Lạm phát trong lịch sử – Các chỉ số kinh tế cần quan tâm khi đầu tư


Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thị trường chứng khoán đã diễn biến tốt bất chấp nền kinh tế phải vật lộn với lạm phát.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử

Gần đây lạm phát ở Mỹ đang tăng lên nhanh chóng, gợi nhớ về thời kỳ đầu những năm 1980. Khi đó, người đang ngồi ghế Chủ tịch Cục dự trữ liên bang (Fed) là Paul Volcker đã tung ra những biện pháp quyết liệt nhằm dập tắt lạm phát. Ban đầu nền kinh tế bị tổn hại nghiêm trọng, nhưng đó cũng chính là cơ sở để mở ra nhiều thập kỷ thăng hoa của thị trường chứng khoán.

Nếu như làn sóng lạm phát hậu đại dịch Covid-19 kéo dài dai dẳng, liệu lịch sử có lặp lại? Nhìn lại những lần Mỹ trải qua lạm phát trong quá khứ như thời Volcker hay trước đó là hậu thế chiến thứ hai, nhà đầu tư sẽ tìm thấy một vài manh mối về cách phản ứng của thị trường tài chính.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử - Ảnh 1.
Lạm phát và lãi suất ở Mỹ từ 1940 đến nay.

Vì sao chứng khoán vẫn tăng tốt bất chấp lạm phát?

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thị trường chứng khoán đã diễn biến tốt bất chấp nền kinh tế phải vật lộn với lạm phát. Tuy nhiên điều đó chỉ kéo dài đến giữa những năm 1960. Sau đó cổ phiếu và trái phiếu kho bạc đã có quãng thời gian ảm đạm cho đến tận sau khi lạm phát bị “tiêu diệt” vào những năm 1970.

Một trong những nguyên nhân lý giải tại sao chứng khoán lại tăng tốt trong những năm 1950 là do dòng tiền chảy mạnh vào thị trường sau khi các quỹ hưu trí và một số định chế tài chính khác lần đầu tiên mua cổ phiếu, theo Ian Harnett, chuyên gia của Absolute Strategy Research. Điều đó làm giảm phần bù rủi ro – chỉ số đo lường phần thưởng mà các nhà đầu tư sẽ nhận được vì họ đã dám chấp nhận một mức rủi ro cao hơn khi đầu tư vào cổ phiếu thay vì đầu tư vào tài sản phi rủi ro như trái phiếu chính phủ.

Sang đến những năm 1970, chỉ số phần bù rủi ro tăng trở lại và cổ phiếu giảm điểm mạnh trước làn sóng lạm phát. Nguyên nhân lý giải cho điều này nằm ở bối cảnh nền kinh tế. Sau chiến tranh, lạm phát xuất hiện nhưng tăng trưởng kinh tế thực vẫn đủ mạnh để bắt kịp đà tăng giá cả. Các nguồn lực từng được sử dụng cho chiến tranh giờ đây được quay sang đầu tư vào hoạt động sản xuất trong thời bình.

Tuy nhiên từ giữa những năm 1960, khoảng cách giữa tăng trưởng thực và những ảnh hưởng của lạm phát bắt đầu được mở ra. Richard Sylla, giáo sư kinh tế công tác tại NYU Stern, người chuyên nghiên cứu về lịch sử lãi suất, miêu tả lạm phát thời hậu thế chiến thứ hai là giá cả bắt kịp với thực tế sau khi các biện pháp kiểm soát giá trong thời chiến được dỡ bỏ.

Câu chuyện đã thay đổi vào những năm 1960. Núi tiền mà Chính phủ Mỹ đổ vào chiến tranh ở Việt Nam và chương trình trợ cấp hào phóng của Tổng thống Lyndon Johnson được tung ra trong bối cảnh lãi suất thấp. Cung tiền tăng mạnh và giai đoạn mà Sylla gọi là Đại lạm phát bắt đầu.

Nền kinh tế trở nên quá nóng. Ban đầu, cầu vượt quá cung nhưng đến cuối những năm 1960 tình trạng đã đảo ngược, trở thành cung dư thừa. Lạm phát tăng khiến người lao động cũng đòi hỏi mức lương cao hơn. Trong khi đó Fed lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ hệ thống chính trị: Chủ tịch Fed Arthur Burns đã giúp sức bằng chính sách tiền tệ để Tổng thống Richard Nixon có thể tái đắc cử.

Đồng USD đã biến động rất mạnh sau khi Nixon ngừng chế độ quy đổi USD sang vàng vào năm 1971, “giết chết” thỏa thuận Bretton Woods vốn giúp các đồng tiền trên thế giới gắn kết với nhau. Một đồng USD trồi sụt thất thường hơn đã dẫn đến giá cả các hàng hóa nhập khẩu tăng lên, làm cho lạm phát biến động mạnh hơn và khó đoán hơn. Và sự bấp bênh chính là điều tồi kỵ với các nhà đầu tư.

Sau đó thị trường tiếp tục bị giáng thêm 1 đòn nữa khi cú sốc giá dầu ập đến. Nhiều nước Arab đồng loạt ngừng xuất khẩu dầu sang Mỹ để phản đối việc Mỹ hậu thuẫn Israel.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử - Ảnh 2.
Tỷ lệ lạm phát và lợi suất mà S&P 500, trái phiếu Mỹ kỳ hạn 5 năm mang lại.

Câu chuyện của ngày nay

Ngày nay chúng ta đang ở đâu? Thị trường chứng khoán không có nhiều đệm đỡ trước những bất ổn. Trong khi đó, Chính phủ Mỹ đang quyết tâm kích thích nền kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên không giống như thời kỳ giữa những năm 1960, cầu vẫn đang vượt quá cung. Vai trò của Fed có ý nghĩa quan trọng. Hiện Fed đang để cho nền kinh tế phát triển hết mức, thả lỏng lạm phát nhằm đạt được trạng thái toàn dụng lao động và phục hồi nền kinh tế sau đại dịch.

Dẫu vậy nền kinh tế phát triển quá nóng là 1 triển vọng bất ổn mà nhà đầu tư sẽ lo sợ, đặc biệt là nếu như tốc độ tăng trưởng cung tiền như hiện nay nhanh chóng sụt giảm xuống mức thấp hơn đáng kể giống như những gì đã diễn ra sau thế chiến.

Trong quá khứ, nhà đầu tư đã quay sang những kim loại quý như vàng. Nếu như thời kỳ những năm 1970 vàng là hầm trú ẩn hoàn hảo trước bão lạm phát thì thời hậu chiến Mỹ đã cấm giao dịch vàng.

Còn trên thị trường chứng khoán, trong thời kỳ cuối những năm 1970 – đầu những năm 1980 cổ phiếu của các công ty hoạt động trong những ngành có tính chu kỳ (như hóa chất, khai mỏ hay hàng không) đã diễn biến tốt hơn so với các ngành mang tính phòng thủ cao như tiêu dùng thiết yếu hay điện nước. Kể từ đó đến nay, cổ phiếu chu kỳ lại diễn biến tệ hơn nếu như không tính đến các công ty công nghệ. Do đó, tránh các cổ phiếu công nghệ, hoặc ít nhất là những cổ phiếu có lợi nhuận trong tương lai phải dựa vào lãi suất thấp sẽ là 1 lựa chọn hợp lý.

Tham khảo Wall Street Journal

Thu Hương / Theo Doanh nghiệp & Tiếp thị

—-

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm

Các chỉ số kinh tế là một trong những vũ khí có giá trị nhất của các nhà đầu tư.

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm
Chỉ số chứng khoán – Ảnh: Reuters

Chỉ số kinh tế là gì?

Chỉ số kinh tế (Economic indicator) là một phần của dữ liệu kinh tế, thường có quy mô kinh tế vĩ mô, được các nhà phân tích sử dụng để giải thích các khả năng đầu tư hiện tại hoặc trong tương lai. Đồng thời, chỉ số kinh tế cũng được dùng trong việc đánh giá sức khỏe tổng thể của một nền kinh tế.

Nền kinh tế, về cơ bản cũng giống như một cơ thể sống. Tại bất kỳ thời điểm nào, cũng có hàng tỷ tế bào đang chuyển động – một số thì tự vận động, một số khác thì phản ứng với các tác nhân bên ngoài. Điều đó khiến cho việc dự đoán biến động của nền kinh tế trở nên vô cùng khó khăn. Vì mỗi dự báo lại liên quan đến một lượng lớn các giả định.

Nhưng với sự trợ giúp của một loạt các chỉ số kinh tế, các nhà đầu tư có thể hiểu rõ hơn về các bối cảnh, mô hình kinh tế khác nhau. 

Vì sao lạm phát và các chỉ số liên quan đến nó lại quan trọng?

Nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu chứng khoán, nên quan tâm đến lạm phát. Lạm phát hiện tại, và lạm phát có thể xảy ra trong tương lai đều rất quan trọng trong việc xác định lãi suất hiện hành và chiến lược đầu tư. 

Có một số chỉ số cũng quan trọng liên quan đến áp lực lạm phát. Đáng chú ý nhất trong nhóm này là Chỉ số giá sản xuất (PPI) và Chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Nhiều nhà đầu tư thường sử dụng PPI để thử dự đoán CPI sắp tới.

Có một mối quan hệ đã được chứng minh là có ý nghĩa thống kê giữa hai yếu tố này. Lý thuyết kinh tế cho rằng, nếu người sản xuất hàng hóa bị buộc phải trả nhiều tiền hơn trong sản xuất, thì một phần giá tăng sẽ được chuyển cho người tiêu dùng. 

Các chỉ số liên quan đến lạm phát quan trọng khác bao gồm mức độ và tốc độ tăng trưởng của cung tiền, và Chỉ số chi phí việc làm (ECI).

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm - Ảnh 1.

Tăng trưởng GDP thì sao?

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tất nhiên, có thể được coi là chỉ số quan trọng nhất, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư tập trung vào những nền kinh tế đang tăng trưởng. 

Tăng trưởng GDP tác động đến cả tài chính cá nhân, đầu tư và tăng trưởng việc làm. Các nhà đầu tư có thể nhìn vào tốc độ tăng trưởng của một quốc gia, hoặc nền kinh tế, để quyết định xem họ có nên điều chỉnh mức đầu tư của mình hay không. Nhà đầu tư cũng có thể so sánh tốc độ tăng trưởng của các quốc gia với nhau, để quyết định nơi nào có cơ hội tốt nhất. Chiến lược này thường tập trung vào việc mua cổ phần của các công ty đang ở các nước đang phát triển nhanh chóng.

Ngoài GDP, Chỉ số Quản lý mua hàng (PMI) hay báo cáo lao động đều có thể cho thấy một nền kinh tế đang hoạt động tốt ở mức nào. 

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm - Ảnh 2.

Lãi suất có phải một chỉ số cần quan tâm?

Lãi suất là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đối với thị trường ngoại hối, do tác động của chúng đến giá trị của tiền tệ. Lãi suất cao thường cho thấy một nền kinh tế ổn định, và cũng có nghĩa là tỷ lệ hoàn vốn của các khoản tiết kiệm trong tài khoản ngân hàng cao hơn, điều này có thể khuyến khích mọi người tiết kiệm thay vì đồ tiền vào các khoản đầu tư có rủi ro cao hơn.

Ngược lại, nếu lãi suất đối với tài khoản tiết kiệm thấp, các nhà đầu tư sẽ ưu tiên các khoản đầu tư rủi ro cao hơn.

Thất nghiệp và tiền lương nói lên điều gì?

Dữ liệu thất nghiệp và tiền lương là số liệu thống kê xem xét số lượng việc làm trong nền kinh tế và số tiền mà mỗi cá nhân đang được trả cho công việc của họ. Dữ liệu này thường chỉ được công bố một vài lần trong năm.

Tỷ lệ thất nghiệp cao cùng với mức lương thấp là dấu hiệu của một thời kỳ suy thoái. Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp thấp và mức lương ngày càng tăng cho thấy nền kinh tế đang phát triển. Số liệu thất nghiệp được các thương nhân và nhà đầu tư trên toàn thế giới theo dõi chặt chẽ vì thời kỳ thất nghiệp cao thường có sự tương quan với quan đến giá cổ phiếu thấp.

Thái Quỳnh / Theo Nhịp sống kinh tế

Thất nghiệp mùa dịch hủy hoại cơ thể và tinh thần như mất ngủ, trầm cảm


Ảnh minh hoạ :)

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm

Mất việc không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống mà còn để lại những tác động đến sức khỏe thể chất và tinh thần mà nếu không phát hiện sớm sẽ dẫn tới hậu quả lâu dài.

Mất việc là một trong những trải nghiệm tồi tệ nhất trong sự nghiệp của bạn, đặc biệt là khi nó đến một cách đột ngột. Mất việc trong lúc Covid-19 đang bùng phát lại càng khiến tình trạng stress thêm nghiêm trọng. Khi ấy, bạn không chỉ mất đi một nguồn thu nhập ổn định mà còn đánh mất cả mục đích, thói quen và những người bạn đồng nghiệp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của bạn.

Những tín hiệu cảnh báo cơ thể đang bị ảnh hưởng từ chuyện thất nghiệp

1. Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều

Một trong những dấu hiệu đầu tiên là sự thay đổi của giấc ngủ.

Theo Kristin Bianchi – bác sĩ tâm lý tại Trung tâm Thay đổi Hành vi và Rối loạn lo âu (Mỹ), bạn có thể sẽ bị khó ngủ, không cảm thấy buồn ngủ, hoặc dậy sớm hơn dự định.

1-2 đêm mất ngủ là chuyện bình thường, nhưng nếu tình trạng này xảy ra thường xuyên, nó thực sự rất đáng lo ngại. “Họ sẽ trở nên lo lắng nếu cứ mất ngủ triền miên”, cô cho biết.

Kể cả khi thất nghiệp, áp lực trong công việc cũ vẫn có thể đeo bám bạn dai dẳng. Patricia Haynes – phó giáo sư Khoa Khoa học Thúc đẩy Sức khỏe của ĐH Arizona – đã tiến hành một nghiên cứu về tác động lâu dài của các yếu tố gây stress nơi công sở lên sức khỏe con người sau khi bị sa thải. Bà và các đồng nghiệp phát hiện rằng những người cảm thấy bất an hay chịu áp lực từ việc đấu đá nơi công sở thường bị mất ngủ sau khi mất việc.

“Càng nhiều rào cản, ví dụ như rào cản chính trị, rào cản trong việc thăng chức, những thứ khiến cho mọi người không thể làm tốt công việc của họ – tất cả những yếu tố gây stress đó đều liên quan tới tình trạng mất ngủ sau khi người lao động mất việc”, bà nói.

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm - Ảnh 1.

2. Sức khỏe tinh thần sụt giảm

Theo khảo sát của Gallup trên 356.000 người Mỹ, càng thất nghiệp lâu, bạn càng dễ bị trầm cảm. Cứ 5 lao động lại có 1 người thất nghiệp trong vòng 1 năm cho biết mình đang điều trị trầm cảm.

Bianchi cho biết, hai dấu hiệu trầm cảm rõ nhất ở những người lao động bị mất việc là khi họ không còn hứng thú với những hoạt động mình từng thích trước kia và khi họ cảm thấy tâm trạng xuống dốc trong 2 tuần liên tiếp. “Nó hơi giống với sự buồn bã, chán nản. Đôi khi, nó lại thể hiện dưới hình thức giận dữ hoặc khó chịu”, Bianchi miêu tả.

3. Thay đổi tính cách, ít dễ chịu hơn

Một nghiên cứu năm 2015 của Tạp chí Tâm lý học Ứng dụng cho thấy, tình trạng thất nghiệp có thể dẫn đến những thay đổi cơ bản trong tính cách. 

Tổng cộng có 6.769 người Đức đã tham gia nghiên cứu và hoàn thành bài kiểm tra tính cách trong vòng 4 năm. Kết quả là, tính cách của những người mất việc có sự thay đổi đáng kể, nhất là ở mức độ dễ chịu, so với những người vẫn giữ được việc. Ngoài ra, nam giới được cho là dễ chịu hơn trong vòng 2 năm đầu thất nghiệp, nhưng sau đó sẽ bớt thân thiện dần.

Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng những thay đổi này là do cách nhìn của bạn thay đổi sau khi thất nghiệp dài hạn. “Khi mới thất nghiệp, họ vẫn có động lực để xử sự bình thường nhằm tìm kiếm một công việc mới hoặc để khiến cho những người xung quanh yên tâm. Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài vài năm, những động lực này sẽ mất dần”, tác giả của nghiên cứu cho biết.

4. Cơ thể nhức mỏi, đau nửa đầu, đau bụng

Khi cơ thể bị stress, cơ bắp của bạn sẽ cứng lại để bảo vệ bạn khỏi những nguy cơ tiềm tàng. Đó là một phần phản ứng tự vệ của cơ thể. Thế nhưng, tình trạng này kéo dài có thể dẫn tới các căn bệnh mãn tính như đau nửa đầu. Ngoài ra, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cũng tìm thấy mối liên hệ giữa stress vì mất việc với các cơn đau ở lưng và chi trên.

Vì não bộ thường xuyên gửi tín hiệu xuống dạ dày, stress vì thất nghiệp cũng có thể gây khó chịu ở vùng bụng. “Đối với rối loạn lo âu, các triệu chứng của bệnh dạ dày xuất hiện là điều không có gì lạ. Rất nhiều người cho biết họ bị đau bụng”, Bianchi nói. “Khi lo lắng, chúng ta thường bị đau đầu và đau cơ”.

5. Khẩu vị thay đổi đáng kể

Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, stress có thể làm tăng hoặc giảm khẩu vị. Những thay đổi này “có thể kèm theo tăng cân hoặc sụt cân”, Bianchi cho biết.

Làm gì để bảo vệ sức khỏe trong thời kỳ thất nghiệp

1. Hình thành thói quen

Theo bác sĩ tâm lý học Lisa Orbé-Austin, người lao động sau khi mất việc nên thiết lập một chuỗi thói quen mới để bản thân không quá nhàn rỗi và có động lực sống mỗi ngày. Bạn có thể tập thể dục, hẹn bạn ăn trưa, nghỉ ngơi sau hàng giờ ngồi tìm việc.

“Khi cảm thấy bất lực – kiểu ‘Tôi không có lương, tôi đang thất nghiệp’, bạn nên hình thành một thói quen nào đó để bản thân có việc mà làm”, cô khuyên.

Theo Haynes, dậy sớm mỗi sáng vào cùng một giờ, ăn uống đầy đủ và chăm chỉ hoạt động sẽ giúp ích nhiều cho những lao động bị mất việc.

2. Cố gắng tham gia một hoạt động nào đó

Khi thất nghiệp, bạn rất dễ cảm thấy vô dụng. Bạn sẽ nghĩ: Mình bỏ ra bao nhiêu công sức như thế mà chẳng có gì thay đổi. Theo Bianchi, cách duy nhất để loại bỏ cảm giác này là cố gắng thực hiện những hoạt động đem lại niềm vui và sự hiệu quả.

“Điều này không chỉ cải thiện tâm trạng mà còn giúp bạn cảm thấy có ích, đủ động lực để sống tiếp, kể cả khi đang thất nghiệp”, cô nói. “Nó sẽ giúp bạn kiên cường hơn.”

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm - Ảnh 4.

3. Cẩn thận tâm lý bi quan quá mức

Theo Bianchi, khi mọi người suy sụp và mất tinh thần, họ thường bỏ qua những điều tích cực. “Họ quá tập trung vào những điều tiêu cực và thất vọng mà mình trải qua”, cô cho biết.

Một trong những cách hữu hiệu để xua tan những ý nghĩ tai hại này là ghi chép lại những việc mình đã làm được và cảm thấy tự hào. “Đó có thể là những hành động do bạn tự chọn, hoặc bạn có thêm vào các phản hồi tích cực”, Bianchi giải thích. Những lời khen ngợi hay việc có ai đó gọi đến để hỏi thăm bạn cũng là dấu hiệu cho thấy bạn đã thiết lập được một mối quan hệ tích cực.

Bianchi giải thích, bằng cách nhắc nhở bản thân về các giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, bạn sẽ “tăng cường sự tự tin trong lúc phải đối mặt với những mất mát từ chuyện thất nghiệp”.

(Theo HuffPost)

Ngọc Hà / Theo ICTVietNam

Millennial: Thế hệ trẻ hứng nhiều rủi ro nhất


Millennial có bằng cấp, sức khỏe nhưng thiếu nơi cần tới họ

Millennial: Thế hệ trẻ hứng nhiều rủi ro nhất -2

Millennial là thuật ngữ tiếng Anh chỉ lớp người chào đời trong khoảng năm 1981-1996, hiện đang trong độ tuổi từ 24-39. Họ đóng vai trò lực lượng lao động cốt yếu, nhưng vừa vào đời là vấp đủ các kiểu khó khăn khi làm giàu. Khổ hơn cả là nhóm Millennial năm cuối (1996) chưa kịp xin việc làm đã gặp dịch bệnh Covid-19. Tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu nói chung đang tăng chóng mặt, ước tính có đến 2 tỷ lao động đã và sắp mất việc làm.

1,6 tỷ người thất nghiệp

Theo thống kê mới nhất vào nửa cuối tháng 6.2020 từ Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labor Organization-ILO), đại dịch Coronavirus đã buộc hàng trăm triệu lao động trên thế giới phải nghỉ việc. Chỉ riêng tại Mỹ, số người nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp đã lên đến 30 triệu. Khắp khu vực Tây Âu, tình trạng mất việc làm vì đại dịch gia tăng. Trung Quốc – nơi bắt đầu của “nạn” Covid-19 báo cáo tỷ lệ thất nghiệp chỉ tăng nhẹ so với trước đó. Tuy nhiên, họ đã không tính cả số lao động nhập cư đông tới 300 triệu người.Covid-19 đẩy gần 2 tỷ lao động vào tình trạng mất việc

Cũng theo báo cáo từ ILO, hàng trăm triệu người mất việc nói trên mới chỉ là một phần của lực lượng lao động thất nghiệp toàn cầu, cụ thể là những người có công ăn việc làm chính thức. Ngoài họ, thế giới việc làm còn rất nhiều nhân công tự do, thời vụ, bán thời gian… Họ góp mặt trong mọi lĩnh vực ngành nghề và cũng không tránh khỏi khốn khổ vì Covid-19. Nếu tính cả các nhóm này, số lượng người thất nghiệp toàn cầu lên đến 1,6 tỷ người. Ngoài ra, còn khoảng 400 triệu người khác gặp khó khăn giữ việc làm. ILO ước tính Covid-19 đẩy chừng 2 tỷ người lao động vào tình cảnh đã và sắp mất việc.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development-OECD) cũng đưa ra các thông báo ảm đạm không kém. Thống kê tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu vào tháng 5.2020 của họ cho thấy sự gia tăng mạnh chưa từng có. Trong phạm vi 34 quốc gia thuộc OECD (tất cả đều là những nước có nền kinh tế phát triển nhất thế giới), tỷ lệ thất nghiệp đang ở mức 5,2% vào tháng 2 đột ngột nhảy vọt lên 5,6% vào tháng 3. Tháng 4 ở Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp tăng hẳn 10,7% so với tháng 3, lên tới 14,7%. Canada cũng tăng 5,2% so với tháng 3, chạm mức 13%.

Tỷ lệ thất nghiệp tại các nước khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức, Bỉ… tuy không chênh lệch quá lớn như vậy trong vòng 1 tháng, nhưng nhìn chung đều tăng.Phần lớn Millennial khổ sở vì công ăn việc làm

Thế hệ kém may nhất

Xét từ năm đầu tiên của thế kỷ XX đến nay, nhân khẩu thế giới được chia làm 7 thế hệ: Generation (1901–1924), Traditionalist (Thế hệ Im lặng, 1925-1942), Baby Boomber (Thế hệ Bùng nổ Trẻ Sơ sinh, 1943-1960), Baby Busters (Thế hệ X, 1961-1981), Millennial (Thế hệ Y, 1981-1996), Gen Z (Thế hệ Z 1997-2012) và Alpha (Thế hệ Alpha, 2012-). Các Generation chỉ còn lượng dân số rất nhỏ, lớp trẻ nhất cũng đã 94 tuổi. Phần lớn các Traditionalist đã về hưu. Thế hệ Z mới có một số ngấp nghé “ngưỡng cửa vào đời” và thế hệ Alpha còn quá nhỏ. Lao động chính của toàn cầu rơi vào Thế hệ X (39-59 tuổi) và Millennial (24-39 tuổi), trong đó, Millennial đóng vai trò lực lượng cốt yếu, trẻ khỏe và giàu trình độ nhất.

Năm 2004, lớp Millennial đầu tiên (1981) tốt nghiệp đại học. Nền kinh tế toàn cầu đã qua gia đoạn bùng nổ sự tăng trưởng sau Thế chiến thứ hai (1939-1945), sự phát triển có chiều hướng chững lại và thụt lùi. Phần lớn các doanh nghiệp đã đủ người lao động, không cần tuyển thêm nhân lực. Năm 2007-2008, nền kinh tế thế giới đột ngột rơi vào đại suy thoái. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ Mỹ, với hàng loạt các ngân hàng lớn bị vỡ nợ. Thượng viện Hoa Kỳ buộc phải thông qua đạo luật ổn định kinh tế khẩn cấp, cho phép Bộ Tài chính chi đến 700 tỷ USD  cứu hệ thống trung gian tài chính đang lâm nguy.

Từ Mỹ, đại suy thoái kinh tế lan ra toàn cầu. Theo thống kê quý I năm 2009, GDP của Latvia giảm hẳn 18%, Nhật Bản giảm 15,2%, Đức giảm 14,4% và Anh giảm 7,4%. Các nước đang phát triển cũng không tránh khỏi bị tác động nặng nề. Suốt 5 năm kế tiếp, nền kinh tế thế giới vẫn chưa có dấu hiệu vực dậy. Vô số doanh nghiệp vừa và nhỏ không trụ nổi, lần lượt phá sản. Các doanh nghiệp lớn chống chịu tốt hơn, song buộc phải thu nhỏ quy mô, cắt giảm công nhân viên.Số người thất nghiệp chiếm hẳn 20-30% Millennial

Ngược lại, số lớp Millennial tốt nghiệp đều đặn nối đuôi nhau. Họ có bằng cấp, tràn đầy ước mơ và sinh lực nhưng “không có đất dụng võ”. Trước năm 2018, tỷ lệ Millennial thất nghiệp luôn dao động trong khoảng 20-30%. Năm 2019, lớp Millennial cuối cùng ra trường. Thế giới chưa tặng họ cơ hội lập nghiệp nào đã rơi vào đại dịch Coronavirus. Theo thống kê hồi tháng 4 từ tổ chức Data for Progress, lượng lao động dưới 45 tuổi bị sa thải chiếm tới 52% (phần lớn là các Millennial), còn trên 45 tuổi thì chỉ 26%. Mặc dù Covid-19 không từ một ai, nhưng đặc biệt tồi tệ với thế hệ Millennial.

Đến cái áo cũng phải thuê

Trái với cơ hội lập nghiệp ngày càng giảm, chi phí sinh hoạt, ăn học ngày càng cao. Trung bình, mỗi Millennial cần khoảng 33.000 USD (tương đương 766 triệu VNĐ) chi trả cho 4 năm đại học. Đa phần họ nợ người nhà hoặc ôm khoản nợ sinh viên kếch xù. Từ cuộn giấy vệ sinh cho tới bất động sản, thứ nào cũng lên giá. Lượng Millennial đứng tên sở hữu nhà đất ngày càng giảm. Tại Mỹ, tỷ lệ Millennial có nhà riêng vào năm 2005 là 43%, đến năm 2019 chỉ còn 37%. Tại Anh, lượng Millennial có nhà riêng hiện thời chỉ chiếm 34%. Số liệu thống kê từ Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ trong khoảng năm 1995-2016 cũng chỉ ra: chỉ có đúng 2% Millennial sở hữu khối tài sản và tiền mặt từ 1 triệu USD trở lên. Chưa hết, 40% trong số họ có được khoản này là do thừa kế.

Trước tình trạng “thất nghiệp + nghèo kiết xác”, các Millennial buộc phải xoay xở mà sống. Đầu tiên, họ lựa chọn thuê nhà thay vì mua. Nắm bắt xu thế, hàng loạt các doanh nghiệp, công ty bất động sản mở rộng cho thuê nhà riêng, căn hộ. Các cá nhân có dư chỗ ở cũng nhiệt tình giới thiệu mời thuê.

Trên khắp thế giới, thuê căn hộ/nhà tư dễ như đút tay vào túi. Người thuê cũng được phép tùy chọn thời gian thuê, sửa sang phòng ốc, sân vườn theo ý thích… Càng ngày, các Millennial càng chú trọng chăm chút chỗ ở thuê. Họ thích tự tay biến nó thành không gian độc đáo duy nhất, khiến những mặt hàng xây dựng dễ tháo lắp như giấy dán tường, gạch ốp giả bất thần đắt khách.Thuê mọi thứ là giải pháp cho “hầu bao nông” của Millennial, nhưng phải không kế sách vẹn toàn

Sau thuê nhà là đến thuê đồ đạc nội thất, gia dụng. Từ giường tủ, bàn ghế cho đến nồi cơm, bếp ga đều có chỗ cho thuê. So với mua, tiền thuê rẻ hơn, lại tiện muốn đổi lúc nào cũng được (tất nhiên là phải trả thêm tiền). Một số Millennial thành ra “cuồng” thay đổi nơi ở, đồ đạc, vung hết tiền kiếm được vào việc “thử nghiệm các không gian sống, mốt nội thất khác nhau”. Lâu dần “quen mui thuê”, các Millennial thuê luôn quần áo, vật dụng cá nhân đắt đỏ. Các cửa hàng cho thuê trang phục dạ hội, hàng hiệu tới tấp mọc lên. Millennial không cần tốn quá nhiều tiền mà vẫn thoải mái diện đồ model, khoe giày dép, túi sách siêu sang “chảnh”.

Mặc dù thuê đồ hay thuê nhà không khó, nhưng hàng thuê có “xịn” đến mấy vẫn là của người ta. Tiền thuê lâu ngày gộp lại có khi còn cao hơn tiền mua. Đặc biệt là tới hạn phải trả lại rồi, Millennial tay trắng vẫn hoàn tay trắng. Điều này khiến Thế hệ X (cha mẹ) và Baby Boomber (ông bà) không cách nào thôi lo lắng.

Vũ Thị Huế / doanhnhanplus

Tương lai người lao động phổ thông tại Thung lũng Silicon


Trước đại dịch, luôn có nhân viên của công ty đi lại tấp nập trong khuôn viên trụ sở bất kể là ca ngày hay đêm, còn bây giờ, cô ít thấy ai, ngoài vài nhân viên dọn dẹp và bảo dưỡng thiết bị.

Mặc dù công việc ca đêm từ 20h tới 4h sáng hôm sau khiến Morales có ít thời gian ngủ, nhưng khoản lương 33.000 USD một năm là nguồn thu nhập chính cho gia đình cô. Ngoài ra, ban ngày cô vẫn có thể làm việc nhà, nấu nướng và giúp đứa cháu nhỏ đang học online tại nhà. Tuy nhiên, “chủ đề về tương lai bất ổn của công việc bảo vệ thường xuyên được chúng tôi bàn tán trong các ca làm”, Morales nói.fb-4252-1605496665-1897-1605517231.jpg

Khi các nhân viên khác làm việc tại nhà, nhân viên nhà ăn, lau dọn hay bảo vệ đang phải đối mặt với nguy cơ thất nghiệp. Ảnh: WSJ.

Cảm giác bất an về tương lai là tâm lý chung của nhiều lao động phổ thông hiện nay tại Thung lũng Silicon. Trường hợp của Morales là một trong rất nhiều câu chuyện được Silicon Valley Rising công bố hôm 12/11. Đây là một nhóm bảo trợ hoạt động lao động do tổ chức Working Partnerships, có trụ sở tại San Jose, dẫn đầu.

Báo cáo chỉ ra rằng mặc dù hầu hết các công ty công nghệ vẫn giữ lại số lượng nhân viên phổ thông khá đông, tình hình tương lai vẫn chưa chắc chắn. Một số công ty, như Verizon, Genentech hay LinkedIn, gần đây đã tạm dừng hợp đồng với các nhà thầu dịch vụ, dẫn đến hàng trăm nhân viên vệ sinh, bảo vệ bị sa thải.

Cũng theo nghiên cứu của nhóm, Thung lũng Silicon hiện có khoảng 14.000 lao động không trong công đoàn, làm các công việc như nhân viên quán ăn, nhân viên vệ sinh, nhân viên an ninh và tài xế xe buýt, cùng các vị trí khác. Trong số này gần 2/3 là người gốc Phi và La-tinh, tổng cộng họ cũng kiếm được khoảng 538 triệu USD một năm.

Thông thường, những lao động phổ thông không làm việc trực tiếp cho những công ty công nghệ mà sẽ ký hợp đồng với một công ty thứ ba. Những lao động này không có quyền lựa chọn làm việc tại nhà và cũng sớm nhận ra rằng nếu mất việc làm, họ sẽ rất khó tìm được một công việc khác.

Louise Auerhahn, giám đốc chính sách tại Working Partnerships, cho biết: “Có một sự không chắc chắn đối với những người lao động này – họ không biết công việc đó sẽ kéo dài bao lâu”.

Tuy nhiên, một điều chắc chắn là những lao động này sẽ ngày càng có ít lựa chọn công việc thay thế nếu họ thất nghiệp. Đôi vợ chồng trẻ – Madeleine và Francisco Rivera – cho biết mức lương của họ – lần lượt là 26,72 USD và 22,60 USD mỗi giờ – vẫn rất quan trọng đối với cuộc sống gia đình, đặc biệt khi họ mới chào đón thành viên thứ ba. Công việc trước kia của hai người là nhân viên pha chế và rửa bát tại trụ sở Mountain View, tuy nhiên, sau đại dịch, họ đã được điều chuyển làm lễ tân ở các tòa nhà khác trong khuôn viên rộng lớn của Google.

Madeleine Rivera nói: “Nếu không có việc làm, chúng tôi sẽ không thể đến bệnh viện, không thể chữa bệnh. Trường hợp không có việc sẽ rất tàn khốc”.

Trong khi đó, nhiều công ty ở Thung lũng Silicon vẫn tiếp tục thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ bất chấp nền kinh tế suy thoái. Tháng trước, Amazon, Apple, Alphabet và Facebook đã báo cáo lợi nhuận ròng hàng quý đạt 38 tỷ USD. Công ty mẹ của LinkedIn, Microsoft, cũng kiếm được gần 14 tỷ USD lợi nhuận trong quý III năm 2020.

Chỗ dựa tài chính

Kể từ lúc Covid-19 bùng phát đến nay, các công ty trong lĩnh vực công nghệ luôn là những doanh nghiệp tiên phong trong phong trào làm việc tại nhà. Tháng 5 vừa qua, đại diện của Facebook và Twitter cho biết công ty chưa có kế hoạch đưa nhân viên trở lại văn phòng trong tương lai gần. Google và Amazon cũng cam kết cho phép nhân viên làm việc từ xa cho tới mùa hè năm sau.

Tuy nhiên, các công ty này dường như ít công bố những cam kết của mình đối với lao động phổ thông, những người làm công việc nấu ăn, lau dọn và bảo vệ cơ sở vật chất của các doanh nghiệp. Để đảm bảo công bằng, các công ty vẫn cố gắng cung cấp một số gói hỗ trợ tài chính cho người lao động phổ thông. Đại diện của Twitter, Catherine Hill, cho biết công ty vẫn duy trì “phần lớn” dịch vụ tại trụ sở của mình.

Trên một blog của Google, CEO Sundar Pichai cho biết “nhân viên bán thời gian hoặc lao động được Google thuê từ bên thứ ba – những người bị ảnh hưởng bởi thời gian làm việc bị cắt giảm – sẽ đều được đền bù”.

Đối với Facebook, người đại diện Chloe Meyere cho biết công ty vẫn tiếp tục trả lương cho tất cả nhân viên hợp đồng, cho dù họ có thể làm việc tại nhà hay không.

Đó thực sự là một cứu cánh cho những người lao động như Liliana Morales khi cô ở nhà mà vẫn được trả lương cho công việc phục vụ tại căng tin của Facebook. Morales, mẹ của ba đứa trẻ, cho biết cô đang dành nhiều thời gian hơn cho việc giúp các con làm bài tập ở trường.

“Nếu họ tiếp tục hỗ trợ chúng tôi, tôi sẽ có thể trả tiền thuê nhà và mua thực phẩm cho gia đình. Facebook đang làm điều đúng đắn. Chúa phù hộ họ, đặc biệt là thời điểm này, chúng tôi không biết mình phải chờ đợi điều gì, nhưng điều quan trọng nhất là chúng tôi vẫn có thể nuôi sống gia đình mình”, cô nói bằng tiếng Tây Ban Nha.

Trải nghiệm lẫn lộn

Ngoài việc không biết khi nào những khoản hỗ trợ tài chính này sẽ chấm dứt, hầu hết lao động phổ thông đều không hiểu tại sao một số công việc có thể tiếp tục sống sót, còn những số khác lại biến mất.

Theo Stacy Murphy, Phó chủ tịch Teamsters Local 853, một công ty đưa đón nhân viên của các công ty công nghệ lớn, cho biết: “Không khí lo lắng đang tràn ngập ngoài kia, nhưng chúng tôi luôn cố gắng lạc quan và giữ một tinh thần cởi mở nhất”.

Khác với các công ty còn lại tại Thung lũng Silicon, Genetech, chuyên nghiên cứu công nghệ sinh học, vẫn mở cửa làm việc suốt thời gian đại dịch diễn ra. Mặc dù vẫn giữ lại nguyên đội 80 tài xế xe buýt làm việc, Genetech lại là một trong những doanh nghiệp công nghệ đầu tiên giảm hàng chục nhân viên an ninh ngay từ đầu tháng 8.

Tương tự, Amazon cũng sẽ giữ nguyên, thậm chí tuyển thêm nhân viên vận chuyển số đơn hàng tăng vọt trong suốt thời gian đại dịch. Tuy nhiên, theo Teamsters Local 853, tháng 10 vừa qua, Amazon đã ngừng trả tiền cho các công ty thuê tài xế bên thứ ba.

Từ tháng 3 đến tháng 9, các công ty bao gồm LinkedIn, Salesforce, Electronic Arts và Nvidia đã chấm dứt hợp đồng với các nhà cung cấp dịch vụ vận tải, dẫn đến việc sa thải hàng loạt tài xế. Kenly Walker, phát ngôn viên của LinkedIn, cho biết vì LinkedIn không tuyển dụng trực tiếp tài xế đưa đón nhân viên nên công ty không thể quyết định về kế hoạch nhân sự của họ. Nhưng Walker cũng cho biết “những nhân viên bị ảnh hưởng” sẽ được công ty cấp tài khoản sử dụng dịch vụ Premium miễn phí, cũng như nhận được sự hỗ trợ từ các huấn luyện viên chuyên nghiệp của LinkedIn.

Dẫu vậy, vẫn có không ít doanh nghiệp duy trì số lượng tài xế, thậm chí là mở rộng đội ngũ này. Tracy Kelley, một nhà tổ chức của Local 853, cho biết Facebook là nhà tuyển dụng lớn nhất của Teamsters Local 853, với khoảng 500 tài xế vẫn tiếp tục được trả lương. Xếp sau là Apple, Microsoft và Twitter.

Theo Teamsters Local 853, Tesla đang tiếp tục thuê tài xế đưa công nhân đến cơ sở sản xuất ở Fremont và đang có kế hoạch mở rộng các tuyến đường mới đến Antioch, phía đông bắc Oakland và Gilroy, phía nam San Jose.

Boardman cho biết, hầu hết công nhân lao công, bảo trì và bảo vệ đều giữ được công việc. Ông nói: “Các tòa nhà không nhỏ hơn chút nào. Chúng vẫn cần được bảo trì. Các nhân viên an ninh hầu như không bị sa thải”.

Vực thẳm thất nghiệp

Erika Sanchez, một nhân viên phục vụ lâu năm tại văn phòng Verizon Media ở Sunnyvale, California, vừa nhận được thông tin cô và hơn 120 nhân viên khác sẽ bị sa thải. Sanchez đã làm việc tại đây hơn 12 năm, kể từ thời kỳ nó còn là trụ sở chính của Yahoo. Cô kiếm được 19 USD một giờ làm việc trong quán cà phê, tương đương khoảng 38.000 USD một năm.

Sanchez đã nộp đơn xin bảo hiểm thất nghiệp với hy vọng có thể giúp cô trang trải được chi phí gia đình trong thời gian tới. Hiện tại cô đã có thể xoay sở để trả tiền thuê nhà nhận được thức ăn miễn phí thông qua Hunger at Home, một tổ chức phi lợi nhuận ở địa phương, nơi cô ấy làm tình nguyện viên.

“Tôi ổn, tôi vẫn đang cố hết sức, gần đây tôi được thuê làm vài công việc lặt vặt như dọn dẹp nhà cửa, cũng như tự đi bán trang sức và chăn với một người họ hàng”, Sanchez nói.

Khi được hỏi liệu cô có bán hàng trực tuyến hay không, cô nói rằng cô không biết làm thế nào, mặc dù cô làm việc trong ngành công nghệ.

“Nhưng đó là thứ mà tôi rất muốn học”, cô nói.