Mất khả năng diễn đạt cảm xúc


Mất khả năng diễn đạt cảm xúc (tiếng Anh: alexithymia), hay mù cảm xúc là một cấu trúc nhân cách với nét đặc trưng là thiếu khả năng cận lâm sàng để nhận biết và miêu tả cảm xúc của bản thân.[1] Những đặc điểm chính bao gồm loạn chức năng rõ rệt trong việc nhận thức cảm xúc, việc gắn bó với xã hội và trong quan hệ với người khác.[2] Thêm vào đó, người mất khả năng này cũng gặp khó khăn trong việc phân biệt và trân trọng cảm xúc của người khác. Điều này được cho là nguyên nhân gây ra những phản ứng thiếu đồng cảm và có hiệu quả cảm xúc kém.[2] Khoảng 10% dân số mất khả năng diễn đạt cảm xúc. Hiện tượng này có thể xuất hiện với một số bệnh tâm thần.[3]

Từ nguyên

Thuật ngữ alexithymia được đặt bởi nhà hai nhà tâm lý trị liệu John Case Nemiah và Peter Sifneos vào năm 1973,[4][5][6] bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: ἀ- (a-, “không có”) + λέξις (léxis, “ngôn từ”) + θῡμός (thȳmós, “trái tim” hoặc “cảm xúc”),[7] tức “không có ngôn từ cho cảm xúc”.[4]

Các thuật ngữ ngoài y tế dùng miêu tả những trạng thái tương tự gồm dửng dưng và vô cảm xúc.[8] Trong tiếng Anh, người mất khả năng diễn đạt cảm xúc được gọi là alexithymic hoặc alexithymiac.[9]

Phân loại

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc được xem là một đặc điểm tính cách khiến người mắc phải có nguy cơ bị những chứng bệnh hoặc rối loạn tâm thần khác, đồng thời làm giảm khả năng những người này phản ứng lại những liệu pháp điều trị thông thường cho bệnh khác.[10] Hiện tượng này không được xếp vào các loại bệnh tâm thần trong Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần ấn bản thứ tư. Nó là một đặc điểm tính cách có chiều, có thể khác nhau về độ nghiêm trọng tùy theo từng người. Điểm số mất khả năng diễn đạt cảm xúc được tính bằng các bảng câu hỏi như Toronto Alexithymia Scale (TAS-20), Bermond-Vorst Alexithymia Questionnaire (BVAQ),[11]Online Alexithymia Questionnaire (OAQ-G2)[12] hay Observer Alexithymia Scale (OAS).[10] Mất khả năng diễn đạt cảm xúc khác với rối loạn nhân cách tâm thần, ví dụ như rối loạn nhân cách chống đối xã hội hay rối loạn nhân cách ranh giới, tuy chúng có một số đặc điểm chung. Nó cũng khác với những trạng thái bất thường ở bệnh xã hội (sociopathy) hoặc bệnh nhân cách(psychopathy). 

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc được xác định bởi:[13]

  1. khó khăn trong việc nhận biết cảm giác; khó khăn trong việc phân biệt giữa cảm giác và cảm nhận cơ thể khi cảm xúc được kích thích
  2. khó khăn trong việc miêu tả cảm giác cho người khác
  3. quá trình tưởng tượng bị hạn chế, bằng chứng là người mất khả năng diễn đạt cảm xúc hiếm khi tưởng tượng
  4. cách nhận thức hướng ngoại và bị ràng buộc bởi kích thích.

Theo các nghiên cứu trên dân số nói chung, mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc nặng hay nhẹ bị ảnh hưởng bởi độ tuổi, không bởi giới tính. Tỷ lệ mất khả năng này ở những đối tượng khỏe mạnh đã được xác định là 8.3%, 4.7%, 8.9% và 7%. Do đó, nhiều nghiên cứu báo cáo tỷ lệ mất khả năng diễn đạt cảm xúc nằm dưới 10%.[14] Một khám phá khác ít phổ biến hơn cho rằng hiện tượng này có tỷ lệ cao hơn ở nam giới, dựa trên việc một số nam gặp khó khăn trong việc “miêu tả cảm xúc”, nhưng không dựa trên việc “nhận biết cảm xúc”, bởi cả nam và nữ đều bộc lộ khả năng này như nhau.[15]

Nhà tâm lý học R. Michael Bagby và nhà tâm thần học Graeme J. Taylor lập luận rằng cấu trúc mất khả năng diễn đạt cảm xúc có liên kết cách mật thiết (nhưng tiêu cực) tới các khái niệm về tâm lý cởi mở[16] và trí tuệ xúc cảm.[17][18] Họ cho rằng có “bằng chứng thực nghiệm vững chắc cho thấy mất khả năng diễn đạt cảm xúc là một đặc điểm tính cách ổn định, không chỉ là hệ quả của tình trạng đau buồn về tâm lý.”[19] Những ý kiến bất đồng lại đưa ra bằng chứng cho rằng nó phụ thuộc vào trạng thái của người mắc.[20]

Bagby và Taylor cũng cho rằng mất khả năng diễn đạt cảm xúc gồm hai loại: Mất khả năng diễn đạt cảm xúc sơ cấp—một đặc tính tâm lý bền vững không thay đổi theo thời gian; mất khả năng diễn đạt cảm xúc thứ cấp—phụ thuộc vào trạng thái của người mắc và biến mất sau khi tình huống gây căng thẳng thay đổi. Hai biểu hiện trên còn được gọi là mất khả năng diễn đạt cảm xúc “đặc tính” hoặc “trạng thái”.[19]

Mô tả

Những khiếm khuyết điển hình gồm khó khăn trong việc nhận biết, xử lý, miêu tả cảm giác của chính bản thân, thường biểu lộ bằng việc không hiểu được cảm giác của người khác; khó khăn trong việc phân biệt giữa cảm giác và cảm nhận của cơ thể khi cảm xúc được kích thích;[5] ít khi  hay tưởng tượng vì trí tưởng tượng bị hạn chế; suy nghĩ logic, thực tế, cụ thể, thường vì những phản ứng về mặt cảm xúc đã bị loại trừ. Người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có những giấc mơ rất logic và thực tế, như đi chợ hay đang ăn cơm.[21] Kinh nghiệm lâm sàng cho rằng đặc điểm cấu trúc của những giấc mơ – không phải khả năng nhớ lại chúng – chính là thứ giúp mô tả hiện tượng này một cách rõ rệt nhất.[5]

Một số cá thể mất khả năng diễn đạt cảm xúc có thể có biểu hiện trái ngược những đặc điểm kể trên, vì họ cũng bị khó chịu (dysphoria) kinh niên, tức giận bộc phát, hay òa khóc.[22][23][24] Tuy nhiên, khi được hỏi, họ thường không có khả năng miêu tả cảm giác hoặc tỏ ra bối rối khi được hỏi về cảm giác của mình một cách chi tiết.[13]

Theo Henry Krystal, những cá thể mất khả năng diễn đạt cảm xúc có cách nghĩ hiệu quả và tỏ ra thích ứng với thực tại hơn hẳn người khác. Tuy nhiên, trong tâm lý trị liệu, họ lại có rối loạn rõ rệt về nhận thức vì thường thuật lại những sự kiện, phản ứng và hành động nhỏ nhặt thường ngày theo thứ tự thời gian bằng những chi tiết đơn điệu.[25][26] Nhìn chung, những cá thể này thiếu trí tưởng tượng, trực giác, đồng cảm và sự thúc giục thỏa mãn trí tưởng tượng, đặc biệt là khi có liên quan đến đối thể (object). Thay vào đó, họ hướng tới vật thể (thing) và thậm chí là coi mình như robot. Những vấn đề này giới hạn khả năng phản ứng của họ trước tâm lý trị liệu phân tâm học. Nếu họ tham gia tâm lý trị liệu thì những bệnh tâm-thể (psychosomatic illness) hay lạm dụng chất gây nghiện sẽ trở nên trầm trọng hơn.[13]

Một quan niệm sai lầm phổ biến về người mất khả năng diễn đạt cảm xúc là họ hoàn toàn không có khả năng diễn đạt cảm xúc bằng lời, thậm chí không thể công nhận việc mình có trải nghiệm cảm xúc. Trước cả khi đưa ra thuật ngữ này, Sifneos (1967) đã lưu ý người bệnh thường nhắc đến lo âu hoặc trầm cảm. Yếu tố đặc trưng là khi phải miêu tả cảm giác của mình, họ không thể đào sâu hơn ngoài một số tính từ ít ỏi như “vui” hoặc “không vui”.[27] Ở đây, vấn đề cốt lỗi là những người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc không giỏi phân biệt cảm xúc, làm giới hạn khả năng phân biệt và miêu tả cảm xúc của mình cho người khác.[5] Điều này góp phần khiến họ cảm thấy bản thân bị tách rời khỏi cảm xúc và thấy khó khăn trong việc kết giao với người khác. Mất khả năng diễn đạt cảm xúc, do đó, có ảnh hưởng tiêu cực tới mức độ hài lòng với cuộc sống, ngay cả khi trầm cảm và những biến nhiễu khác đã được kiểm soát.[28]

Nguyên nhân

Không rõ nguyên nhân gây mất khả năng diễn đạt cảm xúc là gì, nhưng có nhiều lý thuyết đã được đưa ra.

Các nghiên cứu trước đây chứng minh não của người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc gặp lỗi liên lạc giữa hai bán cầu; tức những thông tin về cảm xúc ở bán cầu não phải không được truyền đúng cách tới vùng đảm trách ngôn ngữ ở bán cầu não trái, gây ra bởi sự suy giảm thể chai. Hiện tượng này thường xuất hiện ở những bệnh nhân tâm thần bị bạo hành khi còn nhỏ.[29] Theo một nghiên cứu tâm lý học thần kinh năm 1997, mất khả năng diễn đạt cảm xúc có thể xảy ra do nhiễu loạn ở bán cầu não phải, nơi phần lớn đảm trách việc xử lý cảm xúc.[30] Một mô hình tâm lý học thần kinh khác cho rằng hiện tượng này có thể liên quan tới rối loạn chức năng ở vùng đai trước của vỏ não (anterior cingulate cortex).[31] Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn còn thiếu sót, và bằng chứng thực nghiệm về cơ chế thần kinh của mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn chưa đưa ra kết luận nào thuyết phục.[32]

Nhà phân tâm học người Pháp Joyce McDougall phản đối việc các bác sĩ lâm sàng tập trung giải thích nguồn gốc và cách vận hành của hiện tượng này theo sinh lý học thần kinh thay vì theo tâm lý học. Ông cũng giới thiệu thuật ngữ “bất mãn” (disaffectation) để mô tả hiện tượng mất khả năng diễn đạt cảm xúc tâm thần.[33] Theo ông, cá thể bị “bất mãn” đã từng “trải qua thứ cảm xúc choáng ngợp đến nỗi nó đe dọa tấn công ý thức của họ về tính nguyên vẹn và bản sắc của mình,” do đó họ phải trang bị cho mình một lớp phòng thủ tâm lý để tiêu diệt và đẩy lui tất cả những cảm xúc tiêu cực khỏi ý thức.[34]Một cách diễn giải tương tự tiếp bước bằng cách sử dụng các phương pháp hiện tượng học.[35] McDougall cũng lưu ý rằng tất cả các trẻ sơ sinh sinh ra đều không có khả năng nhận biết, sắp xếp và trò chuyện về những trải nghiệm cảm xúc của mình (từ infans bắt nguồn từ tiếng Latin là “không nói”), và “vì chưa trưởng thành nên việc chúng thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc là không thể tránh khỏi.”[36] Dựa trên đó, năm 1985, McDougall trình bày rằng phần thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc trong nhân cách một người trưởng thành có thể là “một cấu trúc tâm lý cực kỳ ức chế và nhi tính”.[36] Thứ ngôn ngữ đầu tiên của một đứa trẻ không phải lời nói mà là nét mặt. Trạng thái cảm xúc của cha mẹ là yếu tố rất quan trọng trong việc quyết định sự phát triển của đứa trẻ. Việc lờ đi hoặc thờ ơ trước những thay đổi trên nét mặt của đứa trẻ mà không có phản hồi thích hợp sẽ thúc đẩy việc những nét mặt mà đứa trẻ thể hiện trở nên mất hiệu lực. Một yếu tố quan trọng khác là khả năng phản ánh sự tự nhận thức lên con trẻ của cha mẹ. Nếu người lớn không có khả năng nhận biết và phân biệt những cảm xúc mà đứa trẻ thể hiện, điều đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng đứa trẻ đó nhận thức biểu hiện cảm xúc.

Những nghiên cứu di truyền phân tử về mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn còn ít, nhưng các gen tiềm năng đã được xác định qua những nghiên cứu về mối liên hệ giữa hiện tượng này và một số gen nhất định, giữa cả những người mắc bệnh và toàn dân số nói chung. Một nghiên cứu đã kiểm tra một nhóm nam giới Nhật Bản và nhận thấy những người đồng hợp tử về alen dài 5-HTTLPR ghi điểm cao hơn trên thang Toronto Alexithymia (TAS-20). Khu vực 5-HTTLPR của gen vận chuyển serotonin có ảnh hưởng đến quá trình phiên mã của gen vận chuyển serotonin chuyên loại bỏ serotonin khỏi khe xináp, và được nghiên cứu rất kỹ bởi mối liên hệ của nó với nhiều rối loạn tâm thần khác.[37] Một nghiên cứu khác kiểm tra thụ thể 5-HT1A – thụ thể liên kết serotonin – và nhận thấy những người có allele G của đa hình Rs6295trên gen HTR1A có mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cao hơn.[38] Một nghiên cứu khác nghiên cứu hiện tượng này cùng rối loạn ám ảnh cưỡng chếnhận thấy mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cao hơn có liên quan đến allele Val/Val của đa hình Rs4680 trên gen mã hóa enzym Catechol-O-methyltransferase (COMT), một enzym làm suy giảm các dẫn truyền thần kinh catecholamine như dopamine.[39]Những liên kết này chưa có bằng chứng chắc chắn; cần phải nghiên cứu thêm để làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các gen trên và những dị tật thần kinh ở não của người mất khả năng diễn đạt cảm xúc.

Đã có bằng chứng cho vai trò của yếu tố môi trường và thần kinh, tuy nhiên, vai trò và ảnh hưởng của yếu tố di truyền tới sự phát triển của mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn còn chưa rõ ràng.[40] Một nghiên cứu có quy mô lớn của Đan Mạch cho rằng yếu tố di truyền góp một phần đáng lưu ý tới sự phát triển của hiện tượng này. Tuy nhiên, những nghiên cứu song sinh này còn gây tranh cãi vì chúng “giả định rằng các môi trường đều như nhau” và các ước tính về “khả năng di truyền” không hề tương ứng với cấu trúc DNA thực tế.[41] Chấn thương sọ não cũng có liên quan đến sự phát triển của mất khả năng diễn đạt cảm xúc. Những bệnh nhân chấn thương sọ não có khả năng mắc hiện tượng này cao gấp sáu lần người thường.[42][43]

Trong quan hệ

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc gây ra nhiều vấn đề trong quan hệ với người khác, vì những cá thể này thường tránh những mối quan hệ gần gũi về mặt cảm xúc. Nếu họ có hình thành quan hệ với người khác, họ thường đặt mình ở vị trí hoặc lệ thuộc, hoặc làm chủ, hoặc chung chung, khách quan “để mối quan hệ ấy chỉ được duy trì ở mức hời hợt.”[44] Theo quan sát, người mất khả năng này cũng không “phân biệt” được bản thân mình và người khác một cách thỏa đáng.[45][46]

Trong một nghiên cứu, một nhóm lớn những người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc đã hoàn thành Bản kê Vấn đề giữa các Cá nhân (IIP-64) gồm 64 câu. Họ nhận thấy “hai vấn đề có quan hệ đáng kể và ổn định tới việc mất khả năng diễn đạt cảm xúc là hoạt động xã hội lạnh lùng/xa cách và thiếu quyết đoán. Tất cả những thang điểm IIP-64 phụ khác đều không có liên hệ đáng kể tới mất khả năng diễn đạt cảm xúc.”[44]

Sifneos cũng nhận thấy người mất khả năng diễn đạt cảm xúc có những mối quan hệ hỗn loạn.[47] Do những khó khăn cố hữu trong việc nhận biết và miêu tả cảm xúc của bản thân và người khác, hiện tượng này cũng có ảnh hưởng tiêu cực tới sự mãn nguyện trong quan hệ giữa các cặp đôi.[48]

Theo một nghiên cứu năm 2008,[49]mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có tương quan với sự suy giảm trong việc hiểu và bày tỏ tình cảm thân thiết. Sự suy giảm này phần nào khiến tinh thần kém khỏe mạnh, đồng thời làm giảm chất lượng các mối quan hệ.[49] Những cá thể bị nặng cũng ít lo buồn khi thấy người khác bị đau và ít thể hiện lòng vị tha.[2]

Những cá thể làm việc cho các tổ chức mà ở đó việc điều khiển cảm xúc là chuyện bình thường có thể có những hành vi giống mất khả năng diễn đạt cảm xúc, nhưng không phải họ bị mắc hiện tượng này. Tuy nhiên, theo thời gian, việc thường xuyên không bộc lộ cảm xúc có thể trở thành thói quen và khiến họ thấy khó đồng cảm với người khác hơn.[50]

Các rối loạn đi kèm

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc thường xuyên xảy ra cùng các rối loạn khác. Nghiên cứu chỉ ra rằng bị mất khả năng diễn đạt cảm xúc xuất hiện trùng với rối loạn phổ tự kỷ (ASD).[12][51][52] Theo một nghiên cứu đã sử dụng TAS-20 (2004), 85% người lớn bị tự kỷ rơi vào nhóm mất khả năng diễn đạt cảm xúc; gần 50% rơi vào nhóm trầm trọng. Trong nhóm người lớn tiêu chuẩn để so sánh, chỉ có 17% mất khả năng này; không có trường hợp nào trầm trọng.[52][53] Fitzgerald và Bellgrove chỉ ra rằng, “Cũng như mất khả năng diễn đạt cảm xúc, hội chứng Asperger cũng có đặc điểm là rối loạn trong khả năng nói, khả năng về ngôn ngữ và các mối quan hệ xã hội.”[54] Hill và Berthoz đồng ý (2006) và tuyên bố “giữa mất khả năng diễn đạt cảm xúc và tự kỷ có một sự gối trùng nào đó”. Họ đưa ra những nghiên cứu đã phát hiện người mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng khuyết kỹ năng về thuyết tâm trí; bằng chứng từ giải phẫu học thần kinh cũng chỉ ra nguyên nhân gây bệnh chung và kỹ năng xã hội yếu tương tự nhau.[55]Bản chất của sự gối trùng này chưa được xác định chắc chắn. Biểu hiện thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc ở người bị tự kỷ có thể liên quan đến trầm cảm lâm sàng hay lo âu;[53] không rõ yếu tố trung gian là gì. Có khả năng mất khả năng diễn đạt cảm xúc sẽ dẫn đến lo âu.[56]

Còn nhiều rối loạn tâm thần khác có thể xảy ra cùng hiện tượng này. Một nghiên cứu nhận thấy 41% cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam mắc rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) cũng mất khả năng diễn đạt cảm xúc.[57] Một nghiên cứu khác nhận thấy mức độ mất khả năng diễn đạt cảm xúc ở những người sống sót sau diệt chủng Holocaust bị PTSD cao hơn người không bị.[58] Theo một nghiên cứu khác, mức độ mất khả năng diễn đạt cảm xúc cao ở những người làm mẹ bị PTSD liên quan đến bạo hành có tỷ lệ nhạy cảm với việc chăm sóc thấp hơn.[59] Nghiên cứu này cũng cho rằng, khi điều trị những bệnh nhân PTSD đã là cha hoặc mẹ, cần chú ý đến quan hệ giữa cha mẹ-con cái và sự phát triển cảm xúc-xã hội của đứa trẻ khi đánh giá và xử lý hiện tượng mất khả năng diễn đạt cảm xúc. 

Các kết quả nghiên cứu đơn lẻ về tỷ lệ của những rối loạn khác gồm 63% trong số những người bị chán ăn tâm thần,[60] 56% bị chứng háu ăn,[60]khoảng 40%[20] đến 50%[61] bị trầm cảm, 34% mắc rối loạn hoảng sợ,[62]28% mắc ám ảnh xã hội, và 50% trong số những người lạm dụng chất gây nghiện.[63] Một tỷ lệ lớn các cá thể bị tổn thương não mắc phải (acquired brain injury) như tai biến mạch máu nãohay chấn thương sọ não cũng mất khả năng diễn đạt cảm xúc.[64][65][66]

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có liên quan đến những rối loạn nhân cách,[67] rối loạn lạm dụng chất gây nghiện,[68][69] một số rối loạn lo âu[70]và rối loạn tình dục[71] nhất định, cũng như các bệnh về thể chất như cao huyết áp,[72] viêm ruột[73] và loạn tiêu hóa (dyspepsia) chức năng.[74] Thêm vào đó, mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có liên quan đến đau nửa đầu, đau lưng dưới, hội chứng ruột kích thíchsuyễn, buồn nôn, dị ứng, và hội chứng đau xơ cơ.[75]

Một số người mất khả năng diễn đạt cảm xúc có khuynh hướng giải phóng sự căng thẳng phát sinh từ những cảm xúc khó chịu qua hành động bốc đồng, hay những hành vi cưỡng chế như ăn uống vô độ, lạm dụng chất gây nghiện, có hành vi tình dục lệch lạc hoặc chán ăn tâm thần.[76] Thất bại trong việc điều chỉnh cảm xúc một cách có nhận thức có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh tự chủ và hệ thần kinh nội tiết, gây ra các bệnh về cơ thể.[75] Người mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng bị giới hạn ở khả năng cảm nhận những cảm xúc tích cực, nên Krystal (1988) và Sifneos (1987) miêu tả những cá thể này là bị mất khoái cảm (anhedonia).[6]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Sifneos PE (1973). “The prevalence of ‘alexithymic’ characteristics in psychosomatic patients”. Psychotherapy and psychosomatics 22 (2): 255–262. PMID 4770536. doi:10.1159/000286529.
  2. ^ a ă â FeldmanHall O, Dalgleish T, Mobbs D (2013). “Alexithymia decreases altruism in real social decisions”. Cortex 49: 899–904. PMID 23245426. doi:10.1016/j.cortex.2012.10.015.
  3. ^ Taylor GJ, Bagby, M.R., Parker, J.D.A. Disorders of Affect Regulation: Alexithymia in Medical and Psychiatric Illness. Cambridge: Cambridge University Press, 1999
  4. ^ a ă Stichwort Alexi|thymie. In: Duden. Das Wörterbuch medizinischer Fachausdrücke. Software für PC-Bibliothek.Bibliographisches Institut, Mannheim
  5. ^ a ă â b Bar-On, Reuven; Parker, James DA (2000). The Handbook of Emotional Intelligence: Theory, Development, Assessment, and Application at Home, School, and in the Workplace. San Francisco, California: Jossey-Bass. ISBN 0-7879-4984-1. pp. 40–59
  6. ^ a ă Taylor GJ & Taylor HS (1997). Alexithymia. In M. McCallum & W.E. Piper (Eds.) Psychological mindedness: A contemporary understanding. Munich: Lawrence Erlbaum Associates pp. 28–31
  7. ^ “alexithymic – definition of alexithymic in English”. Oxford Dictionaries. Bản gốc lưu trữngày 11 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  8. ^ Nicholls MER và đồng nghiệp (1999). “Laterality of expression in portraiture: putting your best cheek forward”. Proceedings of the Royal Society of London B: Biological Sciences 266 (1428): 1517–1522. PMC 1690171. doi:10.1098/rspb.1999.0809.
  9. ^ Mark A (2005). “Organizing emotions in health care”. Journal of Health Organization and Management 19 (4/5): 277–289. doi:10.1108/14777260510615332.
  10. ^ a ă Haviland MG, Warren WL, Riggs ML (2000). “An observer scale to measure alexithymia”. Psychosomatics 41 (5): 385–92. PMID 11015624. doi:10.1176/appi.psy.41.5.385. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007.
  11. ^ Vorst HC, Bermond B (2001). “Validity and reliability of the Bermond-Vorst Alexithymia Questionnaire”. Personality and Individual Differences 30 (3): 413–434. doi:10.1016/S0191-8869(00)00033-7.
  12. ^ a ă Paula-Perez I (tháng 3 năm 2010). “Alexitimia y sindrome de Asperger”. Rev Neurol 50 (Suppl 3): S85–90. Bản gốc lưu trữngày 27 tháng 7 năm 2011.
  13. ^ a ă â Taylor (1997), p. 29
  14. ^ Fukunishi I, Berger D, Wogan J, Kuboki T (1999). “Alexithymic traits as predictors of difficulties with adjustment in an outpatient cohort of expatriates in Tokyo”. Psychological reports 85 (1): 67–77. PMID 10575975. doi:10.2466/PR0.85.5.67-77. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007.
  15. ^ Salminen JK, Saarijärvi S, Aärelä E, Toikka T, Kauhanen J (1999). “Prevalence of alexithymia and its association with sociodemographic variables in the general population of Finland”. Journal of psychosomatic research 46 (1): 75–82. PMID 10088984. doi:10.1016/S0022-3999(98)00053-1.
  16. ^ Taylor & Taylor (1997), pp. 77–104
  17. ^ Taylor (1997), p. 38
  18. ^ Parker, JDA; Taylor, GJ; Bagby, RM (2001). “The Relationship Between Emotional Intelligence and Alexithymia”. Personality and Individual Differences 30: 107–115. doi:10.1016/S0191-8869(00)00014-3.
  19. ^ a ă Taylor (1997), p. 37
  20. ^ a ă Honkalampi K, Hintikka J, Laukkanen E, Lehtonen J, Viinamäki H (2001). “Alexithymia and depression: a prospective study of patients with major depressive disorder”. Psychosomatics 42 (3): 229–34. PMID 11351111. doi:10.1176/appi.psy.42.3.229.
  21. ^ Krystal H (1979). “Alexithymia and psychotherapy”. American journal of psychotherapy 33 (1): 17–31. PMID 464164.
  22. ^ Nemiah et al. (1970), pp. 432–33
  23. ^ Krystal (1988), p. 246; McDougall (1985), pp. 169–70
  24. ^ Taylor (1997), pp. 29, 246–47
  25. ^ Krystal (1988) pp. 246-247
  26. ^ Nemiah, CJ (1978). “Alexithymia and Psychosomatic Illness”. Journal of Continuing Education39: 25–37.
  27. ^ Sifneos, PE (1967). “Clinical Observations on some patients suffering from a variety of psychosomatic diseases”. Acta Medicina Psychosomatica 7: 1–10.
  28. ^ Mattila AK, Poutanen O, Koivisto AM, Salokangas RK, Joukamaa M (2007). “Alexithymia and Life Satisfaction in Primary Healthcare Patients”. Psychosomatics 48: 523–529. doi:10.1176/appi.psy.48.6.523.
  29. ^ Hoppe KD, Bogen JE (1977). “Alexithymia in twelve commissurotomized patients”. Psychotherapy and psychosomatics 28 (1–4): 148–55. PMID 609675. doi:10.1159/000287057.
  30. ^ Jessimer M, Markham R (1997). “Alexithymia: a right hemisphere dysfunction specific to recognition of certain facial expressions?”. Brain and cognition 34 (2): 246–58. PMID 9220088. doi:10.1006/brcg.1997.0900.
  31. ^ Lane RD, Ahern GL, Schwartz GE, Kaszniak AW (1997). “Is alexithymia the emotional equivalent of blindsight?”. Biol. Psychiatry 42 (9): 834–44. PMID 9347133. doi:10.1016/S0006-3223(97)00050-4.
  32. ^ Tabibnia G, Zaidel E (2005). “Alexithymia, interhemispheric transfer, and right hemispheric specialization: a critical review”. Psychotherapy and psychosomatics 74 (2): 81–92. PMID 15741757. doi:10.1159/000083166.
  33. ^ McDougall (1989), pp. 93, 103
  34. ^ McDougall (1989), pp. 93–94
  35. ^ Maclaren K (2006). “Emotional Disorder and the Mind-Body Problem: A Case Study of Alexithymia”. Chiasmi International8: 139–55. doi:10.5840/chiasmi2006819.
  36. ^ a ă McDougall (1985), p. 161
  37. ^ Kano, Michiko; Mizuno, Tomoko; Kawano, Yuko; Aoki, Masashi; Kanazawa, Motoyori; Fukudo, Shin (ngày 1 tháng 1 năm 2012). “Serotonin transporter gene promoter polymorphism and alexithymia”. Neuropsychobiology65 (2): 76–82. ISSN 1423-0224. PMID 22222552. doi:10.1159/000329554.
  38. ^ Gong, Pingyuan; Liu, Jinting; Li, She; Zhou, Xiaolin (ngày 1 tháng 12 năm 2014). “Serotonin receptor gene (5-HT1A) modulates alexithymic characteristics and attachment orientation”. Psychoneuroendocrinology 50: 274–279. ISSN 1873-3360. PMID 25247748. doi:10.1016/j.psyneuen.2014.09.001.
  39. ^ Koh, Min Jung; Kang, Jee In; Namkoong, Kee; Lee, Su Young; Kim, Se Joo (ngày 1 tháng 5 năm 2016). “Association between the Catechol-O-Methyltransferase (COMT) Val¹⁵⁸Met Polymorphism and Alexithymia in Patients with Obsessive-Compulsive Disorder”. Yonsei Medical Journal 57 (3): 721–727. ISSN 1976-2437. PMC 4800363. PMID 26996573. doi:10.3349/ymj.2016.57.3.721.
  40. ^ Jørgensen MM, Zachariae R, Skytthe A, Kyvik K (2007). “Genetic and Environmental Factors in Alexithymia: A Population-Based Study of 8,785 Danish Twin Pairs”. Psychotherapy and Psychosomatics 76: 369–375. PMID 17917473. doi:10.1159/000107565.
  41. ^ Pam, A; Kemker, SS; Ross, CA; Golden, R (1996). “The “equal environments assumption” in MZ-DZ twin comparisons: an untenable premise of psychiatric genetics?”. Acta Genet Med Gemellol (Roma) 45: 349–60. PMID 9014000.
  42. ^ Williams C, Wood RL (tháng 6 năm 2009). “Alexithymia and emotional empathy following traumatic brain injury”. J Clin Exp Neuropsychol 32 (3): 1–11. PMID 19548166. doi:10.1080/13803390902976940. Tóm lược dễ hiểuPsychology Today (ngày 3 tháng 1 năm 2010).
  43. ^ Hogeveen, J.; Bird, G.; Chau, A.; Krueger, F.; Grafman, J. (ngày 1 tháng 2 năm 2016). “Acquired alexithymia following damage to the anterior insula”. Neuropsychologia (Elsevier) 82: 142–148. ISSN 1873-3514. PMC 4752907. PMID 26801227. doi:10.1016/j.neuropsychologia.2016.01.021.
  44. ^ a ă Vanheule S, Desmet M, Meganck R, Bogaerts S (2007). “Alexithymia and interpersonal problems”. Journal of clinical psychology 63 (1): 109–17. PMID 17016830. doi:10.1002/jclp.20324.
  45. ^ Blaustein JP, Tuber SB (1998). “Knowing the Unspeakable”. Bulletin of the Menninger Clinic62: 351–365.
  46. ^ Taylor (1997) pp. 26-46
  47. ^ Sifneos PE (1996). “Alexithymia: past and present”. The American Journal of Psychiatry 153 (7 Suppl): 137–42. PMID 8659637. doi:10.1176/ajp.153.7.137.
  48. ^ Yelsma P, Marrow S (2003). “An Examination of Couples’ Difficulties With Emotional Expressiveness and Their Marital Satisfaction”. Journal of Family Communication 3 (1): 41–62. doi:10.1207/S15327698JFC0301_03.
  49. ^ a ă Hesse Colin; Floyd Kory (2008). “Affectionate experience mediates the effects of alexithymia on mental health and interpersonal relationships”. Journal of Social and Personal Relationships 25 (5): 793–810. doi:10.1177/0265407508096696.
  50. ^ Manfred F.R. Kets de Vries (2001) “Struggling with the Demon: Perspectives on Individual and Organizational Irrationality”
  51. ^ Shah, Punit; Hall, Richard; Catmur, Caroline; Bird, Geoffrey (ngày 1 tháng 8 năm 2016). “Alexithymia, not autism, is associated with impaired interoception”. Cortex 81: 215–220. PMC 4962768. PMID 27253723. doi:10.1016/j.cortex.2016.03.021.
  52. ^ a ă Hill E, Berthoz S, Frith U (2004). “Brief report: cognitive processing of own emotions in individuals with autistic spectrum disorder and in their relatives”. Journal of Autism and Developmental Disorders 34 (2): 229–235. PMID 15162941. doi:10.1023/B:JADD.0000022613.41399.14.
  53. ^ a ă Frith U (2004). “Emanuel Miller lecture: confusions and controversies about Asperger syndrome”. Journal of child psychology and psychiatry, and allied disciplines 45 (4): 672–86. PMID 15056300. doi:10.1111/j.1469-7610.2004.00262.x.http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/j.1469-7610.2004.00262.x/pdf The study to which Frith refers is the Hill E, Berthoz S, Frith U (2004) referenced before this one.
  54. ^ Fitzgerald M, Bellgrove MA (2006). “The Overlap Between Alexithymia and Asperger’s syndrome”. Journal of autism and developmental disorders 36(4): 573–6. PMC 2092499. PMID 16755385. doi:10.1007/s10803-006-0096-z. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2007.[liên kết hỏng]
  55. ^ Hill E, Berthoz S (tháng 5 năm 2006). “Response to ‘Letter to the Editor: The Overlap Between Alexithymia and Asperger’s syndrome’, Fitzgerald and Bellgrove, Journal of Autism and Developmental Disorders, 36(4)”. Journal of Autism and Developmental Disorders 36 (8): 1143–1145. PMID 17080269. doi:10.1007/s10803-006-0287-7.
  56. ^ Tani P, Lindberg N, Joukamaa M và đồng nghiệp (2004). “Asperger syndrome, alexithymia and perception of sleep”. Neuropsychobiology 49 (2): 64–70. PMID 14981336. doi:10.1159/000076412.
  57. ^ Shipko S, Alvarez WA, Noviello N (1983). “Towards a teleological model of alexithymia: alexithymia and post-traumatic stress disorder”. Psychotherapy and psychosomatics 39 (2): 122–6. PMID 6878595. doi:10.1159/000287730.
  58. ^ Yehuda R, Steiner A, Kahana B, Binder-Brynes K, Southwick SM, Zemelman S, Giller EL (1997). “Alexithymia in Holocaust survivors with and without PTSD”. J Trauma Stress 10 (1): 83–100.
  59. ^ Schechter DS, Suardi F, Manini A, Cordero MI, Sancho Rossignol A, Gex-Fabry Merminod G, Moser DA, Rusconi Serpa S. “How do maternal PTSD and alexithymia interact to impact maternal behaviour?”. Child Psychiatry and Human Development.
  60. ^ a ă Cochrane CE, Brewerton TD, Wilson DB, Hodges EL (1993). “Alexithymia in the eating disorders”. The International Journal of Eating Disorders 14 (2): 219–22. PMID 8401555. doi:10.1002/1098-108x(199309)14:2<219::aid-eat2260140212>3.0.co;2-g.
  61. ^ Kim JH, Lee SJ, Rim HD, Kim HW, Bae GY, Chang SM (2008). “The Relationship between Alexithymia and General Symptoms of Patients with Depressive Disorders”. Psychiatry Investig 5: 179–85. PMC 2796028. PMID 20046363. doi:10.4306/pi.2008.5.3.179.
  62. ^ Cox BJ, Swinson RP, Shulman ID, Bourdeau D (1995). “Alexithymia in panic disorder and social phobia”. Comprehensive Psychiatry 36 (3): 195–8. PMID 7648842. doi:10.1016/0010-440X(95)90081-6.
  63. ^ Taylor GJ, Parker JD, Bagby RM (1990). “A preliminary investigation of alexithymia in men with psychoactive substance dependence”. The American Journal of Psychiatry 147 (9): 1228–30. PMID 2386256. doi:10.1176/ajp.147.9.1228.
  64. ^ Williams C, Wood RL (tháng 3 năm 2010). “Alexithymia and emotional empathy following traumatic brain injury”. J Clin Exp Neuropsychol 32 (3): 259–67. PMID 19548166. doi:10.1080/13803390902976940.
  65. ^ Koponen S, Taiminen T, Honkalampi K và đồng nghiệp (2005). “Alexithymia after traumatic brain injury: its relation to magnetic resonance imaging findings and psychiatric disorders”. Psychosom Med 67(5): 807–12. PMID 16204442. doi:10.1097/01.psy.0000181278.92249.e5.
  66. ^ Becerra R, Amos A, Jongenelis S (tháng 7 năm 2002). “Organic alexithymia: a study of acquired emotional blindness”. Brain Inj 16(7): 633–45. PMID 12119081. doi:10.1080/02699050110119817.
  67. ^ Schizotypal, dependent and avoidant disorders are particularly indicated: See Taylor (1997), pp. 162–165
  68. ^ Li CS, Sinha R (ngày 1 tháng 3 năm 2006). “Alexithymia and stress-induced brain activation in cocaine-dependent men and women”. Journal of psychiatry & neuroscience: JPN 31 (2): 115–21. PMC 1413961. PMID 16575427.
  69. ^ Lumley MA, Downey K, Stettner L, Wehmer F, Pomerleau OF (1994). “Alexithymia and negative affect: relationship to cigarette smoking, nicotine dependence, and smoking cessation”. Psychotherapy and psychosomatics 61 (3–4): 156–62. PMID 8066152. doi:10.1159/000288884.
  70. ^ Jones BA (1984). “Panic attacks with panic masked by alexithymia”. Psychosomatics 25(11): 858–9. PMID 6505131. doi:10.1016/S0033-3182(84)72947-1. Bản gốc(PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  71. ^ Michetti PM, Rossi R, Bonanno D, Tiesi A, Simonelli C (2006). “Male sexuality and regulation of emotions: a study on the association between alexithymia and erectile dysfunction (ED)”. Int. J. Impot. Res. 18 (2): 170–4. PMID 16151475. doi:10.1038/sj.ijir.3901386. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2007.
  72. ^ Jula A, Salminen JK, Saarijärvi S (ngày 1 tháng 4 năm 1999). “Alexithymia: a facet of essential hypertension”. Hypertension 33(4): 1057–61. PMID 10205248. doi:10.1161/01.HYP.33.4.1057. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  73. ^ Verissimo R, Mota-Cardoso R, Taylor G (1998). “Relationships between alexithymia, emotional control, and quality of life in patients with inflammatory bowel disease”. Psychotherapy and psychosomatics 67 (2): 75–80. PMID 9556198. doi:10.1159/000012263.
  74. ^ Jones MP, Schettler A, Olden K, Crowell MD (2004). “Alexithymia and somatosensory amplification in functional dyspepsia”. Psychosomatics 45 (6): 508–16. PMID 15546828. doi:10.1176/appi.psy.45.6.508. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  75. ^ a ă Taylor (1997), pp. 216–248
  76. ^ Taylor (1997), pp. 31

Theo Wikipedia

11 CÁCH VƯỢT QUA CẢM XÚC, Ý NGHĨ TIÊU CỰC


Suy nghĩ tiêu cực hoặc ý nghĩ tự tử có thể là hệ quả từ các rối loạn tâm lý như rối loạn trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lạm dụng chất hay rối loạn nhân cách ranh giới hoặc có thể là hệ quả từ sự bất thường của não bộ như u não. Có những dạng rối loạn tâm lý cần phải dùng thuốc để điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh hay nội tiết. 11 cách dưới đây sẽ giúp bạn vực dậy tinh thần sau những tháng ngày trầm uất, u ám:

1. Nghe hay đọc những câu chuyện truyền cảm hứng

Những khi bị áp lực, hoặc có những ngày tôi trầm uất đến mức không thể làm được một việc đơn giản như ăn cơm, khi tất cả mọi thứ đều trở nên vô nghĩa và đọng lại trong tôi là sự trống rỗng, mờ mịt và hoảng loạn, thì tôi lại tìm nghe những buổi diễn thuyết trên TedX. Những chia sẻ về tự tử, về trầm cảm của những người đã và đang trải qua khiến tôi cảm thấy như mình không cô độc, không quái dị, không tệ hại, và giảm bớt phần nào cảm giác tội lỗi. Những kinh nghiệm của họ, cách nhìn của họ khiến tôi phần nào thay đổi suy nghĩ và yêu bản thân mình hơn.

Tôi xin được trích vài đoạn mà tôi tâm đắc nhất trong bài nói chuyện của Mark Henrick, một nhà hoạt động vì sức khỏe tâm lý và là người từng trải qua hàng chục lần cố gắng tự tử trong quá khứ.

“Hãy tưởng tượng rằng bạn bị nhốt trong một nơi chật hẹp, tối tăm. Ừm, đó có thể là cảm giác khi phải sống chung với một căn bệnh tâm lý nào đó. Ít ra, đó là cảm giác mà tôi đã phải trải qua khi đang ở dưới đáy của cơn rối loạn tâm lý lúc còn là thanh thiếu niên. Nhận thức của tôi bị gò bó, trở nên tối tăm và đổ vỡ, và những suy nghĩ như “mày không đủ tốt”, “mày tệ hại”, “mày không nên sống nữa” là hệ quả từ sự đổ vỡ của nhận thức ấy.”

Chúng ta sẽ không mãi ở trong một hoàn cảnh, tình huống hay trạng thái tâm lý kể cả tiêu cực. Tôi luôn tự nhủ với bản thân như vậy mỗi khi tôi cảm thấy như mình không còn sức nữa. “Rồi sẽ có cách, rồi mình sẽ vượt qua.”Trạng thái tâm lý luôn là những giai đoạn tiếp diễn. Nhận thức của chúng ta được tạo ra và tiếp tục xây dựng bởi sinh lý, tâm lý và cả xã hội nên chúng ta có nhiều phương thức để cải thiện nó. Vì thế, tôi mong bạn hãy đừng vội bỏ cuộc.

“Với những người có suy nghĩ tự tử. Cũng ổn thôi. Hãy cứ tiếp tục nghĩ về nó. Và rồi nói về nó. Và sau đó hãy bắt đầu làm chuyện gì đó với nó”.

Một số bài diễn thuyết hay mà tôi nghĩ rằng những ai đang vật lộn với trầm cảm và suy nghĩ tự tử cũng nên nghe qua một lần.

Kevin Breel – Confession of a depressive comic

Mark Henrick – Why we choose suicide

Andrew Solomon – Depression, a secret we all share (rất hay, bất kỳ ai cũng nên nghe)

2. Nghe nhạc

Những khi tôi có suy nghĩ tiêu cực thì tôi lại nghe những bản nhạc thuộc nhiều thể loại khác nhau như từ nhạc cổ điển như Giao hưởng ánh trăng, Fur Elise của Beethoven, đến những bài nhạc vàng nhạc đỏ, tiếp lại chạy qua Jrock, ngồi trong xe đóng kín cửa mở volume dộng ầm ầm với X Japan hoặc the GazettE.

Âm nhạc có thể tiến vào tầng nhận thức của chúng ta, là một công cụ tuyệt vời có thể giúp chúng ta thay đổi khí sắc, tâm trí và hành vi. Những giai điệu của bài hát có thể gợi những phản ứng không chỉ ở những vùng não có liên quan đến hệ thống thưởng (reward system) mà còn cả những vùng điều chỉnh cảm xúc. Hãy chọn những bài bạn thích, truyền cảm hứng và giải phóng cảm xúc của bạn. Những lúc tôi chán nản thì thường thích nghe Dạ cổ hoài lang, Chuyện ba mùa mưa, Chuyện giàn thiên lý… và thường hay bị chọc là nghe nhạc sến, nhưng mà tôi mặc kệ tất vì cảm xúc của tôi ổn hơn rất nhiều sau khi nghe những bài này.

Chọn ra những bài hát khiến bạn vui vẻ, yêu đời, hạnh phúc hơn và lập thành một playlist trên điện thoại hay trên YouTube chẳng hạn, và thi thoảng bạn mới nên nghe nó. Đừng nghe playlist đó thường xuyên. Việc nghe quá nhiều một bài hát hay một playlist có thể bão hòa đi sự kết nối giữa hệ thống thần kinh với bài hát đó và thay vào đó là những cảm xúc mới. Đó là vì sao khi bạn nghe lại những bài hát mà mình chưa từng nghe trong hàng tháng hay năm trời có thể đưa bạn quay trở lại những cảm xúc ban đầu (1). Điều này cũng áp dụng lên playlist “yêu đời” của bạn.

3. Viết nhật ký

Nhật ký ở đây không chỉ đơn giản là viết về ngày thường của bạn hay những gì bạn làm mà còn là những sự kiện đã xảy ra có ảnh hưởng đến bạn. Hãy tập trung viết về sự kiện đó, cảm xúc và cái nhìn của bạn đối với nó.

Nếu bạn lười, không thích viết nhật ký như tôi thì ít nhất cũng nên viết ra hết những cảm xúc của bạn khi bạn cảm thấy tiêu cực hay có những suy nghĩ tự tử. Các nhà tâm lý học cho rằng việc viết ra những cảm xúc giúp não bộ điều chỉnh cảm xúc tốt hơn. Những bản chụp cắt lớp não bộ chứng minh rằng khi viết những cảm xúc xuống trang giấy thì hoạt động ở hạch hạnh nhân (amygdala) chịu trách nhiệm cho những cảm xúc sợ hãi, lo âu, hoảng hốt giảm đi (2).

Viết ra những cảm xúc cũng giúp bạn có cái nhìn sâu hơn về những gì đang xảy ra chung quanh. Đọc lại những gì bạn viết lúc bình tĩnh và hãy tự hỏi mình nếu chuyện này xảy ra lần nữa thì mình sẽ giải quyết nó như thế nào? Những hoàn cảnh nào dẫn đến phản ứng như thế này? Làm sao để cải thiện nó?

Max River
Ảnh: Max Rive

4. Luyện tập tỉnh thức

Trong buổi workshop hồi tháng hai ở Việt Nam, tôi có nói đến ích lợi của tỉnh thức. Tỉnh thức, còn được gọi là chánh niệm trong đạo Phật, (mindfulness) nghĩa là có chủ đích chú ý vào một thứ gì đó trong  thời điểm hiện tại và không phán xét nó. Nói cách khác, tỉnh thức chính là nhận thức ở hiện tại, không quan tâm về quá khứ, không suy nghĩ đến tương lai, chỉ quan sát và không phán xét.

Đối với những người trải qua nhiều sự kiện trầm uất trong cuộc sống có xu hướng phản ứng tiêu cực vì não bộ của họ đã quen với đường lối suy nghĩ như vậy. Luyện tập tỉnh thức sẽ giúp các bạn mắc lại, kết nối lại bộ não và tạo ra một thói quen, một phản ứng lành mạnh hơn trước các sự kiện tiêu cực.

Bạn có thể luyện tập tỉnh thức ở bất kỳ đâu hay bất cứ lúc nào nhưng nên luyện tập nó hằng ngày để tạo thành thói quen.

Một số bài tập tỉnh thức:

a) Hai lần cắn tỉnh thức

Quan sát bề mặt, vị, mùi hương, hoặc hình dáng của món ăn, và âm thanh vang lên khi bạn cắn vào món ăn ấy, dừng lại một chút nhấm nháp hương vị trước khi bạn nhai. Bạn có cảm nhận được chuyển động của thức ăn hay không.

b) Luyện tập hít thở

  • Hít vào mũi theo nhịp: 1 – 2 – 3 – 4.
  • Thở ra bằng miệng, hơi chu môi, thổi nhẹ nhàng, như đang thổi bong bóng: 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 – 8.
  • Lặp lại 3 đến 4 lần.
  • Luyện tập cách thở này đều đặn trong ngày. Bạn có thể thử hít thở chậm rãi mỗi khi bạn trả lời điện thoại, hoặc khi bạn ngồi vào xe, hoặc khi bạn vào phòng tắm, trước khi bạn ăn, và dĩ nhiên là khi bạn cảm thấy căng thẳng. Hãy chọn ra những lúc có tác dụng nhất để luyện tập, và tạo nên được thói quen hít vào bằng mũi với nhịp bốn, và thở ra bằng miệng với nhịp tám từ một đến ba lần.

c) Tô màu

Đây cũng là một liệu pháp nghệ thuật giúp giảm tải stress và lo âu. Những cuốn sách tô màu này bán trên các trang web như amazon.com hay Barn and Noble với cái giá không chát lắm và có nhiều chủ đề khác nhau từ rừng, đến biển, đến hoa, hay động vật. Tôi không chắc là nhà sách ở Việt Nam có loại sách tô màu này. Nhưng bạn có thể thử tìm xem.

Hoặc nếu các bạn không thể mua thì với từ khóa “Mindfulness Color Book”trên google bạn sẽ tìm thấy hàng ngàn kết quả và những bức tranh chưa tô. Bạn có thể in nó xuống và mỗi ngày tô một tờ như thế. Nên dùng những tông màu lạnh và sáng như các gam màu xanh biển, xanh lá hoặc tím sẽ giúp cho bạn bình tĩnh hơn. Màu tím nhạt được cho là giúp giảm áp lực, màu xanh biển thì tạo cảm giác thanh bình và hạ huyết áp. Tuy nhiên những tông màu tối của gam màu lạnh có thể dẫn đến buồn bã thế nên các bạn nên hạn chế sử dụng. Đồng thời cũng  hạn chế dùng những tông màu nóng chủ đạo như đỏ tươi hoặc cam tươi vì dễ gây ra cảm giác khó chịu và giận dữ (3).

5. Chấp nhận cảm xúc tiêu cực

Cảm xúc, dù tích cực hay tiêu cực đều có vai trò quan trọng trong đời sống. Mỗi cảm xúc không được phân chia bởi chức năng mà là bởi những tình huống thích nghi mà nó hữu dụng. Ví dụ như cảm xúc lo âu sợ hãi khi gặp phải tình huống nguy hiểm đến tính mạng là cần thiết để sinh tồn.

Cách xử lý và giải quyết tình huống tốt chỉ có 3 phần:

  • Thực sự chấp nhận rằng có đôi lúc chuyện sẽ xảy ra theo hướng mà chúng ta không thích một chút nào cả.
  • Đừng làm nó tồi tệ thêm.
  • Nhận ra rằng bạn có thể giải quyết nó bằng cách trả lời những câu hỏi sau đây:
  • Điều xấu nhất là gì và hậu quả ra sao?
  • Khả năng xảy ra có cao hay không?
  • Nếu nó thật sự xảy ra, mình sẽ giải quyết nó như thế nào?

Giải quyết vấn đề không chỉ đơn giản là bạn sẽ sửa chữa nó vì có những vấn đề bạn không thể nào sửa chữa được mà bạn nhận ra rằng dù có chuyện gì xảy ra thì bạn vẫn vượt qua được và bước tiếp.

6. Quản lý stress hiệu quả hơn

Stress là một yếu tố nguy hiểm dẫn đến các rối loạn tâm lý và các bệnh về thể chất như tim mạch. Đôi lúc, nhiều sự kiện ập đến và chúng ta bị áp lực bởi không biết nên bắt đầu từ đâu và  nên giải quyết vấn đề như thế nào. Quản lý stress hiệu quả là một cách làm giải tải áp lực và hạn chế những cảm xúc tiêu cực. Vậy thì làm sao để quản lý stress hiệu quả hơn?

  • Đầu tiên bạn nên xác định những nguyên nhân gây stress. Tập trung giải quyết từng vấn đề một, dễ trước khó sau, đừng nên ôm hết lại cùng một lúc.
  • Tìm ra những yếu tố, khía cạnh của vấn đề mà mình có thể điều khiển được. Chúng ta thường bị stress vì những thứ chúng ta không thể điều khiển được, ví dụ như thầy cô chấm bài khó, hay thi học kỳ, thì đại học. Tìm ra những khía cạnh mà chúng ta có thể thay đổi hoặc cải thiện ví dụ như học bài kỹ hơn, luyện giải nhiều bộ đề có thể giúp giảm tải căng thẳng.
  • Lên kế hoạch, thời gian hiệu quả hơn.
  • Lập một hộp “công cụ” giải quyết stress và sử dụng nó tùy vào tình huống. (tập thể dục, hoạt động ngoại khóa, luyện tập tỉnh thức…)
  • Chấp nhận khi mình mắc lỗi lầm và đừng làm nó tồi tệ hơn bằng việc tự trách hay tự đổ lỗi bản thân.

7. Dùng các loại thực phẩm và vitamin giảm tải stress

Một số loại thức ăn và vitamin có tác dụng giảm căng thẳng và áp lực. Ví dụ như Vitamin B tổng hợp hỗ trợ giấc ngủ, giảm các triệu chứng lo âu (đậu phộng, rau chân vịt, hạt điều hoặc trứng, sữa, thịt bò, thịt cá, quả bơ). Vitamin C tăng cường hệ miễn dịch và giảm các ảnh hưởng tâm lý gây ra bởi stress (ổi, mãng cầu, măng cụt, kiwi, cam, chanh). Vitamin D giảm trầm cảm và căng thẳng (ra nắng, sữa, dầu cá…).

Bạn có thể dùng vitamin tổng hợp sẽ tốt hơn, đừng nên dùng mỗi loại riêng biệt, nếu có thì hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng vì liều lượng cao cộng với sự tương tác giữa các chất có thể gây ra những tác dụng phụ.

8. Hạn chế hay từ bỏ các mối quan hệ độc hại

Trong gần cả chục năm tha hương xứ người tôi từ từ hạn chế những mối quan hệ gây ra ảnh hưởng tiêu cực của tôi và hiện tại thì tôi chỉ có một hai người bạn thân ở cách xa tôi mấy tiếng lái xe và có khi cả mấy tháng không nói chuyện do ai cũng bận chuyện riêng. Nhưng tôi lại khá hài lòng với mối quan hệ ít ỏi này vì tôi biết rằng mối quan hệ của chúng tôi khá lành mạnh, hỗ trợ cho nhau về mặt suy nghĩ, nhận thức và tâm lý và khi cần sự giúp đỡ thì cô bạn của tôi sẽ cố hết sức mình.

Những mối quan hệ độc hại thường để lại những tổn thương to lớn khó lành không những ở thể xác mà còn cả tâm lý của bạn. Những mối quan hệ khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, trầm uất hơn là hạnh phúc bao gồm quan hệ giữa người thân, bạn bè hay người yêu. Những dấu hiệu của mối quan hệ độc hại bao gồm sự dối lừa, bạo hành về thể xác, không cảm thấy thoải mái hay an toàn, không được tôn trọng, luôn chỉ trích và đổ lỗi, lạm dụng quyền và luôn muốn điều khiển đối phương, không trung thực, ganh tỵ… Những tác hại của mối quan hệ độc hại chẳng kém gì những thức ăn chứa đầy hóa chất, làm biến chất nội tâm của bạn và dẫn đến trầm cảm, lo âu thậm chí là những vấn đề về y tế.

Trong một nghiên cứu lớn với hơn 10000 người trong vòng hơn 12 năm, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những người ở trong một mối quan hệ tiêu cực có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch cao hơn những người khác.

Để thoát ra khỏi nó thì điều đầu tiên bạn phải làm là nhận ra rằng mình đang ở trong một quan hệ độc hại và bạn có quyền được đối xử tốt hơn thế. Khi bạn nhận ra được điều này thì việc chỉ rõ ra những hành vi độc hại đó sẽ trở nên dễ dàng hơn. Lúc nói về những vấn đề này, nên dùng những câu với đại từ nhân xưng “Tôi/ Mình/ Em” càng nhiều càng tốt để làm giảm khả năng tạo ra những phản ứng bảo vệ ở đối phương. Ví dụ như: “Em cảm thấy anh luôn không hài lòng với mọi thứ và điều này khiến em… Em yêu/tôn trọng/quan tâm đến em và em sẽ biết ơn hơn nữa nếu anh dừng việc… lại.” Bạn chỉ nên làm điều này khi bạn đang trong tình trạng an toàn. Nếu bạn đang bị bạo hành thì không nên làm như thế vì có thể gây ra những hậu quả xấu, ngược lại hãy tìm cách thoát ra khỏi đó an toàn trước.

Cuối cùng, nếu những gì bạn làm hoặc nói không thể thay đổi được những hành vi độc hại thì bạn nên cân nhắc chuyện rời khỏi hay giữ khoảng cách với người đó. Với người yêu thì điều này có nghĩa là chia tay tạm thời hoặc mãi mãi. Với cha mẹ và con cái nên hạn chế tiếp xúc. Với đồng nghiệp thì cố gắng giữ khoảng cách càng xa càng tốt. Nếu không làm gì cả thì bạn sẽ càng khiến bản thân chìm sâu trong sự ảnh hưởng tệ hại về mặt thể xác lẫn tinh thần (4).

9. Thuốc tránh thai

Là con gái, mỗi tháng tôi đều phải chịu sự hành hạ của bà dì ghẻ suốt một tuần cùng với những sự thay đổi thất thường về mặt cảm xúc do hóc môn thay đổi. Một tuần trước và sau khi bà dì tới chơi, tôi thường cảm thấy cực kỳ trầm uất, lo âu và trống rỗng. Những thứ mà tôi thích trở nên vô nghĩa, có những ngày sau khi đi làm về, tôi nằm dài trên ghế salon chẳng buồn động đậy. Những lúc đó tôi phải kiềm lắm mới không dùng dao rọc giấy cắt những đường trên tay để chứng minh rằng mình vẫn “sống”. Lại có những lúc tôi cáu gắt kinh khủng, chỉ muốn hét lên, muốn đập phá tất cả mọi thứ. Theo lời bác sĩ nói thì tôi bị PMS (premenstrual syndrome – hội chứng trước kỳ kinh).

Tôi nghĩ rằng nếu những cảm xúc này là hệ quả từ chuyện hóc môn thay đổi, vậy nếu tôi hạn chế hoặc trung hòa sự thay đổi ấy thì mọi chuyện có tốt hơn không? Thế nên tôi nói chuyện với bác sĩ của mình và bắt đầu dùng thuốc tránh thai. Đến bây giờ sau gần sáu tháng dùng nó thì mọi việc khá hơn rất nhiều. Thi thoảng tôi vẫn cảm thấy trầm uất, lo âu, nhưng chỉ kéo dài một hai ngày chứ không phải hai tuần mỗi tháng như lúc trước.

Nếu những cảm xúc tiêu cực và suy nghĩ của bạn xuất hiện xoay quanh kỳ kinh giống tôi thì bạn nên cân nhắc việc sử dụng thuốc tránh thai để điều chỉnh nội tiết và cảm xúc. Trên thị trường có nhiều loại thuốc tránh thai với các cơ chế hoạt động và ảnh hưởng lên hóc môn khác nhau. Bạn nên hỏi bác sĩ Tâm lý thật kỹ trước khi dùng vì có nhiều loại có thể khiến cho bạn càng trầm uất hơn khi dùng.

10. Đi khám chuyên khoa

Nếu bạn thử những phương pháp mà những suy nghĩ tiêu cực hoặc tự tử vẫn kéo dài không thay đổi sau vài tuần thì bạn nên đi khám bác sĩ chuyên khoa tâm lý hoặc Tâm thần học. Suy nghĩ tiêu cực hoặc ý nghĩ tự tử có thể là hệ quả từ các rối loạn tâm lý như rối loạn trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lạm dụng chất hay rối loạn nhân cách ranh giới, hoặc có thể là hệ quả từ sự bất thường của não bộ như u não. Có những dạng rối loạn tâm lý cần phải dùng thuốc để điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh hay nội tiết. Khám, chẩn đoán và chữa trị sớm sẽ giúp giảm phần nào các hệ quả tiêu cực do các rối loạn tâm lý gây ra.

11. Yêu thương bản thân hơn nữa

Tôi muốn kết bài bằng một câu nói mà tôi đã từng nói với rất nhiều người khi họ chia sẻ với tôi rằng họ cảm thấy tội lỗi, hổ thẹn khi có những suy nghĩ tiêu cực, tự hại bản thân, rằng bản thân yếu đuối. Đó là hãy yêu thương bản thân hơn nữa.

Cảm xúc của bạn đến từ cơ chế sinh lý và suy nghĩ. Nhận thức lại đến từ sinh lý, tâm lý và xã hội, cách xã hội nhìn bạn và cách bạn nhìn xã hội. Trong những yếu tố này, cái bạn có thể thay đổi chính là suy nghĩ, ngay cả sinh lý thì bạn cũng chỉ có thể thay đổi được phần nào vì có những phần bạn không thể thay đổi được như di truyền. Vì thế hãy bắt đầu thay đổi suy nghĩ của bạn từ bây giờ. Đừng tự trách bản thân tại sao lại có những suy nghĩ như vậy, mà hãy chấp nhận rằng mình đang không ổn nhưng mình sẽ tìm cách vượt qua, mọi chuyện rồi sẽ khá hơn. Đừng tự dằn vặt mình coi mình là kẻ có tội, những gì bạn đang trải qua có thể là hệ quả từ những rối loạn tâm lý chứ không phải do bản thân bạn muốn thế. Nhận ra rằng mình cần sự giúp đỡ và đừng ngại tìm kiếm sự giúp đỡ ấy từ bạn bè, từ những người có cùng trải nghiệm với bạn, từ những chuyên gia như bác sĩ, chuyên viên tư vấn. Đừng vì cái nhìn của người khác mà trốn tránh không đối mặt với vấn đề để rồi tự tổn thương mình. Bạn xứng đáng được những điều tốt đẹp hơn thế.

Mong rằng sự an yên rồi sẽ đến với bạn, với tôi và những người chúng ta yêu thương!

Nguồn tham khảo:

  1. https://www.psychologytoday.com/blog/the-athletes-way/201212/the-neuroscience-music-mindset-and-motivation
  2. https://www.theguardian.com/science/2009/feb/15/psychology-usa
  3. http://www.arttherapyblog.com/online/color-psychology-psychologica-effects-of-colors/
  4. https://www.psychologytoday.com/blog/high-octane-women/201108/the-hidden-health-hazards-toxic-relationships

Link bài viết gốc: https://beautifulmindvn.com/20…

Biên dịch: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Rối loạn ngôn ngữ: Trở ngại khiến bạn sợ giao tiếp


rối loạn ngôn ngữ

Đôi khi bạn quên từ, nói câu tối nghĩa, ậm ờ quá nhiều cũng có thể là dấu hiệu của chứng rối loạn ngôn ngữ. Đây là chứng bệnh phổ biến ở trẻ em, song nếu không được điều trị sẽ kéo dài đến cả khi trưởng thành.

Trong quá trình học nói, đôi khi trẻ dùng từ sai cách hay nói câu không đúng ngữ pháp. Khi tình trạng này kéo dài thì bạn cần để tâm vì đây có thể là dấu hiệu của chứng rối loạn ngôn ngữ thường gặp ở trẻ em. Nếu không được chữa trị, bệnh sẽ là một rào cản giao tiếp rất lớn khi trẻ trưởng thành.

Rối loạn ngôn ngữ là gì?

Rối loạn ngôn ngữ là tình trạng một người gặp khó khăn trong việc nói ra những suy nghĩ của bản thân cũng như hiểu những gì người khác đang nói. Bệnh xảy ra ở 10 – 15% trẻ dưới 3 tuổi nhưng cũng có trường hợp bệnh nhân tới tuổi trưởng thành mới được chẩn đoán bệnh.

Dấu hiệu rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em

Nếu phát triển bệnh rối loạn ngôn ngữ khi còn nhỏ, trẻ sẽ có những biểu hiện sau đây:

– Thường xuyên không nhớ tên gọi của những vật dụng xung quanh và dùng những từ thay thế như “cái đó” hay “cái ấy” để thay thế.

– Lẫn lộn những từ có liên quan với nhau, ví dụ như gọi “cái bàn” là “ghế”, gọi “thịt bò” là “thịt gà”…

– Vô thức đảo các âm trong một từ, ví dụ “mèo con” thì đọc thành “mòn ceo”…

– Thường xuyên quên từ và phải tự chế một từ khác để thay thế.

– Nói những câu tối nghĩa hay sắp xếp từ ngữ trong câu sai thứ tự.

– Dùng sai hoặc nói sai thành ngữ, tục ngữ.

– Luôn hiểu mọi thứ theo đúng nghĩa đen nên không hiểu được những câu đùa ẩn ý.

– Không thể tập trung khi nghe người khác nói, đặc biệt là khi có những tiếng ồn như tiếng tivi, tiếng nhạc…

– Không hứng thú khi nói chuyện, ngay cả khi nói chuyện với người nhà hay bạn bè thân thiết.

– Không nhớ thông tin trong cuộc đối thoại vừa xảy ra.

Dấu hiệu rối loạn ngôn ngữ ở người trưởng thành

Đối với người ở độ tuổi trưởng thành, những biểu hiện của chứng rối loạn ngôn ngữ ở môi trường làm việc có thể là:

– Lo lắng khi phải nói chuyện hay thuyết trình trước mặt nhiều người.

– Gặp khó khăn khi phải trả lời những câu hỏi từ cấp trên, ngay cả khi đã biết câu trả lời.

– Gặp khó khăn trong những cuộc tán gẫu nhỏ ở công ty.

– Không nhớ được những từ ngữ chuyên ngành trong công việc của mình.

– Không theo kịp trong các cuộc họp, đặc biệt trong các cuộc họp có nhiều người phát biểu.

– Nghiêm trọng hóa những câu nói bình thường.

– Gặp khó khăn trong việc trả lời câu hỏi khi họp.

– Gặp khó khăn trong việc làm theo các hướng dẫn phức tạp và thường chỉ muốn nhận nhiệm vụ qua email.

Nguyên nhân của chứng rối loạn ngôn ngữ thường không rõ. Tuy nhiên, hai nguyên nhân ảnh hưởng tới khả năng ngôn ngữ có thể kể đến là di truyền và dinh dưỡng. Đôi khi một số chấn thương đầu cũng có thể gây ra bệnh.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ

Bệnh nhân rối loạn ngôn ngữ có thể bị rối loạn ngôn ngữ diễn đạt, rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận hay cả hai. Bạn hãy tham khảo những triệu chứng sau để hiểu rõ hơn về hai dạng rối loạn ngôn ngữ này.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ diễn đạt

Rối loạn ngôn ngữ diễn đạt là khi khả năng nói hay viết của người bệnh bị ảnh hưởng. Những ai mắc chứng này thường gặp vấn đề trong việc nhớ từ vựng, ngữ pháp và chọn từ. Một triệu chứng dễ thấy là người bệnh thường dùng những từ như “ờm”, “ừm” khi không kiếm được từ ngữ phù hợp.

Một số triệu chứng khác của rối loạn ngôn ngữ diễn đạt bao gồm:

Bỏ mất chữ khi nói

Nói sai thứ tự từ trong câu

Khả năng thành lập câu bị hạn chế

Lặp lại câu hỏi khi suy nghĩ câu trả lời

Giảm khả năng xây dựng một cuộc đối thoại

Vốn từ vựng ít hơn so với những người cùng trang lứa

Giảm khả năng sử dụng từ ngữ và kết nối các câu để giải thích hoặc mô tả một cái gì đó

Không xác định đúng thời gian xảy ra các hành động trong câu nói (ví dụ như “đang ăn” nói thành “đã ăn”)

Một số triệu chứng kể trên có thể là một phần của quá trình phát triển ngôn ngữ bình thường nếu trẻ đang trong giai đoạn tập nói.

Tuy nhiên, nếu những triệu chứng trên không cải thiện sau một quãng thời gian thì bé có thể mắc chứng rối loạn ngôn ngữ.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận

Rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận là khi bạn không thể tiếp thu hay hiểu thông tin mình nghe được. Điều này có thể khiến sinh hoạt hằng ngày ở trường, nơi làm hay ở nhà trở nên khó khăn.

Ví dụ như một bé 18 tháng tuổi không thể làm theo những hướng dẫn đơn giản như “nhặt đồ chơi lên”, “ngồi xuống” hay “đi vào phòng” thì có thể đã mắc rối loạn ngôn ngữ. Bé trên 30 tháng tuổi không trả lời những câu hỏi của người khác bằng lời nói hoặc bằng cách gật hay lắc đầu cũng là một dấu hiệu của rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận.

Giao tiếp hiệu quả là một phần quan trọng của việc hình thành các mối quan hệ trong xã hội. Những triệu chứng của rối loạn ngôn ngữ nếu không được chữa trị sẽ dẫn đến trầm cảm và các vấn đề về hành vi khác.

Cách điều trị chứng rối loạn ngôn ngữ

Những bệnh nhân rối loạn cần sự hợp tác điều trị của người nhà, thầy cô, chuyên gia ngôn ngữ và bác sĩ. Sau đây là những cách điều trị rối loạn ngôn ngữ mà bạn nên thực hiện càng sớm càng tốt:

1. Kiểm tra sức khỏe: Việc đầu tiên cần làm khi phát hiện triệu chứng rối loạn ngôn ngữ là đưa người bệnh đến gặp bác sĩ để kiểm tra thể chất. Điều này sẽ giúp loại trừ các bệnh có liên quan như vấn đề về thính giác hoặc suy giảm giác quan khác.

2. Âm ngữ trị liệu: Phương pháp điều trị phổ biến cho chứng rối loạn ngôn ngữ là âm ngữ trị liệu. Cách điều trị sẽ phụ thuộc vào độ tuổi, nguyên nhân và mức độ rối loạn của người bệnh. Quá trình trị liệu sớm thường sẽ mang lại những kết quả khả quan hơn.

3. Chăm sóc tại nhà: Người thân có thể giúp đỡ người bệnh tại nhà bằng các cách như:

Kiên nhẫn chờ đợi người bệnh tìm câu trả lời

Giữ sự thoải mái để giảm bớt lo lắng cho người bệnh

Nói rõ ràng, chậm rãi và chính xác khi đặt câu hỏi cho người bệnh

Yếu cầu người bệnh nhắc lại hướng dẫn bạn vừa nói bằng từ của riêng họ

Nếu bạn có con bị rối loạn ngôn ngữ ở độ tuổi đi học, bạn nên liên hệ với giáo viên của trẻ để thảo luận về các hoạt động trong lớp.

4. Tâm lý trị liệu: Những khó khăn trong giao tiếp với mọi người có thể gây tâm lý khó chịu, ức chế và thậm chí có thể dẫn đến một số hành vi vượt ngoài tầm kiểm soát.

Vậy nên, bệnh nhân có thể cần đến bác sĩ tâm lý trị liệu để cân bằng cảm xúc và hành vi.Chứng rối loạn ngôn ngữ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống, quá trình học tập và hiệu quả công việc của người bệnh.

Tuy nhiên, việc ngừa chứng này rất khó khăn vì nguyên nhân gây bệnh thường không rõ ràng. Cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia ngôn ngữ hay tâm lý, bạn sẽ có thể từng bước vượt qua hoặc giúp người thân cải thiện tình hình khả quan hơn.

Như Vũ | HELLO BACSI

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh|Tác giả: Như Vũ

Tìm hiểu chứng rối loạn hành vi, cảm xúc


roi-loan-hanh-vi-cam-xuc

Nhiều người cho rằng chứng rối loạn hành vi, cảm xúc chỉ xuất hiện ở những người sử dụng các chất kích thích. Tuy nhiên, bệnh lý này ngày xuất hiện càng nhiều, không những chỉ ở giới trẻ mà còn ở những người có độ tuổi lớn hơn.

1. Rối loạn hành vi là gì? Rối loạn cảm xúc là gì?

Bệnh lý rối loạn hành vi là nhóm các vấn đề về hành vi và cảm xúc thường bắt đầu từ thời niên thiếu hoặc vị thành niên. Mắc phải chứng rối loạn này, trẻ em và trẻ vị thành niên thường gặp khó khăn khi phải tuân theo các nguyên tắc hành xử thông thường được xã hội chấp nhận

Rối loạn cảm xúc là trạng thái cảm xúc bị trầm trọng quá mức, người bệnh ít có khả năng kiểm soát, dẫn tới tâm trạng trầm cảm, khả năng học tập, làm việc bị suy yếu. Chứng bệnh rối loạn cảm xúc thường dễ chữa khỏi.

Khi mắc chứng rối loạn hành vi, cảm xúc cần phải được điều trị sớm. Việc điều trị cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, các chuyên gia y tế và cả cộng đồng.

2. Dấu hiệu và biểu hiện của chứng rối loạn hành vi, cảm xúc

Người mắc chứng rối loạn hành vi thường khó kiểm soát và không tuân theo nguyên tắc nào cả. Bệnh rối loạn hành vi có thể được nhận biết thông qua một số hành vi sau:

  • Người mắc bệnh cư xử hung hãn với những người và đồ vật xung quanh
  • Uống rượu, hút thuốc, làm những hành động gây hại cho bản thân
  • Người mắc bệnh thường xuyên có những hành vi tiêu cực, không tuân theo các quy định, quy tắc xã hội
  • Thường gây gổ, đánh nhau, nói dối, ăn cắp…
  • Việc hòa nhập với xã hội trở nên khó khăn

Bệnh nhân mắc chứng rối loạn cảm xúc thường sẽ có những biểu hiện và triệu chứng sau đây:

  • Người bệnh thường có cảm giác tuyệt vọng, tiêu cực
  • Luôn cảm thấy vô dụng, bất tài
  • Sức khỏe sụt giảm
  • Khó tập trung và ghi nhớ
  • Bồn chồn, đứng ngồi không yên, dễ cáu giận
  • Xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, rối loạn tiêu hóa
  • Người mắc chứng rối loạn cảm xúc sẽ thấy chán ăn, hoặc ăn quá nhiều

Người mắc chứng rối loạn cảm xúc sẽ thường bồn chồn, đứng ngồi không yên, dễ cáu giận

3. Nguyên nhân gây rối loạn hành vi, cảm xúc

Chứng rối loạn hành vi thường có rất nhiều nguyên nhân. Một số yếu tố gây ra bệnh gồm:

  • Do gen di truyền
  • Do não bị tổn thương hoặc do các chấn thương khác
  • Do các yếu tố về môi trường như bị lạm dụng, hoặc do tác động từ gia đình ( gia đình không hạnh phúc…)

Hiện nay, chứng rối loạn cảm xúc vẫn chưa xác định rõ được nguyên nhân. Nhìn chung, các chứng rối loạn cảm xúc phát sinh từ cả yếu tố di truyền và kết hợp với các yếu tố môi trường khác.

4. Tác hại của chứng rối loạn hành vi, cảm xúc

Những bệnh nhân mắc chứng rối loạn hành vi, cảm xúc trước hết sẽ gây hại cho chính sức khỏe bản thân của người bệnh. Bên cạnh đó, những bệnh nhân này có thể có những hành vi ảnh hưởng tới những người xung quanh:

  • Làm những hành động gây hại cho bản thân, ảnh hưởng tới sức khỏe
  • Có những hành động phá phách, hung hãn gây ảnh hưởng tới những người xung quanh
  • Khó thích nghi với xã hội, cô lập mình
  • Hay gây gổ, không thực hiện theo nguyên tắc xã hội
  • Hay cáu gắt, tức giận
  • Không tự chủ được hành vi và cảm xúc cá nhân

Người mắc chứng rối loạn hành vi, cảm xúc hay gây gổ, không thực hiện theo nguyên tắc xã hội

5. Điều trị chứng rối loạn hành vi, cảm xúc

Bệnh nhân mắc chứng rối loạn hành vi, cảm xúc cần được đưa đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được các bác sĩ tư vấn và đưa ra các bài kiểm tra tâm lý để xác định được nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn.

Tùy thuộc vào nguyên nhân mà các chuyên gia y tế sẽ đưa ra các phương án điều trị chứng rối loạn hành vi khác nhau. Các bác sĩ có thể sử dụng các phương pháp trị liệu về hành vi hoặc trò chuyện để giúp người bệnh bày tỏ và kiểm soát cảm xúc đúng mực.

  • Phương pháp trị liệu hành vi tâm lý: giúp bệnh nhân nhận thức rõ ảnh hưởng của cảm xúc và suy nghĩ lên hành vi. Suốt quá trình điều trị bệnh, bệnh nhân sẽ học được cách kiểm soát và thay đổi suy nghĩ tiêu cực đến hành vi của mình.
  • Trong trường hợp rối loạn tâm thần khác nhau, các bác sĩ sẽ kê đơn thuốc để điều trị các bệnh này

Hiện nay, chứng rối loạn hành vi, cảm xúc ngày càng gia tăng. Để điều trị hiệu quả cần có sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó, gia đình là nhân tố đóng vai trò vô cùng quan trọng, cũng với nhà trường có các phương pháp giáo dục hợp lý. Bên cạnh đó, khi các đối tượng mắc chứng rối loạn cần phải được đến ngay các cơ sở uy tín để có phương pháp chữa trị kịp thời.

Theo Vinmec

Đại dịch Covid-19: Gánh nặng của tâm trí


Để đối phó với đại dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19, các biện pháp hạn chế mặc dù rất cần thiết như cách ly, đóng cửa trường học… đã dẫn đến xáo trộn trong tâm lý của nhiều người: bạo lực gia đình, lạm dụng chất kích thích, đặc biệt là rượu, gia tăng ở nhiều nước.

Sau nhiều tháng cãi lộn và thường xuyên xung khắc với nhau tại nhà do Singapore áp dụng lệnh phong tỏa, vợ chồng Jack and Rose* (tên nhân vật đã được thay đổi) đã tính đến chuyện ly hôn do “những tổn thương sâu sắc” đến đời sống hôn nhân. 

John Shepherd Lim, giám đốc phúc lợi của Trung tâm tư vấn Singapore nói: “Người vợ, vốn là người nội trợ chính trong gia đình, đã rất bất mãn và mệt mỏi khi chồng không giúp đỡ việc nhà mặc dù giờ đây anh ở nhà thường xuyên”.

Theo chuyên gia này, đây là một tình huống điển hình mà rất nhiều gia đình gặp phải trong thời gian phong tỏa do dịch COVID-19 và “mức độ tổn thương”, “căng thẳng” trong trường hợp này là do hai người không ngừng kể tội nhau. Người vợ gọi chồng là đồ vô dụng, hờ hững, khiến anh cảm thấy tủi thân vì mình vất vả làm việc nuôi gia đình nhưng không được ghi nhận. Ngược lại, người chồng chê vợ lắm mồm và gắt gỏng, khiến chị vợ bực bội vì chồng không hiểu cảm xúc của mình.

Các nhà trị liệu và tư vấn tâm lý xác nhận với kênh Channel News Asia,Singapore rằng họ nhận thấy có sự gia tăng từ 30-40% số khách hàng là vợ chồng hoặc cá nhân cần tư vấn do gặp trục trặc trong các mối quan hệ trong 6 tháng qua, trùng với giai đoạn căng thẳng của dịch COVID-19. Bỗng dưng cuộc sống bị đảo lộn do đại dịch, nhiều người đã không thể giải thích những tâm lý phức tạp của mình. Thói quen hàng ngày của hai vợ chồng bị gián đoạn do phải làm việc ở nhà nhưng họ không kịp thích nghi, chưa xác định ranh giới phù hợp về không gian riêng, chia sẻ việc nhà, ai được dùng máy tính?…

Nhà tư vấn Martine Hill cho biết: “Họ biết mình rất mệt mỏi, rã rời nhưng không thể diễn đạt thành lời những gì mình đang trải qua… Do đó, họ thường xuyên cáu kỉnh hoặc ít kiên nhẫn hơn với những người xung quanh. Không thể nói ra được trục trặc của mình, họ còn cảm thấy mọi người như đang cố làm mình phát điên”.

Ông Lim cho rằng thiếu không gian cá nhân là yếu tố gây căng thẳng chính trong cao điểm dịch bệnh vừa qua. Trong các mối quan hệ, duy trì sự cân bằng giữa không gian riêng và chung là cần thiết. Không gian riêng cho phép mỗi người được lắng lại hoặc làm việc riêng. Đi làm có thể xem là một sự xa cách cần thiết để cả hai hạ hỏa, cải thiện tâm trạng để giải quyết xung đột một cách bình tĩnh khi về nhà. Nhưng do lệnh phong tỏa, việc phải đối diện với nhau trong thời gian dài tại nhà có xu hướng làm cho những người trong cuộc cảm thấy bực bội, giảm năng lực cảm xúc để bao dung và vui vẻ với người khác. 

Làm việc ở nhà đôi khi cũng “xóa mờ ranh giới giữa công việc và gia đình”, nảy sinh những kỳ vọng không nói ra như người xong việc muộn muốn người xong việc sớm hơn nấu cơm và bực bội khi người kia không làm như vậy.

Nhiều yếu tố khác như áp lực tài chính, giảm việc, nghỉ việc không lương hoặc mất việc… cũng tạo ra bất đồng giữa các cặp vợ chồng. Người bị mất việc cảm thấy áp lực vì không biết khi nào có việc làm, kiếm được tiền trang trải cuộc sống gia đình trở lại. Thậm chí các cặp đôi có thể cãi nhau xem công việc của ai quan trọng hơn, kiếm được nhiều tiền hơn.

Nhiều luật sư ở Singapore xác nhận họ nhận được nhiều yêu cầu về ly dị qua email, điện thoại hơn kể từ khi Singapore áp dụng các biện pháp phong tỏa. Một số công ty luật cho biết họ thấy số vụ ly dị tăng ít nhất 20% kể từ tháng 4-2020 và nhiều cặp xác nhận lý do ly hôn là do phong tỏa.

Suy sụp tinh thần

Liệu những cú sốc về kinh tế và tâm lý do đại dịch có làm gia tăng những trường hợp tự tử không là câu hỏi được đặt ra trên tạp chí The Economist. Trung tâm Kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Mỹ thực hiện một khảo sát trong mùa hè qua với 5.400 người, ghi nhận trong 10 người lại có 1 người nghĩ nghiêm túc về tự tử trong vòng một tháng trước. Con số này gấp đôi so với khảo sát năm 2018. 

Ở nhóm người từ 18-24 tuổi, tỉ lệ này rất cao: cứ 4 người lại có 1 người có ý định tự tử. Khảo sát được CDC công bố vào tháng 8-2020 là một trong số nhiều nghiên cứu công bố gần đây cảnh báo về tác động mà đại dịch gây ra với sức khỏe tinh thần, tâm lý của con người.

Đại dịch COVID-19 đã làm nhiều người bị giảm giờ làm, mất việc, trường học bị đóng cửa, trong khi các hoạt động tôn giáo, văn hóa… có tác dụng nâng đỡ tinh thần phải ngừng tổ chức. Lệnh phong tỏa để chống dịch và các hạn chế xã hội khác đã làm trầm trọng tình cảnh cô đơn, trầm cảm của nhiều người.

Theo The Economist, vẫn còn quá sớm để khẳng định liệu xã hội chúng ta có đang ở mức báo động về sự gia tăng ý nghĩ tự sát do số liệu thống kê về tự tử được công bố ở hầu như tất cả các nước đều có độ trễ một hoặc hai năm.

Những năm gần đây, tình trạng tự tử đã giảm xuống, trừ Mỹ, một ngoại lệ đáng chú ý. Tuy nhiên, thông tin từ cảnh sát, bệnh viện, nhân viên điều tra, tòa án và các nguồn khác phải được thu thập và nghiên cứu cẩn thận, vì đáng tiếc là có một số vụ báo cáo về ý định tử tự của người thân là có chủ đích hoặc không trung thực để khi người thân của họ qua đời, nhà chức trách có xu hướng coi đây là chết tự nhiên. 

Mặc dù bức tranh toàn cảnh về tự tử liên quan đến COVID-19 vẫn chưa xuất hiện, các chuyên gia có lý do để lo sợ điều tồi tệ nhất.

Trao đổi với Tuổi Trẻ cuối tuần ngày 10-10, sư cô Thích Tâm Trí, chùa Đại Ân HONJO ở tỉnh Saitama – một trong 10 ngôi chùa, đạo tràng Việt Nam ở Nhật – cho biết ở thời điểm hiện tại, trong số 40 lao động Việt Nam gặp khó khăn phải tá túc tại chùa, có một người từng tự tử 2 lần bất thành và một thai phụ từng tự tử một lần. 

Cả hai đều là những lao động Việt Nam bị mất việc dài hạn ở Nhật, gặp áp lực nặng nề về cơm áo, gạo tiền trong khi không có chỗ dựa tinh thần từ người thân, bạn bè. Rất mừng là việc được an cư tại chùa đã giúp họ phần nào bình tâm trở lại.

Tại Mỹ, số cuộc gọi đến đường dây nóng về tự tử đang tăng lên; ở một số nơi, tỉ lệ tăng là gấp 8 lần. Talkspace, một công ty ở New York chuyên trị liệu tâm lý trực tuyến, cho biết số cuộc tư vấn qua video của họ tăng 250% trong đại dịch. Số bệnh nhân bị lo âu trầm trọng tăng 40%, một con số nhảy vọt chưa từng có trong 9 năm kinh doanh của Talkspace.

Tại Nhật Bản, thống kê ban đầu của Bộ Y tế về các vụ tự tử công bố vào tháng 8-2020 đưa ra con số 1.849, tăng 15,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Ở Nepal, lực lượng cảnh sát quốc gia Nepal cho biết các vụ tự tử trong đại dịch dường như đã tăng thêm 1/5. 

Trong khi tại Thái Lan, Varoth Chotpitayasunondh, người phát ngôn của Bộ Y tế, lo ngại tỉ lệ 9/100.000 người Thái sẽ tự tử trong năm nay. Bộ này đang thiết lập hệ thống báo cáo mới để có được con số chính thức nhanh hơn vì đây là vấn đề cứu người, “chắc chắn không thể chậm trễ”.

Một bài viết trên tạp chí y khoa Lancetngày 8-10 khẳng định: Trong hoàn cảnh bình thường, sức khỏe tâm thần tốt có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động của xã hội. Khi có đại dịch, yếu tố tâm lý sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta phản ứng và phục hồi. Trước dịch COVID-19, các vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần chiếm khoảng 13% gánh nặng bệnh tật toàn cầu. 

Tuy nhiên, thế giới đã không được chuẩn bị để đối phó với tác động sức khỏe tâm thần của đại dịch này. Nhiều năm không đầu tư vào sức khỏe tâm thần, đặc biệt là ở các nước thu nhập thấp và thu nhập trung bình, đã khiến chúng ta dễ bị tổn thương. Khả năng ứng phó và phục hồi của chúng ta với đại dịch COVID-19 dựa vào vắcxin và phương pháp điều trị hiệu quả. Để giảm thiểu tác động của đại dịch, chúng ta phải giải quyết các nhu cầu về sức khỏe tâm thần, đặc biệt là tập trung giúp những người dễ bị tổn thương nhất.

Để giảm bớt căng thẳng trong gia đình, các nhà tư vấn khuyên các cặp vợ chồng nói chuyện để thống nhất về việc dành cho nhau thời gian và không gian riêng. Chẳng hạn, mỗi người sẽ làm việc riêng trong hai phòng khác nhau; vào một số thời điểm trong ngày, họ được ở một mình và tham gia sinh hoạt chung trong những giờ còn lại. Các cặp đôi nên nói chuyện với nhau trong hòa bình và cần đặt mình vào những khó khăn của người kia, để tạo điều kiện giải quyết xung đột. 

Ngoài ra, cần học thêm về cách quản lý lo lắng để không tạo thêm căng thẳng cho gia đình. Mặc dù COVID-19 có thể gây ra nhiều khó khăn cho chúng ta nhưng nếu mâu thuẫn được xử lý tốt, tình cảm sẽ còn nồng ấm, mạnh mẽ hơn sau đó.

HỒNG VÂN / TTCT

Vì sao thuyết âm mưu lại cuốn hút? Tâm lý học giải thích


Dù rất hoang đường nhưng thuyết âm mưu (conspiracy theory) vẫn thu hút một lượng người cuồng tín và lan truyền đông đảo. Lý do đằng sau sự hấp dẫn của chúng là gì?

Vì sao thuyết âm mưu lại cuốn hút? Tâm lý học giải thích

Tóm tắt

Nhiều mánh khoé tâm lý được áp dụng để khiến thuyết âm mưu nghe “như thật”.

Một số tính cách đặc thù khiến người ta dễ tin vào thuyết âm mưu hơn.

Xuất hiện đồng thời với các sự kiện khủng hoảng hoặc phức tạp càng dễ đẩy niềm tin lên cao.

Thuyết âm mưu 2

Thuyết âm mưu (conspiracy theory) không phải một hiện tượng mới. Từ những năm 1960s tại Mỹ đã tồn tại thuyết âm mưu rằng việc thêm fluoride vào nước sinh hoạt là một nỗ lực của thế lực ngầm nằm gây hại cho sức khoẻ dân thường. Mặc dù cách làm này đã được chứng minh là bảo vệ răng lợi và hoàn toàn không gây tổn hại tới sức khoẻ, lời đồn vẫn lưu truyền đến ngày nay.

Tuy nhiên, với sự phát triển của mạng xã hội, sự phân cực trong cộng đồng, cùng bối cảnh nhiều biến động, ngày càng nhiều thuyết âm mưu bị lan truyền. Đặc biệt với COVID-19, thuyết âm mưu được coi như một mối nguy cho y tế công cộng.

Không khó để kể tên các thuyết âm mưu điên rồ (và hài hước):

  • Công nghệ 5G gây ra COVID-19.
  • Birds Aren’t Real: CIA đã thủ tiêu toàn bộ loài chim, rồi thả 12 tỷ con chim robot để giám sát loài người.
  • Flat-Earthers, những người vẫn tin Trái Đất phẳng.
  • Nón Sơn là một tổ chức điệp viên.
  • Nobita thật ra chỉ giả vờ ngu dốt và vụng về.

Tất cả đều nghe rất hoang đường, vậy tại sao vẫn có hàng triệu người cuồng tín và chung tay lan truyền chúng?

Tư duy nào nào đằng sau thuyết âm mưu? 

Theo nhà tâm lý học Ted Goertzel, thuyết âm mưu là những giả thiết và lý giải tin rằng có những tổ chức bí mật đang hoạt động để đạt được những mục tiêu độc ác. Niềm tin vào thuyết âm mưu thường phi lý. Thay vì dựa trên bằng chứng và logic, thuyết âm mưu dựa trên định kiến, nỗi sợ hoặc sự hoang tưởng.

Được gia tăng bởi lối “lý luận lòng vòng” (circular reasoning) — một ngụy biện logic trong đó luận đề được dùng để chứng minh cho kết luận, rồi từ kết luận suy ra luận đề, chứ không đưa ra được chứng cứ độc lập nào khác. Chẳng hạn, những người tin vào thuyết âm mưu cho rằng những bằng chứng chống lại nó chính là sự che đậy của các tổ chức bí mật, và họ xem đó là một bằng chứng bảo vệ thuyết âm mưu của mình.

Niềm tin vào thuyết âm mưu còn được các nhà tâm lý học liên kết với hiện tượng tâm lý apophenia (còn gọi là “illusory pattern perception”) — xu hướng liên kết những thứ không liên quan và suy ra một ý nghĩa chung. Theo đó, những sự kiện hoàn toàn ngẫu nhiên được những người cuồng tín xâu chuỗi thành một câu chuyện âm mưu như thật.Nhiều thuyết âm mưu là do xâu chuỗi những thông tin không liên quan mà thành.

Một số người dễ rơi vào thuyết âm mưu là do tính cách

Theo nghiên cứu của Phó giáo sư Anthony Lantian tại Đại học Paris Nanterre và nghiên cứu từ một đội ngũ từ Atlanta (Mỹ), một số đặc điểm tính cách của những người dễ tin vào thuyết âm mưu là:

  • Bất hợp tác (low-agreeability) và thiếu niềm tin (distrust): Thường đa nghi, thiếu lòng hảo tâm và sự hợp tác.
  • Chủ nghĩa xảo quyệt (Machiavellianism): kiểu người chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân, đến mức sẵn sàng thao túng và lừa lọc người khác để đạt được mục đích. 
  • Người tìm kiếm “điều phi nghĩa” (injustice collector): Nông nổi và quá tự tin, luôn nóng lòng chỉ ra sự ngây thơ ở tất cả mọi người, trừ chính mình.
  • Kẻ cô lập: Cô đơn và lo âu, buồn rầu và tách biệt với mọi người. 

Nghiên cứu của Lantian cũng chỉ ra, nếu xét đến quy trình tư duy, những người tin vào thuyết âm mưu thường có khả năng tư duy phân tích thấp và hay quy kết có chủ đích, dù sự việc không thể tồn tại.Một số đặc điểm tính cách khiến người ta dễ tin vào thuyết âm mưu hơn.

Thuyết âm mưu khiến họ cảm thấy mình đặc biệt 

Theo tiến sĩ Jan-Willem van Prooijen, lòng tự tôn thiếu ổn định là một đặc điểm tính cách thường thấy ở người tin vào thuyết âm mưu. Tính ái kỷ cũng có thể gia tăng các suy nghĩ hoang tưởng vào thuyết âm mưu. 

Với những cốt truyện liên quan đến thông tin mật, người bình thường khó tiếp cận được, những người tin vào thuyết âm mưu cảm thấy họ đặc biệt, có hiểu biết về các vấn đề chính trị, xã hội hơn so với cộng đồng.Thuyết âm mưu cho một số người cảm giác đặc biệt và ưu thế hơn người khác.

Để bù đắp cảm giác bị xã hội cô lập

Niềm tin vào thuyết âm mưu có liên kết với các cảm giác bị xã hội cô lập, như cảm giác cô độc, bất lực, không có hoặc xa rời các chuẩn mực xã hội, theo nhóm các nhà nghiên cứu từ hai trường đại học Swinburne và Deakin, Úc. Việc tìm đến thuyết âm mưu giúp những người bất hợp tác và bị xã hội cô lập tìm cảm giác thuộc về một cộng đồng khác, đi ngược với cộng đồng mà họ bị từ chối.

Tình trạng khủng hoảng và mạng xã hội càng đẩy cao niềm tin vô lý

Bản thân thuyết âm mưu là một mánh khóe thao túng, thường xuất hiện cùng lúc với các sự kiện khủng hoảng như thiên tai, hoặc các diễn biến chính trị-xã hội phức tạp. Bởi những cảm xúc tiêu cực như sợ hãi, hoang mang, bất lực sẽ thúc đẩy con người tìm cách để giải nghĩa hoàn cảnh, làm gia tăng khả năng tiếp nhận những thuyết âm mưu.

Đặc biệt, thiết kế của thuật toán đề xuất (recommended algorithms) trên mạng xã hội và truyền thông khiến những người tin vào thuyết âm mưu bị rơi vào một “buồng vang thông tin” (echo chamber). Nguồn tin của họ, như newsfeed trên Facebook và đề xuất của trình duyệt, luôn lặp lại và không bị phản bác. Điều này càng gia tăng niềm tin của họ và tạo nên các cộng đồng cuồng tín.Các thuật toán đề xuất khiến nhiều người rơi vào “buồng vang thông tin” và không thể tiếp cận thông tin nào ngoài các thuyết âm mưu đã biết.

Kết

Thuyết âm mưu sẽ không biến mất, một khi chúng còn đem lại cho các tín đồ cảm giác đặc biệt và sự an toàn giả tạo. 

Mệt mỏi trước những thuyết âm mưu hoang đường? Bạn có thể tự bảo vệ mình bằng cách hạn chế độ tiếp cậncủa những thông tin đó thay vì cố sức tranh cãi với các tín đồ thuyết âm mưu. Theo tiến sĩ John Grohol, việc thay đổi họ gần như vô vọng, vì họ không dựa trên logic hoặc bằng chứng có căn cứ, mà thuần túy dựa trên niềm tin mù quáng.

Trà Nhữ / Theo Vietcetera

Trầm cảm ảnh hưởng lên não bộ như thế nào?


Theo ước tính, trong năm 2016, 16,2 triệu người Hoa Kỳ trưởng thành đã có ít nhất một giai đoạn trầm cảm dạng điển hình. It’s estimated that 16.2 …

Trầm cảm ảnh hưởng lên não bộ như thế nào?

Nên làm gì khi bạn mất khả năng cảm nhận niềm vui (Anhedonia)


Theo triết gia Hy Lạp cổ đại Epicurus, niềm vui là sự khởi đầu và kết thúc của một cuộc sống hạnh phúc. 

Nhưng sẽ ra sao nếu cuộc đời bạn không thể cảm thấy vui sướng, hài lòng vì bất kỳ điều gì? Không còn niềm hân hoan khi nhận được nụ hôn đầu; không còn sự thỏa mãn khi giải xong một câu đố, cũng chẳng còn cảm thấy “nổi da gà” khi nghe một bản nhạc yêu thích?

Theo quan điểm của Epicurus, đó chắc chắn là một cuộc sống không hạnh phúc. Chỉ có điều, ít ai ngờ rằng trên đời này có tồn tại một tình trạng như vậy. Nó được gọi là anhedonia–mất khả năng cảm nhận niềm vui.

Về cơ bản, những người mắc anhedonia có thể xem như đã chai sạn về mặt cảm xúc. Họ không còn cảm thấy bất kỳ động lực nào để kết bạn, khó khăn trong giao tiếp xã hội, thậm chí trở nên hoàn toàn tách biệt.

Anhedonia được xem như một triệu chứng nhiều hơn là một căn bệnh. Những ảnh hưởng của tình trạng này khiến người ta bị suy nhược và bị ám ảnh bởi những ý nghĩ rằng họ không có khả năng sống hạnh phúc.

Niềm vui là gì?

Rút lại thành những nguyên tắc cơ bản nhất, niềm vui là thứ cảm giác chúng ta phải truy cầu, sai sử chúng ta đi tìm kiếm sự kích thích.

Khả năng não bộ cảm thấy được niềm vui – đóng vai trò như một cơ chế kiểm soát quan trọng gắn kết chúng ta với mọi người để tạo thành các nhóm xã hội. Nó cũng giúp chúng ta củng cố một số hành vi tốt, mang lại lợi thế.

Joshua Garfield từ Trung tâm nghiên cứu rượu và ma túy Turning Point (Úc) giải thích, chúng ta có thể chia niềm vui thành hai loại: Dự đoán (anticipatory) và sử dụng (consummatory). Tương ứng với Muốn và Thích (đọc thêm ở đây)

Ông nói: “Nếu bạn được mời ăn tối cùng với một người bạn, và họ nói rằng họ đang nấu một trong những món ăn yêu thích của bạn. Khi nghe tin này bạn trải nghiệm một niềm vui trước (Dự đoán/Muốn), và giả sử họ thực sự nấu món đó ngon -niềm vui “sử dụng” (Thích) xuất hiện ngay lập tức trong suốt quá trình ăn và sau khi bạn ăn xong”.

Cả hai yếu tố này đóng vai trò trong khả năng học hỏi của chúng ta: “Nếu bạn cảm thấy vui trước khi trải nghiệm thứ gì (dự đoán), nhưng sau đó điều bạn mong đợi lại là một nỗi thất vọng, nó khiến bạn biết đây là một “lỗi dự đoán”. Và nó sẽ giúp bạn đánh giá lại giá trị của mục tiêu một cách chính xác hơn”, Garfield nói.

Nhưng trong anhedonia, cả Muốn và Thích đều bị dập tắt. Nếu không có “muốn,” bạn có thể chẳng mong đợi điều gì hoặc là bạn mất hết động lực. Nếu như bạn không thể nhìn thấy phần thưởng hay niềm vui ở cuối con đường vậy thì sao phải hoài công vì nó ngay từ đầu? 

Nếu không có “thích,” bạn có thể không còn thấy vui với những điều mà bạn từng yêu thích. Đó là khi một fan cuồng không thèm quan tâm đội bóng của anh ta thắng hay thua, hay người thích giao du không còn muốn gặp gỡ bạn bè của cô ta nữa. Những điều mà chúng ta bình thường vẫn yêu thích—ngay cả thức ăn hay tình dục—ta cũng trở nên dửng dưng trước nó.

Mặc dù những nghiên cứu của Garfield tập trung chủ yếu vào cá nhân nhưng ông cũng chỉ ra rằng: Niềm vui là một động lực xã hội mạnh mẽ. Vì vậy, những người không có khả năng cảm thấy niềm vui chẳng cảm nhận được gì ngoài một cảm giác hư vô hoặc một sự tồn tại trống rỗng. Đây là một trở ngại lớn trong việc học hỏi và tương tác với xã hội.

Nguyên nhân gây ra anhedonia?

Kinh nghiệm của chúng ta về niềm vui là sản phẩm hóa học thần kinh bên trong các mạch não được gọi là hạch nền cortico-ventral. Một phần của não được gọi là vỏ não trung gian trước trán (mPFC) đóng vai trò như một cảnh sát giao thông điều khiển cảm giác vui vẻ. Nó cho phép mức dopamine (hormone tạo ra niềm vui) tăng lên trong một phần của hạch nền và gợi cảm giác dễ chịu.

Nghiên cứu được xuất bản bởi các nhà thần kinh học của Đại học Stanford năm 2016 đã ủng hộ các nghi ngờ trước đây. Họ cho rằng những hoạt động yếu ớt trong mPFC có thể là nguyên nhân gây ra anhedonia.

Nguyên nhân cơ bản của hoạt động yếu này có thể là do di truyền. Căng thẳng hoặc chấn thương trong thời gian đầu đời, hoặc một số trường hợp lạm dụng chất gây nghiện cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng của não.

Đây là bệnh hay triệu chứng?

Garfield giải thích: “Anhedonia thường được coi là một triệu chứng, chứ không phải là một tình trạng xuất hiện lúc ban đầu”.

Nói cách khác, anhedonia là thứ mà các nhà tâm lý học tìm ra để góp phần chẩn đoán các bệnh khác, như trầm cảm, tâm thần phân liệt, một số bệnh về rối loạn nhân cách, rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) và rối loạn sử dụng chất gây nghiện.

Một nghiên cứu trên Tạp chí Tâm thần học Hoa Kỳ phát hiện thấy 95 phần trăm những người bị trầm cảm nặng cho biết họ bị mất hứng thú hoặc niềm vui—niềm vui bốc hơi khỏi cuộc sống của họ.

Điều trị rối loạn khác với điều trị bệnh. Ví dụ như với chứng trầm cảm, bác sĩ có thể đề nghị trị liệu cá nhân, thuốc men hoặc trong trường hợp trầm trọng thì điều trị bằng điện động mạch.

Tuy nhiên, điều trị anhedonia không hề đơn giản. Theo Garfield, di truyền học hoặc cuộc sống căng thẳng ở giai đoạn đầu đời có thể khiến một số người dễ mắc phải các tình trạng liên quan đến anhedonia.

Garfield nói: “Có bằng chứng hợp lý cho thấy, sử dụng chất gây nghiện thường xuyên có khả năng gây ra anhedonia”. Mặc dù giả định này có thể dẫn đến một vòng hồi tiếp, ví dụ như vì không cảm thấy niềm vui nên họ mới tìm đến các chất gây nghiện và chất gây nghiện lại tác động gây ra anhedonia. Theo Garfield, bằng chứng này quá lộn xộn và không nhất quán.

Cũng có một giả thuyết cho rằng anhedonia là những dấu hiệu xuất hiện sớm của việc phát triển chứng nghiện. Nhưng tôi không thấy bằng chứng nào cho thấy những người mắc chứng anhedonia có khả năng phát triển các vấn đề về sử dụng chất gây nghiện. Nhiều bằng chứng lại chứng tỏ điều ngược lại”, Garfield cho biết thêm. 

Vậy nếu bạn đã cố gắng mà không sao thấy vui nổi, thì bạn nên làm gì? Anhedonia rất khó để đánh bại, nhưng vẫn có cách. Dưới đây là 2 cách theo khoa học giúp xua đi màn sương mù.

Bài tập #1: Hãy làm những việc mà bạn bình thường vẫn yêu thích và coi trọng, ngay cả khi bạn không có tâm trạng để làm.

Cách để thoát khỏi anhedonia là từ cửa sau. Đừng chờ cho tới khi bạn cảm thấy vui hơn rồi mới làm những việc bạn thích. Thay vì vậy, hãy làm những việc bạn từng thích, ngay cả khi bạn cảm thấy không muốn.    

Chuyện này thật khó. Bạn rất dễ bị kéo xuống vòng xoáy của sự ù lì không hoạt động và lãnh đạm, vì bộ não và cơ thể của bạn không được kích thích. Để thoát khỏi cái vòng luẩn quẩn này đòi hỏi rất nhiều cố gắng, đặc biệt là nếu bạn từng bị trầm cảm trong một thời gian dài.

May mắn thay, làm những việc bạn từng yêu thích có thể được thực hiện trên nhiều mức độ. Hãy bắt đầu từ một việc nhỏ chỉ mất khoảng 2 phút, như phát bản nhạc yêu thích của bạn, xoa bụng chú chó của bạn, hay tự làm socola nóng với kẹo dẻo và kem sữa. Dù việc đó là gì thì cũng không cần phải to tát. Nó có thể giống như một giọt nước, nhưng từng giọt từng giọt, bạn có thể đổ đầy một đại dương.   

Tiếp theo, nếu bạn không thể tiếp xúc với mọi người, điều đó không sao cả. Cứ tiếp tục làm những việc bạn thích: làm bánh hạnh nhân, tập yoga trực tuyến, tập guitar, hoặc xem một bộ phim hài (nhưng đừng ngồi trước màn hình quá nhiều). Mấu chốt là hãy chủ ý làm những điều bạn thích và phù hợp với các giá trị của bạn.

Cuối cùng là lên lịch cho những việc bên ngoài xã hội, ngay cả khi bạn thấy không thích. Vd: Nhận lời mời gặp gỡ bạn bè ở xe bán phomai nướng, đi leo núi…  

Các nhà tâm lý học gọi đây là Kích hoạt hành vi, và nếu câu ‘Cứ giả vờ cho đến khi thành thật’ nghe có vẻ giả tạo thì bạn đúng rồi đấy. Thoạt đầu, bạn có cảm giác việc này thật giả tạo, phù du, hoặc vô vọng, nhưng lý do mà nó có hiệu quả là nó thiết lập một vòng phản hồi tích cực. Bộ não ảnh hưởng đến hành vi của bạn, nhưng hành vi cũng tác động đến bộ não. Vì vậy cứ làm những việc bạn yêu thích, ngay cả khi bạn không cảm nhận được kết quả ngay tức khắc. Giống như Chú thỏ Velveteen, nó là giả cho đến khi thành thật.  

Lưu ý: Đừng dùng kỹ thuật này để làm việc hiệu quả, hoàn thành công việc hay thúc đẩy bản thân làm những việc mà bạn ghét. Mục tiêu duy nhất trong kích hoạt hành vi là ý nghĩa và hạnh phúc. Vì vậy đừng dùng nó để làm những công việc như giặt quần áo hay đi đến bưu điện.

Bây giờ, đây là một thách thức: điều gì xảy ra nếu bạn bị trầm cảm quá lâu đến nỗi bạn không thể nhớ nổi những việc mà bạn thích làm? Vậy hãy nhớ lại thời thơ ấuHồi ấy bạn thích làm gì? Hãy làm lại lần nữa. Nếu bạn thích đạp xe, hãy đội mũ bảo hiểm và đạp quanh khu phố nhà bạn. Thêm điểm cộng nếu bạn ăn kem sau đó. Bạn có thích vẽ? Hãy tham gia một lớp học nghệ thuật trực tuyến. 

Hãy làm những điều này ngay cả khi bạn cảm thấy như thể bạn chỉ đang trải qua những chuyển động. Cảm giác sẽ không giống như khi bạn khỏe mạnh, nhưng bạn có thể sẽ cảm thấy vui hơn là không làm gì cả. Nếu không có gì khác, việc ra khỏi nhà sẽ ngăn bạn không trượt sâu hơn nữa.

Bài học rút ra? Đừng phó mặc mọi chuyện cho may rủi. Hãy chủ động dành thời gian để thực hiện những hoạt động mà bạn yêu thích và coi trọng, ngay cả khi đến lúc mang giày vào, trọng lực thực sự mạnh xung quanh ghế sopha. Có cả triệu lý do để không đi, nhưng hãy cố hết sức đừng nghe theo chúng.

Bài tập #2: Thưởng thức những điều tốt đẹp   

Một bài tập khác để chống lại anhedonia được gọi là thưởng thức. Để thưởng thức, hãy cầm một chiếc kính lúp ẩn dụ để nhìn cốc socola nóng của bạn, chuyến leo núi, hay những đoạn riff của cây ghita của bạn. Hãy thưởng thức những niềm vui nhỏ thay vì bị phân tâm bởi điện thoại thông minh, tin tức và những ý nghĩ của bạn.  

Anhedonia bảo bạn đừng đếm xỉa đến những khoảnh khắc nhỏ bé của niềm vui, hãy coi chúng “chỉ là chuyện vặt vãnh,” hoặc nói, “Ờ, mình không thấy vui hơn, vậy thì việc đó chỉ tổ phí thời gian.” Thay vì vậy, hãy chú ý việc bạn làm bằng cả 5 giác quan, ngay cả khi bạn phải nhìn kỹ để tìm ra niềm vui. Hãy đắm mình vào mùi hương của ly cafe mới pha, nhịp điệu của bài hát mà bạn yêu thích, hay nguồn năng lượng ấm áp của chú chó nhà bạn.

Ngoài việc chú ý bằng các giác quan, hãy phóng to bất kỳ cảm giác tự hào, vui sướng nào mà bạn cảm nhận được. Nó có thể nhỏ bé hoặc thoáng qua, nhưng hãy chú ý thật kỹ và say sưa với nó để kéo dài cảm giác đó.

Và đừng chỉ dừng lại ở việc hưởng thụ giây phút đó. Bạn có thể nhớ lại những niềm vui gần đây. Mỗi buổi tối, dành thời gian để lưu ý 3 điều mà bạn yêu thích của ngày hôm đó. Hãy viết chúng ra, trong nhật kí hoặc phần ghi chú trong điện thoại. Bằng cách đó, bạn sẽ tạo được một danh sách ngày càng dài những điều—những giọt nước tạo thành đại dương—điều đó nhấn mạnh và củng cố niềm vui, lạc thú, sự làm chủ.

Tóm lại, hãy làm những việc bạn từng yêu thích, mỗi ngày (ở mức tối thiểu!), trước khi bạn cảm thấy thích việc đó. Hoà vào trải nghiệm sử dụng cả 5 giác quan của bạn, và đắm mình trong nó, ngay cả khi bạn chẳng mấy thích thú với nó.   

Nguồn: Psychology Today / Science Alert

Tham khảo : tamlyhoctoipham.com