Lão võ sư trọn đời vì võ học cổ truyền


Muốn gặp lão võ sư Nguyễn Minh Trí, Chưởng môn phái Thiếu lâm Long Phi để đàm đạo chuyện võ học, sáng thứ 2 và thứ 5 hàng tuần ghé quán nước nhỏ bên lề đường Đoàn Thị Liên ở phường Phú Lợi, TP.Thủ Dầu Một ắt sẽ gặp. Còn muốn tận mắt xem ông truyền dạy võ học cho các thế hệ võ sinh thì vào chiều tối thứ 2, thứ 6 ra sân Trung tâm Văn hóa tỉnh trên đường 30-4. Năm nay đã gần “thất thập cổ lai hy”, nhưng nghe ông nói chuyện võ học rồi xem ông múa võ, chúng tôi mới cảm nhận hết tình yêu và sự đam mê võ học vẫn không ngừng tuôn chảy trong con người ông…

Đại võ sư Nguyễn Minh Trí vẫn tích cực truyền dạy võ học cho các thế hệ học trò

 Tầm sư học võ 

Nhắc đến các môn phái võ cổ truyền ở Việt Nam, môn phái Thiếu lâm Long Phi ở Bình Dương hiện do võ sư Nguyễn Minh Trí làm chưởng môn (đời thứ 2) khá nổi tiếng. Võ sư Nguyễn Minh Trí là người nắm giữ bài quyền “Roi Tấn Nhất” có nguồn gốc từ dòng võ Tân Khánh – Bà Trà và đã được Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam chọn để biên soạn là 1 trong 18 bài võ quy định trong sách “Võ cổ truyền Việt Nam”.

Bài quyền “Roi Tấn Nhất” có nguồn gốc từ dòng võ Tân Khánh – Bà Trà, bao gồm 12 câu thiệu, 53 động tác. Võ Tân Khánh – Bà Trà là một trong những di sản văn hóa phi vật thể hình thành từ rất sớm trên địa bàn tỉnh, đã và đang được ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch quan tâm bảo tồn, phát triển.

Để trở thành người nắm giữ bài quyền “Roi Tấn Nhất” này, đại võ sư nói rằng đó là cả một hành trình miệt mài theo đuổi võ học của ông. Quê ngoại của ông ở phường Tân Phước Khánh, TX.Tân Uyên – vùng quê một thời nổi tiếng với món võ “đả hổ” Tân Khánh – Bà Trà. Từ nhỏ, cậu bé Nguyễn Minh Trí đã được ông ngoại của mình dẫn dắt đến với võ thuật. Ngày ngày về thăm ông ngoại, thấy ngoại thường hay múa võ rèn luyện sức khỏe, cậu cũng tập tành múa theo.

Thấy cháu mình có năng khiếu và nhiều lần xin theo học, ông ngoại đã đồng ý dạy cho cháu những thế võ đầu tiên trong đời, đó là những thế võ Tân Khánh – Bà Trà. Từ cái gốc ban đầu ấy, sau này võ sư Nguyễn Minh Trí đã nghiên cứu, hệ thống lại thành bài quyền “Roi Tấn Nhất” và được Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam chọn là 1 trong 18 bài võ quy định, in trong sách “Võ cổ truyền Việt Nam”. Ông được xem là người nắm giữ bài quyền “Roi Tấn Nhất” thuộc dòng võ Tân Khánh – Bà Trà trên đất Bình Dương.

Phát triển võ học 

Năm 1967, ông chuyển về TP.Hồ Chí Minh sinh sống. Với niềm đam mê học võ luôn chảy bỏng, mỗi khi có dịp ngang qua võ đường nào ông cũng nán lại gần xem. Như cái duyên đưa đẩy, một lần đi ngang qua chợ Tân Bình, ông thấy có một võ đường hoạt động ở đó. Sau nhiều lần nấn ná xem các môn sinh võ đường này miệt mài luyện tập, thấy các thế võ, quyền pháp của môn phái này cũng có những nét tương đồng như dòng võ mà ông từng được ngoại truyền dạy trước đây nên vào xin theo học. Từ đó, ông trở thành đệ tử của môn phái Thiếu lâm Long Phi. Đây cũng là nơi ông từng bước trưởng thành trên con đường võ học. Sau một thời gian luyện tập, ông trở thành huấn luyện viên truyền dạy cho bao thế hệ học trò và bây giờ là chưởng môn đời thứ 2 của môn phái.

“VÕ NHẠC LÀ SỰ KẾT HỢP ĐẶC SẮC. NHẠC TÔN VÕ LÊN MỘT TẦM CAO MỚI VÀ THƯỜNG GẮN VỚI NHỮNG SỰ KIỆN LỊCH SỬ DÂN TỘC NÊN ÂM HƯỞNG HÙNG HỒN VÀ MANG LẠI CHO NGƯỜI XEM CẢM GIÁC RẤT PHẤN CHẤN. ĐÂY CŨNG CHÍNH LÀ NÉT ĐẶC SẮC RIÊNG MÀ MÔN PHÁI THIẾU LÂM LONG PHI ĐÃ PHÁT TRIỂN TRONG NHIỀU NĂM QUA”,

(Võ sư Nguyễn Minh Trí)

Điềm đạm, ít nói, nhưng khi nhắc đến võ học 2 mắt ông sáng hẳn lên. Ông cho biết, sau gần 10 năm rời quê tầm sư học võ, ông lại quay về quê hương Bình Dương để truyền bá võ học Thiếu lâm Long Phi cho mọi người. Năm 1991, khi chưởng môn đầu tiên Nguyễn Văn Thinh qua đời, là đệ tử chân truyền của môn phái, võ sư Nguyễn Minh Trí được tín nhiệm là người thay thế thầy mình gánh vác trách nhiệm của môn phái. Ông trở thành chưởng môn đời thứ 2 của môn phái Thiếu lâm Long Phi khi mới 40 tuổi.

Từ đây, võ sư Nguyễn Minh Trí đã có cơ duyên phát triển môn phái trở thành một trong những môn phái võ cổ truyền nổi tiếng trong làng võ cả nước. Không chỉ ở TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, ông còn đưa môn phái Thiếu lâm Long Phi phát triển mạnh ở tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Quảng Trị và cả ở nước ngoài.

Tại Bình Dương, Câu lạc bộ (CLB) võ thuật Thiếu lâm Long Phi là một trong những CLB võ thuật cổ truyền được thành lập đầu tiên (vào năm 1996) của Nhà Văn hóa Sông Bé (nay là Trung tâm Văn hóa – Nghệ thuật tỉnh). Môn sinh của môn phái cũng ngày càng phát triển và tăng lên rất nhiều so với con số chỉ hơn 100 người ban đầu. Trong quá trình hoạt động, CLB đã nhiều lần đi biểu diễn, thi đấu trong các kỳ Festival, hội thi liên quan đến võ thuật. Những tiết mục xuất sắc của Thiếu lâm Long Phi luôn được đánh giá cao, chọn làm tiết mục công diễn tại các hội thi, hội diễn.

Thăng hoa võ nhạc 

Để được đánh giá cao và mọi người đón nhận, trong các tiết mục biểu diễn của môn phái Thiếu lâm Long Phi trên sâu khấu luôn có sự kết hợp với âm nhạc. Trên nền các bài nhạc, như: Bạch Đằng giang, Nòi giống tiên rồng, Vươn vai Phù Đổng, Hòn vọng phu… võ sư Nguyễn Minh Trí đã dày công nghiên cứu để kết hợp giữa võ với nhạc tạo thành những bài võ nhạc đặc sắc. Với sự kết hợp các bài quyền trên nền nhạc mang âm hưởng dân tộc, ca ngợi lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, dưới sự hướng dẫn của võ sư Trí, các tiết mục võ nhạc đã được các võ sinh Thiếu lâm Long Phi biến hóa uyển chuyển, kết hợp, hòa quyện giữa võ thuật và nghệ thuật.

Các thế võ được thăng hoa trên nền nhạc và truyền thêm cảm hứng cho người biểu diễn cũng như người xem. Mỗi tiết mục lên sâu khấu biểu diễn dù chỉ có mấy phút, nhưng phải mất công nghiên cứu, dàn dựng đến mấy tháng trời. Sau khi chọn được bài nhạc phù hợp, phải biên tập, dàn dựng, rồi huy động lực lượng diễn thử xem có phù hợp hay chưa. Nếu vẫn chưa được thì tiếp tục nghiên cứu đến khi nào giữa võ và nhạc thật sự hòa quyện vào nhau thì mới đưa vào biểu diễn.

Trong thời gian qua, môn phái Thiếu lâm Long Phi đã tham dự nhiều giải đấu trong nước, khu vực cũng như quốc tế và mang về nhiều huy chương các loại, góp phần tích cực vào những thành tích về võ cổ truyền của tỉnh nhà. Đặc biệt, trong nhiều lần tham gia Liên hoan Quốc tế võ thuật cổ truyền Việt Nam tại Bình Định, môn phái Thiếu lâm Long Phi ở Bình Dương đều có tiết mục xuất sắc được chọn công diễn bế mạc. Năm 2016, trong khuôn khổ giải vô địch thế giới võ cổ truyền Việt Nam lần thứ 1 (tại nhà thi đấu Phú Thọ, TP.Hồ Chí Minh), tiết mục võ nhạc sân khấu hóa “Nòi giống tiên Rồng” của môn phái Thiếu lâm Long Phi Bình Dương cũng vinh dự được chọn diễn khai mạc và được đánh giá rất cao. Từ nhiều năm qua, phần tế võ – một nghi lễ chính trong lễ Giỗ tổ Hùng Vương tại trường chuyên Hùng Vương đều do môn phái Thiếu lâm Long Phi thực hiện. Các tiết mục võ nhạc mang âm hưởng sử ca hết sức hào hùng, góp phần mang lại không khí lễ giỗ tổ hết sức thiêng liêng và ý nghĩa.

Với những đóng góp trong việc truyền dạy, phát triển võ học, năm 2019, võ sư Nguyễn Minh Trí được Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam phong tặng danh hiệu “Đại võ sư quốc gia” vì đã có thành tích cống hiến đặc biệt vào việc bảo tồn và phát triển võ cổ truyền Việt Nam. Năm nay, đại võ sư đã xấp xỉ 70 tuổi, nhưng trông vẫn rất cường tráng, khỏe khoắn và đặc biệt ông vẫn tích cực truyền dạy võ học cổ truyền cho những môn sinh muốn rèn sức khỏe, phát triển võ học trên đất Bình Dương. Mới đây, võ sư Nguyễn Minh Trí là một trong 3 cá nhân tiêu biểu trên địa bàn tỉnh đã được hội đồng cấp tỉnh họp xem xét và thống nhất đề nghị hội động cấp bộ xét tặng danh hiệu “Nghệ nhân ưu tú” trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể lần thứ III năm 2021.

HỒNG THUẬN / Báo Bình Dương

Chú Nguyễn Văn Tùng ( Tùng Yuki) và Võ Học


Diễn viên, vệ sĩ Tùng Yuki bỏ việc, lên đường học hỏi tinh hoa võ thuật

Tạm gác lại công việc đóng phim cũng như quản lý công ty vệ sĩ cho những ngôi sao Việt Nam và quốc tế, Tùng Yuki (Nguyễn Văn Tùng) tham gia gameshow truyền hình Con đường võ học để tìm hiểu tinh hoa võ thuật Việt Nam.
Ông trùm ma túy trong phim 'Tam Giác Vàng' mong muốn tìm lại chính mình từ võ thuật
Ông trùm ma túy trong phim ‘Tam Giác Vàng’ mong muốn tìm lại chính mình từ võ thuật
Tùng Yuki (Nguyễn Văn Tùng) là gương mặt quen thuộc của khán giả truyền hình với hàng loạt vai diễn ấn tượng trong: Dốc tình, Bí mật Tam Giác Vàng, Bỗng dưng muốn khóc, Ngôi nhà hạnh phúc, Thiên đường vắng em, Chuyện tình công ty quảng cáo, Vừa đi vừa khóc… Sở hữu vẻ ngoài phong độ, ông thường được giao những vai chính diện, bởi hình ảnh đạo mạo, trí thức, nghiêm túc. Nhìn lại lịch sử phim truyền hình Việt, hầu như 90% những vai diễn cần mẫu nhân vật điềm đạm đóng vai người bố gương mẫu, doanh nhân thành đạt trên phim truyền hình Việt đều do ông đảm nhận. Có lẽ sẽ không quá lố nếu gọi vui Tùng Yuki là “ông bố quốc dân của phim truyền hình Việt”.
Diễn viên, vệ sĩ Tùng Yuki bỏ việc, lên đường học hỏi tinh hoa võ thuật - ảnh 1
Tùng Yuki là cái tên sáng giá không những trong làng diễn viên mà còn trong nghề vệ sĩ
Trước khi trở thành diễn viên, Tùng Yuki từng được biết đến là gương mặt đại diện ấn tượng cho nghề vệ sĩ Việt với hơn 20 năm trong nghề. Ông chính thức trở thành vệ sĩ chuyên nghiệp năm 1996 khi đầu quân về công ty vệ sĩ mà sau này cái tên đó cũng gắn liền với nghệ danh của ông. Ông từng làm vệ sĩ cho các ngôi sao nổi tiếng quốc tế như Lê Minh, Cổ Thiên Lạc, SNSD, Jang Dong Gun, Hoa hậu Trương Tử Lâm… và mới đây nhất là diễn viên So Ji Sub.
Nguyễn Văn Tùng có một thời gian dài tập luyện chăm chỉ ở lò võ Vịnh Xuân Quyền khi mới vào nghề, từ đó đến nay ông luôn mong mỏi “đắm chìm” trong tinh thần thượng võ của những môn phái trên đất nước Việt Nam.
Cuối cùng sau nhiều năm chờ đợi, ông đã tìm được “lý tưởng” của mình khi nhận lời mời tham gia vào chương trình Con đường võ học, chương trình truyền hình thực tế đầu tiên về võ thuật của Việt Nam. Đồng hành cùng ông trong chương trình này là “độc cô cầu bài” Muay Thái Nguyễn Trần Duy Nhất.
Diễn viên, vệ sĩ Tùng Yuki bỏ việc, lên đường học hỏi tinh hoa võ thuật - ảnh 2
Trong khi Duy Nhất tham gia học võ và giao đấu thì Tùng Yuki bằng những kinh nghiệm võ thuật của mình sẽ trực tiếp quan sát và tư vấn cho chàng trai trẻ
Nam doanh nhân 56 tuổi chia sẻ: “Khi nhận được lời mời tham gia vào hành trình Con đường võ học, tôi đã vô cùng háo hức vì nó đúng với sở thích cũng như đam mê từ bé của mình. Xuất thân từ lò võ nên việc tham gia một chương trình về võ thuật như vậy là điều mà tôi nghĩ không chỉ riêng tôi mà bất cứ võ sĩ nào cũng mong ước. Tuy nhiên, xã hội hiện tại quá nhiều bạo lực khiến bản thân người lớn tuổi như tôi khá nhiều trăn trở. Mong rằng võ thuật sẽ giúp tôi và các bạn cân bằng lại tinh thần, rèn luyện sức khỏe và bảo vệ cái yếu bằng tinh thần thượng võ”.
Xem thêm Video : Chú Tùng Yuki và Duy Nhất găp Thầy – Võ Sư Hồ Tường (TAKHADO) tại Tân Phước Khánh – Bình Dương.

Tân Khánh Bà Trà


Võ Thị Trà

Võ Thị Trà là một dũng tướng trước thời thực dân Pháp xâm lực Nam Kỳ, là người phụ nữ gắn trực tiếp với tên gọi một môn phái võ thuật cổ truyền Việt Nam: môn phái Tân Khánh Bà Trà

 

Tiểu sử

Gốc gác của bà Trà vốn là dòng dõi của một vị tướng nhà Tây Sơn đã từ bỏ quê hương Tây Sơn, Bình Định vào đây sinh sống từ đầu thế kỷ XIX để tránh sự trả thù của vua Gia Long. Tương truyền bà Trà từng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nhân dân địa phương chống lại bọn cường hào ác bá tại địa phương khoảng từ năm 1850 đến 1859.

Bà Võ Thị Trà cũng là người phụ nữ có công khai phá vùng đất mà nay là xã Bình Chuẩn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Để ghi công của bà, nhân dân đã gọi vùng đất này bằng tên “đất Bà Trà”, nay còn lưu lại tên giáo xứ Bà Trà với một nhà thờ Công giáo nằm trên địa bàn xã Bình Chuẩn, thuộc giáo phận Phú Cường.

Bà Trà và võ phái Tân Khánh Bà Trà

Chính sự định cư của vị tướng này và sau là uy danh của bà Trà mà môn phái võ thuật Tân Khánh đã được nối dài thêm hai tiếng Bà Trà để thành võ thuật Tân Khánh Bà Trà.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

——————————————————–

 

 

Tân Khánh Bà Trà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Mục lục

Tân Khánh Bà Trà hay Bà Trà-Tân Khánh hay Võ lâm Thiếu Lâm[1] là một trong những hệ phái võ thuật thuộc võ cổ truyền Việt Nam. Hệ phái có xuất xứ từ Bình Định và được các võ sư trau chuốt qua nhiều thế hệ tại vùng đất mớimiền Nam Việt Nam là làng Tân Khánh (nay là thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), và làng Bình Chuẩn (nay thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).

Lịch sử

Bình Định là quê hương của những hệ phái võ Tây Sơn nổi tiếng, gắn liền với chiến công hiển hách của những đoàn quân bách chiến bách thắng dưới ngọn cờ đào của Tây Sơn tam kiệt Nguyễn Nhạc, Nguyễn HuệNguyễn Lữ. Sau khi Gia Long được người Pháp hậu thuẫn đánh bại nhà Tây Sơn (1778-1820), nhiều người dân vùng đất này đã buộc phải di cư vào Nam trốn tránh sự thảm sát trả thù của vương triều mới và lập ra làng Tân Khánh. Họ mang theo mình truyền thống thượng võ và những kỹ pháp võ thuật của quê hương Tây Sơn-Bình Định tới vùng đất mới, tiếp tục phát triển nó trong sự hòa trộn với những hệ thống kỹ thuật tại quê hương mới[2].

Giữa thế kỷ 19, dưới triều vua Tự Đức (1848-1883), nổ ra một sự kiện phản ánh rõ rệt tinh thần bất khuất của dân làng Tân Khánh: cuộc khởi nghĩa của dân làng Tân Khánh chống lại bè lũ quan lại thối nát tay sai của ngoại bang ở địa phương. Ngày nay nhiều người dân bản địa vẫn còn rất tự hào về sự kiện này và luôn nhắc về nó gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ tên là Võ Thị Trà[3]. Bà vốn rất giỏi võ Tây Sơn, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa trong 10 năm trời ròng rã từ năm 1850 và chấm dứt khi khi người Pháp xâm lược ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vì vậy, vùng đất này, bao gồm cả làng Tân Khánh và làng Bình Chuẩn còn được gọi là “đất Bà Trà”. Và cũng từ đây, người dân gọi phái võ truyền thống xuất phát từ Tân Khánh, Bình Chuẩn là “phái võ Bà Trà – Tân Khánh” hay “Tân Khánh Bà Trà”. Thời đó, phái võ này được coi là một trong số rất ít phái võ cổ truyền có tiếng ở miền Nam Việt Nam. Võ Bình Định, võ Tân Khánh Bà Trà cũng đã nổi tiếng trong giới võ lâm Việt Nam[4].

Đặc điểm

Một đòn đá thẳng trong võ Tân Khánh Bà Trà đang được các môn sinh luyện tập.

Hai môn sinh Tân Khánh Bà Trà đang luyện đấu tề mi côn.

Hình thành và phát triển trên quê hương mới, phái võ Tân Khánh Bà Trà vẫn duy trì gần như tất cả những miếng võ cơ bản của phái Tây Sơn trong đó có những bài danh quyền như Ngọc trản, Lão mai quyền, Thần đồng quyền, Thái Sơn[5], Tấn Nhứt, Huỳnh Long quá hải, Đồng Nhi, Lão Mai, Thiền Sư…, các bài côn như Tấn nhất, Tứ môn, Thần Đồng, Giáng Hỏa, Ngũ Môn… và nhiều bài binh khí như: Siêu Thái Dương, Siêu Thái Âm, Song Kiếm, Trường Thương… Tuy nhiên các võ sư đã điều chỉnh và cải tiến các kỹ thuật đòn thế để phù hợp với vùng đất mới đồng thời gia tăng hiệu quả tính, nhanh hơn và mạnh mẽ hơn. Những bài thiệu dùng để dạy các võ sinh trong võ Tây Sơn cũng được trau truốt, một số bài có cả những câu mới được bổ sung.

Đặc trưng kỹ thuật của võ phái Tân Khánh Bà Trà là lối tấn công phối hợp, liên hoàn những kỹ thuật đòn chân và đòn tay nhằm làm rối loạn sự phòng thủ của đối phương cũng như giúp cho sự tấn công đạt hiệu quả cao. Những đòn tay và đòn chân tung ra theo đường thẳng, có sức án ngự mọi sự tấn công đối phương được võ phái này chú trọng ngang với những đòn tay và đòn chân, cận chiến bằng kỹ thuật đầu gối, cùi chỏ, nắm đấm, cạnh bàn tay, ngón tay, ức bàn tay… Chính đặc điểm này đã giúp cho môn sinh của võ phái Tân Khánh Bà Trà có khả năng chiến đấu trong mọi tình huống.

Binh khí của võ phái Tân Khánh Bà Trà có đủ thập bát ban võ nghệ nhưng nổi tiếng nhất với roi và côn, là thứ binh khí làm từ nguyên liệu có sẵn tại địa phương như: tre, tầm vông, gỗ căm xe, gỗ mật cật… Nhiều bậc tiền bối của võ phái Tân Khánh Bà Trà từng nổi danh với những đường roi, đường côn kỳ tuyệt đả bại nhiều cao thủ khắp lục tỉnh Nam Kỳ.

Hệ thống đai được sắp xếp từ thấp đến cao như sau: – Huyền đai (đai đen) – Thanh đai (đai xanh lá cây) – Hồng đai (đai đỏ) – Hoàng đai (đai vàng) – Bạch đai (đai trắng)

Võ sư

Võ phái Tân Khánh Bà Trà có nhiều thế hệ anh tài nối tiếp nhau vang danh khắp Nam Bộ. Bà Võ Thị Trà, thường gọi tắt là Bà Trà, lẫy lừng một thời ở Tân Khánh chống lại bọn tham quan ô lại, để rồi tên đất được gắn thêm tên người kể từ giữa sau thế kỷ 19. Hai anh em Võ Văn Ất (Hai Ất) và Võ Văn Giá (Ba Giá) và bà Võ Thị Vuông (Năm Vuông) từng làm rạng danh võ phái Tân Khánh Bà Trà với những lần đánh hổ[6] [7].. Những võ sư nổi tiếng khác có thể kể tên: Hai Đước, Sáu Trực, Năm Nhị, Bảy Phiên và Năm Quy, mỗi người đều có những phong cách riêng với nhiều thành tích. Quyền sư Võ Văn Đước (Hai Đước) phá tan thế trận Mai Hoa Thung bảo vệ thanh danh xứ sở. Sáu Trực, một học trò của Hai Ất, tiếp nối truyền thống rực rỡ của thầy, đã truyền thụ võ công cho nhiều môn sinh trong số này có hai nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn An NinhPhan Văn Hùm. Đệ nhất côn Đỗ Văn Mạnh (Năm Nhị) làm cho võ phái Tân Khánh Bà Trà nổi tiếng khắp Nam kỳ với cây trường côn khiến nhiều võ sĩ kinh hồn táng đởm. Trong khi đó Bảy Phiên và Năm Quy lại đóng góp cho sự phát triển của môn phái bằng cách đào tạo những môn sinh cho các cuộc đấu võ đài mà người Pháp tổ chức những năm 1930-1940, đồng thời rèn luyện kỹ pháp chiến đấu, giáo dục tinh thần yêu nước cho những người tham gia các phong trào khởi nghĩa chống Pháp nổ ra trong vùng [8].

Những năm 1950 phái Tân Khánh Bà Trà bước sang một giai đoạn mới. Nối tiếp truyền thống hào hùng của võ phái, lão võ sư Hồ Văn Lành (biệt danh Từ Thiện, môn đệ xuất sắc của Bảy Phiên và là cha của võ sư Hồ Tường sau này) đã rời quê hương lên Sài Gòn tham gia Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam, một tổ chức quần chúng được chính quyền Sài Gòn cho phép hoạt động dưới quyền Tổng nha Thanh niên của Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên. Tại đây, với tư cách Ủy viên Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam vài nhiệm kỳ (từ những năm 1950 đến 1975), võ sư Hồ Văn Lành đã nỗ lực giúp hòa nhập và phổ biến võ phái Tân Khánh Bà Trà vào cộng đồng võ thuật miền Nam. Cho đến năm 1984, khi đã 70 tuổi, lão võ sư Hồ Văn Lành đã truyền bá võ phái Tân Khánh Bà Trà tới hàng vạn môn sinh (các môn sinh nam mang họ Từ và các môn sinh nữ mang họ Hồ) và trang bị kỹ thuật đặc thù của môn phái cho họ. Hơn 400 võ sĩ chuyên nghiệp đã được đào tạo trong đó có tới 100 phụ nữ. Nhiều môn sinh đã trưởng thành, tiếp bước con đường truyền bá võ phái Tân Khánh Bà Trà cho các thế hệ nối tiếp ngay tại các quận, huyện của thành phố Hồ Chí Minh, một số tỉnh thành Nam Bộ và cả ở nước ngoài.

Đóng góp

Một lớp võ Tân Khánh Bà Trà không lấy học phí dành cho sinh viên.

Một buổi thi đấu cờ người (kết hợp giữa thi đấu cờ tướng và biểu diễn võ thuật Tân Khánh Bà Trà.

Phái võ Tân Khánh Bà Trà đã đóng góp vào kho tàng võ học truyền thống của dân tộc nhiều kỹ thuật mới như các bài quyền Đồng nhi quyền (còn gọi là Bát Tiên), Tấn nhứt côn và đặc biệt là bài Tứ linh đao.

Một số môn sinh xuất sắc của võ phái Tân Khánh Bà Trà đã từng tham gia thi đấu võ đài, đạt được hai huy chương vàng (Từ Thanh Nghĩa và Hồ Ngọc Thọ), bốn huy chương bạc (Từ Thanh Tòng, Từ Duy Tuấn, Từ Hoàng Út, Hồ Thanh Phượng), một huy chương đồng (Từ Hoàng Minh) trong các giải vô địch toàn quốc. Ba người (Từ Thanh Nghĩa, Từ Trung Tín, Từ Y Văn) đã từng được chọn đại diện cho toàn miền Nam thi đấu bẩy trận toàn thắng trước các nhà vô địch của những nước Thái Lan, Lào, Campuchia. Các võ sĩ chưa từng nếm mùi thất bại liên tục trong mười trận đấu: Từ Hùng (từng là Phó giám đốc Sở Thể dục Thể thao tỉnh Tây Ninh), Hồ Hoàng Thủy, Từ Dũng, Hồ Hoàng Hạnh, Từ Bạch Long, Hồ Tố Nguyệt. Có người đã trưởng thành với tư cách một chưởng môn của một võ phái mà nhiều kỹ thuật của võ phái có nguồn gốc từ Tân Khánh Bà Trà như Hồ Hoa Huệ [9].

Thành tích

Ngày nay, võ sư Nguyễn Hồng Đỏ của môn phái Tân Khánh Bà Trà, đang công tác tại Trung Tâm Thể dục Thể thao huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục góp phần mang lại vẻ vang cho môn phái với trên 120 huy chương các loại (vàng, bạc, đồng) tại các giải vô địch học sinh, Hội khỏe Phù Đổng , cụm, thành phố Hồ Chí Minh, trẻ thành phố Hồ Chí Minh, câu lạc bộ mạnh thành phố Hồ Chí Minh, câu lạc bộ mạnh toàn quốc, trẻ toàn quốc và toàn quốc, chủ yếu về môn thi đấu đối kháng của Võ Cổ Truyền và về môn thi đấu đối kháng của Quyền AnhWushu . Trong đó có 1 huy chương bạc quốc tế về Quyền Anh, 2 huy chương vàng quốc gia (võ sĩ Trần Văn An và võ sĩ Nguyễn Thanh Tâm), 17 huy chương vàng thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều võ sĩ của võ sư Nguyễn Hồng Đỏ đã từng thi đấu quốc tế và số khác trở thành vận động viên đội tuyển thành phố Hồ Chí Minh, như: Phạm Thanh Hải, Dương Tấn Hùng, Mai Hoàng Trí…

Những câu chuyện và nhận định về Tân Khánh Bà Trà

  • Theo một tờ nhật báo Việt Nam phát hành cách nay đã lâu thì “ông Cả Đại ở Thủ Dầu Một nhảy qua nóc nhà ngói một cách dễ dàng và con gái của ông ta chỉ đại được một phần công phu của cha mà đã nhảy qua được cây rơm” [10]
  • Người dân Sông Bé tự hào vì “làng Tân Khánh đã có một cô gái trẻ, với võ thuật Tân Khánh Bà Trà, đã đơn thương giết chết cọp, khiến ngoại bang hết lòng khâm phục”[11].
  • “Tôi nghĩ đến danh đồn võ ta ở Bà Trà Tân khánh đánh cọp rất hay, mà nếu không sao dám đánh với cọp dữ? Thử hỏi võ Đại Hàn, võ Nhu Đạo, võ đánh Bóc có dám đứng nhìn khi gặp cọp trong rừng không?” [12].
  • Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2009, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh Uỷ và Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Bình Dương, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Bình Dương đã thông qua công trình nghiên cứu “Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà – Bình Dương” do Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp làm chủ nhiệm công trình, Thạc sĩ – võ sư Hồ Tường là một trong những thành viên trực tiếp thực hiện công trình. Công trình “Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà – Bình Dương” dự kiến sẽ tiến hành trong vòng 18 tháng.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Có một lớp võ SV miễn phí hơn 10 năm

    có đoạn “võ sư Hồ Văn Tường hiện nay đã có 24 năm đứng lớp võ dành cho các bạn trẻ yêu thích bộ môn Thiếu lâm võ lâm”. Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ. Có thể tên này là theo cách gọi một số võ sinh

  2. ^ Bài Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, trong cuốn Võ dân tộc, Hữu Ngọc và Lady Borton chủ biên, NXB Thế giới, H. 2004, trang 53 kéo dài đến 54
  3. ^ Đây chỉ là tương truyền. Xem thêm bài Võ Thị Trà
  4. ^ Bài Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, như trên, trang 54, đoạn 3
  5. ^ Trong võ thuật cổ truyền Việt Nam, cụ thể là môn phái Tân Khánh Bà Trà và môn phái Bình Định, Thái Sơn, tên một ngọn núi nổi tiếng ở Trung Quốc, được chọn để đặt tên cho một bài quyền và một bài côn. Trong chương trình thống nhất của Liên Đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam có bài côn Thái Sơn. Đặc trưng của hai bài võ này là có đòn thế vững chắc, dũng mãnh giống như núi Thái Sơn ở Trung Quốc.
  6. ^ Chuyện cọp Bầu Lòng, Võ Tòng Tân Khánh, tác giả Lưu Linh Tử
  7. ^ Bài “Võ Việt Nam, võ ngoại quốc: võ nào trọng? võ nào khinh?”, báo Võ Thuật, số 22, bộ III, ngày 1/1/1971, trang 9
  8. ^ Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, như trên, trang 56, toàn bộ nội dung đoạn này là tóm tắt của đoạn 2 trong tài liệu
  9. ^ Xin xem bài Hồ Hoa Huệ và hệ thống kỹ thuật của môn Tinh Võ đạo
  10. ^ Từ Hải (tức Hàng Thanh), trong bài “Thi võ đời Gia Long, báo Võ Thuật, số 4, bộ I, ngày 1/4/1969, trang 22
  11. ^ Tứ Lang, trong bài “Người Sông Bé đánh cọp”, báo Sông Bé, số 450, ngày 1/2/1986
  12. ^ Hàng Thanh, trong bài “Võ Việt Nam, võ ngoại quốc: võ nào trọng? võ nào khinh?”, báo Võ Thuật, số 22, bộ III, ngày 1/1/1971, trang 9

Tham khảo

  • Bài về Võ phái Tân Khánh Bà Trà trong cuốn Võ dân tộc, Hữu Ngọc và Lady Borton chủ biên, NXB Thế giới, H. 2004.
  • Võ sư Từ Thiện, Hồ Tường, Võ thuật phái Tân Khánh, Nhà xuất bản Sông Bé, Sông Bé, 1989.
  • Hoài Phong, Tự học võ thuật phái Tân Khánh, Nhà xuất bản Tân Khánh, Gia Định, 1971.
  • Mai Văn Muôn, Chu Quang Trứ, Ngô Xuân Bính, Lê Anh Thơ, Lược sử võ cổ truyền Việt Nam, Nhà xuất bản Thể dục Thể thao, Hà Nội, 1991.

Liên kết ngoài

  • Bài Ai đến sân võ hôm nay?

    đề cập môn phái Võ lâm Tân Khánh Bà Trà ở Nhà văn hóa Thanh niên mở hẳn nhiều khóa học miễn phí dành cho sinh viên – học sinh. Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ.

  • Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm tại Trung Tâm TDTT huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, số 585, đường Hùynh Tấn Phát, khu phố 7, thị trấn Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, điện thoại: 08.7827100.

Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 11:03, ngày 12 tháng 2 năm 2011.

Tham khao: http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Kh%C3%A1nh_B%C3%A0_Tr%C3%A0

 

 

————————————-

 

 

Sơ lược lịch sử hình thành võ thuật Tân Khánh – Bà Trà

Nguyễn Văn Quốc
 www.sugia.vn

        Bối cảnh lịch sử – những tiền dề của quá trình xuất hiện võ thuật Tân Khánh – Bà Trà

 

Tân Khánh – Bà Trà vốn là tên gọi của vùng đất Tân Khánh và vùng đất Bà Trà của tỉnh Bình Dương xưa.

Địa bàn Tân Khánh xưa hiện nay là thị trấn Tân Phước Khánh thuộc địa bàn huyện Tân Uyên; Địa bàn Bà Trà xưa hiện nay là dịa bàn xã Bình Chuẩn thuộc địa bàn huyện Thuận An. Dù tên gọi hai vùng đất được hình thành trong hai thời điểm lịch sử khác nhau, tuy nhiên cả hai vùng đất trên đều được khai phá từ đầu thế kỷ XVII do công sức khai hoang của cư dân xiêu tán người Việt từ miền Thanh Nghệ – Ngũ Quảng theo bước chân vu quy của công chúa Ngọc Vạn ( con gái của Chúa Nguyễn Phước Nguyên ) với Quốc vương Chân Lạp là Chey Chetta II vào năm 1620.

Nhà sử học Phan Khoang đã cho biết: “ Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Xiêm La nguy hiểm đã xin cưới một công nữ con Chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong được sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa và Chúa Hy Tông có mưu đồ xa xôi. Năm 1620 đã gả cho vua Chân Lạp một công nữ. Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân lạp sau này. Bà hoàng hậu này, đem nhiều người Việt đến, có người được giữ hệ trong trong triều, bà lập một xưởng thợ và nhiều nhà buôn bán lớn gần kinh đô. Đến năm 1623, một sứ bộ của Chúa Nguyễn đến yêu cầu được lập cơ sở ở Prey Kor, tức Sài Gòn ngày nay và dược đặt ở đây một sở thu thuế hàng hóa. Vua Chey Chetta chấp thuận và triều đình Thuận Hóa khuyến khích người Việt di cư đến đất ấy làm ăn, rồi lấy cớ để giúp chính quyền Chân Lạp giữ gìn trật tự, còn phái một tướng lãnh đến đóng ở Prey Kor nữa. Khi Chey Chetta mất, vùng đất Prey Kor trở ra bắc đến biên giới Chiêm Thành tức Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa ngày nay đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai”.

Năm 1698, Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu vào Nam kinh lược, lập nên hai phủ: Phước Long và Tân Bình vốn là hai nơi có đông đảo người Việt từ miền Thanh Nghệ – Ngũ Quảng vô khai phá và sinh sống từ trước đó. Riêng vùng Tân Khánh – Bà Trà thời đó thuộc phủ Phước Long.

Từ năm 1802 đến nắm 1827, phủ Phước Long mang tên Trấn Biên; vùng đất Tân Khánh – Bà Trà đều thuộc tổng Bình Chánh, huyện Bình An, dinh Trấn Biên.

Năm 1832, nhà Nguyễn bỏ trấn lập tỉnh, năm trấn của Nam bộ thành luc tỉnh, đổi dinh Trấn Biên thành tỉnh Biên Hòa. Địa bàn Tân Khánh – Bà Trà lúc bấy giờ thuộc tổng Bình Chánh Trung, huyện Bình An (Thủ Dầu Một) và huyện Ngãi An (Thủ Đức).

Năm 1862, sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, cả hai ấp Tân Khánh và Bình Chuẩn (tên gọi mới của vùng đất Bà Trà) được nâng lên thành hai làng, đều thuộc tổng Bình Thiện, huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa.

Năm 1867, sau khi chiếm đóng và bình định toàn Nam kỳ, Pháp chia lục tỉnh thành 27 địa hạt. Tỉnh Biên Hòa được chia thành 5 địa hạt, trong đó địa hạt Bình An vẫn giữ nguyên địa phận huyện Bình An, lỵ sở đặt tại Thủ Dầu Một. Địa hạt Bình An chia thành 7 tổng, 71 xã thôn. Địa bàn Tân Khánh – Bà Trà lúc ấy là 2 trong số 71 xã thôn của địa hạt Bình An thuộc tổng Bình Thiện.

Năm 1871, Pháp bỏ địa hạt Bình An và thay bằng địa hạt Thủ Dầu Một. Hạt Thủ Dầu Một chia làm 10 tổng với 91 xã thôn, Tân Khánh và Bình Chuẩn là 2 xã của tổng Bình Thiện, hạt Thủ Dầu Một.

Ngày 20 tháng 12 năm 1889, Pháp nâng địa hạt Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Dầu Một. Tỉnh Thủ Dầu Một được chia thành 12 tổng với 172 làng xã. Đến năm 1910, tổng Bình Thiện của tỉnh Thủ Dầu Một gồm làng xã: An Mỹ, Bình Chuẩn, Hóa Nhựt, Khánh Vân, Phước Lộc, Tân An, Tân Khánh, Vĩnh Phú và Tuy An. Năm 1926, 2 làng Tân Khánh và Phước Lộc sáp nhập thành xã Tân Phước Khánh.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 – 1975), do tình hình chính trị, xã hội của từng thời kỳ chi phối, nên chính quyền cách mạng Việt Nam đã đưa hai xã Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn co1luc1 thuộc huyện Lái Thiêu, có lúc thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương). Về phía chính quyền Sài Gòn, từ năm1956 đến năm 1975, xã Tân Phước Khánh và Xã Bình Chuẩn đều thuộc huyên Châu Thành, tỉnh Bình Dương.

Từ năm 1975 đến nay, xã Tân Phước Khánh thuộc huyện Tân Uyên và xã Bình Chuẩn thuộc huyện thuận An tỉnh Bình Dương.

Trở lại lịch sử thời khai phá, cho đến cuối thế kỷ XVI, vùng đất miền Đông Nam bộ, trong đó bao gồm cả tỉnh Bình Dương ngày nay, về cơ bản vẫn là vùng đất hoang dã, chưa được mở mang khai phá bao nhiêu.

Trong cuốn Phủ biên tạp lục viết vào thế kỷ XVIII, Lê úy Đôn cũng ghi rằng:” Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại trở lên toàn là rừng rậm hoang vu, đồng cỏ rậm rộng hàng ngàn dặm”.

Còn theo lời kể lại của các cụ cao niên tại địa phương thì vùng đất Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn xưa ( vùng đất Tân Khánh – Bà Trà), có hai lõm dân cư chen lẫn giữa rừng già đầy thú dữ, nhiều nhất là cọp. Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề nương rẫy và khai thác lâm sản. mãi đến những năm giữa thế kỷ XX, nhiều người Dân Tân Phước Khánh – Bình Chuẩn vẫn duy trì nghề” quơ củi”, nghĩa là hằng ngày vào rừng rừng chặt củi gánh ra chợ bán lấy tiền là kế sinh nhai chính…

Cho đến những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), rừng ở Tân Phước Khánh – Bình Chuẩn vẫn chiếm khoảng 3/5 diện tích tự nhiên với những loại danh mộc như sao, dầu, bằng lăng…tạo thành một hành lang nối dài từ chiến khu Đ tới rừng Cò Mi chiến khu Thuận An Hòa…Tuy nhiên, do cường độ chiến tranh ngày càng ác liệt, nên trong những năm tháng cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rừng Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn bị bom đạn, chất độc hóa học và xe ủi của Mỹ tàn phá nghiêm trọng…

Về dân cư, vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung xiêu tán về vùng miền Đông Nam bộ, trong đó có địa bàn thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay tìm vùng đất mới để lập nghiệp. Họ bao gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau và lìa bỏ quê hương với nhiều nguyên nhân khác nhau. Họ là những nông dân nghèo khổ, không chịu nổi những cơ cực lầm than chốn quê nhà, là những người chạy trốn sự truy đuổi của chính quyền phong kiến, những người trốn lính, trốn thuế…Thời kỳ ban đầu, lưu dân người Việt, người Hoa sống chủ yếu ven sông Đồng Nai, ven sông Sài Gòn, nhất là vùng chung quang Thủ Dầu Một sau này và vùng Tân Uyên, Tân Khánh, Cù Lao Rùa. Ở những nơi này, từ rất sớm, đã hình thành những xóm làng đông đúc của những lưu dân.

Năm 1698, có thể coi là mốc chính thức quan trọng về việc xác lập cương vực lãnh thổ chủ quyền đất nước. Tiếp đó, các Chúa Nguyễn, các vua nhà Nguyễn về sau đã có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút lưu dân đến khai hoang, lập làng ở vùng Gia Định – Đồng Nai cũng như trên phạm vi toàn Nam bộ.

Lê Quý Đôn trong sách” Phủ biên tạp lục”, ghi nhận rằng Chúa Nguyễn đã” chiêu những dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, các phủ Điện Biên, Quảng Ngãi, Quy Nhơn cho dời tới đây ( chú thích của người viết: tức đất Đông Nam bộ ngày nay), phát chặt mổ mang, hết thảy thành bằng phẳng, đất nước màu mỡ, cho dân tự chiếm, trồng cau và làm nhà cửa”.

Khi triều Tây Sơn sụp đổ, có thêm dân Bình Định đến nhằm tránh họa Gia Long trả thù. Do vậy, thời gian này cư dân quê Tây Sơn, Bình Định vào vùng Tân Phước Khánh _ Bình Chuẩn xưa sinh sống có thể coi là đợt dân lưu tán mang đậm màu sắc chính trị. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng có viết:  “Ngược dòng lịch sử, chúng ta biết thành phần dân lưu tán ở Bình Dương không khác dân lưu tán nói chung khắp Nam bộ. Họ là những người quá nghèo từ đồng bằng sông Hồng, từ Nghệ Tĩnh, Ngũ Quảng, mạo hiểm đi tìm đất sống, họ là những kẻ bị áp bức và chống áp bức…Sau này, lượng lưu tán được bổ sung thêm tù nhân và lính thú, khi triều đình Tây Sơn sụp đổ thêm dân Bình Định tránh họa Gia Long trả thù, và với triều Nguyễn, nhiều đợt mộ dân lập ấp, nơi miền bấy giờ gọi là Thiên (Phiên) Trấn. Làng Tân Khánh có thể coi như điển hình của đợt lưu tán mang đặm màu sắc chính trị: hầu hết quê Tây Sơn, Bình Định vào Nam đầu thế kỷ XIX, cát cứ vùng rừng hiểm trở và sống ngoài vòng pháp luật”.

 

         Lịch sử hình thành võ Tân Khánh – Bà Trà  

 

         Vùng đất Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn ngày xưa cũng như những vùng đất khác ở Nam bộ vô cùng nhiều thú dữ: voi, cọp, trăn, rắn, trâu rừng…Những thế hệ lưu dân khai hoang vùng đất mới phương Nam đã từng mô tả cảnh tượng này qua câu ca dao:

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,

Xuống sông sợ đỉa, lên rừng cọp um !

Nhưng đáng sợ nhất trong những loài thú chính là cọp. Cọp có thể sống ở mọi địa hình: giữa sình lầy nước mặn, ở bãi bùn nước lợ với rặng dừa nước, ở gó đất với vài cây kè…đất thấp và trống trải, cọp có thể tạo căn cứ, kết bầy, sinh con, Những vị bô lão ở Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn kể rằng: đất giồng gần bờ sông có nhiều cây đa, cây gừa mọc um tùm là nơi cọp thường bám giữ, ít đổi địa bàn vì sợ không tranh giành được với các đối thủ khác. Cho nên dân gian có câu: “Rừng nào, cọp nấy”. Tuy vậy, địa bàn nào có cọp thì dân khai hoang thường không phải sợ nai, sợ heo rừng phá hoại hoa màu, nương rẫy, bởi nai và heo rừng thường là loại thức ăn lý tưởng của cọp.

Đó là trên đất liền, còn khi bước xuống sông nước thì cá sấu là nổi kinh hoàng cho những người đi mở đất. Có không biết bao nhiêu người đã trở thành miếng mồi ngon cho cá sấu để cho thế hệ đi sau đúc kết kinh nghiệm: “đâm thẳng vào chiếc miệng há rộng của chúng! Chiếc miệng của cá sấu vừa là sự nguy hiểm cho con người khi bị nó ngoạm phải, nhưng đồng thời cũng là chổ yếu  của loài thú này – đó là chổ mềm mại nhất của loài cá sấu mà con ngươi dễ làm sát thương nhất!”. Từ đó mới có câu thành ngữ “Thứ nhất là phá sơn lâm, thứ hai là đâm hà bá”. Phá sơn lâm là phá rừng núi, túc là loại trừ địa bàn cư trú của cọp, đâm hà bá là đâm vào chổ nhược của loài cá sấu – ác thú dưới sông nước!.

Những kinh nghiệm diệt trừ thú dữ của lưu dân người Việt vào khai phá đất phương Nam không những hình thành từ những kinh nghiệm thực tiễn mà còn học hỏi ngay lớp cư dân bản địa đã từng cư trú lâu đời. Riêng ở trên mảnh đất Tân Phước Khánh – Bình Chuẩn có người Khmer, người Stiêng, người Mạ, người Châu Ro…

Ở vùng Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn người Việt đã tiếp thu văn hóa của người Khmer trên bước đường mở đất như: tập tục nhà trai thường trao sính lễ đính hôn cho nhà gái là đôi bông tai để cô dâu đeo…Quá trình giao lưu văn hóa đó cũng diễn ra cả trên lĩnh vực võ thuật: ngươi Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa thường sử dụng ngón đá vòng cầu bằng ống chân giống như võ thuật của người Khmer…

Cũng trên vùng đất mới thời khai hoang, bộ máy cai trị của chính quyền còn lỏng lẻo đã dẫn đến nạn trộm cướp, phá rối trật tự trị an khá nhiều. Một mặt do tình hình dân cư khai hoang lập ấp vốn đa phần là dân tứ chiếng, nghèo đói cho nên “ngựa quen đường củ”. Một mặt khác, “người Miên (túc dân Chân Lạp) cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam dường như sẵn sàng hưởng ứng chống đối quan lại địa phương khi ở Cao Miên (tức nước Chân Lạp) phong trào lên cao”. Do vậy, những lớp người đến khẩn hoang đầu tiên không phải đều gặp những thuận lợi, dễ dàng, bởi một mặt họ luôn phải sẵn sàng diệt trừ các loài thú dữ để tồn tại, một mặt họ luôn sẵn sàng đương đầu với bọn cường hào, ác bá, cướp bóc để bảo vệ thành quả lao động của bản thân, gia đình, chòm xóm…

Chính trong điều kiện thiên nhiên và xã hội khắc nghiệt như vậy, để có thể tồn tại trên vùng đất mới, thế hệ người Việt đi mở đất một mặt phải đoàn kết nhau lại, một mặt tận dụng tất cả kiến thức, kinh nghiệm để bảo đảm sự bình an cho tính mạng và thành quả lao động. Sách “Lịch sử khai phá vùng Nam Bộ” ghi: “ Lưu dân người Việt khi vào vùng đất mới làm ăn sinh sống, đến đâu họ cũng nhanh chóng kết thành chòm xóm, để dựa vào nhau làm ăn, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau những lúc gặp khó khăn hoạn nạn, bảo vệ cho nhau, chống lại thú dữ, cướp bóc, cường hào”.

Trong thực tiễn, không gian sống của vùng đất mới không giống như ở quê cha đất tổ tại miền Trung, miền Bắc, vốn liếng võ thuật truyền thống dân tộc mang theo dù “đạm bạc, ít ỏi” nhưng những kiến thức võ thuật tiếp thu của dân tộc anh em và kinh nghiệm đúc kết được từ thực tiển cuộc sống, trên cơ sở đó, những người mở đất sáng tạo thêm những đòn thế, bài bản võ thuật mới để thích nghi với thiên nhiên và xã hội no7inque6 hương mới, làm phong phú thêm vốn liếng võ thuật mà họ mang theo.

Năm 1679, hai võ tướng Trân Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch của triều đình nhà Minh ( Trung Quốc) không khuất phục trước sự lật đổ triều đại nhà Minh của những người Mãn Thanh, đã cùng với 3.000 binh sĩ và gia đình chạy sang Đại Việt xin tá túc và được chúa Nguyễn cho vào sinh sống tại đất Đồng Nai và Mỹ Tho.

Dương Ngạn Địch đã chọn đất Mỹ Tho, còn Trần Thuông Xuyên thì đến đất Đồng Nai xây dựng cuộc sống mới và tạo lập nên Cù Lao Phố nổi tiếng. Dĩ nhiên, vùng đất Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa là mảnh dất nằm giữa hai con sông Phước Long ( tức sông Đồng Nai) và sông Tân Bình ( tức Sông Sài Gòn) thuận tiện cho việc giao thông, không xa cách lắm khu vực Cù Lao Phố, lại có mỏ đất sét thuận tiện cho việc phát triển nghề gốm. Do vậy, nhiều người Hoa đã tìm đến làm ăn, buôn bán, xây lò phát triển nghề gốm như một lẽ tất nhiên. Bên cạnh đó, người Hoa còn mang đến vùng đất Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa nhiều đòn thế võ Trung Hoa, Vì tất cả họ đều thuộc tướng sĩ của Trần Thượng Xuyên rất giỏi võ nghệ. Đó là dòng võ Tiều (võ của người Triều Châu), võ Hẹ (võ của người Hẹ – Hakka Quảng Đông), võ Tàu ( võ của người Phúc Kiến)…Đó chính là cơ hội để cư dân Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa học hỏi thêm nhiều đòn thế võ Trung Hoa nổi tiếng, để chắt lọc, bổ sung cho môn võ miệt rừng.

Đến năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi, lợi dụng chính sách mộ dân lập ấp của nhà Nguyễn, nhiều lưu dân Tây Sơn – Bình Định đã vào đất Đống Nai – Gia Định sinh sống.

Tương truyền rằng, trong đoàn người từ Bình Định kéo vào khai khẩn đất hoang dựng trại cất nhà sinh sống ở vùng Truông Mây có một gia đình thuộc dòng dõi tướng lĩnh nhà Tây Sơn, Gia đình tướng Ta7y Sơn nói trên có một người con gái tên là Trà, không rõ họ – vốn là binh sĩ thân tín của nữ tướng Bùi Thị Xuân. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng cô mang họ Võ – Võ Thị Trà, tuy nhiên cho đến nay, các nhà khoa học vẩn chưa tìm thấy tài liệu nào làm cơ sở khoa học để minh chứng cho những ý kiến trên,

Do sức khỏe tốt,giỏi võ nên cô (Bà Trà) cùng dân xiêu tán khai phá đất hoang trồng tỉa, làm ăn, trừ diệt cọp dữ bảo vệ xóm làng. Lúc rảnh rỗi, cô còn chỉ dẩn, luyện tập võ nghệ Tây Sơn cho thanh niên trai gái, Do vậy, ở vùng Truông Mây, trai gái đều biết đi roi, múa quyền. Đặc biệt, dưới sự tổ chúc, chỉ huy của cô Trà, thanh niên trai tráng vùng Truông Mây còn đánh tan nhiều băng cướp, chống trả lại sự áp bức, đán áp của bọn cường hào ác bá, bảo vệ bình yên cho bà con xóm ấp. Hơn nữa, tuy rất giàu có, nhưng cô Trà rất siêng năng, cần mẫn và có lòng nhân hậu, thường hay giúp đỡ những người nghèo khổ, thất cơ lỡ vận, nên được mọi người yêu mến, quý trọng.

Tiếng lành đốn xa, dân nghèo các nơi kéo về vùng Truông Mây ngày một đông – nơi có cô con nhà võ tướng Tây Sơn để làm ăn sinh sống. Người dân xiêu tán gọi cô là Bà Trà và từ vùng đất Tân Khánh đến làng Bình Chuẩn vốn là địa bàn hoạt động của Bà Trà đều được dân xiêu tán gọi là “đất Bà Trà”

(dấu tich1duy nhất còn lại hiện nay ở vùng này là một nhà thờ Công giáo có tên gọi Bà Trà đang tọa lạc ấp Bình Phú, xã Bính Chuẩn, huyện Thuận An).

Tại vùng đất mới, Bà Trà không những luyện tập, truyền võ Tây Sơn Bình Định cho thanh niên trai tráng, mà cô còn học hỏi, tiếp thu các chiêu thức, thế võ, các bài quyền cước của những người khai hoang trước đó. Sự kết hợp kỳ diệu của võ Tây Sơn với võ của dân xiêu tán vùng Ngũ Quảng khai phá vùng đất Đồng Nai- Gia Định, pha trộn với võ thuật của dân cư bản địa, võ thuật của người Minh Hương để hình thành nên một hệ thống kỹ thuật võ thuật mới – được người dân gọi là võ Tân Khánh – Bà Trà; “võ Bà Trà – Tân Khánh” hay còn gọi là” võ lâm Tân Khánh – Bà Trà”; “võ lâm Bà Trà – Tân Khánh”.

                                                                              

     

  Nguyễn Văn Quốc

Tài liệu tham khảo:

– Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong,NS Khai Trí XB,SG,(1969)

– Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch Viện Sử học,NXB KHXH,HN(1977)

– Huỳnh Lứa, Vài nét về tiến trình khai phá vùng đất Bình Dương trong các TK XVII – XVIII và nửa đầu TKXIX, TTKHLS số 13, Hội KHLS tỉnh BD, XB(2008)

– Trần Bạch Đằng, Địa chí tỉnh Sông Bé, NXBTH, SB, (1991)

– Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, NXB ĐP, SG (1973)

– Huỳnh Lứa, chủ biên, Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, NXB TPHCM (1987)

– Nguyễn Văn Bình, Lịch sử truyền thống Đảng bộ và nhân dân xã Bình Chuẩn, NXB CTQG, HN (2008)

Thầy – Võ Sư Hồ Văn Tường


Hồ Tường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Võ sư Hồ Tường (bên trái) cùng một môn sinh người Italia.

Hồ Tường, tên thật là Hồ Văn Tường, là một võ sư môn phái võ thuật cổ truyền Tân Khánh Bà Trà Việt Nam.

Mục lục

Tiểu sử và sự nghiệp

Hồ Tường, sinh năm 1954 tại ấp Khánh Thạnh, xã Tân Phước Khánh, quận Châu Thành, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là khu phố Khánh Thạnh, thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), là con út trong số ba người con của lão võ sư Hồ Văn Lành (tức Từ Thiện).

Hồ Tường từng học võ phái Tân Khánh Bà Trà trực tiếp từ cha và từ võ sư Hồ Văn Thạch (một võ sư lớp sau đồng môn với võ sư Hồ Văn Lành) từ những năm bốn, năm tuổi. Lớn lên, ông được sống gần cha ở Sài Gòn, vừa học văn hóa, vừa tiếp tục rèn luyện võ thuật. Từ những năm 19651966 trở đi, ông bắt đầu giúp cha trong việc huấn luyện võ thuật, lúc đầu là võ sinh ở lứa tuổi thiếu niên và sau là võ sinh ở lứa tuổi thanh niên.

Năm 1972, ông được Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam cấp giấy chứng nhận là huấn luyện viên. Từ đó, huấn luyện viên Hồ Tường đã tích cực lao vào công tác huấn luyện cùng với cha là võ sư Từ Thiện Hồ Văn Lành để đào tạo nên nhiều võ sĩ hơn và trong đó có những nhà vô địch cho danh hiệu võ đường Từ Thiện và môn phái Tân Khánh Bà Trà nói riêng và võ thuật Việt Nam nói chung. Do ở lứa tuổi thanh niên, nên những năm trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông dành thời gian nhiều hơn vào việc học văn hóa từ các trường phổ thông lên đến trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, để tránh trường hợp bị bắt đi lính cho quân đội Sài Gòn.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, võ thuật chưa được hoạt động, võ sư Hồ Tường là người đầu tiên viết bài góp ý trên báo Sài Gòn Giải Phóng (cơ quan ngôn luận của Thành Ủy Thánh phố Hồ Chí Minh) về việc nên khôi phục lại hoạt động võ thuật cổ truyền Việt Nam, vừa đáp ứng nhu cầu tập luyện của thanh niên thời bấy giờ, vừa khôi phục truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam. Dĩ nhiên do nhiều lý do mà võ thuật đã được hoạt động trở lại, nhưng rõ ràng võ sư Hồ Tường là người đầu tiên đã gíong lên tiếng chuông trong vấn đề này. Năm 1979, khi lớp Võ dân tộc được khai giảng tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quận 1 (143, đường Nguyễn Du), Hồ Tường trực tiếp tham gia huấn luyện cùng với các võ sư: Đặng Văn Anh (Kim Kê), Nguyễn Hữu Tiết và Quách Văn Phước. Chính trong thời gian này, Hồ Tường đã dành cả tháng trời để hằng ngày đến tận quận 5 (trong một hãng chế biến nước tương bị chủ bỏ chạy sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trên đường Châu Văn Liêm) với mục đích hướng dẫn cho võ sư Đặng Văn Anh bài Tứ linh đao do chính ông sáng tạo vào năm 1979 và bài đao này đã được Hồ Văn Lành giới thiệu vào chương trình huấn luyện thống nhất ở lớp Võ dân tộc quận 1. Bù lại, võ sư Kim Kê hướng dẫn lại cho Hồ Tường bài Mai hoa quyền (bài quyền duy nhất của võ sư Tây Sơn Nhạn Bùi Công Hóa truyền lại cho Kim Kê) [1]

Sau đó, cũng trong năm 1979, Hồ Tường mở lớp võ Tân Khánh Bà Trà tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao quận 3 (số 2, đường Hồ Xuân Hương). Đến năm 1981, ông mở lớp Võ lâm Tân Khánh Bà Trà tại Nhà văn hóa Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh (số 4, đường Phạm Ngọc Thạch, quận 1)[3]

Song song với việc truyền bá môn võ Tân Khánh Bà Trà – một bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, Hồ Tường còn tham gia nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, xuất bản một số sách về di sản văn hóa. Với những thành tựu đó, ngày 10 tháng 3 năm 2000, Hồ Tường được nhà nước Việt Nam trao tặng “Huy Chương Vì Sự Nghiệp Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa”.

Trên con đường nối tiếp sự nghiệp truyền bá võ thuật Tân Khánh Bà Trà của Hồ Văn Lành, đến năm 2007, Hồ Tường đã đào tạo hàng vạn lớp môn sinh và nhiều võ sư đang hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh, như: Phan Văn Trung (Trung Tâm Văn Hóa quận 1), Nguyễn Hồng Đỏ (Trung Tâm Thể Dục Thể Thao huyện Nhà Bè), Bùi Thị Tuyết Nhung (Trung tâm Thể dục Thể thao quận 4), Thiều Ngọc Sơn (Trung Tâm Thể dục Thể thao quận Gò Vấp), Dương Mỹ Phương (Trung tâm Văn hóa quận 5), Phạm Thị Mộng Thuỷ (Nhà Văn hóa Thanh niên) và Đặng Văn Vạn (Trung tâm Thể dục Thể thao huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương). Trên lãnh vực võ thuật, Hồ Tường từng nhận được nhiều bằng khen của Thành ĐoànTrung ương Đoàn [6] . Ngoài ra, trong các môn sinh đó còn có một số môn sinh là người ngoại quốc đến từ các nước: Hoa Kỳ, Australia, Pháp, Ý, Thụy Sĩ, Đức…[7] Hồ Tường cũng đã từng được Sở Thể Dục Thể Thao tỉnh Bình Dương mời tham gia đề án “khôi phục và phát triển môn võ Tân Khánh Bà Trà” từ năm 2005.Năm 1989, Hồ Tường xây dựng đội cờ người tại Nhà Văn hóa Thanh niên và là người đầu tiên tại Việt Nam giới thiệu loại hình cờ người sử dụng võ thuật trong khi thi đấu[8] . Đội Cờ Người của môn phái Tân Khánh Bà Trà biểu diễn khắp nơi: thành phố Hồ Chí Minh[9] , Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, Đồng Tháp, Thừa Thiên Huế… Từ Đội cờ người của Nhà Văn hóa Thanh niên, Hồ Tường đã tạo thêm nhiều Đội cờ người khác tại thành phố Hồ Chí Minh do các huấn luyện viên của Hồ Tường phụ trách, như: Đội cờ người Trung Tâm Văn Hóa quận 1 (Phan Văn Trung phụ trách), Đội cờ người Trung tâm Thể dục Thể thao Nhà Bè (Nguyễn Hồng Đỏ phụ trách), Đội cờ người 2 Trung Tâm Văn Hóa quận 1 (Trương Tấn Đạt phụ trách).

Trong quá trình giảng dạy võ thuật tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên, Hồ Tường còn có sáng kiến mở lớp dạy võ thuật miễn phí cho các sinh viên hằng năm vào các tháng 10, 11 và 12, nhằm tạo một sân chơi hữu ích cho sinh viên. Chương trình “lớp võ miễn phí” của Hồ Tường bắt đầu từ năm 1995, đến năm 2007, đã huấn luyện cho khoảng 3600 lượt sinh viên. Có thể nói rằng Hồ Tường là người dạy võ miễn phí nhiều nhất và lâu nhất tại Việt Nam. Phát huy thành quả đã đạt được, bắt đầu từ mùa hè năm 2008, võ sư Hồ Tường đã bắt đầu mở lớp dạy võ miễn phí cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Ngày 4 tháng 1 năm 2009, Trung Tâm Sách Kỷ Lục Việt Nam (Vietnam records book center) đã xác lập kỷ lục đối với “Võ sư Hồ Tường, người dạy võ miễn phí cho sinh viên lâu năm nhất Việt Nam” [1].

Ngày 6 tháng 6 năm 2007, Hồ Tường được mời tham gia Ban Nghiên cứu Võ học Việt Nam của Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam để có thể góp phần vào công cuộc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.

Hồ Tường và bài Tứ Linh Đao

Bài Tứ linh đao do Hồ Tường sáng tạo, được võ sư Kim Kê giới thiệu tại Hội nghị chuyên môn toàn quốc lần 1, do Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam tổ chức năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh, và đã được chọn là một trong những bài quốc võ nhằm đưa bài vào bảo tồn, giới thiệu và tập luyện trong các võ đường võ cổ truyền Việt Nam toàn quốc. Sau Hội nghị này, bài Tứ Linh Đao được phổ biến ra toàn quốc và ra cả nước ngoài. Bài Tứ Linh Đao của võ sư Hồ Tường đã được dịch ra tiếng Pháp [10]để có thể phổ biến rộng rãi tại Pháp.

Tác phẩm

Võ thuật

Hồ Tường đã từng xuất bản trên 10 đầu sách viết về võ thuật và hàng trăm bài viết khác trên Sổ tay Võ thuật với nhiều bút danh khác nhau: Hồ Tường, Nguyễn Võ, Võ Lê, Thượng Võ, Hiếu Võ, Thúy Vinh, Diễm Hằng v.v., đáng chú ý có những cuốn:

  1. Võ thuật phái Võ Tân Khánh
  2. Kỹ thuật Côn Nhị Khúc Nunchaku (căn bản)
  3. Kỹ thuật Côn Nhị Khúc (nâng cao)
  4. Tự luyện Công phá Thiếu Lâm Tự
  5. Điểm huyệt giải huyệt Thiếu Lâm Tự
  6. Thiếu Lâm Mai hoa tiên
  7. Bí quyết tự vệ trong đời sống
  8. Cẩm nang tự vệ của bạn gái
  9. Thiếu Lâm Cầm Nã Thủ
  10. 72 thế chiến đấu Thiếu Lâm Tự
  11. Thiếu Lâm Vĩnh Xuân Quyền – Lý Tiểu Long
  12. Kỹ thuật Đoản côn Thiếu Lâm Tự
  13. Trật đả cốt khoa.
  14. Thế chiến đấu môn phái Thiếu Lâm Vịnh Xuân
  15. Đời người, nghiệp võ (viết chung)
  16. Làng võ Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh” (viết chung)
  17. Tìm hiểu võ thuật Việt Nam (2010)

Văn hóa

  1. Đình Nam Bộ, tín ngưỡng và nghi lễ, Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
  2. Văn hóa Văn Lang, (viết chung nhiều tác giả), NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996.
  3. Tục lệ thờ Hai Bà Trưng và Liễu Hạnh Thánh Mẫu, Hồ Tường, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1992.
  4. Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Hồ Tường (chủ biên), Nguyễn Huy Cường, NXB Trẻ, 2004
  5. Đình ở thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Tường (chủ biên), Nguyễn Hữu Thế, NXB Trẻ, 2005
  6. Nhà thờ Công giáo ở thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Tường (chủ biên), Lê Đình Tấn, Ngô Hỷ, NXB Trẻ, 2007
  7. Nghi lễ vòng đời người , Lê Trung Vũ (chủ biên), Nguyễn Hồng Dương, Lê Hồng Lý, Lưu Kiếm Thanh, Hồ Tường, NXB Trẻ, 2007

Chú thích

  1. ^ Có một lớp võ SV miễn phí hơn 10 nămdo thầy – võ sư Hồ Văn Tường trực tiếp đứng lớp. Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ

Liên kết ngoài

Theo :  Bách khoa toàn thư mở Wikipedia 
———————————————————————————–

Hồ Tường và trăn trở nghiệp võ!

Tống Phương – Đức Thuận
Gặp Võ sư Hồ Tường trong một chiều mưa tầm tã, một góc vắng tầng 1 Nhà Văn hóa Thanh Niên, mấy chiếc ghế nhựa quây lại, chúng tôi được đón tiếp bằng tất cả lòng chân thành và sự chia sẻ. Vị võ sư mà chúng tôi được biết tới với 45 năm gìn giữ và truyền dạy võ Tân Khánh- Bà Trà, 15 năm dạy võ miến phí cho sinh viên thật bình dị. Ông 56 tuổi, nước ra rám nắng, thân hình gọn chắc, mái tóc muối tiêu, cặp mắt với những nỗi niềm trăn trở…Nụ cười của ông như xóa đi sự căng thẳng và bỡ ngỡ ban đầu. Ông bước vào cuộc đời và nghiệp võ của mình bằng một chất giọng trầm trầm, một chất điệu miền Đông, một phong thái ung dung của con người vùng Tân Khánh.Sinh ra tại Khánh Thạnh-Tân Phước Khánh, võ sư Hồ Tường từng học võ phái Tân Khánh -Bà Trà trực tiếp từ người cha và từ võ sư Hồ Văn Thạch từ rất nhỏ. Lớn lên, ông được sống với cha ở Sài Gòn, vừa học văn hóa, vừa tiếp tục rèn luyện võ thuật. Từ những năm 19651966 trở đi, ông bắt đầu giúp cha trong việc huấn luyện võ thuật, lúc đầu là võ sinh ở lứa tuổi thiếu niên và sau là võ sinh ở lứa tuổi thanh niên. Năm 1972, ông được Tổng cuộc Quyền thuật Việt Namcấp giấy chứng nhận là huấn luyện viên. Từ đó, huấn luyện viên Hồ Tường đã tích cực lao vào công tác huấn luyện cùng với cha là võ sư Từ Thiện Hồ Văn Lành để đào tạo nên nhiều võ sĩ có tên tuổi trong giới võ thuật. Võ sư Hồ Tường là người đầu tiên viết bài góp ý trên báo Sài Gòn Giải Phóng về việc nên khôi phục lại hoạt động võ thuật cổ truyền Việt Nam, vừa đáp ứng nhu cầu tập luyện của thanh niên thời bấy giờ, vừa khôi phục truyền thống hào hùng, thượng võ của dân tộc Việt.Rõ ràng võ sư Hồ Tường ý thức rất rõ vấn đề gìn giữ và phát huy nền võ học nước nhà. Ngay sau khi võ thuật được chính thức hoạt động trở lại (1975), Võ sư Hồ Tường đã lặn lội khắp nơi truyền bá võ nghệ và thành lập các câu lạc bộ võ thuật. Năm 1979, khi lớp Võ dân tộc được khai giảng tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quận 1 (143, đường Nguyễn Du), Hồ Tường trực tiếp tham gia huấn luyện cùng với các võ sư: Đặng Văn Anh(Kim Kê), Nguyễn Hữu Tiết và Quách Văn Phước. Sau đó, cũng trong năm 1979, Hồ Tường mở lớp võ Tân Khánh- Bà Trà tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quận 3 (số 2, đường Hồ Xuân Hương). Đến năm 1981, ông mở lớp Võ lâm Tân Khánh -Bà Trà tại Nhà văn hóa Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh (số 4, đường Phạm Ngọc Thạch, Quận 1).Trên con đường nối tiếp sự nghiệp truyền bá võ thuật Tân Khánh -Bà Trà của Hồ Văn Lành, đến năm 2007, Hồ Tường đã đào tạo hàng ngìn môn sinh và nhiều võ sư đang hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh, như: Phan Văn Trung (Trung Tâm Văn Hóa Quận 1), Nguyễn Hồng Đỏ (Trung Tâm Thể Dục Thể Thao huyện Nhà Bè), Bùi Thị Tuyết Nhung (Trung tâm Thể dục Thể thao Quận 4), Thiều Ngọc Sơn (Trung Tâm Thể dục Thể thao Quận Gò Vấp), Dương Mỹ Phương (Trung tâm Văn hóa Quận 5), Phạm Thị Mộng Thuỷ (Nhà Văn hóa Thanh niên) và Đặng Văn Vạn (Trung tâm Thể dục Thể thao huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương)…Gần 60 năm tuổi đời và cũng như ngần ấy thời gian ông gắn bó với nghiệp võ, ông vẫn miệt mài truyền dạy, đúc kết và không ngừng khổ luyện. Tiếng tăm của phái võ Tân Khánh- Bà Trà gắn liền với tên tuổi của ông. Nói ông rất thành công với việc phát triển võ Tân Khánh – Bà Trà cũng không lấy gì làm ngoa khi nhìn vào lượng môn sinh, lượng câu lạc bộ đang được phát triển rộng khắp. Ông cũng được tặng thưởng nhiều huy chương, bằng khen về công tác bảo tồn văn hóa. Tuy nhiên, cho đến nay vị Võ sư này vẫn đau đáu nghĩ về nền võ học của dân tộc, nghĩ về tương lai của phái Tân Khánh – Bà Trà. Ông luôn trăn trở: “làm thế nào để võ cổ truyền dân tộc được nhiều người biết đến, nhiều người luyện tập hơn”, và “làm sao để khôi phục môn phái Tân Khánh- Bà Trà ngay chính tại mảnh đất đã từng khai sinh ra nó- Vùng Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn”.

Có lẽ ai cũng biết niềm trăn trở thứ nhất của Võ sư Hồ Tường về việc phát triển võ phái Tân Khánh- Bà Trà đã được ông cống hiến gần như trọn cả cuộc đời. Kế thừa những bí kíp võ học của người cha-Võ sư Hồ Lành, võ sư Hồ Tường hầu như cũng được kế thừa trách nhiệm phát triển môn phái, trách nhiệm gìn giữ và truyền lửa cho các thế hệ môn sinh đi sau. Ông muốn võ phái của mình được nhiều người biết đến hơn, chính vì thế võ sư Hồ Tường luôn vượt qua những khó khăn do hoàn cảnh lúc bấy giờ đem lại. Ông đạp xe đạp từ quận 1 sang quận 5, sang Nhà Bè, Gò Vấp, đạp về Thủ Dầu Một – Bình Dương…hễ nơi nào có thể gieo nên những hạt mầm võ thuật là ông không tiếc công sức, không ngại gian khổ.

Hiện tại, 6 buổi /tuần ông vẫn đều đặn chạy xe máy từ Gò Vấp sang Nhà Văn hóa Thanh Niên, Quận 1 để cùng các môn sinh luyện tập, không kể nắng mưa, vất vả. Có mặt tại sân tập của CLB võ thuật Tân Khánh – Bà Trà, Nhà văn hóa Thanh Niên Quận 1 mới thấy được tầm quan trọng của ông như thế nào. Công việc giảng dạy phần lớn là do các huấn luyện viên đạm nhiệm. Song, ông vẫn luôn có mặt trên sân tập: sửa cho môn sinh những động tác, thế tấn, động viên sự khổ luyện của từng người. Sự có mặt của ông luôn là niềm khích lệ tinh thần, động lực cho các môn sinh hăng say tập luyện. 29 năm ông mở CLB võ thuật tại Nhà văn hóa Thanh niên có rất nhiều người theo học. Trong đó không ít những môn đồ không đủ kiên nhẫn vượt qua nổi khó khăn, thử thách. Tuy nhiên cũng không thiếu những tấm gương miệt mài cùng ông luyện tập. Họ là niềm tự hào, niềm hạnh phúc, thành quả ngọt ngào báo đáp công lao truyền dạy của ông.

Thật bất ngờ khi chúng tôi chứng kiến cảnh một nhóm người Pháp khi nghe danh môn phái Tân Khánh – Bà Trà đã lặn lội sang tận Việt Nam, tìm cho được ông. Họ giành khoảng thời gian ít ỏi của mình để theo học và luyện tập, và cũng không ít môn sinh ở nước ngoài một vài năm lại trở lại Việt Nam một lần để tiếp tục theo học. Chúng tôi cũng được chứng kiến cảnh 4 võ sinh người Pháp, sang tham gia Liên hoan võ thuật dân tộc cổ truyền Việt Nam 2010 diễn ra tại Bình Định, họ xuống máy bay, vội vàng tới nhà Văn hóa Thanh niên, gặp –thăm hỏi võ sư Hồ Tường, tặng võ sư chai rượu vang mang từ Pháp, xin võ sư để cùng mọi người luyện tập một lúc rồi lại vội vã ra sân bay để đi Bình Định ngay trong đêm.

Những tình cảm mà mọi người dành cho ông cũng như dành cho môn phái như tiếp thêm sức mạnh để võ sư bền bỉ truyền giảng. 15 năm dạy võ miễn phí cho sinh viên, học sinh là một quãng thời gian dài kỷ lục mà khó có ai có thể bắt kịp. Ông muốn tạo cho học sinh, sinh viên một sân chơi vui khỏe, một khả năng tự vệ cần thiết và đó cũng được xem như một lời giới thiệu trực quan, sinh động, một sự lựa chọn thú vị cho thanh, thiếu niên khi tham gia các hoạt động tại đây.

Theo ông, dân tộc Việt Nam có tinh thần thượng võ rất cao. Tuy nhiên, để người dân tiếp cận được với võ thuật dân tộc thì không phải là vấn đề đơn giản. Bởi vì nền võ thuật Việt Nam chưa có được sự quảng bá rộng rãi trong quần chúng, mặt khác những dòng phái võ thuật nước ngoài xâm nhập vào nước ta những năm gần đây rất mạnh mẽ. Người dân đa phần chỉ biết tới karatedo, pencasilat, judo, whusu…. Cũng có một bộ phận muốn theo học võ dân tộc, song tại địa phương họ khó có thể tìm thấy một địa điểm học thích hợp.

Khoảng gần một thập kỷ gần đây, Vovinam đã rất thành công trong việc quảng bá và vận động để có mặt trong các kỳ đại hội thể thao- võ thuật mang tầm cỡ khu vực. Vovinam đã thực sự thành công khi tạo được tiếng vang, ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Việt. Tuy nhiên, việc muốn phát triển Vovinam thành quốc võ hay đem Vovinam vào giảng dạy trong nhà trường lại là vấn đề chưa thực sự thấu đáo, đặc biệt là xét đến lịch sử hình thành và vai trò của dòng phái trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt.

Với võ sư Hồ Tường, cách quảng bá của ông thật đặc biệt. 15 năm ròng đều đặn mở lớp học miễn phí cho học sinh- sinh viên. Ông không chỉ muốn mọi người biết đến tên môn phái của minh mà điều quan trọng hơn ông muốn ai cũng có cơ hội theo học. Nhiều học trò tâm huyết theo ông suốt gần 30 năm trời để cùng ông khổ luyện, họ đã trở thành những vận động viên, huấn luyện viên có tiếng trong làng võ thuật cổ truyền Việt Nam, song họ vẫn trở về bên ông, giúp sức thầy chỉ dạy cho lớp hậu bối. Ông xem đó là phần thưởng xứng đáng bù đắp những công sức và tâm nguyện của ông.

Trăn trở sau cuối của võ sư Hồ Tường là làm thế nào để võ Tân Khánh – Bà Trà về được với vùng Tân Phước Khánh, cái nôi đã sinh thành ra nó. Có thể nói đây là tâm huyết của rất nhiều người đi trước, trong đó có cố võ sư Hồ Văn Lành, người đã rất thành công khi phát triển võ Tân Khánh- Bà Trà ra ngoài khu vực Tân Uyên nhưng lại chịu thất bại khi muốn đem võ về chốn cũ. Không ai ngờ rằng vùng đất Tân Uyên quả cảm, nơi tạo nên môn võ lừng danh Tân Khánh hiện tại lại không còn người dạy võ. Người biết võ thì đếm được trên đầu ngòn tay, song lại đang ở vào độ tuổi 70-80, khả năng mở lớp truyền dạy võ nghệ là rất ít.

Niềm trăn trở của võ sư Hồ Tường, mà nói đúng hơn là của người cha Hồ Lành truyền lại đã không ngừng thôi thúc ông. Đã có giai đoạn ông chạy xe từ Thành phố về Thủ Dầu Một dạy võ, ông cũng là người đầu tiên dựng võ đài ở vùng Tân Uyên, đem võ sỹ về thi đấu và biểu diễn 3 đêm liền. Bà con trong vùng đặc biệt tán thưởng. Tuy nhiên, việc mở lại các tụ điểm dạy và luyện võ tại đây vẫn chưa thể thực hiện.

Theo võ sư Hồ Tường có 3 nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là:

-Thứ nhất: Các cấp chính quyền chưa có hành động cụ thể nào hỗ trợ việc khôi phục và phát huy môn võ truyền thống này. Hiện tại, dự án bảo tồn và phát huy võ Tân Khánh- Bà Trà đang được triển khai thực hiện. Song, nhìn nhận một cách xác thực thì tính khả thi và kết quả thực tế của các dự án bảo tồn đang còn rất hạn chế. Thật ra, việc thành lập một vài câu lạc bộ để truyền dạy không phải là vấn đề quá phức tạp. Nhưng làm sao để võ Tân Khánh có thể “sống” và phát triển vững chắc mới là mục đích lâu dài, mục đích mà chúng ta cần hướng tới.

Thứ hai: Tính biệt lập, gia truyền ảnh hưởng không nhỏ đến việc phổ biến và truyền dạy. Thế kỷ XIX, XX hầu hết người dân Tân Khánh ít nhiều đều biết chút ít võ nghệ, với một số người võ nghệ còn là một phương tiện mưu sinh như các nhóm bảo an hàng hóa đường bộ, đường thủy. Thời Pháp thuộc, việc học và dạy võ bị cấm do Pháp lo sợ những cuộc nổi dậy của dân chúng được trang bị võ nghệ sẽ gây ra những hậu quả khôn lường, người biết võ được chú ý đặc biệt. Chính từ hệ lụy này việc luyện tập và truyền dạy bị hạn chế rất nhiều. Những người biết võ thường chỉ truyền dạy cho con cháu trong gia đình, hiếm có trường hợp nhận dạy người ngoài cho dù sau này võ thuật sau này được tự do hoạt động. Lối truyền dạy như vậy đã làm cho môn võ Tân Khánh ngày càng đi vào ngõ cụt. Những đòn thế, bài bản võ học bị thất truyền, đặc biệt là khi các cao thủ võ học khuất núi.

Thư ba: Thiếu một lớp môn sinh tiên phong, xung kích. Võ sư Hồ Tường hiện tại đã khá cao tuổi, lại định cư tại Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc trở về Bình Dương lập câu lạc bộ và dạy võ chỉ là phương án tình thế. Điều tiên quyết là phải đào tạo được một lớp môn sinh Bình Dương, sau đó từ những hạt nhân này mới từ từ nhân rộng. Tuy nhiên, hơn 1 nghìn môn sinh của thầy Tường chủ yếu là người thành phố. Anh Đặng Văn Vạn là môn sinh hiếm hoi người Bình Dương, hiện tại anh đã thành lập Câu lạc bộ võ thuật Tân Khánh- Bà Trà tại Trung tâm văn hóa Thuận An, chắc chắn rằng đây sẽ là một trong những nhân tố quan trọng trong công cuộc khôi phục và phát huy võ phái Tân Khanh- Bà Trà trong thời gian sắp tới…

Chúng tôi tạm biệt võ sư Hồ Tường mà lòng vẫn đau đáu suy nghĩ về những tâm nguyện của ông, những tâm nguyện thốt lên từ sự mong mỏi của cả vùng Tân Phước Khánh. Dẫu biết rằng những ước nguyện của một đời người không phải ai cũng được toại nguyện. Song, chúng tôi vẫn hy vọng rằng Võ Tân Khánh – Bà Trà sẽ nhận được nhiều sự chia sẻ và đón nhận, những trăn trở của ông sớm trở thành hiện thực…/…

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn võ sư Hồ Tường, các anh chị trong CLB võ Tân Khánh- Bà Trà Nhà văn hóa Thanh niên đã dành nhiều thời gian tâm sự, chia sẻ. Chúc võ sư Hồ Tường và các anh chị thật nhiều sức khỏe để thực hiện ước mơ cao cả của mình.

Dĩ An, ngày 23 tháng 9

Tống Thị Phương

-Giáo viên Lịch sử- Trường THPT Dĩ An – Bình Dương

-Tel:         0164.6414.271

-Email:   tongphuong511@gmail.com

Trần Đức Thuận

-Phòng Di sản văn hóa – Bảo tàng Bình Dương

-Tel:          0977.328.132

-Email:    diepvientran@gmail.cm

————————————————————————————

Có một lớp võ SV miễn phí hơn 10 năm

Chỉ trừ tối thứ 7, còn lại tất cả các buổi tối từ thứ hai cho đến chủ nhật, cứ 19 giờ là sân 4A Nhà văn hoá Thanh niên TP.HCM nhộn nhịp không khí luyện tập của các lớp võ thuật.Có một lớp võ rất đặc biệt đã gắn bó với sân 4A NVHTN trong suốt nhiều năm nay, đó là lớp võ miễn phí dành cho các bạn trẻ (lớp kéo dài 3 tháng mỗi năm, từ tháng 10 đến tháng 12 hằng năm) do thầy – võ sư Hồ Văn Tường trực tiếp đứng lớp.

Gắn bó gần 30 năm với NVHTN, từ khi còn là một thanh niên, thầy – võ sư Hồ Văn Tường hiện nay đã có 24 năm đứng lớp võ dành cho các bạn trẻ yêu thích bộ môn Thiếu lâm võ lâm. Thầy nói: “Khoảng năm 1995, trong điều kiện sân bãi còn chưa được chỉnh trang như bây giờ, tôi đã nghĩ đến chuyện mở lớp võ miễn phí cho các bạn SV. Mục đích duy nhất mà tôi hướng đến và duy trì là giúp cho các bạn có một sân chơi võ thuật để rèn luyện thân thể”.

Nhưng khó khăn không phải là không có. Trước đây sân chưa được nâng cấp nên dù trời chỉ mưa rất nhỏ cũng khiến mặt sân đọng nước không thể tập, những lúc như thế thầy trò phải kéo nhau lên hành lang của hội trường 1 luyện tập. Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, cô Hoàng Sa – trưởng phòng Thể dục thể thao NVHTN, nói: “Vấn đề sân bãi là một khó khăn chung của NVHTN. Với lớp võ thì đó thực sự là một khó khăn thường trực, bởi nếu có những hoạt động kỉ niệm lễ tết diễn ra thì lớp võ thường phải nhường sân”.

Thế nhưng bằng quyết tâm và lòng nhiệt thành của thầy và trò, lớp học “cứ đến hẹn lại lên” bao năm qua…

Lớp học năm nay cũng thu hút gần 300 bạn trẻ đến tham gia luyện tập, đa số họ là SV đến từ các trường: ĐH Kinh tế TP.HCM; ĐH KHXH & NV; ĐH Ngoại ngữ – Tin học; ĐH Kĩ thuật – Công nghệ; Trường Nghiệp vụ Du lịch Sài Gòn… Dù là SV của trường nào và học vì những mục đích khác nhau (có bạn học vì yêu thích, có bạn học chỉ đơn thuần là rèn luyện sức khoẻ, hoặc cũng có bạn chỉ là tò mò theo bạn đến học thử!), song một điều có thể nhận thấy từ các gương mặt ấy là niềm hân hoan, phấn khởi. Bởi thật không dễ để có được một môi trường rèn luyện sức khoẻ tốt mà lại hoàn toàn miễn phí như vậy ở thành phố này.

Do đó các bạn học với một tinh thần thượng võ, nghiêm túc và say mê. Bạn Tô Tuấn Khiêm (SV năm nhất trường ĐH Kĩ Thuật Công nghệ) nói: “Tôi thực sự rất vui khi tham gia lớp võ thuật miễn phí của thầy Tường. Lớp võ chắc chắn sẽ giúp mình khỏe hơn, từ đó không chỉ học tốt hơn mà còn có khả năng tự vệ”.

Bên cạnh việc đến lớp luyện võ, các bạn trẻ còn được tham gia biểu diễn (như đi cà kheo, đánh cờ người, biểu diễn võ thuật …) tại các hoạt động, các lễ hội văn hoá lớn được tổ chức bởi các cơ quan Nhà nước, hay cả đơn vị cá nhân … mà thầy là người tích cực, thường xuyên liên hệ. Đặc biệt trong dịp tết Nguyên đán nhiều sinh viên vì điều kiện xa xôi, không thể về quê ăn tết thì việc tham gia các hoạt động biểu diễn ấy đã giúp họ vơi đi nỗi nhớ nhà trong ba ngày tết.

Bạn Nguyễn Thị Thanh Loan – một võ sinh (là SV trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học ), tâm sự với chúng tôi: “Tham gia những buổi biểu diễn vào dịp Tết giúp mình có điều kiện va chạm thực tế, có kinh nghiệm trong giao tiếp và tổ chức các hoạt động xã hội. Và điều mà mình cảm thấy tâm đắc nhất là sống “ích” hơn, đặc biệt nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân cũng vơi đi phần nào”…

BẢO MINH – CHÍ QUỐC – MỄ THUẬN

Báo Tuổi Trẻ – 21/10/2005, 17:27 (GMT+7)

——————————————————————-

Tìm hiểu thêm về võ phái Tân Khánh-Bà Trà 


* HỒNG THUẬN

 Nói đến võ phái Tân Khánh – Bà Trà (TK-BT) là nói đê’n võ phái của những người đi khai hoang mở đất, của những người thuộc dòng dõi nhà Tây Sơn vi chạy trốn sự trả thù của triều Nguyễn nên đê’n vùng đất Tân Khánh (thuộc TT Tân Thuộc Khánh, Tân Uyên, Bình Dương ngày nay) sinh cơ lập nghiệp và gây dựng nên môn võ truyền thống lưu truyền đê’n ngày hôm nay. Mỗi khi nhắc đê’n võ phái TK-BT, người ta liên tưởng đê’n biết bao giai thoại gắn liền với tên tuổi của những bậc tiền nhân đã có công gây dựng, sáng tạo vả lưu truyền môn võ cổ truyền này trong cuộc sống lao động, bảo vệ mùa màng, chống thú dữ cũng như trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm…

Những ngày đầu hình thành
Vào khoảng thế kỷ XVll, một số người di cư từ miền Thuận Quảng thuộc xứ Đàng Trong nam tiến khai phá vùng đất đông Nai – Gia định, cùng với việc định cư trên vùng đất mới để đối phó với những khó khăn của vùng rừng núi vốn lắm thú dữ, những người dân này từng bước rèn luyện, sáng tạo và hình thành nên môn võ miệt rừng, gọi là võ lâm. Những kinh nghiệm trong chiến đấu chống thú dữ, cướp bóc hợp cùng những thế võ truyền thống của tổ tiên, cộng thêm sự giao thoa với võ của người bản địa (người Chân Lạp) họ đã tạo ra những thế võ nổi tiếng lưu truyền trong dân chúng mà mỗi khi nhắc đến, người dân khắp Lục tỉnh Nam kỳ đều không khỏi thán phục, trong đó có võ phái TK-BT.
Danh tiếng võ TK-BT gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ có tên là Bà Trà, thuộc dòng dõi nhà Tây Sơn vì chạy trốn sự truy đuổi trả thù của nhà Nguyễn nên đã dẫn theo một nhóm người đến vùng đất tân Khánh để sinh cơ lập nghiệp. Nối tiếp truyền thống kiêu hùng của ông cha, Bà Trà đứng ra chiêu mộ thêm nghi binh để chống lại triều đình nhà Nguyễn, số người quy tụ lên đến hàng trăm người, hầu hết họ đều là nữ giới. Cùng với việc sinh cơ lập nghiệp nơi vùng đất mới, Bà Trà chia chị em thành từng toán và tích cực ngày đêm luyện tập võ nghệ. Theo lời truyền lại, Bà Trà từng đưa nữ binh của mình đi đánh những tên cường hào, ác bá lấy của cải về phát cho dân nghèo quanh vùng nên bà rất được người dân ở đây tin tưởng, kính nể và xem như một anh hùng nghĩa hiệp lúc bấy giờ. Còn bọn quan lại địa phương thì xem bà như cái gai trước mắt cần phải nhổ bỏ nhưng vì danh tiếng và kiêng nể tài võ nghệ của bà mà không ai dám đụng đến. Dưới thời Bà Trà, danh tiếng võ TK-BT không chỉ vang dội vùng Nam bộ mà còn lan rộng ra cả nước, sánh ngang với võ Bình Định. Kế tục sự nghiệp của tiền nhân, những hậu duệ đời sau của Bà Trà cũng trở thành những bậc thầy danh tiếng như: thầy Hai Ất, thầy Ba Giá, cô Năm Vuông (con gái của thầy Hai Ất)… một thời làm rạng danh xứ võ Tân Khánh.
Hậu duệ của Bà Trà là thầy Sáu Trực – một vị võ sư nổi tiếng vào những năm 1939-1959 có nhiều môn sinh sau này danh tiếng còn vang dội hơn thầy như môn sinh Võ Văn Phiên (thầy Bảy Phiên, được xem là hậu tổ) – sư phụ của võ sư Hồ Văn Lành (tức võ sư Từ Thiện), Hồ Văn Thứ (Tư Thứ), Hồ Văn Thạch (Tư thạch), Võ Văn Ché và có cả nhà yêu nước Võ An Ninh.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làng võ TK-BT đã có biết bao thanh niên võ dũng tiếp bước lên đường cầm súng bảo vệ Tổ quốc thân yêu: Những Nguyễn An Ninh, Đào Ngọc Báu, Trương Văn Phước một lán nữa đã làm rạng danh làng võ TK-BT. Một số người không tham gia chiến đấu thì làm nhiệm vụ truyền dạy, lưu truyền môn võ truyền thống này, như võ sư Từ Thiện, là người có thời gian gắn bó lâu dài cùng những thế võ TK-BT (nay ông đã qua đời). Ông là người duy nhất truyền dạy môn võ cổ truyền này và phát triển rộng ra Sài Gòn từ những năm 1954 cho tới những năm cuối đời. Con trai ông là võ sư Hồ Văn Tường (Hồ Tường) hiện đang tiếp tục phát triển sự nghiệp của tổ tiên mà ông đã có công gây dựng. Ngoài ra còn có thầy Hồ Văn Thứ (Tư thứ) thời thanh niên đã xuôi ngược Lục tỉnh miền Tây, dạy không biết bao môn sinh.
Một thời hào hùng
Để tìm hiểu thêm về võ phái TK-BT, chúng tôi đã từng về lại vùng đất Tân Khánh và may mắn gặp được những bậc cao niên trong làng, họ chính là hậu duệ của võ phái TK-BT. Trò chuyện với chúng tôi lúc đó là những ông cụ đã trên 70 tuổi. Tuy tuổi đã cao, nhưng trong khi trò chuyện với chúng tôi các cụ vẫn còn giữ được phong thái con nhà võ: thân hình rắn chắc, đi đứng tuy không còn oai vệ như thời trai trẻ nhưng vẫn còn nhanh nhẹn và hoạt bát. Theo các vị võ sư cao tuổi trong làng, võ TK-BTcó đến 6 loại quyền cước và 18 loại binh khí chính. Người nào luyện khoảng 1/3 là yên tâm không sợ người khác bắt nạt. Nghệ thuật võ TK-BT phảng phất tinh thần nghĩa khí hào hiệp, vì đó là nghệ thuật lấy nhỏ chống lớn, ít chống nhiều, nhu chương… Nói về các giai thoại của võ TK-BT thì có rất nhiều, nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là sự tích ông Hai Ất, ông Ba Giá hay cô Năm Vuông ”đả hổ” (đánh cọp); hay sự tích Bà Trà với đôi kiếm có ghi trên đó câu ”Anh chị ăn không trả tiền, hỏi gặp kiếm ừ rồi đi” treo ở cửa quán để răn đe những người thích ăn quịt của người khác… Những sự tích cứ như huyền thoại nâng tầm thế của làng võ TK-BT ngày càng trở nên nổi tiếng. Truyền thống hào hùng của võ xứ TK-BT, nhất là uy danh của bậc võ sư tiền bối Võ Văn Ất (Hai Ất) qua thành tích nhiều phen ”đả hổ” đã thôi thúc nhiều thanh niên của Lục tỉnh miền Tây đến với võ phái này, tham gia vào các lớp học võ do các thầy ở TK- BT đi truyền dạy…
Những người kế tục và phát triển võ phái Tân Khánh-Bà Trà
Đầu tiên phải kể đến võ sư Từ Thiện. Lúc 14 tuổi ông đã bắt đầu học võ. Cái uy danh của võ sư Hai Ất với những chiến công ”đả hổ’ đã thôi thúc ông đến với lớp võ TK-BT. Trực tiếp truyền dạy cho ông là người dượng thứ sáu – võ sư võ Văn Phiên (Bảy Phiên) – đệ tử đời thứ hai của lão sư Hai ẤT. Không lâu sau đó, ông đã trở thành người nổi danh với những pha nhập nội thần tốc khi tham gia trong đoàn võ sĩ tân Khánh và tham dự võ đài dành cho các võ sĩ khắp miền Đông Nam bộ. Lần nào thi đấu ông cũng đem vinh quang về cho xứ võ Tân Khánh. Đến năm 1939, võ sư Từ Thiện đứng ra mở lớp dạy võ TK-BT, thu hút khá nhiều thanh thiếu niên tại xã nhà và các xã lân cận đến theo học. Đến năm 1954, võ sư Từ Thiện được mời dạy môn võ lừng danh của miền đất ”đả hổ” này cho người dân Sài Gòn. Võ TK-BT từ đó được phát triển rộng ra nhiều vùng, quận của Sài Gòn và tồn tại đến nay. Những võ sĩ nam mang họ Từ, võ sĩ nữ mang họ Hổ, sử dụng kỹ thuật của võ phái TK-BT đã góp phần tô điểm vinh quang cho xứ võ quê hương này, trong số đó có nhiều võ sĩ đạt thành tích cao trên các võ đài trong và ngoài nước, như: Từ thanh Nghĩa, Từ trung Tín, Từ Y Văn từng thắng các giải vô địch Lào, lndo- nesia, Thái Lan, Hồng Ong trong những năm 70. Ba người con trai của ông cũng được cha truyền dạy võ từ nhỏ. Tuy nhiên, đến nay chỉ có người con trai út là võ sư hồ Tường nối nghiệp cha để tiếp tục phát triển môn võ của tổ tiên đến với những người mến mộ môn võ cổ truyền này ở TP.HCM. Hiện ông là Trưởng ban Huấn luyện lớp võ lâm Tân Khánh tại Nhà Văn hóa thanh niên TP.HCM. Hàng ngày vẫn miệt mài truyền dạy các thế võ TK-BT cho môn đồ của mình, trong đó có không ít người nước ngoài.
Cũng là đệ tử của thầy Bảy Phiên, võ sư Tư Thứ cũng một thời trai trẻ ngang dọc bôn ba khắp các tỉnh miền Tây Nam bộ để truyền dạy môn võ TK-BT cho những người nghĩa dũng. Ông nói rằng, chỉ là những người học trò thân tín, tin tướng ông mới truyền dạy cho. Có lớp ông dạy trên một ngàn người. Lúc chúng tôi tìm gặp ông, ông đã ở vào cái tuổi ”Thất thập” và hơn 20 năm không còn đi dạy nữa nhưng trông ông vẫn giữ được nét phong thái, khỏe mạnh của con nhà võ, hàng ngày ông vẫn múa quyền đánh roi vì sợ già rồi sẽ quên nghề…
Cần được phát huy
Theo các cụ cao niên ở Tân Khánh, hiện nay chỉ có võ đường Từ Thiện và Nhà Văn hóa thanh niên TP.HCM là hai địa chỉ truyền dạy về võ TK-BT. Ngoài ra, hầu như không có võ đường nào mở lớp dạy môn võ cổ truyền này, kể cả ở địa phương. Theo các cụ nếu có truyền dạy thì cũng chỉ diễn ra trong phạm vi mỗi gia đình riêng, theo phương thức cha truyền cho con. Mà phải là những người con có khí thế, bản chất của người học võ thì mới được truyền dạy, bởi vì các cụ cho rằng, học võ là để tự vệ, phòng thân nên không thể truyền cho những ai vốn có tính hiếu thắng, thích gây gổ với người khác… Vậy, để phát huy và nâng cao tầm của võ phái TK-BT, vấn đề là chính quyền địa phương, các cấp các ngành liên quan nên có biện pháp như thế nào để lưu giữ lại môn võ cổ truyền này, tránh bị mai một và lãng quên nó ngay trên mảnh đất sản sinh ra nó. Bởi vì, khôi phục lại võ TK-BT chính là khôi phục lại một nét đẹp văn hóa của quê hương.
H.T

(Tài liệu điền dã)

http://sugia.vn

——————————————————————–

Nguy cơ thất truyền võ phái Tân Khánh Bà Trà

Kỳ 1: Miếng võ của những người đi khai hoang

(TT&VH) – Hơn 200 năm qua, võ phái Tân Khánh Bà Trà (TKBT) của những người thuộc dòng dõi nhà Tây Sơn đi khai hoang mở đất tại Đồng Nai – Gia Định được hình thành và lưu truyền đến tận hôm nay.

Nói đến võ phái TKBT là nói đến nhiều giai thoại hào hùng của các bậc tiền nhân đã có công gây dựng, sáng tạo và lưu truyền võ phái cổ truyền này. Thế nhưng hiện nay, tại “cái nôi” nơi sản sinh ra môn võ này chỉ còn là ký ức, là truyền thuyết đối với người dân huyện Tân Uyên và Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Sự kết hợp kỳ diệu của võ Tây Sơn và người Nam bộ

Vào khoảng thế kỷ 17, có một số người di cư từ miền Thuận Quảng thuộc xứ Đàng Trong đã nam tiến khai phá vùng đất Đồng Nai – Gia Định. Để có thể an tâm định cư trên vùng đất mới, tại một vùng rừng núi nhiều thú dữ, những người dân này từng bước rèn luyện, sáng tạo và hình thành nên môn võ miệt rừng (còn gọi là võ lâm). Mỗi khi nhắc đến tên, người dân khắp lục tỉnh Nam Kỳ đều biết tiếng. Những người di cư này đã lập ra làng Tân Khánh, nay là thị trấn Tân Phước Khánh (huyện Tân Uyên, Bình Dương). Tới vùng đất mới, họ mang theo mình truyền thống thượng võ, những kỹ pháp võ thuật của quê hương Tây Sơn và đã tiếp tục phát triển nó trong sự hòa trộn với những hệ thống kỹ thuật tại miền đất mới.

Dưới triều vua Tự Đức (1848-1883), cuộc khởi nghĩa của dân làng Tân Khánh chống lại quan lại thối nát làm tay sai cho ngoại bang ở địa phương đã nổ ra, phản ánh tinh thần bất khuất của dân ở xứ này. Đến nay, nhiều người dân địa phương vẫn tự hào về sự kiện kể trên và luôn nhắc về nó gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ tên là Võ Thị Trà. Bà vốn xuất thân từ nhà võ Tây Sơn, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại bè lũ quan lại thối nát là tay sai cho ngoại bang ở địa phưong trong 10 năm (từ năm 1850). Từ vùng đất Tân Khánh đến làng Bình Chuẩn (thuộc huyện Thuận An, Bình Dương) đều được gọi là “đất bà Trà”. Cũng từ đó, người dân gọi phái võ truyền thống xuất phát từ Tân Khánh, Bình Chuẩn là “phái võ Bà Trà – Tân Khánh” hay “Tân Khánh Bà Trà”.

Những hậu duệ đời sau của Bà Trà cũng trở thành những bậc thầy danh tiếng như: thầy Hai Ất, thầy Ba Giá, cô Năm Vuông… tiếp nối tiền nhân, cũng một thời làm rạng danh xứ võ Tân Khánh. Tiếp đến là thầy Sáu Trực, một vị võ sư nổi tiếng vào những năm 1939-1959. Có nhiều môn sinh của võ phái TKBT sau này danh tiếng còn vang dội hơn như: Thầy Bảy Phiên (Võ Văn Phiên) là sư phụ của võ sư Hồ Văn Lành (tức võ sư Từ Thiện), Hồ Văn Thứ (Tư Thứ), Hồ Văn Thạch (Tư Thạch), Võ Văn Ché…

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làng võ TKBT đã có biết bao thanh niên võ dũng tiếp bước lên đường cầm súng bảo vệ Tổ quốc: Nguyễn An Ninh, Đào Ngọc Báu, Trương Văn Phước… đã tiếp tục làm rạng danh làng võ TKBT. Bên cạnh đó, để lưu truyền môn võ truyền thống này, có võ sư Từ Thiện (Hồ Văn Lành), là người có thời gian gắn bó lâu dài cùng những thế võ TKBT. Ông là người duy nhất truyền dạy môn võ cổ truyền này và phát triển rộng ra Sài Gòn từ những năm 1954 cho tới lúc cuối đời. Ngoài ra, còn có thầy Hồ Văn Thứ (Tư Thứ) thời thanh niên đã xuôi ngược lục tỉnh miền Tây, dạy không biết bao môn sinh.

Việt Nam cũng có “Võ Tòng”

Trước năm 1975, võ sinh của TKBT đã đạt nhiều thành tích khi tham gia đấu võ đài do Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn: Hai huy chương vàng của Từ Thanh Nghĩa (năm 1970) và Hồ Ngọc Thọ (năm 1974); bốn huy chương bạc của Từ Thanh Tòng, Từ Duy Tuấn, Từ Hoàng Út, Hồ Thanh Phượng. Ngoài ra, 3 võ sinh Từ Thanh Nghĩa, Từ Trung Tín, Từ Y Văn đã từng được chọn đại diện cho toàn miền Nam thi đấu bảy trận toàn thắng trước các nhà vô địch của những nước Thái Lan, Lào, Campuchia.
Từ năm 1999 đến nay, nhiều võ sinh của môn TKBT đã đạt nhiều thành tích cấp quốc gia ở các cuộc thi võ Cổ truyền và ở các môn khác như Wushu, Quyền Anh.
Để tìm hiểu thêm về võ phái TKBT, chúng tôi đã từng về lại vùng đất Tân Khánh cách trung tâm TP.HCM gần 50 km về phía Đông – Bắc. Khó khăn lắm, chúng tôi mới gặp được 2 bậc võ sư cao niên trong làng còn sót lại. Đó chính là ông Tư Thạch và ông Tư Thứ đã ngoại bát tuần.

Trong cuộc chuyện trò với 2 cụ, chúng tôi cảm nhận cái phong thái của con nhà võ vẫn hiện rõ trên khuôn mặt. Thân hình các cụ không còn rắn chắc, đi đứng tuy không còn oai vệ như thời trai trẻ, nhưng tinh thần vẫn minh mẫn. Mặc dù, được các cụ cảnh báo là ở cái tuổi “bát thập hóa như nhi”, mấy căn bệnh già đã ghé “thăm” nhưng câu chuyện về giai thoại của võ TKBT vẫn được kể mạnh mẽ, nhiệt huyết, bay bổng đến lạ thường.

“Mấy chú chắc nghe đến truyện Tàu có Võ Tòng “đả hổ”? Sự tích của mình cũng có đó!”, ông Tư Thứ hỏi chúng tôi và ông chậm rãi kể lại: “Ngày trước ông Hai Ất và ông Ba Giá là 2 anh em ở cái đất Tân Khánh, 2 ông đều là đệ tử của bà Trà. Có lần, trời tối mịt mà ông Hai Ất không thấy em mình là ông Ba Giá đi làm ruộng về nên ông Hai Ất sinh lo, chạy đi tìm ông Ba Giá. Đến đoạn, ông Hai Ất thấy ông Ba Giá tay cầm cây cào cỏ Đậu thủ thế, trước mặt ông Ba Giá là một con hổ to đang nằm phục dưới đất, móng vuốt giương ra thủ thế. Ông Hai Ất biết là em mình đã có trận quần nhau sinh tử với con hổ này. Ông Hai Ất nhanh trí, quăng ngay cái áo đang mặc lên mình hổ. Con hổ tung mình lên cao và tức thời ông Ba Giá tung ngay cú đá trí mạng vào bụng con hổ. Đau quá, con hổ chạy tuốt vào rừng sâu”.

Rồi như say sưa với câu chuyện, 2 cụ lại kể cho chúng tôi nghe về sự tích bà Trà với đôi kiếm có ghi trên đó câu ”Anh chị ăn không trả tiền, hỏi cặp kiếm ừ rồi đi” treo ở cửa quán để răn đe những người thích ăn quịt của người khác…

Những sự tích nêu trên đã thôi thúc nhiều thanh niên thời đó theo học môn võ TKBT. Và cũng từ môn võ này đã sản sinh ra nhiều bậc anh hùng kỳ tài đóng góp cho đất nước trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước.

Kỳ 2: Vùng đất võ chỉ còn hư danh

(TT&VH) – Điều đáng buồn là tại nơi sản sinh ra võ phái Tân Khánh Bà Trà (TKBT), thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Thuận An, Bình Dương, đã từ rất lâu người dân không còn thấy những lớp dạy võ TKBT như ngày xưa.

Những thanh niên biết đến môn TKBT này ngày càng ít đi, thay vào đó là những môn võ khác được du nhập từ nước ngoài. Việc khôi phục lại môn võ TKBT ngay tại quê hương của nó là một điều cần thiết và cấp bách.

Chỉ còn là “truyền thuyết”

Rong ruổi gần 50 km từ trung tâm TP.HCM tới thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, Bình Dương, người đầu tiên mà chúng tôi gặp mặt chính là võ sư Chung thuộc môn võ Bắc phái, Bình Định. Sau khi nghe chúng tôi trình bày mục đích của mình là muốn tìm hiểu về võ phái TKBT, thầy Chung ái ngại, lo sợ chúng tôi sẽ không thu thập được thông tin gì quý giá. Thầy Chung bộc bạch: “Đã từ lâu, môn võ này không được truyền dạy tại đây và chỉ còn lại 2 ông cụ tuổi đã 80 biết về môn TKBT, mà chắc có lẽ không giúp gì nhiều được cho các chú. Riêng tôi thì không biết gì, mà nếu có biết thì cũng không dám nói vì là người ngoài”.

Võ sư Tư Thạch tại quê hương môn võ Tân Khánh Bà Trà

Hai ông cụ mà võ sư Chung nhắc đến chính là cụ võ sư Tư Thạch và Tư Thứ mà chúng tôi nói đến trong bài trước. Định bụng trước khi đến gặp 2 cụ, chúng tôi muốn đi xung quanh thị trấn để tìm lại những di tích còn sót lại về võ phái hoặc võ đường TKBT để có cái nhìn trực quan và sinh động hơn. Thế nhưng, chúng tôi đã thất vọng vì không thể tìm ra bất cứ khung cảnh, hình ảnh nào liên quan đến môn võ này. Nghe lời kể lại từ thầy Chung, ngay tại chợ Tân Khánh, trước đây có một cái rạp đã từng phục vụ cho cuộc thi đấu so tài cao thấp của 2 phái: TKBT và Bắc phái, Bình Định nhưng giờ đây cũng không lưu giữ lại dấu tích gì mà thay vào đó là ngôi chợ đẹp đẽ, kiên cố.

Nói chuyện với 2 cụ võ sư Tư Thạch và Tư Thứ, được biết các cụ đã “giải nghệ” từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất. Các cụ đều gác chuyện truyền bá võ nghệ sang một bên và làm nghề khác để nuôi sống gia đình. Và từ đó đến nay, không có bất cứ võ đường nào tại tỉnh Bình Dương được thành lập để truyền bá môn võ thuật này.

Theo các cụ, môn võ thuật này được truyền theo kiểu “cha truyền con nối”. Tùy thuộc vào tư chất mới truyền dạy và tùy độ “sáng, tối” của người học nên việc truyền thụ cũng có phần khiếm khuyết, chênh lệch. Có người biết nhiều, người biết ít. Bên cạnh đó, vào thời điểm đất nước còn bị xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chính quyền chế độ cũ không cho phép thành lập võ đường, nên người theo học võ phải học lén, không dám công khai.

Những bài Thiệu (bài thơ ghi các tư thế để đánh quyền) cũng được truyền miệng, học thuộc và cũng được các môn sinh ghi chép lại nhưng không đầy đủ. Hiện tại, chỉ còn lại 2 bậc võ sư cuối cùng tại làng Tân Khánh xưa này và các tư liệu về môn võ TKBT của 2 cụ lưu giữ theo năm tháng cũng đã thất lạc.

Trước khi chúng tôi lên đường đi tìm hiểu võ phái TKBT ngay tại nơi sản sinh ra nó, mỗi chúng tôi đều hi vọng sẽ được thấy và chụp hình lại những di vật, hình ảnh liên quan đến võ phái TKBT có thể như: Quyển sử ký về môn võ TKBT, hoặc là đền thờ Tổ, võ đường, chí ít thì cũng vài tấm ảnh mà các cụ múa roi đi quyền hồi xưa.

Chúng tôi đã hỏi cụ Thứ việc khôi phục lại môn võ TKBT này ngay tại quê hương của nó có thể thực hiện được không? Cụ Tư Thứ tay run run đưa điếu thuốc lá lên miệng rít một hơi dài và ngậm ngùi nói: “Điều này chỉ trông chờ vào Nhà nước và hậu duệ duy nhất là võ sư Hồ Tường đang truyền bá môn võ TKBT trên đất Sài Gòn”.

Các môn sinh đang tập luyện môn võ này tại NVH Thanh Niên TP.HCM

Một di sản cần được bảo tồn

Được biết, UBND tỉnh Bình Dương đã giao cho Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương thực hiện công trình nghiên cứu “Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà – Bình Dương” do Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp làm chủ nhiệm công trình, Thạc sĩ – Võ sư Hồ Tường là một trong những thành viên trực tiếp thực hiện công trình. Đề tài này đã được thông qua vào tháng 5/2009 và dự kiến thời gian thực hiện đề tài là 2 năm, bắt đầu từ tháng 9/2009.

Tại TP.HCM hiện nay có khoảng hơn 50 môn phái đang được giảng dạy tại các trung tâm. Trong đó, TKBT chủ yếu được tập trung giảng dạy ở Nhà văn hoá Thanh Niên và Trung tâm TDTT Nhà Bè. Trong hệ thống võ cổ truyền dân tộc, TKBT là môn võ “có tiếng” nhất ở khu vực phía Nam cùng với Kim Kê phái và Thanh Long võ đạo. Tuy nhiên, nơi được xem là “khai sinh” môn võ này (Thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, Bình Dương) lại không còn bất cứ võ đường nào.
Đề tài sẽ tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của võ thuật TKBT, những chiến tích mà võ thuật TKBT đã giành được qua các thời kỳ lịch sử như: Từ việc chống lại thiên nhiên hoang dã để sinh tồn và tham gia chống giặc ngoại xâm. Bên cạnh đó, sẽ khôi phục, tập hợp lại tất cả các bài quyền, đòn thế của võ TKBT nhằm mục đích tiếp tục nhân rộng, vinh danh và bảo tồn. Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp, Chủ nhiệm đề tài cho biết: “Môn võ TKBT được xem là tài sản văn hóa phi vật thể của con người Bình Dương. Qua công trình nghiên cứu này, với mong muốn xây dựng lại võ đường vừa làm nơi sinh hoạt võ thuật, vừa là nhà truyền thống để bảo lưu các giá trị, các hiện vật của bộ môn võ thuật TKBT”.

Tuy nhiên, để thực hiện thành công công trình nghiên cứu này sẽ gặp rất nhiều khó khăn do tài liệu tư liệu của môn võ TKBT qua thời gian đã thất lạc rất nhiều. Võ sư Hồ Tường cho biết, hiện còn lưu giữ được gần 20 bài quyền và bài binh khí của môn võ TKBT. Đây sẽ là nguồn tư liệu quý giá cho công trình phục dựng di sản văn hóa này.

Anh Đức – Phan Vũ

Tham khảo tại Diễn Đàn Bình Định FFC :  http://binhdinhffc.com/diendan/viewtopic.php?f=23&t=6445

——————————————————————–

“Võ đánh cọp” sẽ là di sản văn hóa quốc gia?

Các cụ kể rằng, có một thời đất ở Tân Khánh người đi học võ đông như trẩy hội. Các võ đường giao đấu trên tinh thần thượng võ khiến người xem đã con mắt. Thế nhưng thời gian cùng chiến tranh loạn lạc đã khiến cho môn võ một thời đánh cọp lẫy lừng dần dà mai một.

THẾ VÕ CỦA NGƯỜI ĐI KHAI HOANG
Theo lịch sử Bình Dương 300 năm, giữa thế kỷ 17, lưu dân người Việt từ miền Thuận Quảng thuộc xứ Đàng trong tiến vào khai phá vùng đất Đồng Nai – Gia Định. Trên bước đường mưu sinh, họ mang theo thế võ cổ truyền để phòng thân. Những lưu dân đầu tiên này lập ra làng Tân Khánh, nay là thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Để thích nghi với nơi hoang sơ, nhiều thú dữ và cướp bóc, họ phát huy thế võ cổ truyền. Từ đó hình thành môn võ miệt rừng, với tên gọi võ lâm Tân Khánh (VLTK).

Đầu thế kỷ 19, Gia Long lên ngôi. Với chính sách tìm diệt cựu thần nhà Tây Sơn để trả thù, mảnh đất Tân Khánh trở thành nơi đón tiếp cựu thần họ Võ đến mai danh. Từ đây VLTK có cơ hội thăng hoa, do được tăng cường kỹ thuật võ Tây Sơn – Bình Định.

Cựu thần họ Võ chính là bà Võ Thị Trà, giữa thế kỷ 19, lãnh đạo khởi nghĩa chống lại bọn tham quan địa phương từ căn cứ Truông Mây trên đất Tân Khánh suốt 10 năm (1850 – 1859). Để rồi tên đất gắn tên người: Tân Khánh – Bà Trà, và môn võ miệt rừng cũng được gọi là võ lâm Tân Khánh Bà Trà (TKBT). Võ sư Hồ Tường, hậu duệ đời thứ năm của môn phái này, cho biết bà Trà có hai đệ tử xuất sắc là anh em ông Hai Ất (Võ Văn Ất) và Ba Giá (Võ Văn Giá), được người dân gọi là “Võ Tòng” Tân Khánh với hơn 10 lần đả cọp. Võ nghệ hai ông vang danh khắp vùng, ai nghe qua đều kính phục.


Di ảnh võ sư Hồ Văn Lành

NHỮNG GIAI THOẠI “VÕ TÒNG” TÂN KHÁNH 
Nói về tài đả cọp của “Võ Tòng” Tân Khánh, người dân nơi đây kể vanh vách và tự hào như “chiến tích” của mình. “Chiến tích” kinh hoàng được truyền tụng như giai thoại diễn ra ở Hố Ngỡi, nay thuộc xã Tân Vĩnh Hiệp, huyện Tân Uyên.

Đó là vào buổi chiều, người ta chứng kiến ông Ất, áo rách tả tơi, nhảy qua trớ lại tránh móng vuốt của ba con cọp dữ. Càng thất kinh hơn khi ông Ất bất ngờ ngã xuống. Một số người sẵn cung tên định bắn giải cứu, bỗng nghe tiếng thét: Đừng bắn!

Đó là tiếng ông Giá, sợ họ bắn lạc tên trúng anh mình bởi ông biết anh ông không dễ bị hạ như vậy. Cú ngã chính là thế “phục địa lang hành”, ngã để xoay mình đá móc lên. Quả không sai. Cọp từ trên chụp xuống tưởng tóm gọn đối thủ thì bất ngờ lãnh cú đá ác liệt. Lẹ làng, ông Ất phóng lên lưng cọp, vung tay đấm xuống gáy cọp liên hồi. Trong lúc ông Ất ra đòn thì hai con kia định nhảy bổ vào. Thấy vậy, ông Ất định buông con cọp đang giữ nhưng vừa nới tay thì nó hất ông suýt ngã. Hốt hoảng, ông lấy hết sức đấm xuống gáy nó thêm mấy cái. Do phí sức nhiều, quả đấm không còn đủ lực hạ con cọp dữ. Ông Ất đè cọp xuống, gắng sức bẻ cổ nó thì lại nghe tiếng ông Giá: Ngồi yên đó. Ông Giá la lên nhưng trong lòng rất kinh khiếp. Làm sao chặn đứng hai con cọp giải cứu anh mình? Trong chớp mắt, ông Giá dùng thế “giải giáp”, cởi phăng chiếc áo đang mặc ném vào con cọp gần nhất. Thấy chiếc áo thình lình bay tới, cọp ngỡ có người trợ chiến, liền chụp áo xé tan nát.


Hai môn sinh đang giao đấu

Chặn đứng một con, ông Giá vung roi phóng tới đập thẳng vào đầu con cọp đang sắp chụp lên đầu ông Ất. Cọp té lộn về phía sau, đầu vỡ toang. Tiện đường roi, ông lia vào chân con cọp vồ chiếc áo, nhưng không trúng. Liền sau đó đường roi thứ hai tung ra vắt ngang lưng khiến cọp nằm im không cựa quậy.

Thấy em giết được hai con cọp, ông Ất mới hoàn hồn nhìn xuống thì thấy con cọp ông đang cưỡi đã chết tự bao giờ.

Một giai thoại khác: “Cọp Bàu Lòng Võ Tòng Tân Khánh”, chuyện mà ngay cả trẻ con cũng thuộc lòng và cho rằng “Võ Tòng” Tân Khánh “dữ” hơn Võ Tòng bên Tàu. Số là người dân xứ Bàu Lòng (Chơn Thành, Bình Phước) nhiều tháng liền bị cọp về bắt bò, heo. Mặc dân làng xua đuổi bằng mõ tre, thùng thiếc cọp cũng không bỏ con mồi. Dân làng sợ đến nỗi không làm ăn gì được. Ban Hội tề bèn lên thầy Cai tổng cầu cứu. Thầy Cai cho người mời anh em ông Ất đến và lệnh hai ông lên Bàu Lòng trừ cọp dữ.

Đến Bàu Lòng, vừa cơm nước xong, ông Ất nói: “Cọp đâu đánh phứt cho rồi”. Ông Ất dứt lời thì nghe một tiếng gầm rõ to ngoài sân. Dường như cọp có linh tính, biết thầy võ về làng nên đến thử sức. Trong lúc mọi người đang khiếp vía thì ông Giá cắp roi nhảy ra sân thủ thế. Ngoài sân, cọp thấy có người nhảy ra liền phóng tới chụp đầu. Ông Giá né vội, liền đó vung roi đâm trúng hông cọp. Cọp gầm lên rồi quay lại chụp. Ông Giá vung roi, lúc đập lúc đâm. Bụi bay mịt trời. Người coi quên phần sợ hãi. Cuộc giao tranh độ tàn điếu thuốc, bất ngờ cọp hộc lên một tiếng vọt ra ngoài vòng chiến, nằm chỏng vó lên trời. Theo các thầy võ, đó là thế “trâu vằn”, miếng tổ của cọp, ai sơ suất nhảy vào là toi mạng. Roi đánh thì bị cọp bắt, tiện dịp móc họng luôn đối thủ.

Ông Giá thấy cọp thủ thế “trâu vằn”, không thèm đánh, đứng chống roi nghỉ. Một hồi lâu, cọp không thấy ông Giá phá miếng nghề của mình, liền gầm lên phóng lại vòng chiến. Ông Giá vung roi đánh tiếp. Lát sau cọp giở lại miếng cũ. Ông Giá chống roi đứng chờ tái chiến.

Cọp không thấy ông Giá phá thế của nó liền xoay mình phóng vào vòng chiến. Và rồi người ta nghe tiếng cọp gầm thật to, vọt ra khỏi vòng chiến định chạy vào rừng. Tiếp theo, một tiếng gầm to hơn, dài hơn, nhìn lại thấy ông Ất đứng bên xác cọp. Tất cả mọi người đứng xem không ai thấy ông Ất ra tay. Thì ra ông Ất đoán được đường rút lui của cọp liền lao ra chặn đầu. Dưới ngọn roi ngàn cân của ông, cọp hết đường thoát.

Không chỉ có những bậc “tiền bối” mới có tài đả cọp. Võ sư Hồ Tường cho biết, năm 1914, ông Ất được chính quyền Pháp mời về Sài Gòn đánh cọp nhân lễ khai thị chợ Bến Thành, nhưng ông từ chối và giao cho con gái mình là Năm Vuông (Võ Thị Vuông), lúc ấy mới ngoài 20 tuổi. Chỉ hơn một giờ giao đấu cô Vuông đã hạ con cọp dữ trước sự kinh ngạc của đông đảo quan khách.



Môn sinh tập luyện

VÙNG ĐẤT VÕ CHỈ CÒN HƯ DANH
Võ lâm TKBT có nhiều thế hệ anh tài nối tiếp vang danh khắp Nam kỳ lục tỉnh. “Nữ chúa” Truông Mây một thời lẫy lừng xứ Tân Khánh. Kế đến Hai Ất, Ba Giá, Năm Vuông từng làm rạng danh môn phái này với tài đả cọp. Đến nay, võ lâm TKBT trải qua năm đời: anh em ông Ất được xếp vào hàng tiên sư, đời thứ nhất; tiếp theo có Võ Văn Trực (Sáu Trực), Võ Văn Phiên (Bảy Phiên), Hồ Văn Lành (mất 2005, thọ 92 tuổi) và hậu duệ đời thứ năm Hồ Tường (con võ sư Hồ Văn Lành), dạy võ tại Nhà văn hóa Thanh niên TPHCM từ năm 1981 đến nay.

Theo võ sư Hồ Tường, năm 1950, đánh dấu bước ngoặc mới của môn phái này. Cố VS Hồ Văn Lành rời Tân Khánh lên Sài Gòn tham gia Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam. Với tư cách là ủy viên, ông đã nỗ lực phổ biến võ lâm TKBT vào cộng đồng võ thuật miền Nam. Từ năm 1970 – 1974, các môn sinh của ông Từ Thanh Nghĩa, Hồ Ngọc Thọ đoạt huy chương vàng cấp quốc gia. Ngoài ra có Từ Trung Tín, Từ Y Văn từng đại diện miền Nam thi đấu 7 trận toàn thắng trước các nhà vô địch Thái Lan, Lào và Campuchia.

“Môn võ một thời lẫy lừng như vậy, nhưng giờ đây đi khắp làng cũng không tìm thấy dấu tích nào của võ đường. Một môn võ từng vang danh, giờ hiển hiện nguy cơ thất truyền quả thật đáng buồn” – võ sư Hồ Tường tỏ ra lo lắng.

Có lẽ nhận thấy đều đó nên mới đây UBND tỉnh Bình Dương đã quyết định khôi phục lại. Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp – Khoa sử, trường Đại học KHXH & NV TPHCM, người chấp bút đề án “Khôi phục võ lâm TKBT” – cho biết sẽ hoàn chỉnh đề án vào cuối năm nay. Giai đoạn đầu đề án, biên soạn lại lịch sử môn phái, khôi phục các bài quyền, binh khí, trang phục. Tiếp theo sẽ xây võ đường, nhà truyền thống, vừa dạy võ vừa giáo dục tinh thần thượng võ cho thế hệ trẻ. Từng bước đưa môn phái này hòa nhập vào làng võ cổ truyền quốc gia và thế giới. Tiến sĩ Diệp tỏ ra lạc quan: Tương lai võ lâm TKBT không còn là tài sản của người Bình Dương mà sẽ trở thành di sản văn hóa quốc gia. Bởi trong quá khứ, võ lâm TKBT không chỉ đánh cọp mà từng mang lại vinh quang cho nền võ thuật nước nhà. Các nhà cách mạng tiền bối Nguyễn An Ninh, Huỳnh Văn Nghệ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Văn Hùm… cũng từng là võ sinh của môn phái này. Việc để một phái võ nổi tiếng như vậy thất truyền là có tội với tiền nhân, ông Diệp nói. Tuy vậy, để khôi phục môn phái này phải có người tâm thuyết và kinh phí có thể lên đến chục tỷ đồng.

Cũng theo ông Diệp, mặc dù đây là miếng võ của người đi khai hoang, nhưng những người biết võ TKBT có thể đánh thắng cọp. Do vậy, việc khôi phục phái “võ đánh cọp” là việc nên làm. Dẫu có hơi muộn nhưng cho phép những người lạc quan tin rằng, phái võ này rồi sẽ lại vang danh.

Bài, ảnh: LÝ GIA BÌNH