Về Bình Dương thăm nhà cổ


Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ. Cấu trúc địa chất cơ bản là vùng bán sơn địa nhưng có nhiều dạng địa hình tự nhiên như đồi gò, đồng bằng, sông ngòi, rừng nguyên sinh… Nơi đây là vùng đất lý tưởng vì sự đa dạng về thổ nhưỡng và môi trường sinh thái: vừa giàu có về rừng cây gỗ quý nổi tiếng một thời, vừa có chất đất thuận lợi để trồng cây công nghiệp và có cả đồng bằng phù sa màu mỡ.

Trên vùng đất trù phú được thiên nhiên ưu đãi nên nhìn chung dân cư Bình Dương có đời sống ổn định, nền nếp, phong lưu, văn hóa phát triển. Theo Đại Nam Nhất Thống chí  thời Tự Đức, Bình Dương xưa thuộc trấn Phiên An, giữa hai huyện Bình Dương (Tân Bình) và Phước Long, dân cư trù mật, nhà ngói, phố chợ liền lạc, là xứ phồn hoa đô hội của đất Gia Định, cả nước không đâu sánh bằng. Ngày nay dấu ấn xứ phồn hoa đô hội  ở Bình Dương vẫn còn được lưu giữ qua nhiều ngôi nhà cổ, một loại hình di tích văn hóa độc đáo của vùng đất này.

Toàn cảnh Kiến trúc nhà cổ của ông Nguyễn Tri Quang – (xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một)

Làng xã ở Bình Dương thường nằm yên bình, tĩnh lặng giữa thiên nhiên đầy cây xanh của vườn cây trái hay vườn cây cảnh, trên vùng đồi gò đã được khai phá thành vườn tược hay trên những cù lao nằm giữa dòng Đồng Nai. Có lẽ phong cảnh nhà vườn với nếp sống phong lưu thể hiện rõ nhất nơi những căn nhà bề thế, cổ kính trên những cù lao trù phú như cù lao Mỹ Hoà, Mỹ Quới (tên cũ của Bạch Đằng, Tân Uyên) cù lao Rùa, cù lao Thạnh Hội… Cù lao ở đây đã được con người chọn để cư trú từ lâu đời, nơi có nhiều dòng họ giàu có “tam đại đồng đường” trong những ngôi nhà cổ đồ sộ giữa vườn cây trái bạt ngàn, không gian tĩnh mịch và môi trường sinh thái trong lành.

Tại Bình Dương hầu như có đủ các kiểu nhà thường thấy ở Nam Bộ.

Nhà chữ đinh: là loại nhà phổ biến nhất tại Bình Dương. Kiểu nhà này có hai căn, căn nhà trên nằm ngang và căn dưới nằm xuôi, đòn dông của hai căn này thẳng góc với nhau, giống như chữ đinh (丁¡)  trong Hán tự. Đặc điểm của nhà chữ đinh là cửa cái của nhà trên trổ ở chiều dài của ngôi nhà, còn cửa cái của nhà dưới trổ ở chiều rộng (tức ở  đầu hồi nhà), do đó cửa cái hai căn nhà trên và nhà dưới đều mở ra cùng một hướng, có chung mái hiên trước, tạo sự đồng nhất cho toàn bộ ngôi nhà. Kiến trúc nhà chữ đinh thể hiện ý thức về trật tự phong kiến rất rõ. Nhà trên quan trọng vì là nơi thờ cúng tổ tiên nên thường bề thế, cao hơn nhà dưới, đây cũng là nơi sinh hoạt chủ yếu của nam giới. Nhà dưới là nơi ở chung của gia đình, nơi sinh hoạt thường xuyên của phụ nữ. Dù nhà bằng vật liệu bán kiên cố hay kiên cố, phần lớn nhà chữ đinh tại Bình Dương đều thuộc dạng nhà chữ đinh có cầu nối  đặc trưng của miền Trung, tức là nhà có phần trung gian nối vách và mái giữa nhà trên và nhà dưới thành một tổng thể chứ không tách rời nhau.

Để cất được một căn nhà chữ đinh, trước tiên phải có diện tích đất khá rộng, sau nữa chi phí cho vật liệu xây dựng khá cao, vì vậy chỉ những gia đình khá giả trở lên mới có khả năng đáp ứng. Có những ngôi nhà chữ đinh diện tích nhà trên đến 250m2 (ngang 10m dài 25m), được xây dựng bề thế với những cột gỗ lớn, các bộ phận trang trí kiến trúc được chạm khắc tinh xảo. Đi khắp Bình Dương, nhất là những nơi có cư dân lâu đời như thị xã Thủ Dầu Một, huyện Tân Uyên, Dĩ An, Thuận An… đâu đâu cũng có những ngôi nhà chữ đinh cổ xưa với dạng nhà vườn giống nhau. Phổ biến là nhà chữ đinh có kích thước trung bình, mái ngói cổ rêu phong, hiền hòa giữa những vườn cây xanh, tạo cho cảnh quan cư trú một vẻ đẹp yên bình và sung túc.

Toàn cảnh di tích kiến trúc nghệ thuật nhà cổ của ông Trần Văn Hổ

Nhà chữ Nhị  cũng khá phổ biến tại Bình Dương. Loại nhà này có hai căn: nhà trên ở phía trước và nhà dưới liền ngay phía sau nhà trên, do đó hai cây đòn dông của nhà trên và nhà dưới nằm song song với nhau như chữ nhị (二þ). Bố cục mỗi căn nhà thường là ba gian, tuy nhiên sau này người ta cất nhà dưới dài thêm một gian so với nhà trên để lấy ánh sáng. Nhà dưới là không gian cư trú, còn nhà trên chủ yếu dành làm nơi thờ tự. Nhà chữ nhị cũng thuộc loại nhà có diện tích đất tương đối lớn.

Nhà chữ Đinh và nhà chữ Nhị là những ngôi nhà có tuổi khá xưa, phần lớn được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, chủ nhân thường là người giàu có. Tuy đã trải qua trùng tu nhiều lần nhưng nhờ xây dựng bằng các loại gỗ quý, thợ dựng khéo léo và kỹ lưỡng, con cháu  có sự lưu tâm giữ gìn nên đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn.

Nhà ba gian hoặc ba gian hai chái là loại nhà phổ biến trong dân chúng. Không gian của căn nhà vừa để ở, vừa có chức năng thờ tự và tiếp khách. Nhà ba gian phân bố ở vùng nông thôn và cả thành phố. Để tận dụng diện tích làm nhà ở, theo độ che rộng của mái nhà, người ta xây dựng thêm một hoặc hai chái hai bên nhà ba gian.

– Nhà năm gian hai chái  tại Bình Dương được tầng lớp điền chủ, phú gia, trí thức giàu có ưa chuộng. Kiểu nhà này chiếm diện tích đất rộng, kỹ thuật xây dựng công phu, vật liệu tốn kém vì là sự kết hợp giữa kiểu nhà gỗ truyền thống với phong cách kiến trúc và vật liệu xây dựng của phương Tây, thường được xây dựng vào nửa đầu thế kỷ XX: nền nhà cao có bậc tam cấp, tường xây gạch dày, tô hồ quét vôi. Cột nhà có khi là cột bê-tông nhưng vì kèo gỗ và lợp ngói, có trần nhà.

Nhà cổ ở Bình Dương cũng thể hiện tính chất chung của nhà cổ Nam bộ, đó là có kết cấu nhà cột giữa (nhà rôi) và nhà xuyên trính (nhà rường) theo hệ thống khung chịu lực truyền thống như ở miền Bắc, miền Trung. Về sau có thêm dạng nhà đúc kết cấu bê tông chịu lực theo kiểu phương Tây.

Nghệ thuật chạm khắc trên gỗ nhà cổ của ông Trần Công Vàng

Nhà cột giữa thuộc kết cấu cổ truyền, cột cái (cột giữa) kết gắn trực tiếp vào đòn dông và giao điểm của hai cây kèo, tạo thành một bộ vì nhà giản đơn, thích hợp với loại hình nhà thô sơ, bán kiên cố. Hạn chế của nhà cột giữa là không gian nhà chật hẹp do sự hiện diện của hàng cột giữa.

Nhà xuyên trính  còn gọi là nhà rường phổ biến hơn nhà cột giữa. Bộ khung sườn nhà này không có hàng cột cái ở giữa nên không gian nội thất khá rộng rãi. Một số nhà rường biến thể là nhà bát dần được xây cất rất qui mô. Mái ngói của dạng nhà bát dần kéo sà thấp xuống (giống như chữ Bát…..trong Hán tự). Bên ngoài nhìn vào kiểu “mái xụ” này thấy nhà có vẻ thấp, nhưng bước vào bên trong sẽ thấy hệ thống kèo cột và trần nhà rất cao làm cho nhà thoáng mát vì kiểu mái đó có tác dụng che mưa và ánh nắng chói chang vùng nhiệt đới, đồng thời hạn chế được tầm nhìn từ bên ngoài. Nhà ông Trần Công Vàng ở thị xã Thủ Dầu Một là một ngôi nhà rường theo kiểu chữ đinh, gồm 5 gian 2 chái, dài 24m, ngang 22m với 6 hàng 24 cây cột, đầu kèo chạm trổ tinh xảo. Cột nhà xưa thường bằng các danh mộc như sao, cẩm lai, gỗ mun.

Bình Dương hiện còn nhiều ngôi nhà cổ có giá trị về kiến trúc và nghệ thuật, niên đại trên dưới 100 năm, chủ yếu tập trung ở thị xã Thủ Dầu Một và huyện Tân Uyên, như nhà ông Trần Văn Tề (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Trần Văn Hổ (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Trần Công Vàng (phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một), nhà ông Nguyễn Văn Đằng (xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên), nhà ông Đỗ Cao Thứa (xã Thạnh Phước, huyện Tân Uyên), nhà ông Nguyễn Tri Quang (xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một)… Trong số đó có hai ngôi nhà được công nhận Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia vào năm 1993, đó là nhà ông Trần Văn Hổ và nhà ông Trần Công Vàng.

Hầu hết nhà cổ ở Bình Dương có giá trị về mỹ thuật kiến trúc và trang trí là nhà chữ đinh. Riêng nhà của một số gia đình giàu có nổi tiếng ở thị xã Thủ Dầu Một, ở huyện Tân Uyên thì có qui mô khá lớn và hình thức đa dạng chứ không chỉ là kiểu nhà chữ đinh truyền thống. Nhà ông Trần Văn Hổ thuộc kiểu nhà 5 gian 2 chái rất rộng lớn, hoàn toàn bằng gỗ chạm trổ kỹ lưỡng từ cột, kèo đến vách. Kiểu nhà này xưa vốn là đặc quyền của tầng lớp quan lại cao cấp thời Nguyễn, thường dân không được phép xây dựng. Nhà ông Nguyễn Văn Đằng theo kiểu nhà chữ công £¨工¤£©  có hai gian lớn gọi là Đông lang – Tây lang; hay kiểu nhà chữ khẩu £¨口£© (gồm 4 căn với hướng đòn dông tạo thành hình vuông) của ông Nguyễn Tri Quang. Hầu hết những căn nhà cổ vừa nêu trên đều khẳng định chức năng thờ cúng ông bà tổ tiên và thể hiện niềm tự hào về gia tộc trên các bức đại tự như Trung Nghĩa Đường, Trần Miêu Duệ, Nguyễn Phủ Đường… tại gian thờ chính trong nhà.

Việc xây dựng nhà ngày xưa rất công phu. Gia tộc ông Đỗ Cao Thứa cho biết nhà xây 3 năm mới hoàn thành, do những người “thợ Bắc” thi công. Vì địa thế vùng Tân Uyên thấp nên nhà phải đắp nền cao rất công phu. Đất phải lấy từ ấp Bình Hóa (xã Uyên Hưng) vận chuyển bằng xe bò đến bờ sông, sau đó chở đất bằng ghe qua sông rồi mướn người gánh về đổ đắp nền nhà. Nền cao hơn mặt đất 0,8m, xung quanh nền nhà được bọc móng rất kiên cố bằng những tảng đá ong vốn có nhiều ở miền Đông Nam Bộ.

Nhà cổ tại Bình Dương là dấu ấn thời kỳ phong kiến giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Hầu hết nhà cửa thời kỳ này còn tồn tại cho tới nay đều nhờ kỹ thuật xây dựng kiên cố với các loại danh mộc quý, chắc như lim, căm xe, cà chất… Khung sườn các nhà xưa hầu hết sử dụng kỹ thuật lắp ghép tự nhiên (lắp mộng) chưa dùng đinh sắt. Các bức vách gỗ phía trước nhà hoặc vách ngăn giữa gian thờ tự với gian nhà trong, những cây kèo, hoành phi, câu đối, bao lam, bàn thờ, trang thờ, bình phong… đều được chạm trổ tinh xảo theo phong cách chạm lộng, chạm thủng, chạm chìm khéo léo. Ngôi nhà vừa là công trình kiến trúc tài hoa, vừa chứa đựng những tác phẩm điêu khắc phản ánh các giai đoạn của nền mỹ thuật Nam Bộ: giai đoạn sớm là chạm trổ trên gỗ mộc, toàn bộ chỉ để gỗ tự nhiên, giai đoạn muộn hơn là dùng sơn ta để sơn son thếp vàng hoặc cẩn ốc, khảm trai, sơn mài…

Thời kỳ đầu nhà cổ tại Bình Dương được thi công xây dựng và trang trí chạm trổ bởi các nhóm thợ mộc nổi tiếng khéo tay từ miền Trung vào như thợ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên, Bình Định (thường gọi chung là “thợ Huế”). Bên cạnh đó còn có thợ mộc của “trường phái thợ Thủ” (Thủ Dầu Một) với tay nghề giỏi nức tiếng đã dần đảm trách vai trò chính yếu trong xây cất nhà và trang trí nội thất. “Thợ Thủ” không chỉ  hành nghề ở Bình Dương mà còn ở nhiều nơi khác. Người ta rước “thợ Thủ” về xây nhà và nuôi nhóm thợ trong nhà hàng năm để họ chạm khắc trang trí cho ngôi nhà. Những thế hệ nghệ nhân “thợ Thủ” đã trải nghiệm tài nghệ của mình và lưu danh về kỹ thuật xây cất và nghệ thuật trang trí nội thất những ngôi nhà trên khắp Nam Bộ. Trong “Nam kỳ nhân vật phong tục diễn ca” Nguyễn Liên Phong đã nêu:

…“Nhà khéo cất tốn bạc muôn

Tiếng đồn thợ Thủ ráp khuôn kỹ càng”

Những nghệ nhân nghề mộc khéo léo, tài giỏi của Bình Dương xưa đã để lại những tác phẩm nghệ thuật của mình trên các kèo đùi ếch, trên “lá dung” đầu kèo, bao lam, hoành phi, câu đối, bàn ghế, tủ thờ… được chạm, cẩn tinh xảo, làm nổi bật sắc gỗ mộc thanh cảnh, vàng óng, đỏ tươi và sắc mun ánh ngời bóng loáng của sơn ta, của xà cừ… Đặc biệt toàn bộ vách trước những căn nhà truyền thống ở Bình Dương thường được “thợ Thủ” chạm trổ tỉ mỉ tài hoa, tạo nên vẻ đẹp sinh động nhưng tôn nghiêm cho căn nhà. Từng khung vuông, khung chữ nhật của bức vách trước được chạm khắc nhiều đồ án hoa văn các môtíp điển hình như tứ linh, tứ quý, quả lựu, hoa mẫu đơn… Vách trước cũng thường chạm đôi “mắt cửa” hay biểu tượng của âm dương, nhật nguyệt và khung viền cửa trước (bao lam) thường chạm trổ kiểu đòn võng khéo léo.

Nhà xưa ở Bình Dương hầu hết lợp ngói âm dương, nền nhà lót gạch tàu đỏ. Trong nhà theo mô thức trang trí nội thất thống nhất, gồm bộ trường kỷ gỗ đen ở gian giữa phía trước bàn thờ, hai gian nhà hai bên bày hai bộ ván ngựa. Ở một góc nhà có tủ kiếng để chưng bày các cổ vật kỉ niệm. Bàn thờ, nhất là các câu đối trên cột hoặc các bài minh bằng Hán tự đặt trên bàn thờ tổ tiên đều được cẩn ốc hoặc sơn son thếp vàng. Nội dung các câu đối, bài minh hầu hết đều đề cao lòng hiếu đễ với ông bà tổ tiên, nề nếp gia phong, việc kính trọng và phụng dưỡng cha me. Ngoài dấu ấn đặc trưng của tâm thức Nho giáo đương thời thể hiện như yếu tố chủ đạo trong nội dung các câu đối, bài minh… chủ đề trang trí trong những ngôi nhà xưa tại Bình Dương còn thấy một nội dung khác của văn hoá Nho giáo, đó là những bài thơ cổ tả phong cảnh hay là điển tích xưa. Ngoài đồ trang trí nội thất chủ yếu bằng gỗ như tủ thờ, bàn thờ, trường kỷ, bộ ván, mấy bộ bàn ghế… trong nhà còn có nhiều đồ gốm Biên Hòa, gốm Lái Thiêu như đôn tròn, lục giác, đôn voi, chậu kiểng, độc bình. Nhiều ngôi nhà cổ còn có vài vật dụng Tây phương như đèn Măng sông, quạt trần, máy hát đĩa… 

Về Bình Dương đắm mình trong không gian tĩnh lặng của những ngôi nhà cổ giữa khu vườn êm ả, tiếng ồn, khói bụi đường xa dường như không len lỏi vào đến nơi đây, cuộc sống xô bồ gấp gáp chốn thị thành dường như không hiện diện ở nơi đây… Chợt thấy mình như được quay về với những ngày xưa yêu dấu…

TS. Nguyễn Thị Hậu/ Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Nhà cổ gần 130 tuổi của ‘tiểu thư họ Trần’ ở Bình Dương


Nhà cổ Trần Công Vàng gần 130 năm tuổi là địa điểm hiếm thấy hiện nay khi vừa là di tích lịch sử – kiến trúc nghệ thuật vừa là nơi thờ tự, sinh sống của một gia đình.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 1

Nhà cổ Trần Công Vàng nằm khuất trong dãy chợ Thủ, tại số 21 Ngô Tùng Châu (phường Phú Cường, TP Thủ Dầu Một, Bình Dương). Công trình được xem là di tích lịch sử – kiến trúc nghệ thuật hiếm hoi với tuổi đời hơn trăm năm đang có người ở.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 2

Ngôi nhà do ông Trần Văn Long xây dựng từ năm 1889 đến năm 1892 trên khu đất rộng 1.333 m2, diện tích nhà hơn 500 m2, kiến trúc theo kiểu chữ Đinh, đặc trưng của nhà truyền thống Việt Nam thế kỷ 19.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 3

Sau khi được công nhận Di tích lịch sử – kiến trúc nghệ thuật năm 1993, ngôi nhà được trùng tu lại với quy mô lớn vào năm 2005. Quá trình trùng tu, kết cấu toàn bộ ngôi nhà được các thợ lành nghề người Huế tháo ra, nâng nền lên 40 cm, sau đó lắp lại nguyên bản ban đầu. Nhà được lợp 3 lớp ngói âm dương, trong đó lớp cũ dưới cùng được che khít bởi hai lớp mới phía trên.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 4

Các mặt của ngôi nhà lối ra, vào được xây dựng rất thấp, hai cửa sổ phía trước vẫn còn giữ nguyên những tấm phiên bên ngoài, cửa bên trong móc lên trần, đây là kiến trúc đặc trưng của nhà cổ Việt Nam nhiều thế kỷ trước.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 5

Nhà cổ gần 130 năm này có kết cấu 5 gian 2 chái, các thanh xà, cột, tấm gỗ đều được đục mộng, lắp ghép lại với nhau, không dùng đinh nhưng rất chắc chắn. 48 cây cột gỗ được lắp thành 6 hàng giữ toàn bộ khung từ trước ra sau nhà.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 6

Hàng nghìn chi tiết lớn, nhỏ khác nhau bằng các loại gỗ quý được chạm khắc tinh xảo, lắp ghép thành các không gian sinh hoạt, thờ tự theo lối cổ truyền. Ngoài giá trị kiến trúc nghệ thuật, ngôi nhà với việc đề cao việc thờ cúng tổ tiên, có lối trang trí nội thất các bao lam, cửa vòng, liễn đối, hoành phi bằng chữ Hán mang đậm triết lý nho giáo, thể hiện tinh thần đạo đức, lễ nghĩa truyền thống dân tộc.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 7

Những hình chạm trổ công phu trong ngôi nhà rất bắt mắt, mỗi cái đều có nội dung, ý nghĩa khác nhau về truyền thống gia đình, những lời huấn giáo, đối nhân xử thế mà người xây dựng lên muốn gửi gắm những thế hệ sau.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 8

Bà Trần Thị Ánh Tuyết là chủ nhân hiện tại của ngôi nhà cổ. Người cháu đời thứ 5 thuộc hệ phái ông Trần Văn Long này thường gọi vui với cái tên “tiểu thư họ Trần”. Sau khi cha là bác sĩ nha khoa Trần Công Vàng mất, chị Tuyết thừa kế ngôi nhà.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 9

Nữ gia chủ cho biết cụ Trần Văn Long thuộc thế hệ thứ 5 của dòng họ Trần Công danh gia vọng tộc nổi tiếng ở đất Bình Dương, ông tổ của bà Tuyết là nhóm người gắn kết lịch sử của vùng đất này với đội đóng thuyền thời chúa Nguyễn. Sau một thời gian chuyển sang nghề buôn bán gỗ, việc xây dựng ngôi nhà này với hai nhà cổ khác có phần dễ dàng hơn.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 10

Phần trang trí nội thất của ngôi nhà cũng rất phong phú và đa dạng. Ngoài những câu đối được treo nhiều trong nhà, một số đồ trang trí bằng gỗ, gốm khác cũng được sắp đặt đẹp mắt.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 11

Những đồ nội thất với nhiều bộ bàn ghế cổ trong ngôi nhà được các thế hệ của của gia đình sử dụng, gìn giữ nguyên vẹn qua hàng trăm năm. Căn nhà cổ là địa điểm hiếm thấy khi vừa là di tích lịch sử – kiến trúc nghệ thuật vừa là nơi thờ tự, sinh sống của một gia đình.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 12

Hàng chục chiếc bàn, ghế, đôn, kệ được làm bằng gỗ quý, điêu khắc nhiều đường nét cầu kỳ, khảm trai tinh xảo.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 13

Nhiều ảnh vẽ và chụp các thế hệ trước của gia đình bà Tuyết được treo trang trọng trong ngôi nhà.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 14

Một số chiếc tủ, kệ, đồ dùng sinh hoạt, đồ trang trí của các thế hệ trước sử dụng còn nguyên vẹn được trưng bày bên trong nhà cổ ông Trần Công Vàng.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 15

Những chiếc radio, máy hát đĩa, máy đánh chữ được sản xuất từ thế kỷ trước của cha, ông “tiểu thư họ Trần” từng sử dụng vẫn còn lưu giữ.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 16

Hằng trăm cuốn sách cũ được đặt gọn gàng trong chiếc kệ kính ngay góc phải ngôi nhà.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 17

Hiên nhà bên phải và phía sau được xây dựng tường bao bọc nhưng không gian rất thoáng mát, gia đình để một số đồ đạc khu vực phía sau.

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 18

Các gian phòng phía sau của nhà cổ phần lớn đang bỏ trống, ngăn cách bởi những vách gỗ. Ngôi nhà cổ này là địa điểm tham quan chính trong dự án đặc biệt mang tên “Dạo chơi cùng di sản” của một đơn vị du lịch phát triển trong thời gian tới. Dự án sẽ đưa du khách, người yêu thích di sản tham quan biệt thự cổ The Villa (quận 3, TP.HCM) – đình Phú Long, Vườn Nhà gốm (Lái Thiêu) và nhà cổ họ Trần (TP Thủ Dầu Một, Bình Dương).

nha co tram tuoi cua dong ho Tran o Binh Duong anh 19

Ngoài công trình nói trên, dòng họ Trần Công còn có 2 ngôi nhà cổ được xây dựng cùng điểm cuối thập niên 1890 tại Thủ Dầu Một là nhà cổ Trần Văn Hổ còn được gọi là nhà cổ Đốc phủ Đẩu và nhà cổ Xã Tề. Trong ảnh, nhà cổ Đốc phủ Đẩu tại số 18, đường Bạch Đằng được công nhận là Di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

ZingNews / Lê Quân – Hoài Thanh

Xu hướng dòng tiền đầu tư chung cư tiếp tục đổ về “thủ phủ công nghiệp” Bình Dương trong năm 2021


Xu hướng ly tâm dịch chuyển dòng vốn đầu tư xuôi chiều, lan tỏa dần ra các khu vực tỉnh thành ven trung tâm, khi mà quỹ đất sạch tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM ngày một khan hiếm sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong năm 2021.

Xu hướng dòng tiền đầu tư chung cư tiếp tục đổ về

Theo báo cáo thị trường của Savills Việt Nam, năm 2020, thị trường căn hộ TP.HCM đối mặt với không ít khó khăn. Nguồn cung sơ cấp cả năm ở mức thấp nhất trong 5 năm với hơn 25.300 căn, giảm mạnh 38% theo năm do nguồn cung mới hạn chế và lượng hàng tồn thấp. Căn hộ hạng C tiếp tục chiếm lĩnh nguồn cung cả năm với 65% thị phần. 

Việc khan hiếm nguồn cung đã kéo theo lượng giao dịch thấp nhất trong 5 năm, chỉ đạt gần 22.700 căn. Tuy nhiên, chính nguồn cung khan hiếm này đang “bắt lửa” cho xu hướng dịch chuyển lớn của các nhà đầu tư sang những khu vực giáp ranh TP.HCM nhằm tận dụng chính sách thu hút đầu tư của địa phương và quỹ đất lớn cũng như giá thành đáp ứng được nhu cầu người mua nhà.

Về xu hướng chung, từ những áp lực cạnh tranh gay gắt, các chủ đầu tư trên thị trường sẽ tập trung phát triển dự án căn hộ hoặc các phức hợp đô thị có sự khác biệt trong thiết kế, tích hợp nhiều yếu tố đáp ứng nhu cầu sống của cư dân. Đồng thời, áp dụng nhiều chương trình ưu đãi hấp dẫn thu hút người mua nhà như chính sách thanh toán, gói hỗ trợ tín dụng với lãi suất thấp và thời gian ân hạn kéo dài, chương trình khuyến mãi, rút thăm may mắn,…

Nhiều chuyên gia nhận định, xu hướng ly tâm dịch chuyển dòng vốn đầu tư xuôi chiều, lan tỏa dần ra các khu vực tỉnh thành ven trung tâm, khi mà quỹ đất sạch tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM ngày một khan hiếm sẽ tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trong năm 2021. Đặc biệt, những điểm sáng như Bình Dương, Long An, Đồng Nai,… đang trở thành nơi thu hút mạnh nguồn vốn đầu tư và  dự báo cho đợt bùng nổ nguồn cung tiếp theo trong thời gian tới.

Góp phần to lớn trong xu hướng dịch chuyển nguồn cung nhà ở ra khỏi TP.HCM trong thời gian gần đây chính là nhiều cơ sở hạ tầng tương lai như tuyến tàu điện Metro số 1 và Đường Vành đai 2, 3, các tuyến cao tốc và đường sắt kết nối liên vùng cũng đang đẩy nhanh tiến độ hoàn thành. Trong danh sách những thị trường mới “trỗi dậy” trong năm 2021, Bình Dương là cái tên được giới chuyên gia đánh giá rất cao về triển vọng bứt phá, trở thành “điểm trũng” hấp dẫn dòng tiền đầu tư dài hạn.

Giải thích thêm về “hiện tượng” này, chuyên gia BĐS cá nhân Phan Công Chánh cho rằng để nâng cao sức hút đối với dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước, năm 2021 Bình Dương sẽ chi gần 10.000 tỉ đồng để thực hiện nâng cấp cơ sở hạ tầng. Điển hình là đầu năm 2021 sẽ cải tạo và mở rộng tuyến đường huyết mạch Quốc Lộ 13, đoạn qua Thuận An kéo dài từ cổng chào Vĩnh Phú đến điểm giao đường Lê Hồng Phong với quy mô 8 làn xe, lộ giới 64m, dự kiến hoàn thành trước 2023.

Đặc biệt, mới đây UBND tỉnh Bình Dương vừa công bố quy hoạch trục Quốc lộ 13 chạy từ trung tâm Lái Thiêu tới đường Nguyễn Văn Tiết thành đại lộ kinh tế, tài chính, dịch vụ lớn nhất của Bình Dương. Theo quy hoạch, trong tương lai, các tòa tháp biểu tượng, tháp tài chính, bệnh viện, đại học, khu dân cư cao cấp, văn phòng, khách sạn 5 sao được bố trí dọc 2 bên đại lộ. Quanh đại lộ này sẽ phát triển 5 trung tâm thương mại cấp đô thị, phụ trợ cho trục chính với: trung tâm 1 tọa lạc tại Lái Thiêu; trung tâm 2 thuộc khu vực ngã tư quốc lộ 13 và đường An Thạnh – Bình Chuẩn; trung tâm 3 chạy dọc ngã 5 An Phú và đường DT473; trung tâm 4 và 5 thuộc trục ngang Lái Thiêu – Dĩ An với ngã tư quốc lộ 13 và trục Bình Hòa – Vĩnh Phú.

Không những vậy, Bình Dương còn được mệnh danh là thủ phủ công nghiệp của nước ta. Tính đến thời điểm hiện tại, Bình Dương hiện đang có hơn 50.000 chuyên gia sinh sống và làm việc tại các khu công nghiệp. Bình Dương hiện cũng đang quy hoạch phát triển mở rộng thêm 34 khu công nghiệp với tổng diện tích 14.790 ha. Dự kiến trong tương lai các khu công nghiệp này hoàn thành sẽ thu hút một lượng lớn chuyên gia đến làm việc tại Bình Dương, có thể tăng lên 100.000 người. Khi đó, nhu cầu về nhà ở cũng sẽ tăng mạnh theo.

Cùng với những yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, thị trường bất động sản tại Bình Dương, đặc biệt là Thuận An nóng chưa từng có. Trong năm 2020, Bình Dương chứng kiến làn sóng đổ bộ của nhiều ông lớn với những siêu dự án có tổng mức đầu tư hơn 2 tỉ USD, nguồn cung căn hộ khoảng 20.000 căn nửa cuối năm.

Bình Dương không chỉ đang thu hút các nhà đầu tư trong nước như Công ty cổ phần Vinhomes, Tập đoàn Đất Xanh, Phát Đạt, Danh Khôi, Quốc Cường Gia Lai, Hưng Thịnh, LDG Group, Bcons Group… mà còn hút vốn từ các nhà đầu tư ngoại như Tập đoàn Sembcorp Industries và Tokyu Group. Trong đó, Thuận An chiếm tỉ trọng cao nhất, 15.000 căn hộ. Giá bán căn hộ trung bình ở Bình Dương đã tăng 15% mỗi năm trong giai đoạn 2017 – 2020. Tính đến tháng 10/2020, giá căn hộ tại đây đạt gần 42 – 45 triệu/m2, tăng đáng kể từ mức 20 – 25 triệu/m2 trong năm 2018.

Tại Thuận An, dự án có quy mô lớn nhất hiện nay phải kể đến Astral City của chủ đầu tư Phát Đạt nằm ngay mặt tiền quốc lộ 13 ngay trung tâm cung đường kinh tế – tài chính và dịch vụ mới được quy hoạch. Dự án được xây dựng trên diện tích 3,73 ha gồm 8 block cao 40 tầng nổi và 3 tầng hầm, dự kiến dự án cung ứng ra thị trường khoảng 5.200 căn hộ. Astral City sở hữu nhiều tiện ích cao cấp như hồ bơi vô cực, nhiều vườn thượng uyển và chill bar, vườn yoga, vườn thiền trên. Hiện Astral City đang được giới thiệu ra thị trường với chính sách ưu đãi thanh toán 30% cho đến khi nhận nhà, khách hàng chỉ cần thanh toán 100 triệu đồng đợt đầu tiên và 1% mỗi tháng tiếp theo. 

Với dòng tiền đang ồ ạt đổ về Bình Dương, Long An, Đồng Nai… T.S Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược Thượng hiệu và Cạnh tranh cho rằng nhà đầu tư cần chú ý 4 yếu tố khi đầu tư vùng ven, bao gồm tiềm năng kết nối, sự quyết liệt của chính quyền địa phương, sự vào cuộc của các chủ đầu tư “đầu đàn” và cuối cùng mới tới tiềm năng tăng trưởng của tỉnh. Theo ông, tính kết nối của địa phương về hạ tầng giao thông là yếu tố then chốt quan trọng nhất khi lựa chọn địa phương để đầu tư.

Còn theo TS. Sử Ngọc Khương, Giám đốc cấp cao Savills Việt Nam, với bối cảnh hiện nay, các nhà đầu tư nên hạn chế sử dụng đòn bẩy tài chính. Pháp lý dự án là quan trọng. Cuối cùng là việc chọn lựa dự án có thể đạt được các mục tiêu mà mình đưa ra thì phải dựa trên các yếu tố như tính thanh khoản, giá trị gia tăng và quản trị rủi ro vì đây là ba yếu tố quan trọng khi chúng ta đầu tư vào một dự án.

Lan Nhi / Theo Doanh nghiệp & Tiếp thị

Lịch sử tên Thủ Dầu Một và tên Tỉnh Bình Dương


VỀ HAI TÊN GỌI THỦ DẦU MỘT VÀ BÌNH DƯƠNG

Ngày nay khi nói đến Bình Dương,Thủ Dầu Một ai cũng biết đó là tên của một tỉnh, tên của Thành phố thuộc tỉnh mà tên tỉnh ấy đã trở thành thương hiệu vang xa trên thương trường quốc tế. Thế nhưng cái tên tỉnh Bình Dương, tên Thành phố Thủ Dầu Một có từ bao giờ và đã trải qua các thời kỳ lịch sử như thế nào là điều mà mọi người nên tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu.

Gần đây trong một số công trình khoa học nghiên cứu lịch sử Thủ Dầu Một – Sông Bé – Bình Dương đều có đề cập đến địa giới, nguồn gốc,lịch sử của tên gọi này nhưng ít có ai đặt vấn đề tách riêng ra chỉ tìm hiểu cái tên của tỉnh, do vậy bài viết này xin mạo muội chỉ nêu quá trình hình thành tên Thủ Dầu Một-Bình Dương.

Theo trình tự tên Thủ Dầu Một là tên Tỉnh có trước tên tỉnh Bình Dương có sau nên tìm hiểu tên Thủ Dầu Một trước vậy!

-Căn cứ vào từ nguyên: Thủ- Dầu Một, một số nhà nghiên cứu đã tách chữ Thủ và chữ Dầu Một ra để phân chữ như sau:

+Thủ: là giữ, phòng thủ, canh giữ ,Thủ là đầu ( thủ, vĩ ), đứng đầu, thủ phủ,thủ sở là nơi đặt lỵ sở của một đơn vị hành chánh.

+ Dầu Một: Dầu là cây dầu, Một là số một, cây dầu số một,một cây dầu lớn nhất .Dầu Một còn được đọc theo chữ Hán Nôm là Dầu Miệt hay miệt dầu là chỗ,vùng toàn cây dầu.

Ghép hai từ đã phân ch lại là Thủ Dầu Một và tên Thủ Dầu Một có thể bắt nguồn từ khi có sự xuất hiện một cái chợ bên bờ sông.Khi chợ hoạt động thì chính quyền sở tại lập ra một cơ sở để canh giữ trật tự và thu thuế cái chợ ấy. Trụ sở ấy chắc chắn là đặt gần chợ và đặt trên đồi toàn cây dầu và đặt bên gốc dầu to nhất lúc đó.

Có nhà nghiên cứu sử học cho rằng từ trước năm 1808 đã có tên Dầu Một vì trong sách Đại Nam Nhất Thống Chí có ghi như sau: “Chợ Phú Cường ở thôn Phú Cường,huyện Bình An,tục danh là chợ Dầu Một (hay Dầu Miệt) ” còn mốc 1808 là năm tổng Bình An được nâng lên thành huyện cùng lúc thiết lập đồn binh ở đây để canh giữ vùng này*(1).

Và cái tên Thủ Dầu Một chỉ chính thức xuất hiện trên các văn bản,giấy tờ từ sau năm 1867 khi Pháp đánh chiếm xong toàn bộ Nam Kỳ và chia cắt lục tỉnh ra làm 27 địa hạt tham biện (Inspec on) , trong 27 địa hạt đó có một địa hat tên là Thủ Dầu Một.Và 22 năm sau đó ngày 20 tháng 12 năm 1889 Pháp đã nhập,tách nâng 27 địa hạt thành 20 tỉnh,trong đó có tỉnh Thủ Dầu Một*(2).

Như vậy có thể lấy ngày 20 tháng 12 năm 1889 là ngày đầu tiên thành lập một tỉnh có tên là Thủ Dầu Một.

Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi,theo hiệp định Giơ-neo đến năm 1956 là thời hạn chót thực hiện Tổng tuyển cử thống nhất Quốc gia Việt Nam. Thế nhưng Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào đã lật lọng không thực hiện hiệp định Tổng tuyển cử mà lại thiết lập Chính thể Cộng hòa theo Mỹ.

Trong năm 1956 chính quyền Sài gòn đã tách tỉnh Thủ Dầu Một ra làm ba tỉnh và đặt tên là tỉnh Bình Dương,tỉnh Bình Long và tỉnh Phước Long.

Trong suốt thời gian kháng chiến chống Mỹ,phía Cách Mạng cơ bản vẫn sử dụng tên tỉnh là tỉnh Thủ Dầu Một nhưng phạm vi địa bàn thu hẹp lại,trừ Bình Long,Phước Long ra thì ranh giới Tỉnh Thủ Dầu Một trùng khớp với ranh giới tỉnh Bình Dương lúc đó.

Nói cơ bản vẫn giữ tên tỉnh là Thủ Dầu Một là vì trong quá trình kháng chiến chống giặc ngoại xâm cái tên Tỉnh Thủ Dầu Một có mấy lần biến động như hai lần nhập lại với tỉnh khác và có tên là Thủ Biên rồi tách ra,một lần chia ra thêm tỉnh Phước Thành,một lần thêm tỉnh Tân Phú rồi cũng xóa Phước Thành(1961-1965),xóa Tân Phú (1971-1973) để trở lại là Thủ Dầu Một,và có một thời gian ngắn Tỉnh Thủ Dầu Một cũng được chia ra một phần là Phân khu 1, phần còn lại là Phân khu 5 (1970-1972) cho đến cuối năm 1972 sang năm 1973 thì không còn phân khu nữa mà trở lại là Tỉnh Thủ Dầu Một.Cái tên Tỉnh Thủ Dầu Một,quân dân Tỉnh Thủ Dầu Một vào ngày 30 tháng tư năm 1975 đã đường hoàng,đỉnh đạc tiến vào giải phóng tỉnh lỵ cùng với quân dân miền Nam đánh cho Mỹ cút,đánh cho Ngụy nhào, giải phóng quê hương,thống nhất đất nước.

Sau ngày 30 tháng Tư lịch sử, non sông Việt Nam liền một dải thì đến năm 1976 Quốc hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra quyết định nhập ba tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Long,Phước Long lại thành Tỉnh Sông Bé. Như vậy sau 87 năm tồn tại đến đây thì cái tên tỉnh Thủ Dầu Một không còn nữa. Thế nhưng khi lập tỉnh Sông Bé thì tỉnh lỵ vẫn đặt tại Phú Cường và tên Thị xã Sông Bé tồn tại hai năm thì cái tên Thủ Dầu Một được khôi phục lại thay cho tên Thị xã Sông Bé. Và tên Thị Xã Thủ Dầu Một trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của Tỉnh tồn tại mãi cho đến nay là đô thị loại một và Thành phố Thủ Dầu Một đang dần trở thành thành phố văn minh,hiện đại,nghĩa tình.

Như vậy trong khoảng thời gian hai mươi năm tên tỉnh Sông Bé tồn tại thì hai cái tên Tỉnh Bình Dương,tỉnh Thủ dầu Một đương nhiên không còn,nhưng đến năm 1997 câu chuyện tên tỉnh lại diễn biến khác. Đến năm này Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam lại ra quyết định tách tỉnh Sông bé ra làm hai tỉnh Bình Phước (Bình Long,Phước Long) và tỉnh Bình Dương.

Như vậy Tỉnh Bình Dương chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 1 năm 1997 đến nay đã vững vàng đứng trong tốp đầu của những tỉnh công nghiệp phát triển của Việt Nam,thế nhưng cái tên Bình Dương đã có từ rất lâu và tên tỉnh Bình Dương cũng đã có ở thế kỷ trước.

Trước tiên ta tìm hiểu tên Bình Dương qua ngữ, nghĩa của nó:

Bình là bình minh

Dương là ánh nắng

Ghép lại Bình Dương là ánh nắng bình minh,là những ánh nắng rực sáng trong buổi sáng sớm của một ngày mới.

Có một nhà nghiên cứu Hán-Nôm đã diễn giải, chiết tự theo Kinh Dịch hai chữ Bình Dương như sau:

Chữ Bình có 11 nét thuộc quẻ Khôn

Chữ Dương có 13 nét thuộc quẻ Chấn

Cộng lại Bình Dương có 23 nét là Đại Cát: thuận lợi tối đa.

Nếu xét về lịch sử xa xưa thì Bình Dương là phần cuối của cái tên một Đại dương mênh mông: Thái Bình Dương.

Ngay từ thế kỷ thứ 11 thì Bình Dương là tên của một nàng Công chúa xinh đẹp con vua Lê Thái Tông như trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có ghi:1029 tháng ba ngày mồng bảy gả Công Chúa Bình Dương cho Châu mục Châu Lạng là Thân Thiệu Thái *(3)

Bình Dương còn là tên của một nhánh sông theo bản đồ do Trần văn Học vẽ khu vực Gia Định thành vào tháng 4 năm 1815 và như mô tả của Trịnh Hoài Đức thì sông Bình Dương ở phía nam trấn Gia Định*(4).Đoạn sông này ngày nay có tên mới là Rạch Bến Nghé.

Từ cái tên của một nàng Công chúa lại được đặt tên cho một dòng sông rồi được gọi cho một Làng sau nâng lên thành Huyện, theo Nguyễn Đình Đầu trong bài nghiên cứu địa lý hành chánh tỉnh Bình Dương qua các thời kỳ có ghi:”Đến năm 1808 huyện Tân Bình được nâng lên thành Phủ Tân Bình có bốn huyện là Bình Dương,Tân Long, Thuận An và Phước Lộc”*(5)

Đến năm 1834 toàn bộ Nam kỳ được chia đặt thành sáu tỉnh, lúc ấy gọi là Nam kỳ lục tỉnh,huyện Bình Dương nằm trong tỉnh Phiên An.Năm 1836 Phiên An được cải thành Gia Định.Năm 1841 huyện Bình Dương lại được tách ra làm hai huyện là huyện Bình Dương và huyện Bình Long.

Đến thời Pháp thuộc thì Nam kỳ lục tỉnh được chia ra làm 20 tỉnh mới,hai bên bờ sông Sài gòn là hai tỉnh Gia Địnhtỉnh Thủ Dầu Một.

Sau kháng chiến chống Pháp thành công , Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào không thực hiện hiệp định Giơ-neo tổng tuyển cử thống nhất quốc gia Việt Nam mà lập chính quyền Cộng Hòa theo Mỹ,và Chính quyền này đã ra sắc lệnh số 143 N/V ngày 22 tháng 10 năm 1956 thay đổi địa giới,tên gọi các tỉnh Miền nam trong đó có tên tỉnh Bình Dương. Như vậy có thể lấy ngày,tháng năm này làm ngày đầu tiên tên Bình Dương được đặt cho tỉnh Bình Dương!

Sau kháng chiến chống Mỹ thắng lợi,năm 1976 Chính phủ Cách Mạng lâm thời Miền nam đã quyết định xóa tên ba tỉnh Thủ Dầu Một (Bình Dương), Bình Long ,Phước Long để lập lại tỉnh mới rộng lớn hơn với cái tên tỉnh Sông Bé.

Mãi đến hai mươi năm sau, ngày 6 tháng 10 năm 1996 Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã ra quyết định tách tỉnh Sông Bé ra làm hai tỉnh Bình Phước và tỉnh Bình Dương.

Thế là cái tên Bình Dương rạng rỡ,hiền hòa được trở lại với tỉnh nhà từ đây.

Ghi chú,tài liệu tham khảo:

*1-Huỳnh Ngọc Đáng,Phú Cường Lịch sử văn hóa Truyền thống cách mạng,NXB Sông Bé 1990 ( Trang 18)

*2-Nguyễn Đình Đầu,Địa Chí tỉnh Sông Bé,NXB Sông Bé 1991 (Trang 206-207)

*3-Đại Việt Sử Ký Toàn Thư,Tập 1,NXB V H T T Hà Nội- 2000 (Trang 383)

*4-Như Hiên,Nguyễn Ngọc Hiền,Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh,NXB Văn học,Hà Nội,1997 (Trang 73)

*5-Nguyễn Đình Đầu –Sđd-

Nguyễn Minh GiaoThạc sĩ, hội viên Hội KHLS tỉnh Bình Dương.

Theo SuGia

Bình Dương và ‘tầm nhìn Thủ Dầu Một’


Bình Dương không xem việc Thủ Dầu Một lên đô thị loại I như “bánh vẽ” để tiêu tiền ngân sách, mà là để phát triển có tầm nhìn chiến lược, có định hướng rõ ràng trong liên kết vùng Đông Nam Bộ và TP.HCM…

 

Bình Dương và tầm nhìn Thủ Dầu Một - Ảnh 1.

 

Thành phố Thủ Dầu Một lên đô thị loại I khiến người dân nơi đây vui mừng khi họ được thụ hưởng nhiều dịch vụ, công trình thiết thực. Các doanh nghiệp, nhà đầu tư nước ngoài cũng rất ấn tượng về sự vươn lên của Thủ Dầu Một nói riêng và Bình Dương nói chung.

Điển hình là những tuyến “xe buýt xanh” theo phong cách Nhật Bản chạy bằng khí nén thiên nhiên thân thiện với môi trường, có hệ thống WiFi, có bãi giữ xe miễn phí…

Nó gây ấn tượng mạnh so với xe buýt thông thường khi giao tiếp giữa tài xế và hành khách rất thân thiện. Không khó để chứng kiến cảnh tài xế nở nụ cười nói “Xin chào!” khi khách lên xe và hành khách nói “Cảm ơn” tài xế khi xuống trạm.

“Xe buýt xanh” hiện là mong muốn của nhiều tỉnh nhưng chưa làm được, và trong khi cư dân nơi khác đang mơ ước thì người dân Bình Dương đã được tận hưởng.

Chỉ trong vòng một năm qua, Thủ Dầu Một đã xây dựng mới 30 công viên, vườn hoa từ các khu “đất vàng”, trụ sở cũ.

Năm 2018, Thủ Dầu Một sẽ xây thêm 36 công viên, vườn hoa từ quỹ đất công ở những vị trí đắc địa mà nếu bán các khu đất này, Bình Dương sẽ thu được nguồn tiền không nhỏ. Thế nhưng tỉnh này quyết định dành nó để tạo không gian xanh chăm sóc “giá trị tinh thần” cho người dân, một cách nhìn rất khác biệt hướng tới phục vụ người dân.

Người ta gọi vui các quyết định đó là “tầm nhìn Thủ Dầu Một”!

Tiêu biểu nhất cho tầm nhìn này phải kể đến chuyện quy hoạch. Đi một vòng thành phố này sẽ dễ dàng nhận ra bất cứ quy hoạch nào – từ phát triển công nghiệp, đô thị đến dịch vụ – đều có nghiên cứu rất bài bản chứ không manh mún, tự phát.

Điển hình là thành phố mới Bình Dương với khu đô thị làm hạt nhân, còn xung quanh là các khu công nghiệp, dịch vụ. Điều này đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa phát triển được đô thị mới.

Không chỉ “nghĩ riêng” cho mình, Bình Dương còn nhìn rộng ra cho khu vực, cho tương lai của cả vùng khi luôn xây dựng hạ tầng cơ sở theo hướng liên kết vùng, mà tuyến đường Mỹ Phước – Tân Vạn là một minh chứng.

Để làm được như Bình Dương thì không chỉ cần tầm nhìn của các cấp chính quyền, mà lãnh đạo nơi đây còn phải “dám làm, dám chịu”, đặt lợi ích của người dân lên trên. Bình Dương không xem việc đưa Thủ Dầu Một lên đô thị loại I như “bánh vẽ” để tiêu tiền ngân sách, để giải quyết “khâu oai”.

Trong khi nhiều địa phương đang đau đầu về chuyện thu phí BOT thì Bình Dương quyết định làm đường không thu phí, hoặc mua lại các dự án BOT để xóa trạm thu phí. Chi phí xây dựng được tỉnh “linh hoạt” tính toán vào chi phí của các khu công nghiệp, đô thị. Cách làm này nhận được sự đồng thuận vì giảm gánh nặng cho doanh nghiệp và mang lại hiệu quả lâu dài.

Thủ Dầu Một nói riêng và Bình Dương nói chung phát triển “nóng” nhưng không vội. Đó là một kiểu phát triển có tầm nhìn chiến lược, có định hướng rõ ràng trong liên kết vùng Đông Nam Bộ và TP.HCM, chứ không chỉ cục bộ địa phương.

MINH LUẬN – TuoiTre.vn

Tìm về cộng đồng cư dân Việt ở Bình Dương


* VĂN THỊ THÙY TRANG

 Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung đến vùng Đông Nam bộ. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương ngày nay là một trong những vùng đất mới để cộng đồng cư dân đến sinh cơ, lập nghiệp. Họ bao gồm nhiều thành phần trong xã hội thời bấy giờ, những nông dân nghèo khổ, lầm than chốn quê nhà; là những người chạy trốn sự truy đuổi của chính quyền phong kiến, những người trốn lính, trốn thuế… vì bức xúc cuộc sống mà bất chấp nguy hiểm đi tìm nơi nương thân, mưu lập cuộc sống mới.

Bình Dương nơi dừng chân của đoàn quân di cư người Việt cùng với các địa bàn khác trên khu vực như Mô Xoài, Cù lao Phố, Bến Nghé. Bởi nơi ấy dân di cư thường theo các cửa biển, con sông để tìm vùng đất tốt định cư. Những vùng đất tốt, thuận tiện giao thông thủy bộ ở Bình Dương nhất là chung quanh thị xã Thủ Dầu Một vốn là vùng giáp sông Đồng Nai, sông Sài Gòn chính là những nơi định cư lý tưởng thuở đầu khai phá.
Đầu tiên người Việt đến vùng Lái Thiêu trung tâm là Bình Nhâm. Số cư dân phát triển dọc theo sông (sài Gòn), theo sông Thị anh (Bến Cát) Tân An… dân Ba, Tân Uyên dọc sông Đồng Nai, dần đến vùng vùng định cư của người Việt.
Hệ thống hành chính được thiết lập theo địa đồ năm 1698. Sau đó, triều Nguyễn đã có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút lưu dân đến khai hoang, lập làng vùng Gia Định – Đồng Nai. Trong bối cảnh đó Bình Dương cũng nhanh chóng được khai phá. Theo nhà nghiên cứu địa bạ Nguyễn Đình Đầu thì vùng đất Bình An (Bình Dương trước đây) là nơi có nhiều ruộng đất nhất củatỉnh Biên Hòa, chứng tỏ đây là vùng đất có đông cư dân nông nghiệp nhất. Vùng xung quanh Thủ Dầu Một sau này như Phú Cường, Lái Thiêu, Phú Lợi, Tân Khánh, Tân Uyên, Cù lao Rùa là những xóm đông đúc của Bình Dương từ thuở Tân Khánh, Tân Uyên, Cùa lao Rùa là những xóm đông đúc của Bình Dương từ thuở mở cõi thời nhà Nguyễn.
Từ khi vùng đất Bình Dương được thiết lập thì cư dân người Việt ở đây Phát triển nhanh chóng. Nhiều ấp, nhiều làng mới đượchình thành theo sự tăng trưởng của dân cư. Người Việt đa phần cư trú ở đồng bằng tập trung theo cộng đồng dân cư, vỡ hoang trồng lúa nước hoa màu bằng những dụng cụ thô sơ như cuốc, xuổng, liềm… chăn nuôi gia súc gia cầm “con trâu là đầu cơ nghiệp”…
Người Việt ở Btnh Dương cũng phụ thuộc theo từng giai đoạn lịch sử Việt Nam. Có sự phân chia giữa hai giai cấp và nhiều tầng lớp xã hội khác nhau như địa chủ, phú hào, nông dân, lệ nông, gia nô… cuộc sống nông nghiệp luôn phụ thuộc vào thiên nhiên, người Việt liên kết với nhau dụa vào nhau mà sống. Thôn xóm làng xã của người Việt được tổ chức chặt chẽ, quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết thành một cơ sở đơn vị gia đình là sự cấu thành gia tộc.
Người Việt quan niệm về ăn uống là cho ngon miệng chứ không mấy chú trọng về chất lượng. Bữa ăn là để tập hợp đủ các thành viên trong gia đình vừa ăn vừa trò chuyện, thăm hỏi nhau. Mọi hành động của người Việt nói ra đều có chữ ăn đứng đầu như ăn nói, ăn mặc, ăn ở, ăn uống, ăn học… Người Việt ở Bình Dương không ưa uống trà như ở miền Trung, miền Bắc. Tuy nhiên, rượu trà, trầu cau là những thứ không thể thiếu trong lễ nghĩa. Người đàn ông có thú uống rượu, hút thuốc, phụ nữ thì ăn trầu “miếng trầu là đầu câu chuyện”.
Cộng đồng người Việt đầu tiên ở Bình Dương mặc theo kiểu miền Bắc, miền Trung. Phụ nữ thường mặc áo cánh ngắn bằng vải nâu, cổ tròn viền nhỏ, tà mở, bên trong là tấm yếm màu vàng tơ tằm, dưới mặc váy. Về sau để phù hợp với công việc lao động họ mặc áo cánh gài nút giữa, không có túi, vạt áo sau trùm mông và mặc quần, trên đầu dùng khăn vải màu sáng hoặc kẻ ô gập lại vắt lên đầu. Đến lễ hội thì mặc áo dài và chiếc khăn vuông gấp chéo góc quàng vai cũng được phụ nữ trung niên trang điểm thêm. Trong lễ cưới cô dâu, chú rể đều mặc áo dài (chú rể đội khăn đóng) chân đi hài Nam Định.
Đặc biệt, nhiều làng nghề thủ. công định hình và phát triển trên đất Thủ Dầu Một. Ở đây xuất hiện đội ngũ đóng thuyền và thợ mộc, các kiểu bàn tròn, tủ thờ, giường đi vào thơ ca “Qua rằm mười sáu trăng treo, Anh đóng giường lèo cưới vợ Lái Thiêu”. Cư dân người Việt ở Bình Dương vốn có tay nghề sơn mài và kỹ thuật khảm cừ từ miền Bắc, miền Trung vào được thể hiện trên tủ thờ, ghế tựa, tràng kỷ hương án… lần lượt khai thác thế mạnh ở vùng đất giàu chủng loại gỗ quý như gõ, cẩm lai, giáng hương…tạo nên một nghề độc đáo và nổi tiếng cho Bình Dương – có danh mộc đất Thủ “Ai về chợ Thủ hỏi chủ Thợ”. Một minh chứng của nghề là ngôi miếu Mộc Tổ ở Lái Thiêu, các làng nghề mộc ở Phú Thọ, Chánh Nghĩa…; làng sơn mài Bến Thế, Tương Bình Hiệp… là những cụm dân cư Việt lưu truyền những nghề thủ công độc đáo của tỉnh Bình Dương. Sau này, người Pháp cho mở trường Bá nghệ Thực hành Thủ Dầu Một năm 1901, nghề mộc càng có điều kiện phát triển trên cơ sở tiếp thu kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những trong nước mà còn cả thị trường ngoài nước.
Về dân số: Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cư dân Việt ở Bình Dương có 80.066 người (niên giám Địa chí Thủ Dầu Một của thực dân Pháp). Năm 1915, cư dân Việt có 89.318 người. Năm 1925, có 105.968 người Việt gốc Nam kỳ, 4.122 người Việt gốc Trung kỳ, Bắc kỳ…
Đến năm 1867, dân số có 1 .913 người Việt có đăng hộ tịch và 45.912 người Việt không được đăng hộ tịch. Người Việt ở Bình Dương còn có sự biến đổi khác, vào thời kỳ xuất hiện một đội ngũ công nhân cao su ngày càng nhiều theo nhu cầu mở rộng đồn điền cao su của thực dân Pháp trên địa bàn Thủ Dầu Một – Đông Nam bộ.
Thời kỳ cận hiện đại, mật độ dân số người Việt Bình Dương không ngừng thay đổi, luôn được bổ sung từ nhiều nguồn, nhiều nơi. Năm 1954, từ nguồn di cư người Việt từ các tỉnh phía Bắc vào, một số người Việt ớ miền Trung đến với chính sách “Dinh điền” của chế độ Sài Gòn trước năm 1975. Sau ngày giải phóng thống nhất đất nước,
nhân dân xiêu tán các nơi đã nhanh chóng hồi hương, lấp dần các khoảng trống ở các vùng Bến Cát, Tân Uyên, Dầu Tiếng… họ là một bộ phận dân cư đi kinh tế mới, khai hoang phục hóa. Dân số người Việt thời chống Mỹ đến năm 1998 là 468.146 người.
Ngày nay, Bình Dương một vùng đất năng động và phát triển mạnh về kinh tế các khu công nghiệp, thu hút hàng ngàn lực lượng công nhân khắp mọi miền đáp ứng nhu cầu việc làm. Số lượng dân cư luôn biến đổi theo sự phát triển cân bằng của xã hội. Cộng đồng cư dân người Việt ở Bình Dương trải qua nhiều sự đổi thay của lịch sử, nhưng họvẫn giữ vững truyền thống ”Uống nước nhớ nguồn”, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, sống chan hòa cùng chung tay xây dựng cuộc sống mới văn minh, giữ vững bản sắc dân tộc.
V.T.T.T
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Địa chí Sông Bé NXB Sông Bé, 1991.
2. Tạp chí xưa và nay – số 45B (11-1997)
3. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (1930-1975) – NXB Chính trị Quốc gia, 2003.
4. Bình Dương đất lành chim đậu – 1999
5. Bình Dương thời đổi mới NXB Thanh Niên.
6. Tư liệu thuyết minh Bảo tàng, 2005

Miếu Thiên Hậu (chùa Bà): Một tín ngưỡng dân gian của cộng đồng người Hoa ở Bình Dương


* NGUYỄN THỊ LAN

 Tín ngưỡng thờ bà Thiên Hậu hay còn gọi là Thiên Hậu Thánh Mẫu vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc, các nhóm người Hoa di cư sang làm ăn, sinh sống ở xứ ta, tập tục tín ngưỡng và lễ hội của nó được ‘ưu truyền sang Việt Nam khá lâu đời. Các miếu cung thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu có mặt khắp từ Bắc chí Nam, nhất là những trung tâm thương mại lớn thời trước nơi có nhiều người Hoa định cư, làm ăn buôn bán như: Thiên Hậu cung ở Phố Hiến (Hải Hưng đền thờ ở phía đông thành Hà Nội, chùa Bà ở Hội An, các chùa cúng thờ thần nữ từ duyên hải Trung bộ vào đến Đồng Nai, Gia Định xuống tận Cà Mau, Hà Tiên. Chùa Bà “Thiên Hậu cung” ờ Thủ Dầu Một (Bình Dương) là một cơ sở tín ngưỡng được ra đời trong trường hợp tương tự, gắn bó với quá trình định cư của cộng đồng người Hoa trên vùng đất này.

Tư liệu lịch sử cho biết, năm 1679 hơn 3.000 binh dân người Hoa được phép vào định cư ở Bàn Lăng (Biên Hòa) và Mỹ Tho (Tiền Giang). Năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh theo lệnh chúa Nguyễn vào Nam lập phủ Gia Định, lấy đất Đồng Nai lập huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lấy đất Sài Gòn lập huyện Tân Bình dựng dinh Phiên Trấn thì “Con cháu người Hoa ở Trấn Biên lập thành xã Thanh Hà ở Phiên Trấn lập thành xã Minh Hương”. Dựa vào cứ liệu này chúng ta đoán định rằng: Nhóm người Hoa Thanh Hà ở Biên Hòa và sau đó tập trung đông nhất là Cù lao Phố, đã dần dần phân tán qua các thôn làng khác, trong đó có Tân Uyên Lái Thiêu, Chòm Sao, Bà Lụa… Đoán định này cơ sở lịch sử của nó và đặc biệt có phần phù hợp với thực tế là bốn địa điểm trên bốn vùng tụ quan trọng của cộng đồng người Hoa ở Bình Dương. Tuy nhiên, qua điều tra thực tế từ các gia đình người Hoa cố cựu vùng Phú Cường, Thủ Dầu Một, chúng ta thấy rằng số lượng người Hoa đến lập nghiệp ở đây rất sớm vào nửa sau thế kỷ XIX, hậu quả là do cuộc chiến tranh nha phiến: gây một tình trạng bất ổn cho cả vùng Đông Nam Trung Hoa.
Miếu Thiên Hậu ở thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, được thành lập vào giữa thế kỷ XIX, nằm trên bờ rạch Hương Chủ Miếu. Năm 1880, người Hoa xin phép xây thêm nhà túc. Đầu thế kỷ XX (1923), miếu được di dời về vị trí hiện nay (nằm cạnh trường Phú Cường 2, đường Nguyễn Du). Dân gian vẫn quen gọi là chùa Bà Thủ Dầu Một.
Chùa nằm trên một diện tích khá lớn, được xây theo lối kiến trúc của người Hoa, với mái ngói ống, diềm mái màu ngọc thạch và hai con rồng được trang trí trên đỉnh mái theo mô típ “lưỡng long trân châu”. Cổng vào chùa được sơn đỏ, đưa khách đi qua một khoảng sân rộng. Nơi góc sân có tháp nhỏ dùng để đốt giấy tiền vàng bạc khi cúng. Bàn thờ Thiên Phụ Địa Mẫu được đặt trước cửa ra vào với hai rồng chầu hai bên. Sân miếu cũng là nơi sinh hoạt của thanh thiếu niên người Hoa. Hai con lân được tô màu rực rỡ chào đón khách ở hai bên lối đi vào miếu.
Miếu được cấu trúc khá rộng, với 3 dãy nhà liền nhau theo hình chữ Tam gồm tiền điện, trung điện, chánh điện. Hai bên cửa vào có bàn thờ Môn Quan và Thổ Thần. Trên trần của gian tiền điện luôn có hàng chục vòng nhang hình nón nghi ngút cháy, hun đen và làm bóng thêm các vì kèo, ngói và hàng cột chống đỡ miếu. Vì kèo giả thủ, được cấu trúc ở cả ba gian. Hàng cột nào cũng có câu đối vàng nổi hẳn lên trên nền gỗ nâu đen bóng. Tại ba gian chính đặt ba bàn thờ ngang nhau. Bàn nào cũng có hoành phi, trang thờ và tượng cốt mặc áo rực rỡ. Tượng bà Thiên Hậu được đặt trang trọng tại bàn giữa. Hai bên bàn thờ bà Ngũ Hành và Ông Bổn, Bà Bổn. Tám nghi trượng dựng dọc hai bên tượng cùng với kiệu Bà dùng trong ngày lễ vía. Tại đây cũng đặt chuông trống. Năm bàn thờ được đặt ngang từ ngoài vào, được chạm khắc khá tinh xảo. Có bàn trang trí hình nhân bát tiên và cẩn ốc. Ở các dãy bàn này, vào ngày lễ vía Bà, heo sống, heo quay, trái cây, bánh ngọt… được đặt lên dâng cúng. Bức hoành phi treo trước trang thờ Bà ghi bốn chữ Hán: “Hải quốc từ vân”.
Đối tượng thờ chính ở cơ sở tín ngưỡng này là Thiên Hậu Thánh Mẫu. Thiên Hậu Thánh Mẫu là cô gái họ Lâm, quê ở Châu Mỹ, huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến. Cuộc đời cô gái này khá ngắn ngủi (sinh năm 1104 mất năm 1119 lúc 16 tuổi). Tương truyền cô gái họ Lâm đắc đạo tái thế, hiển lộng thần thông cứu người bị nạn trên biển nên được nhà Tống phong Phu nhân rồi các triều đại kế tiếp phong phi, Thiên Phi, Thánh Phi, mãi đến đời Khang Hy nhà Thanh thì được phong là Thiên Hậu.
Thiên Hậu được xem là Thần phù hộ cho người đi biển, người Hoa thường gọi là “A Phó” (có nghĩa là mẹ nuôi), hoặc “Đại Mẫu”. Thiên Hậu Thánh Mẫu cũng được coi là thần bảo hộ giới nữ, phù hộ cho công việc làm ăn buôn bán và trong chừng mực khá phổ biến là thần tài thần lộc. Điều này giải thích các hình thức cầu tài cầu lộc biểu hiện trong lễ hội chùa Bà vào ngày rằm tháng giêng – lễ Thượng nguyên.
Ngày rằm tháng giêng – ngày rằm đầu năm, gọi là Thượng nguyên. Đó là ngày đi lễ chùa của tín đồ tôn giáo “Đi lễ chùa quanh năm không bằng đi lễ vào ngày rằm tháng giêng”. Đối với quan niệm coi ngày này là Thượng nguyên thì gốc từ quan niệm dịch lý, theo vòng luân chuyển của thời gian lớn Đại kiếp là thượng nguyên sẽ chuyển sang Trung nguyên và đến Hạ nguyên, hết Hạ nguyên thì quay trở ngược lại thời Thượng nguyên mới (ở Nam bộ gọi “nguyên” là “nguơn”), vận dụng quan niệm này vào vòng luân chuyển của tiết thứ trong năm thì rằm tháng giêng là Thượng nguơn, răm tháng bảy là Trung nguơn, rằm tháng mười là Hạ nguơn. Theo đó’ rằm tháng giêng là ngày lễ Thiên Quan tấn phước (tiến phúc), rằm tháng bảy là lễ Địa Quan giải ách và rằm tháng mười là lễ tạ ơn Thủy Quan Điều này chỉ ra rằng, tập hợp các lễ Tam nguyên là thuộc phạm trù nghi lễ của tứ thời (tam nguyên tứ quý) tức gắn với mùa vụ của hoạt động sản xuất nông nghiệp, đó là quan niệm chung của Trung Quốc và các quốc gia Hán hóa ở Đông Á.
Hàng năm, vào ngày rằm tháng giêng âm lịch Ban quản trị miếu đều tổ chức vía Bà. Hội lễ được khai mở rất long trọng với nhiều nghi thức. Đông đảo người Việt, người Hoa từ khắp nơi đổ về lễ bái, cầu phước, lộc, thọ, rước kiệu Bà. Cao điểm của lễ hội bắt đầu vào đêm 14. Đường vào chùa chật như “nêm cối”. Đa số khách hành hương từ TP.HCM và các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước… Tham dự lễ hội nhộn nhịp nhất có lẽ là gian đấu thầu đèn lồng gây quỹ nhằm làm việc công ích (phát triển y tế giáo dục, văn hóa, xã hội) cho cộng đồng và địa phương. Có đến 12 đèn lồng tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Những chiếc đèn lồng to được tạo tác công phu và mỹ thuật. Mỗi đèn đều có câu thơ khác nhau tạo thành một hàng dài trước sân chùa đập vào mắt người xem hội rất ấn tượng.
Trong những năm gần đây, Ban tổ chức có cho đấu giá chiếc lư hương đặt trước hương án chính điện. Ai trúng thầu sẽ được đặc quyền thỉnh chiếc lư hương này đặt trên kiệu Bà trong lễ rước. Người đấu thầu nói chung, ngoài niềm tin được Thánh Mẫu phù hộ, họ còn lấy làm vinh dự về sự đóng góp hào phóng của mình đối với việc công ích cho cộng đồng, cho xã hội.
Lễ bái của bá tánh tứ xứ: Các khách đến lễ bái nhân dịp lễ này lên đến hàng vạn người bao gồm dân chúng từ khắp các tỉnh thành ở Nam bộ. Do đó, trên sân chùa rộng khoảng 600m2, hàng trăm ngàn người đến lễ bái xin lộc hay cúng tạ ơn Bà đã phù hộ cho họ gặt hái được thành công trong năm qua. Lễ vật dâng cúng nói chung là tùy từng người không có lệ phân biệt vật phẩm là thực vật hay động vật.
Lễ rước cộ Bà: Được tiến hành sau lễ đấu giá lồng đèn. Các đội múa lốt (hẩu, lân, rồng, sư tử) vài chục con lần lượt từ phía tam quan kéo vào sân biểu diễn để chúc tụng Bà, hầu Bà. Trong những năm gần đây, ngoài các đội múa lốt còn các đoàn “sân khấu hóa”, thầy trò Tam Tạng -Tôn Ngộ Không, Trừ Bát Giới, Sa Tăng và Bát Tiên tham dự trình diễn ở đây và trong đám rước.
Đám rước mở đầu lúc 14 giờ hoặc 15 giờ xuất phát từ chùa Bà, qua các con đường chính trong thị xã rồi trở lại chùa vào lúc 18 giờ cùng ngày. Đoàn đi đầu lễ rước với sắc phục chỉnh tề, theo sau hàng trăm người. Tiếng trống, phèng la, bên cạnh đội hẩu, lân, rồng… các thiếu nữ gánh hoa tươi cười, duyên dáng, trẻ trung… càng làm tăng thêm sự sôi động của ngày hội Xuân tại chùa Bà. Trên đường cộ Bà đi qua, nhiều gia đình bày hương án (chiếc bàn nhỏ) ra trước hiên nhà hay ngoài sân, ngoài cổng để nghênh đón kiệu Bà. Khi cộ Bà qua khỏi thì chủ nhà cho đốt pháo (đó là tập tục cũ trước khi có chỉ thị cấm đốt pháo). Ý nghĩa của việc rước cộ Bà là để “Bà thăm viếng dân tình” và để bá tánh chiêm bái, cầu phúc Thực ra, những cuộc rước thần thánh nói chung ở các đình, chùa, miếu mạo… là cách đưa sự linh thiêng vào cuộc sống, tạo sự kết nối giữa thánh thần với đời thường, là dịp để mọi người vui chơi, giải trí trong không khí tín ngưỡng dân gian như mọi hội hè, đình đám của truyền thống văn hóa dân tộc.
Lễ hội “chùa Bà” Bình Dương là một lễ hội truyền thống hấp dẫn. Tuy nhiên, cần chống hiện tượng “ký sinh” lễ hội như xin xăm, xóc quẻ, ăn xin… Riêng tiết lễ “vay tiền Bà” (tượng trưng) có nhiều ý kiến khác nhau: Có người cho đây là nguồn động viên tinh thần, động viên tâm lý người sản xuất, người kinh doanh… Còn bộ phận khác lại cho đây là lừa bịp và đề nghị loại bỏ. Quan điểm văn hóa là phải tìm cho được ranh giới mong manh giữa mê tín dị đoan và tín ngưỡng để xử lý. Ranh giới đó chính là mục đích, là tác dụng của vấn đề. Việc “vay tiền Bà” xét cho cùng thì không ảnh hưởng gì đối với cộng đồng. Do đó, có thể tồn tại dưới dạng “vật thiêng” có ý nghĩa kích thích sự hưng phấn người đi lễ về mặt tâm lý và cũng để tạo “sự tái sinh” cần thiết nào đó…
Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu ở Phú Cường, Lái Thiêu, Búng, Bưng Cầu của tỉnh Bình Dương là một ngày hội có quy mô lớn và phạm vi ảnh hưởng của cả vùng Đông Nam bộ nói riêng và Nam bộ nói chung. Lễ hội này tuy là lễ cúng Bà Thiên Hậu nhưng thực tế đã trở thành ngày hội Xuân – một lễ hội Thượng nguyên mang ý nghĩa cầu phước đầu năm. Nó đặt trọng tâm vào việc thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng – tâm linh không chỉ có ý nghĩa đối với người Hoa mà còn cả với người Việt. Lễ hội đã tạo không khí tăng cường tình đoàn kết gắn bó cộng đồng và trở thành nét văn hóa chung của dân tộc Việt Nam.
N.T.L
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sông Bé – Di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh
(chào mừng 20 năm giải phóng miền Nam 30.4. 1975- 30.4. 1995).
2. Tạp chí xưa và nay của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam (số 45b – 11-1997),
3. Tiến sĩ Trần Hồng Liên. Văn hóa người Hoa ở Nam bộ tín ngưỡng và tôn giáo. NXB Khoa học xã hội, năm 2005.
4. Vũ Ngọc Khánh. Văn hóa Việt Nam – những điều học hỏi. NXB Văn hóa – Thông tin, năm 2004.

Bước đầu tìm hiểu về cộng đồng người Hoa Phước Kiến ở phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương


Phát – Đỗ Tiên

Hiện nay ở phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một có 2.780 người Hoa đang sinh sống, trong đó hầu hết là người Hoa đến từ huyện An Khê – Phước Kiến- Trung Quốc.

An Khê là một huyện miền núi nghèo nàn lạc hậu. Thời phong kiến vùng quê này luôn xảy ra cảnh “bán vợ đợ con”, cuộc sống kham khổ, đói rét. Một số người bất nhẫn trước cảnh bị áp bức, nghèo hèn đành rời bỏ quê hương đi tìm nơi làm ăn sinh sống. Họ lên tàu đến những đất nước lân cận, trong đó có Việt Nam. Những người tiên phong đến định cư tại Chánh Nghĩa ngày nay có lẽ chỉ vào khoảng thế kỷ XIX, muộn hơn so với Biên Hòa và Sài Gòn. Bởi vì căn cứ vào thời gian lập miếu xưa nhất là miếu Thiên Hậu khoảng giữa thế kỷ XIX. Và, lò gốm xưa nhất ở Chánh Nghĩa cũng được xây dựng khoảng giữa thế kỷ XIX. Đó là lò Vương Lương ở khu vực Bà Lụa ngày nay. Tuy nhiên, dòng chảy di dân An Khê (Ta) Sang Chánh Nghĩa nhiều nhất khoảng đầu thế kỷ XX, mà cao trào là từ những năm 1930 đến 1948. Thời kỳ mà Trung Quốc có nhiều biến động lịch sử. Chế độ phong kiến đã bị lật đổ bởi cuộc cách mạng của Quốc Dân đảng. Nhưng khi lãnh đạo Tôn Trung Sơn mất năm 1925, Tưởng Giới Thạch đã phản bội tư tưởng của Tôn Trung Sơn và xảy ra sự đối đầu với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nội chiến lại xảy ra, tình hình hỗn loạn, thổ phỉ phá quấy, trộm cắp, cướp bóc liên miên. Vùng đất nghèo càng thêm nghèo, trốn sự lam lũ đói rách, trốn bị bắt lính, trốn sự bất ổn của xã hội, họ rời bỏ quê hương ngày càng nhiều. Những người đi trước bắt đầu đón những người thân trong gia đình, bà con trong tộc họ, xóm giềng, bạn bè… lần lượt di dân sang hợp thành một cộng đồng người Hoa đông đúc như ngày nay.
Người Hoa ở Chánh Nghĩa đa phần là họ Lý, họ Vương và một số ít họ khác. Ban đầu họ đến vùng đất mới làm thuê để sinh sống, chủ yếu là làm thợ lò gốm. Từ hai bàn tay trắng, qua thời gian làm việc cật lực cộng với chiến thủ cao, có một số người đã xây dựng lò gốm để làm chủ. Khu vực Chánh Nghĩa có địa hình và địa thế thuận lợi để đắp lò làm gốm. Thế là các lò gốm dần dần mọc lên bên cạnh khu vực Lái Thiêu, Chòm Sao, Tân Khánh… năm 1910 ở Phú Cường (khu vực Chánh Nghĩa ngày nay lúc bấy giờ thuộc làng Phú Cường) đã có 14 lò gốm, cho đến nay ở phường Chánh Nghĩa đã có gần 100 lò gốm. Người Phước Kiến ở Chánh Nghĩa chỉ một số ít làm các nghề khác như buôn bán, rang xay cà phê còn thì đa số làm thợ lò gốm.
Gốm Chánh Nghĩa chủ yếu là gốm gia dụng như chén, tô, dĩa, thố, lu, khạp… phong cách thô sơ, mộc mạc không có nét cầu kỳ, tinh tế như gốm Lái Thiêu. Khu vực tập trung các lò gốm trải trên một diện tích rộng. Vì vậy, nơi đây còn có địa danh là Lò Chén. Các tên gọi “khu lò chén”, “ngã ba Lò Chén” vẫn còn tồn tại cho đến nay. Gốm Chánh Nghĩa cũng đã góp phần tạo nên sự thăng hoa của gốm Bình Dương trên khắp cả nước, trở thành một trong các ngành nghề truyền thống đặc trưng của Bình Dương.
Người Hoa khi rời bỏ quê hương, tài sản mang theo có thể rất ít. Nhưng với bản tính cần cù nhẫn nại, chịu khó, họ đã tạo nên cơ ngơi sung túc trên quê hương thứ hai này.
Khu vực Lò Chén dân cư ngày càng đông đúc. Người Hoa ở đây hòa nhập khá tự nhiên vào cộng đồng người Việt. Tuy nhiên, họ vẫn luôn giữ những nét đặc sắc trong văn hóa của dân tộc mình.
Ở bất cứ cộng đồng người nào, khi nhập cư sinh sống trên một vùng đất nào đó, họ đều mang theo truyền thống tín ngưỡng của mình. Người Hoa cũng vậy. Nhất là trong buổi đầu định cư, họ vừa trải qua những ngày sóng gió lênh đênh trên biển nhiều gian nan, trắc trở, thì khi đến vùng đất mới được bình an vô sự, họ đều hướng về các thần linh để tạ ơn. Họ lập nên những miếu thờ dù ban đầu chỉ là những gian nhà lá đơn sơ để thờ những vị thánh mà họ cho là hiển linh đã cứu giúp họ.
Thiên Hậu Thánh Mẫu là một điển hình. Xuất xứ từ châu Mi, huyện Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, cô gái họ Lâm tương truyền là người đắc đạo, hiển ứng thần thông cứu người bị nạn trên biển. Hầu hết lưu dân người Hoa ra đi bằng đường biển nên họ rất tôn thờ Bà. Không chỉ riêng người Phúc Kiến, Hoa kiều ở bất cứ nơi đâu đều lập miếu thờ Bà.
Ở khu vực Chánh Nghĩa, vào năm 1867, những người Phước Kiến đã lập ngôi miếu thờ Thiên Hậu trên bờ rạch hương chủ Hiếu, năm 1871 miếu được tôn tạo, đến năm 1880 họ xin chính quyền cất thêm nhà hội. Sau khi miếu bị cháy, năm 1923 miếu được di dời về địa điểm đối diện vòng xoay ngã sáu, bên cạnh trường tiểu học Nguyễn Du hiện nay, đó là thiên Hậu cung, nhân dân quen gọi là chùa Bà Thủ Dầu Một. Miếu dù có nguồn gốc đầu tiên là do những người Phước Kiến lập, nhưng sau đó cả bốn bang người Hoa Phước Kiến, Triều Châu, Quảng Đông và Sùng Chính đã chung sức xây dựng, tôn tạo, quản lý và tổ chức lễ hội long trọng đầy màu sắc vào ngày Rằm tháng giêng hàng năm. Lễ hội này trở thành lễ hội truyền thống thu hút hàng triệu lượt người từ khắp nơi đổ về không chỉ người Hoa mà người Việt cũng tụ hội chung vui.
Ngoài việc chung sức giữ gìn truyền thống lễ hội rằm tháng giêng của Thiên Hậu cung, người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa còn có truyền thống thờ cúng những vị nam thần mà những nơi thờ tiêu biểu là Phước võ điện và Phước An miếu, dân quanh vùng quen gọi là chùa ông Bổn.
Phước điện thờ Huyền Thiên Thượng Đế, được những người họ Vương xây dựng khoảng năm 1885, hiện tọa lạc tại khu 9, phường Chánh Nghĩa. Huyền Thiên Thượng Đế là một vị thần do Thượng Đế phân thân, còn được gọi là Chân Vũ hoặc Chân Võ. Theo truyền thuyết, ngài có hai tướng rùa và rắn (Vui – Xà tướng quân) phụ trợ cùng với 36 tướng khác tuần du về phương bắc để trấn áp, thu phục tà ma cứu người lương thiện, cuộc tuần du đó gọi là Bắc du Chân Võ. Lễ hội Phước Võ điện tổ chức vào 2 ngày 24 và 25-2 âm lịch. Cứ 4 năm mới đáo lệ một lần do có sự luân phiên tổ chức của nhóm họ Vương các nơi khác. Đó là các miếu thờ:
– Ngọc Hư cung ở khu 7, thị trấn Lái Thiêu.
– Phước Thọ đường ở xã Hưng Định, huyện Thuận An.
– Phước Nghĩa đường ở Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên. Huyền Thiên Thượng Đế lần lượt được thỉnh về tạm trú mỗi nơi một năm. Ngài ở nơi nào thì nơi đó tổ chức lễ hội. Chương trình lễ hội cả bốn nơi đều giống nhau. Phần chính của lễ hội là nghi thức rước kiệu Huyền Thiên Thượng đế, Nam triều Đại Đế, Phật Bà Quan Âm đi tuần du suốt đêm quanh khu vực. Đám rước có sự hộ tống của hẩu, lân, sư, rồng rộn rã, tưng bừng. Trong lễ hội có hát hò Quảng thu hút rất đông cư dân quanh vùng.
Phước An miếu hiện tọa lạc tại khu 7, phường Chánh Nghĩa do người Hoa họ Lý lập năm 1882 thờ Thất phủ Đại nhân các vị họ Lực, Chu, Quách, Tiêu, Triệu, Lý và Châu. Tương truyền vào đời nhà Hán, có 360 sĩ từ đi thi đã tụ hội lại trong một căn hầm để đàn ca hát xướng. Tiếng ồn vang đến tai của trương Thiên Sư (Trương Đạo Lăng – tổ của thầy pháp) ông nổi giận bèn lừa vua lấy chiếu chỉ rồi đọc than chú cho sụp hầm giết chết 360 người. Oan hồn các sĩ tử cứ báo mộng kêu oan với nhà vua. Khi biết rõ sự tình, vua bèn phong cho các sĩ tử bị chết oan mỗi người là Đại nhân của phủ họ. Người họ nào thì thờ đại nhân họ đó. Tìm hiểu từ những người cao tuổi thì ở quê hương An Khê của họ Lý đã có miếu thờ thất phủ đại nhân từ lâu đời. Khi sang định cư tại Chánh Nghĩa ngày nay người Hoa họ Lý cũng lập miếu thờ Thất phủ Đại nhân, trước tiên là để tạ ơn các vị thần đã phò trợ cho họ được an cư lạc nghiệp, sau đó là giải quyết nhu cầu tinh thần, an ủi những người xa xứ luôn nhớ và tiếp nối truyền thống tín ngưỡng từ cố hương.
Hàng năm vào ngày 16 tháng giêng, Phước An miếu tổ chức lễ rước kiệu ông tuần du suốt ngày suốt đêm quanh khu dân cư. Từng gia đình hoặc một nhóm gia đình bày chung hương án, bánh trái bên đường đón đám rước có thầy pháp làm lễ cúng cầu ông giải trừ tà ma, phù hộ cho gia đình làm ăn phát đạt, an khang thịnh vượng… hộ tổng đám rước cũng không thể thiếu hẩu, lân, sư, rồng với trống chiêng, chập chả âm thanh rộn ràng vang xa hàng cây số.
Ngoài lễ rước kiệu ngày 16 tháng giêng hàng năm, cứ 3 năm Phước An miếu tổ chức lễ hội một lần vào 3 ngày từ 12 đến 14-8 âm lịch. Trong lễ hội có thầy pháp tụng cúng, có hình thức lên đồng xỏ xiên quai (một thanh sắt tròn dài xỏ xiên qua 2 má cạnh mép miệng) và chủ yếu là hát cúng hò Quảng với nhiều tuồng tích. Cũng như lễ hội ở Phước Võ điện, lễ hội ở Phước An miếu thu hút rất đông người.
 
Ngoài 2 ngôi miếu thờ Ông kể trên, người hoa ở Chánh Nghĩa còn có miếu thờ Phật Bà Ouan Âm gọi là Bích Liên đình tọa lạc tại khu 7, phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một. Việc thờ Quan Âm tại đây không mang theo nghi thức Phật giáo. Cũng giống như Thiên Hậu Thánh Mẫu, người Hoa cho rằng Phật Bà Quan âm là vị cứu nạn, cứu nguy cho người trên biển. Ở đây bên cạnh Phật Bà còn kết hợp thờ các vị Tam Thánh (Quan Công, Quan Bình, Châu Xương), Hồng Hài Nhi, Hà Tiên Cô, Na Tra và Bảo Sanh Đại Đế. Mỗi khi Phước An miếu tổ chức rước kiệu hoặc lễ hội đều thỉnh Phật Bà với các vị thờ ở Bích Liên đình lên Phước An miếu cùng tuần du, cùng chứng giám lễ hội.
Nói đến lễ hội và tín ngưỡng của người Hoa ở Chánh Nghĩa không thể không nói đến nghi thức múa hẩu. Đó là một hình thức múa lốt đặc trưng của người Hoa Phước Kiến ở Bình Dương mà không có nơi nào có kể cả ở TP.HCM. Cái lốt con hẩu có đầu là chiếc mặc nạ tròn rất hung tợn, được vẽ nhiều màu sắc, quanh đầu râu ria xồm xoàm gắn với thân là một tấm vải màu vàng rực, rộng và dài khoảng 3 – 4m. Đuôi là đuôi thật của trâu hoặc bò phơi khô cột chặt vào phần cuối cùng của tấm vải. Múa hẩu cũng có 2 người múa đầu và múa đuôi nhưng khác hẳn với múa lân hoặc sư tử bởi vì hẩu không trèo leo, nhún nhảy theo kiểu vui chơi. Hình thức cơ bản khi múa hẩu là đầu rướn lên cao, xoay mặt qua lại, lúc thì co lượn, trườn dài, lăn tròn xuống đất. Múa hẩu biểu diễn trong lễ cúng ở Phước An miếu và các lễ vía Huyền Thiên Thượng Đế chứ không biểu diễn để vui chơi hội hè. Về sau khi kết hợp tổ chức lễ hội Thiên Hậu Thánh Mẫu, hẩu cũng tham gia rước Bà du xuân.
Theo tín ngưỡng Đạo giáo, không biết nguồn gốc từ đâu, các bang hội người Hoa ở Bình Dương đều công nhận mỗi bang có một cốt con vật riêng (trong can chi). Người Phước Kiến cốt con hổ, Triều Châu cốt con ngựa, Quảng Đông cốt con dê và Sùng Chính cốt con chó. Do đó, khi xếp đội hình rước kiệu Bà Thiên hậu du xuân thì nhất định các con hẩu luôn luôn đi đầu. Vì người Hoa cho rằng hẩu đại diện người Phước Kiến cũng tức là hổ nên cần phải đi đầu để dẹp đường cho Bà du xuân, nếu hẩu đi sau sẽ ăn hết những con vật (ngựa, dê và chó kể trên) đi trước, như vậy người Hoa các bang khác sẽ không được thuận lợi trong công việc làm ăn.
Như vậy, hẩu là một linh vật, múa hẩu là nghi thức thờ các gia đình người Hoa. Những người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa luôn mở rộng cửa đón hẩu và nhà múa lễ trong những ngày đầu xuân.
Về phong tục tập quán, người Hoa Phước Kiến Chánh Nghĩa vẫn duy trì tục dán liễn đỏ trong các dịp Tết, cưới hỏi, tang ma… Cũng như tất cả người Hoa nói chung, người Phước Kiến rất chuộng màu đỏ, hoa cho màu đỏ là màu may mắn, hạnh phúc. Trong các lễ hội hoặc các lễ cúng khác người Phước Kiến thường nhuộm trứng vịt màu đỏ để thỉnh lộc miếu ông hoặc cúng lễ đầy tháng, thôi nôi. Khi thôi nôi hoặc đầu tháng, người Phước Kiến vẫn còn giữ phong tục làm bánh nếp (gần giống với kiểu bánh ít trần của người Việt ở Nam bộ) bột pha màu đỏ và trứng vịt cũng nhuộm đỏ đem cho các gia đình xung quanh và bà con bạn bè thân thuộc.
Nhìn chung, trong quá trình cộng cư lâu dài với người Việt, sự giao thoa văn hóa thường xuyên xảy ra, người Việt lâu dần cũng có một vài nếp nghĩ theo tập quán của người Hoa. Người Hoa cũng vậy, nhưng những biểu tượng có tính đặc trưng của mỗi tộc người luôn luôn tồn tại một cách riêng biệt không hề lẫn lộn.
 Ngày nay, cộng đồng người Hoa ở Việt Nam là một trong 54 dân tộc trong đại gia đình cộng đồng dân tộc Việt Nam. Thuở ban đầu từ Trung Quốc sang làm ăn sinh sống, họ là những “Hoa kiều” dần dần đã trở thành những công dân Việt Nam. Thế hệ con cháu họ là thế hệ người Việt Nam nhưng cội nguồn văn hóa tín ngưỡng là cội nguồn văn hóa Trung Hoa mà ngày nay đã tạo thành những cành lá sum sê trong vườn văn hóa Việt Nam. Những thành tựu về mặt kinh tế, những đóng góp về mặt xã hội của người Hoa đã góp phần tạo nên sự bền vững cho Tổ quốc Việt Nam, quê hương thứ hai của họ.
Người Hoa Phước Kiến ở Chánh Nghĩa nói riêng và người Hoa ở Bình Dương nói chung đã góp phần không nhỏ trong những thành tựu về kinh tế – văn hóa- xã hội của tỉnh nhà.
L.P -ĐT
CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Các tài liệu điền dã cá nhân.
Địa chuông Bé. NXBTH Sông Bé năm 1991
Trần Hồng Liên: Văn hóa người hoa ở Nam bộ tín ngưỡng và tôn giáo. NXBKHXH.
– Sở VH-TT tỉnh Bình Dương: Sơ khảo về tín ngưỡng, lễ hội dân gian và truyền thống tỉnh Bình Dương.  Lưu hành nội bộ tháng 5-1998.