“Gái một con trông mòn con mắt”: Khoa học giải thích thế nào?


Có thể, tế bào gốc được truyền từ thai nhi đến mẹ trong suốt qúa trình mang thai và cả sau đó giúp người mẹ có một cơ thể trẻ đẹp hơn.Dân gian thường có câu “gái một con trông mòn con mắt” để nói về người phụ nữ sau sinh nở (nhất là sau lần đầu mang thai) thường sẽ trẻ đẹp, da dẻ mỡ màng, hồng hào và đằm thắm hơn trước. Người ta thường giải thích hiện tượng này là do khả năng cân bằng nội tiết tố sau sinh của cơ thể.

Thế nhưng, một cơ chế khác rất hiếm khi được nhắc đến, đó là vai trò của tế bào gốc được truyền từ thai nhi đến mẹ trong suốt qúa trình mang thai và cả sau đó để giúp mẹ có một cơ thể trẻ đẹp hơn.

Nhiều nghiên cứu khoa học trên thế giới đã chỉ ra rằng, trong suốt giai đoạn mẹ mang thai, các tế bào gốc từ thai nhi đã di chuyển vào các mô và cơ quan khác của cơ thể người mẹ bao gồm máu, tủy xương, da và gan. Ở chuột, các tế bào của thai nhi cũng đã được tìm thấy trong não. Họ đã đưa ra nhiều giả thuyết về sự hiện diện của tế bào thai nhi khắp nơi tại các mô và cơ quan người mẹ, trong đó họ cho rằng hiện tượng này có thể là một cơ chế mà thai nhi đảm bảo thể lực của mẹ tốt nhất nhằm tăng cường cơ hội sống sót của chính thai nhi. Các nhà khoa học ví rằng, đây là cách làm thông minh của thai nhi nhằm bảo vệ chính mình khi ở trong cơ thể mẹ với “thiệt hại phí” thấp nhất hoặc không tốn “chi phí”.

Sự di cư của tế bào thai nhi đến cơ thể mẹ

Các nhà khoa học đã xác định được DNA của thai nhi trong máu mẹ ở thời điểm 4 tuần và năm ngày sau thụ thai. Ở tuần thứ 7, các nhà khoa học còn phát hiện được sự có mặt của cả DNA và tế bào thai nhi trong máu mẹ. Đây là một bằng chứng cho thấy đã có sự di cư của tế bào từ cơ thể người con tới cơ quan khác trong cơ thể mẹ. Thậm chí, các nhà khoa học tìm thấy sự hiện diện của các tế bào chức năng (tế bào đã biệt hoá) mang nhiễm sắc thể nam trong mô hoặc cơ quan của nữ bệnh nhân từng mang thai. Một trường hợp cụ thể khác, các tế bào của thai nhi đã được xác định trong các vết sẹo mổ lấy thai của mẹ. Điều này cho thấy, khi người mẹ gặp một tổn thương tại một vị trí nào đó trên cơ thể, tế bào từ thai nhi cũng có thể di chuyển đến khu vực này để tích cực tham gia lành vết thương của mẹ.

Không chỉ tham gia vào việc chữa lành vết thương trên người mẹ, tế bào từ thai nhi còn có tác động tích cực trong việc tăng cường sức khoẻ và tạo sự tươi trẻ cho mẹ. Việc di cư của tế bào thai nhi tới cơ thể mẹ đã làm tăng cường thêm nguồn tế bào gốc cho cơ thể mẹ. Tế bào gốc từ thai nhi là nguồn tế bào gốc vô cùng non trẻ với nhiều tiềm năng biệt hoá thành tế bào chức năng. Có lẽ vì vậy, khi mang thai, người mẹ như được truyền thêm nguồn sức mạnh để nhanh chóng chống chọi và giải quyết các tổn thương xảy ra nếu có. Với chức năng bẩm sinh của một tế bào gốc, cơ chế tìm kiếm và thay thế các tế bào bị tổn thương được kích hoạt dễ dàng.

Bên cạnh đó, các tế bào đã già yếu, hết vòng đời của cơ thể mẹ cũng dễ dàng được thay thế.
Da là một cơ tiếp xúc trực tiếp với môi trường sống đầy biến động bên ngoài. Do đó, tốc độ lão hoá cũng nhanh hơn so với nhiều cơ quan khác. Cụ thể, trong khi các tế bào hồng cầu sống trong khoảng bốn tháng, các tế bào bạch cầu sống trung bình hơn một năm hay các tế bào não thường kéo dài cả đời thì các tế bào da chỉ sống khoảng hai hoặc ba tuần. Cùng với các điều kiện thuận lợi khác (chế độ dinh dưỡng, nghỉ dưỡng của người mẹ sau sinh), vi môi trường cho hoạt động của tế bào gốc được tối ưu hoá đã góp phần tích cực vào sự tái tạo lại các cấu trúc đã bị lão hoá ở da mẹ. Có thể vì vậy mà người mẹ sau sinh có được làn da tươi trẻ, mặn mà hơn.

Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng, sự hiện diện của tế bào thai nhi trong cơ thể mẹ mang lại cả những tác động tích cực lẫn tiêu cực. Cho đến nay, các nhà khoa học vẫn thảo luận về ba vai trò của các tế bào thai nhi đối với sức khỏe của mẹ: (1) các tế bào thai nhi góp phần gây ra phản ứng viêm có thể gây tổn thương mô của mẹ; (2) các tế bào của thai nhi có vai trò bảo vệ – giúp sửa chữa và duy trì các mô của mẹ hoặc (3) các tế bào của thai nhi chỉ đơn giản là những “kẻ ngoài cuộc”, không có ảnh hưởng nhân quả đến sức khỏe của mẹ. Những giả thuyết này có thể không loại trừ lẫn nhau. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến vai trò thứ (2).

Chú thích:

Tế bào gốc được biết là loại tế bào có khả năng tăng sinh với số lượng lớn, đồng thời, cũng có khả năng tự làm mới (duy trì tính gốc của chính nó) và khả năng biệt hoá thành tế bào chức năng để thay thế các tế bào lão hoá hoặc tế bào tổn thương. Ngày nay, tế bào gốc trở thành một cơ sở khoa học giải thích cho khả năng con người có thể đạt được ước mơ “cải lão hoàn đồng”.


Tài liệu tham khảo:
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC2633676/

https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(04)16631-2/fulltext

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC40117/

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/15246731

https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/26316378


TS Vũ Bích Ngọc (Viện Tế bào gốc, Trường ĐH KHTN TP HCM)

Liệu pháp tế bào gốc: Mở ra tiềm năng điều trị bệnh tự miễn


Các nghiên cứu gần đây cho thấy, liệu pháp tế bào gốc có thể cải thiện các triệu chứng của các bệnh tự miễn thông qua ba cơ chế: Điều chỉnh miễn dịch, điều biến miễn dịch và cấy ghép tế bào gốc đã qua chỉnh sửa gene.

Các bệnh tự miễn dịch (AD), phổ biến như tiểu đường loại 1, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp và viêm đa cơ… ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của bệnh nhân nhưng không thể điều trị dứt điểm. Cho đến nay, thông thường để điều trị AD, phải sử dụng các chất ức chế miễn dịch như corticosteroid, cyclophosphamide (CYC), azathioprine và methotrexate. Tuy vậy, thuốc ức chế miễn dịch chỉ “hữu hiệu” trong giai đoạn đầu, sau khi điều trị lâu dài, hầu hết bệnh nhân trở nên kháng thuốc cũng như gặp phải các tác dụng phụ và độc tính của thuốc.

Vai trò của tế bào gốc trong điều trị bệnh tự miễn

Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy, liệu pháp tế bào gốc có thể cải thiện các triệu chứng của AD. Tế bào gốc có thể tác động đến hệ thống miễn dịch bằng ba cách khác nhau:

(1) điều chỉnh miễn dịch (ví dụ, cấy ghép tế bào gốc tạo máu – HSC) có thể điều chỉnh hệ thống miễn dịch và cải thiện khả năng chịu miễn dịch đối với tự kháng nguyên;

(2) điều biến miễn dịch (ví dụ, cấy ghép tế bào gốc trung mô – MSC có thể điều chỉnh hệ thống miễn dịch thông qua ức chế một số tế bào tác động cũng như kích thích tế bào T điều hòa (Tregs)); 

và (3) chỉnh sửa gene (ví dụ, cấy ghép HSC hoặc cấy ghép MSC đã qua chỉnh sửa gene). 

Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy, cả hai chiến lược điều chỉnh miễn dịch và điều hòa miễn dịch đều được sử dụng để điều trị các AD khác nhau với kết quả đầy hứa hẹn.

Bên cạnh các hiệu ứng miễn dịch, liệu pháp tế bào gốc cũng có thể làm tăng khả năng tái tạo mô tại các mô bị thương hoặc bị lỗi. HSC là nguồn gốc của tất cả các loại tế bào máu, bao gồm bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu. Các tế bào này có thể được phát hiện và phân lập từ các mô khác nhau, chẳng hạn như tủy xương của người trưởng thành, các mô khác nhau của thai nhi (gan, lá lách và tuyến ức), dây rốn và máu ngoại vi. HSC có thể di chuyển tới tủy xương (BM) để tái tạo hệ thống miễn dịch hoặc hệ thống tạo máu. Còn các cytokine hoặc các yếu tố tăng trưởng mà MSCs tạo ra có thể kích thích tái tạo mô và ức chế quá trình chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào tại các mô bị thương.

Liệu pháp tế bào gốc

Ứng dụng lâm sàng 

Cả tế bào gốc tạo máu và tế bào gốc trung mô đã được sử dụng để điều trị AD trên cả mô hình động vật và thử nghiệm lâm sàng.

Cấy ghép tế bào gốc tạo máu HSC đã được sử dụng từ năm 1997 để điều trị các bệnh AD nặng và khó trị liệu. Đã có hơn 2500 bệnh nhân AD được điều trị bằng liệu pháp này tại 247 trung tâm ở 40 quốc gia. Theo cơ sở dữ liệu của the Autoimmune Diseases Working Party, đã có 2606 quy trình cấy ghép HSC để điều trị AD, với 2417 bệnh nhân sử dụng HSC tự thân và 133 bệnh nhân sử dụng HSC đồng loại. Nhiều bệnh tự miễn khác nhau đã được điều trị bằng ghép tế bào gốc tạo máu như đa xơ cứng, viêm khớp, lupus ban đỏ hệ thống, suy giảm tế bào miễn dịch, viêm mạch, bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin, viêm đa dây thần kinh mãn tính, viêm dây thần kinh thị giác và bệnh nhược cơ…

Trong khi cấy ghép HSC có thể thay thế hệ thống miễn dịch thông qua cấy ghép tự thân hoặc cấy ghép đồng loài, thì cấy ghép MSC có thể cải thiện AD bằng các cơ chế điều chỉnh hệ thống miễn dịch của vật chủ để sửa chữa các mô bị thương thông qua các yếu tố mà nó tiết ra.


Trong lâm sàng, MSC đã được sử dụng trong cấy ghép để điều trị các bệnh tự miễn khác nhau. Cấy ghép MSC điều trị lupus ban đỏ hệ thống (SLE) cho thấy có thể cải thiện đáng kể các triệu chứng bệnh, protein niệu và giảm thiếu máu ở bệnh nhân. Một phân tích kết quả điều trị từ 8 nghiên cứu lâm sàng trên 213 bệnh nhân trong và ba thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với 66 bệnh nhân cho thấy cấy ghép MSC làm giảm đáng kể chỉ số hoạt động của bệnh lupus ban đỏ hệ thống và protein nước tiểu trong 24 giờ, trong khi bổ thể C3 tăng đáng kể. Chỉ có ba nghiên cứu trong các phân tích này cho thấy việc cấy ghép MSC có một số tác dụng phụ (bao gồm sốt, tiêu chảy và đau đầu) trong quá trình truyền dịch.

Bệnh đa xơ cứng (MS) là bệnh viêm tự miễn phổ biến nhất của hệ thần kinh trung ương, cuối cùng dẫn đến huỷ myelin và mất sợi trục. Công bố đầu tiên về cấy ghép MSC cho bệnh đa xơ cứng là vào năm 2007. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng MSC tự thân (ghép qua đường tiêm nội tủy) cho 10 bệnh nhân bệnh đa xơ cứng. Tuy nhiên, hiệu quả một cải thiện lâm sàng không đáng kể. Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng cấy ghép MSC có thể giúp tăng tỷ lệ tế bào T điều hòa CD4 + CD25 +, giảm sự tăng sinh tế bào lympho và giảm các dấu ấn hoạt hóa của tế bào đuôi gai. Một nguồn MSC khác đã được sử dụng trên lâm sàng để điều trị bệnh đa xơ cứng. Loại MSC đầu tiên được sử dụng là MSCs lấy từ tủy xương tự thân. Sau đó, MSCs từ tủy xương của người hiến tặng được sử dụng. Năm 2013, nghiên cứu đầu tiên về việc áp dụng MSC có nguồn gốc từ mỡ cho bệnh MS đã được báo cáo. Trong nghiên cứu này, ADSCs được trộn với axit hyaluronic và tiêm vào mặt hoặc cánh tay của bệnh nhân. Bằng quy trình này, 6 bệnh nhân đã cải thiện tình trạng xơ hóa da của họ (với 5 bệnh nhân cải thiện đáng kể và 1 bệnh nhân vừa phải). Cho đến nay, chỉ có một báo cáo sử dụng MSC có nguồn gốc từ dây rốn để điều trị MS. Trong một số thử nghiệm ban đầu, các nhà nghiên cứu đã đánh giá việc tiêm truyền tĩnh mạch MSCs có nguồn gốc từ tủy xương tự thân, trong khi gần đây hơn thì các nghiên cứu đã đánh giá được việc tiêm tại chỗ cả MSC tự thân và đồng sinh.

Cho đến nay, cả bằng chứng tiền lâm sàng và lâm sàng đều cho thấy cấy ghép HSC và MSC đều có thể mang lại hiệu quả tích cực cho bệnh nhân AD. Mặc dù một số cơ chế điều trị vẫn chưa rõ ràng, cùng với sự hạn chế của một số ít bệnh nhân được đánh giá, các nghiên cứu đã được công bố gần đây cho thấy rằng cấy ghép HSC và MSC có tiềm năng rất lớn để điều trị AD.

Các bệnh tự miễn dịch (AD) là các bệnh phổ biến liên quan đến phản ứng của các tế bào miễn dịch đối với tế bào chủ cũng như các mô của vật chủ. AD có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau – từ hệ thống nội tiết đến các mô liên kết, đường tiêu hóa, thận, da và tim. Có hơn 100 AD được ghi nhận với 15 bệnh thông thường; các AD này được chia thành hai nhóm: AD đặc hiệu cho cơ quan và AD toàn thân. AD đặc hiệu cho cơ quan là một phần của nhóm AD mà hệ thống miễn dịch tấn công các tế bào cụ thể trong một cơ quan. Các AD này bao gồm: bệnh tiểu đường loại 1, bệnh Addison, bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto, bệnh Graves, hội chứng Sjögren, bệnh bạch biến, bệnh thiếu máu ác tính, viêm cầu thận, bệnh nhược cơ, hội chứng Goodpasture, bệnh thiếu máu tan máu tự miễn, ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn và bệnh xơ phổi.

Mặt khác, đối với AD toàn thân, hệ thống miễn dịch tấn công các cơ quan khác nhau; những AD này bao gồm lupus ban đỏ hệ thống (SLE), viêm khớp dạng thấp (RA), xơ cứng bì hệ thống (SSc), viêm cột sống dính khớp và viêm đa cơ. Những bệnh này có thể làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Vũ Bích Ngọc / Tạp Chí Tia Sáng