Bình Dương là địa phương có thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước


Lộ diện top 10 tỉnh thành có thu nhập bình quân đầu người cao nhất năm 2020: Cả TP. HCM và Hà Nội đều không dẫn đầu

Trong bảng xếp hạng thu nhập bình quân đầu người năm 2020, TP. HCM đứng thứ hai với 6,537 triệu đồng/người/tháng. Hà Nội ở vị trí thứ ba với 5,981 triệu đồng/người/ tháng.
Lộ diện top 10 tỉnh thành có thu nhập bình quân đầu người cao nhất năm 2020: Cả TP. HCM và Hà Nội đều không dẫn đầu
Thành phố mới Bình Dương

Theo kết quả công bố sơ bộ của Khảo sát mức sống dân cư năm 2020 của Tổng cục Thống kê, Bình Dương là địa phương có thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước, đạt 7,019 triệu đồng/người/tháng.

TP. HCM đứng thứ hai với 6,537 triệu đồng/người/tháng. Hà Nội ở vị trí thứ ba với 5,981 triệu đồng/người/ tháng. Theo sau là các tỉnh có thu nhập trên 5 triệu đồng/người/tháng là Đồng Nai, Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ. Bà Rịa Vũng Tàu và Quảng Ninh đứng ở hai vị trí cuối cùng trong top 10, với thu nhập khoảng hơn 4,5 triệu đồng/người/tháng.

Nhìn chung, thu nhập bình quân một người một tháng chung cả nước năm 2020 theo giá hiện hành đạt khoảng 4,230 triệu đồng, giảm khoảng 2% so với năm 2019.

Lộ diện top 10 tỉnh thành có thu nhập bình quân đầu người cao nhất năm 2020: Cả TP. HCM và Hà Nội đều không dẫn đầu - Ảnh 1.

Bình quân mỗi năm trong thời kỳ 2016-2020, thu nhập bình quân đầu người một tháng chung cả nước tăng bình quân 8,1%. Thu nhập bình quân một người một tháng năm 2020 ở khu vực thành thị đạt 5,538 triệu đồng, cao gấp gần 1,6 lần khu vực nông thôn (3,480 triệu đồng).

Nhóm hộ giàu nhất (nhóm gồm 20% dân số giàu nhất – nhóm 5) có thu nhập bình quân một người một tháng tháng năm 2020 đạt 9,108 triệu đồng cao gấp hơn 8 lần so với nhóm hộ nghèo nhất (nhóm gồm 20% dân số nghèo nhất – nhóm 1), với mức thu nhập đạt 1,139 triệu đồng. 

Vùng có thu nhập bình quân đầu người cao nhất là vùng Đông Nam Bộ (6,023 triệu đồng một người một tháng), cao gấp 2,2 lần vùng có thu nhập bình quân đầu người thấp nhất là vùng Trung du và miền núi phía Bắc (2,745 triệu đồng một người một tháng).

Lộ diện top 10 tỉnh thành có thu nhập bình quân đầu người cao nhất năm 2020: Cả TP. HCM và Hà Nội đều không dẫn đầu - Ảnh 2.
Nguồn: Tính toán từ dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư

Trong tổng thu nhập năm 2020, tỷ trọng thu từ tiền lương, tiền công chiếm 55,3%, thu từ hoạt động tự làm nông, lâm nghiệp, thuỷ sản chiếm 11,2%, thu từ hoạt động tự làm phi nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 22,9%, thu khác chiếm 10,6%. Cơ cấu thu nhập qua các năm đã có sự chuyển biến theo hướng tiến bộ hơn, trong đó tỷ trọng thu từ tiền lương, tiền công ngày càng tăng, ngược lại tỷ trọng thu từ hoạt động tự làm nông, lâm nghiệp, thuỷ sản ngày càng giảm, kết quả này phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu trong việc làm.

Khảo sát mức sống dân cư năm 2020 (viết gọn là KSMS 2020) được tiến hành theo Quyết định số 1261/QĐ-TCTK ngày 19 tháng 8 năm 2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê. KSMS 2020 là cuộc điều tra chọn mẫu nhằm thu thập thông tin để tổng hợp, biên soạn các chỉ tiêu thống kê quốc gia về mức sống hộ dân cư, đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê cho các cấp, các ngành để đánh giá mức sống, tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo của dân cư theo hướng tiếp cận đa chiều. 

KSMS 2020 được tiến hành trên phạm vi 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, bao gồm 46.995 hộ đại diện cho toàn quốc, khu vực thành thị, nông thôn, 6 vùng địa lý, tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương. Riêng thông tin về chi tiêu chỉ đại diện đến cấp toàn quốc và 6 vùng địa lý. Các thông tin được thu thập trong KSMS 2020 gồm: thu nhập, chi tiêu, nhân khẩu học, giáo dục, y tế, việc làm, đồ dùng lâu bền, nhà ở, điện, nước, điều kiện vệ sinh, tham gia các chương trình trợ giúp của hộ dân cư và các thành viên trong hộ và một số đặc điểm của xã.

Thái Quỳnh / Theo Nhịp sống kinh tế

Vì sao Bình Dương được vinh danh thành phố thông minh tiêu biểu?


Lần thứ hai liên tiếp, Bình Dương được vinh danh là một trong các đô thị có chiến lược phát triển thành phố thông minh tiêu biểu thế giới năm 2020. Điều gì đã giúp Bình Dương đạt được thành tích này?

Vì sao Bình Dương được vinh danh thành phố thông minh tiêu biểu? - Ảnh 1.
Phối cảnh Trung tâm thương mại thế giới tại Thành phố mới Bình Dương sẽ trở thành một khu phức hợp kết nối giao thông, văn phòng, dịch vụ… – Ảnh: B.C.M.

Vừa qua, tại thành phố New York (Mỹ), Diễn đàn Cộng đồng thông minh thế giới (ICF) đã công bố danh sách 21 địa phương, khu vực được vinh danh là đô thị có chiến lược phát triển thành phố thông minh tiêu biểu của thế giới năm 2020.

Việt Nam có một đô thị được vinh danh trong danh sách này. Đáng lưu ý, đây là năm thứ hai Bình Dương được lọt vào danh sách Smart 21 (lần đầu tiên là năm 2019).

Chiến lược mới để thu hút đầu tư 

“Vùng thông minh Bình Dương” là một thuật ngữ được sử dụng thời gian gần đây, gắn với đề án xây dựng “thành phố thông minh” đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Dương thông qua. Vùng thông minh Bình Dương lấy nòng cốt là một số địa phương phát triển kinh tế xã hội mạnh của tỉnh, được quy hoạch bài bản, gồm: thành phố Thủ Dầu Một (bao gồm cả khu vực “thành phố mới”), thị xã Dĩ An, Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát.

Đề án thành phố thông minh Bình Dương được khởi động từ năm 2016, là một nội dung cụ thể để thực hiện các chương trình phát triển đột phá của tỉnh. Đề án này lấy nòng cốt là xây dựng mối tương tác giữa “ba nhà” gồm: nhà nước – nhà khoa học (trường, viện nghiên cứu) – nhà doanh nghiệp. 

Đề án phát triển của Bình Dương được sự phối hợp, hỗ trợ của thành phố kết nghĩa là Eindhoven, Hà Lan. Đồng thời, tỉnh Bình Dương cũng mở rộng hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế và các thành phố phát triển khác của thế giới như Hiệp hội Đô thị khoa học công nghệ thế giới, thành phố Daejeon (Hàn Quốc)…

Ý tưởng hình thành “thành phố thông minh Bình Dương” cũng chính là sự thể hiện khát khao vươn lên mạnh mẽ của các thế hệ lãnh đạo, chính quyền, doanh nghiệp và người dân Bình Dương. 

Đó là câu chuyện sau hơn 20 năm thu hút thành công vốn đầu tư nước ngoài (Bình Dương liên tục dẫn đầu cả nước, hiện đứng thứ ba toàn quốc, chỉ sau TP.HCM, Hà Nội), giai đoạn hiện nay Bình Dương lựa chọn thu hút vào các lĩnh vực khoa học công nghệ cao, mang lại năng suất lao động và giá trị lớn hơn. 

Đồng thời, với thế mạnh phát triển hạ tầng, quy hoạch bài bản; đề án thành phố thông minh còn tìm kiếm những giải pháp nhằm tăng cường tiện ích tốt hơn để phục vụ cho cuộc sống của người dân…

Vì sao Bình Dương được vinh danh thành phố thông minh tiêu biểu? - Ảnh 2.
Với việc quy hoạch và thu hút đầu tư bài bản, Bình Dương liên tiếp được vinh danh là đô thị có chiến lược thành phố thông minh tiêu biểu thế giới. Hình tuyến đường Mỹ Phước – Tân Vạn kết nối TP.HCM – Bình Dương – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Những dự án cụ thể 

Với việc liên tiếp được vinh danh trong danh sách thành phố thông minh tiêu biểu thế giới, đề án thành phố thông minh Bình Dương tới nay đã định hình rõ chiến lược phát triển và đã có những dự án cụ thể được khởi động.

Dự kiến vào tháng 11-2019, trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á (HORASIS) 2019 tổ chức tại Bình Dương, cơ quan chức năng sẽ chính thức công bố xây dựng Trung tâm thương mại thế giới tại thành phố mới Bình Dương (WTC BDNC). Đây là dự án tầm cỡ, được kỳ vọng sẽ mang lại sự thay đổi  đột phá cho thành phố mới – được quy hoạch là hạt nhân của “vùng thông minh Bình Dương”.

Trung tâm thương mại thế giới tại Bình Dương được quy hoạch trên khu đất rộng gần 24ha, hiện đã có sẵn mặt bằng liền kề Trung tâm hành chính tập trung tỉnh Bình Dương. Trung tâm này sẽ kết nối giao thông tuận tiện với các vùng của tỉnh Bình Dương và kết nối với TP.HCM (dự kiến nhà ga trung tâm của các tuyến buýt nhanh, metro cũng sẽ được đặt tại đây). 

Trung tâm còn bao gồm nhiều công trình phức hợp như tòa nhà văn phòng, triển lãm hội nghị, khu mua sắm, khách sạn, giải trí… 

Ngoài ra, trung tâm còn xây dựng “hạ tầng mềm” khi tạo môi trường kết nối, hình thành nên các chương trình kết nối giao thương, hợp tác giữa các nhà đầu tư, doanh nghiệp, các nhà khoa học, sinh viên…

Vừa qua, Hiệp hội Trung tâm thương mại thế giới (WTCA) đã công bố kết nạp Trung tâm thương mại thế giới tại Thành phố mới Bình Dương trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội này. Với việc là thành viên chính thức của WTCA – một tổ chức hiện có 330 thành viên đến từ 100 quốc gia, có hơn 1 triệu doanh nghiệp tham gia – Bình Dương có nhiều cơ hội để thúc đẩy sự hợp tác quốc tế, tạo cầu nối, môi trường để doanh nghiệp trong nước làm ăn với các đối tác trên toàn cầu. 

Vì sao Bình Dương được vinh danh thành phố thông minh tiêu biểu? - Ảnh 3.
Vị trí Trung tâm thương mại thế giới tại Thành phố mới Bình Dương liền kề trung tâm hành chính tỉnh, hiện đã có quỹ đất sạch – Ảnh: B.C.M.

Sôi nổi hoạt động

Với việc liên tiếp có tên trong danh sách “Smart 21” do Diễn đàn Cộng đồng thông minh thế giới (ICF) bình chọn, Bình Dương được cộng đồng quốc tế quan tâm, tìm hiểu các cơ hội đầu tư. ICF là một tổ chức quốc tế uy tín, tới nay đã có hơn 180 thành viên là các đô thị thông minh, thịnh vượng khắp thế giới. 

Dự kiến từ ngày 23 đến 26-11-2019, tại Bình Dương sẽ diễn ra Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á (HORASIS) 2019 với sự tham dự của 400 khách mời cao cấp đến từ 60 quốc gia trên thế giới, cùng hàng trăm khách mời trong nước. Diễn đàn quy tụ các doanh nhân hàng đầu thế giới với nhiều phiên họp toàn thể và hàng chục phiên đối thoại diễn ra liên tiếp. Đây là lần thứ hai Bình Dương đăng cai HORASIS, sau hội nghị năm 2018 đã để lại ấn tượng tốt với bạn bè quốc tế.

BÁ SƠN / Theo TTO

Văn Hóa Tinh Thần Của Người Mường Di Cư ở Bình Dương


Hiện nay, Bình Dương là tỉnh có 24 tộc người thiểu số sinh sống, trong đó có người Mường – một tộc người vốn có địa bàn cư trú truyền thống ở miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Trong quá trình sinh sống ở Bình Dương, theo thời gian, người Mường đã có sự thay đổi các đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội, đặc biệt là văn hóa tinh thần của họ. Chính vì vậy, trong bài viết này chúng tôi sử dụng kỹ thuật điền dã và phỏng vấn sâu để phân tích văn hóa tinh thần và những biến đổi của nó trong đời sống của người Mường ở Bình Dương.

1. Khái quát về người Mường ở Bình Dương

Người Mường là một dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ tuy nhiên vì cuộc sống khó khăn và bất ổn trong chiến lược sinh kế, họ đã di cư đến nhiều địa phương trong cả nước trong đó có tỉnh Bình Dương. Đến nay, người Mường đã trở thành thành phần dân cư đông thứ 5 trong 24 tộc người thiểu số ở Bình Dương với 350 hộ, 897 người, sau người Hoa, Khmer, Tày và Nùng1.

Họ đến Bình Dương vào các thời điểm khác nhau, phần lớn họ rời quê hương là vì cuộc sống khó khăn, số khác bị mất đất bởi xây dựng thủy điện Hòa Bình nên muốn đi tìm một vùng đất mới để thay đổi vận mệnh. Họ đến Bình Dương sớm nhất vào năm 1960 (quê Thanh Hóa). Nhóm người Mường đến định cư trước 1986 chiếm số lượng khá thấp (29 hộ) chủ yếu chủ yếu từ Thanh Hóa và tập trung ở các huyện khu vực phía bắc tỉnh Bình Dương.

Hoạt động kinh tế chủ yếu các gia đình là sản xuất nông nghiệp, cán bộ về hưu và các ngành nghề không ổn định như làm thuê. Sau năm 1986 cho đến năm 2012, người Mường có sự chuyển cư khá nhiều với 129 hộ đến sinh sống chủ yếu ở Phú Giáo, Bàu Bàng, Dầu Tiếng và một số sống ở các khu, cụm công nghiệp phía nam. Như vậy, cho đến năm 2012 cộng đồng người Mường chỉ có 158 hộ với thời gian di cư trải dài, rải rác và hoạt động trong nông nghiệp là chính, địa điểm người Mường lựa chọn định cư nhiều nhất cũng ở khu vực phía bắc tỉnh Bình Dương2.

Giai đoạn 2013 – 2017 đã Báo cáo công tác dân tộc và tình hình dân tộc của tỉnh Bình Dương năm 2017. Người Mường đã trở thành nhóm dân tộc thiểu số có số lượng đông thứ năm toàn tỉnh sau người Hoa (15266 người), Khmer (4705 người), Tày (1001 người), Nùng (941 người) (UBND tỉnh Bình Dương, 2017).

  • Bảo tàng tỉnh Bình Dương (2012), Kết quả điều tra các tộc người thiểu số ở Bình Dương, Bình Dương bắt đầu xuất hiện số lượng người Mường di cư đến khá đông với 182 hộ, chủ yếu phân bố ở các khu vực công nghiệp phía nam như Dĩ An, Thuận An (bảng 1)

Bảng 1: Quy mô và phân bố người Mường tỉnh Bình Dương năm 2017



HỘ GIA ĐÌNHSỐ NGƯỜIBình quân
STTHuyện/Thị/TP



trong gia đình
Số hộ% cơ cấuSố% cơ cấu











1Thủ Dầu Một3911.110912.22.8
2Dầu Tiếng4813.713214.72.8
3Bến Cát154.3434.82.9
4Bàu Bàng5315.19610.71.8
5Phú Giáo4914.015917.73.2
6Tân Uyên339.411813.23.6
7Bắc Tân Uyên298.3819.02.8
8Thuận An5616.012113.52.2
9Dĩ An288.0384.21.4

Tổng số3501008971002.6
Nguồn: UBND tỉnh Bình Dương, 20173.

Bảng 1 đã cho thấy người Mường phân bố rải rác khắp 9 huyện, thị xã và thành phố ở Bình Dương. Trong đó, Thuận An là nơi có người Mường di cư đến đông nhất từ 9 hộ năm 2012 lên 56 hộ năm 2017 (tăng 47 hộ), Dĩ An 3 hộ năm 2012 lên 28 hộ năm 2017 (tăng 25 hộ).

Sở dĩ người Mường chọn Thuận An và Dĩ An và các vùng đô thị ngày càng đông là vì những nơi này có thị trường việc làm mở, rất nhiều công ty, nhà máy tuyển dụng công nhân, trong khi đó những người Mường di cư đến đây lại phần lớn là thanh niên, là những lao động phổ thông. Quy mô gia đình của cộng đồng người Mường khá nhỏ, ít người, phần lớn là gia đình hạt nhân và chủ yếu trong độ tuổi lao động phù hợp với quá trình di cư, chuyển cư, chuyển nơi làm việc, đặc điểm nghề nghiệp và mục tiêu của cuộc sống.

  1. Văn hóa tinh thần của người Mường ở Bình Dương Về tín ngưỡng và tôn giáo

Người Mường tin vạn vật hữu linh, thần linh của họ ngoài tổ tiên, vua bếp, thổ công, thổ địa, thành hoàng làng còn là bất cứ thứ gì xung quanh. Họ tin vào các nhiên.thần như mây, mưa, sấm, chớp, gió, dòng sông, cây, rừng núi, đá, thần hổ hay vua trời, vua đất… (Nguyễn Thị Song Hà, 2017, tr. 39-50). Cũng theo quan niệm truyền thống, vũ trụ luận của người Mường được chia thành ba tầng bốn thế giới.

Tầng cao nhất là thế giới mường Trời, là nơi cư ngụ của vua trời và các phò tá. Tầng giữa là mường Bằng (Pưa), là thế giới của người sống. Tầng thấp nhất có hai thế giới: dưới đất và dưới nước, thế giới dưới đất có người tí hon, súc vật tí hon sống và có lối liên thông với thế giới của người sống, thế giới dưới nước là mường vua Khú. Vũ trụ “ba tầng, bốn thế giới” đã cùng thần thoại đặt ra vấn đề số kiếp của con người giữa trờiđất….

Còn vũ trụ hai bên là biểu hiện tôn giáo của các mối quan hệ xã hội đặt con người vào một hiện tượng đáng sợ vì không hiểu được “cái chết” (Trần Từ, 2012, tr. 287-465). Các nghi lễ, các bài mo trong đám tang của người Mường thế hiện tín ngưỡng đối với đất, trời và thiên nhiên.

Dẫn theo Đinh Thị Yến, Lê Thị Ngọc Anh (2020), “Sinh kế và biến đổi sinh kế của người Mường di cư ở Bình Dương”, Tạp chí Khoa học Đại học Thù Dầu Một, số 1

Trong xu thế văn hóa truyền thống đang dần biến đổi, tín ngưỡng cũng vậy. Việc thờ các vị thần tự nhiên đã và đang mờ nhạt dần ở tất cả các nhóm người Mường. Những người sống giáp núi rừng, cuộc sống còn phụ thuộc vào thiên nhiên thì sùng bái các nhiên thần vẫn còn. Tuy nhiên đối với những người Mường sống ở vùng trung tâm, không gắn bó với rừng và có đời sống kinh tế phát triển việc thờ các vị thần này đã giảm dần. Đặc biệt, đối với người Mường di cư sự biến đổi đó càng mạnh mẽ, rất nhiều thực hành tín ngưỡng đã bị lãng quên như thờ thành hoàng và các nhiên thần.

Ở Bình Dương cũng vậy, người Mường sống trong môi trường tự nhiên, môi trường xã hội khác với trên quê hương bản quán, họ không còn làm nương rẫy, đời sống kinh tế đã phát triển nên vấn đề tín ngưỡng đã biến đổi nhiều. Tuy nhiên vì chức năng quan trọng của tín ngưỡng trong đời sống tâm linh (theo lý thuyết Chức năng cấu trúc) nên các gia đình người Mường vẫn tín ngưỡng ma nhà, thờ vua bếp, thổ công, thổ địa.

Trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (ma nhà), tất cả các gia đình người Mường sống ở Bình Dương đều có ban thờ. Tổ tiên của được họ quan niệm thờ 4 đến 5 đời, có những gia đình thờ 3 đời, từ thế hệ ông bà của gia chủ trở về trước thì được gọi là tổ tiên.

Trước đây việc thờ tổ tiên được đặt trên giường thờ ở gian chính của ngôi nhà (Đặng Trọng Nghĩa, 2013, tr. 84-87), ngày nay các gia đình đã có tủ thờ/ bàn thờ tổ tiên nhưng không có hình ảnh, chỉ có lư hương được đặt ở vị trí cao nhất, trang trọng nhất trên ban thờ, bên dưới là thờ hình ảnh cha mẹ. Đối với những người mất khi còn trẻ hay những người chưa được làm lễ xả tang thì thờ ở bàn thờ riêng và thấp hơn so với bàn thờ tổ tiên. Trong việc thờ tổ tiên, người Mường thờ cả tổ tiên bên vợ nhưng không đặt chung trên cùng một bàn thờ.

Theo truyền thống, hàng năm, chỉ đến ngày tết người Mường mới làm lễ giỗ, tuy nhiên do ảnh hưởng, tiếp biến văn hóa của những người xung quanh, người Mường đã làm đám giỗ hàng năm vào ngày chôn cất người chết. Trong ngày giỗ, gia chủ sẽ mời tất cả tổ tiên của dòng họ về dự. Sự tiếp biến văn hóa này được gia chủ K4 (57 tuổi) Phú Giáo chia sẻ: “Trước đây chỉ làm giỗ một lần vào ngày đoạn tang thôi, còn về việc cúng ma nhà thì thường đến dịp tết mới làm… Ngày nay, mình sống chung với người Kinh, người ta mời mình đi ăn đám giỗ hoài mà mình không mời lại cũng không được… người Mường kiêng làm nhà, cưới hỏi vào ngày chôn cất người chết nên tôi làm để con cháu nhớ mà tránh…” (NKPV tháng 11 năm 2019).

Các vị thần trong nhà ngoài tổ tiên còn có thổ thần và vua bếp. Tất cả các gia đình người Mường ở Bình Dương đều có ban thờ thổ địa – thần đất trên phần đất của gia đình và được đặt trước sân nhà. Bàn thờ thổ thần được làm nhỏ, một mái đơn giản và sơ sài về hình thức, bên trong chỉ có bát hương, lọ hoa và vài cái li nhỏ. Người Mường quan niệm thờ thổ thần sẽ mang lại sự bình yên cho gia đình.

Bên cạnh đó, việc thờ vua bếp cũng rất được coi trọng. Trước đây, đến dịp tết người Mường làm mâm cơm cúng vua bếp – vị thần đã tìm ra lửa và giữ lửa, đem lại sự ấm no cho mọi gia đình (Nguyễn Thị Song Hà, 2017, tr. 85-86). Hiện nay, một số gia đình đã thắp nhang vào ngày rằm và mồng một hàng tháng hay những dịp cúng giỗ ma nhà.

Tôn giáo ở người Mường trên lãnh thổ tộc người khá mờ nhạt. Phật giáo đã đến với người Mường và trong các áng mo, áng xường có nhắc đến Phật, cầu Phật. Các chùa được dựa vào hang động mái đá mà thành, chùa xây còn rất ít. Chùa chưa có trụ trì, ông từ cai quản chùa do dân bầu. Việc hành lễ của người dân chỉ tập trung vào ngày tết vào rằm tháng bảy. Đạo công giáo cũng đã có mặt ở xứ Mường sau phong trào Cần Vương. Có một số nhà thờ được xây dựng trên xứ Mường nhưng con chiên phần lớn là người Kinh, người Mường số lượng con chiên không nhiều Nguyễn Thị Song Hà, 2017, tr. 34).

  • Bình Dương, những người Mường di cư ban đầu không theo tôn giáo nào nhưng sau một thời gian định cư tại Bình Dương họ đã theo Phật giáo, Công giáo.
  • Có 3 gia đình theo đạo Công giáo ở xã Định An, huyện Dầu Tiếng. Theo Phật giáo có 7 gia đình (Dầu Tiếng: 1; Bắc Tân Uyên: 4; Bến Cát: 1; Phú Giáo: 1) (Bảo tàng tỉnh Bình Dương, 2012). Con số khảo sát là như vậy nhưng trên thực tế rất nhiều gia đình người Mường đi lễ chùa đầu năm, họ cầu mong điều tốt lành trong cuộc sống.
  • Theo Malinowski, văn hóa là cái nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh vật của mình … (Khoa nhân học, 2008) cho nên việc vào đạo hay đi chùa đầu năm đều nhằm mong gia đình bình yên, làm ăn thuận lợi và con cái khỏe mạnh.(Để đảm bảo thông tin, chúng tôi đã mã hóa tên của các chủ hộ được phỏng vấn)

Như vậy, tín ngưỡng của người Mường di cư đã có nhiều thay đổi, có những gia đình luôn muốn giữ văn hóa truyền thống nhưng cũng có gia đình đã chú động hòa nhập rồi hòa tan hoàn toàn trong cộng đồng cư dân sở tại. Cuộc sống trên vùng đất mới đã xuất hiện nhu cầu tôn giáo trong một số gia đình để cầu mong những điều tốt đẹp đến với họ.

Về nghi lễ

Các nghi lễ của người Mường ở trung du, miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ rất phong phú gồm các nghi lễ vòng đời người, nghi lễ cúng đất, cúng vườn, cúng khai hạ, cúng khai sơn, cúng giải hạn, lễ vía, lễ cồng chiêng… (Nguyễn Thị Song Hà, 2017).

Các lễ tục vòng đời người của người Mường gồm các lễ khi còn nhỏ, trưởng thành, tuổi già và lúc qua đời. Trong mỗi giai đoạn có rất nhiều lễ thức nhưng hiện nay người Mường di cư, sống xen cư với các tộc người nên các nghi lễ này không còn được duy trì.

Theo truyền thống, trong giai đoạn từ lúc mới sinh cho đến trưởng thành có nhiều nghi lễ như lễ sẩy đứa bé trong nông sẩy, lễ đầy cử và đặt tên, lễ vía … Khi đứa bé mới được sinh ra, bà đỡ sẽ thực hiện lễ tục đầu tiên là lễ sẩy đứa bé trong nong sẩy. Đứa bé được đặt trong một cái nia có lót tàu lá chuối đã hơ qua lửa, bà đỡ nâng cái nia lên rồi đọc lời khẩn mong mọi điều tốt lành đến với đứa bé.

Lễ tục thứ hai là lễ đầy cử và đặt tên, lễ này diễn ra sau 7 ngày (đối với bé trai), 9 ngày (đối với bé gái), người Mường làm ba mâm cỗ: mâm cúng tổ tiên, mâm cúng vua bếp và mâm cúng vía đầy cử – cúng bà mụ. Khi đứa trẻ lên hai tuổi rưỡi đến ba tuổi, ông bà ngoại có lệ làm vía cho cháu… (Cao Sơn Hải, 2015, tr. 33-64).

Hiện nay, người Mường đã bỏ qua hoặc thay đổi một số tục lệ trong sinh nở, ở Bình Dương cũng vậy, từ lúc mang bầu cho đến sinh nở người Mường đều đến trạm y tế hoặc bệnh viên thăm khám, ăn uống đủ chất chứ không kiêng kem như trước đây. Đứa trẻ sinh ra tại bệnh viện nên không còn và cũng không làm lễ đầy cử và lễ đặt tên hay lễ vía. Có chăng khi có sản phụ sinh nở, gia đình thường lấy một cành lá, cành ớt chỉ thiên hay một đoạn cây xương rồng treo trước cổng với ý nghĩa xua đuổi vía xấu, tà ma hoặc hạn chế người lạ vào nhà.

Các gia đình cũng chọn lựa, đặt tên cho con từ khi chưa chào đời và lễ đầy cử được thay bằng lễ đầy tháng, cúng mụ. Có gia đình làm đồ chay cúng 12 bà mụ, nhưng cũng có gia đình tổ chức lớn ngoài cúng bà mụ còn mời bà con, bạn bè đến mừng cho gia đình có thêm thành viên mới. Hàng năm những đứa trẻ này được làm tiệc sinh nhật cho đến khi trưởng thành và quan niệm này tiếp tục kéo dài trong đời sống của họ.

Đối với nghi lễ hôn nhân, việc dựng vợ gả chồng trước đây là do cha mẹ xếp đặt, con cái không có quyền lựa chọn, nhất là con gái, nhưng gần đây hôn nhân là thành quả của tình yêu đôi lứa (Nguyễn Hải, 2011, tr. 212). Những cô gái chịu khó, chăm chỉ, biết thêu thùa dệt vải, thành thạo các công việc nội trợ và đối xử lễ phép với bố mẹ, anh em, họ hàng …

Hay những chàng trai có sức khỏe, cày bừa thành thạo và biết đan lát các công cụ là những gia đình, biết chăm lo cho gia đình là tiêu chuẩn chọn bạn đời (Nguyễn Thị Song Hà, 2015, tr. 116-124). Hiện nay, do điều kiện KTXH phát triển, giới trẻ có nhiều cơ hội học tập và giao lưu văn hóa nên hôn nhân do đôi trai gái quyết định. Các mối quan hệ xã hội ngày càng rộng nên hôn nhân ngoài tộc người là xu hướng phổ biến (Lương Thị Thu Hằng, 2016, tr. 97-102).

Ở Bình Dương, trừ những thế hệ trước và các cặp vợ chồng trẻ mới di cư đến thì hầu hết thế hệ thứ hai đều hôn nhân với các tộc người khác, cụ thể là người Kinh nên các nghi lễ hỏi cưới đã đơn giản hóa rất nhiều. Trước đây cưới hỏi có rất nhiều nghi thức từ chọn mối, ướm hỏi, dạm ngõ, ăn hỏi, thách cưới, lễ cưới và lễ lại mặt… Vai trò của ông mơ, mế già hay chí mờ rất quan trọng (Nguyễn Thị Song Hà, 2010, tr. 26-35, Cao Sơn Hải, 2015, tr. 86-155).

Ngày nay, dù người Mường kết hôn trong nội bộ tộc người hay kết hôn với người Kinh thì nghi lễ cưới hỏi hoàn toàn giống người Kinh, chỉ tổ chức hai lễ là lễ ăn hỏi và lễ cưới, có những gia đình chỉ tổ chức một lễ duy nhất là lễ cưới. Họ đã có sự giao lưu, tiếp biến và tự tiếp biến, tự thay đổi để hòa nhập với mọi người xung quanh. Trang phục hay các nghi thức trong cưới hỏi cũng đã thay đổi và hoàn toàn giống những người Kinh sống xung quanh.

Quan niệm của người Mường là con người có hồn vía, khi chúng bị lưu lạc thì phải mời thầy mo cúng gọi về, có như vậy cuộc sống cả măm mới bình yên, không ốm đau và làm ăn thuận lợi. Việc cúng vía của người Mường ở Bình Dương luôn được kết hợp với giải sui, giải hạn tam tai, lễ cúng kéo dài khoảng 1 – 2 giờ, tất cả các thành viên trong gia đình tham dự. Tuy nhiên chỉ có bốn gia đình trong nghiên cứu của chúng tôi thỉnh thoảng thực hiện nghi lễ này.

Đối với vấn đề làm nhà, một số chủ hộ đã mời thầy mo từ Hòa Bình, Thanh Hóa vào cúng khi về nhà mới. Những người này quan niệm rằng việc thực hiện nghi lễ này sẽ mang bình an đến cho gia đình. Một chủ hộ 35 tuổi, sống ở Thủ Dầu Một chia sẻ “… người Mường cũng vậy xây xong nhà, mời thầy mo cúng thì mới mát mẻ, gặp nhiều may mắn trong cuộc sống và trong làm ăn…” (NKPV tháng 11 năm 2019)

Trong tất cả các nghi lễ, nghi lễ tang ma được thực hiện bài bản và công phu nhất. Tang ma của người Mường bao gồm những việc chuẩn bị trước tang lễ, nghi lễ làm vía, chuẩn bị quan tài, quần áo cho người sắp chết, các công việc trước và sau khi người thân tắt thở. Khi tắt thở, những nghi lễ và các công việc chuẩn bị bước đầu: Rước thầy Mo, thầy Kèn, Chí chuốc, nghi lễ Đạp ma, nghi lễ Bao Bo áo (nhập quan), nghi lễ Mo Bao bo áo, Mo Nhập săng – thức gọi hồn ra, nghi lễ Kẹ, việc trình bày đồ lễ và đồ vật trên quan tài và bàn thờ người chết (Bùi Huy Vọng, 2010, tr. 132-195). Tang lễ truyền thống của người Mường thực hiện trong thời gian dài hay ngắn là phụ thuộc vào vị thế xã hội và điều kiện kinh tế của gia đình. Trước năm 1945, tang lễ dành cho lang lớn nhất kéo dài đến 12 đêm mo (Trần Từ, 2012, tr. 374). Ngày nay, tang lễ của người Mường ở miền núi phía Bắc nước ta chỉ kéo dài trong hai ngày, có những gia đình chỉ có một ngày.

Dù thời gian như thế nào thì vai trò của ông mo, bố mo rất quan trọng. Có rất nhiều bài mo khác nhau được thực hiện trong tang lễ, từ lễ đạp ma cho đến lễ đoạn tang, bố mo phải mo các bài khác nhau (Cao Sơn Hải, 2015, tr. 213-288). Đối với người Mường ở Bình Dương, khi có người thân mất, các nghi lễ được thực hiện giống như người Kinh.

Sau khi chôn cất, thầy mo sắp xếp được thời gian và chọn được ngày tốt sẽ làm lễ theo nghi thức tang ma của người Mường. Gia đình chuẩn bị tất cả lễ vật dâng cúng cho ma tại nơi chôn cất để mời ma về với gia đình. Theo bà M (75 tuổi, Phú Giáo): “Khi ông (chồng của bà) mất,… , mình mời thì họ chưa vào được nên cứ làm như người Kinh rồi đưa đi chôn. Sau khi ông mo vào thì làm vật cúng gồm có thịt, gà, xôi, rượu đưa ra mộ cúng sau đó tất cả mọi người trong gia đình đội khăn tang trắng dài khoảng 10, 20 mét đi từ mộ về nhà để rước ma về thờ cúng. Ông mo thì vừa đi vừa hát mo…Lúc đó cũng gần cuối năm nên làm lễ đoạn tang luôn” (NKPV tháng 11 năm 2019).

Một gia chủ khác ở Phú Giáo cũng thực hiện nghi thực tang ma như vậy khi người thân qua đời. Dù sống rải rác, nhưng nghi thức tang ma của người Mường vẫn mong muốn được thực hiện như trên chính quê hương của họ. Cách tính ngày để tiến hành các nghi lễ là dựa vào ngày chôn cất chứ không dựa vào ngày chết.

Lễ mãn tang được thực hiện sau 100 ngày kể từ ngày chôn, tuy nhiên có những gia đình có người mất trước tết chưa đủ 100 ngày cũng làm lễ đoạn tang. Đặc biệt nếu có người mất vào ngày 30 tết sẽ chôn cất trong ngày và hủy tang để con cháu sang năm mới không phải kiêng kỵ, để tang mà thoái mái đi làm ăn xa. Người Mường không tổ chức lễ giỗ hàng năm giống người Kinh, họ sẽ cúng tổ tiên vào dịp tết. Mặc dù vậy, trong gần chục năm trở lại đây, người Mường ở Bình Dương đã tổ chức lễ giỗ hàng năm vào ngày chôn cất.

Chủ hộ sinh năm 1962 ở Phú Giáo nói “…Chúng tôi làm như vậy để con nhớ và tránh làm đám cưới, hỏi hay chôn cất vào ngày giỗ của ông bà, tránh trùng tang…” (NKPH tháng 1năm 2019). Tuy vậy, cũng có rất nhiều gia đình bị ảnh hưởng bởi tộc người xung quanh, họ không thể hoặc không muốn giữ gìn truyền thống văn hóa nên đã làm lễ mãn tang, lễ giỗ giống người Kinh.

Cùng với nghi lễ vòng đời người là một số lễ hội truyền thống như: lễ hội xuống đồng (khai hạ), hội sắc bùa, hội đánh cá bến lấp, lễ rửa lá lúa, lễ cơm mới, lễ hội đình chùa….Ở Bình Dương người Mường quá ít lại sống rải rác trên khắp huyện, thị, thành phố nên các nghi lễ dường như không còn.

Theo khảo sát của Bảo tàng tỉnh Bình Dương có 9/158 gia đình tổ chức các lễ như lễ hội xuống đồng, lễ cầu mưa vào tháng tư âm lịch, lễ rửa lá lúa vào tháng 7 và tháng 8 âm lịch. Tuy nhiên, qua quá trình điền dã và phỏng vấn, chỉ có 3 gia đình trả lời còn tổ chức một số lễ như lễ cúng nhà mới, lễ khai sơn, cúng vía còn các lễ hội khác đến năm 2018 đã không còn.

Như vậy, sống trên vùng đất có điều kiện tự nhiên và xã hội hoàn toàn khác trên lãnh thổ tộc người truyền thống, nhiều nghi lễ đã không còn được thực hiện. Nhưng trong rất nhiều nghi lễ truyền thống, một số gia đình vẫn ý thức được việc bảo tồn văn hóa tộc người qua nghi lễ. Việc thực hiện các nghi lễ của người Mường ở Bình Dương đều mang nghĩa tâm linh sâu sắc, mang lại cảm giác bình an trong cuộc sống cho người Mường ở đây.

Về ngôn ngữ

Tiếng nói của người Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường của ngữ hệ Nam Á. Ngôn ngữ là một trong những tiêu chí quan trong để xác định một tộc người. Tuy nhiên, trong bối cảnh sống xen cư, ảnh hưởng ngôn ngữ của các tộc người xung quanh đã giảm dần tần suất sử dụng tiếng mẹ đẻ của tộc người. Đối với người Mường ở Bình Dương, việc sử dụng ngôn ngữ tộc người trong giao tiếp hàng ngày chỉ diễn ra đối với những thế hệ người Mường đầu tiên sống trên đất Bình Dương.

Theo kết quả khảo sát của Bảo tàng tỉnh Bình Dương năm 2012, có 109/158 hộ sử dụng ngôn ngữ tộc người Mường. Trong số hộ này, nếu khi giao tiếp với bà con ở quê thì nói tiếng Mường là chuyện đương nhiên, nhưng khi giao tiếp với con, cháu thì rất ít hộ thực hiện. Mặc dù, bố mẹ là người Mường nhưng các bạn trẻ đi học rồi sử dụng tiếng phổ thông.

Ở nhà, các em cũng không được cha mẹ dạy ngôn ngữ tộc người nên cũng không biết sử dụng. Thậm chí, có một số người cảm thấy xấu hổ, thấy ngại vì nói tiếng dân tộc nên muốn cả nhà không được sử dụng tiếng nói của tộc người. Những gia đình này cùng với các gia đình có chồng hoặc vợ là người ngoài tộc người thì việc sử dụng, truyền dạy cho các con và bảo tồn ngôn ngữ tộc người là một điều khó thực hiện được.

3. Kết luận

Người Mường đến Bình Dương vào các thời điểm khác nhau và họ định cư trên tất cả các huyện, thị, thành phố của tỉnh. Do sống rải rác và xen cư với người Kinh nên người Mường không tạo thành làng bản, xóm, mường. Chính vì vậy, rất khó để bảo tồn và phát huy được các đặc điểm văn hóa nói chung và văn hóa tinh thần của tộc người nói riêng. Mặc dù có một số gia đình chủ động tiếp nhận văn hóa của những người xung quanh để hòa nhập rồi hòa tan trong nền văn hóa đó nên đời sống văn hóa tinh thần của họ không còn được biểu hiện.

Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều gia đình có tinh thần bảo tồn, đã truyền dạy các đặc trưng văn hóa cho con cháu thông qua tín ngưỡng, nghi lễ và cuộc sống hàng ngày. Từ đó, các đặc trưng văn hóa trong tín ngưỡng, trong các nghi lễ và việc sử dụng ngôn ngữ vẫn còn được duy trì. Điều này đã góp phần làm cho văn hóa của tỉnh Bình Dương thêm đa dạng và phong phú trong nền văn hóa đa tộc người.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Thị Song Hà (2017), Văn hóa tinh thần của người Mường, Nxb Sân khấu, Hà Nội.
  1. Cao Thanh Hải (2011), Những bài ca đám cưới người Mường Thanh Hóa, Nxb Lao động, Hà Nội.
  1. Bảo tàng tỉnh Bình Dương (2012), Kết quả điều tra các tộc người thiểu số ở Bình Dương, Bình Dương
  1. Lương Thị Thu Hằng (2016), “Hôn nhân của người mường ở Đắk Lắk hiện nay”, Khoa học Xã hội Việt Nam, số 5
  1. Cao Sơn Hải (2015), Lễ tục vòng đời người Mường (Điều tra – Khảo sát – hồi cố ở vùng Mường Thanh Hóa), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  1. Nguyễn Hải (2011), Tản mạn văn hóa Mường Hòa Bình, Nxb Thông tin và truyền thông, Hà Nội.
  1. Khoa Nhân học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh (2008), Nhân học đại cương, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.
  1. Đặng Trọng Nghĩa (2013), “Tín ngưỡng thờ cúng trong gia đình người Mường”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 344.
  1. Trần Hạnh Minh Phương (2017) “Di dân người dân tộc thiểu số và vấn đề văn hóa – xã hội Bình Dương ngày nay”, Tạp chí Khoa học Đại học Thủ Dầu Một, số 33.
  1. Huỳnh Ngọc Thu (2011), “Giao lưu tiếp biến văn hóa ở cộng đồng đa dân tộc (Việt – Khmer- Hoa) tại xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang”, Tạp chí Phát triển Khoa học Công nghệ, tập 14, số X1.
  1. Trần Từ (2012), Người Mường ở Hòa Bình, Nxb Thời đại, Hà Nội.
  1. UBND tỉnh Bình Dương (2017), Báo cáo thống kê các dân tộc thiểu số Bình Dương năm 2017.
  1. Bùi Huy Vọng (2010), Tang lễ cổ truyền người Mường, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.

Đinh Thị Yến, Lê Thị Ngọc Anh (2020), “Sinh kế và biến đổi sinh kế của người Mường di cư ở Bình Dương”, Tạp chí Khoa học Đại học Thù Dầu Một, số 1.

Đinh Thị Yến– Thạc sĩ, Đại học Thủ Dầu Một

Theo SuGia.vn

Vẻ đẹp quyến rũ của hồ Dầu Tiếng



Cách TP HCM khoảng 90 km, hồ Dầu Tiếng là một trong những điểm đến mới mẻ, thích hợp cho các chuyến trải nghiệm dịp cuối tuần.

Hồ Dầu Tiếng nằm tại huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương, tuy nhiên phần lớn lưu vực nằm trên huyện Dương Minh Châu và một phần trên huyện Tân Châu tỉnh Tây Ninh.

Đây không chỉ là nơi cung cấp lượng nước tưới tiêu cho hàng nghìn ha đất canh tác mà còn là điểm đến có cảnh quan du lịch hấp dẫn.

Hồ Dầu Tiếng có không gian rộng lớn, quan cảnh thiên nhiên trải dọc theo hai bên hồ tạo nên một bức tranh thiên nhiên hữu tình và thơ mộng. Các đảo nhỏ như Xỉn, đảo Trảng, đảo Đồng Bò trong vùng hồ tạo nên những nét chấm phá mới, quyến rũ người lữ khách đến tham quan.

Các ốc đảo tự nhiên độc đáo, không khí trong lành, mát dịu tạo cho bạn cảm giác thoải mái, phù hợp cho những tín đồ chụp ảnh, thích ghi lại khoảnh khắc chân thực, sống động của thiên nhiên trong một chuyến du lịch. Đến đây, du khách còn được thưởng thức các món ăn đặc sắc của địa phương.

Vào những lúc bình minh hay hoàng hôn dần buông, đó là thời khắc tốt nhất cho du khách để cảm nhận hết vẻ đẹp yên bình của một vùng quê, nét đẹp thơ mộng của một vùng đất non nước hữu tình. Tất cả đều trở nên huyền ảo, lung linh đầy quyến rũ, đưa hồn người hòa trong cảnh sắc của thiên nhiên, theo cùng nhịp đập nhịp nhàng của sóng nước vỗ vào lòng hồ.

Kênh Đông Củ Chi là một trong những địa điểm tham quan không thể bỏ qua khi đến với Hồ Dầu Tiếng. Kênh thầm lặng mang nước từ hồ Dầu Tiếng về để cung cấp tưới tiêu cho đất sản xuất nông nghiệp của 12 xã phía bắc Củ Chi. Đến Kênh Đông vào mùa khô, cảnh quan rất đẹp, nước xanh trong đến tận đáy và… đầy cá mè bơi ở dưới. Mùa mưa không thích hợp cho việc tham quan vì đường đi lại khá xấu đầy lầy lội và trơn trượt.

Đường đi kênh Đông có thể làm một chuyến mini phượt cho những bạn nào muốn thực hiện một lịch trình ngắn và muốn tránh xa cái viễn cảnh đông đúc, chen chúc ở Sài Gòn, muốn tìm không gian yên tĩnh và đầy bụi bặm.

Sẽ mất khoảng một tiếng đồng hồ để tham quan và chiêm ngưỡng hồ Dầu Tiếng, vì thế nếu kế hoạch một ngày của bạn chỉ có đến đây thì sẽ rất vô vị và buồn chán. Thêm vào những địa danh như tham quan Núi Cậu khám phá rừng trúc, chiêm ngưỡng tháp chuông ở chùa Thái Sơn hoặc leo núi Bà Đen cho chuyến du lịch một ngày sẽ góp phần thú vị hơn.

Thông thường, khách đến đây lựa chọn cho mình hai phương án khác nhau để tham quan tiếp, một khám phá núi Cậu bằng cách men theo con đường rợp bóng mát với những rừng trúc bao quanh hay chinh phục đỉnh núi Cậu với hàng trăm bậc thang cao, và từ trên đỉnh bạn sẽ có một góc nhìn rộng về toàn cảnh hồ và xa xa là ngọn núi vốn rất nổi tiếng của vùng đất thép Tây Ninh, núi Bà Đen.

Sau khi tham quan xong núi Cậu, bạn có thể vào suối Trúc phía dưới để tham quan, và tùy vào mùa mưa hay nắng mà suối Trúc có nước chảy hay chỉ còn trơ đá với đá, nhưng mùa nào cảnh sắc nơi đây đều vô cùng hoang sơ và rất đẹp.

Ở suối Trúc rất hợp để cắm trại nghỉ ngơi, ăn uống sau khi chinh phục núi Cậu. Ngoài ra, bạn có thể leo lên trên bờ đê hồ Dầu Tiếng để ngắm toàn cảnh hồ, đi thuyền cùng với dân địa phương đánh bắt cá và trải nghiệm cảm giác câu cá giữa lòng hồ mênh mông nước. Lúc đó bạn mới thấy đây thực sự là biển hồ, hồ rộng mênh mông rất đẹp.

Xuân Lộc
Ảnh: Savatage

Tham khảo: http://ngoisao.net/photo/choi-dau/ve-dep-quyen-ru-cua-ho-dau-tieng-3225655.html

Thị xã Thủ Dầu Một – Vùng đất phương Nam


This slideshow requires JavaScript.

Ít ai tưởng tượng được rằng sự thay đổi của một vùng đất, từ chỗ xa xôi, vắng vẻ trở thành đô thị sầm uất, nhộn nhịp, ngập tràn sức sống chỉ diễn ra trong vòng mấy năm. Giờ đây hình ảnh của một đô thị hiện đại hòa quyện với những nét văn hóa truyền thống chẳng còn xa lạ đối với du khách trong và ngoài nước. Thị xã Thủ Dầu Một, vùng đất phương Nam đang thực sự trở nên cuốn hút, hấp dẫn mọi người.

Để đánh giá sự phát triển của một đô thị thì có lẽ chỉ cần nhìn ngắm phong cảnh khi chiều tắt, ánh sáng của đèn đường rực rỡ khắp muôn nơi. Kể từ khi tái lập tỉnh Bình Dương cho đến nay, với vị trí thuận lợi là trung tâm chính trị văn hoá xã hội của tỉnh, thị xã Thủ Dầu Một đã được chú trọng đầu tư phát triển về mọi mặt, đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ tầng. Nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km, trên quốc lộ 13, tuyến đường Bắc – Nam thị xã đã trở thành một đầu mối giao lưu buôn bán quan trọng. Với tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn ở mức cao, hơn 11%, cơ cấu kinh tế chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ, thị xã đang có những bước chuyển đổi không ngừng.
Là một vùng đất nổi tiếng phương Nam với những nghề thủ công truyền thống được người di cư miền Bắc xây dựng nên, thị xã Thủ Dầu Một được biết đến như một cái nôi của nghề gốm sứ, sơn mài và điêu khắc gỗ với một phong cách đặc trưng riêng. Giờ đây khi nghề làm gốm sứ đã được quy hoạch đưa ra ngoài thị xã thì nghề làm điêu khắc gỗ, sơn mài dường như có điều kiện được chăm chút phát triển hơn. Với quy trình công việc theo hướng chuyên môn hoá cao, mỗi công đoạn điêu khắc gỗ được một nhóm thợ thực hiện nên tốc độ tiêu thụ sản phẩm làm ra rất cao, đáp ứng ngay nhu cầu của thị trường. Hiện nay sản phẩm điêu khắc gỗ thông dụng là những tượng tròn, đồ gia dụng và các vật dụng trang trí đủ kiểu dáng. Nắm bắt được thị hiếu khách hàng đó là sự nhanh nhạy của những người làm nghề điêu khắc gỗ. Sản phẩm làm ra giờ đây không chỉ phục vụ nhu cầu trong nước mà còn được tiêu thụ mạnh ra thị trường nước ngoài với những đơn đặt hàng lớn, có giá trị kinh tế cao. Với việc chia ra nhiều công đoạn khác nhau: khắc chạm, đánh bóng, mài dũa, phun sơn… công việc của người thợ trở nên thuận tiện. Nhờ đó những sản phẩm gỗ điêu khắc làm ra tinh xảo hơn và đẹp hơn. Những sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống mang dấu ấn của vùng đất Thủ Dầu Một ngày càng có nhiều uy tín trên thị trường. Từ lâu người ta đã biết đến vùng đất nơi phương Nam xa xôi này không chỉ có các cơ sở sản xuất sơn mài nổi tiếng như: Thành Lễ, Sông Đồng mà còn có cả một làng nghề làm tranh sơn mài, đó là làng sơn mài Tương Bình Hiệp.
Giờ đây do sự phát triển của nhiều loại sơn ngoại đa dạng về màu sắc đã làm cho sản phẩm sơn mài trở nên phong phú hơn. Tuy nhiên vẫn còn có những cơ sở làm tranh sơn mài theo kiểu truyền thống. Trong số đó được biết đến nhiều nhất là cơ sở sản xuất tại gia đình của bác Tám Khiêm, một người đã có hơn 50 năm lăn lộn với nghề. Có lẽ làm tranh sơn mài theo kiểu truyền thống là phức tạp hơn cả nhưng bù lại chất lượng tranh dường như càng để lâu càng tốt. Để sản xuất ra một sản phẩm hoàn chỉnh từ gỗ nguyên liệu đến khâu cuối cùng phải trải qua quá trình lên tới hơn 25 công đoạn. Công việc của mỗi công đoạn lại đòi hỏi phải có nghệ thuật riêng, vừa tỉ mỉ lại vừa công phu. Có công đoạn phải làm đi làm lại nhiều lần mới đạt yêu cầu. Để hoàn thành một tác phẩm sơn mài truyền thống sử dụng chủ yếu chất liệu sơn ta, thời gian có thể lên đến 5, 6 tháng, lâu hơn rất nhiều so với việc sử dụng chất liệu hiện đại. Trải qua nhiều thế hệ, nghề sơn mài nơi đây vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, đó là sự tinh xảo nhẹ nhàng thanh thoát, đậm đà tính cách Á Đông. Ngày nay khách trong và ngoài nước có thể đến đặt mua và yêu cầu chuyển đến bất kỳ nơi đâu các loại sản phẩm sơn mài như: bàn ghế, tủ, bình, tranh… Khách đến với gia đình bác Khiêm đều hiểu rằng để có những tác phẩm sơn mài thật sự chất lượng, độ bền cao không thể vội vàng. Và những tác phẩm sơn mài có chất lượng sẽ luôn được khẳng định bởi thời gian.

Kiên trì với cách làm của mình, gia đình bác Khiêm không chỉ góp phần tôn vinh vẻ đẹp của sơn mài truyền thống mà còn khẳng định làm tranh sơn mài theo cách truyền thống vẫn có chỗ đứng trên đất Thủ Dầu Một này. Sự phát triển nhiều chiều, đa dạng của nghề sơn mài Tương Bình Hiệp không chỉ là niềm tự hào của một làng nghề mà còn là di sản văn hoá đáng trân trọng của cả dân tộc ta.

Hơn 300 năm những người di cư đã đến đây khai phá, dựng nhà lập ấp, xây dựng cuộc sống ổn định lâu dài. Và cho đến hôm nay những ngôi đền, ngôi chùa có trên trăm năm tuổi vẫn được người dân nơi đây trân trọng giữ gìn, được du khách gần xa biết đến. Ớ ngay trung tâm thị xã Thủ Dầu Một có ngôi chùa Bà, thờ Thiên hậu Thánh mẫu được xây dựng vào giữa thế kỷ 19. Hàng năm lễ hội chùa Bà được tổ chức vào 3 ngày từ 13 – 15 tháng 1 Âm lịch, thu hút lên đến cả triệu người đến tham dự cúng lễ, cầu phúc, cầu lộc cho năm mới. Lễ hội chùa Bà Thủ Dầu Một giờ đây đã trở thành một lễ hội dân gian lớn với những nét văn hoá độc đáo nổi tiếng ở vùng Đông Nam Bộ.

Trong số những ngôi chùa ở Bình Dương thì chùa Hội Khánh là một ngôi chùa cổ thuộc diện lâu đời nhất ở xứ này. Chùa do Thiền sư Đại Ngạn xây dựng từ năm 1741. Chùa cũng đã được trùng tu, xây lại nhiều chỗ vì chiến tranh tàn phá. Vào giữa những năm 20 của thế kỷ 20 cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã từng đến đây cùng với hoà thượng Từ Văn để truyền bá tư tưởng yêu nước trong giới Phật giáo. Hiện chùa còn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ có giá trị nghệ thuật cao. Ngay gian chính điện có chiếc cửa võng trạm trổ công phu với hình ảnh 18 vị la hán đứng xung quanh Phật tổ. Hai bên tường của Chính điện có bộ tượng Thập điện Minh Vương và bộ Thập bát La Hán. Hơn 260 năm nay, chùa Hội Khánh đã trở thành danh lam của Thủ Dầu Một không chỉ đơn thuần nó là ngôi cổ tự có giá trị về kiến trúc nghệ thuật.

Hình ảnh Thị xã Thủ Dầu Một hôm nay khác xưa thật nhiều. 40 năm về trước nơi đây từng nổi tiếng với 2 nhà tù chủ yếu giam giữ tù chính trị. Nhà tù Phú Lợi nằm trong địa bàn thị xã nay đã trở thành di tích tố cáo những tội ác dã man của chính quyền ngụy. Dưới thời kỳ Ngô Đình Diệm nơi đây đã trở thành nhà tù lớn nhất miền Nam, ở đây lúc nào cũng có khoảng 5.000 đến 6.000 tù nhân. Ngày 1/12/1958 đã xảy ra vụ đầu độc tù nhân làm hàng trăm người trúng độc. Đảng ủy trong nhà tù đã kịp thời chỉ đạo giải độc cho anh em và tổ chức các tù nhân đấu tranh khi thấy địch không có ý định cứu chữa cho bệnh nhân. Kẻ thù đã điên cuồng đàn áp, đánh đập những người bị đầu độc, đày đi các trại giam khác và thủ tiêu các tù chính trị trong đêm 2/12 cho đến hết ngày 3/12, sự kiện này đã gây nên làn sóng phản đối trong nước và quốc tế. Và cho đến hôm nay ngày 1/12/1958 đã đi vào lịch sử đấu tranh cách mạng kiên cường của tù nhân trong nhà tù Phú Lợi. Đó cũng là dấu mốc của lịch sử cách mạng tỉnh Bình Dương cũng như cả nước trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Dáng dấp của một đô thị hiện đại dường như đã xoá nhòa những dấu vết của đau thương và chiến tranh. Cái mà người dân nơi đây mong muốn gìn giữ nhất chính là những giá trị văn hoá được cha ông truyền lại. Nhà cổ trên đất Thủ Dầu Một hiện nay chỉ còn vài căn trong đó còn lại nguyên vẹn nhất có lẽ là nhà của ông Trần Công Vàng ở phường Phú Cường. Mái lợp âm dương, khá thấp so với lối kiến trúc hiện nay những bên trong lúc nào cũng thoáng mát nhờ bốn phía đều có cửa sổ. Vật liệu xây dựng chủ yếu là các loại danh mộc quý như sao, cẩm lai, gỗ mun, huỳnh đường… Tuy đã trải qua 4 đời với trên 1,5 thế kỷ, các vật dụng sinh hoạt gia đình hoặc trang trí hầu như còn giữ nguyên vẹn. Đáng chú ý là 3 bộ bàn ghế bành tượng khảm ốc xà cừ với mặt bàn là các phiến đá cẩm thạch, 3 bộ đèn Huê Kỳ lạ mắt bằng đồng có tuổi thọ trên 100 năm hiện vẫn đang sử dụng. Và rất nhiều những hiện vật cổ kính dùng cho việc gia đình hàng ngày đều được lưu giữ cẩn thận. Ngôi nhà giờ đây vẫn do gia đình quản lý với sự quan tâm giúp đỡ rất nhiều từ chính quyền địa phương cũng như của Bảo tàng tỉnh Bình Dương. Trong thời gian tới đây những ngôi nhà cổ này sẽ được trùng tu để mãi vẫn giữ lại một nét văn hoá đặc sắc của vùng đất Thủ Dầu Một.

Thủ Dầu Một vùng đất phương Nam xa xôi luôn sẵn sàng đón nhận bất kỳ ai muốn lập nghiệp, tìm cho mình một cuộc sống có tương lai tốt đẹp. Với tốc độ công nghiệp hoá nhanh, dần trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của cả nước, dường như ở nơi đây làm bất cứ nghề gì cũng sống được. Nghề nuôi bò sữa phát triển ở đây cũng chưa lâu, cả thị xã có hơn 300 con bò sữa trong khi nhu cầu sữa tươi lại rất lớn. Gia đình ông Toại ở phường Chính Nghĩa cũng đã nuôi bò được mấy năm. Giờ đây ông có 20 con bò trong đó có 13 con đang cho sữa. Chỉ tính riêng tiền lãi từ việc bán sữa hàng ngày ông cũng thu về được hơn 200 nghìn. Hiện ông đang muốn mở rộng thêm chuồng trại, nuôi thêm bò và đưa năng suất sữa của đàn bò ngày càng tăng cao.

Sự thay đổi của thị xã Thủ Dầu Một trong những năm gần đây là một điều tất yếu. Vùng đất này có tất cả những điều kiện thuận lợi để trở thành một thành phố vệ tinh của thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai. Với những chính sách thông thoáng, chính quyền thị xã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của các doanh nghiệp địa phương. Càng ngày càng có nhiều doanh nghiệp làm ăn phát đạt mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm ra nhiều nước trên thế giới. Công ty chăn nuôi và chế biến thức ăn gia súc Kim Long đã phát triển hơn 10 năm nay. Hai vợ chồng ông Chung Kim chủ công ty đã lăn lộn, vất vả trong nhiều năm để sản phẩm thức ăn gia súc ngày càng đạt chất lượng cao, có chỗ đứng trên thị trường. Mạnh bạo, dám đầu tư lớn, công ty vừa triển khai một dây chuyền chế biến thức ăn gia súc khép kín, điều khiển hoàn toàn tự động, nhờ đó sản phẩm thức ăn gia súc sẽ đảm bảo chất lượng và an toàn. Cùng với việc xây dựng một trang trại nuôi lợn lớn, công ty đang phấn đấu trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu tham gia thị trường xuất khẩu thịt lợn. Những người có suy nghĩ như ông Chung Kim ngày càng nhiều trên vùng đất này. Chính họ đã và đang tạo nên bước phát triển vượt bậc cho thị xã Thủ Dầu Một.

Hương vị của cây trái Nam Bộ luôn tạo nên những điều mới lạ đối với khách du lịch. Với định hướng quy hoạch phát triển các nhà vườn dọc sông Sài Gòn, thị xã đã khuyến khích người dân lập nên.

(nguồn: Báo Bình Dương)

Tỉnh Bình Dương – Thành Phố Bình Dương


Cờ của Việt Nam Tỉnh Bình Dương

Image via Wikipedia

Tỉnh Việt Nam

Hành chính, chính trị
Bí thư tỉnh ủy Mai Thế Trung
Chủ tịch HĐND Vũ Minh Sang
Chủ tịch UBND Lê Thanh Cung
Địa lý
Tỉnh lỵ Thị xã Thủ Dầu Một
Miền Đông Nam Bộ
Diện tích 2.695,5 km²
Các thị xã / huyện 3 thị xã
4 huyện
Nhân khẩu
Số dân
• Mật độ
1.481.550 người
810 người/km²
Dân tộc ViệtHoaKhmerTày
Thông tin khác
Mã bưu chính 72
ISO 3166-2 VN-57
Biển số xe 61

Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, phía bắc giáp Bình Phước, phía nam và tây nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía tây giáp Tây Ninh, phía đông giápĐồng Nai. Tỉnh lỵ của Bình Dương hiện nay là thị xã Thủ Dầu Một, cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh 30 km.

Bình Dương cũng là tỉnh có đội bóng đá nổi tiếng, đã đăng quang giải bóng đá vô địch quốc gia năm 2007 và 2008.

Bình Dương cũng là tỉnh sở hữu 3 thị xã có dân số đông nhất nước, trong đó có 2 thị xã có 100% phường, không có xã (Thủ Dầu Một, Dĩ An).

Mục lục

Các đơn vị hành chính

Bình Dương có 3 thị xã và 4 huyện (với 91 xã/phường/thị trấn):

  1. Thị xã Thủ Dầu Một
  2. Thị xã Thuận An
  3. Thị xã Dĩ An
  4. Huyện Bến Cát
  5. Huyện Dầu Tiếng
  6. Huyện Tân Uyên
  7. Huyện Phú Giáo

Biển số xe

Thị xã Thủ Dầu Một 61-B1 XXX.XX

Thị xã Thuận An 61-C1 XXX.XX

Thị xã Dĩ An 61-D1 XXX.XX

Huyện Tân Uyên 61-E1 XXX.XX

Huyện Phú Giáo 61-F1 XXX.XX

Huyện Bến Cát 61-G1 XXX.XX

Huyện Dầu Tiếng 61-H1 XXX.XX

Địa hình, thổ nhưỡng

  • Tọa độ địa lý: vĩ độ Bắc: 110°52′ – 120°18′, kinh độ Đông: 106°45′ – 107°67’30”
  • Diện tích tự nhiên 2.681,01km2 (chiếm 0,83% diện tích cả nước và xếp thứ 42/64 về diện tích tự nhiên)

Tổng diện tích: 269.554 ha
Đất ở: 5.845 ha
Đất nông nghiệp: 215.476 ha
Đất lâm nghiệp: 12.791 ha
Đất chuyên dùng: 22.563 ha
Đất chưa sử dụng: 12.879 ha

Bình Dương nằm trong vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long nên địa hình chủ yếu là những đồi thấp, thế đất bằng phẳng, nền địa chất ổn định, vững chắc, phổ biến là những dãy đồi phù sa cổ nối tiếp nhau với độ cao trung bình 20-25m so với mặt biển, độ dốc 2-5°và độ chịu nén 2kg/cm². Đặc biệt có một vài đồi núi thấp nhô lên giữa địa hình bằng phẳng như núi Châu Thới (Dĩ An) cao 82m và ba ngọn núi thuộc huyện Dầu Tiếng là núi Ông cao 284,6m, núi La Tha cao 198m, núi Cậu cao 155m.

Từ phía Nam lên phía Bắc, theo độ cao có các vùng địa hình:

– Vùng thung lũng bãi bồi, phân bố dọc theo các sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé. Đây là vùng đất thấp, phù sa mới, khá phì nhiêu, bằng phẳng, cao trung bình 6-10m.

– Vùng địa hình bằng phẳng, nằm kế tiếp sau các vùng thung lũng bãi bồi, địa hình tương đối bằng phẳng, độ dốc 3-12°, cao trung bình từ 10-30m.

– Vùng địa hình đồi thấp có lượn sóng yếu, nằm trên các nền phù sa cổ, chủ yếu là các đồi thấp với đỉnh bằng phẳng, liên tiếp nhau, có độ dốc 5-120, độ cao phổ biến từ 30-60m.

Các nhà thổ nhưỡng đã tìm thấy ở Bình Dương 7 loại đất khác nhau, nhưng chủ yếu là đất xám và đất đỏ vàng. Theo kết quả tổng điều tra đất năm 2000 thì hai loại đất này chiếm 76,5% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, trong đó đất xám chiếm 52,5%; đất đỏ vàng chiếm 24,0%.

Đây là hai loại đất rất thích hợp với các loại cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả. Chính nhờ điều kiện thổ nhưỡng này mà Bình Dương

  từ lâu đã nổi tiếng với vườn cây Lái Thiêu, trải rộng trên diện tích 1.250 ha, thuộc địa bàn bốn xã, phường: An SơnAn ThạnhBình Nhâm và Hưng Định.

Với địa hình cao trung bình từ 6-60m, nên chất lượng và cấu trúc đất Bình Dương  không chỉ thích hợp với các loại cây trồng mà còn rất thuận lợi đối với việc xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các khu công nghiệp.

Trên địa bàn Bình Dương  có nhiều sông lớn chảy qua, nhưng quan trọng nhất là sông Sài Gòn và sông Đồng Nai. Sông Đồng Nai là một trong những sông lớn của Việt Nam, có tổng chiều dài 450 km, trong đó chảy qua Bình Dương 84 km.

Khí hậu

Biểu trưng tỉnh Bình Dương

Khí hậu Bình Dương  mang đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm với 2 mùa rõ rệt:

-Mùa mưa, từ tháng 5 – 11, -Mùa khô từ khoảng tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau.

  • Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.800 – 2.000mm với số ngày có mưa là 120 ngày. Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9, trung bình 335mm, năm cao nhất có khi lên đến 500mm, tháng ít mưa nhất là tháng 1, trung bình dưới 50mm và nhiều năm trong tháng này không có mưa.
  • Nhiệt độ trung bình hằng năm là 26,5 °C, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 29 °C (tháng 4), tháng thấp nhất 24 °C (tháng 1). Tổng nhiệt độ hoạt động hàng năm khoảng 9.500 – 10.000 °C, số giờ nắng trung bình 2.400 giờ, có năm lên tới 2.700 giờ.
Vòng xoay ngã sáu 2007
  • Chế độ gió tương đối ổn định, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão và áp thấp nhiệt đới. Về mùa khô gió thịnh hành chủ yếu là hướng Đông, Đông – Bắc, về mùa mưa gió thịnh hành chủ yếu là hướng Tây, Tây – Nam. Tốc độ gió bình quân khoảng 0.7m/s, tốc độ gió lớn nhất quan trắc được là 12m/s thường là Tây, Tây – Nam.
  • Chế độ không khí ẩm tương đối cao, trung bình 80-90% và biến đổi theo mùa. Độ ẩm được mang lại chủ yếu do gió mùa Tây Nam trong mùa mưa, do đó độ ẩm thấp nhất thường xảy ra vào giữa mùa khô và cao nhất vào giữa mùa mưa. Giống như nhiệt độ không khí, độ ẩm trong năm ít biến động. Với khí hậu nhiệt đới mang tính chất cận xích đạo, nền nhiệt độ cao quanh năm, ẩm độ cao và nguồn ánh sáng dồi dào, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt là trồng cây công nghiệp ngắn và dài ngày. Khí hậu Bình Dươngtương đối hiền hoà, ít thiên tai như bão, lụt…

Dân cư

  • Dân số: 1.481.550 người (01/04/2009)

Bình Dương có diện tích tự nhiên 2695,5 km² và dân số (theo kết quả điều tra dân số ngày 01/04/2009) là 1.481.550 người. Do kinh tế phát triển nhanh, trong thời gian qua Bình Dương thu hút nhiều dân nhập cư từ các địa phương khác. Kết quả điều tra dân số năm 2009 cho thấy: Trong 10 năm từ 1999-2009 dân số tỉnh Bình Dương đã tăng gấp đôi, là tỉnh có tốc độ tăng dân số cao nhất nước với tỷ lệ tăng trung bình 7,3%/năm.

Trên địa bàn Bình Dương có 15 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh và sau đó là người Hoangười Khơ Me.

Kinh tế

  • Vùng đất Bình Dương – Thủ Dầu Một ra đời cùng lúc với lịch sử hình thành Sài Gòn – Đồng Nai từ thuở Nguyễn Hữu Cảnh “mang gươm đi mở cõi”. Bắt đầu những năm 90, với chính sách trải thảm đỏ chào đón các nhà đầu tư, Bình Dương phút chốc trở thành địa phương phát triển năng động nhất trong tứ giác kinh tế trọng điểm của cả nước. Trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnhhàng năm, Bình Dương liên tục đứng ở vị trí số 1.
  • Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài. Với chủ trương tạo ra một môi trường đầu tư tốt nhất hiện nay tại Việt Nam, tính đến tháng 10/2006, tỉnh đã có 1.285 dự án FDI với tổng số vốn 6 tỷ 507 triệu USD.Năm 2007, tỉnh Bình Dương 
     đặt mục tiêu thu hút trên 900 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tăng hơn 2,5 lần so với năm ngoái. Vào năm 2006, một cuộc điều tra về “Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI)” đã được gửi tới 31.000 doanh nghiệp trên phạm vi 64 tỉnh, thành và nhận được sự hợp tác rất tích cực từ các doanh nghiệp, đã thực sự phản ánh sát thực nguyện vọng của các doanh nghiệp trong xu thế hội nhập. Theo bảng xếp hạng Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2006, tỉnh Bình Dương tiếp tục đứng đầu với 76,23 điểm, trong khi thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, lần lượt xếp thứ thứ 40 với 50,34 điểm và xếp thứ 7 với 63,39 điểm.
  • Bình Dương có 28 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó nhiều khu công nghiệp đã cho thuê gần hết diện tích như Sóng Thần I, Sóng Thần II, Đồng An, Tân Đông Hiệp A, Việt Hương, VSIP – Việt Nam Singapore, Mỹ Phước 1, 2, 3, 4 và 5. Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thu hút 938 dự án đầu tư, trong đó có 613 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3,483 triệu USD và 225 dự án đầu tư trong nước có số vốn 2.656 tỉ đồng. Nhằm tăng sự thu hút đầu tư; hiện nay địa phương này đang tập trung hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đẩy nhanh tiến độ thi công các khu công nghiệp mới để phát triển công nghiệp ra các huyện phía bắc của tỉnh (Mỹ Phước 1,2,3; 6 khu công nghiệp trong Khu liên hợp công nghiệp-dịch vụ-đô thị Bình DươngTân Uyên).
  • Mục tiêu kinh tế xã hội của Bình Dương thời kỳ 2006 -2010 Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương  lần thứ VIII năm 2006 đã nêu mục tiêu phấn đấu thời kỳ 2006-2010 về kinh tế-xã hội của tỉnh như sau: -Tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm là 15%. -Quy mô GDP (giá hiện hành) đến năm 2010 đạt khoảng 45.800 tỷ đồng, tương đương 2,9 tỷ Đôla Mỹ. -GDP bình quân đầu người đạt khoảng 30 triệu đồng. -Cơ cấu kinh tế của tỉnh là công nghiệp: 65,5%; dịch vụ: 30%; nông nghiệp: 4,5%. -Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng bình quân 14-15%/năm. -Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cả thời kỳ đạt 3 tỷ USD. -90% trường trung học phổ thông, tiểu học đạt chuẩn quốc gia. -Phổ cập giáo dục bậc trung học. -95% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. -Tỷ lệ hộ nghèo còn 2,5% (theo chuẩn mới của tỉnh 400.000 đồng/người/tháng đối với nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng đối với thành thị). Theo mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, để nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì nông nghiệp giảm xuống còn 15-16%, công nghiệp và xây dựng 43-44%, dịch vụ 40-41%. Với tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp luôn ở mức cao như hiện nay là 35%/năm (2001-2005) thì Bình Dương sẽ là một trong những tỉnh về đích trước và sớm trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

Văn hóa

Thuở xưa, Bình Dương là một phần của đất Gia Định nên đến nay đã có trên 300 năm lịch sử với những di sản văn hoá đặc sắc mà tiêu biểu là đờn ca tài tử. Ca nhạc tài tử sau này nở rộ ở nhiều tỉnh vùngđồng bằng sông Cửu Long nhưng cái nôi sản sinh thì vẫn là Gia Định, trong đó có Bình Dương.

Bình Dương còn là đất của nhiều làng nghề truyền thống với các nghệ nhân bàn tay vàng điêu khắc gỗ, làm đồ gốm và tranh sơn mài. Từ xa xưa các sản phẩm gốm mỹ nghệ, sơn mài và điêu khắc của Bình Dương đã tham gia hội chợ quốc tế, đồng thời cũng đã xuất khẩu sang Pháp và nhiều nước trong khu vực.

Quy hoạch

Dự kiến đến năm 2020, Bình Dương là đô thị loại I, thành phố trực thuộc Trung ương; gồm 6 quận nội thành, 4 huyện ngoại thành với 112 xã, phường, thị trấn (60 phường, 39 xã, 13 thị trấn.

  • Các quận nội thành:

Quận trung tâm:Thủ Dầu Một (9 phường).

Quận Châu Thành (9 phường).

Quận Dĩ An (9 phường).

Quận Thuận An (10 phường).

Quận Bến Cát (13 phường).

Quận Tân Uyên (10 phường).

  • Các huyện ngoại thành:

Huyện Bầu Bàng (3 thị trấn, 7 xã).

Huyện Phước Thành (2 thị trấn, 10 xã).

Huyện Dầu Tiếng (4 thị trấn, 13 xã).

Huyện Phú Giáo (4 thị trấn, 10 xã).

Thay đổi hành chính

Bình Dương là một phần của tỉnh Thủ Dầu Một xưa kia. Tỉnh Thủ Dầu Một được thành lập tháng 12 năm 1899 từ Sở Tham biện Thủ Dầu Một, tách từ tỉnh Biên Hòa. Tháng 10 năm 1956 chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể tỉnh Thủ Dầu Một để thành lập các tỉnh Bình Dương, và một phần tỉnh Bình Long. Như vậy Bình Dương là một trong 22 tỉnh của Nam Phần được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thiết lập theo Sắc lệnh 143-NV ngày 22 tháng 10 năm 1956. Tỉnh lị là Phú Cường. Tỉnh Bình Dương bao gồm 5 quận, 10 tổng, 60 xã (ngày 30/8/1957):

  • Quận Châu Thành, có 3 tổng là Bình Điền, Bình Phú, Bình Thiện; quận lị: Phú Cường.
  • Quận Lái Thiêu, có 1 tổng là Bình Chánh; quận lị: Tân Thới.
  • Quận Bến Cát, có 2 tổng là Bình An, Bình Hưng; quận lị: Mỹ Phước.
  • Quận Dầu Tiếng, có 1 tổng là Bình Thạnh Thượng; quận lị: Định Thành.
  • Quận Củ Chi, có 3 tổng là Long Tuy Hạ, Long Tuy Trung, Long Tuy Thượng; quận lị: Tân An Hội. Quận Củ Chi trước đây thuộc tỉnh Gia Định, đến năm 1963 chuyển sang tỉnh Hậu Nghĩa mới thành lập.

Năm 1959, cắt một phần đất, cùng với phần đất của 2 tỉnh Biên Hòa và Phước Long lập ra tỉnh Phước Thành. Tỉnh này tồn tại đến năm 1965 thì giải thể.

Ngày 18 tháng 12 năm 1963, lập thêm quận Phú Hòa, quận lị đặt tại Bến Cỏ, xã Phú Hòa Đông, đến ngày 18 tháng 5 năm 1968 dời về xã Tân Hòa. Quận Phú Hòa hiện nay nhập với quận Củ Chi thành huyện Củ Chi thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1974 dân số tỉnh Bình Dương là 260.008 người.

Năm 1976 chính quyền mới hợp nhất tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước (gồm hai tỉnh Bình Long và Phước Long cũ) thành tỉnh Sông Bé, nhưng đến ngày 6 tháng 11 năm 1996 lại tách ra thành hai tỉnh như cũ.

Khi tách ra, tỉnh Bình Dương có diện tích 2.718,5 km², dân số 646.317 người (tính cả 4 xã và thị trấn của huyện Đồng Phú của tỉnh Bình Phước chuyển sang), gồm thị xã Thủ Dầu Một và 3 huyện Bến Cát, Tân Uyên, Thuận An. Đến ngày 23 tháng 7 năm 1999, huyện Thuận An được chia tách thành 2 huyện Thuận An và Dĩ An, huyện Bến Cát được chia tách thành 2 huyện Bến Cát và Dầu Tiếng, huyện Tân Uyên được chia tách thành 2 huyện Tân Uyên và Phú Giáo. Như vậy, từ tháng 8 năm 1999, Bình Dương có cả thảy 7 đơn vị hành chính cấp huyện.

Ngày 13 tháng 1 năm 2011, Chính phủ ra Nghị quyết 04/NQ-CP thành lập 2 thị xã mới là Dĩ An và Thuận An, trên cơ sở 2 huyện Dĩ An và Thuận An cũ.

Điểm tham quan

Bình Dương là vùng đất chiến trường năm xưa với những địa danh đã đi vào lịch sử như Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến Súc, Lai Khê, Nhà Đỏ và đặc biệt là chiến khu Đ với trung tâm là huyện Tân Uyên, vùng Tam giác sắt trong đó có ba làng An (An Điền, An Tây và Phú An). Bình Dương hôm nay đang là một điểm sáng trên bản đồ kinh tế đất nước với những thành tựu về đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, trước hết là kết quả nổi trội về thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài.

Liên kết ngoài

Thầy – Võ Sư Hồ Văn Tường


Hồ Tường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Võ sư Hồ Tường (bên trái) cùng một môn sinh người Italia.

Hồ Tường, tên thật là Hồ Văn Tường, là một võ sư môn phái võ thuật cổ truyền Tân Khánh Bà Trà Việt Nam.

Mục lục

Tiểu sử và sự nghiệp

Hồ Tường, sinh năm 1954 tại ấp Khánh Thạnh, xã Tân Phước Khánh, quận Châu Thành, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là khu phố Khánh Thạnh, thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), là con út trong số ba người con của lão võ sư Hồ Văn Lành (tức Từ Thiện).

Hồ Tường từng học võ phái Tân Khánh Bà Trà trực tiếp từ cha và từ võ sư Hồ Văn Thạch (một võ sư lớp sau đồng môn với võ sư Hồ Văn Lành) từ những năm bốn, năm tuổi. Lớn lên, ông được sống gần cha ở Sài Gòn, vừa học văn hóa, vừa tiếp tục rèn luyện võ thuật. Từ những năm 19651966 trở đi, ông bắt đầu giúp cha trong việc huấn luyện võ thuật, lúc đầu là võ sinh ở lứa tuổi thiếu niên và sau là võ sinh ở lứa tuổi thanh niên.

Năm 1972, ông được Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam cấp giấy chứng nhận là huấn luyện viên. Từ đó, huấn luyện viên Hồ Tường đã tích cực lao vào công tác huấn luyện cùng với cha là võ sư Từ Thiện Hồ Văn Lành để đào tạo nên nhiều võ sĩ hơn và trong đó có những nhà vô địch cho danh hiệu võ đường Từ Thiện và môn phái Tân Khánh Bà Trà nói riêng và võ thuật Việt Nam nói chung. Do ở lứa tuổi thanh niên, nên những năm trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông dành thời gian nhiều hơn vào việc học văn hóa từ các trường phổ thông lên đến trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, để tránh trường hợp bị bắt đi lính cho quân đội Sài Gòn.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, võ thuật chưa được hoạt động, võ sư Hồ Tường là người đầu tiên viết bài góp ý trên báo Sài Gòn Giải Phóng (cơ quan ngôn luận của Thành Ủy Thánh phố Hồ Chí Minh) về việc nên khôi phục lại hoạt động võ thuật cổ truyền Việt Nam, vừa đáp ứng nhu cầu tập luyện của thanh niên thời bấy giờ, vừa khôi phục truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam. Dĩ nhiên do nhiều lý do mà võ thuật đã được hoạt động trở lại, nhưng rõ ràng võ sư Hồ Tường là người đầu tiên đã gíong lên tiếng chuông trong vấn đề này. Năm 1979, khi lớp Võ dân tộc được khai giảng tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quận 1 (143, đường Nguyễn Du), Hồ Tường trực tiếp tham gia huấn luyện cùng với các võ sư: Đặng Văn Anh (Kim Kê), Nguyễn Hữu Tiết và Quách Văn Phước. Chính trong thời gian này, Hồ Tường đã dành cả tháng trời để hằng ngày đến tận quận 5 (trong một hãng chế biến nước tương bị chủ bỏ chạy sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trên đường Châu Văn Liêm) với mục đích hướng dẫn cho võ sư Đặng Văn Anh bài Tứ linh đao do chính ông sáng tạo vào năm 1979 và bài đao này đã được Hồ Văn Lành giới thiệu vào chương trình huấn luyện thống nhất ở lớp Võ dân tộc quận 1. Bù lại, võ sư Kim Kê hướng dẫn lại cho Hồ Tường bài Mai hoa quyền (bài quyền duy nhất của võ sư Tây Sơn Nhạn Bùi Công Hóa truyền lại cho Kim Kê) [1]

Sau đó, cũng trong năm 1979, Hồ Tường mở lớp võ Tân Khánh Bà Trà tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao quận 3 (số 2, đường Hồ Xuân Hương). Đến năm 1981, ông mở lớp Võ lâm Tân Khánh Bà Trà tại Nhà văn hóa Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh (số 4, đường Phạm Ngọc Thạch, quận 1)[3]

Song song với việc truyền bá môn võ Tân Khánh Bà Trà – một bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, Hồ Tường còn tham gia nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, xuất bản một số sách về di sản văn hóa. Với những thành tựu đó, ngày 10 tháng 3 năm 2000, Hồ Tường được nhà nước Việt Nam trao tặng “Huy Chương Vì Sự Nghiệp Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa”.

Trên con đường nối tiếp sự nghiệp truyền bá võ thuật Tân Khánh Bà Trà của Hồ Văn Lành, đến năm 2007, Hồ Tường đã đào tạo hàng vạn lớp môn sinh và nhiều võ sư đang hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh, như: Phan Văn Trung (Trung Tâm Văn Hóa quận 1), Nguyễn Hồng Đỏ (Trung Tâm Thể Dục Thể Thao huyện Nhà Bè), Bùi Thị Tuyết Nhung (Trung tâm Thể dục Thể thao quận 4), Thiều Ngọc Sơn (Trung Tâm Thể dục Thể thao quận Gò Vấp), Dương Mỹ Phương (Trung tâm Văn hóa quận 5), Phạm Thị Mộng Thuỷ (Nhà Văn hóa Thanh niên) và Đặng Văn Vạn (Trung tâm Thể dục Thể thao huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương). Trên lãnh vực võ thuật, Hồ Tường từng nhận được nhiều bằng khen của Thành ĐoànTrung ương Đoàn [6] . Ngoài ra, trong các môn sinh đó còn có một số môn sinh là người ngoại quốc đến từ các nước: Hoa Kỳ, Australia, Pháp, Ý, Thụy Sĩ, Đức…[7] Hồ Tường cũng đã từng được Sở Thể Dục Thể Thao tỉnh Bình Dương mời tham gia đề án “khôi phục và phát triển môn võ Tân Khánh Bà Trà” từ năm 2005.Năm 1989, Hồ Tường xây dựng đội cờ người tại Nhà Văn hóa Thanh niên và là người đầu tiên tại Việt Nam giới thiệu loại hình cờ người sử dụng võ thuật trong khi thi đấu[8] . Đội Cờ Người của môn phái Tân Khánh Bà Trà biểu diễn khắp nơi: thành phố Hồ Chí Minh[9] , Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, Đồng Tháp, Thừa Thiên Huế… Từ Đội cờ người của Nhà Văn hóa Thanh niên, Hồ Tường đã tạo thêm nhiều Đội cờ người khác tại thành phố Hồ Chí Minh do các huấn luyện viên của Hồ Tường phụ trách, như: Đội cờ người Trung Tâm Văn Hóa quận 1 (Phan Văn Trung phụ trách), Đội cờ người Trung tâm Thể dục Thể thao Nhà Bè (Nguyễn Hồng Đỏ phụ trách), Đội cờ người 2 Trung Tâm Văn Hóa quận 1 (Trương Tấn Đạt phụ trách).

Trong quá trình giảng dạy võ thuật tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên, Hồ Tường còn có sáng kiến mở lớp dạy võ thuật miễn phí cho các sinh viên hằng năm vào các tháng 10, 11 và 12, nhằm tạo một sân chơi hữu ích cho sinh viên. Chương trình “lớp võ miễn phí” của Hồ Tường bắt đầu từ năm 1995, đến năm 2007, đã huấn luyện cho khoảng 3600 lượt sinh viên. Có thể nói rằng Hồ Tường là người dạy võ miễn phí nhiều nhất và lâu nhất tại Việt Nam. Phát huy thành quả đã đạt được, bắt đầu từ mùa hè năm 2008, võ sư Hồ Tường đã bắt đầu mở lớp dạy võ miễn phí cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Ngày 4 tháng 1 năm 2009, Trung Tâm Sách Kỷ Lục Việt Nam (Vietnam records book center) đã xác lập kỷ lục đối với “Võ sư Hồ Tường, người dạy võ miễn phí cho sinh viên lâu năm nhất Việt Nam” [1].

Ngày 6 tháng 6 năm 2007, Hồ Tường được mời tham gia Ban Nghiên cứu Võ học Việt Nam của Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam để có thể góp phần vào công cuộc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.

Hồ Tường và bài Tứ Linh Đao

Bài Tứ linh đao do Hồ Tường sáng tạo, được võ sư Kim Kê giới thiệu tại Hội nghị chuyên môn toàn quốc lần 1, do Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam tổ chức năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh, và đã được chọn là một trong những bài quốc võ nhằm đưa bài vào bảo tồn, giới thiệu và tập luyện trong các võ đường võ cổ truyền Việt Nam toàn quốc. Sau Hội nghị này, bài Tứ Linh Đao được phổ biến ra toàn quốc và ra cả nước ngoài. Bài Tứ Linh Đao của võ sư Hồ Tường đã được dịch ra tiếng Pháp [10]để có thể phổ biến rộng rãi tại Pháp.

Tác phẩm

Võ thuật

Hồ Tường đã từng xuất bản trên 10 đầu sách viết về võ thuật và hàng trăm bài viết khác trên Sổ tay Võ thuật với nhiều bút danh khác nhau: Hồ Tường, Nguyễn Võ, Võ Lê, Thượng Võ, Hiếu Võ, Thúy Vinh, Diễm Hằng v.v., đáng chú ý có những cuốn:

  1. Võ thuật phái Võ Tân Khánh
  2. Kỹ thuật Côn Nhị Khúc Nunchaku (căn bản)
  3. Kỹ thuật Côn Nhị Khúc (nâng cao)
  4. Tự luyện Công phá Thiếu Lâm Tự
  5. Điểm huyệt giải huyệt Thiếu Lâm Tự
  6. Thiếu Lâm Mai hoa tiên
  7. Bí quyết tự vệ trong đời sống
  8. Cẩm nang tự vệ của bạn gái
  9. Thiếu Lâm Cầm Nã Thủ
  10. 72 thế chiến đấu Thiếu Lâm Tự
  11. Thiếu Lâm Vĩnh Xuân Quyền – Lý Tiểu Long
  12. Kỹ thuật Đoản côn Thiếu Lâm Tự
  13. Trật đả cốt khoa.
  14. Thế chiến đấu môn phái Thiếu Lâm Vịnh Xuân
  15. Đời người, nghiệp võ (viết chung)
  16. Làng võ Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh” (viết chung)
  17. Tìm hiểu võ thuật Việt Nam (2010)

Văn hóa

  1. Đình Nam Bộ, tín ngưỡng và nghi lễ, Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
  2. Văn hóa Văn Lang, (viết chung nhiều tác giả), NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996.
  3. Tục lệ thờ Hai Bà Trưng và Liễu Hạnh Thánh Mẫu, Hồ Tường, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1992.
  4. Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Hồ Tường (chủ biên), Nguyễn Huy Cường, NXB Trẻ, 2004
  5. Đình ở thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Tường (chủ biên), Nguyễn Hữu Thế, NXB Trẻ, 2005
  6. Nhà thờ Công giáo ở thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Tường (chủ biên), Lê Đình Tấn, Ngô Hỷ, NXB Trẻ, 2007
  7. Nghi lễ vòng đời người , Lê Trung Vũ (chủ biên), Nguyễn Hồng Dương, Lê Hồng Lý, Lưu Kiếm Thanh, Hồ Tường, NXB Trẻ, 2007

Chú thích

  1. ^ Có một lớp võ SV miễn phí hơn 10 nămdo thầy – võ sư Hồ Văn Tường trực tiếp đứng lớp. Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ

Liên kết ngoài

Theo :  Bách khoa toàn thư mở Wikipedia 
———————————————————————————–

Hồ Tường và trăn trở nghiệp võ!

Tống Phương – Đức Thuận
Gặp Võ sư Hồ Tường trong một chiều mưa tầm tã, một góc vắng tầng 1 Nhà Văn hóa Thanh Niên, mấy chiếc ghế nhựa quây lại, chúng tôi được đón tiếp bằng tất cả lòng chân thành và sự chia sẻ. Vị võ sư mà chúng tôi được biết tới với 45 năm gìn giữ và truyền dạy võ Tân Khánh- Bà Trà, 15 năm dạy võ miến phí cho sinh viên thật bình dị. Ông 56 tuổi, nước ra rám nắng, thân hình gọn chắc, mái tóc muối tiêu, cặp mắt với những nỗi niềm trăn trở…Nụ cười của ông như xóa đi sự căng thẳng và bỡ ngỡ ban đầu. Ông bước vào cuộc đời và nghiệp võ của mình bằng một chất giọng trầm trầm, một chất điệu miền Đông, một phong thái ung dung của con người vùng Tân Khánh.Sinh ra tại Khánh Thạnh-Tân Phước Khánh, võ sư Hồ Tường từng học võ phái Tân Khánh -Bà Trà trực tiếp từ người cha và từ võ sư Hồ Văn Thạch từ rất nhỏ. Lớn lên, ông được sống với cha ở Sài Gòn, vừa học văn hóa, vừa tiếp tục rèn luyện võ thuật. Từ những năm 19651966 trở đi, ông bắt đầu giúp cha trong việc huấn luyện võ thuật, lúc đầu là võ sinh ở lứa tuổi thiếu niên và sau là võ sinh ở lứa tuổi thanh niên. Năm 1972, ông được Tổng cuộc Quyền thuật Việt Namcấp giấy chứng nhận là huấn luyện viên. Từ đó, huấn luyện viên Hồ Tường đã tích cực lao vào công tác huấn luyện cùng với cha là võ sư Từ Thiện Hồ Văn Lành để đào tạo nên nhiều võ sĩ có tên tuổi trong giới võ thuật. Võ sư Hồ Tường là người đầu tiên viết bài góp ý trên báo Sài Gòn Giải Phóng về việc nên khôi phục lại hoạt động võ thuật cổ truyền Việt Nam, vừa đáp ứng nhu cầu tập luyện của thanh niên thời bấy giờ, vừa khôi phục truyền thống hào hùng, thượng võ của dân tộc Việt.Rõ ràng võ sư Hồ Tường ý thức rất rõ vấn đề gìn giữ và phát huy nền võ học nước nhà. Ngay sau khi võ thuật được chính thức hoạt động trở lại (1975), Võ sư Hồ Tường đã lặn lội khắp nơi truyền bá võ nghệ và thành lập các câu lạc bộ võ thuật. Năm 1979, khi lớp Võ dân tộc được khai giảng tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quận 1 (143, đường Nguyễn Du), Hồ Tường trực tiếp tham gia huấn luyện cùng với các võ sư: Đặng Văn Anh(Kim Kê), Nguyễn Hữu Tiết và Quách Văn Phước. Sau đó, cũng trong năm 1979, Hồ Tường mở lớp võ Tân Khánh- Bà Trà tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quận 3 (số 2, đường Hồ Xuân Hương). Đến năm 1981, ông mở lớp Võ lâm Tân Khánh -Bà Trà tại Nhà văn hóa Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh (số 4, đường Phạm Ngọc Thạch, Quận 1).Trên con đường nối tiếp sự nghiệp truyền bá võ thuật Tân Khánh -Bà Trà của Hồ Văn Lành, đến năm 2007, Hồ Tường đã đào tạo hàng ngìn môn sinh và nhiều võ sư đang hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh, như: Phan Văn Trung (Trung Tâm Văn Hóa Quận 1), Nguyễn Hồng Đỏ (Trung Tâm Thể Dục Thể Thao huyện Nhà Bè), Bùi Thị Tuyết Nhung (Trung tâm Thể dục Thể thao Quận 4), Thiều Ngọc Sơn (Trung Tâm Thể dục Thể thao Quận Gò Vấp), Dương Mỹ Phương (Trung tâm Văn hóa Quận 5), Phạm Thị Mộng Thuỷ (Nhà Văn hóa Thanh niên) và Đặng Văn Vạn (Trung tâm Thể dục Thể thao huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương)…Gần 60 năm tuổi đời và cũng như ngần ấy thời gian ông gắn bó với nghiệp võ, ông vẫn miệt mài truyền dạy, đúc kết và không ngừng khổ luyện. Tiếng tăm của phái võ Tân Khánh- Bà Trà gắn liền với tên tuổi của ông. Nói ông rất thành công với việc phát triển võ Tân Khánh – Bà Trà cũng không lấy gì làm ngoa khi nhìn vào lượng môn sinh, lượng câu lạc bộ đang được phát triển rộng khắp. Ông cũng được tặng thưởng nhiều huy chương, bằng khen về công tác bảo tồn văn hóa. Tuy nhiên, cho đến nay vị Võ sư này vẫn đau đáu nghĩ về nền võ học của dân tộc, nghĩ về tương lai của phái Tân Khánh – Bà Trà. Ông luôn trăn trở: “làm thế nào để võ cổ truyền dân tộc được nhiều người biết đến, nhiều người luyện tập hơn”, và “làm sao để khôi phục môn phái Tân Khánh- Bà Trà ngay chính tại mảnh đất đã từng khai sinh ra nó- Vùng Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn”.

Có lẽ ai cũng biết niềm trăn trở thứ nhất của Võ sư Hồ Tường về việc phát triển võ phái Tân Khánh- Bà Trà đã được ông cống hiến gần như trọn cả cuộc đời. Kế thừa những bí kíp võ học của người cha-Võ sư Hồ Lành, võ sư Hồ Tường hầu như cũng được kế thừa trách nhiệm phát triển môn phái, trách nhiệm gìn giữ và truyền lửa cho các thế hệ môn sinh đi sau. Ông muốn võ phái của mình được nhiều người biết đến hơn, chính vì thế võ sư Hồ Tường luôn vượt qua những khó khăn do hoàn cảnh lúc bấy giờ đem lại. Ông đạp xe đạp từ quận 1 sang quận 5, sang Nhà Bè, Gò Vấp, đạp về Thủ Dầu Một – Bình Dương…hễ nơi nào có thể gieo nên những hạt mầm võ thuật là ông không tiếc công sức, không ngại gian khổ.

Hiện tại, 6 buổi /tuần ông vẫn đều đặn chạy xe máy từ Gò Vấp sang Nhà Văn hóa Thanh Niên, Quận 1 để cùng các môn sinh luyện tập, không kể nắng mưa, vất vả. Có mặt tại sân tập của CLB võ thuật Tân Khánh – Bà Trà, Nhà văn hóa Thanh Niên Quận 1 mới thấy được tầm quan trọng của ông như thế nào. Công việc giảng dạy phần lớn là do các huấn luyện viên đạm nhiệm. Song, ông vẫn luôn có mặt trên sân tập: sửa cho môn sinh những động tác, thế tấn, động viên sự khổ luyện của từng người. Sự có mặt của ông luôn là niềm khích lệ tinh thần, động lực cho các môn sinh hăng say tập luyện. 29 năm ông mở CLB võ thuật tại Nhà văn hóa Thanh niên có rất nhiều người theo học. Trong đó không ít những môn đồ không đủ kiên nhẫn vượt qua nổi khó khăn, thử thách. Tuy nhiên cũng không thiếu những tấm gương miệt mài cùng ông luyện tập. Họ là niềm tự hào, niềm hạnh phúc, thành quả ngọt ngào báo đáp công lao truyền dạy của ông.

Thật bất ngờ khi chúng tôi chứng kiến cảnh một nhóm người Pháp khi nghe danh môn phái Tân Khánh – Bà Trà đã lặn lội sang tận Việt Nam, tìm cho được ông. Họ giành khoảng thời gian ít ỏi của mình để theo học và luyện tập, và cũng không ít môn sinh ở nước ngoài một vài năm lại trở lại Việt Nam một lần để tiếp tục theo học. Chúng tôi cũng được chứng kiến cảnh 4 võ sinh người Pháp, sang tham gia Liên hoan võ thuật dân tộc cổ truyền Việt Nam 2010 diễn ra tại Bình Định, họ xuống máy bay, vội vàng tới nhà Văn hóa Thanh niên, gặp –thăm hỏi võ sư Hồ Tường, tặng võ sư chai rượu vang mang từ Pháp, xin võ sư để cùng mọi người luyện tập một lúc rồi lại vội vã ra sân bay để đi Bình Định ngay trong đêm.

Những tình cảm mà mọi người dành cho ông cũng như dành cho môn phái như tiếp thêm sức mạnh để võ sư bền bỉ truyền giảng. 15 năm dạy võ miễn phí cho sinh viên, học sinh là một quãng thời gian dài kỷ lục mà khó có ai có thể bắt kịp. Ông muốn tạo cho học sinh, sinh viên một sân chơi vui khỏe, một khả năng tự vệ cần thiết và đó cũng được xem như một lời giới thiệu trực quan, sinh động, một sự lựa chọn thú vị cho thanh, thiếu niên khi tham gia các hoạt động tại đây.

Theo ông, dân tộc Việt Nam có tinh thần thượng võ rất cao. Tuy nhiên, để người dân tiếp cận được với võ thuật dân tộc thì không phải là vấn đề đơn giản. Bởi vì nền võ thuật Việt Nam chưa có được sự quảng bá rộng rãi trong quần chúng, mặt khác những dòng phái võ thuật nước ngoài xâm nhập vào nước ta những năm gần đây rất mạnh mẽ. Người dân đa phần chỉ biết tới karatedo, pencasilat, judo, whusu…. Cũng có một bộ phận muốn theo học võ dân tộc, song tại địa phương họ khó có thể tìm thấy một địa điểm học thích hợp.

Khoảng gần một thập kỷ gần đây, Vovinam đã rất thành công trong việc quảng bá và vận động để có mặt trong các kỳ đại hội thể thao- võ thuật mang tầm cỡ khu vực. Vovinam đã thực sự thành công khi tạo được tiếng vang, ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Việt. Tuy nhiên, việc muốn phát triển Vovinam thành quốc võ hay đem Vovinam vào giảng dạy trong nhà trường lại là vấn đề chưa thực sự thấu đáo, đặc biệt là xét đến lịch sử hình thành và vai trò của dòng phái trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt.

Với võ sư Hồ Tường, cách quảng bá của ông thật đặc biệt. 15 năm ròng đều đặn mở lớp học miễn phí cho học sinh- sinh viên. Ông không chỉ muốn mọi người biết đến tên môn phái của minh mà điều quan trọng hơn ông muốn ai cũng có cơ hội theo học. Nhiều học trò tâm huyết theo ông suốt gần 30 năm trời để cùng ông khổ luyện, họ đã trở thành những vận động viên, huấn luyện viên có tiếng trong làng võ thuật cổ truyền Việt Nam, song họ vẫn trở về bên ông, giúp sức thầy chỉ dạy cho lớp hậu bối. Ông xem đó là phần thưởng xứng đáng bù đắp những công sức và tâm nguyện của ông.

Trăn trở sau cuối của võ sư Hồ Tường là làm thế nào để võ Tân Khánh – Bà Trà về được với vùng Tân Phước Khánh, cái nôi đã sinh thành ra nó. Có thể nói đây là tâm huyết của rất nhiều người đi trước, trong đó có cố võ sư Hồ Văn Lành, người đã rất thành công khi phát triển võ Tân Khánh- Bà Trà ra ngoài khu vực Tân Uyên nhưng lại chịu thất bại khi muốn đem võ về chốn cũ. Không ai ngờ rằng vùng đất Tân Uyên quả cảm, nơi tạo nên môn võ lừng danh Tân Khánh hiện tại lại không còn người dạy võ. Người biết võ thì đếm được trên đầu ngòn tay, song lại đang ở vào độ tuổi 70-80, khả năng mở lớp truyền dạy võ nghệ là rất ít.

Niềm trăn trở của võ sư Hồ Tường, mà nói đúng hơn là của người cha Hồ Lành truyền lại đã không ngừng thôi thúc ông. Đã có giai đoạn ông chạy xe từ Thành phố về Thủ Dầu Một dạy võ, ông cũng là người đầu tiên dựng võ đài ở vùng Tân Uyên, đem võ sỹ về thi đấu và biểu diễn 3 đêm liền. Bà con trong vùng đặc biệt tán thưởng. Tuy nhiên, việc mở lại các tụ điểm dạy và luyện võ tại đây vẫn chưa thể thực hiện.

Theo võ sư Hồ Tường có 3 nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là:

-Thứ nhất: Các cấp chính quyền chưa có hành động cụ thể nào hỗ trợ việc khôi phục và phát huy môn võ truyền thống này. Hiện tại, dự án bảo tồn và phát huy võ Tân Khánh- Bà Trà đang được triển khai thực hiện. Song, nhìn nhận một cách xác thực thì tính khả thi và kết quả thực tế của các dự án bảo tồn đang còn rất hạn chế. Thật ra, việc thành lập một vài câu lạc bộ để truyền dạy không phải là vấn đề quá phức tạp. Nhưng làm sao để võ Tân Khánh có thể “sống” và phát triển vững chắc mới là mục đích lâu dài, mục đích mà chúng ta cần hướng tới.

Thứ hai: Tính biệt lập, gia truyền ảnh hưởng không nhỏ đến việc phổ biến và truyền dạy. Thế kỷ XIX, XX hầu hết người dân Tân Khánh ít nhiều đều biết chút ít võ nghệ, với một số người võ nghệ còn là một phương tiện mưu sinh như các nhóm bảo an hàng hóa đường bộ, đường thủy. Thời Pháp thuộc, việc học và dạy võ bị cấm do Pháp lo sợ những cuộc nổi dậy của dân chúng được trang bị võ nghệ sẽ gây ra những hậu quả khôn lường, người biết võ được chú ý đặc biệt. Chính từ hệ lụy này việc luyện tập và truyền dạy bị hạn chế rất nhiều. Những người biết võ thường chỉ truyền dạy cho con cháu trong gia đình, hiếm có trường hợp nhận dạy người ngoài cho dù sau này võ thuật sau này được tự do hoạt động. Lối truyền dạy như vậy đã làm cho môn võ Tân Khánh ngày càng đi vào ngõ cụt. Những đòn thế, bài bản võ học bị thất truyền, đặc biệt là khi các cao thủ võ học khuất núi.

Thư ba: Thiếu một lớp môn sinh tiên phong, xung kích. Võ sư Hồ Tường hiện tại đã khá cao tuổi, lại định cư tại Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc trở về Bình Dương lập câu lạc bộ và dạy võ chỉ là phương án tình thế. Điều tiên quyết là phải đào tạo được một lớp môn sinh Bình Dương, sau đó từ những hạt nhân này mới từ từ nhân rộng. Tuy nhiên, hơn 1 nghìn môn sinh của thầy Tường chủ yếu là người thành phố. Anh Đặng Văn Vạn là môn sinh hiếm hoi người Bình Dương, hiện tại anh đã thành lập Câu lạc bộ võ thuật Tân Khánh- Bà Trà tại Trung tâm văn hóa Thuận An, chắc chắn rằng đây sẽ là một trong những nhân tố quan trọng trong công cuộc khôi phục và phát huy võ phái Tân Khanh- Bà Trà trong thời gian sắp tới…

Chúng tôi tạm biệt võ sư Hồ Tường mà lòng vẫn đau đáu suy nghĩ về những tâm nguyện của ông, những tâm nguyện thốt lên từ sự mong mỏi của cả vùng Tân Phước Khánh. Dẫu biết rằng những ước nguyện của một đời người không phải ai cũng được toại nguyện. Song, chúng tôi vẫn hy vọng rằng Võ Tân Khánh – Bà Trà sẽ nhận được nhiều sự chia sẻ và đón nhận, những trăn trở của ông sớm trở thành hiện thực…/…

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn võ sư Hồ Tường, các anh chị trong CLB võ Tân Khánh- Bà Trà Nhà văn hóa Thanh niên đã dành nhiều thời gian tâm sự, chia sẻ. Chúc võ sư Hồ Tường và các anh chị thật nhiều sức khỏe để thực hiện ước mơ cao cả của mình.

Dĩ An, ngày 23 tháng 9

Tống Thị Phương

-Giáo viên Lịch sử- Trường THPT Dĩ An – Bình Dương

-Tel:         0164.6414.271

-Email:   tongphuong511@gmail.com

Trần Đức Thuận

-Phòng Di sản văn hóa – Bảo tàng Bình Dương

-Tel:          0977.328.132

-Email:    diepvientran@gmail.cm

————————————————————————————

Có một lớp võ SV miễn phí hơn 10 năm

Chỉ trừ tối thứ 7, còn lại tất cả các buổi tối từ thứ hai cho đến chủ nhật, cứ 19 giờ là sân 4A Nhà văn hoá Thanh niên TP.HCM nhộn nhịp không khí luyện tập của các lớp võ thuật.Có một lớp võ rất đặc biệt đã gắn bó với sân 4A NVHTN trong suốt nhiều năm nay, đó là lớp võ miễn phí dành cho các bạn trẻ (lớp kéo dài 3 tháng mỗi năm, từ tháng 10 đến tháng 12 hằng năm) do thầy – võ sư Hồ Văn Tường trực tiếp đứng lớp.

Gắn bó gần 30 năm với NVHTN, từ khi còn là một thanh niên, thầy – võ sư Hồ Văn Tường hiện nay đã có 24 năm đứng lớp võ dành cho các bạn trẻ yêu thích bộ môn Thiếu lâm võ lâm. Thầy nói: “Khoảng năm 1995, trong điều kiện sân bãi còn chưa được chỉnh trang như bây giờ, tôi đã nghĩ đến chuyện mở lớp võ miễn phí cho các bạn SV. Mục đích duy nhất mà tôi hướng đến và duy trì là giúp cho các bạn có một sân chơi võ thuật để rèn luyện thân thể”.

Nhưng khó khăn không phải là không có. Trước đây sân chưa được nâng cấp nên dù trời chỉ mưa rất nhỏ cũng khiến mặt sân đọng nước không thể tập, những lúc như thế thầy trò phải kéo nhau lên hành lang của hội trường 1 luyện tập. Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, cô Hoàng Sa – trưởng phòng Thể dục thể thao NVHTN, nói: “Vấn đề sân bãi là một khó khăn chung của NVHTN. Với lớp võ thì đó thực sự là một khó khăn thường trực, bởi nếu có những hoạt động kỉ niệm lễ tết diễn ra thì lớp võ thường phải nhường sân”.

Thế nhưng bằng quyết tâm và lòng nhiệt thành của thầy và trò, lớp học “cứ đến hẹn lại lên” bao năm qua…

Lớp học năm nay cũng thu hút gần 300 bạn trẻ đến tham gia luyện tập, đa số họ là SV đến từ các trường: ĐH Kinh tế TP.HCM; ĐH KHXH & NV; ĐH Ngoại ngữ – Tin học; ĐH Kĩ thuật – Công nghệ; Trường Nghiệp vụ Du lịch Sài Gòn… Dù là SV của trường nào và học vì những mục đích khác nhau (có bạn học vì yêu thích, có bạn học chỉ đơn thuần là rèn luyện sức khoẻ, hoặc cũng có bạn chỉ là tò mò theo bạn đến học thử!), song một điều có thể nhận thấy từ các gương mặt ấy là niềm hân hoan, phấn khởi. Bởi thật không dễ để có được một môi trường rèn luyện sức khoẻ tốt mà lại hoàn toàn miễn phí như vậy ở thành phố này.

Do đó các bạn học với một tinh thần thượng võ, nghiêm túc và say mê. Bạn Tô Tuấn Khiêm (SV năm nhất trường ĐH Kĩ Thuật Công nghệ) nói: “Tôi thực sự rất vui khi tham gia lớp võ thuật miễn phí của thầy Tường. Lớp võ chắc chắn sẽ giúp mình khỏe hơn, từ đó không chỉ học tốt hơn mà còn có khả năng tự vệ”.

Bên cạnh việc đến lớp luyện võ, các bạn trẻ còn được tham gia biểu diễn (như đi cà kheo, đánh cờ người, biểu diễn võ thuật …) tại các hoạt động, các lễ hội văn hoá lớn được tổ chức bởi các cơ quan Nhà nước, hay cả đơn vị cá nhân … mà thầy là người tích cực, thường xuyên liên hệ. Đặc biệt trong dịp tết Nguyên đán nhiều sinh viên vì điều kiện xa xôi, không thể về quê ăn tết thì việc tham gia các hoạt động biểu diễn ấy đã giúp họ vơi đi nỗi nhớ nhà trong ba ngày tết.

Bạn Nguyễn Thị Thanh Loan – một võ sinh (là SV trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học ), tâm sự với chúng tôi: “Tham gia những buổi biểu diễn vào dịp Tết giúp mình có điều kiện va chạm thực tế, có kinh nghiệm trong giao tiếp và tổ chức các hoạt động xã hội. Và điều mà mình cảm thấy tâm đắc nhất là sống “ích” hơn, đặc biệt nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân cũng vơi đi phần nào”…

BẢO MINH – CHÍ QUỐC – MỄ THUẬN

Báo Tuổi Trẻ – 21/10/2005, 17:27 (GMT+7)

——————————————————————-

Tìm hiểu thêm về võ phái Tân Khánh-Bà Trà 


* HỒNG THUẬN

 Nói đến võ phái Tân Khánh – Bà Trà (TK-BT) là nói đê’n võ phái của những người đi khai hoang mở đất, của những người thuộc dòng dõi nhà Tây Sơn vi chạy trốn sự trả thù của triều Nguyễn nên đê’n vùng đất Tân Khánh (thuộc TT Tân Thuộc Khánh, Tân Uyên, Bình Dương ngày nay) sinh cơ lập nghiệp và gây dựng nên môn võ truyền thống lưu truyền đê’n ngày hôm nay. Mỗi khi nhắc đê’n võ phái TK-BT, người ta liên tưởng đê’n biết bao giai thoại gắn liền với tên tuổi của những bậc tiền nhân đã có công gây dựng, sáng tạo vả lưu truyền môn võ cổ truyền này trong cuộc sống lao động, bảo vệ mùa màng, chống thú dữ cũng như trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm…

Những ngày đầu hình thành
Vào khoảng thế kỷ XVll, một số người di cư từ miền Thuận Quảng thuộc xứ Đàng Trong nam tiến khai phá vùng đất đông Nai – Gia định, cùng với việc định cư trên vùng đất mới để đối phó với những khó khăn của vùng rừng núi vốn lắm thú dữ, những người dân này từng bước rèn luyện, sáng tạo và hình thành nên môn võ miệt rừng, gọi là võ lâm. Những kinh nghiệm trong chiến đấu chống thú dữ, cướp bóc hợp cùng những thế võ truyền thống của tổ tiên, cộng thêm sự giao thoa với võ của người bản địa (người Chân Lạp) họ đã tạo ra những thế võ nổi tiếng lưu truyền trong dân chúng mà mỗi khi nhắc đến, người dân khắp Lục tỉnh Nam kỳ đều không khỏi thán phục, trong đó có võ phái TK-BT.
Danh tiếng võ TK-BT gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ có tên là Bà Trà, thuộc dòng dõi nhà Tây Sơn vì chạy trốn sự truy đuổi trả thù của nhà Nguyễn nên đã dẫn theo một nhóm người đến vùng đất tân Khánh để sinh cơ lập nghiệp. Nối tiếp truyền thống kiêu hùng của ông cha, Bà Trà đứng ra chiêu mộ thêm nghi binh để chống lại triều đình nhà Nguyễn, số người quy tụ lên đến hàng trăm người, hầu hết họ đều là nữ giới. Cùng với việc sinh cơ lập nghiệp nơi vùng đất mới, Bà Trà chia chị em thành từng toán và tích cực ngày đêm luyện tập võ nghệ. Theo lời truyền lại, Bà Trà từng đưa nữ binh của mình đi đánh những tên cường hào, ác bá lấy của cải về phát cho dân nghèo quanh vùng nên bà rất được người dân ở đây tin tưởng, kính nể và xem như một anh hùng nghĩa hiệp lúc bấy giờ. Còn bọn quan lại địa phương thì xem bà như cái gai trước mắt cần phải nhổ bỏ nhưng vì danh tiếng và kiêng nể tài võ nghệ của bà mà không ai dám đụng đến. Dưới thời Bà Trà, danh tiếng võ TK-BT không chỉ vang dội vùng Nam bộ mà còn lan rộng ra cả nước, sánh ngang với võ Bình Định. Kế tục sự nghiệp của tiền nhân, những hậu duệ đời sau của Bà Trà cũng trở thành những bậc thầy danh tiếng như: thầy Hai Ất, thầy Ba Giá, cô Năm Vuông (con gái của thầy Hai Ất)… một thời làm rạng danh xứ võ Tân Khánh.
Hậu duệ của Bà Trà là thầy Sáu Trực – một vị võ sư nổi tiếng vào những năm 1939-1959 có nhiều môn sinh sau này danh tiếng còn vang dội hơn thầy như môn sinh Võ Văn Phiên (thầy Bảy Phiên, được xem là hậu tổ) – sư phụ của võ sư Hồ Văn Lành (tức võ sư Từ Thiện), Hồ Văn Thứ (Tư Thứ), Hồ Văn Thạch (Tư thạch), Võ Văn Ché và có cả nhà yêu nước Võ An Ninh.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làng võ TK-BT đã có biết bao thanh niên võ dũng tiếp bước lên đường cầm súng bảo vệ Tổ quốc thân yêu: Những Nguyễn An Ninh, Đào Ngọc Báu, Trương Văn Phước một lán nữa đã làm rạng danh làng võ TK-BT. Một số người không tham gia chiến đấu thì làm nhiệm vụ truyền dạy, lưu truyền môn võ truyền thống này, như võ sư Từ Thiện, là người có thời gian gắn bó lâu dài cùng những thế võ TK-BT (nay ông đã qua đời). Ông là người duy nhất truyền dạy môn võ cổ truyền này và phát triển rộng ra Sài Gòn từ những năm 1954 cho tới những năm cuối đời. Con trai ông là võ sư Hồ Văn Tường (Hồ Tường) hiện đang tiếp tục phát triển sự nghiệp của tổ tiên mà ông đã có công gây dựng. Ngoài ra còn có thầy Hồ Văn Thứ (Tư thứ) thời thanh niên đã xuôi ngược Lục tỉnh miền Tây, dạy không biết bao môn sinh.
Một thời hào hùng
Để tìm hiểu thêm về võ phái TK-BT, chúng tôi đã từng về lại vùng đất Tân Khánh và may mắn gặp được những bậc cao niên trong làng, họ chính là hậu duệ của võ phái TK-BT. Trò chuyện với chúng tôi lúc đó là những ông cụ đã trên 70 tuổi. Tuy tuổi đã cao, nhưng trong khi trò chuyện với chúng tôi các cụ vẫn còn giữ được phong thái con nhà võ: thân hình rắn chắc, đi đứng tuy không còn oai vệ như thời trai trẻ nhưng vẫn còn nhanh nhẹn và hoạt bát. Theo các vị võ sư cao tuổi trong làng, võ TK-BTcó đến 6 loại quyền cước và 18 loại binh khí chính. Người nào luyện khoảng 1/3 là yên tâm không sợ người khác bắt nạt. Nghệ thuật võ TK-BT phảng phất tinh thần nghĩa khí hào hiệp, vì đó là nghệ thuật lấy nhỏ chống lớn, ít chống nhiều, nhu chương… Nói về các giai thoại của võ TK-BT thì có rất nhiều, nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là sự tích ông Hai Ất, ông Ba Giá hay cô Năm Vuông ”đả hổ” (đánh cọp); hay sự tích Bà Trà với đôi kiếm có ghi trên đó câu ”Anh chị ăn không trả tiền, hỏi gặp kiếm ừ rồi đi” treo ở cửa quán để răn đe những người thích ăn quịt của người khác… Những sự tích cứ như huyền thoại nâng tầm thế của làng võ TK-BT ngày càng trở nên nổi tiếng. Truyền thống hào hùng của võ xứ TK-BT, nhất là uy danh của bậc võ sư tiền bối Võ Văn Ất (Hai Ất) qua thành tích nhiều phen ”đả hổ” đã thôi thúc nhiều thanh niên của Lục tỉnh miền Tây đến với võ phái này, tham gia vào các lớp học võ do các thầy ở TK- BT đi truyền dạy…
Những người kế tục và phát triển võ phái Tân Khánh-Bà Trà
Đầu tiên phải kể đến võ sư Từ Thiện. Lúc 14 tuổi ông đã bắt đầu học võ. Cái uy danh của võ sư Hai Ất với những chiến công ”đả hổ’ đã thôi thúc ông đến với lớp võ TK-BT. Trực tiếp truyền dạy cho ông là người dượng thứ sáu – võ sư võ Văn Phiên (Bảy Phiên) – đệ tử đời thứ hai của lão sư Hai ẤT. Không lâu sau đó, ông đã trở thành người nổi danh với những pha nhập nội thần tốc khi tham gia trong đoàn võ sĩ tân Khánh và tham dự võ đài dành cho các võ sĩ khắp miền Đông Nam bộ. Lần nào thi đấu ông cũng đem vinh quang về cho xứ võ Tân Khánh. Đến năm 1939, võ sư Từ Thiện đứng ra mở lớp dạy võ TK-BT, thu hút khá nhiều thanh thiếu niên tại xã nhà và các xã lân cận đến theo học. Đến năm 1954, võ sư Từ Thiện được mời dạy môn võ lừng danh của miền đất ”đả hổ” này cho người dân Sài Gòn. Võ TK-BT từ đó được phát triển rộng ra nhiều vùng, quận của Sài Gòn và tồn tại đến nay. Những võ sĩ nam mang họ Từ, võ sĩ nữ mang họ Hổ, sử dụng kỹ thuật của võ phái TK-BT đã góp phần tô điểm vinh quang cho xứ võ quê hương này, trong số đó có nhiều võ sĩ đạt thành tích cao trên các võ đài trong và ngoài nước, như: Từ thanh Nghĩa, Từ trung Tín, Từ Y Văn từng thắng các giải vô địch Lào, lndo- nesia, Thái Lan, Hồng Ong trong những năm 70. Ba người con trai của ông cũng được cha truyền dạy võ từ nhỏ. Tuy nhiên, đến nay chỉ có người con trai út là võ sư hồ Tường nối nghiệp cha để tiếp tục phát triển môn võ của tổ tiên đến với những người mến mộ môn võ cổ truyền này ở TP.HCM. Hiện ông là Trưởng ban Huấn luyện lớp võ lâm Tân Khánh tại Nhà Văn hóa thanh niên TP.HCM. Hàng ngày vẫn miệt mài truyền dạy các thế võ TK-BT cho môn đồ của mình, trong đó có không ít người nước ngoài.
Cũng là đệ tử của thầy Bảy Phiên, võ sư Tư Thứ cũng một thời trai trẻ ngang dọc bôn ba khắp các tỉnh miền Tây Nam bộ để truyền dạy môn võ TK-BT cho những người nghĩa dũng. Ông nói rằng, chỉ là những người học trò thân tín, tin tướng ông mới truyền dạy cho. Có lớp ông dạy trên một ngàn người. Lúc chúng tôi tìm gặp ông, ông đã ở vào cái tuổi ”Thất thập” và hơn 20 năm không còn đi dạy nữa nhưng trông ông vẫn giữ được nét phong thái, khỏe mạnh của con nhà võ, hàng ngày ông vẫn múa quyền đánh roi vì sợ già rồi sẽ quên nghề…
Cần được phát huy
Theo các cụ cao niên ở Tân Khánh, hiện nay chỉ có võ đường Từ Thiện và Nhà Văn hóa thanh niên TP.HCM là hai địa chỉ truyền dạy về võ TK-BT. Ngoài ra, hầu như không có võ đường nào mở lớp dạy môn võ cổ truyền này, kể cả ở địa phương. Theo các cụ nếu có truyền dạy thì cũng chỉ diễn ra trong phạm vi mỗi gia đình riêng, theo phương thức cha truyền cho con. Mà phải là những người con có khí thế, bản chất của người học võ thì mới được truyền dạy, bởi vì các cụ cho rằng, học võ là để tự vệ, phòng thân nên không thể truyền cho những ai vốn có tính hiếu thắng, thích gây gổ với người khác… Vậy, để phát huy và nâng cao tầm của võ phái TK-BT, vấn đề là chính quyền địa phương, các cấp các ngành liên quan nên có biện pháp như thế nào để lưu giữ lại môn võ cổ truyền này, tránh bị mai một và lãng quên nó ngay trên mảnh đất sản sinh ra nó. Bởi vì, khôi phục lại võ TK-BT chính là khôi phục lại một nét đẹp văn hóa của quê hương.
H.T

(Tài liệu điền dã)

http://sugia.vn

——————————————————————–

Nguy cơ thất truyền võ phái Tân Khánh Bà Trà

Kỳ 1: Miếng võ của những người đi khai hoang

(TT&VH) – Hơn 200 năm qua, võ phái Tân Khánh Bà Trà (TKBT) của những người thuộc dòng dõi nhà Tây Sơn đi khai hoang mở đất tại Đồng Nai – Gia Định được hình thành và lưu truyền đến tận hôm nay.

Nói đến võ phái TKBT là nói đến nhiều giai thoại hào hùng của các bậc tiền nhân đã có công gây dựng, sáng tạo và lưu truyền võ phái cổ truyền này. Thế nhưng hiện nay, tại “cái nôi” nơi sản sinh ra môn võ này chỉ còn là ký ức, là truyền thuyết đối với người dân huyện Tân Uyên và Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Sự kết hợp kỳ diệu của võ Tây Sơn và người Nam bộ

Vào khoảng thế kỷ 17, có một số người di cư từ miền Thuận Quảng thuộc xứ Đàng Trong đã nam tiến khai phá vùng đất Đồng Nai – Gia Định. Để có thể an tâm định cư trên vùng đất mới, tại một vùng rừng núi nhiều thú dữ, những người dân này từng bước rèn luyện, sáng tạo và hình thành nên môn võ miệt rừng (còn gọi là võ lâm). Mỗi khi nhắc đến tên, người dân khắp lục tỉnh Nam Kỳ đều biết tiếng. Những người di cư này đã lập ra làng Tân Khánh, nay là thị trấn Tân Phước Khánh (huyện Tân Uyên, Bình Dương). Tới vùng đất mới, họ mang theo mình truyền thống thượng võ, những kỹ pháp võ thuật của quê hương Tây Sơn và đã tiếp tục phát triển nó trong sự hòa trộn với những hệ thống kỹ thuật tại miền đất mới.

Dưới triều vua Tự Đức (1848-1883), cuộc khởi nghĩa của dân làng Tân Khánh chống lại quan lại thối nát làm tay sai cho ngoại bang ở địa phương đã nổ ra, phản ánh tinh thần bất khuất của dân ở xứ này. Đến nay, nhiều người dân địa phương vẫn tự hào về sự kiện kể trên và luôn nhắc về nó gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ tên là Võ Thị Trà. Bà vốn xuất thân từ nhà võ Tây Sơn, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại bè lũ quan lại thối nát là tay sai cho ngoại bang ở địa phưong trong 10 năm (từ năm 1850). Từ vùng đất Tân Khánh đến làng Bình Chuẩn (thuộc huyện Thuận An, Bình Dương) đều được gọi là “đất bà Trà”. Cũng từ đó, người dân gọi phái võ truyền thống xuất phát từ Tân Khánh, Bình Chuẩn là “phái võ Bà Trà – Tân Khánh” hay “Tân Khánh Bà Trà”.

Những hậu duệ đời sau của Bà Trà cũng trở thành những bậc thầy danh tiếng như: thầy Hai Ất, thầy Ba Giá, cô Năm Vuông… tiếp nối tiền nhân, cũng một thời làm rạng danh xứ võ Tân Khánh. Tiếp đến là thầy Sáu Trực, một vị võ sư nổi tiếng vào những năm 1939-1959. Có nhiều môn sinh của võ phái TKBT sau này danh tiếng còn vang dội hơn như: Thầy Bảy Phiên (Võ Văn Phiên) là sư phụ của võ sư Hồ Văn Lành (tức võ sư Từ Thiện), Hồ Văn Thứ (Tư Thứ), Hồ Văn Thạch (Tư Thạch), Võ Văn Ché…

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làng võ TKBT đã có biết bao thanh niên võ dũng tiếp bước lên đường cầm súng bảo vệ Tổ quốc: Nguyễn An Ninh, Đào Ngọc Báu, Trương Văn Phước… đã tiếp tục làm rạng danh làng võ TKBT. Bên cạnh đó, để lưu truyền môn võ truyền thống này, có võ sư Từ Thiện (Hồ Văn Lành), là người có thời gian gắn bó lâu dài cùng những thế võ TKBT. Ông là người duy nhất truyền dạy môn võ cổ truyền này và phát triển rộng ra Sài Gòn từ những năm 1954 cho tới lúc cuối đời. Ngoài ra, còn có thầy Hồ Văn Thứ (Tư Thứ) thời thanh niên đã xuôi ngược lục tỉnh miền Tây, dạy không biết bao môn sinh.

Việt Nam cũng có “Võ Tòng”

Trước năm 1975, võ sinh của TKBT đã đạt nhiều thành tích khi tham gia đấu võ đài do Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn: Hai huy chương vàng của Từ Thanh Nghĩa (năm 1970) và Hồ Ngọc Thọ (năm 1974); bốn huy chương bạc của Từ Thanh Tòng, Từ Duy Tuấn, Từ Hoàng Út, Hồ Thanh Phượng. Ngoài ra, 3 võ sinh Từ Thanh Nghĩa, Từ Trung Tín, Từ Y Văn đã từng được chọn đại diện cho toàn miền Nam thi đấu bảy trận toàn thắng trước các nhà vô địch của những nước Thái Lan, Lào, Campuchia.
Từ năm 1999 đến nay, nhiều võ sinh của môn TKBT đã đạt nhiều thành tích cấp quốc gia ở các cuộc thi võ Cổ truyền và ở các môn khác như Wushu, Quyền Anh.
Để tìm hiểu thêm về võ phái TKBT, chúng tôi đã từng về lại vùng đất Tân Khánh cách trung tâm TP.HCM gần 50 km về phía Đông – Bắc. Khó khăn lắm, chúng tôi mới gặp được 2 bậc võ sư cao niên trong làng còn sót lại. Đó chính là ông Tư Thạch và ông Tư Thứ đã ngoại bát tuần.

Trong cuộc chuyện trò với 2 cụ, chúng tôi cảm nhận cái phong thái của con nhà võ vẫn hiện rõ trên khuôn mặt. Thân hình các cụ không còn rắn chắc, đi đứng tuy không còn oai vệ như thời trai trẻ, nhưng tinh thần vẫn minh mẫn. Mặc dù, được các cụ cảnh báo là ở cái tuổi “bát thập hóa như nhi”, mấy căn bệnh già đã ghé “thăm” nhưng câu chuyện về giai thoại của võ TKBT vẫn được kể mạnh mẽ, nhiệt huyết, bay bổng đến lạ thường.

“Mấy chú chắc nghe đến truyện Tàu có Võ Tòng “đả hổ”? Sự tích của mình cũng có đó!”, ông Tư Thứ hỏi chúng tôi và ông chậm rãi kể lại: “Ngày trước ông Hai Ất và ông Ba Giá là 2 anh em ở cái đất Tân Khánh, 2 ông đều là đệ tử của bà Trà. Có lần, trời tối mịt mà ông Hai Ất không thấy em mình là ông Ba Giá đi làm ruộng về nên ông Hai Ất sinh lo, chạy đi tìm ông Ba Giá. Đến đoạn, ông Hai Ất thấy ông Ba Giá tay cầm cây cào cỏ Đậu thủ thế, trước mặt ông Ba Giá là một con hổ to đang nằm phục dưới đất, móng vuốt giương ra thủ thế. Ông Hai Ất biết là em mình đã có trận quần nhau sinh tử với con hổ này. Ông Hai Ất nhanh trí, quăng ngay cái áo đang mặc lên mình hổ. Con hổ tung mình lên cao và tức thời ông Ba Giá tung ngay cú đá trí mạng vào bụng con hổ. Đau quá, con hổ chạy tuốt vào rừng sâu”.

Rồi như say sưa với câu chuyện, 2 cụ lại kể cho chúng tôi nghe về sự tích bà Trà với đôi kiếm có ghi trên đó câu ”Anh chị ăn không trả tiền, hỏi cặp kiếm ừ rồi đi” treo ở cửa quán để răn đe những người thích ăn quịt của người khác…

Những sự tích nêu trên đã thôi thúc nhiều thanh niên thời đó theo học môn võ TKBT. Và cũng từ môn võ này đã sản sinh ra nhiều bậc anh hùng kỳ tài đóng góp cho đất nước trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước.

Kỳ 2: Vùng đất võ chỉ còn hư danh

(TT&VH) – Điều đáng buồn là tại nơi sản sinh ra võ phái Tân Khánh Bà Trà (TKBT), thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Thuận An, Bình Dương, đã từ rất lâu người dân không còn thấy những lớp dạy võ TKBT như ngày xưa.

Những thanh niên biết đến môn TKBT này ngày càng ít đi, thay vào đó là những môn võ khác được du nhập từ nước ngoài. Việc khôi phục lại môn võ TKBT ngay tại quê hương của nó là một điều cần thiết và cấp bách.

Chỉ còn là “truyền thuyết”

Rong ruổi gần 50 km từ trung tâm TP.HCM tới thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, Bình Dương, người đầu tiên mà chúng tôi gặp mặt chính là võ sư Chung thuộc môn võ Bắc phái, Bình Định. Sau khi nghe chúng tôi trình bày mục đích của mình là muốn tìm hiểu về võ phái TKBT, thầy Chung ái ngại, lo sợ chúng tôi sẽ không thu thập được thông tin gì quý giá. Thầy Chung bộc bạch: “Đã từ lâu, môn võ này không được truyền dạy tại đây và chỉ còn lại 2 ông cụ tuổi đã 80 biết về môn TKBT, mà chắc có lẽ không giúp gì nhiều được cho các chú. Riêng tôi thì không biết gì, mà nếu có biết thì cũng không dám nói vì là người ngoài”.

Võ sư Tư Thạch tại quê hương môn võ Tân Khánh Bà Trà

Hai ông cụ mà võ sư Chung nhắc đến chính là cụ võ sư Tư Thạch và Tư Thứ mà chúng tôi nói đến trong bài trước. Định bụng trước khi đến gặp 2 cụ, chúng tôi muốn đi xung quanh thị trấn để tìm lại những di tích còn sót lại về võ phái hoặc võ đường TKBT để có cái nhìn trực quan và sinh động hơn. Thế nhưng, chúng tôi đã thất vọng vì không thể tìm ra bất cứ khung cảnh, hình ảnh nào liên quan đến môn võ này. Nghe lời kể lại từ thầy Chung, ngay tại chợ Tân Khánh, trước đây có một cái rạp đã từng phục vụ cho cuộc thi đấu so tài cao thấp của 2 phái: TKBT và Bắc phái, Bình Định nhưng giờ đây cũng không lưu giữ lại dấu tích gì mà thay vào đó là ngôi chợ đẹp đẽ, kiên cố.

Nói chuyện với 2 cụ võ sư Tư Thạch và Tư Thứ, được biết các cụ đã “giải nghệ” từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất. Các cụ đều gác chuyện truyền bá võ nghệ sang một bên và làm nghề khác để nuôi sống gia đình. Và từ đó đến nay, không có bất cứ võ đường nào tại tỉnh Bình Dương được thành lập để truyền bá môn võ thuật này.

Theo các cụ, môn võ thuật này được truyền theo kiểu “cha truyền con nối”. Tùy thuộc vào tư chất mới truyền dạy và tùy độ “sáng, tối” của người học nên việc truyền thụ cũng có phần khiếm khuyết, chênh lệch. Có người biết nhiều, người biết ít. Bên cạnh đó, vào thời điểm đất nước còn bị xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chính quyền chế độ cũ không cho phép thành lập võ đường, nên người theo học võ phải học lén, không dám công khai.

Những bài Thiệu (bài thơ ghi các tư thế để đánh quyền) cũng được truyền miệng, học thuộc và cũng được các môn sinh ghi chép lại nhưng không đầy đủ. Hiện tại, chỉ còn lại 2 bậc võ sư cuối cùng tại làng Tân Khánh xưa này và các tư liệu về môn võ TKBT của 2 cụ lưu giữ theo năm tháng cũng đã thất lạc.

Trước khi chúng tôi lên đường đi tìm hiểu võ phái TKBT ngay tại nơi sản sinh ra nó, mỗi chúng tôi đều hi vọng sẽ được thấy và chụp hình lại những di vật, hình ảnh liên quan đến võ phái TKBT có thể như: Quyển sử ký về môn võ TKBT, hoặc là đền thờ Tổ, võ đường, chí ít thì cũng vài tấm ảnh mà các cụ múa roi đi quyền hồi xưa.

Chúng tôi đã hỏi cụ Thứ việc khôi phục lại môn võ TKBT này ngay tại quê hương của nó có thể thực hiện được không? Cụ Tư Thứ tay run run đưa điếu thuốc lá lên miệng rít một hơi dài và ngậm ngùi nói: “Điều này chỉ trông chờ vào Nhà nước và hậu duệ duy nhất là võ sư Hồ Tường đang truyền bá môn võ TKBT trên đất Sài Gòn”.

Các môn sinh đang tập luyện môn võ này tại NVH Thanh Niên TP.HCM

Một di sản cần được bảo tồn

Được biết, UBND tỉnh Bình Dương đã giao cho Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương thực hiện công trình nghiên cứu “Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà – Bình Dương” do Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp làm chủ nhiệm công trình, Thạc sĩ – Võ sư Hồ Tường là một trong những thành viên trực tiếp thực hiện công trình. Đề tài này đã được thông qua vào tháng 5/2009 và dự kiến thời gian thực hiện đề tài là 2 năm, bắt đầu từ tháng 9/2009.

Tại TP.HCM hiện nay có khoảng hơn 50 môn phái đang được giảng dạy tại các trung tâm. Trong đó, TKBT chủ yếu được tập trung giảng dạy ở Nhà văn hoá Thanh Niên và Trung tâm TDTT Nhà Bè. Trong hệ thống võ cổ truyền dân tộc, TKBT là môn võ “có tiếng” nhất ở khu vực phía Nam cùng với Kim Kê phái và Thanh Long võ đạo. Tuy nhiên, nơi được xem là “khai sinh” môn võ này (Thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, Bình Dương) lại không còn bất cứ võ đường nào.
Đề tài sẽ tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của võ thuật TKBT, những chiến tích mà võ thuật TKBT đã giành được qua các thời kỳ lịch sử như: Từ việc chống lại thiên nhiên hoang dã để sinh tồn và tham gia chống giặc ngoại xâm. Bên cạnh đó, sẽ khôi phục, tập hợp lại tất cả các bài quyền, đòn thế của võ TKBT nhằm mục đích tiếp tục nhân rộng, vinh danh và bảo tồn. Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp, Chủ nhiệm đề tài cho biết: “Môn võ TKBT được xem là tài sản văn hóa phi vật thể của con người Bình Dương. Qua công trình nghiên cứu này, với mong muốn xây dựng lại võ đường vừa làm nơi sinh hoạt võ thuật, vừa là nhà truyền thống để bảo lưu các giá trị, các hiện vật của bộ môn võ thuật TKBT”.

Tuy nhiên, để thực hiện thành công công trình nghiên cứu này sẽ gặp rất nhiều khó khăn do tài liệu tư liệu của môn võ TKBT qua thời gian đã thất lạc rất nhiều. Võ sư Hồ Tường cho biết, hiện còn lưu giữ được gần 20 bài quyền và bài binh khí của môn võ TKBT. Đây sẽ là nguồn tư liệu quý giá cho công trình phục dựng di sản văn hóa này.

Anh Đức – Phan Vũ

Tham khảo tại Diễn Đàn Bình Định FFC :  http://binhdinhffc.com/diendan/viewtopic.php?f=23&t=6445

——————————————————————–

“Võ đánh cọp” sẽ là di sản văn hóa quốc gia?

Các cụ kể rằng, có một thời đất ở Tân Khánh người đi học võ đông như trẩy hội. Các võ đường giao đấu trên tinh thần thượng võ khiến người xem đã con mắt. Thế nhưng thời gian cùng chiến tranh loạn lạc đã khiến cho môn võ một thời đánh cọp lẫy lừng dần dà mai một.

THẾ VÕ CỦA NGƯỜI ĐI KHAI HOANG
Theo lịch sử Bình Dương 300 năm, giữa thế kỷ 17, lưu dân người Việt từ miền Thuận Quảng thuộc xứ Đàng trong tiến vào khai phá vùng đất Đồng Nai – Gia Định. Trên bước đường mưu sinh, họ mang theo thế võ cổ truyền để phòng thân. Những lưu dân đầu tiên này lập ra làng Tân Khánh, nay là thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Để thích nghi với nơi hoang sơ, nhiều thú dữ và cướp bóc, họ phát huy thế võ cổ truyền. Từ đó hình thành môn võ miệt rừng, với tên gọi võ lâm Tân Khánh (VLTK).

Đầu thế kỷ 19, Gia Long lên ngôi. Với chính sách tìm diệt cựu thần nhà Tây Sơn để trả thù, mảnh đất Tân Khánh trở thành nơi đón tiếp cựu thần họ Võ đến mai danh. Từ đây VLTK có cơ hội thăng hoa, do được tăng cường kỹ thuật võ Tây Sơn – Bình Định.

Cựu thần họ Võ chính là bà Võ Thị Trà, giữa thế kỷ 19, lãnh đạo khởi nghĩa chống lại bọn tham quan địa phương từ căn cứ Truông Mây trên đất Tân Khánh suốt 10 năm (1850 – 1859). Để rồi tên đất gắn tên người: Tân Khánh – Bà Trà, và môn võ miệt rừng cũng được gọi là võ lâm Tân Khánh Bà Trà (TKBT). Võ sư Hồ Tường, hậu duệ đời thứ năm của môn phái này, cho biết bà Trà có hai đệ tử xuất sắc là anh em ông Hai Ất (Võ Văn Ất) và Ba Giá (Võ Văn Giá), được người dân gọi là “Võ Tòng” Tân Khánh với hơn 10 lần đả cọp. Võ nghệ hai ông vang danh khắp vùng, ai nghe qua đều kính phục.


Di ảnh võ sư Hồ Văn Lành

NHỮNG GIAI THOẠI “VÕ TÒNG” TÂN KHÁNH 
Nói về tài đả cọp của “Võ Tòng” Tân Khánh, người dân nơi đây kể vanh vách và tự hào như “chiến tích” của mình. “Chiến tích” kinh hoàng được truyền tụng như giai thoại diễn ra ở Hố Ngỡi, nay thuộc xã Tân Vĩnh Hiệp, huyện Tân Uyên.

Đó là vào buổi chiều, người ta chứng kiến ông Ất, áo rách tả tơi, nhảy qua trớ lại tránh móng vuốt của ba con cọp dữ. Càng thất kinh hơn khi ông Ất bất ngờ ngã xuống. Một số người sẵn cung tên định bắn giải cứu, bỗng nghe tiếng thét: Đừng bắn!

Đó là tiếng ông Giá, sợ họ bắn lạc tên trúng anh mình bởi ông biết anh ông không dễ bị hạ như vậy. Cú ngã chính là thế “phục địa lang hành”, ngã để xoay mình đá móc lên. Quả không sai. Cọp từ trên chụp xuống tưởng tóm gọn đối thủ thì bất ngờ lãnh cú đá ác liệt. Lẹ làng, ông Ất phóng lên lưng cọp, vung tay đấm xuống gáy cọp liên hồi. Trong lúc ông Ất ra đòn thì hai con kia định nhảy bổ vào. Thấy vậy, ông Ất định buông con cọp đang giữ nhưng vừa nới tay thì nó hất ông suýt ngã. Hốt hoảng, ông lấy hết sức đấm xuống gáy nó thêm mấy cái. Do phí sức nhiều, quả đấm không còn đủ lực hạ con cọp dữ. Ông Ất đè cọp xuống, gắng sức bẻ cổ nó thì lại nghe tiếng ông Giá: Ngồi yên đó. Ông Giá la lên nhưng trong lòng rất kinh khiếp. Làm sao chặn đứng hai con cọp giải cứu anh mình? Trong chớp mắt, ông Giá dùng thế “giải giáp”, cởi phăng chiếc áo đang mặc ném vào con cọp gần nhất. Thấy chiếc áo thình lình bay tới, cọp ngỡ có người trợ chiến, liền chụp áo xé tan nát.


Hai môn sinh đang giao đấu

Chặn đứng một con, ông Giá vung roi phóng tới đập thẳng vào đầu con cọp đang sắp chụp lên đầu ông Ất. Cọp té lộn về phía sau, đầu vỡ toang. Tiện đường roi, ông lia vào chân con cọp vồ chiếc áo, nhưng không trúng. Liền sau đó đường roi thứ hai tung ra vắt ngang lưng khiến cọp nằm im không cựa quậy.

Thấy em giết được hai con cọp, ông Ất mới hoàn hồn nhìn xuống thì thấy con cọp ông đang cưỡi đã chết tự bao giờ.

Một giai thoại khác: “Cọp Bàu Lòng Võ Tòng Tân Khánh”, chuyện mà ngay cả trẻ con cũng thuộc lòng và cho rằng “Võ Tòng” Tân Khánh “dữ” hơn Võ Tòng bên Tàu. Số là người dân xứ Bàu Lòng (Chơn Thành, Bình Phước) nhiều tháng liền bị cọp về bắt bò, heo. Mặc dân làng xua đuổi bằng mõ tre, thùng thiếc cọp cũng không bỏ con mồi. Dân làng sợ đến nỗi không làm ăn gì được. Ban Hội tề bèn lên thầy Cai tổng cầu cứu. Thầy Cai cho người mời anh em ông Ất đến và lệnh hai ông lên Bàu Lòng trừ cọp dữ.

Đến Bàu Lòng, vừa cơm nước xong, ông Ất nói: “Cọp đâu đánh phứt cho rồi”. Ông Ất dứt lời thì nghe một tiếng gầm rõ to ngoài sân. Dường như cọp có linh tính, biết thầy võ về làng nên đến thử sức. Trong lúc mọi người đang khiếp vía thì ông Giá cắp roi nhảy ra sân thủ thế. Ngoài sân, cọp thấy có người nhảy ra liền phóng tới chụp đầu. Ông Giá né vội, liền đó vung roi đâm trúng hông cọp. Cọp gầm lên rồi quay lại chụp. Ông Giá vung roi, lúc đập lúc đâm. Bụi bay mịt trời. Người coi quên phần sợ hãi. Cuộc giao tranh độ tàn điếu thuốc, bất ngờ cọp hộc lên một tiếng vọt ra ngoài vòng chiến, nằm chỏng vó lên trời. Theo các thầy võ, đó là thế “trâu vằn”, miếng tổ của cọp, ai sơ suất nhảy vào là toi mạng. Roi đánh thì bị cọp bắt, tiện dịp móc họng luôn đối thủ.

Ông Giá thấy cọp thủ thế “trâu vằn”, không thèm đánh, đứng chống roi nghỉ. Một hồi lâu, cọp không thấy ông Giá phá miếng nghề của mình, liền gầm lên phóng lại vòng chiến. Ông Giá vung roi đánh tiếp. Lát sau cọp giở lại miếng cũ. Ông Giá chống roi đứng chờ tái chiến.

Cọp không thấy ông Giá phá thế của nó liền xoay mình phóng vào vòng chiến. Và rồi người ta nghe tiếng cọp gầm thật to, vọt ra khỏi vòng chiến định chạy vào rừng. Tiếp theo, một tiếng gầm to hơn, dài hơn, nhìn lại thấy ông Ất đứng bên xác cọp. Tất cả mọi người đứng xem không ai thấy ông Ất ra tay. Thì ra ông Ất đoán được đường rút lui của cọp liền lao ra chặn đầu. Dưới ngọn roi ngàn cân của ông, cọp hết đường thoát.

Không chỉ có những bậc “tiền bối” mới có tài đả cọp. Võ sư Hồ Tường cho biết, năm 1914, ông Ất được chính quyền Pháp mời về Sài Gòn đánh cọp nhân lễ khai thị chợ Bến Thành, nhưng ông từ chối và giao cho con gái mình là Năm Vuông (Võ Thị Vuông), lúc ấy mới ngoài 20 tuổi. Chỉ hơn một giờ giao đấu cô Vuông đã hạ con cọp dữ trước sự kinh ngạc của đông đảo quan khách.



Môn sinh tập luyện

VÙNG ĐẤT VÕ CHỈ CÒN HƯ DANH
Võ lâm TKBT có nhiều thế hệ anh tài nối tiếp vang danh khắp Nam kỳ lục tỉnh. “Nữ chúa” Truông Mây một thời lẫy lừng xứ Tân Khánh. Kế đến Hai Ất, Ba Giá, Năm Vuông từng làm rạng danh môn phái này với tài đả cọp. Đến nay, võ lâm TKBT trải qua năm đời: anh em ông Ất được xếp vào hàng tiên sư, đời thứ nhất; tiếp theo có Võ Văn Trực (Sáu Trực), Võ Văn Phiên (Bảy Phiên), Hồ Văn Lành (mất 2005, thọ 92 tuổi) và hậu duệ đời thứ năm Hồ Tường (con võ sư Hồ Văn Lành), dạy võ tại Nhà văn hóa Thanh niên TPHCM từ năm 1981 đến nay.

Theo võ sư Hồ Tường, năm 1950, đánh dấu bước ngoặc mới của môn phái này. Cố VS Hồ Văn Lành rời Tân Khánh lên Sài Gòn tham gia Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam. Với tư cách là ủy viên, ông đã nỗ lực phổ biến võ lâm TKBT vào cộng đồng võ thuật miền Nam. Từ năm 1970 – 1974, các môn sinh của ông Từ Thanh Nghĩa, Hồ Ngọc Thọ đoạt huy chương vàng cấp quốc gia. Ngoài ra có Từ Trung Tín, Từ Y Văn từng đại diện miền Nam thi đấu 7 trận toàn thắng trước các nhà vô địch Thái Lan, Lào và Campuchia.

“Môn võ một thời lẫy lừng như vậy, nhưng giờ đây đi khắp làng cũng không tìm thấy dấu tích nào của võ đường. Một môn võ từng vang danh, giờ hiển hiện nguy cơ thất truyền quả thật đáng buồn” – võ sư Hồ Tường tỏ ra lo lắng.

Có lẽ nhận thấy đều đó nên mới đây UBND tỉnh Bình Dương đã quyết định khôi phục lại. Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp – Khoa sử, trường Đại học KHXH & NV TPHCM, người chấp bút đề án “Khôi phục võ lâm TKBT” – cho biết sẽ hoàn chỉnh đề án vào cuối năm nay. Giai đoạn đầu đề án, biên soạn lại lịch sử môn phái, khôi phục các bài quyền, binh khí, trang phục. Tiếp theo sẽ xây võ đường, nhà truyền thống, vừa dạy võ vừa giáo dục tinh thần thượng võ cho thế hệ trẻ. Từng bước đưa môn phái này hòa nhập vào làng võ cổ truyền quốc gia và thế giới. Tiến sĩ Diệp tỏ ra lạc quan: Tương lai võ lâm TKBT không còn là tài sản của người Bình Dương mà sẽ trở thành di sản văn hóa quốc gia. Bởi trong quá khứ, võ lâm TKBT không chỉ đánh cọp mà từng mang lại vinh quang cho nền võ thuật nước nhà. Các nhà cách mạng tiền bối Nguyễn An Ninh, Huỳnh Văn Nghệ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Văn Hùm… cũng từng là võ sinh của môn phái này. Việc để một phái võ nổi tiếng như vậy thất truyền là có tội với tiền nhân, ông Diệp nói. Tuy vậy, để khôi phục môn phái này phải có người tâm thuyết và kinh phí có thể lên đến chục tỷ đồng.

Cũng theo ông Diệp, mặc dù đây là miếng võ của người đi khai hoang, nhưng những người biết võ TKBT có thể đánh thắng cọp. Do vậy, việc khôi phục phái “võ đánh cọp” là việc nên làm. Dẫu có hơi muộn nhưng cho phép những người lạc quan tin rằng, phái võ này rồi sẽ lại vang danh.

Bài, ảnh: LÝ GIA BÌNH