Sợ mắc COVID-19 quá mức, coi chừng bị coronaphobia


Chúng ta đang sống trong thời buổi mà chỉ cần bị ho nhẹ, sụt sịt hay mất khứu giác là giật mình tự hỏi phải chăng mình đã nhiễm COVID-19. Sợ bị nhiễm COVID-19, tiếng Anh là coronaphobia, là một dạng rối loạn lo âu bệnh tật. Nghiên cứu cho thấy điều này liên quan đến việc sợ bị nhiễm bệnh, tử vong và cả phong tỏa.

Tập thể dục, yoga tại nhà vừa giúp tăng cường sức khỏe vừa có tác dụng giảm lo lắng. Ảnh: Getty Image

Quá sợ bệnh cũng là bệnh

Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ định nghĩa ám ảnh (phobia) là một chứng rối loạn lo âu đặc trưng bởi sự sợ hãi dai dẳng, quá mức, phi thực tế với một đồ vật, con người, động vật, hoạt động hoặc tình huống. Chứng ám ảnh này khiến người ta tránh xa những tác nhân gây ra nỗi sợ và khi không thể tránh được, sẽ gây ra lo lắng và đau khổ cho họ.

Với hơn 211 triệu ca và 4,4 triệu người chết trên thế giới (trang web thống kê worldometers.info ngày 22-8) cùng những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế – xã hội ở quy mô toàn cầu, đại dịch COVID-19 là sự kiện đau buồn và gây ra chứng coronaphobia.

Nghiên cứu về coronaphobia trên Thư viện Quốc gia Hoa Kỳ về y khoa chỉ ra rất nhiều yếu tố có thể là tác nhân gây ám ảnh liên quan đến bệnh COVID-19. 

Sự thiếu chắc chắn về nguồn gốc của virus và dịch bệnh là một trong số đó. Những câu hỏi còn bỏ ngỏ về nguồn gốc của virus, thời gian ủ bệnh, tác động của các biến thể mới, sống chung với dịch thế nào… khiến nhiều người lo lắng. Căn bệnh cũng khiến tương lai khó đoán, bấp bênh hơn. 

Quá tải bệnh viện làm sứt mẻ niềm tin của người dân vào hệ thống y tế. Tin tức về việc các lãnh đạo thế giới, người nổi tiếng nhiễm bệnh làm tăng cảm giác vô vọng, lo lắng. 

Đó mới là các yếu tố kích hoạt tâm trạng lo lắng. Khi chúng ta sợ COVID-19, các phản ứng về sinh lý, nhận thức và hành vi của cơ thể sẽ góp phần củng cố sự sợ hãi. Về sinh lý, nỗi lo lắng thường trực về việc bị nhiễm COVID-19 làm tim ta đập thình thịch, run, khó thở, chóng mặt, thay đổi cảm giác với đồ ăn, khó ngủ. 

Về nhận thức: sợ mắc bệnh khiến ta liên tục giả định các tình huống xấu: Tôi có thể chết nếu bị mắc COVID-19; tôi không thể đi làm, sẽ thất nghiệp; gia đình tôi có nguy cơ cao, họ có thể chết…

Những suy nghĩ này lại tiếp tục kích hoạt các cảm xúc như buồn bã, tội lỗi, tức giận. Vì sợ bị nhiễm bệnh, người lo lắng thái quá sẽ tránh các nguy cơ nhiễm bệnh. Nếu không thể tránh được, khi phải sử dụng phương tiện giao thông công cộng, chạm vào các bề mặt, đến nơi công cộng, nơi đông người… họ đều rất sợ hãi.

Họ sợ gặp người khác, lạm dụng các hành vi an toàn liên quan đến sức khỏe (như rửa tay). Để tự trấn an, họ liên tục kiểm tra các chỉ số sức khỏe để xác nhận mình không có bệnh: kiểm tra khứu giác, vị giác, đo thân nhiệt… Nhưng các hành động này “nuôi dưỡng” sự sợ hãi chứ không giúp họ yên tâm hơn.

Ông Gordon Asmundson – giáo sư tâm lý học tại Đại học Regina (Canada), đồng tác giả cuốn It’s Not All in Your Head: How Worrying about Your Health Could Be Making You Sick – And What You Can Do about It – lý giải vì sao “bệnh tưởng” có thể làm chúng ta “bệnh thiệt” cho biết: 

“Khi xảy ra dịch bệnh như COVID-19, người lo lắng thái quá về sức khỏe có thể bị ám thị rằng các cơn đau cơ sau khi tập thể dục hoặc một cơn ho là dấu hiệu bị nhiễm COVID-19. Điều này khiến họ lo lắng hơn, có dấu hiệu bị căng thẳng”.

Lo lắng về bệnh tật, như COVID-19, ở mức độ nào đó là có lợi, là động lực để chúng ta có những hành vi bảo vệ sức khỏe: đeo khẩu trang, tránh nơi đông người, thường xuyên rửa tay… nhưng lo lắng quá mức là lợi bất cập hại. 

Steven Taylor, nhà tâm lý học lâm sàng tại Đại học British Columbia (Canada), cho biết: “Người lo lắng về sức khỏe quá mức thường xuyên kiểm tra huyết áp, thân nhiệt. Họ có nhu cầu đi hết bác sĩ nọ đến bác sĩ kia về một vấn đề sức khỏe. Họ lật tung Internet để tìm hiểu các triệu chứng của mình”.

Mà “bác sĩ Google”, theo giáo sư Taylor, có thể đưa ra những chẩn đoán gây hoang mang, “sau khi đọc thông tin trên Internet, họ có thể còn sợ hãi hơn”.

Lo lắng thái quá có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, nhất là khi tâm trí ta luôn ám ảnh với suy nghĩ nếu mình bị bệnh thì sao, làm tim đập nhanh hơn, thở gấp, gây đau đầu, đau bụng… Nó thậm chí khiến ta mất tập trung, gây bi quan, không còn khả năng tận hưởng các hoạt động vui vẻ bình thường, làm suy giảm chất lượng cuộc sống.

“Khi sự lo lắng và tưởng tượng về bệnh tật không tương xứng với rủi ro thực tế, hoặc khi nó cản trở khả năng làm những công việc bình thường như học hành hay chăm sóc gia đình, đó là vấn đề cần giải quyết” – nhà tâm lý Bufka nói.

 Hãy đi khám với bác sĩ chuyên khoa thay vì tìm kiếm thông tin trên Google. Ảnh: Reuters

Cách tự xử nỗi lo

Dù lo lắng thái quá về bệnh tật làm phiền cuộc sống của chúng ta, tin vui là chúng ta có thể tự khắc phục hoặc nhờ sự trợ giúp của chuyên gia. Sau đây là lời khuyên của các chuyên gia:

Kiên trì lối sống lành mạnh 

Ăn uống lành mạnh, ngủ đủ giấc, kết nối với người khác (nếu không gặp mặt thì gọi điện, nhắn tin…) và thể dục thường xuyên. Mặc dù những người bị chứng rối loạn lo âu bệnh tật nghiêm trọng có thể không muốn tập thể dục vì nó khiến họ mệt thêm, hãy cố gắng tập chút ít khi có thể. 

Theo giáo sư Taylor, “sự sa sút về thể chất diễn ra rất nhanh, có thể gây ra các triệu chứng đáng lo ngại khác như nhịp tim tăng hoặc khó thở khi leo cầu thang. Ngược lại, nghiên cứu cho thấy các bài tập thể dục theo động tác, đặc biệt là thể dục cường độ cao, như chạy bộ, có thể có tác dụng nhanh và nhiều trong giảm lo lắng”.

Nghĩ về hiện tại

Chúng ta không thể thay đổi quá khứ, không thể biết trước tương lai. Cái duy nhất chúng ta kiểm soát là hiện tại. Nhà tâm lý Bufka khuyên: Khi lo lắng nổi lên, hãy quan sát nó, chấp nhận rồi đặt nó vào một góc của tâm trí để tiếp tục cuộc sống của mình. 

Bạn thử viết về nỗi lo lắng của mình ra một cuốn sổ, sau đó đóng sổ lại và suy nghĩ sang vấn đề khác. Với bài tập này, bạn có thể dần gác sự lo lắng sang một bên.

Làm dịu hệ thần kinh

Nhà tâm lý Asmundson gợi ý “tập cách kiểm soát sự kích hoạt của hệ thần kinh thực vật – hệ thần kinh thúc đẩy các phản ứng chiến đấu hay từ bỏ trước các kích ứng – giúp đưa hệ thần kinh chúng ta về trạng thái bình thường thay vì trạng thái đối mặt với nguy hiểm, nhờ đó giúp giảm lo lắng”.

Chúng ta tập kiểm soát hệ thần kinh thực vật bằng cách tập thở cơ hoành với nhịp độ ổn định (hít vào từ từ bằng mũi, đếm 1-2, tạm dừng một hoặc hai nhịp, sau đó thở ra đếm 1-2). 

Cơ hoành là một cơ hình vòm nằm dưới phổi. Khi hít vào, cơ hoành hạ xuống tạo ra một chân không hút không khí vào phổi, bụng của chúng ta sẽ phồng lên, xẹp xuống theo từng nhịp hít vào thở ra. Ngoài ra, có thể tập căng, giãn từng nhóm cơ cụ thể hoặc thiền.

Đừng kiểm tra sức khỏe quá thường xuyên 

Liên tục kiểm tra thân nhiệt hoặc khứu giác vì sợ nhiễm COVID-19 không mang lại lợi ích gì cho bạn. Nếu có các triệu chứng thực sự gây lo lắng như chóng mặt, ngất xỉu, khối u bất thường… hãy đi khám chuyên khoa, làm theo lời khuyên của bác sĩ. 

Cũng đừng nhảy hết bác sĩ này sang bác sĩ kia để tìm kiếm sự đảm bảo về chẩn đoán, hay dành hàng giờ lang thang trong các trang thông tin về sức khỏe trên Internet. Hãy ngắt kết nối Internet khi có thể hoặc làm tay chân và tâm trí cùng bận rộn bằng các hoạt động như tô màu, đan lát, đọc sách… khi rảnh rỗi.

Thay đổi cách nghĩ 

Theo các chuyên gia, cách chúng ta nghĩ về cảm giác của cơ thể và sức khỏe tổng quát của mình có thể làm tăng hoặc giảm sự lo lắng. Tập trung vào các triệu chứng xấu hoặc chưa gì đã lo mình bị bệnh nặng có thể làm tăng các nguy cơ về sức khỏe.

Nếu bạn lo lắng thái quá, hãy chất vấn những suy nghĩ lo lắng của mình và đưa ra đánh giá sát thực hơn. Thay vì nghĩ: Tuần này tôi bị kiệt sức, chắc chắn là tôi bị bệnh, hãy xem xét lại những gì xảy ra. Bạn sẽ tự đưa ra được đánh giá thực tế hơn là mình làm việc quá sức và thiếu ngủ, nên bị kiệt sức.

Tìm sự giúp đỡ của chuyên gia

Nếu không thể tự mình khắc phục những suy nghĩ lo lắng thái quá của bản thân, hãy liên hệ với bác sĩ để được tư vấn. Bạn đừng lo nếu không thể gặp trực tiếp do giãn cách xã hội vì COVID-19.

 Một nghiên cứu so sánh giữa việc trị liệu trực tuyến với trị liệu trực tiếp cho những người mắc chứng rối loạn lo âu bệnh tật cho thấy hiệu quả của trị liệu trực tuyến tương tự trị liệu trực tiếp nhưng chi phí thấp hơn. 

Ám ảnh mắc bệnh COVID-19 có thể là thoáng qua, không tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, chúng ta nhận ra, can thiệp sớm, không để nó phát triển thành vấn đề dai dẳng.

Theo TTCT

Đại dịch Covid-19: Gánh nặng của tâm trí


Để đối phó với đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19, các biện pháp hạn chế mặc dù rất cần thiết như cách ly, đóng cửa trường học… đã dẫn đến xáo trộn trong tâm lý của nhiều người: bạo lực gia đình, lạm dụng chất kích thích, đặc biệt là rượu, gia tăng ở nhiều nước.

Sau nhiều tháng cãi lộn và thường xuyên xung khắc với nhau tại nhà do Singapore áp dụng lệnh phong tỏa, vợ chồng Jack and Rose* (tên nhân vật đã được thay đổi) đã tính đến chuyện ly hôn do “những tổn thương sâu sắc” đến đời sống hôn nhân. 

John Shepherd Lim, giám đốc phúc lợi của Trung tâm tư vấn Singapore nói: “Người vợ, vốn là người nội trợ chính trong gia đình, đã rất bất mãn và mệt mỏi khi chồng không giúp đỡ việc nhà mặc dù giờ đây anh ở nhà thường xuyên”.

Theo chuyên gia này, đây là một tình huống điển hình mà rất nhiều gia đình gặp phải trong thời gian phong tỏa do dịch COVID-19 và “mức độ tổn thương”, “căng thẳng” trong trường hợp này là do hai người không ngừng kể tội nhau. Người vợ gọi chồng là đồ vô dụng, hờ hững, khiến anh cảm thấy tủi thân vì mình vất vả làm việc nuôi gia đình nhưng không được ghi nhận. Ngược lại, người chồng chê vợ lắm mồm và gắt gỏng, khiến chị vợ bực bội vì chồng không hiểu cảm xúc của mình.

Các nhà trị liệu và tư vấn tâm lý xác nhận với kênh Channel News Asia,Singapore rằng họ nhận thấy có sự gia tăng từ 30-40% số khách hàng là vợ chồng hoặc cá nhân cần tư vấn do gặp trục trặc trong các mối quan hệ trong 6 tháng qua, trùng với giai đoạn căng thẳng của dịch COVID-19. Bỗng dưng cuộc sống bị đảo lộn do đại dịch, nhiều người đã không thể giải thích những tâm lý phức tạp của mình. Thói quen hàng ngày của hai vợ chồng bị gián đoạn do phải làm việc ở nhà nhưng họ không kịp thích nghi, chưa xác định ranh giới phù hợp về không gian riêng, chia sẻ việc nhà, ai được dùng máy tính?…

Nhà tư vấn Martine Hill cho biết: “Họ biết mình rất mệt mỏi, rã rời nhưng không thể diễn đạt thành lời những gì mình đang trải qua… Do đó, họ thường xuyên cáu kỉnh hoặc ít kiên nhẫn hơn với những người xung quanh. Không thể nói ra được trục trặc của mình, họ còn cảm thấy mọi người như đang cố làm mình phát điên”.

Ông Lim cho rằng thiếu không gian cá nhân là yếu tố gây căng thẳng chính trong cao điểm dịch bệnh vừa qua. Trong các mối quan hệ, duy trì sự cân bằng giữa không gian riêng và chung là cần thiết. Không gian riêng cho phép mỗi người được lắng lại hoặc làm việc riêng. Đi làm có thể xem là một sự xa cách cần thiết để cả hai hạ hỏa, cải thiện tâm trạng để giải quyết xung đột một cách bình tĩnh khi về nhà. Nhưng do lệnh phong tỏa, việc phải đối diện với nhau trong thời gian dài tại nhà có xu hướng làm cho những người trong cuộc cảm thấy bực bội, giảm năng lực cảm xúc để bao dung và vui vẻ với người khác. 

Làm việc ở nhà đôi khi cũng “xóa mờ ranh giới giữa công việc và gia đình”, nảy sinh những kỳ vọng không nói ra như người xong việc muộn muốn người xong việc sớm hơn nấu cơm và bực bội khi người kia không làm như vậy.

Nhiều yếu tố khác như áp lực tài chính, giảm việc, nghỉ việc không lương hoặc mất việc… cũng tạo ra bất đồng giữa các cặp vợ chồng. Người bị mất việc cảm thấy áp lực vì không biết khi nào có việc làm, kiếm được tiền trang trải cuộc sống gia đình trở lại. Thậm chí các cặp đôi có thể cãi nhau xem công việc của ai quan trọng hơn, kiếm được nhiều tiền hơn.

Nhiều luật sư ở Singapore xác nhận họ nhận được nhiều yêu cầu về ly dị qua email, điện thoại hơn kể từ khi Singapore áp dụng các biện pháp phong tỏa. Một số công ty luật cho biết họ thấy số vụ ly dị tăng ít nhất 20% kể từ tháng 4-2020 và nhiều cặp xác nhận lý do ly hôn là do phong tỏa.

Suy sụp tinh thần

Liệu những cú sốc về kinh tế và tâm lý do đại dịch có làm gia tăng những trường hợp tự tử không là câu hỏi được đặt ra trên tạp chí The Economist. Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Mỹ thực hiện một khảo sát trong mùa hè qua với 5.400 người, ghi nhận trong 10 người lại có 1 người nghĩ nghiêm túc về tự tử trong vòng một tháng trước. Con số này gấp đôi so với khảo sát năm 2018. 

Ở nhóm người từ 18-24 tuổi, tỉ lệ này rất cao: cứ 4 người lại có 1 người có ý định tự tử. Khảo sát được CDC công bố vào tháng 8-2020 là một trong số nhiều nghiên cứu công bố gần đây cảnh báo về tác động mà đại dịch gây ra với sức khỏe tinh thần, tâm lý của con người.

Đại dịch COVID-19 đã làm nhiều người bị giảm giờ làm, mất việc, trường học bị đóng cửa, trong khi các hoạt động tôn giáo, văn hóa… có tác dụng nâng đỡ tinh thần phải ngừng tổ chức. Lệnh phong tỏa để chống dịch và các hạn chế xã hội khác đã làm trầm trọng tình cảnh cô đơn, trầm cảm của nhiều người.

Theo The Economist, vẫn còn quá sớm để khẳng định liệu xã hội chúng ta có đang ở mức báo động về sự gia tăng ý nghĩ tự sát do số liệu thống kê về tự tử được công bố ở hầu như tất cả các nước đều có độ trễ một hoặc hai năm.

Những năm gần đây, tình trạng tự tử đã giảm xuống, trừ Mỹ, một ngoại lệ đáng chú ý. Tuy nhiên, thông tin từ cảnh sát, bệnh viện, nhân viên điều tra, tòa án và các nguồn khác phải được thu thập và nghiên cứu cẩn thận, vì đáng tiếc là có một số vụ báo cáo về ý định tử tự của người thân là có chủ đích hoặc không trung thực để khi người thân của họ qua đời, nhà chức trách có xu hướng coi đây là chết tự nhiên. 

Mặc dù bức tranh toàn cảnh về tự tử liên quan đến COVID-19 vẫn chưa xuất hiện, các chuyên gia có lý do để lo sợ điều tồi tệ nhất.

Trao đổi với Tuổi Trẻ cuối tuần ngày 10-10, sư cô Thích Tâm Trí, chùa Đại Ân HONJO ở tỉnh Saitama – một trong 10 ngôi chùa, đạo tràng Việt Nam ở Nhật – cho biết ở thời điểm hiện tại, trong số 40 lao động Việt Nam gặp khó khăn phải tá túc tại chùa, có một người từng tự tử 2 lần bất thành và một thai phụ từng tự tử một lần. 

Cả hai đều là những lao động Việt Nam bị mất việc dài hạn ở Nhật, gặp áp lực nặng nề về cơm áo, gạo tiền trong khi không có chỗ dựa tinh thần từ người thân, bạn bè. Rất mừng là việc được an cư tại chùa đã giúp họ phần nào bình tâm trở lại.

Tại Mỹ, số cuộc gọi đến đường dây nóng về tự tử đang tăng lên; ở một số nơi, tỉ lệ tăng là gấp 8 lần. Talkspace, một công ty ở New York chuyên trị liệu tâm lý trực tuyến, cho biết số cuộc tư vấn qua video của họ tăng 250% trong đại dịch. Số bệnh nhân bị lo âu trầm trọng tăng 40%, một con số nhảy vọt chưa từng có trong 9 năm kinh doanh của Talkspace.

Tại Nhật Bản, thống kê ban đầu của Bộ Y tế về các vụ tự tử công bố vào tháng 8-2020 đưa ra con số 1.849, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Ở Nepal, lực lượng cảnh sát quốc gia Nepal cho biết các vụ tự tử trong đại dịch dường như đã tăng thêm 1/5. 

Trong khi tại Thái Lan, Varoth Chotpitayasunondh, người phát ngôn của Bộ Y tế, lo ngại tỉ lệ 9/100.000 người Thái sẽ tự tử trong năm nay. Bộ này đang thiết lập hệ thống báo cáo mới để có được con số chính thức nhanh hơn vì đây là vấn đề cứu người, “chắc chắn không thể chậm trễ”.

Một bài viết trên tạp chí y khoa Lancetngày 8-10 khẳng định: Trong hoàn cảnh bình thường, sức khỏe tâm thần tốt có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của xã hội. Khi có đại dịch, yếu tố tâm lý sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta phản ứng và phục hồi. Trước dịch COVID-19, các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần chiếm khoảng 13% gánh nặng bệnh tật toàn cầu. 

Tuy nhiên, thế giới đã không được chuẩn bị để đối phó với tác động sức khỏe tâm thần của đại dịch này. Nhiều năm không đầu tư vào sức khỏe tâm thần, đặc biệt là ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình, đã khiến chúng ta dễ bị tổn thương. Khả năng ứng phó và phục hồi của chúng ta với đại dịch COVID-19 dựa vào vắcxin và phương pháp điều trị hiệu quả. Để giảm thiểu tác động của đại dịch, chúng ta phải giải quyết các nhu cầu về sức khỏe tâm thần, đặc biệt là tập trung giúp những người dễ bị tổn thương nhất.

Để giảm bớt căng thẳng trong gia đình, các nhà tư vấn khuyên các cặp vợ chồng nói chuyện để thống nhất về việc dành cho nhau thời gian và không gian riêng. Chẳng hạn, mỗi người sẽ làm việc riêng trong hai phòng khác nhau; vào một số thời điểm trong ngày, họ được ở một mình và tham gia sinh hoạt chung trong những giờ còn lại. Các cặp đôi nên nói chuyện với nhau trong hòa bình và cần đặt mình vào những khó khăn của người kia, để tạo điều kiện giải quyết xung đột. 

Ngoài ra, cần học thêm về cách quản lý lo lắng để không tạo thêm căng thẳng cho gia đình. Mặc dù COVID-19 có thể gây ra nhiều khó khăn cho chúng ta nhưng nếu mâu thuẫn được xử lý tốt, tình cảm sẽ còn nồng ấm, mạnh mẽ hơn sau đó.

HỒNG VÂN / TTCT