Sợ mắc COVID-19 quá mức, coi chừng bị coronaphobia


Chúng ta đang sống trong thời buổi mà chỉ cần bị ho nhẹ, sụt sịt hay mất khứu giác là giật mình tự hỏi phải chăng mình đã nhiễm COVID-19. Sợ bị nhiễm COVID-19, tiếng Anh là coronaphobia, là một dạng rối loạn lo âu bệnh tật. Nghiên cứu cho thấy điều này liên quan đến việc sợ bị nhiễm bệnh, tử vong và cả phong tỏa.

Tập thể dục, yoga tại nhà vừa giúp tăng cường sức khỏe vừa có tác dụng giảm lo lắng. Ảnh: Getty Image

Quá sợ bệnh cũng là bệnh

Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ định nghĩa ám ảnh (phobia) là một chứng rối loạn lo âu đặc trưng bởi sự sợ hãi dai dẳng, quá mức, phi thực tế với một đồ vật, con người, động vật, hoạt động hoặc tình huống. Chứng ám ảnh này khiến người ta tránh xa những tác nhân gây ra nỗi sợ và khi không thể tránh được, sẽ gây ra lo lắng và đau khổ cho họ.

Với hơn 211 triệu ca và 4,4 triệu người chết trên thế giới (trang web thống kê worldometers.info ngày 22-8) cùng những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế – xã hội ở quy mô toàn cầu, đại dịch COVID-19 là sự kiện đau buồn và gây ra chứng coronaphobia.

Nghiên cứu về coronaphobia trên Thư viện Quốc gia Hoa Kỳ về y khoa chỉ ra rất nhiều yếu tố có thể là tác nhân gây ám ảnh liên quan đến bệnh COVID-19. 

Sự thiếu chắc chắn về nguồn gốc của virus và dịch bệnh là một trong số đó. Những câu hỏi còn bỏ ngỏ về nguồn gốc của virus, thời gian ủ bệnh, tác động của các biến thể mới, sống chung với dịch thế nào… khiến nhiều người lo lắng. Căn bệnh cũng khiến tương lai khó đoán, bấp bênh hơn. 

Quá tải bệnh viện làm sứt mẻ niềm tin của người dân vào hệ thống y tế. Tin tức về việc các lãnh đạo thế giới, người nổi tiếng nhiễm bệnh làm tăng cảm giác vô vọng, lo lắng. 

Đó mới là các yếu tố kích hoạt tâm trạng lo lắng. Khi chúng ta sợ COVID-19, các phản ứng về sinh lý, nhận thức và hành vi của cơ thể sẽ góp phần củng cố sự sợ hãi. Về sinh lý, nỗi lo lắng thường trực về việc bị nhiễm COVID-19 làm tim ta đập thình thịch, run, khó thở, chóng mặt, thay đổi cảm giác với đồ ăn, khó ngủ. 

Về nhận thức: sợ mắc bệnh khiến ta liên tục giả định các tình huống xấu: Tôi có thể chết nếu bị mắc COVID-19; tôi không thể đi làm, sẽ thất nghiệp; gia đình tôi có nguy cơ cao, họ có thể chết…

Những suy nghĩ này lại tiếp tục kích hoạt các cảm xúc như buồn bã, tội lỗi, tức giận. Vì sợ bị nhiễm bệnh, người lo lắng thái quá sẽ tránh các nguy cơ nhiễm bệnh. Nếu không thể tránh được, khi phải sử dụng phương tiện giao thông công cộng, chạm vào các bề mặt, đến nơi công cộng, nơi đông người… họ đều rất sợ hãi.

Họ sợ gặp người khác, lạm dụng các hành vi an toàn liên quan đến sức khỏe (như rửa tay). Để tự trấn an, họ liên tục kiểm tra các chỉ số sức khỏe để xác nhận mình không có bệnh: kiểm tra khứu giác, vị giác, đo thân nhiệt… Nhưng các hành động này “nuôi dưỡng” sự sợ hãi chứ không giúp họ yên tâm hơn.

Ông Gordon Asmundson – giáo sư tâm lý học tại Đại học Regina (Canada), đồng tác giả cuốn It’s Not All in Your Head: How Worrying about Your Health Could Be Making You Sick – And What You Can Do about It – lý giải vì sao “bệnh tưởng” có thể làm chúng ta “bệnh thiệt” cho biết: 

“Khi xảy ra dịch bệnh như COVID-19, người lo lắng thái quá về sức khỏe có thể bị ám thị rằng các cơn đau cơ sau khi tập thể dục hoặc một cơn ho là dấu hiệu bị nhiễm COVID-19. Điều này khiến họ lo lắng hơn, có dấu hiệu bị căng thẳng”.

Lo lắng về bệnh tật, như COVID-19, ở mức độ nào đó là có lợi, là động lực để chúng ta có những hành vi bảo vệ sức khỏe: đeo khẩu trang, tránh nơi đông người, thường xuyên rửa tay… nhưng lo lắng quá mức là lợi bất cập hại. 

Steven Taylor, nhà tâm lý học lâm sàng tại Đại học British Columbia (Canada), cho biết: “Người lo lắng về sức khỏe quá mức thường xuyên kiểm tra huyết áp, thân nhiệt. Họ có nhu cầu đi hết bác sĩ nọ đến bác sĩ kia về một vấn đề sức khỏe. Họ lật tung Internet để tìm hiểu các triệu chứng của mình”.

Mà “bác sĩ Google”, theo giáo sư Taylor, có thể đưa ra những chẩn đoán gây hoang mang, “sau khi đọc thông tin trên Internet, họ có thể còn sợ hãi hơn”.

Lo lắng thái quá có thể ảnh hưởng đến giấc ngủ, nhất là khi tâm trí ta luôn ám ảnh với suy nghĩ nếu mình bị bệnh thì sao, làm tim đập nhanh hơn, thở gấp, gây đau đầu, đau bụng… Nó thậm chí khiến ta mất tập trung, gây bi quan, không còn khả năng tận hưởng các hoạt động vui vẻ bình thường, làm suy giảm chất lượng cuộc sống.

“Khi sự lo lắng và tưởng tượng về bệnh tật không tương xứng với rủi ro thực tế, hoặc khi nó cản trở khả năng làm những công việc bình thường như học hành hay chăm sóc gia đình, đó là vấn đề cần giải quyết” – nhà tâm lý Bufka nói.

 Hãy đi khám với bác sĩ chuyên khoa thay vì tìm kiếm thông tin trên Google. Ảnh: Reuters

Cách tự xử nỗi lo

Dù lo lắng thái quá về bệnh tật làm phiền cuộc sống của chúng ta, tin vui là chúng ta có thể tự khắc phục hoặc nhờ sự trợ giúp của chuyên gia. Sau đây là lời khuyên của các chuyên gia:

Kiên trì lối sống lành mạnh 

Ăn uống lành mạnh, ngủ đủ giấc, kết nối với người khác (nếu không gặp mặt thì gọi điện, nhắn tin…) và thể dục thường xuyên. Mặc dù những người bị chứng rối loạn lo âu bệnh tật nghiêm trọng có thể không muốn tập thể dục vì nó khiến họ mệt thêm, hãy cố gắng tập chút ít khi có thể. 

Theo giáo sư Taylor, “sự sa sút về thể chất diễn ra rất nhanh, có thể gây ra các triệu chứng đáng lo ngại khác như nhịp tim tăng hoặc khó thở khi leo cầu thang. Ngược lại, nghiên cứu cho thấy các bài tập thể dục theo động tác, đặc biệt là thể dục cường độ cao, như chạy bộ, có thể có tác dụng nhanh và nhiều trong giảm lo lắng”.

Nghĩ về hiện tại

Chúng ta không thể thay đổi quá khứ, không thể biết trước tương lai. Cái duy nhất chúng ta kiểm soát là hiện tại. Nhà tâm lý Bufka khuyên: Khi lo lắng nổi lên, hãy quan sát nó, chấp nhận rồi đặt nó vào một góc của tâm trí để tiếp tục cuộc sống của mình. 

Bạn thử viết về nỗi lo lắng của mình ra một cuốn sổ, sau đó đóng sổ lại và suy nghĩ sang vấn đề khác. Với bài tập này, bạn có thể dần gác sự lo lắng sang một bên.

Làm dịu hệ thần kinh

Nhà tâm lý Asmundson gợi ý “tập cách kiểm soát sự kích hoạt của hệ thần kinh thực vật – hệ thần kinh thúc đẩy các phản ứng chiến đấu hay từ bỏ trước các kích ứng – giúp đưa hệ thần kinh chúng ta về trạng thái bình thường thay vì trạng thái đối mặt với nguy hiểm, nhờ đó giúp giảm lo lắng”.

Chúng ta tập kiểm soát hệ thần kinh thực vật bằng cách tập thở cơ hoành với nhịp độ ổn định (hít vào từ từ bằng mũi, đếm 1-2, tạm dừng một hoặc hai nhịp, sau đó thở ra đếm 1-2). 

Cơ hoành là một cơ hình vòm nằm dưới phổi. Khi hít vào, cơ hoành hạ xuống tạo ra một chân không hút không khí vào phổi, bụng của chúng ta sẽ phồng lên, xẹp xuống theo từng nhịp hít vào thở ra. Ngoài ra, có thể tập căng, giãn từng nhóm cơ cụ thể hoặc thiền.

Đừng kiểm tra sức khỏe quá thường xuyên 

Liên tục kiểm tra thân nhiệt hoặc khứu giác vì sợ nhiễm COVID-19 không mang lại lợi ích gì cho bạn. Nếu có các triệu chứng thực sự gây lo lắng như chóng mặt, ngất xỉu, khối u bất thường… hãy đi khám chuyên khoa, làm theo lời khuyên của bác sĩ. 

Cũng đừng nhảy hết bác sĩ này sang bác sĩ kia để tìm kiếm sự đảm bảo về chẩn đoán, hay dành hàng giờ lang thang trong các trang thông tin về sức khỏe trên Internet. Hãy ngắt kết nối Internet khi có thể hoặc làm tay chân và tâm trí cùng bận rộn bằng các hoạt động như tô màu, đan lát, đọc sách… khi rảnh rỗi.

Thay đổi cách nghĩ 

Theo các chuyên gia, cách chúng ta nghĩ về cảm giác của cơ thể và sức khỏe tổng quát của mình có thể làm tăng hoặc giảm sự lo lắng. Tập trung vào các triệu chứng xấu hoặc chưa gì đã lo mình bị bệnh nặng có thể làm tăng các nguy cơ về sức khỏe.

Nếu bạn lo lắng thái quá, hãy chất vấn những suy nghĩ lo lắng của mình và đưa ra đánh giá sát thực hơn. Thay vì nghĩ: Tuần này tôi bị kiệt sức, chắc chắn là tôi bị bệnh, hãy xem xét lại những gì xảy ra. Bạn sẽ tự đưa ra được đánh giá thực tế hơn là mình làm việc quá sức và thiếu ngủ, nên bị kiệt sức.

Tìm sự giúp đỡ của chuyên gia

Nếu không thể tự mình khắc phục những suy nghĩ lo lắng thái quá của bản thân, hãy liên hệ với bác sĩ để được tư vấn. Bạn đừng lo nếu không thể gặp trực tiếp do giãn cách xã hội vì COVID-19.

 Một nghiên cứu so sánh giữa việc trị liệu trực tuyến với trị liệu trực tiếp cho những người mắc chứng rối loạn lo âu bệnh tật cho thấy hiệu quả của trị liệu trực tuyến tương tự trị liệu trực tiếp nhưng chi phí thấp hơn. 

Ám ảnh mắc bệnh COVID-19 có thể là thoáng qua, không tồn tại lâu dài. Tuy nhiên, chúng ta nhận ra, can thiệp sớm, không để nó phát triển thành vấn đề dai dẳng.

Theo TTCT

Sách giúp ý chí mạnh mẽ hơn trong đợt giãn cách



Sách giúp ý chí mạnh mẽ hơn trong đợt giãn cách

Các tựa sách tâm lý không chỉ giúp chúng ta hiểu được chính bản thân mà còn giúp hiểu được tâm lý của người khác.

Ngày này, các tựa sách tâm lý đang được phần lớn độc giả quan tâm vì chúng không chỉ giúp chúng ta hiểu được chính bản thân mà còn giúp hiểu được tâm lý của người khác. 

Nghiên cứu tâm lý sẽ giúp chúng ta sẽ đem lại rất nhiều lợi ích trong cuộc sống, từ hiệu việc phát triển bản thân cùng những người xung quanh cho đến việc thành công trong công việc, tạo ra kết quả lớn trong việc kinh doanh, bán hàng, tạo dựng mối quan hệ, xây dựng doanh nghiệp, khả năng lãnh đạo và hiểu rõ hơn nhiều vấn đề khác của xã hội hiện nay.

Như chúng ta cũng đã biết, một cuộc khủng hoảng tâm lý có thể xảy ra với bất kỳ ai, ở bất kỳ độ tuổi và trong bất kì hoàn cảnh nào. Tình trạng này thật sự rất khó khăn và thường rất đáng sợ. 

Khi có những chuyện tiêu cực bất ngờ xảy ra, chúng ta hoàn toàn sửng sốt và không hề phòng vệ trước, điều này dễ dàng khiến ta rơi vào khủng hoảng tâm lý trong trọng. Và nếu để lâu ngày, những điều này sẽ gây cản trở và dẫn đến những hệ lụy khác nếu ta không biết rõ cách vượt qua.

Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau “nạp” thêm các kiến thức để vượt qua rào cản tâm lý cũng như nhận thức rõ bản thân để có một cuộc sống hạnh phúc hơn. Và sau đây là 5 tựa sách tâm lý nên đọc để giúp ta có“ý chí mạnh mẽ, sống vui sống khỏe” hơn nhé: 

1. 13 điều người có tinh thần thép không làm

Đây là một quyển sách tâm lý rất hay dành cho những ai cảm thấy cuộc sống này đang quá khó khăn và không biết cách vực dậy tinh thần. Quyển sách sẽ đưa ra những câu nói khiến bạn thức tỉnh và trở nên mạnh mẽ hơn nếu bạn thật sự hiểu được quyển sách muốn nói gì. 

Đối mặt và nhận diện được 13 thói quen xấu trong cuộc sống, bạn sẽ tránh được chúng và không sa vào những lối mòn tư duy như: đổ lỗi cho người khác và hoàn cảnh, thói ích kỷ, cho rằng bản thân là cái rốn của vũ trụ, quá thương thân và cho rằng thế gian này không công bằng với bạn,… Và chỉ khi nào tránh được những “cạm bẫy” tinh thần này, mỗi người chúng ta mới có thể thực sự tập trung vào việc phát huy và tăng cường những điểm mạnh vốn có của mình, mới có thể chú tâm vào hành trình lâu bền cải thiện bản thân, tăng cường sức mạnh tinh thần để chinh phục mọi thử thách trong cuộc sống.

2. Nghĩ thông suốt, đời nhẹ như mây

Quyển sách chia sẻ những trải nghiệm cá nhân sâu sắc của tác giả về sự từ chối. Quyển sách tập trung vào kiểm tra một cách trung thực gốc rễ của sự từ chối, cũng như khả năng sự từ chối có thể đầu độc các mối quan hệ từ trong ra ngoài. 

Với sự am hiểu sâu rộng và một đức tính trung thực dễ bị tổn thương nhưng không kém phần hóm hỉnh, tác giả Lysa TerKeurst sẽ giúp bạn vượt qua sự khước từ bằng những chia sẻ đầy thú vị của cô.

3. Chatter – Trò chuyện với chính mình

Một sự kết tinh của những nghiên cứu khoa học mới nhất về bộ não và tâm trí con người. Trong Chatter – Trò chuyện với chính mình, tác giả Ethan Kross đã khéo léo hệ thống hóa những tri thức khoa học đó và minh họa chúng bằng những câu chuyện hết sức thú vị khiến ta có cảm tưởng mình đang được xem những bộ phim bom tấn của Hollywood. 

Nếu bạn đã từng cảm thấy bế tắc, tuyệt vọng, chán nản vì công việc, vì những mối quan hệ cũng như vô số những áp lực vô hình khác của cuộc sống hiện đại, bạn sẽ bất ngờ với lợi ích từ những phương pháp mà quyển sách này mang lại. 

Đó là bí quyết mà rất nhiều người thành công đã sử dụng, và khoa học đã chứng minh là nó hữu ích với mọi người: sử dụng tiếng nói nội tâm như một người dẫn đường tuyệt vời.

4. Im lặng không làm ta vô can

Mỗi ngày, chúng ta đều được cung cấp thông tin về các hành vi xấu diễn ra trong xã hội: từ quấy rối tình dục đến tham nhũng chính trị, từ những vụ việc gây hấn đến bắt nạt học đường… Thật dễ dàng để đổ lỗi cho những kẻ xấu thực hiện các hành động xấu xa đó. Chúng ta tin rằng những việc làm sai trái đó cần bị lên án và loại trừ, nhưng thực tế có mấy ai chịu đứng lên hành động để hiện thực hóa điều đó?

Im lặng không làm ta vô can dựa trên những nghiên cứu mới nhất trong tâm lý học và khoa học thần kinh của tác giả Catherine Sanderson để tìm hiểu một câu hỏi nhức nhối: Tại sao rất nhiều người trong chúng ta không can thiệp khi cần thiết – và điều gì sẽ khiến chúng ta hành động? Mục đích của Catherine Sanderson khi viết cuốn sách này là để giúp mọi người hiểu về các yếu tố tâm lý làm nền tảng cho xu hướng im lặng rất tự nhiên của con người khi đối mặt với hành vi xấu và cho thấy sự im lặng có vai trò quan trọng như thế nào trong việc cho phép hành vi xấu tiếp diễn.

5. Sang chấn tâm lý

Một quyển sách tâm lý kinh điển của tâm thần học hiện đại, là một công trình khoa học công phu và nghiêm túc, trải rộng trên nhiều lĩnh vực – tâm lý học thần kinh, tâm lý học phát triển, tâm bệnh học, tâm lý trị liệu – được đúc kết sau nhiều năm kinh nghiệm làm việc của chính tác giả – Tiến sĩ Y khoa Bessel Van Der Kolk, và dựa trên những câu chuyện có thật của các bệnh nhân mà tác giả có dịp tiếp xúc hoặc chữa trị. 

Hiện nay, chúng ta đã biết rằng sang chấn gây ra những thay đổi về sinh lý học trong cơ thể, những thứ giúp ta cảm nhận được mình đang sống. Những thay đổi này giải thích tại sao các cá nhân bị sang chấn trở nên nhạy cảm hơn đối với những hiểm họa ngay cả khi họ đang tham gia cuộc sống thường ngày. Chúng cũng giúp chúng ta hiểu được vì sao những người bị sang chấn thường liên tục lặp đi lặp lại những hành động nào đó. Chúng ta cũng đã biết những hành vi của người bị sang chấn không phải là hệ quả của việc sa sút về đạo đức, là dấu hiệu của việc mất lý trí hay nhân cách kém mà là do những thay đổi trong não bộ của họ.

*Tóm lại, những quyển sách tâm lý này đặc biệt ở chỗ chúng hoàn toàn không phải là lý thuyết suông, mà đều là những câu chuyện, những trải nghiệm thực tế của những người gặp phải khủng hoảng tâm lý và cách thức họ đã vượt qua chúng như thế nào, từ đó chúng ta có thể rút ra được những bài học cho chính bản thân mình.

Theo Nhịp Cầu Đầu Tư

[Covid19] Rối loạn tâm thần thời đại dịch COVID-19


Rối loạn tâm thần thời đại dịch COVID-19: Thách thức cần phải vượt qua

Theo các nhà nghiên cứu, không chỉ trực tiếp cướp đi sinh mạng của hơn 2,8 triệu người, dịch COVID-19 còn gây ra những rối loạn tâm thần kéo dài, kể ca sau khi thế giới đã đẩy lùi được đại dịch.

Đại dịch COVID-19 làm gia tăng các rỗi loạn tâm thần của con người. (Ảnh: AFP)

“Lo lắng,” “căng thẳng,” “bất lực,” “cô độc,”“áp lực gia tăng” là những cụm từ ngày càng được nhắc tới nhiều hơn khi đại dịch COVID-19 kéo dài. 

Không chỉ trực tiếp cướp đi sinh mạng của hơn 2,8 triệu người, dịch COVID-19 còn gây ra những vết sẹo lớn về tinh thần với nhiều người trong suốt một năm qua.

Nếu như mắc bệnh có thể xét nghiệm và tìm cách chữa trị thì những vết sẹo tinh thần mà COVID-19 gây ra lại âm thầm xuất hiện ở hơn 13 triệu người, có những nạn nhân không thể thoát ra hoặc không thể lấy lại cảm giác bình thường, có cả những người đã tìm đến cái chết.

Đó cũng là lúc thế giới cùng giật mình nhận ra rằng những vấn đề khỏe tâm thần gây ra cũng nguy hiểm như đại dịch COVID-19. Thậm chí, Viện Y tế toàn cầu của Tây Ban Nha (ISGlobal) cảnh báo rằng các vấn đề sức khỏe tâm thần do dịch COVID-19 gây ra sẽ là đại dịch tiếp theo.

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sợ hãi, lo lắng và áp lực là những phản ứng bình thường của con người trước những mối đe dọa thực tiễn hoặc được cảnh báo, cũng như trong những thời điểm đối mặt với bất ổn hoặc những điều mà chúng ta chưa biết rõ.

Do đó, việc con người cảm thấy lo lắng khi đại dịch COVID-19 xuất hiện là điều có thể hiểu được. Tuy nhiên, đại dịch kéo dài và luôn rình rập đã khiến vấn đề không chỉ dừng lại ở mức bình thường, bởi bên cạnh cảm giác lo sợ mắc bệnh, nguy cơ và nỗi đau mất đi người thân, con người phải đối mặt, thậm chí dần nhận ra họ sẽ phải sống chung với những thay đổi đột ngột trong cuộc sống hằng ngày bất kể khi nào.

Đó là phải hạn chế đi lại-tiếp xúc, phải tìm cách thích nghi với làm việc tại nhà hoặc nghỉ việc, giảm thu nhập, là phải vật lộn với công việc thứ hai – dạy con học tại nhà mà không được trang bị kỹ năng sư phạm, là các mối đe dọa bạo lực gia đình, gánh nặng gia tăng việc nhà và chăm sóc với phụ nữ. Những thay đổi này dần trở thành nỗi ám ảnh với những người vốn đã sinh sống và trưởng thành trong môi trường đối ngược.

Khi dịch mới bùng phát 1 năm trước, đâu đó vẫn có hy vọng rằng giai đoạn phong tỏa có thể sẽ là quãng thời gian hiếm hoi để con người sống chậm lại, suy nghĩ thấu đáo hơn và soi lại bản thân kỹ hơn. Tuy nhiên, một năm sau, đã có những bằng chứng khoa học chỉ ra đại dịch COVID-19 tác động xấu tới sức khỏe tâm thần, dẫn tới làn sóng gia tăng áp lực tinh  thần phủ bóng toàn cầu.

Một nghiên cứu thực hiện tháng 12/2020 của Cơ quan Thống kê dân số Mỹ cho thấy 42% dân số nước này có biểu hiện lo âu hoặc thấy áp lực, tăng mạnh so với con số 11% ghi nhận trước đó một năm khi đại dịch chưa bùng phát.null

Theo Tiến sỹ Erika Saunders, Chủ nhiệm Khoa Sức khỏe tâm thần và hành vi của Trung tâm y tế Milton S. Hershey, bang Pennsylvania (Mỹ), nhìn chung các cấp độ lo âu, căng thẳng đều gia tăng trước những thay đổi về môi trường làm việc, giáo dục, trong khi nhu cầu điều trị các vấn đề về sức khỏe tâm thần và hành vi, các trường hợp rối loạn tâm thần mức độ nặng đều tăng trong năm 2020.

Số người mắc chứng mệt mỏi hoặc thiếu năng lượng, ngủ không ngon giấc, cảm thấy áp lực hoặc vô vọng, mất tập trung, lo âu và mất thăng bằng, không ngừng lo lắng hoặc rất khó để tìm được cảm giác thư giãn tăng ít nhất 25% trong đại dịch. 

Trong khi đó, các vụ sử dụng rượu và cần sa cũng tăng mạnh tại Mỹ trong tháng 3/2020 khi các biện pháp phong tỏa được áp dụng.

Lệnh phong tỏa do COVID-19 làm trầm trọng thêm các vấn đề về tâm thần. (Nguồn: icrc.org)

Tại Anh, báo Medical News Today dẫn một nghiên cứu thực hiện tháng 4/2020 cũng cho thấy số người có cảm giác lo lắng áp lực tăng 25% trong thời gian phong tỏa. Tỷ lệ bệnh nhân trầm cảm tại Anh tăng gần gấp đôi trong đại dịch COVID-19. Bức tranh toàn cầu cũng có diễn biến tương tự.

Một nghiên cứu với hơn 236.300 bệnh nhân COVID-19 ở Mỹ cũng cho thấy nhiều người sống sót sau khi mắc bệnh có nguy cơ cao mắc các bệnh về tâm lý. Theo đó, cứ 3 bệnh nhân bình phục thì có 1 người bị chẩn đoán mắc các rối loạn chức năng não hoặc tâm thần học trong vòng 6 tháng. Một nghiên cứu trước đó cũng phát hiện rằng có tới 20% bệnh nhân phục hồi mắc phải rối loạn tâm thần sau 3 tháng.

Đại dịch COVID-19 không chỉ gây ra nỗi ám ảnh mới mà còn làm trầm trọng vấn đề có sẵn khi làm gián đoạn dịch vụ chăm sóc cho những người vốn cần được hỗ trợ tâm lý. Theo WHO, đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần quan trọng ở 93% các quốc gia trên thế giới giữa lúc những nhu cầu về sức khỏe tâm thần gia tăng.

Những người có các vấn đề tâm lý từ trước không thể đến gặp bác sỹ tư vấn trực tiếp, họ cũng là người có nguy cơ bệnh nặng hoặc tử vong cao hơn nếu mắc bệnh COVID-19.

Nghiên cứu của WHO tại 130 quốc gia ở 6 khu vực chỉ ra hơn 60% các quốc gia ghi nhận gián đoạn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhóm người dễ tổn thương như trẻ em và trẻ vị thành niên, phụ nữ và người lớn tuổi, 67% ghi nhận tình trạng gián đoạn tư vấn và trị liệu tâm thần và có tới hơn 70% các quốc gia ghi nhận tình trạng gián đoạn dịch vụ sức khỏe tâm thần tại nơi làm việc và trường học. 

Do gián đoạn điều trị, nhiều người đã tìm cách tự xoa dịu bản thân nhờ rượu, chất kích thích… khiến tình hình càng trầm trọng hơn.

Đặc biệt, các nhân viên y tế làm việc trên tuyến đầu chống dịch cũng đối mặt với rủi ro lớn là dễ bị hậu chấn tâm lý, khi ngày ngày phải tiếp xúc gần với các ca bệnh nặng và tử vong, sống trong nỗi lo sợ thường trực bị lây nhiễm.

Bên cạnh đó, các nhân viên y tế còn phải sống cách ly với gia đình, đối mặt với tâm lý lo ngại của xã hội về việc họ có thể mang virus SARS-CoV-2. Theo nghiên cứu, cứ trong 4 nhân viên y tế, có 1 người phải vật lộn với chứng trầm cảm và lo lắng trong bối cảnh dịch bệnh, trong 3 người có 1 người mắc chứng mất ngủ.

Các nghiên cứu tại Bỉ cách đấy 1 năm, khi dịch bệnh đang hoành hành khắp châu Âu, cho thấy số nhân viên y tế muốn bỏ nghề cao gấp đôi bình thường, còn số người cảm thấy lo lắng khổ sở cao gấp 4 lần. 

Một nghiên cứu khác cho thấy những người làm việc trong ngành y uống nhiều rượu, bia hơn những người làm việc trong các ngành khác.

Cùng thời điểm đó, tại Pháp, mỗi ngày, hiệp hội hỗ trợ các nhân viên y tế nhận được hơn 70 cuộc gọi liên quan đến những sang chấn tâm lý, nhiều cuộc gọi đề cập đến khả năng tự tử. 

Kết quả nghiên cứu tại  Italy cũng cho thấy 7/10 số nhân viên y tế tại các khu vực tâm dịch của Italy rơi vào tình trạng kiệt sức, 9/10 trong số họ có những triệu chứng như cáu kỉnh, mất ngủ, gặp ác mộng hay suy sụp tinh thần.

Cũng từ khảo sát của WHO, trước đại dịch, các chính phủ dành rất ít ngân sách cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần, trung bình chưa đến 2% trong quỹ dành cho ngành y tế và chưa đến 1% các khoản hỗ trợ y tế quốc tế dành cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe tâm thần. Vì vậy, khi đại dịch bùng phát, những vấn đề sức khỏe tâm thần gia tăng buộc các chính phủ chật vật tìm các giải quyết.

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh việc đầu tư hợp lý cho chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ mang lại những phần thưởng xứng đáng. Ước tính trước đại dịch, chỉ riêng tình trạng lo lắng và áp lực đã khiến sản lượng kinh tế Mỹ giảm khoảng 1.000 tỷ USD mỗi năm, trong khi mỗi 1 USD đầu tư cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ mang lại lợi ích tương đương 5 USD.

Các nhà nghiên cứu đều lo ngại tác động của COVID-19 đối với sức khỏe tâm thần có thể sẽ kéo dài, kể ca sau khi thế giới đã đẩy lùi được đại dịch. Nhà tâm lý học lâm sàng Luana Marques, từ Đại học Y Havard ở Boston, cho rằng tình trạng sức khỏe tâm thần của người dân sẽ không thể sớm trở lại mức thông thường ngay sau đại dịch.

Người dân đeo khẩu trang phòng dịch COVID-19 khi đi dạo tại London, Anh ngày 5/4/2021. (Ảnh: AFP/TTXVN)

Tiến sỹ Erika Saunders cảnh báo các vấn đề về sức khỏe tâm thần sẽ gây chấn thương lớn với toàn xã hội và cả thế giới nói chung ở nhiều cấp độ, với những tác động lâu dài mà thế giới sẽ vẫn có thể cảm nhận rất lâu sau khi đại dịch qua đi. Đáng lo ngại hơn, các nghiên cứu sơ bộ chỉ ra nhóm những người trẻ, tương lai của xã hội, lại là nhóm có nguy cơ cao hơn bị suy giảm sức khỏe tâm thần do tác động của đại dịch.

Một nghiên cứu mới với 50.000 người tham gia, đăng trên Tạp chí Journal of Psychiatry (Canada), cho thấy tình trạng lo âu xuất hiện ở 36% số người thuộc nhóm từ 15-34 tuổi, trong khi tỷ lệ này ở nhóm từ 35-54 tuổi và ở nhóm trên 55 tuổi giảm dần, lần lượt là 27,1% và 14,5%.

Các vấn đề về tâm thần, đặc biệt nếu kéo dài, sẽ có tác động nghiêm trọng tới chất lượng cuộc sống, chức năng hoạt động hằng ngày và sức khỏe thể chất. Vì vậy, nếu tình trạng này không sớm được khắc phục, nhóm người trẻ tuổi không được hỗ trợ kịp thời để phát hiện và ngăn chặn tình trạng diễn biến xấu đi thì tác động tới tương lai của mỗi quốc gia được cho là sẽ không hề nhỏ.

Theo Tổng Giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus, một trạng thái sức khỏe tinh thần tốt là nền tảng cơ bản để có một sức khỏe tổng thể ổn định và cuộc sống khỏe mạnh. Ông kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới hành động nhanh chóng và quyết liệt để đầu tư thêm cho các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần mang tính sống còn cả trong và sau đại dịch. WHO lưu ý cần lồng ghép vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần vào các kế hoạch chuẩn bị ứng phó khi xảy ra tình trạng khẩn cấp y tế cộng đồng.

WHO đã chọn chủ đề “Vì một thế giới công bằng hơn, khỏe mạnh hơn” cho Ngày Y tế thế giới 7/4 năm nay, trước thực tế có tới 85% số người mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần tại các nước nghèo không được chăm sóc hợp lý.

Trong 130 nước được WHO khảo sát, hơn 70% đã áp dụng biện pháp khắc phục sự cố gián đoạn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tâm thần trực tiếp do đại dịch, nhưng có sự chênh lệch đáng kể giữa các nước thu nhập cao và thu nhập thấp. Trong khi 80% các quốc gia thu nhập cao làm được điều này thì tỷ lệ ở nhóm các nước thu nhập thấp chưa đến 50%.

Đại dịch càng kéo dài, bất bình đẳng về y tế càng lộ rõ, bởi vậy, khắc phục tình trạng này chính là một trong những yếu tố giúp thế giới vượt qua những rối loạn tâm thần do COVID-19.

Lê Ánh (TTXVN/Vietnam+)

Thất nghiệp mùa dịch hủy hoại cơ thể và tinh thần như mất ngủ, trầm cảm


Ảnh minh hoạ :)

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm

Mất việc không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống mà còn để lại những tác động đến sức khỏe thể chất và tinh thần mà nếu không phát hiện sớm sẽ dẫn tới hậu quả lâu dài.

Mất việc là một trong những trải nghiệm tồi tệ nhất trong sự nghiệp của bạn, đặc biệt là khi nó đến một cách đột ngột. Mất việc trong lúc Covid-19 đang bùng phát lại càng khiến tình trạng stress thêm nghiêm trọng. Khi ấy, bạn không chỉ mất đi một nguồn thu nhập ổn định mà còn đánh mất cả mục đích, thói quen và những người bạn đồng nghiệp. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của bạn.

Những tín hiệu cảnh báo cơ thể đang bị ảnh hưởng từ chuyện thất nghiệp

1. Mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều

Một trong những dấu hiệu đầu tiên là sự thay đổi của giấc ngủ.

Theo Kristin Bianchi – bác sĩ tâm lý tại Trung tâm Thay đổi Hành vi và Rối loạn lo âu (Mỹ), bạn có thể sẽ bị khó ngủ, không cảm thấy buồn ngủ, hoặc dậy sớm hơn dự định.

1-2 đêm mất ngủ là chuyện bình thường, nhưng nếu tình trạng này xảy ra thường xuyên, nó thực sự rất đáng lo ngại. “Họ sẽ trở nên lo lắng nếu cứ mất ngủ triền miên”, cô cho biết.

Kể cả khi thất nghiệp, áp lực trong công việc cũ vẫn có thể đeo bám bạn dai dẳng. Patricia Haynes – phó giáo sư Khoa Khoa học Thúc đẩy Sức khỏe của ĐH Arizona – đã tiến hành một nghiên cứu về tác động lâu dài của các yếu tố gây stress nơi công sở lên sức khỏe con người sau khi bị sa thải. Bà và các đồng nghiệp phát hiện rằng những người cảm thấy bất an hay chịu áp lực từ việc đấu đá nơi công sở thường bị mất ngủ sau khi mất việc.

“Càng nhiều rào cản, ví dụ như rào cản chính trị, rào cản trong việc thăng chức, những thứ khiến cho mọi người không thể làm tốt công việc của họ – tất cả những yếu tố gây stress đó đều liên quan tới tình trạng mất ngủ sau khi người lao động mất việc”, bà nói.

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm - Ảnh 1.

2. Sức khỏe tinh thần sụt giảm

Theo khảo sát của Gallup trên 356.000 người Mỹ, càng thất nghiệp lâu, bạn càng dễ bị trầm cảm. Cứ 5 lao động lại có 1 người thất nghiệp trong vòng 1 năm cho biết mình đang điều trị trầm cảm.

Bianchi cho biết, hai dấu hiệu trầm cảm rõ nhất ở những người lao động bị mất việc là khi họ không còn hứng thú với những hoạt động mình từng thích trước kia và khi họ cảm thấy tâm trạng xuống dốc trong 2 tuần liên tiếp. “Nó hơi giống với sự buồn bã, chán nản. Đôi khi, nó lại thể hiện dưới hình thức giận dữ hoặc khó chịu”, Bianchi miêu tả.

3. Thay đổi tính cách, ít dễ chịu hơn

Một nghiên cứu năm 2015 của Tạp chí Tâm lý học Ứng dụng cho thấy, tình trạng thất nghiệp có thể dẫn đến những thay đổi cơ bản trong tính cách. 

Tổng cộng có 6.769 người Đức đã tham gia nghiên cứu và hoàn thành bài kiểm tra tính cách trong vòng 4 năm. Kết quả là, tính cách của những người mất việc có sự thay đổi đáng kể, nhất là ở mức độ dễ chịu, so với những người vẫn giữ được việc. Ngoài ra, nam giới được cho là dễ chịu hơn trong vòng 2 năm đầu thất nghiệp, nhưng sau đó sẽ bớt thân thiện dần.

Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng những thay đổi này là do cách nhìn của bạn thay đổi sau khi thất nghiệp dài hạn. “Khi mới thất nghiệp, họ vẫn có động lực để xử sự bình thường nhằm tìm kiếm một công việc mới hoặc để khiến cho những người xung quanh yên tâm. Tuy nhiên, nếu tình trạng này kéo dài vài năm, những động lực này sẽ mất dần”, tác giả của nghiên cứu cho biết.

4. Cơ thể nhức mỏi, đau nửa đầu, đau bụng

Khi cơ thể bị stress, cơ bắp của bạn sẽ cứng lại để bảo vệ bạn khỏi những nguy cơ tiềm tàng. Đó là một phần phản ứng tự vệ của cơ thể. Thế nhưng, tình trạng này kéo dài có thể dẫn tới các căn bệnh mãn tính như đau nửa đầu. Ngoài ra, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ cũng tìm thấy mối liên hệ giữa stress vì mất việc với các cơn đau ở lưng và chi trên.

Vì não bộ thường xuyên gửi tín hiệu xuống dạ dày, stress vì thất nghiệp cũng có thể gây khó chịu ở vùng bụng. “Đối với rối loạn lo âu, các triệu chứng của bệnh dạ dày xuất hiện là điều không có gì lạ. Rất nhiều người cho biết họ bị đau bụng”, Bianchi nói. “Khi lo lắng, chúng ta thường bị đau đầu và đau cơ”.

5. Khẩu vị thay đổi đáng kể

Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, stress có thể làm tăng hoặc giảm khẩu vị. Những thay đổi này “có thể kèm theo tăng cân hoặc sụt cân”, Bianchi cho biết.

Làm gì để bảo vệ sức khỏe trong thời kỳ thất nghiệp

1. Hình thành thói quen

Theo bác sĩ tâm lý học Lisa Orbé-Austin, người lao động sau khi mất việc nên thiết lập một chuỗi thói quen mới để bản thân không quá nhàn rỗi và có động lực sống mỗi ngày. Bạn có thể tập thể dục, hẹn bạn ăn trưa, nghỉ ngơi sau hàng giờ ngồi tìm việc.

“Khi cảm thấy bất lực – kiểu ‘Tôi không có lương, tôi đang thất nghiệp’, bạn nên hình thành một thói quen nào đó để bản thân có việc mà làm”, cô khuyên.

Theo Haynes, dậy sớm mỗi sáng vào cùng một giờ, ăn uống đầy đủ và chăm chỉ hoạt động sẽ giúp ích nhiều cho những lao động bị mất việc.

2. Cố gắng tham gia một hoạt động nào đó

Khi thất nghiệp, bạn rất dễ cảm thấy vô dụng. Bạn sẽ nghĩ: Mình bỏ ra bao nhiêu công sức như thế mà chẳng có gì thay đổi. Theo Bianchi, cách duy nhất để loại bỏ cảm giác này là cố gắng thực hiện những hoạt động đem lại niềm vui và sự hiệu quả.

“Điều này không chỉ cải thiện tâm trạng mà còn giúp bạn cảm thấy có ích, đủ động lực để sống tiếp, kể cả khi đang thất nghiệp”, cô nói. “Nó sẽ giúp bạn kiên cường hơn.”

Thất nghiệp chưa phải điều tồi tệ nhất mùa dịch này, cách nó hủy hoại cơ thể và tinh thần còn đáng sợ hơn: Nhẹ thì mất ngủ, nặng là trầm cảm - Ảnh 4.

3. Cẩn thận tâm lý bi quan quá mức

Theo Bianchi, khi mọi người suy sụp và mất tinh thần, họ thường bỏ qua những điều tích cực. “Họ quá tập trung vào những điều tiêu cực và thất vọng mà mình trải qua”, cô cho biết.

Một trong những cách hữu hiệu để xua tan những ý nghĩ tai hại này là ghi chép lại những việc mình đã làm được và cảm thấy tự hào. “Đó có thể là những hành động do bạn tự chọn, hoặc bạn có thêm vào các phản hồi tích cực”, Bianchi giải thích. Những lời khen ngợi hay việc có ai đó gọi đến để hỏi thăm bạn cũng là dấu hiệu cho thấy bạn đã thiết lập được một mối quan hệ tích cực.

Bianchi giải thích, bằng cách nhắc nhở bản thân về các giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, bạn sẽ “tăng cường sự tự tin trong lúc phải đối mặt với những mất mát từ chuyện thất nghiệp”.

(Theo HuffPost)

Ngọc Hà / Theo ICTVietNam

‘Thế hệ Covid-19’ đang lao đao thế nào với đại dịch


Kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, hàng triệu người trẻ trên thế giới buộc phải dọn về sống chung với bố mẹ.

nguoi tre lao dao vi Covid-19 anh 2
Người trẻ tại Mỹ lũ lượt kéo về sống cùng gia đình để tránh dịch. Ảnh: Financial Times.

Tại Mỹ, tỷ lệ người trong khoảng 18-29 tuổi sống cùng phụ huynh đang ở ngưỡng cao nhất từng được ghi nhận.

Dù quay về sống cùng gia đình giúp hạn chế nguy cơ lây nhiễm, sinh viên và người lao động trẻ đang gánh chịu hậu quả khắc nghiệt hơn từ suy thoái kinh tế do đại dịch so với các nhóm đối tượng khác.

Dịch Covid-19 đồng thời nghiêm trọng hóa các vấn đề cố hữu như thất nghiệp, lương thấp và gánh nặng học phí đối với sinh viên.

“Quá nhiều thứ ập đến”

Một khảo sát toàn cầu của tờ Financial Times với hơn 800 người trong độ tuổi 16-30 cho thấy những khó khăn trong đại dịch đang khiến người trẻ có nguy cơ rơi vào khủng hoảng cao hơn so với thế hệ đi trước.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), những người dưới 25 tuổi có nguy cơ thất nghiệp vì đại dịch cao gấp 2,5 lần so với người trong độ khoảng 26-64 tuổi.

Tờ Financial Times cũng dẫn nguồn một số nghiên cứu cho biết việc tốt nghiệp trong thời kỳ suy thoái kinh tế có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến mức lương của người lao động.

Đại dịch cũng khiến gần 50% lực lượng lao động trên thế giới bị giảm lương, trong đó phụ nữ trẻ và người lao động phổ thông chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, theo OECD.

Ở các nước đang phát triển, một người mất việc sẽ ảnh hưởng đến khả năng nuôi sống những người thân khác trong gia đình.

Komal Kadam, 28 tuổi, là người duy nhất kiếm tiền nuôi cả gia đình ở Maharashtra, Ấn Độ. Tuy nhiên, vào tháng 3, cô mất việc.

“Tôi cảm thấy sợ mọi thứ. Làm sao tôi có thể kiếm một công việc khác đây? Tôi sẽ chi trả các khoản nợ như thế nào? Quá nhiều thứ ập đến cùng một lúc”, Kadam nói.

“Vật tế thần của giới lãnh đạo”

Một bộ phận đáng kể trong số những người tham gia cuộc khảo sát của Financial Times cho biết họ mất niềm tin vào các nhà chức trách bởi khả năng xử lý đại dịch chưa hiệu quả.

“Chúng tôi bị đổ lỗi và trở thành vật tế thần của giới lãnh đạo vốn chìm sâu trong khủng hoảng”, anh Anthony 23 tuổi đến từ Pháp chia sẻ.

Tương tự, sau khi chứng kiến chính quyền Brazil thay ba bộ trưởng y tế kể từ khi đại dịch đổ bộ, Danilo Ventura 29 tuổi đến từ Sao Paulo thể hiện thái độ bất mãn với cách phản ứng của chính phủ: “Thế giới nói ‘A’, nhưng các chính trị gia Brazil hét lại là ‘Z’”.

Việc thiếu kế hoạch đối phó cụ thể khiến Brazil trở thành một trong những ổ dịch lớn với số người tử vong vì Covid-19 cao thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ.

Theo thống kê của OECD, sự tin tưởng của giới trẻ vào chính phủ ở các nước đang phát triển bắt đầu sụt giảm từ năm 2016. 

Đặc biệt, lượng lớn người tham gia khảo sát tại Mỹ và Anh cho biết họ cảm thấy chính phủ có những động thái không nhất quán và phản ứng chưa kịp thời.

“Các sân bay chỉ đóng cửa khi tình hình đã vượt mức kiểm soát. Sự cần thiết của khẩu trang không được phổ cập rộng rãi. Mãi đến giữa tháng 6, tôi mới biết đeo khẩu trang quan trọng đến mức nào”, anh John 28 tuổi đến từ Scotland cho biết.

Phó chủ tịch Naumi Haque của bộ phận nghiên cứu thuộc tập đoàn Ipsos nhận định rằng đại dịch đã trầm trọng hóa bất đồng chính trị tại nhiều quốc gia.

“Thế hệ Z (sinh sau năm 2000) và thế hệ millennials (sinh trong khoảng 1980-1999) cảm thấy bất lực hơn so với thế hệ đi trước về khả năng kiểm soát tình hình đất nước”, ông Haque nói.

Tác động tâm lý

Dịch Covid-19 cũng khiến nhiều người trẻ có ý định tự hủy hoại bản thân.

“Thất nghiệp, tâm lý bất ổn và mù mờ về tương lai khiến tôi cảm thấy khá tuyệt vọng”, anh James 30 tuổi đến từ Anh cho biết. “Có lúc, tôi đã nghĩ đến việc tự tử”.

Từ khi dịch Covid-19 bùng phát, các chuyên gia y tế đã cảnh báo tác động của đại dịch đối với sức khỏe tâm thần sẽ dai dẳng hơn so với bản thân mầm bệnh SARS-CoV-2, khi hàng triệu người phải đối mặt với chứng trầm cảm, lo lắng và cô độc.

Một số nghiên cứu tại Anh và Mỹ cho thấy những người trong độ tuổi 18-29 trải qua tổn thương về mặt tâm lý do dịch Covid-19 cao hơn so với các nhóm đối tượng khác.

María Rodríguez, hiện sống ở Ba Lan, cho biết cô thà mắc Covid-19 còn hơn bị trầm cảm vì phải cách ly.

“Tôi không lo lắng khi đến quán café và tiếp xúc với nhiều người. Ưu tiên về sức khỏe tâm thần của tôi lớn hơn nỗi sợ đối với Covid-19”, cô gái 25 tuổi gốc Tây Ban Nha cho biết.

Trong khi đó, bà Mary Finnegan 27 tuổi đến từ Mỹ chia sẻ: “Tôi cảm thấy ngột ngạt khi sống với bố mẹ đã lớn tuổi. Sau 6 tháng, tôi bỗng hóa thành một con sâu rượu. Giờ đây, tôi sẵn sàng bất chấp Covid-19 để ra ngoài và hẹn hò lần nữa”.

Vào tháng 5, giảng viên tâm lý học giáo dục Ola Demkowicz tại Đại học Manchester đã khảo sát hàng trăm thanh thiếu niên ở Anh.

Nhiều người trong số này cho biết họ đã trải qua “cảm giác khó khăn cùng cực” khi cố gắng thích nghi với nhịp sống vô định mà đại dịch mang đến.

“Đối với những người có vấn đề về tâm lý, đây là khoảng thời gian thực sự khó khăn và thách thức”, bà Demkowicz nhận xét.

“Người trẻ thường sống nhanh, mọi thanh niên đều cố gắng cải thiện bản thân và thế giới, nhưng đại dịch đã phá hỏng tất cả. Mọi hoạt động bị hạn chế, trường học thì đóng cửa còn các doanh nghiệp thì phá sản”, Victoria Chidiebere, 22 tuổi đến từ Nigeria, buồn bã nhận xét.

“Cánh cửa dẫn đến nhiều chân trời mới”

Tuy nhiên, một số người trẻ cho rằng đại dịch đã mở ra cơ hội để họ hòa nhập lại với gia đình, thiên nhiên và hoàn thành các mục tiêu còn bỏ dở.

Joshua, 26 tuổi, đã thu dọn đồ đạc và rời Anh để sang Tây Ban Nha vào một buổi sáng tháng 8.

“Giờ đây, tôi chỉ dùng một phần ba tiền lương để chi trả cho căn hộ ba phòng ngủ ven biển. Thỉnh thoảng có vài người bạn đến thăm nhưng tôi chủ yếu sống độc thân và cách ly với xã hội”, Joshua nói.

Vào tháng 2, các nhà khoa học từ Thái Lan quan sát một nhóm sinh viên đại học ở Vũ Hán, Trung Quốc, để tìm hiểu cách họ đối phó với tình trạng cách ly xã hội.

Kết quả cho thấy nhiều sinh viên có khả năng phản ứng tương đối tích cực và lạc quan trong bối cảnh đại dịch.

Tiến sĩ Demkowicz ở Anh cũng cho biết đợt phong tỏa đầu tiên mở ra cơ hội cho các thanh thiếu niên “có thể khám phá và phát triển bản thân, đồng thời cân nhắc lại hướng đi đang chọn” khi không còn vướng bận bài vở và các mối quan hệ xã hội.

Anders Furze, 30 tuổi, cho biết quá trình cách ly cho anh thời gian nhìn lại thái độ và lối sống trước đại dịch. “Tôi thường xuyên ra ngoài ăn tối, đi xem phim và nghe nhạc kịch, đến 5 lần một tuần”.

Giờ đây, người đàn ông đến từ Australia nhận ra không nên tiếp tục tự mình trở nên kiệt quệ bằng cách trói bản thân vào các mối quan hệ xã hội nữa. Furze bắt đầu cân nhắc về việc theo học cao học để lấy bằng luật.

“Cảm giác như đại dịch đã mở ra trước mắt tôi cánh cửa dẫn đến nhiều chân trời mới”, Furze nói.

Đại Hoàng / Zingnews

10 Dạng ‘suy nghĩ vô bổ’ đang đánh lừa bạn hàng ngày


10 Kiểu biến dạng nhận thức thường gặp. Bạn thấy mình quen với cái tên nào?

10 Dạng 'suy nghĩ vô bổ' đang đánh lừa bạn hàng ngày

Mỗi ngày, luôn có hàng ngàn suy nghĩ chạy trong đầu chúng ta. Bên cạnh những cách nghĩ vui tươi, tích cực còn tồn tại cả những tư duy theo chiều hướng tiêu cực, khiến tâm trạng bị chùng xuống.

Chúng có tên chính thức là các ‘biến dạng nhận thức’ (cognitive distortions), còn được biết đến là ‘những suy nghĩ tự phát’ (automatic thoughts) hoặc ‘những cách nghĩ vô bổ’ (unhelpful thinking styles). Chung quy, đây đều là các dạng của thiên kiến tiêu cực.

Các biến dạng nhận thức luôn ‘thủ thỉ’ với chúng ta về những điều (phần lớn là) không chính xác, ảnh hưởng đến cảm xúc và hành vi của chúng ta. Việc nhận biết các hình thức của biến dạng nhận thức sẽ giúp bạn hiểu được nó diễn ra thế nào và bác bỏ cho phù hợp.

Một số kiểu biến dạng nhận thức thường gặp:

Aaron Beck lần đầu giới thiệu lý thuyết về biến dạng nhận thức vào năm 1976. Nhưng đến những năm 1980, giáo sư David Burns mới phát triển rộng rãi tên gọi và ví dụ về chúng, cụ thể như sau:

1. Trắng đen rạch ròi (“Black and White” Thinking)

Kiểu tư duy này làm chúng ta đánh giá sự việc một cách đúng sai tuyệt đối, không trắng thì chỉ có thể là đen. Mọi thứ phải hoàn hảo, hoặc chỉ là một sự thất bại. Nhưng thực tế thì mọi việc đều có nhiều khía cạnh.

Ví dụ: A có một người bạn thường hay giúp đỡ mình nhiều việc. Một lần, bạn đó từ chối giúp A. Thế là A lập tức có suy nghĩ rằng bạn ấy đã xem mình như người xa lạ, không còn muốn tiếp xúc với mình nữa.Mọi việc đều có nhiều khía cạnh chứ không chỉ là hai mặt trắng đen rõ ràng.

2. Quy chụp (Overgeneralizing)

Bạn chỉ dựa vào một sự việc hoặc một bằng chứng duy nhất để đi đến một kết luận chung. Khi vấp ngã một lần, bạn cho rằng điều đó sẽ lặp đi lặp lại mãi mãi.

Ví dụ: Khi bị điểm kém ở một bài kiểm tra, bạn học sinh ấy cho rằng những bài sau cũng sẽ vậy và mình là đứa trời sinh dốt Toán. Nếu không can thiệp kịp thời sẽ dễ dẫn đến tâm lý bất lực tập nhiễm (learned helplessness).

3. Giảm nhẹ điều tốt đẹp (Disqualifying the positive)

Thay vì lờ hẳn đi mặt tích cực, chúng ta có thể sẽ lý giải nó như là chuyện ăn may và gạt bỏ nó. Hội chứng kẻ giả mạo (impostor syndrome) là một ví dụ về dạng này.

Ví dụ: Được đạt điểm cao, bạn cho rằng mình ăn may. Khi được thăng chức, bạn nghĩ do thiếu người chứ chẳng phải mình giỏi giang gì.

4. Quy về bản thân (Personalization)

Với dạng suy nghĩ này, chúng ta có xu hướng quy hết trách nhiệm về mình, cả trong những tình huống không hề có sự liên quan nào. 

Ví dụ: Bạn bị giật điện thoại, thế là bạn đổ lỗi cho mình, nếu bạn không ra ngoài vào lúc đó, không chọn con đường đó, và không lấy điện thoại ra thì đã không bị mất.Nếu thường xuyên tự đổ lỗi cho mình thì giờ bạn nên xem xét lại.

5. Tôi phải/Tôi nên (Shoulds)

Bạn vô thức đặt ra các quy tắc cư xử cho cả mình và người khác, nhưng nghịch lý là lại dẫn đến cảm giác thờ ơ và mất động lực. Thậm chí, bạn tức giận hoặc cảm thấy tội lỗi khi có ai đó phá vỡ các quy tắc này, kể cả bạn.

Ví dụ: Gặp 1 chuyện rất buồn, bạn lập tức ép mình: “Tôi không được khóc!” hay “Tôi phải mạnh mẽ lên!” Và nếu không làm được, bạn lại tức giận và xấu hổ về mình.

6. So sánh với người khác (Social comparison) 

So sánh là điều tất yếu trong xã hội. Tuy nhiên, nếu việc này xuất hiện nhiều, ngày càng thiếu công bằng và bắt đầu khó kiểm soát thì có lẽ bạn nên tìm biện pháp để cân bằng.

Ví dụ: So sánh thiếu công bằng là khi bạn so sánh quá trình của mình với thành tựu của người khác. Hoặc bạn so sánh thành tựu, khả năng của mình với thành tựu, khả năng của người khác nhưng bỏ qua các yếu tố như bối cảnh, điểm mạnh và yếu của từng người,…

7. Phóng đại và giảm nhẹ (Magnification and minimization)

Khi suy nghĩ theo hướng này, một trong hai trường hợp sẽ xảy ra: Bạn phóng đại tầm quan trọng của một điều không đáng kể (có thể là một lỗi lầm), hoặc xem nhẹ thành tích cá nhân.

Ví dụ: Bạn được chọn làm sinh viên đại diện để phát biểu trong lễ tốt nghiệp. Do hồi hộp nên bạn nói vấp đôi chỗ. Khi được bạn bè khen ngợi bài phát biểu, bạn thấy xấu hổ vì nghĩ rằng mình đã phá hỏng buổi lễ do vài lỗi vấp váp của mình. Trong trường hợp này, bạn phóng đại lỗi sai nhỏ và xem nhẹ thành tích (bài phát biểu) của mình.

8. Màng lọc tâm trí (Mental filtering)

Vốn được gọi với các tên ‘trừu tượng có chọn lọc’ (selective abstraction), là khi bạn chỉ tập trung vào chi tiết ngoài ngữ cảnh mà bỏ qua các khía cạnh khác của toàn bộ tình huống. Chi tiết đó thường mang tính tiêu cực, và những điều bị bỏ qua thường là yếu tố tích cực.

Ví dụ: Bạn bận lòng vì sếp khó tính, hay la mắng, vì phải chạy deadline rất mệt mỏi mà quên rằng mình có những đồng nghiệp thân thiện và mức thu nhập ổn định.Não bộ luôn thiên vị những điều tiêu cực.

9. Cảm tính (Emotional Reasoning)

Có thể tóm gọn bằng câu nói: “Nếu mình cảm thấy vậy thì chắc chắn là vậy!” Bạn tin theo cảm xúc của mình vô điều kiện, lấn át cả lý trí.

Ví dụ: Bạn nghĩ rằng mình nói chuyện rất chán, và bạn luôn đinh ninh như vậy.

10. Kết luận vô căn cứ (Jumping to conclusions)

Bạn nhảy thẳng đến kết luận mà không qua bất kì căn cứ nào. Thay vào đó, bạn dựa vào việc:

  • Đọc tâm trí (Mind reading): Bạn cho rằng người khác sẽ hành động hoặc suy nghĩ theo cách nghĩ của bạn.
  • Dự đoán (Fortune telling): Hay đúng hơn là ‘đoán mò’, rằng tương lai đã được định sẵn rồi để né tránh khó khăn.

Ví dụ: Bạn kết luận ai đó có ác cảm với bạn nhưng không buồn kiểm chứng. Hoặc bạn tin rằng mối quan hệ tiếp theo cũng sẽ tồi tệ như mối quan hệ trước, nên bạn không muốn phí thời gian thử hẹn hò nữa.

Jacques L. / Vietcetera

Bí quyết ổn định tâm lý giữa đại dịch


Sức khỏe tâm lý của bạn có bị ảnh hưởng vì đại dịch? Bạn có đang lo âu, trầm uất hoặc hoảng sợ thái quá?

Từng ngày từng giờ, thông tin được cập nhật ồ ạt với nhiều ca nhiễm tăng cao trên toàn cầu, khiến ta thấy như cánh tay vô hình của dịch bệnh ngày càng tiến đến gần khu vực mình sống, cũng như người thân của mình.

Đặc biệt đối với những người có các bệnh tâm lý, như trầm cảm hay rối loạn lo âu, việc điều chỉnh cảm xúc sẽ càng khó khăn trong giai đoạn này. Sau đây là 6 phương pháp để duy trì một sức khỏe tâm lý vững vàng để đối mặt với đại dịch.

Nhận diện nỗi lo của bản thân và biết điểm dừng

Vòng xoáy của suy nghĩ tiêu cực (spiralling negative thoughts) có thể bắt đầu từ một suy nghĩ bâng quơ: “Nhỡ có ai đấy mình quen mắc bệnh thì sao?” Sau đó, bạn tiếp tục lo nghĩ, tưởng tượng: nếu như mình bị nhiễm COVID-19? Chẳng may mình lây cho gia đình, người thân và đồng nghiệp? Cuộc sống nhiều người sẽ bị ảnh hưởng; nhỡ đâu đẩy tính mạng ai đó vào nguy hiểm?

Sức khoẻ tâm lý mùa dịch 1
Trước đại dịch, phản ứng lo âu là bình thường. Hãy chấp nhận rằng bạn không thể tính toán trước mọi điều ở tương lai, mà chúng ta sẽ phải ứng biến.

Trước đại dịch, phản ứng lo âu là bình thường. Tuy nhiên, thay vì bị cuốn vào vòng xoáy lo âu thái quá và không hồi kết, bạn hãy chủ động nhận diện nguồn gốc của các nỗi lo âu, tìm ra giải pháp tương ứng, và biết khi nào cần phải dừng lo toan.

Ví dụ, nếu bạn lo lắng về tiền bạc vì khủng hoảng kinh tế, đừng hoảng loạn tưởng tượng rằng “mình sẽ mất việc, hết tiền, phải ra đường ở”. Hãy lên kế hoạch tài chính, kiểm tra các khoản tiết kiệm hoặc các nguồn hỗ trợ tài chính bạn có thể dựa vào lúc nguy cấp.

Hãy chấp nhận rằng bạn không thể tính toán trước mọi điều ở tương lai. Trước khó khăn, chúng ta đều sẽ phải ứng biến. Như cách Tom Hanks nói khi thông báo tin nhiễm COVID-19 – “one-day-at-a-time-approach” – chúng ta sẽ giải quyết từng vấn đề, từng ngày một.

Đừng để cập nhật trên mạng xã hội cuốn bạn vào vòng xoáy lo âu

Chúng ta cảm thấy cần phải được cập nhật, liên tục, từng phút từng giây. Bệnh dịch đến đâu rồi? Có những ai, đã đi đâu, làm những gì? Tuy nhiên, nếu bạn đang dành quá nhiều thời gian mỗi ngày để cập nhật trên Facebook, và các cuộc tranh luận vô tiền khoáng hậu về dịch bệnh đang làm bạn cảm thấy hỗn loạn, thì có lẽ bạn cần một điểm dừng.

Theo Lynn Bufka, Phó giám đốc Nghiên cứu và Chính sách tại Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association), bạn nên giới hạn việc cập nhật tin mới. Ví dụ, ấn định thời gian và số lần cập nhật tin về dịch bệnh là 2 lần một ngày, mỗi lần 15 phút.

Bạn có thể ngừng theo dõi (unfollow) các trang, nhóm, thậm chí là cá nhân đăng nhiều tin bài, bình luận tiêu cực, thái quá. Hãy tìm cho mình các nguồn thông tin chính xác và đáng tin cậy, ví dụ như app NCOVI hay trang tin của Bộ Y Tế, và chỉ tập trung đọc tin từ các nguồn này.

Làm những gì có thể, và đừng cố lo nghĩ nhiều hơn

Bạn đã:

Giữ vệ sinh cá nhân, như rửa tay bằng xà phòng và nước, vệ sinh điện thoại và tay nắm cửa, ăn chín uống sôi?
Hạn chế giao tiếp xã hội (social distancing) – không đến nơi đông người, không đi ăn quán, hay thậm chí là làm việc từ xa hoặc nghỉ học?
Chuẩn bị đầy đủ nhu yếu phẩm? Giữ miễn dịch tốt bằng việc ăn uống đầy đủ, tập luyện và bổ sung khoáng chất? Chuẩn bị cho gia đình và người thân? Lên kế hoạch cho tình huống xấu?…

Nếu bạn đã làm những điều trên (và nhiều hơn nữa), thì bạn đã làm những gì có thể rồi.

Trong podcast mới về sức khỏe tâm lí trước dịch COVID-19, bác sĩ Mark Bertin từ Đại học Y New York khuyên, chúng ta cần chấp nhận rằng: có quá nhiều điều nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta. Hãy tập trung vào những điều bạn có thể làm, và như trên: đừng lo toan quá mức cho tương lai, hãy chuẩn bị để ứng biến.

Giữ vững lịch sinh hoạt lành mạnh

Tập thể dục, ăn uống điều độ và đủ chất, ngủ đủ giấc, uống nhiều nước. Những điều này không chỉ tăng cường hệ miễn dịch mà còn giúp điều hòa sức khỏe tâm lý. Cơ thể khỏe mạnh, não bộ được nghỉ ngơi sẽ tạo điều kiện cho các hormones điều khiển cảm xúc được ổn định.

Đồng thời, một lịch sinh hoạt cố định với các hoạt động lành mạnh đã được chứng minh là có khả năng giảm lo âu và căng thẳng.

Hãy thêm các hoạt động giải trí nhẹ nhàng: chơi Adorable Home, dành buổi tối đọc sách hay nghe nhạc, tránh các yếu tố có thể gây kích động (triggering) như xem phim kinh dị hoặc sử dụng rượu bia. Thiền định và các bài tập chánh niệm (mindfulness) cũng có thể giúp bạn bình tâm và điều tiết cảm xúc tốt hơn.

Sức khoẻ tâm lý mùa dịch 3
Lịch sinh hoạt cố định và lành mạnh là một nhân tố thiết yếu giúp giảm căng thẳng và lo âu.

Chia sẻ, nhưng đừng đặt gánh nặng lên người thân

Lynn Bufka chỉ ra: “Nếu bạn đang quá tải vì lo lắng, đừng tìm đến ai đó đang hoảng sợ như bạn.” Nói chuyện với những người thân có cùng mối lo âu sẽ tạo nên hiệu ứng “buồng vang” (echo chamber) – sự lo lắng cộng hưởng và trở nên tệ hơn.

“Hãy tìm đến ai đó có góc nhìn khác về vấn đề, có thể phân tích sự lo âu của bạn và đưa ra các lời khuyên thực tế.” Cũng nên tránh những lời động viên qua loa như “suy nghĩ tích cực lên”, “có gì mà lo lắng quá”… nếu chúng không giải quyết triệt để nỗi lo của bạn.

Chấp nhận lo âu để tập trung vào hành động

Bạn không có lỗi khi cảm thấy lo âu. Với sự cân bằng và kiểm soát hợp lý, lo âu là động lực để chúng ta hành động.

Trong một bài viết trên New York Times về “Điều trị rối loạn lo âu” trong bối cảnh dịch COVID-19, Laura Turner khuyên ta chấp nhận nỗi lo âu, thay vì tìm cách xua đuổi mọi ý nghĩ tiêu cực. “Cần hiểu rằng suy nghĩ tiêu cực là một phần của cuộc sống, và cách giải quyết tốt nhất là chấp nhận, học từ chúng, và từ đó hành động dựa trên những mục tiêu lớn hơn.”

Kết

Như vậy, 6 phương pháp kể trên không nhằm mục đích chấm dứt lo âu hoàn toàn. Nỗi lo là điều hiển nhiên và cần thiết trong hoàn cảnh này. Cả 6 phương pháp với từng hành động nhỏ hướng tới việc giúp ta cân bằng và kiểm soát nỗi lo.

“Chúng ta không muốn nỗi lo âu là giải pháp [cho đại dịch]. Trái lại, chúng ta muốn mình bình tĩnh nhất có thể, bởi vì như vậy ta mới có thể suy nghĩ thông suốt và mạch lạc.”

Và từ đó, ta mới có thể lựa chọn và hành động.

Bài viết được thực hiện bởi Trà Nhữ, được truyền cảm hứng từ hướng dẫn của Tổ chức Sức khỏe tâm lý Châu Âu.

Tham khảo: https://vietcetera.com/vn/bi-quyet-on-dinh-tam-ly-giua-dai-dich

Thiên lệch nhận thức muộn (Hindsight Bias) là gì?


Thiên lệch nhận thức muộn (Hindsight Bias) là gì?
— Read on trangtamly.blog/2019/06/27/thien-lech-nhan-thuc-muon-hindsight-bias-la-gi/