Việt Nam, Thái Lan trở thành những trung tâm sản xuất laptop lớn của thế giới


Theo một dự báo, khu vực Đông Nam Á sẽ chiếm một nửa sản lượng laptop toàn cầu vào năm 2030.

Cụ thể, Viện tư vấn và thông tin thị trường (MIC) của Đài Loan dự báo Đông Nam Á sẽ sản xuất tới một nửa số máy tính xách tay cá nhân của thế giới vào năm 2030, trong đó Việt Nam và Thái Lan được coi là các trung tâm sản xuất lớn.

Việt Nam, Thái Lan trở thành những trung tâm sản xuất laptop lớn của thế giới - Ảnh 1.
Việc sản xuất tính xách tay sẽ tăng 6% trong năm nay do sự gia tăng làm việc và học tập từ xa

Theo Viện này, khu vực Đông Nam Á sẽ thay thế Trung Quốc để trở thành trung tâm sản xuất máy tính xách tay. Chi phí lao động ngày càng tăng của Trung Quốc và mong muốn giảm thiểu sự phụ thuộc quá mức vào một nơi duy nhất được cho là các nguyên nhân thúc đẩy sự chuyển dịch sản xuất sang Đông Nam Á.

Thị trường máy tính xách tay toàn cầu đạt mốc 160 triệu chiếc vào năm 2019. Trung Quốc đáp ứng tới 90% sản lượng, với phần lớn sản lượng sản xuất là do các công ty Đài Loan, trong khi Đông Nam Á chỉ đảm nhận một phần nhỏ sản lượng.

Thông qua các cuộc phỏng vấn các nhà sản xuất, Viện MIC nhận thấy thị phần sản xuất máy tính xách tay của Trung Quốc sẽ giảm từ 90% xuống 40% vào năm 2030. Ví dụ, nhà sản xuất theo hợp đồng lớn của Đài Loan là Wistron sẽ sản xuất máy tính xách tay thay mặt cho các thương hiệu Hoa Kỳ tại Việt Nam.

Trong số các công ty cùng ngành khác của Đài Loan, Compal Electronics đang xem xét xây dựng công suất đầu ra tại Việt Nam, trong khi Quanta Computer, nhà sản xuất theo hợp đồng lớn thứ ba thế giới, dự kiến sẽ sản xuất máy tính xách tay tại Thái Lan.

Hon Hai Precision Industry, được biết đến với tên Foxconn và là nhà sản xuất điện tử theo hợp đồng lớn nhất thế giới, có thể sẽ bắt đầu sản xuất máy tính xách tay tại Việt Nam.

Số máy tính xách tay dự kiến sẽ tăng 6% trong năm nay lên 170 triệu chiếc. Đại dịch Covid-19 đã thúc đẩy việc học tập từ xa, đồng thời nhu cầu về Chromebook chạy trên hệ điều hành của Google gia tăng.

Tập đoàn Lenovo của Trung Quốc, HP của Hoa Kỳ và máy tính Asustek của Đài Loan đã phát hành Chromebook của riêng họ, được bán với giá vài trăm USD. Hầu hết các mẫu này được sản xuất theo hợp đồng của các công ty Đài Loan.

Hoàng Linh (Theo Nikkei Asian Review) / ICTVietnam

Người Đông Nam Á thường tìm kiếm thương hiệu ôtô nào nhất?


Theo khảo sát gần đây thông qua Google, người dân khu vực Đông Nam Á tìm kiếm các thương hiệu của Nhật Bản được tìm kiếm nhiều nhất.

Người Đông Nam Á thường tìm kiếm thương hiệu ôtô nào nhất?
Mới đây, trang thương mại điện tử iPrice đã thực hiện một khảo sát về độ phổ biến trên Internet của các thương hiệu ở khu vực Đông Nam Á.

Họ sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu tìm kiếm trên Google bằng công cụ Keyword Planner dựa trên danh sách 22 thương hiệu ôtô trong khoảng thời gian từ 1/3 đến 31/5/2020, cũng như so sánh với khoảng thời gian trước khi xảy ra đại dịch COVID-19 (từ 1/12/2019 đến 29/2/2020).

 Người Đông Nam Á thường tìm kiếm thương hiệu ôtô nào nhất? - Ảnh 1.
Các thương hiệu được tìm kiếm nhiều nhất ở Đông Nam Á.

Trong số các nơi nằm trong danh sách nghiên cứu – Singapore, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam và Hong Kong (được liệt kê là một phần của hiệp hội ASEAN+3) – hai thương hiệu được tìm kiếm nhiều nhất là ToyotaBMW.

Tesla cũng thường xuyên xuất hiện trong danh sách của tất cả các quốc gia trừ Malaysia, Thái Lan và Việt Nam trong khi Honda chỉ vắng mặt ở Singapore.

Thương hiệu đáng chú ý khác lọt vào danh sách là Mitsubishi, xuất hiện ở tất cả các quốc gia trừ Malysia và Hong Kong. Các thương hiệu chỉ góp mặt một lần là Volkswagen, Audi, NissanSuzuki ở các quốc gia: Singapore, Hong Kong, Thái Lan và Việt Nam. Trong khi đó, tại Malaysia có PeroduaProton chỉ xuất hiện một lần trong danh sách.

 Người Đông Nam Á thường tìm kiếm thương hiệu ôtô nào nhất? - Ảnh 2.
Các loại ôtô được tìm kiếm nhiều nhất trên Google.

Trong tất cả các quốc gia được khảo sát, Honda là thương hiệu được tìm kiếm nhiều nhất với 550.000 lượt, theo sau là Toyota (368.000 lượt), BMW (301.000 lượt), Tesla (246.000 lượt) và Mitsubishi (246.000 lượt).

Chuyển sang loại ôtô được tìm kiếm nhiều nhất ở các nước ASEAN, SUV chiếm lĩnh vị trí đầu tiên với 49.500 lượt tìm kiếm. Tiếp theo là sedan (27.100 lượt), MPV hoặc wagon (12.490 lượt) và xe coupe hai cửa (9.900 lượt).

Viết Hoàng / Tiền Phong Online

Theo Paultan

Người Việt Nam mất 7 năm để mua được ô tô với số tiền tiết kiệm 2.500usd/năm


7 năm còm cõi “thắt lưng buộc bụng” mong tậu ôtô 400 triệu đồng

Với thu nhập bình quân của người Việt khoảng 2.500 USD/năm thì phải sau 7 năm không chi tiêu gì mới tích cóp đủ tiền mua một chiếc xe có giá tầm 400 triệu đồng.

Giấc mơ xa xỉ

Thị trường ô tô Việt Nam chứng kiến mức tăng trưởng cao trong những năm gần đây. Tuy nhiên, tỷ lệ sở hữu xe tính trên 1.000 dân vẫn thấp xa so với các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Theo các DN ô tô, Việt Nam hiện có tỷ lệ 23 xe/1.000 dân, thấp hơn hẳn so với các nước Brunei, Malaysia, Thái Lan, Indonesia,… Với dân số trên 96 triệu người, tính ra cả nước chỉ có khoảng 2,5 triệu ô tô các loại. Còn theo các cơ quan chức năng, tổng số ô tô cả nước hiện tại vào khoảng 3 triệu chiếc.

Đây là con số quá nhỏ bé nếu so sánh với thành phố Bắc Kinh (Trung Quốc) có 6 triệu ô tô, hay khoảng 20 triệu ô tô tại Thái Lan. Nếu chỉ tính xe cá nhân (từ 9 chỗ ngồi trở xuống) chiếm 55% tổng số ô tô thì con số này còn thấp hơn nữa, mới chỉ khoảng 2% dân số có ô tô riêng.

Thu nhập thấp trong khi giá xe cao khiến đa số người dân không tiếp cận được với ô tô. GDP bình quân đầu người Việt Nam mới chỉ đạt 2.500 USD/người/năm, trong khi giá xe ô tô lại cao gấp 3-4 lần thế giới, vì vậy sở hữu ô tô là chuyện rất xa xỉ với nhiều người.

Thuế phí ô tô ở Việt Nam cao hàng đầu thế giới. Một chiếc xe ô tô phải chịu 3 loại thuế, gồm thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng. Chưa kể, các loại thuế này còn đánh chồng lên nhau, khiến giá xe cao ngất. Cho đến nay, dù thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc và linh kiện từ khu vực ASEAN về Việt Nam đã ưu đãi giảm còn 0%, thì tính ra, một chiếc xe dung tích xi lanh dưới 1.5L vẫn phải chịu gần 50% thuế trong giá bán. Ngoài ra, lệ phí trước bạ cũng là một khoản tiền lớn, chiếm từ 10-12% giá xe.

Với thu nhập bình quân của người Việt khoảng 2.500 USD/năm thì phải sau 7 năm không chi tiêu gì mới tích cóp đủ tiền mua một chiếc xe có giá tầm 400 triệu đồng.

Trong khi đó, một số quốc gia lân cận từ lâu đã khuyến khích người dân sử dụng ô tô. Chẳng hạn như Thái Lan có những chương trình kéo dài nhiều năm cho người dân vay vốn mua ô tô, được hỗ trợ lãi suất; hay Indonesia thúc đẩy kế hoạch sản xuất ra những chiếc xe giá rẻ dưới 10.000 USD để tầng lớp bình dân có thể dễ dàng tiếp cận.

Trên thế giới từ lâu đã thừa nhận, có mối liên hệ giữa các gia đình với ngành công nghiệp ô tô. Tức là, các gia đình phải mua nhiều xe thì ngành công nghiệp ô tô mới có điều kiện để phát triển. Chính vì vậy, nhiều nước muốn phát triển ngành công nghiệp ô tô đều xây dựng chính sách khuyến khích người dân sử dụng. Việt Nam cũng mong muốn có ngành công nghiệp ô tô phát triển, nhưng lại đánh thuế cao sản phẩm này để hạn chế sử dụng.

Mâu thuẫn trong chính sách khiến ngành công nghiệp ô tô không phát triển suốt hàng chục năm qua, thị trường ô tô Việt Nam có quy mô nhỏ bé. Đến nay, sản xuất ô tô trong nước chỉ đạt 250.000 xe/năm, thấp xa so với 2 triệu xe của Thái Lan và 1,2 triệu xe của Indonesia.

Một chiếc ô tô có từ 20.000 cho tới trên 50.000 chi tiết, thuộc nhiều lĩnh vực sản xuất như cơ khí, luyện kim, điện, điện tử, chất dẻo,… Khi ngành công nghiệp ô tô phát triển, sẽ tạo động lực và kéo theo sự phát triển của các ngành sản xuất này. Ngành công nghiệp ô tô phát triển có thể đóng góp tới 10% GDP và tạo ra khoảng 10% trong tổng số việc làm của một quốc gia. Tại Việt Nam, dù ngành ô tô kém phát triển nhưng cũng đóng góp 3% GDP cả nước.

Hạn chế chính sách

Dự báo của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công thương (Bộ Công Thương) cho thấy, quy mô thị trường ô tô đến năm 2025 có thể đạt 750.000-800.000 xe vào năm 2025 và từ 1,7 triệu đến 1,85 triệu xe vào năm 2035, căn cứ theo 3 yếu tố (quy mô dân số, thu nhập bình quân đầu người và số lượng xe bình quân trên 1.000 dân).

Dự báo đến năm 2020, dân số Việt Nam sẽ đạt khoảng 98,2 triệu người, đến năm 2025 đạt khoảng 101,1 triệu người và năm 2035 là 107,8 triệu người. Bên cạnh đó, GDP bình quân đầu người sẽ đạt 3.000 USD/năm sau 2020 và 7.780 USD vào năm 2035. Khi đó, tỷ lệ ô tô bình quân cũng tăng lên mức từ 50-100 xe/1.000 dân. Phải đạt tới 400 xe/1.000 dân mới tương đương với các quốc gia phát triển hiện nay.

Tuy thị trường lớn nhưng ngành công nghiệp ô tô không phát triển, không đáp ứng được nhu cầu trong nước, phụ thuộc vào nhập khẩu. Theo tính toán, tới 2030 nếu sản xuất trong nước không đáp ứng được, mỗi năm Việt Nam sẽ chi khoảng 12 tỷ USD và tới 2035 khoảng 20 tỷ USD để nhập khẩu ô tô. Nhập siêu tăng mạnh chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cán cân thương mại. Rất có thể sẽ phải có chính sách hạn chế nhập khẩu. Nếu vậy, giá xe khó giảm sẽ khiến nhiều người dân khó tiếp cận được với ô tô.

Theo ông Bùi Ngọc Huyên, Tổng giám đốc Vinaxuki, chỉ khi nào ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phát triển, tạo ra những chiếc xe có chất lượng tốt và giá cạnh tranh thì người dân mới được hưởng lợi và tỷ lệ sở hữu ô tô sẽ cao.

Chủ trương của Chính phủ hiện nay là phát triển công nghiệp ô tô trở thành ngành kinh tế chủ lực, đáp ứng nhu cầu người dân và hướng đến xuất khẩu. Nhưng điều này có làm được không?

Hiện tại sản xuất, lắp ráp xe trong nước vẫn chưa đạt được tiêu chí của ngành sản xuất ô tô thực sự, chưa làm chủ được công nghệ cốt lõi, hay hình thành hệ thống các nhà cung cấp nguyên liệu và sản xuất linh kiện quy mô lớn. Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng và thị trường mở cửa hoàn toàn, nếu cứ lắp ráp như hiện nay, ngành công nghiệp ô tô chỉ có thể duy trì đến năm 2025. Sau thời điểm này, sẽ khó tồn tại./.

Theo Trần Thuỷ/Vietnamnet

%d bloggers like this: