Ô nhiễm tiếng ồn: “Sát nhân thầm lặng” bên trong các thành phố


Một nghiên cứu năm 2020 cho thấy người dân sống gần sân bay Zurich có tỷ lệ tử vong vào ban đêm tăng đáng kể, nhất là trong khoảng thời gian có một chiếc máy bay cất cánh.

Khi nói đến sân bay Frankfurt, người Đức nhìn chung sẽ cảm thấy có chút gì đó tự hào và hãnh diện. Kể từ khi được xây dựng cách đây 85 năm, Frankfurt luôn là một trong những điểm đến đông đúc nhất châu lục.

Năm 2011, sân bay quốc tế này khánh thành thêm đường bay thứ tư nâng tổng công suất phục vụ của nó lên ngưỡng 64,5 triệu hành khách mỗi năm, kết nối với hơn 300 điểm đến là các sân bay lớn nhỏ trên khắp thế giới.

Thật không may, không phải người Đức nào cũng vui vẻ với sự có mặt của một siêu sân bay, nhất là khi nó nằm ngay trong khu phố nhà mình. 

Ô nhiễm tiếng ồn: Sát nhân thầm lặng bên trong các thành phố - Ảnh 1.

Sau khi đường băng thứ tư của Frankfurt được khánh thành, nó đã phải chứng kiến một làn sóng biểu tình mạnh mẽ của người dân địa phương, những người cảm thấy cái “sân bay này đang phá hủy cuộc sống của họ“.

Mỗi khi tôi đi vào khu vườn nhà mình, tất cả những gì tôi có thể nghe và nhìn thấy chỉ là những chiếc máy bay ở ngay trên đầu mình“, một người biểu tình tức giận nói với Reuters.

Ô nhiễm tiếng ồn: Sát nhân thầm lặng bên trong các thành phố - Ảnh 2.

Đường băng thứ 4 của Frankfurt cũng đưa hàng chục chiếc máy bay lên xuống ngay phía trên căn hộ của Thomas Münzel, một bác sĩ tim mạch tại Trung tâm Y tế Đại học Mainz: “Tôi đã sống gần cao tốc Autobahn của Đức, và gần cả các đường ray xe lửa trong thành phố. Nhưng tiếng ồn từ máy bay là thứ khó chịu nhất mà tôi từng phải chịu đựng”.

Năm 2009, Münzel đọc được một báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về mối liên hệ giữa tiếng ồn và các vấn đề tim mạch. Nhưng các bằng chứng vào thời điểm đó còn rất ít, chưa đủ để đưa ra kết luận mang tính nhân quả.

Và thế là với một đường băng khánh thành ngay trên nhà mình, bắt đầu từ năm 2011, Münzel chuyển hướng công việc của mình sang nghiên cứu sự ảnh hưởng của ô nhiễm tiếng ồn đô thị tới sức khỏe con người.

Công việc tính tới nay đã được đúng 10 năm và Münzel đã cho ra rất nhiều kết quả cùng với một lĩnh vực khoa học đang dần phát triển: Nghiên cứu mối nguy hiểm từ tiếng ồn đô thị tới đời sống cư dân bên trong nó.

Ô nhiễm tiếng ồn: Sát nhân thầm lặng bên trong các thành phố - Ảnh 3.

Từ lâu, các nhà khoa học và cả công chúng bình dân đều biết rằng phơi nhiễm với những tiếng ồn quá lớn có thể gây ra vấn đề về thính giác, thậm chí gây điếc. Tuy nhiên, điều mà họ không biết, đó là tiếng ồn từ máy bay và cả ô tô trong thành phố có thể gây ra nhiều thiệt hại hơn thế, vượt ra bên ngoài hệ thống thính giác con người.

Tiếng ồn giao thông được coi là một trong những tác nhân gây căng thẳng trong môi trường đô thị, chỉ đứng sau ô nhiễm không khí. Trong thập kỷ qua, ngày càng nhiều nhóm nghiên cứu đã chứng minh được mối liên kết trực tiếp hơn giữa tiếng ồn và nguy cơ gia tăng một số bệnh tim mạch. Một số nhà khoa học thậm chí bắt đầu hiểu được cơ chế hoạt động của chúng.

Ô nhiễm tiếng ồn: Sát nhân thầm lặng bên trong các thành phố - Ảnh 4.

Mathias Basner là một nhà tâm thần và dịch tễ học tại Đại học Pennsylvania. Ông cho biết tiếng ồn gây ra những ảnh hưởng sinh học lên cơ thể con người. Nhưng rất ít người hiện nay nhận thức được mức độ nghiêm trọng của nó, thứ mà các đồng nghiệp của ông gọi là “kẻ giết người thầm lặng”.

Các ước tính cho thấy rằng khoảng một phần ba người Mỹ thường xuyên tiếp xúc với mức độ tiếng ồn không tốt cho sức khỏe, thường được định nghĩa là bắt đầu từ khoảng 70 đến 80 decibel. Để so sánh, con người nói chuyện với nhau trong một cường độ khoảng 60 dB, ô tô và xe tải phát ra tiếng ồn từ 70 đến 90 dB, còn còi báo động và máy bay có thể đạt tới ngưỡng 120 dB hoặc hơn.

Nhiều nghiên cứu liên kết việc tiếp xúc lâu dài với tiếng ồn từ môi trường xung quang làm tăng nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến tim. Theo một nghiên cứu năm 2018 trên tạp chí Noise & Health đã điều tra dữ liệu sức khỏe của hơn 1 triệu người, những cư dân Frankfurt sống gần sân bay có nguy cơ đột quỵ cao hơn 7% so với những người sống trong các khu vực tương tự nhưng yên tĩnh hơn.

Một nghiên cứu khác năm 2020 trên Tạp chí Tim mạch Châu Âu phân tích gần 25.000 ca tử vong vì bệnh tim mạch xảy ra trong những năm 2000 đến năm 2015 cho thấy: Những người sống gần sân bay Zurich có tỷ lệ tử vong vào ban đêm tăng đáng kể, nhất là trong khoảng thời gian có một chiếc máy bay cất cánh. Và điều này đặc biệt đúng với đối tượng điều tra là phụ nữ.

Ô nhiễm tiếng ồn: Sát nhân thầm lặng bên trong các thành phố - Ảnh 5.

Để tìm ra nguyên nhân chính xác gây ra những ca tử vong bất thường này, các nhà nghiên cứu đã thăm dò sự ảnh hưởng sinh lý học của tiếng ồn lên cơ thể người. Họ phát hiện ra ô nhiễm tiếng ồn có thể làm biến đối mạnh lớp nội mạc, chính là lớp màng phủ bên trong của các mạnh máu.

Tiếng ồn lớn và dai dẳng có thể khiến lớp niêm mạc này chuyển từ trạng thái khỏe mạnh sang trạng thái “được kích hoạt” dẫn tới viêm và tăng sinh nghiêm trọng.

Ngoài ra, khi tiếng ồn đi đến não, nó sẽ kích hoạt hai vùng quan trọng: vỏ não thính giác, nơi giải thích tiếng ồn và hạch hạnh nhân, quản lý các phản ứng cảm xúc với nó. Nếu tiếng ồn lớn đặc biệt là trong giấc ngủ, hạch hạnh nhân sẽ kích hoạt phản ứng căng thẳng — ngay cả khi người đang ngủ không nhận thức được vấn đề và không bị đánh thức dậy.

Ô nhiễm tiếng ồn: Sát nhân thầm lặng bên trong các thành phố - Ảnh 6.

Phản ứng căng thẳng ở hạch hạnh nhân sẽ giải phóng các hormone như adrenaline và cortisol vào cơ thể. Một số động mạch trong quá trình đó sẽ co thắt, những mạch máu khác lại nở ra. Căng thẳng sẽ làm tăng huyết áp, nó cũng đẩy đường và chất béo tràn vào máu một cách nhanh chóng.

Phản ứng này tiếp đó thúc đẩy việc tạo ra các phân tử có hại gây ra căng thẳng oxy hóa và viêm trong niêm mạc mạch máu. Lớp nội mạc bị rối loạn chức năng đến mức có thể cản trở lưu lượng máu và ảnh hưởng đến nhiều quá trình khác trong cơ thể. 

Dần dần khi bị suy yếu bởi tiếng ồn lặp đi lặp lại, nó sẽ góp phần gây ra một loạt bệnh tim mạch, bao gồm huyết áp cao, tích tụ mảng bám trong động mạch, béo phì và tiểu đường.

Nhưng phơi nhiễm với tiếng ồn trong bao lâu có thể gây ra những tác động nguy hại này?

Các nghiên cứu trên người và chuột cho thấy lớp nội mô có thể bắt đầu suy yếu chỉ vài ngày sau khi tiếp xúc với tiếng ồn máy bay vào ban đêm. Nó ảnh hưởng tới cả những người đang khỏe mạnh, chứ không phải chỉ là vấn đề đối với những người đã có nguy cơ mắc bệnh tim mạch và trao đổi chất.

Ô nhiễm tiếng ồn: Sát nhân thầm lặng bên trong các thành phố - Ảnh 7.

Trong một nghiên cứu năm 2019 do Münzel và các đồng nghiệp của ông công bố trên tạp chí Basic Research in Cardiology, họ đã tuyển dụng những người trưởng thành khỏe mạnh và phát những bản ghi âm các chuyến tàu chạy qua trong khi họ ngủ.

Chúng tôi rất ngạc nhiên khi cả những người trẻ tuổi nghe phải những âm thanh này cũng bị rối loạn chức năng nội mô chỉ sau một đêm. Trước đây, chúng tôi luôn nghĩ rằng vấn đề này là thứ cần vài năm mới có thể phát triển“, Münzel cho biết.

Ô nhiễm tiếng ồn: Sát nhân thầm lặng bên trong các thành phố - Ảnh 8.

Trong một bức tranh tổng thể lớn tại Châu Âu, báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2018 cho thấy mỗi năm người dân sống ở phía tây châu lục đang mất đi tới hơn 1,6 triệu năm sống khỏe mạnh vì tiếng ồn giao thông. Tính toán này dựa trên số ca tử vong sớm do tiếp xúc trực tiếp với tiếng ồn, cũng như số năm phải sống với bệnh tật do tiếng ồn gây ra.

Và con số đó có khả năng sẽ tăng lên: Năm 2018, Liên Hợp Quốc chúng ta chỉ có khoảng 55% người dân sống ở trong các thành phố. Nhưng đến năm 2050, con số đó dự kiến sẽ tăng đến gần 70%.

Tại một số quốc gia, chính phủ đã cố gắng lắng nghe tiếng nói của công chúng để làm dịu tiếng ồn ào của đô thị hóa bằng cách áp dụng lệnh cấm bay vào ban đêm, quy hoạch các sân bay cách xa thành phố và khuyến khích các công nghệ yên tĩnh hơn, mặt khác phạt tiền những ai là nguyên nhân gây ra tiếng ồn.

Ô nhiễm tiếng ồn: Sát nhân thầm lặng bên trong các thành phố - Ảnh 9.

Bản thân mỗi người chúng ta có thể tự bảo vệ mình bằng cách đảm bảo môi trường sinh sống của mình được yên tĩnh. Lắp cách âm trong phòng ngủ, trang bị thêm rèm cửa sổ, rèm giảm tiếng ồn hoặc nếu có khả năng chuyển hẳn nhà ra vùng ngoại ô, nơi tiếng ồn đô thị không thể chạm tới.

Basner cũng gợi ý một số giải pháp rẻ hơn bao gồm đeo nút tai vào ban đêm hoặc chuyển phòng ngủ đến nơi yên tĩnh nhất trong nhà của mình. Và ông khuyên rằng mọi người nên thực hiện những bước quan trọng này ngay cả khi họ không thấy mình bị tiếng ồn làm phiền.

Nếu bạn đang sống ở Manhattan, bạn sẽ không nhận thấy sự ồn ào của nó sau một thời gian, bởi bạn đã quen với nó và cho tiếng ồn là điều bình thường“, Basner nói. “Nhưng mặc cho bạn có thể quen với nó về mặt tâm lý, điều đó không có nghĩa là tiếng ồn đang không gây ra những hậu quả tiêu cực lên sức khỏe của bạn”.

Tham khảo Atlantic

Theo Genk

Nốt ruồi đến từ đâu?


Nốt ruồi đến từ đâu?

Ai cũng có nốt ruồi. Nốt ruồi xuất hiện trên cơ thể chúng ta, ngay cả ở những chỗ kín đáo nhất. Vậy tại sao lại có nót ruồi? Hãy cùng khám phá bí mật đằng sau những đốm sắc tố nhỏ trên da.

Nổi tiếng về sự quyến rũ, nốt ruồi là những đốm màu nâu sẫm, nâu nhạt, không màu hoặc trắng, đen, hoặc thậm chí là các đốm màu xanh với đủ hình dạng và kích cỡ nổi bật trên làn da. Tên khoa học của nốt ruồi “melanocytic nevus” xuất phát từ tiếng La tinh “gn#vus” – từ cùng một gốc với genus, natus, natura, có nghĩa là “bẩm sinh”, “dấu hiệu khi sinh”.

Trong thực tế, một số nốt ruồi đầu tiên là những dị thường bẩm sinh có thể tồn tại từ khi sinh ra. Những nốt ruồi khác là sở đắc; chúng xuất hiện vào thời thơ ấu và tiếp tục phát triển đến tuổi trưởng thành, cho đến khoảng 30 tuổi. Trung bình, một người trưởng thành có khoảng 30 nốt ruồi trên khắp cơ thể; chúng thường nằm ở những khu vực tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời (cánh tay, chân, lưng). Số lượng nốt ruồi phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như tiếp xúc với bức xạ, loại da khác nhau hoặc thậm chí di truyền… Nhưng tại sao chúng ta có những dấu hiệu này và tại sao chúng được gọi là “hạt sắc đẹp”?

Một chút lịch sử: bị ghét bỏ và rồi lại được tôn vinh

Ở Hy Lạp cổ đại, nốt ruồi chưa được coi là “hạt sắc đẹp” vì chúng chưa được coi là một đặc tính của sự tráng lệ. Vào thời điểm đó, người ta thực sự sùng bái sự hài hòa và coi thường sự bất bình đẳng trên da. Người Hy Lạp đã sử dụng các sản phẩm để che giấu những vết đốm của họ. Vào thời Trung cổ, tình hình cũng không khả quan hơn khi họ tìm mọi cách để bỏ nó đi. Nguyên nhân là vì Giáo hội coi chúng là nơi ma quỷ xâm nhập vào cơ thể. Vì vậy, họ thậm chí dùng cả sắt hoặc đá. Chính vào thời của Vua Mặt trời Louis XIV, những nốt ruồi được gọi là “hạt sắc đẹp”. Để che giấu dấu vết của bệnh đậu mùa, những người đàn ông và phụ nữ thuộc tầng lớp trung lưu gắn những miếng vải nhung hoặc lụa bóng thay thế nốt ruồi. Chúng trở thành một dấu hiệu của sự giàu có. Dưới thời vua Louis V, chúng được khắc thành hình mặt trăng, hình lưỡi liềm hoặc ngôi sao. Sau đó, khi vắc-xin đậu mùa được phát minh vào năm 1796, chúng trở thành yếu tố thẩm mỹ được sử dụng để làm nổi bật độ trắng của nước da.

Trong thế kỷ 17 và thế kỷ 18, những dấu vết này – dù tự nhiên hoặc nhân tạo – đã trở thành phụ kiện thời trang đại diện cho sắc đẹp và sự phong nhã ở những phụ nữ vương giả. Vào những năm 1950, những ý nghĩa tiêu cực hoàn toàn biến mất nhờ nữ diễn viên Marilyn Monroe, người đã vẽ nốt ruồi nổi tiếng của mình bằng bút chì. Một số nốt ruồi đã nổi tiếng. Ngày nay, chúng được yêu mến nhiều đồng thời cũng bị chỉ trích không kém: một số người cảm thấy khó chịu khi nhìn thấy chúng; một số khác lại coi đó là một nét cá tính

Một khối tế bào vô hại

Nốt ruồi là dấu hiệu của quỷ hay biểu tượng của sự tinh tế? Trên thực tế, nốt ruồi là những khối tế bào nhỏ nằm chủ yếu ở lớp sâu nhất của lớp bề mặt của da, lớp biểu bì. Nhưng chúng có thể xuất hiện trên khắp cơ thể, thậm chí cả trong mắt hoặc trong não. Melanocytes là thuộc cùng một loại tế bào tạo ra sắc tố màu sắc và sự sạm da: melanin. Do đó, nốt ruồi là một khối tế bào melanocytes tập trung một cách hỗn loạn với số lượng lớn. Sự tập hợp này được coi là một loại “lỗi chương trình”. Một số nốt ruồi tự nhiên biến mất trong cuộc đời. Những nốt ruồi khác bị phá hủy bởi hệ miễn dịch. Những nốt ruồi khác đồng hành cùng chúng ta suốt cuộc đời.

Tại sao chúng ta không thể tự xóa nốt ruồi của mình?

Hiện nay, các nhà khoa học không biết liệu nốt ruồi có thực sự hữu ích ngoài phương diện thẩm mỹ hay không. “Điều chắc chắn là sự chọn lọc tự nhiên xảy ra trong quá trình tiến hóa của các loài trong hàng ngàn năm đã không xóa được nốt ruồi. Nói chung, nốt ruồi không phải là “xấu”. Bác sĩ da liễu Basile Darbellay lưu ý rằng hầu hết những nốt ruồi này là vô hại. Nhưng thỉnh thoảng, một trong số chúng biến thành ung thư da, được gọi là khối u ác tính. Do đó, điều quan trọng là hãy thường xuyên nhờ một chuyên gia kiểm tra chúng.

Theo Doanhnhanplus

—-

Phá nốt ruồi cải số, làm đẹp: Coi chừng ung thư!

Phá nốt ruồi cải số, làm đẹp: Coi chừng ung thư!

Nốt ruồi có biểu hiện ác tính bắt buộc phá bỏ nhưng phải thực hiện bởi bác sĩ da liễu hoặc ung bướu. Ảnh: Lê An

Thông tin một phụ nữ chết vì nghe lời thầy bói phán nốt ruồi gây tán gia bại sản, vội tìm cách tẩy bỏ và bị ung thư, một lần nữa cảnh báo về những nguy hiểm khi tùy tiện tẩy nốt ruồi, nhầm lẫn giữa nốt ruồi lành tính và ác tính, khiến tế bào ung thư lan rộng.

Cải số thành đoản mệnh

Trên facebook cá nhân mới đây một nhà báo nổi tiếng chia sẻ câu chuyện nhiều xót xa về một phụ nữ thân quen hồi còn ở quê nhà Ninh Thuận – Bình Thuận, mà hơn 30 năm trước anh từng “chết mê chết mệt bởi mái tóc dài óng ả, khuôn mặt đẹp thánh thiện với cái mụt ruồi duyên ở khóe môi trên mà bất cứ ai thấy cũng đều thẫn thờ. Có lẽ biết thế mạnh của mình nên mỗi lần gặp tôi, dù tôi còn nhỏ xíu chị vẫn nhếch miệng cười khiến lòng tôi dậy sóng…”, anh viết.

Bẵng đi thời gian dài, anh nghe tin chị lấy chồng, nhà chồng gia thế, từ đó bặt tin nhau. Rồi vô tình anh gặp lại chị trong một quán ăn ở Sài Gòn, chị đội nón lụp xụp nhưng đôi mắt ngước nhìn thì quen. “Chị kêu tên rồi tới gần nhắc đi, nhắc lại mấy lần tôi mới nhớ bởi ngay cái mụt ruồi duyên trên khóe môi đẹp hớp hồn ngày xưa giờ là một miếng bông băng to tổ bố. Chị nói mấy năm sau có chồng, nghe lời thầy bói nói mụt ruồi của chị là tán gia bại sản, mụt ruồi ngoại tình nên chị đi phá nhưng nó vẫn mọc lại. Từ chỗ nâng niu, chị ghét cái mụt ruồi kinh khủng nên liên tục cạy, gãi, ngắt, nhéo nó. Rồi cả cái miệng sưng vù, đi khám, xét nghiệm mới biết bị ung thư mụt ruồi. Chị buồn rầu cho biết, ung thư mụt ruồi nguy hiểm lắm, phát triển nhanh, di căn nhanh và gây ung thư thứ phát ở gan, xương, phổi, hạch… cái chết đối với chị bây giờ chỉ tính bằng ngày”, anh viết.

Một thời gian ngắn sau cuộc hội ngộ đó, chị qua đời.

Lành, dữ nốt ruồi

BS. Võ Thị Bạch Sương (nguyên giảng viên bộ môn Da liễu, Đại học Y Dược TP.HCM), cho biết da con người có màu sáng hay tối là do số lượng, mật độ và sự phân bố của hắc tố bào (melanocyte). Chúng sản sinh ra sắc tố đen gọi là melanine. Khi hắc tố này tập trung nhiều vào một chỗ sẽ tạo ra nốt ruồi. Như vậy, về mặt y học, nốt ruồi là những khối u hắc tố, do sự loạn sản lành tính và khu trú của sắc tố melanine. Chỉ trong một số trường hợp, chúng bị biến chất, lúc ấy nốt ruồi mới thành ung thư hắc tố, là một loại ung thư da.

“Người ta thấy 1/3 ung thư hắc tố có thể xảy ra trên các nốt ruồi có sẵn nếu gặp các yếu tố kích thích kéo dài như cọ xát, phơi nắng… Yếu tố di truyền cũng được ghi nhận. Mặc dù ung thư hắc tố chỉ chiếm 10% trong tổng số các ung thư da nhưng lại rất ác vì đem đến cái chết cho 75 % các trường hợp mắc bệnh”, BS. Sương cho biết.

Theo BS. Sương, những dấu hiệu sau cho thấy ung thư đang xảy ra trên nốt ruồi mà trước đây lành tính: có sự lớn nhanh về thể tích, bề mặt nốt ruồi phát triển rộng ra thêm hơn 6mm và trở nên cứng; hình thái nốt ruồi mất tính cân đối, bờ không đều, không bằng phẳng (nốt ruồi bình thường hình tròn hoặc bầu dục, nghĩa là đối xứng theo trục dọc hoặc ngang); có thay đổi màu sắc, vị trí thương tổn chỗ đen đậm, chỗ đen lợt, đặc biệt là nốt ruồi cũ bỗng dưng đen sậm hơn; có thay đổi về cảm giác như đau, ngứa…; có thay đổi trên bề mặt như loét, sùi, chảy máu, rỉ dịch…; có hạch vùng phụ cận. Lưu ý, hai nhóm dấu hiệu cuối là những dấu hiệu muộn.

TS-BS. Ngô Minh Vinh (Khoa Khám bệnh Bệnh viện Da liễu TP. HCM; giảng viên Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch), cho biết thêm nốt ruồi nếu điều trị không đúng như tẩy bằng các hóa chất không rõ nguồn gốc, hoặc đốt điện, hoặc dùng các axít trong tỏi, giấm… khi hủy được nốt ruồi thì các vùng da lân cận cũng bị hủy theo, tạo thành sẹo to rất mất thẩm mỹ.

Trường hợp nốt ruồi ác tính, điều trị không đúng cách sẽ làm tế bào ung thư xâm lấn vào các vùng lân cận hoặc theo máu di căn đến các cơ quan khác. Nếu là nốt ruồi có chân (nốt ruồi nằm sâu dưới da), tẩy không hết, phần còn sót bị kích thích và tạo thành nốt ruồi, có khi to, xấu hơn trước. Nốt ruồi phá nhiều lần không hết có nguy cơ biến chứng ung thư.

“Chúng tôi từng điều trị cho nhiều bệnh nhân tẩy nốt ruồi bằng hóa chất ở các tiệm cắt tóc, spa. Những nơi này thường không vô trùng hoặc khử trùng không đúng cách nên vết thương tẩy nốt ruồi là cửa ngõ cho vi trùng xâm nhập vào cơ thể, rất nguy hiểm. Chưa kể, các nốt ruồi ác tính nếu tẩy không đúng cách sẽ làm cho các tế bào ung thư phát tán khắp cơ thể…”, BS. Vinh nói.

Khi nào cần tẩy nốt ruồi?

BS. Sương cho biết, thực tế điều trị ghi nhận có ba nguyên nhân thường khiến người ta muốn phá bỏ nốt ruồi: Nhu cầu thẩm mỹ (ở những vị trí phơi bày như mặt, cổ…, các nốt ruồi làm người bệnh kém tự tin); Vì sức khỏe hay yêu cầu y khoa (khi nốt ruồi có biểu hiện đe dọa hóa ác hoặc trở thành ung thư, việc phá bỏ phải được cân nhắc thực hiện sớm, đúng cách).

Ngoài ra, để phòng bệnh, một số nốt ruồi có nguy cơ ung thư hóa cũng sẽ được xử lý sớm, đó là những nốt ruồi ở các vị trí thường xuyên bị cọ xát như lưng quần; vùng râu, tóc; lòng bàn chân, gót chân…, hoặc với những người có làn da nhạy nắng (da trắng, mắt xanh, tóc bạch kim, vàng, mắt nâu, tóc hung đỏ…), người hay phơi nắng hoặc người lớn tuổi có nốt ruồi, người có tiền căn gia đình có người ung thư…; Niềm tin tâm linh (một số nốt ruồi được mê tín dị đoan là gắn liền với vận hạn kiết hung của chủ nhân)…

Phá nốt ruồi không đúng cách sẽ là yếu tố kích thích khiến thương tổn phát triển dữ dội hơn và trở thành độc hơn.

Theo BS. Vinh, tẩy nốt ruồi là thủ thuật có xâm lấn, yêu cầu vô khuẩn rất cao nên cần thực hiện ở cơ sở y tế có đủ điều kiện. “Nếu vì lý do nào đó muốn tẩy nốt ruồi thì nên đến khám ở bác sĩ chuyên khoa da liễu hoặc ung bướu để đánh giá xem nốt ruồi lành tính hay ác tính và chọn phương pháp điều trị phù hợp”, BS. Vinh lưu ý.

BS. Sương cho biết hiện có nhiều cách phá bỏ nốt ruồi, với nốt ruồi bình thường không dấu hiệu hóa ác, tùy kích thước, bác sĩ có thể đốt (đốt điện hoặc laser carbonic) khi diện tích bề mặt dưới 1cm2 hoặc cắt trọn và khâu lại khi nốt ruồi to hơn diện tích đó. Thường cắt trọn và khâu thẩm mỹ sẽ cho vết sẹo nhỏ, đẹp hơn. Phương pháp này cũng giúp bác sĩ lấy trọn khối nốt ruồi và kết hợp thử thịt (sinh thiết, xét nghiệm tế bào học…) để phát hiện ung thư nếu có. Với các nốt ruồi nguy cơ ác tính hoặc đã ác tính, cắt bỏ càng sớm càng tốt và luôn phải kết hợp với sinh thiết. Ngoài ra, bệnh nhân cần khám tổng quát để xem có các thương tổn do di căn không.

Lưu ý, không nên tự phá nốt ruồi bằng vôi ăn trầu, thuốc uốn tóc… Phá nốt ruồi không đúng cách sẽ là yếu tố kích thích khiến thương tổn phát triển dữ dội hơn và trở thành độc hơn. “Khi có nốt ruồi, người bệnh đừng để nỗi ám ảnh ung thư đeo bám nhưng cũng đừng quá chủ quan. Cần tránh nắng, tránh kích thích cọ xát các nốt ruồi. Để ý theo dõi các dấu hiệu bất thường và đi khám bệnh sớm nếu thấy nghi ngờ. Điều này càng quan trọng cho những ai trong gia đình từng có người bị ung thư da”, BS. Sương khuyến cáo.

Nguồn Người đô thị Online

Theo: Minh Hoàng – Hữu Đức

‘Thế hệ Covid-19’ đang lao đao thế nào với đại dịch


Kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát, hàng triệu người trẻ trên thế giới buộc phải dọn về sống chung với bố mẹ.

nguoi tre lao dao vi Covid-19 anh 2
Người trẻ tại Mỹ lũ lượt kéo về sống cùng gia đình để tránh dịch. Ảnh: Financial Times.

Tại Mỹ, tỷ lệ người trong khoảng 18-29 tuổi sống cùng phụ huynh đang ở ngưỡng cao nhất từng được ghi nhận.

Dù quay về sống cùng gia đình giúp hạn chế nguy cơ lây nhiễm, sinh viên và người lao động trẻ đang gánh chịu hậu quả khắc nghiệt hơn từ suy thoái kinh tế do đại dịch so với các nhóm đối tượng khác.

Dịch Covid-19 đồng thời nghiêm trọng hóa các vấn đề cố hữu như thất nghiệp, lương thấp và gánh nặng học phí đối với sinh viên.

“Quá nhiều thứ ập đến”

Một khảo sát toàn cầu của tờ Financial Times với hơn 800 người trong độ tuổi 16-30 cho thấy những khó khăn trong đại dịch đang khiến người trẻ có nguy cơ rơi vào khủng hoảng cao hơn so với thế hệ đi trước.

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), những người dưới 25 tuổi có nguy cơ thất nghiệp vì đại dịch cao gấp 2,5 lần so với người trong độ khoảng 26-64 tuổi.

Tờ Financial Times cũng dẫn nguồn một số nghiên cứu cho biết việc tốt nghiệp trong thời kỳ suy thoái kinh tế có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến mức lương của người lao động.

Đại dịch cũng khiến gần 50% lực lượng lao động trên thế giới bị giảm lương, trong đó phụ nữ trẻ và người lao động phổ thông chịu ảnh hưởng nặng nề nhất, theo OECD.

Ở các nước đang phát triển, một người mất việc sẽ ảnh hưởng đến khả năng nuôi sống những người thân khác trong gia đình.

Komal Kadam, 28 tuổi, là người duy nhất kiếm tiền nuôi cả gia đình ở Maharashtra, Ấn Độ. Tuy nhiên, vào tháng 3, cô mất việc.

“Tôi cảm thấy sợ mọi thứ. Làm sao tôi có thể kiếm một công việc khác đây? Tôi sẽ chi trả các khoản nợ như thế nào? Quá nhiều thứ ập đến cùng một lúc”, Kadam nói.

“Vật tế thần của giới lãnh đạo”

Một bộ phận đáng kể trong số những người tham gia cuộc khảo sát của Financial Times cho biết họ mất niềm tin vào các nhà chức trách bởi khả năng xử lý đại dịch chưa hiệu quả.

“Chúng tôi bị đổ lỗi và trở thành vật tế thần của giới lãnh đạo vốn chìm sâu trong khủng hoảng”, anh Anthony 23 tuổi đến từ Pháp chia sẻ.

Tương tự, sau khi chứng kiến chính quyền Brazil thay ba bộ trưởng y tế kể từ khi đại dịch đổ bộ, Danilo Ventura 29 tuổi đến từ Sao Paulo thể hiện thái độ bất mãn với cách phản ứng của chính phủ: “Thế giới nói ‘A’, nhưng các chính trị gia Brazil hét lại là ‘Z’”.

Việc thiếu kế hoạch đối phó cụ thể khiến Brazil trở thành một trong những ổ dịch lớn với số người tử vong vì Covid-19 cao thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ.

Theo thống kê của OECD, sự tin tưởng của giới trẻ vào chính phủ ở các nước đang phát triển bắt đầu sụt giảm từ năm 2016. 

Đặc biệt, lượng lớn người tham gia khảo sát tại Mỹ và Anh cho biết họ cảm thấy chính phủ có những động thái không nhất quán và phản ứng chưa kịp thời.

“Các sân bay chỉ đóng cửa khi tình hình đã vượt mức kiểm soát. Sự cần thiết của khẩu trang không được phổ cập rộng rãi. Mãi đến giữa tháng 6, tôi mới biết đeo khẩu trang quan trọng đến mức nào”, anh John 28 tuổi đến từ Scotland cho biết.

Phó chủ tịch Naumi Haque của bộ phận nghiên cứu thuộc tập đoàn Ipsos nhận định rằng đại dịch đã trầm trọng hóa bất đồng chính trị tại nhiều quốc gia.

“Thế hệ Z (sinh sau năm 2000) và thế hệ millennials (sinh trong khoảng 1980-1999) cảm thấy bất lực hơn so với thế hệ đi trước về khả năng kiểm soát tình hình đất nước”, ông Haque nói.

Tác động tâm lý

Dịch Covid-19 cũng khiến nhiều người trẻ có ý định tự hủy hoại bản thân.

“Thất nghiệp, tâm lý bất ổn và mù mờ về tương lai khiến tôi cảm thấy khá tuyệt vọng”, anh James 30 tuổi đến từ Anh cho biết. “Có lúc, tôi đã nghĩ đến việc tự tử”.

Từ khi dịch Covid-19 bùng phát, các chuyên gia y tế đã cảnh báo tác động của đại dịch đối với sức khỏe tâm thần sẽ dai dẳng hơn so với bản thân mầm bệnh SARS-CoV-2, khi hàng triệu người phải đối mặt với chứng trầm cảm, lo lắng và cô độc.

Một số nghiên cứu tại Anh và Mỹ cho thấy những người trong độ tuổi 18-29 trải qua tổn thương về mặt tâm lý do dịch Covid-19 cao hơn so với các nhóm đối tượng khác.

María Rodríguez, hiện sống ở Ba Lan, cho biết cô thà mắc Covid-19 còn hơn bị trầm cảm vì phải cách ly.

“Tôi không lo lắng khi đến quán café và tiếp xúc với nhiều người. Ưu tiên về sức khỏe tâm thần của tôi lớn hơn nỗi sợ đối với Covid-19”, cô gái 25 tuổi gốc Tây Ban Nha cho biết.

Trong khi đó, bà Mary Finnegan 27 tuổi đến từ Mỹ chia sẻ: “Tôi cảm thấy ngột ngạt khi sống với bố mẹ đã lớn tuổi. Sau 6 tháng, tôi bỗng hóa thành một con sâu rượu. Giờ đây, tôi sẵn sàng bất chấp Covid-19 để ra ngoài và hẹn hò lần nữa”.

Vào tháng 5, giảng viên tâm lý học giáo dục Ola Demkowicz tại Đại học Manchester đã khảo sát hàng trăm thanh thiếu niên ở Anh.

Nhiều người trong số này cho biết họ đã trải qua “cảm giác khó khăn cùng cực” khi cố gắng thích nghi với nhịp sống vô định mà đại dịch mang đến.

“Đối với những người có vấn đề về tâm lý, đây là khoảng thời gian thực sự khó khăn và thách thức”, bà Demkowicz nhận xét.

“Người trẻ thường sống nhanh, mọi thanh niên đều cố gắng cải thiện bản thân và thế giới, nhưng đại dịch đã phá hỏng tất cả. Mọi hoạt động bị hạn chế, trường học thì đóng cửa còn các doanh nghiệp thì phá sản”, Victoria Chidiebere, 22 tuổi đến từ Nigeria, buồn bã nhận xét.

“Cánh cửa dẫn đến nhiều chân trời mới”

Tuy nhiên, một số người trẻ cho rằng đại dịch đã mở ra cơ hội để họ hòa nhập lại với gia đình, thiên nhiên và hoàn thành các mục tiêu còn bỏ dở.

Joshua, 26 tuổi, đã thu dọn đồ đạc và rời Anh để sang Tây Ban Nha vào một buổi sáng tháng 8.

“Giờ đây, tôi chỉ dùng một phần ba tiền lương để chi trả cho căn hộ ba phòng ngủ ven biển. Thỉnh thoảng có vài người bạn đến thăm nhưng tôi chủ yếu sống độc thân và cách ly với xã hội”, Joshua nói.

Vào tháng 2, các nhà khoa học từ Thái Lan quan sát một nhóm sinh viên đại học ở Vũ Hán, Trung Quốc, để tìm hiểu cách họ đối phó với tình trạng cách ly xã hội.

Kết quả cho thấy nhiều sinh viên có khả năng phản ứng tương đối tích cực và lạc quan trong bối cảnh đại dịch.

Tiến sĩ Demkowicz ở Anh cũng cho biết đợt phong tỏa đầu tiên mở ra cơ hội cho các thanh thiếu niên “có thể khám phá và phát triển bản thân, đồng thời cân nhắc lại hướng đi đang chọn” khi không còn vướng bận bài vở và các mối quan hệ xã hội.

Anders Furze, 30 tuổi, cho biết quá trình cách ly cho anh thời gian nhìn lại thái độ và lối sống trước đại dịch. “Tôi thường xuyên ra ngoài ăn tối, đi xem phim và nghe nhạc kịch, đến 5 lần một tuần”.

Giờ đây, người đàn ông đến từ Australia nhận ra không nên tiếp tục tự mình trở nên kiệt quệ bằng cách trói bản thân vào các mối quan hệ xã hội nữa. Furze bắt đầu cân nhắc về việc theo học cao học để lấy bằng luật.

“Cảm giác như đại dịch đã mở ra trước mắt tôi cánh cửa dẫn đến nhiều chân trời mới”, Furze nói.

Đại Hoàng / Zingnews

Trầm cảm ảnh hưởng lên não bộ như thế nào?


Theo ước tính, trong năm 2016, 16,2 triệu người Hoa Kỳ trưởng thành đã có ít nhất một giai đoạn trầm cảm dạng điển hình. It’s estimated that 16.2 …

Trầm cảm ảnh hưởng lên não bộ như thế nào?

Mạng xã hội đang khiến cho con người trở nên tự ti hơn


Sử dụng mạng xã hội quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tinh thần.

Có lẽ điều này sẽ khiến bạn ngạc nhiên nhưng việc sử dụng mạng xã hội kéo dài thực sự có thể khiến chúng ta rơi vào trạng thái buồn bã. Mặc dù tạo ra cuộc cách mạng trong cách thức con người kết nối với nhau, nhưng hệ quả của việc lạm dụng mạng xã hội chính là tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của chúng ta.

Các nghiên cứu đã xâu chuỗi việc sử dụng mạng xã hội với tình trạng gia tăng mức độ trầm cảm, lo lắng và cô đơn. Dưới đây là một số tác động tiêu cực mà mạng xã hội có thể tác động đến sức khỏe tinh thần của bạn.

Gây nên chứng Cyberostracism

Việc sử dụng phương tiện truyền thông mạng xã hội được kích thích bởi nhu cầu thuộc về nội tại của chính con người – sự thúc đẩy hình thành các kết nối đầy ý nghĩa giữa các cá nhân với nhau. Đó còn do nỗi sợ hãi bị chối bỏ hoặc còn được nhiều người gọi là “FOMO”. Nó thúc đẩy chúng ta tìm đọc các cập nhật trạng thái thường xuyên của bạn bè và liên tục lướt trên các dòng thời gian.

Nhiều người trong chúng ta phụ thuộc vào phương tiện truyền thông xã hội ngay cả với những tương tác hàng ngày và việc sử dụng nó đã thấm sâu vào mọi khía cạnh của đời sống. Ngày càng có nhiều nghiên cứu về những tác động tiêu cực của mạng xã hội, bao gồm cả hệ quả dẫn đến quá trình có tên thuật ngữ là “cyberostracism” (tạm dịch: loại trừ xã hội trực tuyến).

Cyberostracism bắt đầu từ 0 lượt thích và bình luận

Bị tẩy chay ảnh hưởng đến lòng tự trọng, tâm lý kiểm soát, cảm giác thân thiết, cũng như quan điểm của chúng ta về ý nghĩa của sự tồn tại. Theo một nghiên cứu năm 2018 của các nhà nghiên cứu từ Đại học bang Illinois, Mỹ thì cyberostracism trên mạng truyền thông xã hội thường xảy đến khi tương tác không được phản hồi.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng khi bài đăng của chúng ta không được nhìn nhận (tức là không nhận được những lượt like và bình luận), chúng ta dễ cảm thấy bị chối bỏ và loại trừ bởi những người khác.

Khi điều này lặp đi lặp lại nhiều lần, chẳng hạn như bạn chỉ nhận được một vài lượt thích và bình luận trên nhiều bài đăng của mình trong một thời gian dài, nó có thể dẫn đến “cảm giác bị xa lánh, trầm cảm, bất lực và bao trùm là cảm giác vô nghĩa”.

Rơi vào vòng xoáy của “Seen” và “Unfriend”

Một nghiên cứu độc lập của các nhà nghiên cứu từ Đại học Mannheim ở Đức đã phát hiện ra mô hình tương tự trong cách chúng ta trải qua cảm giác bị chối bỏ trên mạng xã hội. Chẳng hạn như một số trải nghiệm nhất định trên Facebook, Twitter hoặc Instagram gây ra cảm giác bị tẩy chay khi mà không nhận được tương tác trở lại ngay lập tức.

Cảm giác chờ đợi được phản hồi sau một tin nhắn đã “seen” (đã xem) có thể thổi bùng nên những suy nghĩ tiêu cực đó. Và việc phải chờ đợi ai đó chấp nhận lời mời kết bạn cũng mang lại kết quả tệ hại tương tự. Những trải nghiệm này, theo các nhà nghiên cứu, đặt mọi người vào “chế độ chờ đợi” gần như mọi lúc.

Và mạng xã hội là nơi mà mọi nhu cầu đó đều bị dập tắt ngay lập tức, mỗi phút giây phản hồi chậm trễ sẽ có thể chôn vùi một người trong “hố sâu” của cảm giác bị xa lánh, ruồng bỏ. Theo các nhà nghiên cứu, tình trạng tương tự cũng có thể xảy ra khi ai đó unfriend (hủy kết bạn) chúng ta trên mạng xã hội.

Mang lại cảm giác tự so sánh cực kỳ độc hại

Điều này đã không còn gì mới mẻ trong xã hội hiện đại, con người vẫn luôn so sánh bản thân và cách sống của mình với những người xung quanh trong hàng trăm năm qua. Nhưng vì mạng xã hội, bạn sẽ không chỉ thấy hàng xóm của mình đang làm gì, bạn thậm chí còn bị “nhồi nhét” trong những dòng cập nhật trạng thái của mọi người, ở mọi nơi, đang làm gì.

Bạn lướt liên tục những News Feed của bạn bè và nhìn thấy họ vượt qua được những cột mốc đáng nhớ trong cuộc sống, khoe thành tích mới nhất của họ, chiếc ô tô mới bóng láng hoặc những món đồ trang sức lấp lánh. Kết quả là, bạn tự vấn bản thân mình và cuối cùng tự chôn vùi tâm trí trong cảm giác thất bại.

Theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Social and Clinical Psychology, những cảm nhận trên là một trong nhiều hậu quả của tương tác trung gian kỹ thuật số. “So sánh xã hội xảy ra khi mọi người tự động soi chiếu bản thân họ với những người khác về khả năng hoặc thuộc tính mà họ tự cho là quan trọng”, các nhà nghiên cứu giải thích.

So sánh bản thân với bạn bè trên mạng xã hội

Các nền tảng truyền thông xã hội như Facebook và Instagram mang đến rất nhiều lý do để người dùng so sánh mình với bạn bè và tất cả những người nổi tiếng mà họ theo dõi.

Chúng ta có thể tự cuốn bản thân vào so sánh xã hội trên Facebook khi tính toán số lượt thích và bình luận mà mình nhận được so với bạn bè. Từ đó, nó trở thành một vấn đề thật sự khi mà nhiều người chỉ “tô vẽ” phiên bản tốt nhất của họ trên mạng xã hội.

Vì vậy, khi so sánh bản thân với những phiên bản hoàn hảo của ai đó trên mạng xã hội, chúng ta sẽ có xu hướng cảm thấy mình thấp kém hơn. Thường xuyên nhìn thấy những bức chân dung về cuộc sống hoàn hảo của người khác trên mạng xã hội sẽ khiến chúng ta cảm thấy cuộc sống thật thiếu thốn. Điều này có thể kích động hoặc làm trầm trọng thêm các cảm xúc tiêu cực và làm gia tăng các triệu chứng trầm cảm mỗi ngày.

Ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể của bạn

Hàng loạt nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội kéo dài và cảm giác không hài lòng về hình thể. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tác động lên hình ảnh cơ thể của một người đều được cả nam giới và nữ giới cảm nhận. Ví dụ, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Body Image đã phát hiện ra rằng việc sử dụng mạng xã hội kéo dài có thể gây ra những lo ngại về hình ảnh cơ thể ở phụ nữ trẻ.

Những người dành nhiều thời gian trên mạng xã hội có xu hướng so sánh ngoại hình của họ với bạn bè, đồng nghiệp ở xa và thậm chí cả những người nổi tiếng. Họ cũng thường đánh giá ngoại hình của mình xấu hơn so với những người khác.

Điều này đặc biệt trở nên nghiêm trọng vì người dùng hiện đại dần lạm dụng các ứng dụng chỉnh sửa ảnh. Sự hiện diện phổ biến của các bức ảnh được chỉnh sửa “nặng đô” tạo ra một hình ảnh cơ thể không thực tế mà đối với nhiều người là gần như không thể đạt tới hoặc duy trì được vóc dáng đó.

Những mưu cầu về cơ thể không thực tế này có thể khiến chúng ta cảm thấy bất mãn, hạ thấp giá trị bản thân và thậm chí gây ra chứng rối loạn ăn uống ở một số người.

Phong trào Body Positivity (được tự do sống với hình thể, vẻ đẹp của bản thân) đã cố gắng làm cho khái niệm về vẻ đẹp trở nên toàn diện hơn, tập trung vào vẻ đẹp bản thể như một đặc điểm quan trọng để mọi người cố gắng vươn tới, nhưng mạng xã hội cuối cùng vẫn đánh giá cao vẻ ngoài hào nhoáng của bạn, thứ có thể góp phần tạo nên hình ảnh cơ thể tiêu cực hoặc so sánh độc hại với người khác.

Tạm sống xa mạng xã hội

Tất cả những nghiên cứu này đều dẫn về một điều: tạm ngưng dùng mạng xã hội sẽ tốt cho bạn. Với tất cả các tác động tiêu cực đã chỉ ra đối với sức khỏe tâm thần của con người, việc giảm thời gian dành cho các mạng xã hội thực sự có thể khiến bạn hạnh phúc hơn rất nhiều. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc hạn chế sử dụng mạng xã hội có tác động tích cực đến sức khỏe của con người theo thời gian.

Giang Vu theo MakeUseOf / Theo vnreview.vn

Thể lực yếu liên quan đến nguy cơ trầm cảm và lo âu


Những người yếu về thể lực và cơ bắp có nguy cơ bị trầm cảm cao gần gấp đôi so với người khỏe mạnh, theo nghiên cứu mới của Đại học College London (UCL).”Chúng tôi đã cung cấp thêm bằng chứng về mối quan hệ giữa sức khỏe thể chất và tinh thần, và cho thấy bài tập cải thiện thể chất không chỉ tốt cho sức khỏe thể chất của bạn mà còn có lợi cho sức khỏe tâm thần,” nghiên cứu sinh Aaron Kandola tại UCL, tác giả nghiên cứu vừa được công bố trên tạp chí BMC Medicine, cho biết.

Nghiên cứu có sự tham gia của 152.978 người trong độ tuổi từ 40 đến 69 tuổi. Thể lực cơ bản của họ khi bắt đầu nghiên cứu được kiểm tra bằng bài tập đạp xe cố định với sức cản tăng dần, và sức khỏe cơ bắp của họ được đo bằng một bài kiểm tra lực nắm. Những người tham gia cũng hoàn thành một bảng câu hỏi đánh giá các triệu chứng trầm cảm và lo âu.
Bảy năm sau, họ được kiểm tra lại các triệu chứng trầm cảm và lo âu, và các nhà nghiên cứu nhận thấy những người có thể lực và sức khỏe cơ bắp cao khi bắt đầu nghiên cứu có sức khỏe tâm thần tốt hơn bảy năm sau đó.
Những người có cả thể lực và cơ bắp yếu nhất có tỷ lệ trầm cảm cao hơn 98%, tỷ lệ lo lắng cao hơn 60% và tỷ lệ mắc một trong các rối loạn sức khỏe tâm thần phổ biến cao hơn 81% so với những người có sức khỏe thể chất tổng thể cao.
Các nhà nghiên cứu đã tính đến các yếu tố có khả năng gây nhiễu như chế độ ăn uống, tình trạng kinh tế xã hội, bệnh mãn tính và các triệu chứng bệnh tâm thần.
Trước đây, các nghiên cứu từng phát hiện ra rằng, những người tập thể dục nhiều hơn ít có nguy cơ mắc bệnh tâm thần hơn, nhưng hầu hết các nghiên cứu dựa vào việc mọi người tự báo cáo mức độ hoạt động thể chất của họ. Việc tự báo cáo này kém tin cậy hơn so với các phép đo thể chất khách quan được sử dụng trong nghiên cứu lần này.
“Các báo cáo cho thấy mọi người không hoạt động nhiều như trước đây là điều đáng lo ngại, và thậm chí tình trạng [ít hoạt động] còn tệ hơn nữa khi phong tỏa do đại dịch đóng cửa các phòng tập thể dục và hạn chế thời gian mọi người ra khỏi nhà. Hoạt động thể chất là một phần quan trọng cuộc sống của chúng ta và có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa các rối loạn sức khỏe tâm thần,” Aaron Kandola nói.
Theo các nghiên cứu, chỉ một vài tuần tập thể dục cường độ cao thường xuyên có thể cải thiện đáng kể thể lực và cơ bắp; còn kết quả nghiên cứu mới cho thấy có thể không mất nhiều thời gian luyện tập để tạo ra sự khác biệt lớn đối với nguy cơ mắc các bệnh tâm thần.

https://medicalxpress.com/news/2020-11-linked-higher-depression-anxiety.html

Hoàng Nam dịch / khoahocphattrien.vn

%d bloggers like this: