Xu hướng dòng tiền đầu tư chung cư tiếp tục đổ về “thủ phủ công nghiệp” Bình Dương trong năm 2021


Xu hướng ly tâm dịch chuyển dòng vốn đầu tư xuôi chiều, lan tỏa dần ra các khu vực tỉnh thành ven trung tâm, khi mà quỹ đất sạch tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM ngày một khan hiếm sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong năm 2021.

Xu hướng dòng tiền đầu tư chung cư tiếp tục đổ về

Theo báo cáo thị trường của Savills Việt Nam, năm 2020, thị trường căn hộ TP.HCM đối mặt với không ít khó khăn. Nguồn cung sơ cấp cả năm ở mức thấp nhất trong 5 năm với hơn 25.300 căn, giảm mạnh 38% theo năm do nguồn cung mới hạn chế và lượng hàng tồn thấp. Căn hộ hạng C tiếp tục chiếm lĩnh nguồn cung cả năm với 65% thị phần. 

Việc khan hiếm nguồn cung đã kéo theo lượng giao dịch thấp nhất trong 5 năm, chỉ đạt gần 22.700 căn. Tuy nhiên, chính nguồn cung khan hiếm này đang “bắt lửa” cho xu hướng dịch chuyển lớn của các nhà đầu tư sang những khu vực giáp ranh TP.HCM nhằm tận dụng chính sách thu hút đầu tư của địa phương và quỹ đất lớn cũng như giá thành đáp ứng được nhu cầu người mua nhà.

Về xu hướng chung, từ những áp lực cạnh tranh gay gắt, các chủ đầu tư trên thị trường sẽ tập trung phát triển dự án căn hộ hoặc các phức hợp đô thị có sự khác biệt trong thiết kế, tích hợp nhiều yếu tố đáp ứng nhu cầu sống của cư dân. Đồng thời, áp dụng nhiều chương trình ưu đãi hấp dẫn thu hút người mua nhà như chính sách thanh toán, gói hỗ trợ tín dụng với lãi suất thấp và thời gian ân hạn kéo dài, chương trình khuyến mãi, rút thăm may mắn,…

Nhiều chuyên gia nhận định, xu hướng ly tâm dịch chuyển dòng vốn đầu tư xuôi chiều, lan tỏa dần ra các khu vực tỉnh thành ven trung tâm, khi mà quỹ đất sạch tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM ngày một khan hiếm sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong năm 2021. Đặc biệt, những điểm sáng như Bình Dương, Long An, Đồng Nai,… đang trở thành nơi thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư và  dự báo cho đợt bùng nổ nguồn cung tiếp theo trong thời gian tới.

Góp phần to lớn trong xu hướng dịch chuyển nguồn cung nhà ở ra khỏi TP.HCM trong thời gian gần đây chính là nhiều cơ sở hạ tầng tương lai như tuyến tàu điện Metro số 1 và Đường Vành đai 2, 3, các tuyến cao tốc và đường sắt kết nối liên vùng cũng đang đẩy nhanh tiến độ hoàn thành. Trong danh sách những thị trường mới “trỗi dậy” trong năm 2021, Bình Dương là cái tên được giới chuyên gia đánh giá rất cao về triển vọng bứt phá, trở thành “điểm trũng” hấp dẫn dòng tiền đầu tư dài hạn.

Giải thích thêm về “hiện tượng” này, chuyên gia BĐS cá nhân Phan Công Chánh cho rằng để nâng cao sức hút đối với dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước, năm 2021 Bình Dương sẽ chi gần 10.000 tỉ đồng để thực hiện nâng cấp cơ sở hạ tầng. Điển hình là đầu năm 2021 sẽ cải tạo và mở rộng tuyến đường huyết mạch Quốc Lộ 13, đoạn qua Thuận An kéo dài từ cổng chào Vĩnh Phú đến điểm giao đường Lê Hồng Phong với quy mô 8 làn xe, lộ giới 64m, dự kiến hoàn thành trước 2023.

Đặc biệt, mới đây UBND tỉnh Bình Dương vừa công bố quy hoạch trục Quốc lộ 13 chạy từ trung tâm Lái Thiêu tới đường Nguyễn Văn Tiết thành đại lộ kinh tế, tài chính, dịch vụ lớn nhất của Bình Dương. Theo quy hoạch, trong tương lai, các tòa tháp biểu tượng, tháp tài chính, bệnh viện, đại học, khu dân cư cao cấp, văn phòng, khách sạn 5 sao được bố trí dọc 2 bên đại lộ. Quanh đại lộ này sẽ phát triển 5 trung tâm thương mại cấp đô thị, phụ trợ cho trục chính với: trung tâm 1 tọa lạc tại Lái Thiêu; trung tâm 2 thuộc khu vực ngã tư quốc lộ 13 và đường An Thạnh – Bình Chuẩn; trung tâm 3 chạy dọc ngã 5 An Phú và đường DT473; trung tâm 4 và 5 thuộc trục ngang Lái Thiêu – Dĩ An với ngã tư quốc lộ 13 và trục Bình Hòa – Vĩnh Phú.

Không những vậy, Bình Dương còn được mệnh danh là thủ phủ công nghiệp của nước ta. Tính đến thời điểm hiện tại, Bình Dương hiện đang có hơn 50.000 chuyên gia sinh sống và làm việc tại các khu công nghiệp. Bình Dương hiện cũng đang quy hoạch phát triển mở rộng thêm 34 khu công nghiệp với tổng diện tích 14.790 ha. Dự kiến trong tương lai các khu công nghiệp này hoàn thành sẽ thu hút một lượng lớn chuyên gia đến làm việc tại Bình Dương, có thể tăng lên 100.000 người. Khi đó, nhu cầu về nhà ở cũng sẽ tăng mạnh theo.

Cùng với những yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, thị trường bất động sản tại Bình Dương, đặc biệt là Thuận An nóng chưa từng có. Trong năm 2020, Bình Dương chứng kiến làn sóng đổ bộ của nhiều ông lớn với những siêu dự án có tổng mức đầu tư hơn 2 tỉ USD, nguồn cung căn hộ khoảng 20.000 căn nửa cuối năm.

Bình Dương không chỉ đang thu hút các nhà đầu tư trong nước như Công ty cổ phần Vinhomes, Tập đoàn Đất Xanh, Phát Đạt, Danh Khôi, Quốc Cường Gia Lai, Hưng Thịnh, LDG Group, Bcons Group… mà còn hút vốn từ các nhà đầu tư ngoại như Tập đoàn Sembcorp Industries và Tokyu Group. Trong đó, Thuận An chiếm tỉ trọng cao nhất, 15.000 căn hộ. Giá bán căn hộ trung bình ở Bình Dương đã tăng 15% mỗi năm trong giai đoạn 2017 – 2020. Tính đến tháng 10/2020, giá căn hộ tại đây đạt gần 42 – 45 triệu/m2, tăng đáng kể từ mức 20 – 25 triệu/m2 trong năm 2018.

Tại Thuận An, dự án có quy mô lớn nhất hiện nay phải kể đến Astral City của chủ đầu tư Phát Đạt nằm ngay mặt tiền quốc lộ 13 ngay trung tâm cung đường kinh tế – tài chính và dịch vụ mới được quy hoạch. Dự án được xây dựng trên diện tích 3,73 ha gồm 8 block cao 40 tầng nổi và 3 tầng hầm, dự kiến dự án cung ứng ra thị trường khoảng 5.200 căn hộ. Astral City sở hữu nhiều tiện ích cao cấp như hồ bơi vô cực, nhiều vườn thượng uyển và chill bar, vườn yoga, vườn thiền trên. Hiện Astral City đang được giới thiệu ra thị trường với chính sách ưu đãi thanh toán 30% cho đến khi nhận nhà, khách hàng chỉ cần thanh toán 100 triệu đồng đợt đầu tiên và 1% mỗi tháng tiếp theo. 

Với dòng tiền đang ồ ạt đổ về Bình Dương, Long An, Đồng Nai… T.S Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược Thượng hiệu và Cạnh tranh cho rằng nhà đầu tư cần chú ý 4 yếu tố khi đầu tư vùng ven, bao gồm tiềm năng kết nối, sự quyết liệt của chính quyền địa phương, sự vào cuộc của các chủ đầu tư “đầu đàn” và cuối cùng mới tới tiềm năng tăng trưởng của tỉnh. Theo ông, tính kết nối của địa phương về hạ tầng giao thông là yếu tố then chốt quan trọng nhất khi lựa chọn địa phương để đầu tư.

Còn theo TS. Sử Ngọc Khương, Giám đốc cấp cao Savills Việt Nam, với bối cảnh hiện nay, các nhà đầu tư nên hạn chế sử dụng đòn bẩy tài chính. Pháp lý dự án là quan trọng. Cuối cùng là việc chọn lựa dự án có thể đạt được các mục tiêu mà mình đưa ra thì phải dựa trên các yếu tố như tính thanh khoản, giá trị gia tăng và quản trị rủi ro vì đây là ba yếu tố quan trọng khi chúng ta đầu tư vào một dự án.

Lan Nhi / Theo Doanh nghiệp & Tiếp thị

Lịch sử tên Thủ Dầu Một và tên Tỉnh Bình Dương


VỀ HAI TÊN GỌI THỦ DẦU MỘT VÀ BÌNH DƯƠNG

Ngày nay khi nói đến Bình Dương,Thủ Dầu Một ai cũng biết đó là tên của một tỉnh, tên của Thành phố thuộc tỉnh mà tên tỉnh ấy đã trở thành thương hiệu vang xa trên thương trường quốc tế. Thế nhưng cái tên tỉnh Bình Dương, tên Thành phố Thủ Dầu Một có từ bao giờ và đã trải qua các thời kỳ lịch sử như thế nào là điều mà mọi người nên tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu.

Gần đây trong một số công trình khoa học nghiên cứu lịch sử Thủ Dầu Một – Sông Bé – Bình Dương đều có đề cập đến địa giới, nguồn gốc,lịch sử của tên gọi này nhưng ít có ai đặt vấn đề tách riêng ra chỉ tìm hiểu cái tên của tỉnh, do vậy bài viết này xin mạo muội chỉ nêu quá trình hình thành tên Thủ Dầu Một-Bình Dương.

Theo trình tự tên Thủ Dầu Một là tên Tỉnh có trước tên tỉnh Bình Dương có sau nên tìm hiểu tên Thủ Dầu Một trước vậy!

-Căn cứ vào từ nguyên: Thủ- Dầu Một, một số nhà nghiên cứu đã tách chữ Thủ và chữ Dầu Một ra để phân chữ như sau:

+Thủ: là giữ, phòng thủ, canh giữ ,Thủ là đầu ( thủ, vĩ ), đứng đầu, thủ phủ,thủ sở là nơi đặt lỵ sở của một đơn vị hành chánh.

+ Dầu Một: Dầu là cây dầu, Một là số một, cây dầu số một,một cây dầu lớn nhất .Dầu Một còn được đọc theo chữ Hán Nôm là Dầu Miệt hay miệt dầu là chỗ,vùng toàn cây dầu.

Ghép hai từ đã phân ch lại là Thủ Dầu Một và tên Thủ Dầu Một có thể bắt nguồn từ khi có sự xuất hiện một cái chợ bên bờ sông.Khi chợ hoạt động thì chính quyền sở tại lập ra một cơ sở để canh giữ trật tự và thu thuế cái chợ ấy. Trụ sở ấy chắc chắn là đặt gần chợ và đặt trên đồi toàn cây dầu và đặt bên gốc dầu to nhất lúc đó.

Có nhà nghiên cứu sử học cho rằng từ trước năm 1808 đã có tên Dầu Một vì trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi như sau: “Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường,huyện Bình An,tục danh là chợ Dầu Một (hay Dầu Miệt) ” còn mốc 1808 là năm tổng Bình An được nâng lên thành huyện cùng lúc thiết lập đồn binh ở đây để canh giữ vùng này*(1).

Và cái tên Thủ Dầu Một chỉ chính thức xuất hiện trên các văn bản,giấy tờ từ sau năm 1867 khi Pháp đánh chiếm xong toàn bộ Nam Kỳ và chia cắt lục tỉnh ra làm 27 địa hạt tham biện (Inspec on) , trong 27 địa hạt đó có một địa hat tên là Thủ Dầu Một.Và 22 năm sau đó ngày 20 tháng 12 năm 1889 Pháp đã nhập,tách nâng 27 địa hạt thành 20 tỉnh,trong đó có tỉnh Thủ Dầu Một*(2).

Như vậy có thể lấy ngày 20 tháng 12 năm 1889 là ngày đầu tiên thành lập một tỉnh có tên là Thủ Dầu Một.

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi,theo hiệp định Giơ-neo đến năm 1956 là thời hạn chót thực hiện Tổng tuyển cử thống nhất Quốc gia Việt Nam. Thế nhưng Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào đã lật lọng không thực hiện hiệp định Tổng tuyển cử mà lại thiết lập Chính thể Cộng hòa theo Mỹ.

Trong năm 1956 chính quyền Sài gòn đã tách tỉnh Thủ Dầu Một ra làm ba tỉnh và đặt tên là tỉnh Bình Dương,tỉnh Bình Long và tỉnh Phước Long.

Trong suốt thời gian kháng chiến chống Mỹ,phía Cách Mạng cơ bản vẫn sử dụng tên tỉnh là tỉnh Thủ Dầu Một nhưng phạm vi địa bàn thu hẹp lại,trừ Bình Long,Phước Long ra thì ranh giới Tỉnh Thủ Dầu Một trùng khớp với ranh giới tỉnh Bình Dương lúc đó.

Nói cơ bản vẫn giữ tên tỉnh là Thủ Dầu Một là vì trong quá trình kháng chiến chống giặc ngoại xâm cái tên Tỉnh Thủ Dầu Một có mấy lần biến động như hai lần nhập lại với tỉnh khác và có tên là Thủ Biên rồi tách ra,một lần chia ra thêm tỉnh Phước Thành,một lần thêm tỉnh Tân Phú rồi cũng xóa Phước Thành(1961-1965),xóa Tân Phú (1971-1973) để trở lại là Thủ Dầu Một,và có một thời gian ngắn Tỉnh Thủ Dầu Một cũng được chia ra một phần là Phân khu 1, phần còn lại là Phân khu 5 (1970-1972) cho đến cuối năm 1972 sang năm 1973 thì không còn phân khu nữa mà trở lại là Tỉnh Thủ Dầu Một.Cái tên Tỉnh Thủ Dầu Một,quân dân Tỉnh Thủ Dầu Một vào ngày 30 tháng tư năm 1975 đã đường hoàng,đỉnh đạc tiến vào giải phóng tỉnh lỵ cùng với quân dân miền Nam đánh cho Mỹ cút,đánh cho Ngụy nhào, giải phóng quê hương,thống nhất đất nước.

Sau ngày 30 tháng Tư lịch sử, non sông Việt Nam liền một dải thì đến năm 1976 Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra quyết định nhập ba tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Long,Phước Long lại thành Tỉnh Sông Bé. Như vậy sau 87 năm tồn tại đến đây thì cái tên tỉnh Thủ Dầu Một không còn nữa. Thế nhưng khi lập tỉnh Sông Bé thì tỉnh lỵ vẫn đặt tại Phú Cường và tên Thị xã Sông Bé tồn tại hai năm thì cái tên Thủ Dầu Một được khôi phục lại thay cho tên Thị xã Sông Bé. Và tên Thị Xã Thủ Dầu Một trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của Tỉnh tồn tại mãi cho đến nay là đô thị loại một và Thành phố Thủ Dầu Một đang dần trở thành thành phố văn minh,hiện đại,nghĩa tình.

Như vậy trong khoảng thời gian hai mươi năm tên tỉnh Sông Bé tồn tại thì hai cái tên Tỉnh Bình Dương,tỉnh Thủ dầu Một đương nhiên không còn,nhưng đến năm 1997 câu chuyện tên tỉnh lại diễn biến khác. Đến năm này Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại ra quyết định tách tỉnh Sông bé ra làm hai tỉnh Bình Phước (Bình Long,Phước Long) và tỉnh Bình Dương.

Như vậy Tỉnh Bình Dương chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997 đến nay đã vững vàng đứng trong tốp đầu của những tỉnh công nghiệp phát triển của Việt Nam,thế nhưng cái tên Bình Dương đã có từ rất lâu và tên tỉnh Bình Dương cũng đã có ở thế kỷ trước.

Trước tiên ta tìm hiểu tên Bình Dương qua ngữ, nghĩa của nó:

Bình là bình minh

Dương là ánh nắng

Ghép lại Bình Dương là ánh nắng bình minh,là những ánh nắng rực sáng trong buổi sáng sớm của một ngày mới.

Có một nhà nghiên cứu Hán-Nôm đã diễn giải, chiết tự theo Kinh Dịch hai chữ Bình Dương như sau:

Chữ Bình có 11 nét thuộc quẻ Khôn

Chữ Dương có 13 nét thuộc quẻ Chấn

Cộng lại Bình Dương có 23 nét là Đại Cát: thuận lợi tối đa.

Nếu xét về lịch sử xa xưa thì Bình Dương là phần cuối của cái tên một Đại dương mênh mông: Thái Bình Dương.

Ngay từ thế kỷ thứ 11 thì Bình Dương là tên của một nàng Công chúa xinh đẹp con vua Lê Thái Tông như trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ghi:1029 tháng ba ngày mồng bảy gả Công Chúa Bình Dương cho Châu mục Châu Lạng là Thân Thiệu Thái *(3)

Bình Dương còn là tên của một nhánh sông theo bản đồ do Trần văn Học vẽ khu vực Gia Định thành vào tháng 4 năm 1815 và như mô tả của Trịnh Hoài Đức thì sông Bình Dương ở phía nam trấn Gia Định*(4).Đoạn sông này ngày nay có tên mới là Rạch Bến Nghé.

Từ cái tên của một nàng Công chúa lại được đặt tên cho một dòng sông rồi được gọi cho một Làng sau nâng lên thành Huyện, theo Nguyễn Đình Đầu trong bài nghiên cứu địa lý hành chánh tỉnh Bình Dương qua các thời kỳ có ghi:”Đến năm 1808 huyện Tân Bình được nâng lên thành Phủ Tân Bình có bốn huyện là Bình Dương,Tân Long, Thuận An và Phước Lộc”*(5)

Đến năm 1834 toàn bộ Nam kỳ được chia đặt thành sáu tỉnh, lúc ấy gọi là Nam kỳ lục tỉnh,huyện Bình Dương nằm trong tỉnh Phiên An.Năm 1836 Phiên An được cải thành Gia Định.Năm 1841 huyện Bình Dương lại được tách ra làm hai huyện là huyện Bình Dương và huyện Bình Long.

Đến thời Pháp thuộc thì Nam kỳ lục tỉnh được chia ra làm 20 tỉnh mới,hai bên bờ sông Sài gòn là hai tỉnh Gia Địnhtỉnh Thủ Dầu Một.

Sau kháng chiến chống Pháp thành công , Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào không thực hiện hiệp định Giơ-neo tổng tuyển cử thống nhất quốc gia Việt Nam mà lập chính quyền Cộng Hòa theo Mỹ,và Chính quyền này đã ra sắc lệnh số 143 N/V ngày 22 tháng 10 năm 1956 thay đổi địa giới,tên gọi các tỉnh Miền nam trong đó có tên tỉnh Bình Dương. Như vậy có thể lấy ngày,tháng năm này làm ngày đầu tiên tên Bình Dương được đặt cho tỉnh Bình Dương!

Sau kháng chiến chống Mỹ thắng lợi,năm 1976 Chính phủ Cách Mạng lâm thời Miền nam đã quyết định xóa tên ba tỉnh Thủ Dầu Một (Bình Dương), Bình Long ,Phước Long để lập lại tỉnh mới rộng lớn hơn với cái tên tỉnh Sông Bé.

Mãi đến hai mươi năm sau, ngày 6 tháng 10 năm 1996 Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã ra quyết định tách tỉnh Sông Bé ra làm hai tỉnh Bình Phước và tỉnh Bình Dương.

Thế là cái tên Bình Dương rạng rỡ,hiền hòa được trở lại với tỉnh nhà từ đây.

Ghi chú,tài liệu tham khảo:

*1-Huỳnh Ngọc Đáng,Phú Cường Lịch sử văn hóa Truyền thống cách mạng,NXB Sông Bé 1990 ( Trang 18)

*2-Nguyễn Đình Đầu,Địa Chí tỉnh Sông Bé,NXB Sông Bé 1991 (Trang 206-207)

*3-Đại Việt Sử Ký Toàn Thư,Tập 1,NXB V H T T Hà Nội- 2000 (Trang 383)

*4-Như Hiên,Nguyễn Ngọc Hiền,Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh,NXB Văn học,Hà Nội,1997 (Trang 73)

*5-Nguyễn Đình Đầu –Sđd-

Nguyễn Minh GiaoThạc sĩ, hội viên Hội KHLS tỉnh Bình Dương.

Theo SuGia

Bình Dương và ‘tầm nhìn Thủ Dầu Một’


Bình Dương không xem việc Thủ Dầu Một lên đô thị loại I như “bánh vẽ” để tiêu tiền ngân sách, mà là để phát triển có tầm nhìn chiến lược, có định hướng rõ ràng trong liên kết vùng Đông Nam Bộ và TP.HCM…

 

Bình Dương và tầm nhìn Thủ Dầu Một - Ảnh 1.

 

Thành phố Thủ Dầu Một lên đô thị loại I khiến người dân nơi đây vui mừng khi họ được thụ hưởng nhiều dịch vụ, công trình thiết thực. Các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài cũng rất ấn tượng về sự vươn lên của Thủ Dầu Một nói riêng và Bình Dương nói chung.

Điển hình là những tuyến “xe buýt xanh” theo phong cách Nhật Bản chạy bằng khí nén thiên nhiên thân thiện với môi trường, có hệ thống WiFi, có bãi giữ xe miễn phí…

Nó gây ấn tượng mạnh so với xe buýt thông thường khi giao tiếp giữa tài xế và hành khách rất thân thiện. Không khó để chứng kiến cảnh tài xế nở nụ cười nói “Xin chào!” khi khách lên xe và hành khách nói “Cảm ơn” tài xế khi xuống trạm.

“Xe buýt xanh” hiện là mong muốn của nhiều tỉnh nhưng chưa làm được, và trong khi cư dân nơi khác đang mơ ước thì người dân Bình Dương đã được tận hưởng.

Chỉ trong vòng một năm qua, Thủ Dầu Một đã xây dựng mới 30 công viên, vườn hoa từ các khu “đất vàng”, trụ sở cũ.

Năm 2018, Thủ Dầu Một sẽ xây thêm 36 công viên, vườn hoa từ quỹ đất công ở những vị trí đắc địa mà nếu bán các khu đất này, Bình Dương sẽ thu được nguồn tiền không nhỏ. Thế nhưng tỉnh này quyết định dành nó để tạo không gian xanh chăm sóc “giá trị tinh thần” cho người dân, một cách nhìn rất khác biệt hướng tới phục vụ người dân.

Người ta gọi vui các quyết định đó là “tầm nhìn Thủ Dầu Một”!

Tiêu biểu nhất cho tầm nhìn này phải kể đến chuyện quy hoạch. Đi một vòng thành phố này sẽ dễ dàng nhận ra bất cứ quy hoạch nào – từ phát triển công nghiệp, đô thị đến dịch vụ – đều có nghiên cứu rất bài bản chứ không manh mún, tự phát.

Điển hình là thành phố mới Bình Dương với khu đô thị làm hạt nhân, còn xung quanh là các khu công nghiệp, dịch vụ. Điều này đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa phát triển được đô thị mới.

Không chỉ “nghĩ riêng” cho mình, Bình Dương còn nhìn rộng ra cho khu vực, cho tương lai của cả vùng khi luôn xây dựng hạ tầng cơ sở theo hướng liên kết vùng, mà tuyến đường Mỹ Phước – Tân Vạn là một minh chứng.

Để làm được như Bình Dương thì không chỉ cần tầm nhìn của các cấp chính quyền, mà lãnh đạo nơi đây còn phải “dám làm, dám chịu”, đặt lợi ích của người dân lên trên. Bình Dương không xem việc đưa Thủ Dầu Một lên đô thị loại I như “bánh vẽ” để tiêu tiền ngân sách, để giải quyết “khâu oai”.

Trong khi nhiều địa phương đang đau đầu về chuyện thu phí BOT thì Bình Dương quyết định làm đường không thu phí, hoặc mua lại các dự án BOT để xóa trạm thu phí. Chi phí xây dựng được tỉnh “linh hoạt” tính toán vào chi phí của các khu công nghiệp, đô thị. Cách làm này nhận được sự đồng thuận vì giảm gánh nặng cho doanh nghiệp và mang lại hiệu quả lâu dài.

Thủ Dầu Một nói riêng và Bình Dương nói chung phát triển “nóng” nhưng không vội. Đó là một kiểu phát triển có tầm nhìn chiến lược, có định hướng rõ ràng trong liên kết vùng Đông Nam Bộ và TP.HCM, chứ không chỉ cục bộ địa phương.

MINH LUẬN – TuoiTre.vn

Tìm về cộng đồng cư dân Việt ở Bình Dương


* VĂN THỊ THÙY TRANG

 Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung đến vùng Đông Nam bộ. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay là một trong những vùng đất mới để cộng đồng cư dân đến sinh cơ, lập nghiệp. Họ bao gồm nhiều thành phần trong xã hội thời bấy giờ, những nông dân nghèo khổ, lầm than chốn quê nhà; là những người chạy trốn sự truy đuổi của chính quyền phong kiến, những người trốn lính, trốn thuế… vì bức xúc cuộc sống mà bất chấp nguy hiểm đi tìm nơi nương thân, mưu lập cuộc sống mới.

Bình Dương nơi dừng chân của đoàn quân di cư người Việt cùng với các địa bàn khác trên khu vực như Mô Xoài, Cù lao Phố, Bến Nghé. Bởi nơi ấy dân di cư thường theo các cửa biển, con sông để tìm vùng đất tốt định cư. Những vùng đất tốt, thuận tiện giao thông thủy bộ ở Bình Dương nhất là chung quanh thị xã Thủ Dầu Một vốn là vùng giáp sông Đồng Nai, sông Sài Gòn chính là những nơi định cư lý tưởng thuở đầu khai phá.
Đầu tiên người Việt đến vùng Lái Thiêu trung tâm là Bình Nhâm. Số cư dân phát triển dọc theo sông (sài Gòn), theo sông Thị anh (Bến Cát) Tân An… dân Ba, Tân Uyên dọc sông Đồng Nai, dần đến vùng vùng định cư của người Việt.
Hệ thống hành chính được thiết lập theo địa đồ năm 1698. Sau đó, triều Nguyễn đã có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút lưu dân đến khai hoang, lập làng vùng Gia Định – Đồng Nai. Trong bối cảnh đó Bình Dương cũng nhanh chóng được khai phá. Theo nhà nghiên cứu địa bạ Nguyễn Đình Đầu thì vùng đất Bình An (Bình Dương trước đây) là nơi có nhiều ruộng đất nhất củatỉnh Biên Hòa, chứng tỏ đây là vùng đất có đông cư dân nông nghiệp nhất. Vùng xung quanh Thủ Dầu Một sau này như Phú Cường, Lái Thiêu, Phú Lợi, Tân Khánh, Tân Uyên, Cù lao Rùa là những xóm đông đúc của Bình Dương từ thuở Tân Khánh, Tân Uyên, Cùa lao Rùa là những xóm đông đúc của Bình Dương từ thuở mở cõi thời nhà Nguyễn.
Từ khi vùng đất Bình Dương được thiết lập thì cư dân người Việt ở đây Phát triển nhanh chóng. Nhiều ấp, nhiều làng mới đượchình thành theo sự tăng trưởng của dân cư. Người Việt đa phần cư trú ở đồng bằng tập trung theo cộng đồng dân cư, vỡ hoang trồng lúa nước hoa màu bằng những dụng cụ thô sơ như cuốc, xuổng, liềm… chăn nuôi gia súc gia cầm “con trâu là đầu cơ nghiệp”…
Người Việt ở Btnh Dương cũng phụ thuộc theo từng giai đoạn lịch sử Việt Nam. Có sự phân chia giữa hai giai cấp và nhiều tầng lớp xã hội khác nhau như địa chủ, phú hào, nông dân, lệ nông, gia nô… cuộc sống nông nghiệp luôn phụ thuộc vào thiên nhiên, người Việt liên kết với nhau dụa vào nhau mà sống. Thôn xóm làng xã của người Việt được tổ chức chặt chẽ, quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết thành một cơ sở đơn vị gia đình là sự cấu thành gia tộc.
Người Việt quan niệm về ăn uống là cho ngon miệng chứ không mấy chú trọng về chất lượng. Bữa ăn là để tập hợp đủ các thành viên trong gia đình vừa ăn vừa trò chuyện, thăm hỏi nhau. Mọi hành động của người Việt nói ra đều có chữ ăn đứng đầu như ăn nói, ăn mặc, ăn ở, ăn uống, ăn học… Người Việt ở Bình Dương không ưa uống trà như ở miền Trung, miền Bắc. Tuy nhiên, rượu trà, trầu cau là những thứ không thể thiếu trong lễ nghĩa. Người đàn ông có thú uống rượu, hút thuốc, phụ nữ thì ăn trầu “miếng trầu là đầu câu chuyện”.
Cộng đồng người Việt đầu tiên ở Bình Dương mặc theo kiểu miền Bắc, miền Trung. Phụ nữ thường mặc áo cánh ngắn bằng vải nâu, cổ tròn viền nhỏ, tà mở, bên trong là tấm yếm màu vàng tơ tằm, dưới mặc váy. Về sau để phù hợp với công việc lao động họ mặc áo cánh gài nút giữa, không có túi, vạt áo sau trùm mông và mặc quần, trên đầu dùng khăn vải màu sáng hoặc kẻ ô gập lại vắt lên đầu. Đến lễ hội thì mặc áo dài và chiếc khăn vuông gấp chéo góc quàng vai cũng được phụ nữ trung niên trang điểm thêm. Trong lễ cưới cô dâu, chú rể đều mặc áo dài (chú rể đội khăn đóng) chân đi hài Nam Định.
Đặc biệt, nhiều làng nghề thủ. công định hình và phát triển trên đất Thủ Dầu Một. Ở đây xuất hiện đội ngũ đóng thuyền và thợ mộc, các kiểu bàn tròn, tủ thờ, giường đi vào thơ ca “Qua rằm mười sáu trăng treo, Anh đóng giường lèo cưới vợ Lái Thiêu”. Cư dân người Việt ở Bình Dương vốn có tay nghề sơn mài và kỹ thuật khảm cừ từ miền Bắc, miền Trung vào được thể hiện trên tủ thờ, ghế tựa, tràng kỷ hương án… lần lượt khai thác thế mạnh ở vùng đất giàu chủng loại gỗ quý như gõ, cẩm lai, giáng hương…tạo nên một nghề độc đáo và nổi tiếng cho Bình Dương – có danh mộc đất Thủ “Ai về chợ Thủ hỏi chủ Thợ”. Một minh chứng của nghề là ngôi miếu Mộc Tổ ở Lái Thiêu, các làng nghề mộc ở Phú Thọ, Chánh Nghĩa…; làng sơn mài Bến Thế, Tương Bình Hiệp… là những cụm dân cư Việt lưu truyền những nghề thủ công độc đáo của tỉnh Bình Dương. Sau này, người Pháp cho mở trường Bá nghệ Thực hành Thủ Dầu Một năm 1901, nghề mộc càng có điều kiện phát triển trên cơ sở tiếp thu kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những trong nước mà còn cả thị trường ngoài nước.
Về dân số: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cư dân Việt ở Bình Dương có 80.066 người (niên giám Địa chí Thủ Dầu Một của thực dân Pháp). Năm 1915, cư dân Việt có 89.318 người. Năm 1925, có 105.968 người Việt gốc Nam kỳ, 4.122 người Việt gốc Trung kỳ, Bắc kỳ…
Đến năm 1867, dân số có 1 .913 người Việt có đăng hộ tịch và 45.912 người Việt không được đăng hộ tịch. Người Việt ở Bình Dương còn có sự biến đổi khác, vào thời kỳ xuất hiện một đội ngũ công nhân cao su ngày càng nhiều theo nhu cầu mở rộng đồn điền cao su của thực dân Pháp trên địa bàn Thủ Dầu Một – Đông Nam bộ.
Thời kỳ cận hiện đại, mật độ dân số người Việt Bình Dương không ngừng thay đổi, luôn được bổ sung từ nhiều nguồn, nhiều nơi. Năm 1954, từ nguồn di cư người Việt từ các tỉnh phía Bắc vào, một số người Việt ớ miền Trung đến với chính sách “Dinh điền” của chế độ Sài Gòn trước năm 1975. Sau ngày giải phóng thống nhất đất nước,
nhân dân xiêu tán các nơi đã nhanh chóng hồi hương, lấp dần các khoảng trống ở các vùng Bến Cát, Tân Uyên, Dầu Tiếng… họ là một bộ phận dân cư đi kinh tế mới, khai hoang phục hóa. Dân số người Việt thời chống Mỹ đến năm 1998 là 468.146 người.
Ngày nay, Bình Dương một vùng đất năng động và phát triển mạnh về kinh tế các khu công nghiệp, thu hút hàng ngàn lực lượng công nhân khắp mọi miền đáp ứng nhu cầu việc làm. Số lượng dân cư luôn biến đổi theo sự phát triển cân bằng của xã hội. Cộng đồng cư dân người Việt ở Bình Dương trải qua nhiều sự đổi thay của lịch sử, nhưng họvẫn giữ vững truyền thống ”Uống nước nhớ nguồn”, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, sống chan hòa cùng chung tay xây dựng cuộc sống mới văn minh, giữ vững bản sắc dân tộc.
V.T.T.T
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Địa chí Sông Bé NXB Sông Bé, 1991.
2. Tạp chí xưa và nay – số 45B (11-1997)
3. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1930-1975) – NXB Chính trị Quốc gia, 2003.
4. Bình Dương đất lành chim đậu – 1999
5. Bình Dương thời đổi mới NXB Thanh Niên.
6. Tư liệu thuyết minh Bảo tàng, 2005

Miếu Thiên Hậu (chùa Bà): Một tín ngưỡng dân gian của cộng đồng người Hoa ở Bình Dương


* NGUYỄN THỊ LAN

 Tín ngưỡng thờ bà Thiên Hậu hay còn gọi là Thiên Hậu Thánh Mẫu vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc, các nhóm người Hoa di cư sang làm ăn, sinh sống ở xứ ta, tập tục tín ngưỡng và lễ hội của nó được ‘ưu truyền sang Việt Nam khá lâu đời. Các miếu cung thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu có mặt khắp từ Bắc chí Nam, nhất là những trung tâm thương mại lớn thời trước nơi có nhiều người Hoa định cư, làm ăn buôn bán như: Thiên Hậu cung ở Phố Hiến (Hải Hưng đền thờ ở phía đông thành Hà Nội, chùa Bà ở Hội An, các chùa cúng thờ thần nữ từ duyên hải Trung bộ vào đến Đồng Nai, Gia Định xuống tận Cà Mau, Hà Tiên. Chùa Bà “Thiên Hậu cung” ờ Thủ Dầu Một (Bình Dương) là một cơ sở tín ngưỡng được ra đời trong trường hợp tương tự, gắn bó với quá trình định cư của cộng đồng người Hoa trên vùng đất này.

Tư liệu lịch sử cho biết, năm 1679 hơn 3.000 binh dân người Hoa được phép vào định cư ở Bàn Lăng (Biên Hòa) và Mỹ Tho (Tiền Giang). Năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh chúa Nguyễn vào Nam lập phủ Gia Định, lấy đất Đồng Nai lập huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy đất Sài Gòn lập huyện Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn thì “Con cháu người Hoa ở Trấn Biên lập thành xã Thanh Hà ở Phiên Trấn lập thành xã Minh Hương”. Dựa vào cứ liệu này chúng ta đoán định rằng: Nhóm người Hoa Thanh Hà ở Biên Hòa và sau đó tập trung đông nhất là Cù lao Phố, đã dần dần phân tán qua các thôn làng khác, trong đó có Tân Uyên Lái Thiêu, Chòm Sao, Bà Lụa… Đoán định này cơ sở lịch sử của nó và đặc biệt có phần phù hợp với thực tế là bốn địa điểm trên bốn vùng tụ quan trọng của cộng đồng người Hoa ở Bình Dương. Tuy nhiên, qua điều tra thực tế từ các gia đình người Hoa cố cựu vùng Phú Cường, Thủ Dầu Một, chúng ta thấy rằng số lượng người Hoa đến lập nghiệp ở đây rất sớm vào nửa sau thế kỷ XIX, hậu quả là do cuộc chiến tranh nha phiến: gây một tình trạng bất ổn cho cả vùng Đông Nam Trung Hoa.
Miếu Thiên Hậu ở thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, được thành lập vào giữa thế kỷ XIX, nằm trên bờ rạch Hương Chủ Miếu. Năm 1880, người Hoa xin phép xây thêm nhà túc. Đầu thế kỷ XX (1923), miếu được di dời về vị trí hiện nay (nằm cạnh trường Phú Cường 2, đường Nguyễn Du). Dân gian vẫn quen gọi là chùa Bà Thủ Dầu Một.
Chùa nằm trên một diện tích khá lớn, được xây theo lối kiến trúc của người Hoa, với mái ngói ống, diềm mái màu ngọc thạch và hai con rồng được trang trí trên đỉnh mái theo mô típ “lưỡng long trân châu”. Cổng vào chùa được sơn đỏ, đưa khách đi qua một khoảng sân rộng. Nơi góc sân có tháp nhỏ dùng để đốt giấy tiền vàng bạc khi cúng. Bàn thờ Thiên Phụ Địa Mẫu được đặt trước cửa ra vào với hai rồng chầu hai bên. Sân miếu cũng là nơi sinh hoạt của thanh thiếu niên người Hoa. Hai con lân được tô màu rực rỡ chào đón khách ở hai bên lối đi vào miếu.
Miếu được cấu trúc khá rộng, với 3 dãy nhà liền nhau theo hình chữ Tam gồm tiền điện, trung điện, chánh điện. Hai bên cửa vào có bàn thờ Môn Quan và Thổ Thần. Trên trần của gian tiền điện luôn có hàng chục vòng nhang hình nón nghi ngút cháy, hun đen và làm bóng thêm các vì kèo, ngói và hàng cột chống đỡ miếu. Vì kèo giả thủ, được cấu trúc ở cả ba gian. Hàng cột nào cũng có câu đối vàng nổi hẳn lên trên nền gỗ nâu đen bóng. Tại ba gian chính đặt ba bàn thờ ngang nhau. Bàn nào cũng có hoành phi, trang thờ và tượng cốt mặc áo rực rỡ. Tượng bà Thiên Hậu được đặt trang trọng tại bàn giữa. Hai bên bàn thờ bà Ngũ Hành và Ông Bổn, Bà Bổn. Tám nghi trượng dựng dọc hai bên tượng cùng với kiệu Bà dùng trong ngày lễ vía. Tại đây cũng đặt chuông trống. Năm bàn thờ được đặt ngang từ ngoài vào, được chạm khắc khá tinh xảo. Có bàn trang trí hình nhân bát tiên và cẩn ốc. Ở các dãy bàn này, vào ngày lễ vía Bà, heo sống, heo quay, trái cây, bánh ngọt… được đặt lên dâng cúng. Bức hoành phi treo trước trang thờ Bà ghi bốn chữ Hán: “Hải quốc từ vân”.
Đối tượng thờ chính ở cơ sở tín ngưỡng này là Thiên Hậu Thánh Mẫu. Thiên Hậu Thánh Mẫu là cô gái họ Lâm, quê ở Châu Mỹ, huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến. Cuộc đời cô gái này khá ngắn ngủi (sinh năm 1104 mất năm 1119 lúc 16 tuổi). Tương truyền cô gái họ Lâm đắc đạo tái thế, hiển lộng thần thông cứu người bị nạn trên biển nên được nhà Tống phong Phu nhân rồi các triều đại kế tiếp phong phi, Thiên Phi, Thánh Phi, mãi đến đời Khang Hy nhà Thanh thì được phong là Thiên Hậu.
Thiên Hậu được xem là Thần phù hộ cho người đi biển, người Hoa thường gọi là “A Phó” (có nghĩa là mẹ nuôi), hoặc “Đại Mẫu”. Thiên Hậu Thánh Mẫu cũng được coi là thần bảo hộ giới nữ, phù hộ cho công việc làm ăn buôn bán và trong chừng mực khá phổ biến là thần tài thần lộc. Điều này giải thích các hình thức cầu tài cầu lộc biểu hiện trong lễ hội chùa Bà vào ngày rằm tháng giêng – lễ Thượng nguyên.
Ngày rằm tháng giêng – ngày rằm đầu năm, gọi là Thượng nguyên. Đó là ngày đi lễ chùa của tín đồ tôn giáo “Đi lễ chùa quanh năm không bằng đi lễ vào ngày rằm tháng giêng”. Đối với quan niệm coi ngày này là Thượng nguyên thì gốc từ quan niệm dịch lý, theo vòng luân chuyển của thời gian lớn Đại kiếp là thượng nguyên sẽ chuyển sang Trung nguyên và đến Hạ nguyên, hết Hạ nguyên thì quay trở ngược lại thời Thượng nguyên mới (ở Nam bộ gọi “nguyên” là “nguơn”), vận dụng quan niệm này vào vòng luân chuyển của tiết thứ trong năm thì rằm tháng giêng là Thượng nguơn, răm tháng bảy là Trung nguơn, rằm tháng mười là Hạ nguơn. Theo đó’ rằm tháng giêng là ngày lễ Thiên Quan tấn phước (tiến phúc), rằm tháng bảy là lễ Địa Quan giải ách và rằm tháng mười là lễ tạ ơn Thủy Quan Điều này chỉ ra rằng, tập hợp các lễ Tam nguyên là thuộc phạm trù nghi lễ của tứ thời (tam nguyên tứ quý) tức gắn với mùa vụ của hoạt động sản xuất nông nghiệp, đó là quan niệm chung của Trung Quốc và các quốc gia Hán hóa ở Đông Á.
Hàng năm, vào ngày rằm tháng giêng âm lịch Ban quản trị miếu đều tổ chức vía Bà. Hội lễ được khai mở rất long trọng với nhiều nghi thức. Đông đảo người Việt, người Hoa từ khắp nơi đổ về lễ bái, cầu phước, lộc, thọ, rước kiệu Bà. Cao điểm của lễ hội bắt đầu vào đêm 14. Đường vào chùa chật như “nêm cối”. Đa số khách hành hương từ TP.HCM và các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước… Tham dự lễ hội nhộn nhịp nhất có lẽ là gian đấu thầu đèn lồng gây quỹ nhằm làm việc công ích (phát triển y tế giáo dục, văn hóa, xã hội) cho cộng đồng và địa phương. Có đến 12 đèn lồng tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Những chiếc đèn lồng to được tạo tác công phu và mỹ thuật. Mỗi đèn đều có câu thơ khác nhau tạo thành một hàng dài trước sân chùa đập vào mắt người xem hội rất ấn tượng.
Trong những năm gần đây, Ban tổ chức có cho đấu giá chiếc lư hương đặt trước hương án chính điện. Ai trúng thầu sẽ được đặc quyền thỉnh chiếc lư hương này đặt trên kiệu Bà trong lễ rước. Người đấu thầu nói chung, ngoài niềm tin được Thánh Mẫu phù hộ, họ còn lấy làm vinh dự về sự đóng góp hào phóng của mình đối với việc công ích cho cộng đồng, cho xã hội.
Lễ bái của bá tánh tứ xứ: Các khách đến lễ bái nhân dịp lễ này lên đến hàng vạn người bao gồm dân chúng từ khắp các tỉnh thành ở Nam bộ. Do đó, trên sân chùa rộng khoảng 600m2, hàng trăm ngàn người đến lễ bái xin lộc hay cúng tạ ơn Bà đã phù hộ cho họ gặt hái được thành công trong năm qua. Lễ vật dâng cúng nói chung là tùy từng người không có lệ phân biệt vật phẩm là thực vật hay động vật.
Lễ rước cộ Bà: Được tiến hành sau lễ đấu giá lồng đèn. Các đội múa lốt (hẩu, lân, rồng, sư tử) vài chục con lần lượt từ phía tam quan kéo vào sân biểu diễn để chúc tụng Bà, hầu Bà. Trong những năm gần đây, ngoài các đội múa lốt còn các đoàn “sân khấu hóa”, thầy trò Tam Tạng -Tôn Ngộ Không, Trừ Bát Giới, Sa Tăng và Bát Tiên tham dự trình diễn ở đây và trong đám rước.
Đám rước mở đầu lúc 14 giờ hoặc 15 giờ xuất phát từ chùa Bà, qua các con đường chính trong thị xã rồi trở lại chùa vào lúc 18 giờ cùng ngày. Đoàn đi đầu lễ rước với sắc phục chỉnh tề, theo sau hàng trăm người. Tiếng trống, phèng la, bên cạnh đội hẩu, lân, rồng… các thiếu nữ gánh hoa tươi cười, duyên dáng, trẻ trung… càng làm tăng thêm sự sôi động của ngày hội Xuân tại chùa Bà. Trên đường cộ Bà đi qua, nhiều gia đình bày hương án (chiếc bàn nhỏ) ra trước hiên nhà hay ngoài sân, ngoài cổng để nghênh đón kiệu Bà. Khi cộ Bà qua khỏi thì chủ nhà cho đốt pháo (đó là tập tục cũ trước khi có chỉ thị cấm đốt pháo). Ý nghĩa của việc rước cộ Bà là để “Bà thăm viếng dân tình” và để bá tánh chiêm bái, cầu phúc Thực ra, những cuộc rước thần thánh nói chung ở các đình, chùa, miếu mạo… là cách đưa sự linh thiêng vào cuộc sống, tạo sự kết nối giữa thánh thần với đời thường, là dịp để mọi người vui chơi, giải trí trong không khí tín ngưỡng dân gian như mọi hội hè, đình đám của truyền thống văn hóa dân tộc.
Lễ hội “chùa Bà” Bình Dương là một lễ hội truyền thống hấp dẫn. Tuy nhiên, cần chống hiện tượng “ký sinh” lễ hội như xin xăm, xóc quẻ, ăn xin… Riêng tiết lễ “vay tiền Bà” (tượng trưng) có nhiều ý kiến khác nhau: Có người cho đây là nguồn động viên tinh thần, động viên tâm lý người sản xuất, người kinh doanh… Còn bộ phận khác lại cho đây là lừa bịp và đề nghị loại bỏ. Quan điểm văn hóa là phải tìm cho được ranh giới mong manh giữa mê tín dị đoan và tín ngưỡng để xử lý. Ranh giới đó chính là mục đích, là tác dụng của vấn đề. Việc “vay tiền Bà” xét cho cùng thì không ảnh hưởng gì đối với cộng đồng. Do đó, có thể tồn tại dưới dạng “vật thiêng” có ý nghĩa kích thích sự hưng phấn người đi lễ về mặt tâm lý và cũng để tạo “sự tái sinh” cần thiết nào đó…
Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu ở Phú Cường, Lái Thiêu, Búng, Bưng Cầu của tỉnh Bình Dương là một ngày hội có quy mô lớn và phạm vi ảnh hưởng của cả vùng Đông Nam bộ nói riêng và Nam bộ nói chung. Lễ hội này tuy là lễ cúng Bà Thiên Hậu nhưng thực tế đã trở thành ngày hội Xuân – một lễ hội Thượng nguyên mang ý nghĩa cầu phước đầu năm. Nó đặt trọng tâm vào việc thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng – tâm linh không chỉ có ý nghĩa đối với người Hoa mà còn cả với người Việt. Lễ hội đã tạo không khí tăng cường tình đoàn kết gắn bó cộng đồng và trở thành nét văn hóa chung của dân tộc Việt Nam.
N.T.L
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sông Bé – Di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh
(chào mừng 20 năm giải phóng miền Nam 30.4. 1975- 30.4. 1995).
2. Tạp chí xưa và nay của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam (số 45b – 11-1997),
3. Tiến sĩ Trần Hồng Liên. Văn hóa người Hoa ở Nam bộ tín ngưỡng và tôn giáo. NXB Khoa học xã hội, năm 2005.
4. Vũ Ngọc Khánh. Văn hóa Việt Nam – những điều học hỏi. NXB Văn hóa – Thông tin, năm 2004.

Bước đầu tìm hiểu về cộng đồng người Hoa Phước Kiến ở phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương


Phát – Đỗ Tiên

Hiện nay ở phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một có 2.780 người Hoa đang sinh sống, trong đó hầu hết là người Hoa đến từ huyện An Khê – Phước Kiến- Trung Quốc.

An Khê là một huyện miền núi nghèo nàn lạc hậu. Thời phong kiến vùng quê này luôn xảy ra cảnh “bán vợ đợ con”, cuộc sống kham khổ, đói rét. Một số người bất nhẫn trước cảnh bị áp bức, nghèo hèn đành rời bỏ quê hương đi tìm nơi làm ăn sinh sống. Họ lên tàu đến những đất nước lân cận, trong đó có Việt Nam. Những người tiên phong đến định cư tại Chánh Nghĩa ngày nay có lẽ chỉ vào khoảng thế kỷ XIX, muộn hơn so với Biên Hòa và Sài Gòn. Bởi vì căn cứ vào thời gian lập miếu xưa nhất là miếu Thiên Hậu khoảng giữa thế kỷ XIX. Và, lò gốm xưa nhất ở Chánh Nghĩa cũng được xây dựng khoảng giữa thế kỷ XIX. Đó là lò Vương Lương ở khu vực Bà Lụa ngày nay. Tuy nhiên, dòng chảy di dân An Khê (Ta) Sang Chánh Nghĩa nhiều nhất khoảng đầu thế kỷ XX, mà cao trào là từ những năm 1930 đến 1948. Thời kỳ mà Trung Quốc có nhiều biến động lịch sử. Chế độ phong kiến đã bị lật đổ bởi cuộc cách mạng của Quốc Dân đảng. Nhưng khi lãnh đạo Tôn Trung Sơn mất năm 1925, Tưởng Giới Thạch đã phản bội tư tưởng của Tôn Trung Sơn và xảy ra sự đối đầu với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nội chiến lại xảy ra, tình hình hỗn loạn, thổ phỉ phá quấy, trộm cắp, cướp bóc liên miên. Vùng đất nghèo càng thêm nghèo, trốn sự lam lũ đói rách, trốn bị bắt lính, trốn sự bất ổn của xã hội, họ rời bỏ quê hương ngày càng nhiều. Những người đi trước bắt đầu đón những người thân trong gia đình, bà con trong tộc họ, xóm giềng, bạn bè… lần lượt di dân sang hợp thành một cộng đồng người Hoa đông đúc như ngày nay.
Người Hoa ở Chánh Nghĩa đa phần là họ Lý, họ Vương và một số ít họ khác. Ban đầu họ đến vùng đất mới làm thuê để sinh sống, chủ yếu là làm thợ lò gốm. Từ hai bàn tay trắng, qua thời gian làm việc cật lực cộng với chiến thủ cao, có một số người đã xây dựng lò gốm để làm chủ. Khu vực Chánh Nghĩa có địa hình và địa thế thuận lợi để đắp lò làm gốm. Thế là các lò gốm dần dần mọc lên bên cạnh khu vực Lái Thiêu, Chòm Sao, Tân Khánh… năm 1910 ở Phú Cường (khu vực Chánh Nghĩa ngày nay lúc bấy giờ thuộc làng Phú Cường) đã có 14 lò gốm, cho đến nay ở phường Chánh Nghĩa đã có gần 100 lò gốm. Người Phước Kiến ở Chánh Nghĩa chỉ một số ít làm các nghề khác như buôn bán, rang xay cà phê còn thì đa số làm thợ lò gốm.
Gốm Chánh Nghĩa chủ yếu là gốm gia dụng như chén, tô, dĩa, thố, lu, khạp… phong cách thô sơ, mộc mạc không có nét cầu kỳ, tinh tế như gốm Lái Thiêu. Khu vực tập trung các lò gốm trải trên một diện tích rộng. Vì vậy, nơi đây còn có địa danh là Lò Chén. Các tên gọi “khu lò chén”, “ngã ba Lò Chén” vẫn còn tồn tại cho đến nay. Gốm Chánh Nghĩa cũng đã góp phần tạo nên sự thăng hoa của gốm Bình Dương trên khắp cả nước, trở thành một trong các ngành nghề truyền thống đặc trưng của Bình Dương.
Người Hoa khi rời bỏ quê hương, tài sản mang theo có thể rất ít. Nhưng với bản tính cần cù nhẫn nại, chịu khó, họ đã tạo nên cơ ngơi sung túc trên quê hương thứ hai này.
Khu vực Lò Chén dân cư ngày càng đông đúc. Người Hoa ở đây hòa nhập khá tự nhiên vào cộng đồng người Việt. Tuy nhiên, họ vẫn luôn giữ những nét đặc sắc trong văn hóa của dân tộc mình.
Ở bất cứ cộng đồng người nào, khi nhập cư sinh sống trên một vùng đất nào đó, họ đều mang theo truyền thống tín ngưỡng của mình. Người Hoa cũng vậy. Nhất là trong buổi đầu định cư, họ vừa trải qua những ngày sóng gió lênh đênh trên biển nhiều gian nan, trắc trở, thì khi đến vùng đất mới được bình an vô sự, họ đều hướng về các thần linh để tạ ơn. Họ lập nên những miếu thờ dù ban đầu chỉ là những gian nhà lá đơn sơ để thờ những vị thánh mà họ cho là hiển linh đã cứu giúp họ.
Thiên Hậu Thánh Mẫu là một điển hình. Xuất xứ từ châu Mi, huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, cô gái họ Lâm tương truyền là người đắc đạo, hiển ứng thần thông cứu người bị nạn trên biển. Hầu hết lưu dân người Hoa ra đi bằng đường biển nên họ rất tôn thờ Bà. Không chỉ riêng người Phúc Kiến, Hoa kiều ở bất cứ nơi đâu đều lập miếu thờ Bà.
Ở khu vực Chánh Nghĩa, vào năm 1867, những người Phước Kiến đã lập ngôi miếu thờ Thiên Hậu trên bờ rạch hương chủ Hiếu, năm 1871 miếu được tôn tạo, đến năm 1880 họ xin chính quyền cất thêm nhà hội. Sau khi miếu bị cháy, năm 1923 miếu được di dời về địa điểm đối diện vòng xoay ngã sáu, bên cạnh trường tiểu học Nguyễn Du hiện nay, đó là thiên Hậu cung, nhân dân quen gọi là chùa Bà Thủ Dầu Một. Miếu dù có nguồn gốc đầu tiên là do những người Phước Kiến lập, nhưng sau đó cả bốn bang người Hoa Phước Kiến, Triều Châu, Quảng Đông và Sùng Chính đã chung sức xây dựng, tôn tạo, quản lý và tổ chức lễ hội long trọng đầy màu sắc vào ngày Rằm tháng giêng hàng năm. Lễ hội này trở thành lễ hội truyền thống thu hút hàng triệu lượt người từ khắp nơi đổ về không chỉ người Hoa mà người Việt cũng tụ hội chung vui.
Ngoài việc chung sức giữ gìn truyền thống lễ hội rằm tháng giêng của Thiên Hậu cung, người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa còn có truyền thống thờ cúng những vị nam thần mà những nơi thờ tiêu biểu là Phước võ điện và Phước An miếu, dân quanh vùng quen gọi là chùa ông Bổn.
Phước điện thờ Huyền Thiên Thượng Đế, được những người họ Vương xây dựng khoảng năm 1885, hiện tọa lạc tại khu 9, phường Chánh Nghĩa. Huyền Thiên Thượng Đế là một vị thần do Thượng Đế phân thân, còn được gọi là Chân Vũ hoặc Chân Võ. Theo truyền thuyết, ngài có hai tướng rùa và rắn (Vui – Xà tướng quân) phụ trợ cùng với 36 tướng khác tuần du về phương bắc để trấn áp, thu phục tà ma cứu người lương thiện, cuộc tuần du đó gọi là Bắc du Chân Võ. Lễ hội Phước Võ điện tổ chức vào 2 ngày 24 và 25-2 âm lịch. Cứ 4 năm mới đáo lệ một lần do có sự luân phiên tổ chức của nhóm họ Vương các nơi khác. Đó là các miếu thờ:
– Ngọc Hư cung ở khu 7, thị trấn Lái Thiêu.
– Phước Thọ đường ở xã Hưng Định, huyện Thuận An.
– Phước Nghĩa đường ở Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên. Huyền Thiên Thượng Đế lần lượt được thỉnh về tạm trú mỗi nơi một năm. Ngài ở nơi nào thì nơi đó tổ chức lễ hội. Chương trình lễ hội cả bốn nơi đều giống nhau. Phần chính của lễ hội là nghi thức rước kiệu Huyền Thiên Thượng đế, Nam triều Đại Đế, Phật Bà Quan Âm đi tuần du suốt đêm quanh khu vực. Đám rước có sự hộ tống của hẩu, lân, sư, rồng rộn rã, tưng bừng. Trong lễ hội có hát hò Quảng thu hút rất đông cư dân quanh vùng.
Phước An miếu hiện tọa lạc tại khu 7, phường Chánh Nghĩa do người Hoa họ Lý lập năm 1882 thờ Thất phủ Đại nhân các vị họ Lực, Chu, Quách, Tiêu, Triệu, Lý và Châu. Tương truyền vào đời nhà Hán, có 360 sĩ từ đi thi đã tụ hội lại trong một căn hầm để đàn ca hát xướng. Tiếng ồn vang đến tai của trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng – tổ của thầy pháp) ông nổi giận bèn lừa vua lấy chiếu chỉ rồi đọc than chú cho sụp hầm giết chết 360 người. Oan hồn các sĩ tử cứ báo mộng kêu oan với nhà vua. Khi biết rõ sự tình, vua bèn phong cho các sĩ tử bị chết oan mỗi người là Đại nhân của phủ họ. Người họ nào thì thờ đại nhân họ đó. Tìm hiểu từ những người cao tuổi thì ở quê hương An Khê của họ Lý đã có miếu thờ thất phủ đại nhân từ lâu đời. Khi sang định cư tại Chánh Nghĩa ngày nay người Hoa họ Lý cũng lập miếu thờ Thất phủ Đại nhân, trước tiên là để tạ ơn các vị thần đã phò trợ cho họ được an cư lạc nghiệp, sau đó là giải quyết nhu cầu tinh thần, an ủi những người xa xứ luôn nhớ và tiếp nối truyền thống tín ngưỡng từ cố hương.
Hàng năm vào ngày 16 tháng giêng, Phước An miếu tổ chức lễ rước kiệu ông tuần du suốt ngày suốt đêm quanh khu dân cư. Từng gia đình hoặc một nhóm gia đình bày chung hương án, bánh trái bên đường đón đám rước có thầy pháp làm lễ cúng cầu ông giải trừ tà ma, phù hộ cho gia đình làm ăn phát đạt, an khang thịnh vượng… hộ tổng đám rước cũng không thể thiếu hẩu, lân, sư, rồng với trống chiêng, chập chả âm thanh rộn ràng vang xa hàng cây số.
Ngoài lễ rước kiệu ngày 16 tháng giêng hàng năm, cứ 3 năm Phước An miếu tổ chức lễ hội một lần vào 3 ngày từ 12 đến 14-8 âm lịch. Trong lễ hội có thầy pháp tụng cúng, có hình thức lên đồng xỏ xiên quai (một thanh sắt tròn dài xỏ xiên qua 2 má cạnh mép miệng) và chủ yếu là hát cúng hò Quảng với nhiều tuồng tích. Cũng như lễ hội ở Phước Võ điện, lễ hội ở Phước An miếu thu hút rất đông người.
 
Ngoài 2 ngôi miếu thờ Ông kể trên, người hoa ở Chánh Nghĩa còn có miếu thờ Phật Bà Ouan Âm gọi là Bích Liên đình tọa lạc tại khu 7, phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một. Việc thờ Quan Âm tại đây không mang theo nghi thức Phật giáo. Cũng giống như Thiên Hậu Thánh Mẫu, người Hoa cho rằng Phật Bà Quan âm là vị cứu nạn, cứu nguy cho người trên biển. Ở đây bên cạnh Phật Bà còn kết hợp thờ các vị Tam Thánh (Quan Công, Quan Bình, Châu Xương), Hồng Hài Nhi, Hà Tiên Cô, Na Tra và Bảo Sanh Đại Đế. Mỗi khi Phước An miếu tổ chức rước kiệu hoặc lễ hội đều thỉnh Phật Bà với các vị thờ ở Bích Liên đình lên Phước An miếu cùng tuần du, cùng chứng giám lễ hội.
Nói đến lễ hội và tín ngưỡng của người Hoa ở Chánh Nghĩa không thể không nói đến nghi thức múa hẩu. Đó là một hình thức múa lốt đặc trưng của người Hoa Phước Kiến ở Bình Dương mà không có nơi nào có kể cả ở TP.HCM. Cái lốt con hẩu có đầu là chiếc mặc nạ tròn rất hung tợn, được vẽ nhiều màu sắc, quanh đầu râu ria xồm xoàm gắn với thân là một tấm vải màu vàng rực, rộng và dài khoảng 3 – 4m. Đuôi là đuôi thật của trâu hoặc bò phơi khô cột chặt vào phần cuối cùng của tấm vải. Múa hẩu cũng có 2 người múa đầu và múa đuôi nhưng khác hẳn với múa lân hoặc sư tử bởi vì hẩu không trèo leo, nhún nhảy theo kiểu vui chơi. Hình thức cơ bản khi múa hẩu là đầu rướn lên cao, xoay mặt qua lại, lúc thì co lượn, trườn dài, lăn tròn xuống đất. Múa hẩu biểu diễn trong lễ cúng ở Phước An miếu và các lễ vía Huyền Thiên Thượng Đế chứ không biểu diễn để vui chơi hội hè. Về sau khi kết hợp tổ chức lễ hội Thiên Hậu Thánh Mẫu, hẩu cũng tham gia rước Bà du xuân.
Theo tín ngưỡng Đạo giáo, không biết nguồn gốc từ đâu, các bang hội người Hoa ở Bình Dương đều công nhận mỗi bang có một cốt con vật riêng (trong can chi). Người Phước Kiến cốt con hổ, Triều Châu cốt con ngựa, Quảng Đông cốt con dê và Sùng Chính cốt con chó. Do đó, khi xếp đội hình rước kiệu Bà Thiên hậu du xuân thì nhất định các con hẩu luôn luôn đi đầu. Vì người Hoa cho rằng hẩu đại diện người Phước Kiến cũng tức là hổ nên cần phải đi đầu để dẹp đường cho Bà du xuân, nếu hẩu đi sau sẽ ăn hết những con vật (ngựa, dê và chó kể trên) đi trước, như vậy người Hoa các bang khác sẽ không được thuận lợi trong công việc làm ăn.
Như vậy, hẩu là một linh vật, múa hẩu là nghi thức thờ các gia đình người Hoa. Những người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa luôn mở rộng cửa đón hẩu và nhà múa lễ trong những ngày đầu xuân.
Về phong tục tập quán, người Hoa Phước Kiến Chánh Nghĩa vẫn duy trì tục dán liễn đỏ trong các dịp Tết, cưới hỏi, tang ma… Cũng như tất cả người Hoa nói chung, người Phước Kiến rất chuộng màu đỏ, hoa cho màu đỏ là màu may mắn, hạnh phúc. Trong các lễ hội hoặc các lễ cúng khác người Phước Kiến thường nhuộm trứng vịt màu đỏ để thỉnh lộc miếu ông hoặc cúng lễ đầy tháng, thôi nôi. Khi thôi nôi hoặc đầu tháng, người Phước Kiến vẫn còn giữ phong tục làm bánh nếp (gần giống với kiểu bánh ít trần của người Việt ở Nam bộ) bột pha màu đỏ và trứng vịt cũng nhuộm đỏ đem cho các gia đình xung quanh và bà con bạn bè thân thuộc.
Nhìn chung, trong quá trình cộng cư lâu dài với người Việt, sự giao thoa văn hóa thường xuyên xảy ra, người Việt lâu dần cũng có một vài nếp nghĩ theo tập quán của người Hoa. Người Hoa cũng vậy, nhưng những biểu tượng có tính đặc trưng của mỗi tộc người luôn luôn tồn tại một cách riêng biệt không hề lẫn lộn.
 Ngày nay, cộng đồng người Hoa ở Việt Nam là một trong 54 dân tộc trong đại gia đình cộng đồng dân tộc Việt Nam. Thuở ban đầu từ Trung Quốc sang làm ăn sinh sống, họ là những “Hoa kiều” dần dần đã trở thành những công dân Việt Nam. Thế hệ con cháu họ là thế hệ người Việt Nam nhưng cội nguồn văn hóa tín ngưỡng là cội nguồn văn hóa Trung Hoa mà ngày nay đã tạo thành những cành lá sum sê trong vườn văn hóa Việt Nam. Những thành tựu về mặt kinh tế, những đóng góp về mặt xã hội của người Hoa đã góp phần tạo nên sự bền vững cho Tổ quốc Việt Nam, quê hương thứ hai của họ.
Người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa nói riêng và người Hoa ở Bình Dương nói chung đã góp phần không nhỏ trong những thành tựu về kinh tế – văn hóa- xã hội của tỉnh nhà.
L.P -ĐT
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Các tài liệu điền dã cá nhân.
Địa chuông Bé. NXBTH Sông Bé năm 1991
Trần Hồng Liên: Văn hóa người hoa ở Nam bộ tín ngưỡng và tôn giáo. NXBKHXH.
– Sở VH-TT tỉnh Bình Dương: Sơ khảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian và truyền thống tỉnh Bình Dương.  Lưu hành nội bộ tháng 5-1998.

Tìm hiểu nghệ thuật vẽ tranh trên kiếng và nghề tranh kiếng ở Bình Dương


VŨ TIẾN SƠN
Tranh kiếng là một loại hình nghệ thuật dân gian được dân Nam bộ nói chung và người dân Bình Dương nói riêng rất là ưa chuộng. Trước đây hầu như nhà nào cũng treo một vài bức tranh kiếng nơi bàn thờ, gian nhà chính phòng khách và ngay cả nơi cửa buồng nhà ở (Kiểu nhà ba gian, hai chái theo lối kiến trúc cổ xưa ở Nam bộ). Việc treo tranh kiếng ở trong nhà đã được cư dân Nam bộ cũng như người dân xứ Thủ – Bình Dương xem như đó là một nét đẹp văn hóa riêng rất độc đáo không thua kém gì  những loại hình tranh tượng khác.

Từ nghề vẽ tranh trên giấy, lụa, gỗ, các nghệ nhân nghề vẽ đã sáng tạo ra cách vẽ tranh trên kiếng. Dù kỹ thuật vẽ tranh kiếng có khó hơn, đòi hỏi người vẽ phải khéo léo và óc thẩm mỹ cao, nhất là lâu bền dễ bảo quản hơn, khi cần chỉ chùi tranh sẽ mới đẹp như vừa vẽ xong. Về kỹ thuật vẽ, tranh kiếng khác với các loại tranh vẽ thông thường là phải vẽ từ phía sau mặt kiếng vì khi vẽ xong hoàn thành tấm kiếng phải lật lại, phía không có nét vẽ mới chính là mặt chính của tranh. Vì thế khi vẽ các chi tiết đáng lẽ  phải vẽ sau cùng, ở tranh kiếng phải vẽ trước tiên. Chính với đặc điểm này đã tạo nên nét độc đáo của tranh kiếng, nó đòi hỏi sự khéo léo và tài năng của người nghệ nhân vẽ tranh trên kiếng. Khi nghề tranh kiếng hình thành lại gặp ngay sự thuận lợi nhờ sự sử dụng kiếng (thủy tinh) trở nên phổ biến, dễ tìm, dễ mua, các loại sơn màu sơn tốt kể cả sơn nước ngoài cũng không hiếm, vì thế “cùng với nghề mộc, nghề vẽ tranh kiếng cũng phát triển khá nhanh mãi đến trước năm 1945” (Sơn Nam).

Khi nói về nghề vẽ tranh kiếng truyền thống ở vùng đất Lái ThiêuThủ Dầu Một, nhà nghiên cứu văn hóa Sơn Nam đã cho biết: “Lái Thiêu, từ năm 1910 trở về sau, nghệ nhân người Việt đã phỏng theo kỹ thuật vẽ kiếng, lần hồi sáng tạo ra kiểu tranh thờ, định hình và phù hợp với cảnh quan của người Nam bộ, đặc biệt là người đi khẩn hoang ở đồng bằng. Hai câu liễn vẽ với màu tươi tắn, mỗi chữ Hán mang một trái đào, hoặc đóa hoa. Loại kèm theo hình con dơi ngậm trái tụi, chậu bông, con hạc… theo mô – típ của mỹ thuật Huế. Loại tranh đắt tiền thì dùng nước sơn đỏ làm nền, câu liễn gắn ốc xà cừ. Kiếng nhập cảng ở Sài Gòn giá không cao, màu vẹc ni xanh (Vernicobalt) khiến cho tranh thờ Lái Thiêu trở nên trang nghiêm, rực rỡ (…), ta gặp vài tấm tranh kiếng thờ xưa, nếu chùi kiếng, xem như mới, qua 70 năm” (Sơn Nam – 1991: Địạ chí Sông Bé, trong phần truyền thống Văn hóa, trang 345).

Nhà văn Sơn Nam còn cho biết thêm sự cải tiến tranh thời cổ theo phong cách Nam bộ trong tranh kiếng Lái Thiêu, Nghệ nhân ở lái Thiêu lại cải tiến tranh thờ tổ tiên, trước kia thờ chữ “Phước”, Chữ “Lộc”, hoặc tranh nhập từ huơng cảng với non cao, cây tùng và dòng suối. Tranh vẽ trên kiếng ra đời vui tươi hơn, có dòng sông chảy ra biển, cây phượng trổ hoa, ngôi nhà ngói. Vẫn là “cây cội nước nguồn” ở vùng văn minh sông nước phổ biến đến tận mũi cà mau…”. Ông cũng nói đến một cảnh sinh hoạt của nhóm thợ vẽ tranh kiếng tại Lái Thiêu: “Dọc theo bờ rạch Lái Thiêu, có dãy nhà chuyên vẽ kiếng, thợ chính vẽ mô hình, phụ nữ và trẻ con thì tô nước sơn sau đó thợ chính dặm lại lần chót cho hoàn chỉnh”. (Sđd trang 345).

Nghề vẽ tranh trên kiếng ở những năm đầu của thế kỷ 20, Nam bộ có 3 nơi sản xuất nhiều nhất và rất là nổi tiếng đó là : Lái Thiêu ( Thủ Dầu Một – Bình Dương), Chợ Lớn (Sài Gòn) và Chợ Mới (An Giang). Ba trung tâm này tạo thành 3 phong cách và đặc điểm riêng biệt. Mặt hàng nổi tiếng nhất của Lái Thiêu là tranh thờ tổ tiên và tranh cửa buồng Lái Thiêu đa dạng, có loại vẽ nhiều màu sắc nhưng cũng có loại chỉ vẽ màu xanh hoặc đỏ, các loại hoa văn thường cẩn ốc xà cừ. Đường nét của tranh vừa tỉ mỹ vừa cách điệu.

 Người thợ Lái Thiêu thường mạnh dạng dùng gam màu ngũ sắc Huế gồm các màu như: Trắng, hường, đỏ, đen, xanh dương, xanh  màu lông Két…Tùy từng loại sản phẩm mà người ta có thể  dùng mực Tàu, sơn Tây hoặc bột màu pha a dao…

Tranh kiếng ở đây rất được chú ý đến nội dung và hình thức chữ viết nên nhiều bộ tranh Lái thiêu đẹp và có ý nghĩa, tranh kiếng được treo trong nhà tạo nên nét đẹp mỹ thuật làm tôn lên vẻ đẹp sang trọng của ngôi nhà lúc bấy giờ. So với tranh kiếng của Chợ Mới (An Giang) và tranh kiếng Chợ Lớn (Sài Gòn), tranh kiếng Lái Thiêu đẹp hơn, tinh tế hơn. Đặc biệt người thợ Lái Thiêu chú ý nhiều đến thể loại tranh thờ tổ tiên, phù hợp với truyền thống thờ phụng và thị hiếu của người Việt Nam. Còn người thợ tranh kiếng Chợ Lớn thì họ thường chú trọng đến tranh Thánh Thần, tranh bài vị, cùng các hoành phi, liễn đối, tranh dùng để chúc mừng, xưng tụng thường phù hợp với tâm lý  của người Hoa.

Riêng tranh kiếng Chợ Mới (An Giang) ra đời muộn hơn, sản phẩm không được đẹp như tranh kiếng của Lái Thiêu, Chợ Lớn, nhưng nó lại có nhiều mẫu mã phong phú, đa dạng, giá thành lại rẻ hơn. Hiện nay, sản phẩm tranh kiếng Chợ Mới vẫn còn bán trên thị trường Miền Tây Nam Bộ, tuy không nhiều như xưa nhưng nó vẫn còn tồn tại.

Tranh kiếng có rất nhiều thể loại và khá phong phú như: tranh thờ Phật, Trời, Tổ Tiên ông bà, Cửu Huyền Thất Tổ…Riêng những tranh dùng để treo ở cửa buồng (Trang trí theo đặc điểm kiến trúc nhà ở Nam bộ), tranh phong cảnh, nhân vật, vật linh…Loại tranh thờ phật Trời, Tổ tiên thường treo ở bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà, thường thể hiện các đề tài như: Bức tranh hoành phi, liễn đối, chung quanh trang trí viền bằng cây trúc, cây tùng minh họa, tranh viết chữ “Phước Lộc Thọ” trên nền đỏ, xung quanh vẽ khung hình dây lá hoặc hồi văn đôi khi có thêm con bướm hay con dơi ngậm trụ chỉ. Tất cả các chữ trên tranh đều được viết bằng chữ Hán. Ngoài ra loại tranh này còn vẽ một bụi mai già bên cạnh có cây trúc, bụi mai, bụi lan, cúc…tượng trưng cho vẻ đẹp cao khiết, thanh tao. Đề tài khác hắp dẫn hơn đối với những người bình dân như tranh vẽ phong cảnh, vẽ núi non, bầu trời…Tranh cao cấp thì có một tấm liễn vẽ một cành cây có 7 bông, xung quanh có lá, có nụ, phía trên có ghi chữ Hán, loại tranh này rất đắc tiền nên chỉ có những gia đình khá giả, giàu có mới có khả năng mua sắm loại tranh này về để trang trí.

Loại tranh thờ Phật Trời Thánh thần: có khổ nhỏ, dùng để thờ Phật, Thánh, Thần, Thổ Địa…gồm có 2 loại: Tranh vẽ các vị Phật Adi Đà, Quan Âm Bồ Tát, đức ông Quan Thánh Đế Quân, Mẹ Sanh – Mẹ Độ…các bài vị (loại này chỉ có chữ, xung quanh trang trí hoa văn) thường treo trong các chùa, đình miếu…

Loại tranh thờ ông bà tổ tiên: thường được treo ở bàn thờ tổ tiên, thờ phật…loại tranh này thường được thể hiện các đề tài như: các bức hoành phi, câu đối có chữ “Trần Phủ Đường” (ghi họ tên gia chủ), “Thiện tối lạc” (ca tụng tổ tiên), xung quanh trang trí dây lá, hồi văn hoặc trang trí viền cây trúc cây tùng minh họa. Tranh viết chữ “Phước” “Lộc” “Thọ” trên nền đỏ, xung quanh trang trí dây lá hoặc hồi văn, thỉnh thoảng có thêm con bướm hoặc con dơi ngậm trụ chỉ. Tất cả các chữ vẽ trên tranh đều được viết bằng chữ Hán.

Loại tranh treo cửa buồng: Đây là loại tranh sáng tác để trang trí theo kiến trúc đặc biệt của ngôi nhà ở Nam bộ. Trong gian nhà ngoài (phòng khách), bàn thờ được đặt chính diện với cửa chính, phía trước bàn thờ đặt một cái tủ lớn, một bộ bàn ghế tiếp khách, hai bên bàn thờ có hai lối đi vào trong (buồng) gọi là cửa buồng, thường treo tấm rèm hay tấm màn cửa, có hoa văn đẹp để che cửa, phía trên cửa treo tranh trang trí. Tranh kiếng cửa buồng thường có kích thước cỡ 0,9m X 0,6m. Tranh cửa buồng vẽ theo đề tài “Loan phượng hòa minh” (tượng trưng cho sự giàu có sang trọng).

Loại tranh tứ bình, phong cảnh, nhân vật và vật linh: Một tranh tứ bình gồm 4 tấm treo trên vách để trang trí. Ngoài cảnh trời mây, sông núi thường vẽ các đề tài phổ biến như “Mai Lan Liên (Sen) cúc” tượng trưng cho 4 mùa trong năm, “Bát Tiên quá hải” (Tám Tiên vượt biển), “Tứ hùng”(vẽ 4 con mãnh thú: Cọp, Báo, Sư tử…Ngoài ra cũng có tranh đề tài 4 bó hoa (loại hoa phương Tây) hoặc những đàn hạc lội ven sông…(loại tranh này mô phỏng như tranh ở phương tây) xuất hiện muộn hơn, thích hợp cho các nhà ở nơi thành thị, .

Tranh kiếng thường được sản xuất theo kiểu gia đình, các gia đình thường tập trung thành xóm nghề. Sản phẩm thường làm theo đơn đặt hàng hoặc tự bán cho lái buôn. Trong một xưởng vẽ tranh thường có năm bảy thợ, trong đó thường có một người giỏi tay nghề chỉ huy và am tường về kỹ thuật và phân công cho thợ chuyên môn, thợ phụ để hoàn chỉnh một bức tranh.

Tranh kiếng Lái Thiêu không chỉ được tiêu thụ rộng rãi ở khắp miền Nam, mà còn mở rộng ra các vùng lân cận như miền Trung và nước bạn Campuchia.

Trong khoảng thời gian khá dài tranh kiếng nói chung, đặc biệt là tranh kiếng Lái Thiêu của Bình Dương trước đây đã được phổ biến rộng rãi ở không chỉ trong các gia đình khá giả, quý tộc mà đến cả số cư dân nghèo ở nông thôn. Đây là nghề thủ công truyền thống đã giữ một vai trò khá quan trọng trong việc giải quyết đời sống kinh tế dân sinh của một bộ phận làm nghề và liên quan đến nghề vẽ tranh trên kiếng, vừa đáp ứng được nhu cầu văn hóa về thẩm mỹ trang trí nhà cửa cũng như nơi bàn thờ cúng tổ tiên của cư dân địa phương và các vùng lân cận. Tiếc thay hiện nay nghề thủ công truyền thống nói trên không còn phù hợp với thời đại  nữa. Nghệ thuật vẽ tranh trên kiếng chỉ còn lưu lại dấu vết trong các Đình Chùa, nhà cổ, hoặc ở một số xe bánh mì, xe hủ tiếu cổ của người Hoa. Rất nhiều người thật là núi tiếc và thậm chí họ còn mong ước sự phục hồi của nghề vẽ tranh kiếng cũng như vẻ đẹp của một bức tranh kiếng được trang trí làm tô điểm thêm cho ngôi nhà.Việt.

Có thể nói nhu cầu về văn hóa là rất cần thiết, nhưng cách thể hiện và đáp ứng ấy thường thay đổi theo thực tiễn của cuộc sống và thị hiếu thẩm mỹ của xã hội, thực tế với từng thời điểm của cuộc sống xã hội mà phù hợp. tranh kiếng cũng không nằm ngoại lệ những trường hợp như thế. Nay nghề thủ công truyền thống này không còn tồn tại nữa mà nó đã đi dần vào trong sự mai một lãng quên. Lý do thì có nhiều đấy nhưng nguyên nhân chủ yếu có lẽ là do chiến tranh, nhất là sau 1945 phần lớn là do nhà cửa ở vùng nông thôn đều bị hủy hoại. Mặt khác, thị hiếu về tranh thờ, tranh trang trí của nhân dân có nhiều thay đổi, trong khi các loại tranh vẽ, ảnh chụp truyền thần, chân dung phong cảnh ngày càng tiến bộ hơn, mang lại cho người tiêu dùng nhiều lựa chọn hơn. Tranh kiếng có vẻ như bị lạc hậu với thời đại nên không được người tiêu dùng ưa chuộng và sử dụng. thiết nghĩ để phục hồi lại nghề thủ công truyền thống này, nên chăng cần có sự cải tiến và đổi mới gì đó thì chắc sẽ có cơ hội để đi vào đời sống văn hóa cũng như thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng mà thôi./.

 

 

                                                                                                                                 V.T.S

                                                                                                          (Sở NN & PTNT tỉnh Bình Dương)

 


                                                                                                                                   

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

1/ Địa chí Sông Bé . Nxb tổng hợp Sông Bé – 1990.

2/ Tạp san Khoa học Lịch sử Bình Dương số 02 – 2006.

3/ Làng nghề Bình Dương. Nxb trẻ Tp. Hồ Chí Minh. Hội Văn học nghệ thuật Bình Dương– 2008.

 

http://www.sugia.vn

TIẾP CẬN ĐỊA DANH THỦ DẦU MỘT: Nhìn từ góc độ lịch sử, từ nguyên… (Quá trình hình thành và thời điểm xuất hiện)


Minh Châu
 Thủ Dầu Một (TDM) là tên cũ của tỉnh Bình Dương (BD) trước năm 1956, tồn tại 87 năm (1869-1956) và đã gắn liền với lịch sử đấu tranh, xây dựng và phát triển của vùng đất, nay là địa bàn tỉnh BD. Địa danh này đã được nhiều tác giả, sách báo tìm hiểu, giải thích về xuất xứ, lai lịch, từ nguyên… nhưng đến nay cũng chưa có được sự thống nhất và sức thuyết phục cao. Chúng tôi cho rằng việc tìm hiểu nói trên cần nên tiếp tục, nhất là việc xác định chính xác thời điểm xuất hiện của địa danh này vẫn gần như còn bỏ trống…

Gần đây, nhân được đọc mấy bài báo, bài nghiên cứu (của một nhà văn và của một thạc sĩ sử học) đề cập đến vấn đề địa danh TDM… chúng tôi thấy có đôi điều muốn được trao đổi thêm với các tác giả bài viết nói trên.

Về bài viết thứ nhất, cách đây chưa lâu, nhà văn Nguyễn Yên Mô, một thành viên tham dự trại sáng tác văn học năm 2006 tại BD (do Tạp chí Văn nghệ QĐND và Hội VHNT Bình Dương tổ chức) có sáng tác bút ký “Bình Dương, hương đất tình người”(1). Bút ký được chọn đăng và được lấy tên đặt thành tiêu đề chung cho tuyển tập thơ văn của trại sáng tác. Điều đáng nói là trong bút ký này tác giả đã thuật lại việc đi tìm hiểu về lai lịch tên gọi TDM. Nhà văn đã viết: “Người ta bảo “thủ” tức là đứng đầu, “một” tức là duy nhất, “dầu” tức là cây dầu (…). Thế còn “Thủ Đức”, “Thủ Thừa”, “Thủ Thiêm”? Đó là ông quan đứng đầu “trấn”(?). Rồi ông nêu lên một câu hỏi mà thực chất là một phát hiện của riêng mình để giải thích tên gọi TDM: “Ngày xưa TDM cũng là một trấn(?). Có phải quan trấn thủ đất này tên gọi là “Một”(?) sđđ trang 187.

Qua đoạn viết trên cho thấy cái tên nôm na TDM đã gợi nhiều sự chú ý thu hút đối với những người muốn tìm hiểu nó và sự tìm hiểu quả là không đơn giản chút nào! Bằng chứng nhà văn đã gặp không ít lúng túng và cả sự mơ hồ khi hiểu về địa danh này. Thực ra, TDM chưa bao giờ là một đơn vị hành chính cấp “trấn”, cũng không có bất cứ tài liệu, tác giả nào nhắc đến chuyện đất TDM có một ông Trấn thủ tên là Một như tác giả đã nghĩ.

Tuy nay TDM không còn là tên riêng của một tỉnh, nhưng từ lâu TDM vẫn luôn là lỵ sở, thủ phủ hành chính của vùng đất này và hiện nay còn có một thị xã (thành phố) sầm uất, xinh đẹp vẫn mang tên TDM. Mới đây, ngôi trường đại học chính quy lớn nhất của địa phương cũng mang tên Đại học Thủ Dầu Một. Chắc chắn mai đây, cùng với BD, TDM sẽ là những thành phố công nghiệp – dịch vụ năng động quan trọng hàng đầu của Bình Dương và của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cũng như của cả nước.

Từ những điều trình bày ở trên, cho thấy việc tiếp tục tìm hiểu, thảo luận thêm một cách thấu đáo về tên gọi TDM, địa danh luôn gắn liền với lịch sử của xứ này, là điều cần thiết nên làm.

Tên TDM đã được hình thành ra sao về mặt lai lịch, từ nguyên?

Trước hết, xin được điểm lại một số giải thích đáng chú ý hơn cả của các nhà nghiên cứu có uy tín chung quanh sự hình thành cụm từ địa danh TDM. Đồng thời thử nêu lên một cách lý giải, tiếp cận nhìn từ góc độ lịch sử, từ nguyên cũng như về thời điểm xuất hiện của địa danh này.

Trước đây cũng có những tác giả cho rằng tên TDM có nguồn gốc từ tiếng Campuchia. Chẳng hạn, như nhà soạn từ điển Lê Văn Đức, nhà ngữ học Lê Ngọc Trụ, ở phần địa danh (trang 260) trong “Việt Nam từ điển” (Sài gòn TB 1970) cho rằng tên TDM do âm Việt đọc tiếng Cao Miên (sic) “Thun Doán Bôth” (có nghĩa là gò có đỉnh cao nhất) mà ra (lỵ sở TDM ở trên ngọn đồi ven sông Sài gòn)(2).

Nhưng phần đông tác giả khác (kể cả người viết bài này) đều nghĩ TDM là một cụm từ tiếng Việt được hình thành từ sự kết hợp giữa hai thành tố: “Thủ” (từ Hán – Việt có nghĩa là “giữ”vì nơi đây có đồn binh để canh giữ, kiểm soát); “Dầu Một” là tên đất, được cấu tạo theo cách: “Tên một loài thảo mộc + từ chỉ số lượng”. Ví dụ như các địa danh “Quéo Ba” (ở Long An), “Xoài Đôi” (ở Phú Nhuận, TP.HCM). Theo truyền khẩu vì đồn binh canh giữ tại huyện lỵ Bình An nằm trên ngọn đồi có cây dầu lớn quen gọi là “cây dầu một” nên tên gọi THỦ DẦU MỘT ra đời.

Học giả Vương Hồng Sển trong từ điển “Tiếng nói miền Nam” TP.HCM xb 1997, trang 645) cho rằng người Campuchia gọi tên TDM là “Chhocutal MucyDoem” (Chhocutal: gỗ dầu; Mucy: một; Doem: cây) có nghĩa là “cây dầu một” theo đúng cách hiểu ở trên(3). Người Hoa cũng dùng tên “Thổ Long Mộc” (cây rồng đất: có thể hiểu đây là cây dầu rái hay dầu lông có chứa chất nhựa rất dễ cháy nổ gọi là “mãnh hỏa du”, để chỉ vùng đất TDM. Trong hồi ký viết về vùng đất TDM (xuất bản tại Paris 1863), đại úy L.C Grammont (viên sĩ quan Pháp đánh chiếm và quân quản TDM trong thời gian 1961-1962), cũng hiểu “thủ” là “giữ”; “dầu một” là một loại cây nên đã dùng cụm từ Pháp để chuyển nghĩa tên TDM “garde – un arbre” (garde: giữ un arbre: một cây).

Riêng chữ “thủ” còn có người hiểu theo nghĩa là “đầu”, đứng đầu như trong các từ kép “thủ sở”, “thủ phủ” là nơi đặt trụ sở một đơn vị hành chính.  Trong “Kỷ yếu TDM – Bình Dương 300 năm hình thành…” (XB 1998), nhà nghiên cứu địa bạ Nguyễn Đình Đầu giải thích địa danh TDM: “Trong địa phận làng này xưa có thủ sở gần cây dầu lớn nhất…” (trang 49).

Trên đây là một số giải thích về địa danh TDM. Tuy việc làm này cần nên tiếp tục, nhưng đến nay chúng ta cũng có thể đi đến một cách lý giải, tiếp cận có nhiều cơ sở có thể thuyết phục và chấp nhận được (phần lý giải này đã được trình bày trong cuốn sách “Lối xưa đất Thủ” của chúng tôi xuất bản 2009)(4). Chẳng hạn, tên gọi “dầu một” hay là vùng có nhiều cây dầu lông, dầu rái (miệt dầu). Việc dùng tên thảo mộc (cây đặc sản hay đặc biệt) để tạo thành một địa danh vẫn là cách thường thấy tại nước ta, nhất là ở miền Nam. Thí dụ: các địa danh “Trảng Bàng” (khoảng đất rộng có nhiều cây bàng), Gò Vấp (gò có nhiều cây vấp, cây lim). Ngay ở thị xã TDM có tên xóm Gò Cầy (gò có nhiều cây cầy, cây Kơ-nia (?)). Còn tên đất liên quan đến cây dầu rái (dầu lông) thì có nhiều, khá phổ biến như tên huyện Gò Dầu (ở Tây Ninh), xóm Suối Dầu (ở Nha Trang). Riêng ở TDM – Bình Dương trước đây có rất nhiều cây dầu, ngày nay loại cây này vẫn còn khá nhiều trên khu đồi UBND Tỉnh ủy Bình Dương. Chắc rằng tên Dầu Một và cả tên TDM bắt nguồn từ tên loài cây này mà ra. Từ “Thủ” (là do có đồn binh để trấn thủ hay đó là nơi “thủ sở”) ghép với từ “dầu một” thành tên TDM đều có thể hợp lý, vì từ xưa đến nay nơi đây luôn là lỵ sở của vùng đất TDM – BD trước năm 1956 của tỉnh Sông Bé sau ngày giải phóng cũng như tỉnh BD hiện nay.

  • Địa danh TDM có từ bao giờ?

Đây là câu hỏi không dễ có được câu trả lời chính xác, thỏa đáng. Vì thế, đến nay câu trả lời đó vẫn còn bỏ trống, tất nhiên không được nhầm lẫn các mốc thời điểm cụ thể rõ ràng trong các quyết định thành lập các địa danh đơn vị hành chính cấp hạt, tiểu khu, tỉnh TDM với tên gọi dân gian TDM được hình thành từ những đặc điểm riêng, tạo nên một địa danh khó có tên thứ hai trùng lắp.

 

Tên gọi TDM có lẽ được hình thành từ một quá trình lắp ghép các tên gọi dân gian quen thuộc và chắc chắn có trước khi người Pháp đánh chiếm vùng đất Biên Hòa – Bình An. 

Đến năm 1869, lần đầu tiên tên TDM được đặt cho một đơn vị hành chính cấp hạt: Hạt (tham biện) TDM (1869-1876), tiếp theo là tiểu khu (hành chính) TDM (1876-1889) rồi tỉnh TDM (1889-1956).

Trả lời câu hỏi tên TDM có từ bao giờ, TS. Lê Trung Hoa, một tác giả chuyên khảo về địa danh cũng chỉ xác định được rằng tên TDM phải có trước năm 1871(5). Có được sự xác định này chắc là TS. Lê Trung Hoa đã dựa vào một số cứ liệu trong một cuốn sách viết về lịch sử đường phố Thi Sách ở quận I, TP.HCM, có liên quan đến địa danh TDM như sau: “…Đường nay thuộc loại xưa nhất Sài Gòn (…), từ ngày 2-6-1871 đến 1877 đường đặt  tên là đường TDM (…). Năm 1955 đổi thành đường Thi Sách”(6). Nhưng như trên đã dẫn, ngay từ năm 1869 (trước thời điểm TS. Hoa đưa ra đến 2 năm) tên TDM đã được đặt cho một đơn vị cấp hạt (hạt hành chính TDM 1869-1876).

Mới đây trên ấn phẩm “Thông tin khoa học và đào tạo số 01-2010 của trường Đại học Thủ Dầu Một, ở bài viết: “TDM tên gọi và lịch sử”, tác giả, ThS. Sử học Vương Quốc Khanh có đưa ra một số sử liệu và nhận định về thời điểm xuất hiện địa danh TDM như sau: “Theo truyền thuyết tên TDM có vào thế kỷ XVI, khi nhà Nguyễn lập chính quyền ở đây”(?) (trang 28). Cách mấy dòng sau đó, tác giả đưa ra mấy cứ liệu và khẳng định”. Thật ra, tên TDM ra đời ngày 5-11-1876 (…) là một đơnvị hành chánh tiểu khu (…). Đến ngày 20-12-1899, Toàn quyền Đông Dương đổi tiểu khu ra thành tỉnh” (trang 29).

Qua mấy nhận định trên đây, chúng tôi có đôi điều muốn được trao đổi thêm với tác giả bài báo. Và nhân đây xin trình bày cách lý giải có thể xác định được thời điểm xuất hiện địa danh TDM.

Theo tác giả bài báo là khó xác định thời điểm trên vì “theo truyền thuyết tên TDM có vào thế kỷ XVI”, nghĩa là vào một thời điểm nào đó trong khoảng thời gian từ 1501 đến 1600 (điều này sẽ trao đổi sau) và chỉ có thể biết đến TDM như là một đơn vị hành chính cấp tiểu khu TDM vào 1876. Nhưng nếu phải nói về đơn vị hành chính TDM đầu tiên lẽ ra phải nhắc đến hạt (tham biện) TDM xuất hiện từ  năm 1869 trước năm bài báo trên đã dẫn (1876) đến 7 năm. Đáng nói hơn là thời điểm TDM trở thành đơn vị hành chính cấp tỉnh (ngang hàng với tỉnh Biên Hòa mà trước đó chỉ là một huyện của tỉnh này) vào năm 1889 chứ không phải như tác giả đã dẫn là năm 1899 (nếu đây không phải là lỗi in ấn). Được biết tất cả tài liệu viết về TDM đều ghi đó là năm 1889. Cũng theo bài viết “tên TDM có vào thế kỷ XVI…”, chúng tôi cho rằng đó là quãng thời gian quá sớm nếu so với quá trình mở đất và định cư của cư dân miền ngoài trên đất Đồng Nai – Gia Định lúc bấy giờ. Cũng như việc xác định thời điểm “Nhà Nguyễn lập chính quyền ở đây” vào thế kỷ XVI là hoàn toàn không chính xác. Bởi lẽ đó là sự kiện lịch sử quan trọng đã được ghi chép rõ ràng: “Năm Mậu Dần (1698)… Chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược Cao Miên đem xứ Đồng Nai đặt huyện Phước Long và đặt dinh Trấn Biên”. (ĐN NTC)(7).  Đất TDM sau này lúc bấy giờ nằm trên địa bàn tổng Bình An thuộc huyện Phước Long, dinh Trấn Biên nói trên.

Như vậy Nhà Nguyễn lập chính quyền ở đây vào cuối thế kỷ XVII, chứ không phải vào thế kỷ XVI như bài báo đã xác định.

Có thể xác định được thời điểm xuất hiện địa danh TDM

Chính cột mốc năm 1689, nhất là năm 1808 cho ta cơ sở để có thể xác định được thời điểm hình thành tên gọi TDM. Cụm từ Thủ – Dầu Một chỉ có thể hình thành khi hội đủ điều kiện có thêm thành tố “thủ”, nghĩa là khi tại đây đã xây dựng đồn bình để trấn giữ (thủ sở) hoặc đã trở thành lỵ sở (thủ phủ) của vùng đất này. Được biết “Dầu Một” là tên gọi dân gian của địa danh Phú Cường như sách ĐNNTC đã ghi: “Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường huyện Bình An, tục danh chợ Dầu Một ở bên huyện lỵ” (sđd tr.35). Còn đồn bình Bình An rất có thể được xây dựng từ sau năm 1808, khi tổng Bình An được nâng thành huyện. Theo sách ĐNNTC ở phần “quan Tấn (đồn binh, Thủ sở để canh giữ…) cho biết từ đầu đời Minh Mạng tại phủ Phước Long có đặt các “thủ sở” (còn gọi là bảo, hay pháo đài) để giữ nơi quan yếu” (sđd trg 31) như bảo Phước Thắng (huyện Phước An – nay là Vũng Tàu) lập 1838; Pháo đài Tả Định (huyện Nghĩa An – nay là Thủ Đức) lập 1834; Bảo đất Tam Kỳ (huyện Bình An, sau là TDM) lập 1848. Riêng ở huyện Bình An có thêm đồn Thị Tính (1823) “để trấn giữ man dâu” và đồn Chơn Thành (1840)… Như vậy các đồn binh, thủ sở đều thiết lập sau năm 1808.

Như vậy, cụm từ địa danh TDM xuất hiện sớm nhất không thể trước năm 1808, tức là thời điềm tổng Bình An được nâng thành huyện. Quá trình hình thành địa danh TDM có thể diễn tiến như sau. Lúc đầu tên Dầu Một (tục danh của Phú Cường) được nhóm lưu dân người Việt dùng để gọi một ngôi chợ (chợ Phú Cường) hay một xóm thôn tại đây, khi đồn binh được lập thì gọi là chợ Thủ rồi sau đó ghép thành tên chợ TDM. Đến 1869 người Pháp thấy địa danh này nói lên được đặc điểm của địa phương, lại rất quen thuộc với cư dân nên họ dùng đặt tên cho đơn vị hành chính đầu tiên là hạt TDM, rồi sau đó là tỉnh TDM vào năm 1889.

Địa danh TDM do lưu dân người Việt đặt ra, muốn biết khoảng thời gian của địa danh này xuất hiện vào lúc nào? (thế kỷ XVI như tác giả bài báo khẳng định) chúng ta hãy điểm một số cột mốc chính cuộc nam tiến của dân tộc.

Vào thời nhà Lê, đến cuối thế kỷ XVI, lãnh thổ nước Đại Việt mới đến đèo Cù Mông (ranh giới giữa tỉnh Phú Yên và Bình Định). Đến đầu TK XVII “năm 1611 (…) Nguyễn Hoàng phát quân đánh chiếm đất từ đèo Cù Mông đến Đại Lãnh (…) lập thành phủ Phú Yên (Đào Duy Anh, lãnh thổ nước Đại Việt và sự hình thành dân tộc Việt)(8). Non thế kỷ sau, chúa Nguyễn Phúc Chu tiếp tục mở rộng lảnh thổ: “Năm 1697 lấy đất Phan Rang và Phan Rí, đặt dinh Bình Thuận” (sđd tr.461). Đây chính là vùng đất cực nam miền Trung nước ta hiện nay.

Về thời điểm người Việt định cư lập thành xóm, thôn đầu tiên ở vùng đất Đồng Nai – Gia Định vẫn chưa được các nhà nghiên cứu thống nhất vì nói chung rất khó xác định. Trước 1698, hầu hết di dân người Việt đến đây sống rải rác, xen kẽ với cư dân bản địa. Từ khi Nguyễn Hữu Cảnh lập các đơn vị hành chính đầu tiên (1698) mới có những nhóm di dân đông đúc từ vùng Ngũ Quảng được khuyến khích vào đây khai khẩn vùng đất mới này. Sách “Lịch sử khai phá vùng đất Nam bộ (XB 1987, tr.38, do Huỳnh Lứa chủ biên) cho rằng chủ yếu “cuộc di dân của người Việt diễn ra trong TK XVII(9). Lê Bá Thảo trong cuốn sách “Địa lý vùng đồng bằng sông Cửu Long” cho biết: “Vùng quanh Sài Gòn chỉ được khai phá và có dân dịnh cư vào năm 1672”(10). Như thế “vùng quanh Sài Gòn” trong đó có vùng Bình An – TDM đến nửa sau thế kỷ XVII mới được khai phá và có dân định cư, làm sao địa danh tiếng Việt như TDM (kể cả Dầu Một) có thể xuất hiện vào thế kỷ XVI, vì đến hàng trăm năm sau (1600-1808) các đơn vị hành chánh cấp huyện cùng với các đồn bình thủ sở mới thiết lập.

Tóm lại, tên gọi Thủ Dầu Một dã được nhiều người tìm hiểu, có nhiều cách giải thích và vẫn chưa có câu giải đáp hoàn toàn thỏa đáng, được mọi người chấp nhận. Vì thế việc tìm hiểu này cần nên tiếp tục. Từ suy nghĩ đó và nhân có mấy bài báo, nhận định đã nêu, bài viết ngắn này muốn được trao đổi thêm và đưa ra một số cách tiếp cận như đã trình bày ở trên. Hy vọng rằng cách tiếp cận, lý giải này góp thêm một số cơ sở có sức thuyết phục nhiều hơn, đặc biệt là phần thử xác định thời gian, thời điểm xuất hiện các địa danh Dầu Một, TDM mà lâu nay có thể nói gần như bỏ trống. Qua đây, người viết cũng mong nhận được trao đổi, phản hồi từ những người cùng quan tâm vấn đề được nêu trên, cũng như những người cùng yêu mến quê hương TDM – BD.

Chú thích:

1. Nhiều tác giả, Bình Dương, hương đất tình người, NXB Trẻ 2006 (trang 187).

2. Lê Văn Đức, Lê Ngọc Trụ “Việt Nam từ điển, Sài Gòn TB 1970 (trang 260).

3. Vương Hồng Sển, Từ điển Tiếng nói miền Nam, XB T.P.HCM 1997 (trang 645).

4. Nguyễn Hiếu Học, Lối xưa đất Thủ, NXB Trẻ 2009 (trang 11-14).

5. TC KTNN số 283/1998 mục Ai? Sao?

6. Nguyễn Thắng, Nguyễn Đình Tư, Đường phố TP.HCM, XB 2001 (trang 110).

7. ĐNNTC Lục tỉnh Nam kỳ, dịch giả Tu Trai Nguyễn Tạo (Tập Thượng TB1 1973, trang 2).

8. Đào Duy Anh, tác phẩm được tặng thưởng giải Hồ Chí Minh, XBKHXH, trang 448.

9+10. Nhiều tác giả, Nam bộ đất và người, tập VI, NXB TP.HCM, trang 84.

 

http://www.sugia.vn