Thị xã Thủ Dầu Một – Vùng đất phương Nam


This slideshow requires JavaScript.

Ít ai tưởng tượng được rằng sự thay đổi của một vùng đất, từ chỗ xa xôi, vắng vẻ trở thành đô thị sầm uất, nhộn nhịp, ngập tràn sức sống chỉ diễn ra trong vòng mấy năm. Giờ đây hình ảnh của một đô thị hiện đại hòa quyện với những nét văn hóa truyền thống chẳng còn xa lạ đối với du khách trong và ngoài nước. Thị xã Thủ Dầu Một, vùng đất phương Nam đang thực sự trở nên cuốn hút, hấp dẫn mọi người.

Để đánh giá sự phát triển của một đô thị thì có lẽ chỉ cần nhìn ngắm phong cảnh khi chiều tắt, ánh sáng của đèn đường rực rỡ khắp muôn nơi. Kể từ khi tái lập tỉnh Bình Dương cho đến nay, với vị trí thuận lợi là trung tâm chính trị văn hoá xã hội của tỉnh, thị xã Thủ Dầu Một đã được chú trọng đầu tư phát triển về mọi mặt, đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ tầng. Nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km, trên quốc lộ 13, tuyến đường Bắc – Nam thị xã đã trở thành một đầu mối giao lưu buôn bán quan trọng. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn ở mức cao, hơn 11%, cơ cấu kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ, thị xã đang có những bước chuyển đổi không ngừng.
Là một vùng đất nổi tiếng phương Nam với những nghề thủ công truyền thống được người di cư miền Bắc xây dựng nên, thị xã Thủ Dầu Một được biết đến như một cái nôi của nghề gốm sứ, sơn mài và điêu khắc gỗ với một phong cách đặc trưng riêng. Giờ đây khi nghề làm gốm sứ đã được quy hoạch đưa ra ngoài thị xã thì nghề làm điêu khắc gỗ, sơn mài dường như có điều kiện được chăm chút phát triển hơn. Với quy trình công việc theo hướng chuyên môn hoá cao, mỗi công đoạn điêu khắc gỗ được một nhóm thợ thực hiện nên tốc độ tiêu thụ sản phẩm làm ra rất cao, đáp ứng ngay nhu cầu của thị trường. Hiện nay sản phẩm điêu khắc gỗ thông dụng là những tượng tròn, đồ gia dụng và các vật dụng trang trí đủ kiểu dáng. Nắm bắt được thị hiếu khách hàng đó là sự nhanh nhạy của những người làm nghề điêu khắc gỗ. Sản phẩm làm ra giờ đây không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn được tiêu thụ mạnh ra thị trường nước ngoài với những đơn đặt hàng lớn, có giá trị kinh tế cao. Với việc chia ra nhiều công đoạn khác nhau: khắc chạm, đánh bóng, mài dũa, phun sơn… công việc của người thợ trở nên thuận tiện. Nhờ đó những sản phẩm gỗ điêu khắc làm ra tinh xảo hơn và đẹp hơn. Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống mang dấu ấn của vùng đất Thủ Dầu Một ngày càng có nhiều uy tín trên thị trường. Từ lâu người ta đã biết đến vùng đất nơi phương Nam xa xôi này không chỉ có các cơ sở sản xuất sơn mài nổi tiếng như: Thành Lễ, Sông Đồng mà còn có cả một làng nghề làm tranh sơn mài, đó là làng sơn mài Tương Bình Hiệp.
Giờ đây do sự phát triển của nhiều loại sơn ngoại đa dạng về màu sắc đã làm cho sản phẩm sơn mài trở nên phong phú hơn. Tuy nhiên vẫn còn có những cơ sở làm tranh sơn mài theo kiểu truyền thống. Trong số đó được biết đến nhiều nhất là cơ sở sản xuất tại gia đình của bác Tám Khiêm, một người đã có hơn 50 năm lăn lộn với nghề. Có lẽ làm tranh sơn mài theo kiểu truyền thống là phức tạp hơn cả nhưng bù lại chất lượng tranh dường như càng để lâu càng tốt. Để sản xuất ra một sản phẩm hoàn chỉnh từ gỗ nguyên liệu đến khâu cuối cùng phải trải qua quá trình lên tới hơn 25 công đoạn. Công việc của mỗi công đoạn lại đòi hỏi phải có nghệ thuật riêng, vừa tỉ mỉ lại vừa công phu. Có công đoạn phải làm đi làm lại nhiều lần mới đạt yêu cầu. Để hoàn thành một tác phẩm sơn mài truyền thống sử dụng chủ yếu chất liệu sơn ta, thời gian có thể lên đến 5, 6 tháng, lâu hơn rất nhiều so với việc sử dụng chất liệu hiện đại. Trải qua nhiều thế hệ, nghề sơn mài nơi đây vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, đó là sự tinh xảo nhẹ nhàng thanh thoát, đậm đà tính cách Á Đông. Ngày nay khách trong và ngoài nước có thể đến đặt mua và yêu cầu chuyển đến bất kỳ nơi đâu các loại sản phẩm sơn mài như: bàn ghế, tủ, bình, tranh… Khách đến với gia đình bác Khiêm đều hiểu rằng để có những tác phẩm sơn mài thật sự chất lượng, độ bền cao không thể vội vàng. Và những tác phẩm sơn mài có chất lượng sẽ luôn được khẳng định bởi thời gian.

Kiên trì với cách làm của mình, gia đình bác Khiêm không chỉ góp phần tôn vinh vẻ đẹp của sơn mài truyền thống mà còn khẳng định làm tranh sơn mài theo cách truyền thống vẫn có chỗ đứng trên đất Thủ Dầu Một này. Sự phát triển nhiều chiều, đa dạng của nghề sơn mài Tương Bình Hiệp không chỉ là niềm tự hào của một làng nghề mà còn là di sản văn hoá đáng trân trọng của cả dân tộc ta.

Hơn 300 năm những người di cư đã đến đây khai phá, dựng nhà lập ấp, xây dựng cuộc sống ổn định lâu dài. Và cho đến hôm nay những ngôi đền, ngôi chùa có trên trăm năm tuổi vẫn được người dân nơi đây trân trọng giữ gìn, được du khách gần xa biết đến. Ớ ngay trung tâm thị xã Thủ Dầu Một có ngôi chùa Bà, thờ Thiên hậu Thánh mẫu được xây dựng vào giữa thế kỷ 19. Hàng năm lễ hội chùa Bà được tổ chức vào 3 ngày từ 13 – 15 tháng 1 Âm lịch, thu hút lên đến cả triệu người đến tham dự cúng lễ, cầu phúc, cầu lộc cho năm mới. Lễ hội chùa Bà Thủ Dầu Một giờ đây đã trở thành một lễ hội dân gian lớn với những nét văn hoá độc đáo nổi tiếng ở vùng Đông Nam Bộ.

Trong số những ngôi chùa ở Bình Dương thì chùa Hội Khánh là một ngôi chùa cổ thuộc diện lâu đời nhất ở xứ này. Chùa do Thiền sư Đại Ngạn xây dựng từ năm 1741. Chùa cũng đã được trùng tu, xây lại nhiều chỗ vì chiến tranh tàn phá. Vào giữa những năm 20 của thế kỷ 20 cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã từng đến đây cùng với hoà thượng Từ Văn để truyền bá tư tưởng yêu nước trong giới Phật giáo. Hiện chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ có giá trị nghệ thuật cao. Ngay gian chính điện có chiếc cửa võng trạm trổ công phu với hình ảnh 18 vị la hán đứng xung quanh Phật tổ. Hai bên tường của Chính điện có bộ tượng Thập điện Minh Vương và bộ Thập bát La Hán. Hơn 260 năm nay, chùa Hội Khánh đã trở thành danh lam của Thủ Dầu Một không chỉ đơn thuần nó là ngôi cổ tự có giá trị về kiến trúc nghệ thuật.

Hình ảnh Thị xã Thủ Dầu Một hôm nay khác xưa thật nhiều. 40 năm về trước nơi đây từng nổi tiếng với 2 nhà tù chủ yếu giam giữ tù chính trị. Nhà tù Phú Lợi nằm trong địa bàn thị xã nay đã trở thành di tích tố cáo những tội ác dã man của chính quyền ngụy. Dưới thời kỳ Ngô Đình Diệm nơi đây đã trở thành nhà tù lớn nhất miền Nam, ở đây lúc nào cũng có khoảng 5.000 đến 6.000 tù nhân. Ngày 1/12/1958 đã xảy ra vụ đầu độc tù nhân làm hàng trăm người trúng độc. Đảng ủy trong nhà tù đã kịp thời chỉ đạo giải độc cho anh em và tổ chức các tù nhân đấu tranh khi thấy địch không có ý định cứu chữa cho bệnh nhân. Kẻ thù đã điên cuồng đàn áp, đánh đập những người bị đầu độc, đày đi các trại giam khác và thủ tiêu các tù chính trị trong đêm 2/12 cho đến hết ngày 3/12, sự kiện này đã gây nên làn sóng phản đối trong nước và quốc tế. Và cho đến hôm nay ngày 1/12/1958 đã đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng kiên cường của tù nhân trong nhà tù Phú Lợi. Đó cũng là dấu mốc của lịch sử cách mạng tỉnh Bình Dương cũng như cả nước trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Dáng dấp của một đô thị hiện đại dường như đã xoá nhòa những dấu vết của đau thương và chiến tranh. Cái mà người dân nơi đây mong muốn gìn giữ nhất chính là những giá trị văn hoá được cha ông truyền lại. Nhà cổ trên đất Thủ Dầu Một hiện nay chỉ còn vài căn trong đó còn lại nguyên vẹn nhất có lẽ là nhà của ông Trần Công Vàng ở phường Phú Cường. Mái lợp âm dương, khá thấp so với lối kiến trúc hiện nay những bên trong lúc nào cũng thoáng mát nhờ bốn phía đều có cửa sổ. Vật liệu xây dựng chủ yếu là các loại danh mộc quý như sao, cẩm lai, gỗ mun, huỳnh đường… Tuy đã trải qua 4 đời với trên 1,5 thế kỷ, các vật dụng sinh hoạt gia đình hoặc trang trí hầu như còn giữ nguyên vẹn. Đáng chú ý là 3 bộ bàn ghế bành tượng khảm ốc xà cừ với mặt bàn là các phiến đá cẩm thạch, 3 bộ đèn Huê Kỳ lạ mắt bằng đồng có tuổi thọ trên 100 năm hiện vẫn đang sử dụng. Và rất nhiều những hiện vật cổ kính dùng cho việc gia đình hàng ngày đều được lưu giữ cẩn thận. Ngôi nhà giờ đây vẫn do gia đình quản lý với sự quan tâm giúp đỡ rất nhiều từ chính quyền địa phương cũng như của Bảo tàng tỉnh Bình Dương. Trong thời gian tới đây những ngôi nhà cổ này sẽ được trùng tu để mãi vẫn giữ lại một nét văn hoá đặc sắc của vùng đất Thủ Dầu Một.

Thủ Dầu Một vùng đất phương Nam xa xôi luôn sẵn sàng đón nhận bất kỳ ai muốn lập nghiệp, tìm cho mình một cuộc sống có tương lai tốt đẹp. Với tốc độ công nghiệp hoá nhanh, dần trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, dường như ở nơi đây làm bất cứ nghề gì cũng sống được. Nghề nuôi bò sữa phát triển ở đây cũng chưa lâu, cả thị xã có hơn 300 con bò sữa trong khi nhu cầu sữa tươi lại rất lớn. Gia đình ông Toại ở phường Chính Nghĩa cũng đã nuôi bò được mấy năm. Giờ đây ông có 20 con bò trong đó có 13 con đang cho sữa. Chỉ tính riêng tiền lãi từ việc bán sữa hàng ngày ông cũng thu về được hơn 200 nghìn. Hiện ông đang muốn mở rộng thêm chuồng trại, nuôi thêm bò và đưa năng suất sữa của đàn bò ngày càng tăng cao.

Sự thay đổi của thị xã Thủ Dầu Một trong những năm gần đây là một điều tất yếu. Vùng đất này có tất cả những điều kiện thuận lợi để trở thành một thành phố vệ tinh của thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai. Với những chính sách thông thoáng, chính quyền thị xã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương. Càng ngày càng có nhiều doanh nghiệp làm ăn phát đạt mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ra nhiều nước trên thế giới. Công ty chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc Kim Long đã phát triển hơn 10 năm nay. Hai vợ chồng ông Chung Kim chủ công ty đã lăn lộn, vất vả trong nhiều năm để sản phẩm thức ăn gia súc ngày càng đạt chất lượng cao, có chỗ đứng trên thị trường. Mạnh bạo, dám đầu tư lớn, công ty vừa triển khai một dây chuyền chế biến thức ăn gia súc khép kín, điều khiển hoàn toàn tự động, nhờ đó sản phẩm thức ăn gia súc sẽ đảm bảo chất lượng và an toàn. Cùng với việc xây dựng một trang trại nuôi lợn lớn, công ty đang phấn đấu trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu tham gia thị trường xuất khẩu thịt lợn. Những người có suy nghĩ như ông Chung Kim ngày càng nhiều trên vùng đất này. Chính họ đã và đang tạo nên bước phát triển vượt bậc cho thị xã Thủ Dầu Một.

Hương vị của cây trái Nam Bộ luôn tạo nên những điều mới lạ đối với khách du lịch. Với định hướng quy hoạch phát triển các nhà vườn dọc sông Sài Gòn, thị xã đã khuyến khích người dân lập nên.

(nguồn: Báo Bình Dương)

Tỉnh Bình Dương – Thành Phố Bình Dương


Cờ của Việt Nam Tỉnh Bình Dương
Image via Wikipedia

Tỉnh Việt Nam

Hành chính, chính trị
Bí thư tỉnh ủy Mai Thế Trung
Chủ tịch HĐND Vũ Minh Sang
Chủ tịch UBND Lê Thanh Cung
Địa lý
Tỉnh lỵ Thị xã Thủ Dầu Một
Miền Đông Nam Bộ
Diện tích 2.695,5 km²
Các thị xã / huyện 3 thị xã
4 huyện
Nhân khẩu
Số dân
• Mật độ
1.481.550 người
810 người/km²
Dân tộc ViệtHoaKhmerTày
Thông tin khác
Mã bưu chính 72
ISO 3166-2 VN-57
Biển số xe 61

Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía bắc giáp Bình Phước, phía nam và tây nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía tây giáp Tây Ninh, phía đông giápĐồng Nai. Tỉnh lỵ của Bình Dương hiện nay là thị xã Thủ Dầu Một, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km.

Bình Dương cũng là tỉnh có đội bóng đá nổi tiếng, đã đăng quang giải bóng đá vô địch quốc gia năm 2007 và 2008.

Bình Dương cũng là tỉnh sở hữu 3 thị xã có dân số đông nhất nước, trong đó có 2 thị xã có 100% phường, không có xã (Thủ Dầu Một, Dĩ An).

Mục lục

Các đơn vị hành chính

Bình Dương có 3 thị xã và 4 huyện (với 91 xã/phường/thị trấn):

  1. Thị xã Thủ Dầu Một
  2. Thị xã Thuận An
  3. Thị xã Dĩ An
  4. Huyện Bến Cát
  5. Huyện Dầu Tiếng
  6. Huyện Tân Uyên
  7. Huyện Phú Giáo

Biển số xe

Thị xã Thủ Dầu Một 61-B1 XXX.XX

Thị xã Thuận An 61-C1 XXX.XX

Thị xã Dĩ An 61-D1 XXX.XX

Huyện Tân Uyên 61-E1 XXX.XX

Huyện Phú Giáo 61-F1 XXX.XX

Huyện Bến Cát 61-G1 XXX.XX

Huyện Dầu Tiếng 61-H1 XXX.XX

Địa hình, thổ nhưỡng

  • Tọa độ địa lý: vĩ độ Bắc: 110°52′ – 120°18′, kinh độ Đông: 106°45′ – 107°67’30”
  • Diện tích tự nhiên 2.681,01km2 (chiếm 0,83% diện tích cả nước và xếp thứ 42/64 về diện tích tự nhiên)

Tổng diện tích: 269.554 ha
Đất ở: 5.845 ha
Đất nông nghiệp: 215.476 ha
Đất lâm nghiệp: 12.791 ha
Đất chuyên dùng: 22.563 ha
Đất chưa sử dụng: 12.879 ha

Bình Dương nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long nên địa hình chủ yếu là những đồi thấp, thế đất bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc, phổ biến là những dãy đồi phù sa cổ nối tiếp nhau với độ cao trung bình 20-25m so với mặt biển, độ dốc 2-5°và độ chịu nén 2kg/cm². Đặc biệt có một vài đồi núi thấp nhô lên giữa địa hình bằng phẳng như núi Châu Thới (Dĩ An) cao 82m và ba ngọn núi thuộc huyện Dầu Tiếng là núi Ông cao 284,6m, núi La Tha cao 198m, núi Cậu cao 155m.

Từ phía Nam lên phía Bắc, theo độ cao có các vùng địa hình:

– Vùng thung lũng bãi bồi, phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé. Đây là vùng đất thấp, phù sa mới, khá phì nhiêu, bằng phẳng, cao trung bình 6-10m.

– Vùng địa hình bằng phẳng, nằm kế tiếp sau các vùng thung lũng bãi bồi, địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc 3-12°, cao trung bình từ 10-30m.

– Vùng địa hình đồi thấp có lượn sóng yếu, nằm trên các nền phù sa cổ, chủ yếu là các đồi thấp với đỉnh bằng phẳng, liên tiếp nhau, có độ dốc 5-120, độ cao phổ biến từ 30-60m.

Các nhà thổ nhưỡng đã tìm thấy ở Bình Dương 7 loại đất khác nhau, nhưng chủ yếu là đất xám và đất đỏ vàng. Theo kết quả tổng điều tra đất năm 2000 thì hai loại đất này chiếm 76,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó đất xám chiếm 52,5%; đất đỏ vàng chiếm 24,0%.

Đây là hai loại đất rất thích hợp với các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả. Chính nhờ điều kiện thổ nhưỡng này mà Bình Dương

  từ lâu đã nổi tiếng với vườn cây Lái Thiêu, trải rộng trên diện tích 1.250 ha, thuộc địa bàn bốn xã, phường: An SơnAn ThạnhBình Nhâm và Hưng Định.

Với địa hình cao trung bình từ 6-60m, nên chất lượng và cấu trúc đất Bình Dương  không chỉ thích hợp với các loại cây trồng mà còn rất thuận lợi đối với việc xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các khu công nghiệp.

Trên địa bàn Bình Dương  có nhiều sông lớn chảy qua, nhưng quan trọng nhất là sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai là một trong những sông lớn của Việt Nam, có tổng chiều dài 450 km, trong đó chảy qua Bình Dương 84 km.

Khí hậu

Biểu trưng tỉnh Bình Dương

Khí hậu Bình Dương  mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt:

-Mùa mưa, từ tháng 5 – 11, -Mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau.

  • Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 – 2.000mm với số ngày có mưa là 120 ngày. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình 335mm, năm cao nhất có khi lên đến 500mm, tháng ít mưa nhất là tháng 1, trung bình dưới 50mm và nhiều năm trong tháng này không có mưa.
  • Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5 °C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 29 °C (tháng 4), tháng thấp nhất 24 °C (tháng 1). Tổng nhiệt độ hoạt động hàng năm khoảng 9.500 – 10.000 °C, số giờ nắng trung bình 2.400 giờ, có năm lên tới 2.700 giờ.
Vòng xoay ngã sáu 2007
  • Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới. Về mùa khô gió thịnh hành chủ yếu là hướng Đông, Đông – Bắc, về mùa mưa gió thịnh hành chủ yếu là hướng Tây, Tây – Nam. Tốc độ gió bình quân khoảng 0.7m/s, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được là 12m/s thường là Tây, Tây – Nam.
  • Chế độ không khí ẩm tương đối cao, trung bình 80-90% và biến đổi theo mùa. Độ ẩm được mang lại chủ yếu do gió mùa Tây Nam trong mùa mưa, do đó độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào giữa mùa khô và cao nhất vào giữa mùa mưa. Giống như nhiệt độ không khí, độ ẩm trong năm ít biến động. Với khí hậu nhiệt đới mang tính chất cận xích đạo, nền nhiệt độ cao quanh năm, ẩm độ cao và nguồn ánh sáng dồi dào, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp ngắn và dài ngày. Khí hậu Bình Dươngtương đối hiền hoà, ít thiên tai như bão, lụt…

Dân cư

  • Dân số: 1.481.550 người (01/04/2009)

Bình Dương có diện tích tự nhiên 2695,5 km² và dân số (theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009) là 1.481.550 người. Do kinh tế phát triển nhanh, trong thời gian qua Bình Dương thu hút nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác. Kết quả điều tra dân số năm 2009 cho thấy: Trong 10 năm từ 1999-2009 dân số tỉnh Bình Dương đã tăng gấp đôi, là tỉnh có tốc độ tăng dân số cao nhất nước với tỷ lệ tăng trung bình 7,3%/năm.

Trên địa bàn Bình Dương có 15 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh và sau đó là người Hoangười Khơ Me.

Kinh tế

  • Vùng đất Bình Dương – Thủ Dầu Một ra đời cùng lúc với lịch sử hình thành Sài Gòn – Đồng Nai từ thuở Nguyễn Hữu Cảnh “mang gươm đi mở cõi”. Bắt đầu những năm 90, với chính sách trải thảm đỏ chào đón các nhà đầu tư, Bình Dương phút chốc trở thành địa phương phát triển năng động nhất trong tứ giác kinh tế trọng điểm của cả nước. Trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnhhàng năm, Bình Dương liên tục đứng ở vị trí số 1.
  • Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu tư tốt nhất hiện nay tại Việt Nam, tính đến tháng 10/2006, tỉnh đã có 1.285 dự án FDI với tổng số vốn 6 tỷ 507 triệu USD.Năm 2007, tỉnh Bình Dương 
     đặt mục tiêu thu hút trên 900 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tăng hơn 2,5 lần so với năm ngoái. Vào năm 2006, một cuộc điều tra về “Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)” đã được gửi tới 31.000 doanh nghiệp trên phạm vi 64 tỉnh, thành và nhận được sự hợp tác rất tích cực từ các doanh nghiệp, đã thực sự phản ánh sát thực nguyện vọng của các doanh nghiệp trong xu thế hội nhập. Theo bảng xếp hạng Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2006, tỉnh Bình Dương tiếp tục đứng đầu với 76,23 điểm, trong khi thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, lần lượt xếp thứ thứ 40 với 50,34 điểm và xếp thứ 7 với 63,39 điểm.
  • Bình Dương có 28 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó nhiều khu công nghiệp đã cho thuê gần hết diện tích như Sóng Thần I, Sóng Thần II, Đồng An, Tân Đông Hiệp A, Việt Hương, VSIP – Việt Nam Singapore, Mỹ Phước 1, 2, 3, 4 và 5. Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thu hút 938 dự án đầu tư, trong đó có 613 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3,483 triệu USD và 225 dự án đầu tư trong nước có số vốn 2.656 tỉ đồng. Nhằm tăng sự thu hút đầu tư; hiện nay địa phương này đang tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tiến độ thi công các khu công nghiệp mới để phát triển công nghiệp ra các huyện phía bắc của tỉnh (Mỹ Phước 1,2,3; 6 khu công nghiệp trong Khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị Bình DươngTân Uyên).
  • Mục tiêu kinh tế xã hội của Bình Dương thời kỳ 2006 -2010 Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương  lần thứ VIII năm 2006 đã nêu mục tiêu phấn đấu thời kỳ 2006-2010 về kinh tế-xã hội của tỉnh như sau: -Tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm là 15%. -Quy mô GDP (giá hiện hành) đến năm 2010 đạt khoảng 45.800 tỷ đồng, tương đương 2,9 tỷ Đôla Mỹ. -GDP bình quân đầu người đạt khoảng 30 triệu đồng. -Cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp: 65,5%; dịch vụ: 30%; nông nghiệp: 4,5%. -Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 14-15%/năm. -Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cả thời kỳ đạt 3 tỷ USD. -90% trường trung học phổ thông, tiểu học đạt chuẩn quốc gia. -Phổ cập giáo dục bậc trung học. -95% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. -Tỷ lệ hộ nghèo còn 2,5% (theo chuẩn mới của tỉnh 400.000 đồng/người/tháng đối với nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng đối với thành thị). Theo mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì nông nghiệp giảm xuống còn 15-16%, công nghiệp và xây dựng 43-44%, dịch vụ 40-41%. Với tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp luôn ở mức cao như hiện nay là 35%/năm (2001-2005) thì Bình Dương sẽ là một trong những tỉnh về đích trước và sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

Văn hóa

Thuở xưa, Bình Dương là một phần của đất Gia Định nên đến nay đã có trên 300 năm lịch sử với những di sản văn hoá đặc sắc mà tiêu biểu là đờn ca tài tử. Ca nhạc tài tử sau này nở rộ ở nhiều tỉnh vùngđồng bằng sông Cửu Long nhưng cái nôi sản sinh thì vẫn là Gia Định, trong đó có Bình Dương.

Bình Dương còn là đất của nhiều làng nghề truyền thống với các nghệ nhân bàn tay vàng điêu khắc gỗ, làm đồ gốm và tranh sơn mài. Từ xa xưa các sản phẩm gốm mỹ nghệ, sơn mài và điêu khắc của Bình Dương đã tham gia hội chợ quốc tế, đồng thời cũng đã xuất khẩu sang Pháp và nhiều nước trong khu vực.

Quy hoạch

Dự kiến đến năm 2020, Bình Dương là đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương; gồm 6 quận nội thành, 4 huyện ngoại thành với 112 xã, phường, thị trấn (60 phường, 39 xã, 13 thị trấn.

  • Các quận nội thành:

Quận trung tâm:Thủ Dầu Một (9 phường).

Quận Châu Thành (9 phường).

Quận Dĩ An (9 phường).

Quận Thuận An (10 phường).

Quận Bến Cát (13 phường).

Quận Tân Uyên (10 phường).

  • Các huyện ngoại thành:

Huyện Bầu Bàng (3 thị trấn, 7 xã).

Huyện Phước Thành (2 thị trấn, 10 xã).

Huyện Dầu Tiếng (4 thị trấn, 13 xã).

Huyện Phú Giáo (4 thị trấn, 10 xã).

Thay đổi hành chính

Bình Dương là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một xưa kia. Tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập tháng 12 năm 1899 từ Sở Tham biện Thủ Dầu Một, tách từ tỉnh Biên Hòa. Tháng 10 năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể tỉnh Thủ Dầu Một để thành lập các tỉnh Bình Dương, và một phần tỉnh Bình Long. Như vậy Bình Dương là một trong 22 tỉnh của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thiết lập theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956. Tỉnh lị là Phú Cường. Tỉnh Bình Dương bao gồm 5 quận, 10 tổng, 60 xã (ngày 30/8/1957):

  • Quận Châu Thành, có 3 tổng là Bình Điền, Bình Phú, Bình Thiện; quận lị: Phú Cường.
  • Quận Lái Thiêu, có 1 tổng là Bình Chánh; quận lị: Tân Thới.
  • Quận Bến Cát, có 2 tổng là Bình An, Bình Hưng; quận lị: Mỹ Phước.
  • Quận Dầu Tiếng, có 1 tổng là Bình Thạnh Thượng; quận lị: Định Thành.
  • Quận Củ Chi, có 3 tổng là Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung, Long Tuy Thượng; quận lị: Tân An Hội. Quận Củ Chi trước đây thuộc tỉnh Gia Định, đến năm 1963 chuyển sang tỉnh Hậu Nghĩa mới thành lập.

Năm 1959, cắt một phần đất, cùng với phần đất của 2 tỉnh Biên Hòa và Phước Long lập ra tỉnh Phước Thành. Tỉnh này tồn tại đến năm 1965 thì giải thể.

Ngày 18 tháng 12 năm 1963, lập thêm quận Phú Hòa, quận lị đặt tại Bến Cỏ, xã Phú Hòa Đông, đến ngày 18 tháng 5 năm 1968 dời về xã Tân Hòa. Quận Phú Hòa hiện nay nhập với quận Củ Chi thành huyện Củ Chi thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1974 dân số tỉnh Bình Dương là 260.008 người.

Năm 1976 chính quyền mới hợp nhất tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước (gồm hai tỉnh Bình Long và Phước Long cũ) thành tỉnh Sông Bé, nhưng đến ngày 6 tháng 11 năm 1996 lại tách ra thành hai tỉnh như cũ.

Khi tách ra, tỉnh Bình Dương có diện tích 2.718,5 km², dân số 646.317 người (tính cả 4 xã và thị trấn của huyện Đồng Phú của tỉnh Bình Phước chuyển sang), gồm thị xã Thủ Dầu Một và 3 huyện Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An. Đến ngày 23 tháng 7 năm 1999, huyện Thuận An được chia tách thành 2 huyện Thuận An và Dĩ An, huyện Bến Cát được chia tách thành 2 huyện Bến Cát và Dầu Tiếng, huyện Tân Uyên được chia tách thành 2 huyện Tân Uyên và Phú Giáo. Như vậy, từ tháng 8 năm 1999, Bình Dương có cả thảy 7 đơn vị hành chính cấp huyện.

Ngày 13 tháng 1 năm 2011, Chính phủ ra Nghị quyết 04/NQ-CP thành lập 2 thị xã mới là Dĩ An và Thuận An, trên cơ sở 2 huyện Dĩ An và Thuận An cũ.

Điểm tham quan

Bình Dương là vùng đất chiến trường năm xưa với những địa danh đã đi vào lịch sử như Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến Súc, Lai Khê, Nhà Đỏ và đặc biệt là chiến khu Đ với trung tâm là huyện Tân Uyên, vùng Tam giác sắt trong đó có ba làng An (An Điền, An Tây và Phú An). Bình Dương hôm nay đang là một điểm sáng trên bản đồ kinh tế đất nước với những thành tựu về đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, trước hết là kết quả nổi trội về thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.

Liên kết ngoài