng chỉ ngay sáng hôm sau, tỉnh táo hơn lại nghĩ: Nếu mình bỏ cuộc thì mình lại thua một ai đó, hoặc thua đối thủ cạnh tranh của mình, hoặc cụ thể hơn là thua những khó khăn của mình, thua bản thân vì vấn đề bản thân mình gặp phải… Và thật không thể tin được là qua mỗi lần như vậy thì tôi lại càng cảm thấy khó khăn bớt đi rất nhiều ở những lần sau.

Xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện.

 

 

Theo DNSG