[Covid19] Quên đi những gì đã mất để tiến về tương lai


Ta mất gì sau đại dịch – ndtbd: wordpress.com

Sau đại dịch: ta mất gì? Ta có là người tốt?

Có những chấn thương sẽ dai dẳng, và nhiều người sẽ không được phép quên điều mình đã làm.

Minh họa – TTCT

Đại dịch COVID-19 vừa giống một cơn bão lại vừa không. Trong cơn bão, bạn tập trung nhiều vào gió, mưa và sinh mạng. Núp trong hội trường hay trong chính nhà mình, bạn nghe tôn bay, cây đổ, nhưng mọi thiệt hại vẫn không thể rõ ràng bằng khi cơn đã tan, bạn đứng trước đống ngổn ngang và không biết phải bắt đầu từ đâu.

Đại dịch này cũng thế, trong lúc nó quần thảo và chúng ta phải chôn chân trong nhà, bức tranh tổn thất mà ta thấy chỉ là từng mảng nhỏ lốm đốm. Nhưng khác với bão, khi COVID-19 tạm lui, ta không thể lập tức lao ra ngoài để kiểm kê thiệt hại một lần cho xong. Bức tranh mất mát hiện hình dần, hiện trạng tang thương vẫn chưa chịu bộc lộ hết. Ta phải phập phồng sống với một câu hỏi: “Còn thiệt hại gì nữa không?”.

Vì thế không lạ gì khi các hoạt động được nới lỏng, nhiều người đêm trước còn tưởng tượng ngày mai mình sẽ ra đường làm gì cho “đã đời”, đến hôm sau đã bần thần không muốn làm gì, không biết phải làm gì. Sức khỏe tinh thần rõ ràng không phải là một mái tôn, khi hết bão cứ lợp lại là xong hết. Mất mát về tinh thần cũng không dễ kiểm kê như số cây đổ trong vườn. Việc chữa lành rõ ràng là cần một thời gian, và việc đầu tiên là điểm qua các chấn thương tâm lý – đúng là như vậy – của số đông những người đã không thể tìm thấy trong đại dịch này thứ gì tương tự “trong nguy có cơ”.

MIẾNG ĂN XA DẦN

Nhiều người tỏ ra không thể hiểu nổi vì sao đã có “bình thường mới” rồi mà kẻ khác vẫn mang tâm trạng u ám. “Đi làm đi chứ!” họ sốt ruột khi thấy xung quanh vẫn có những người tiếp tục ngồi nhà. Có lẽ họ không biết, khi phong tỏa được gỡ bỏ, có những doanh nghiệp làm không hết việc, nhưng có những doanh nghiệp chưa được mở lại ngay, hoặc đã quá “đuối” để mở lại, hoặc không bao giờ có thể mở lại.

Mất việc và giảm lương sau dịch đẩy người lao động vào một cuộc chạy đua mệt mỏi khác, đôi khi là chạy lại từ đầu. Có người phải chuyển nghề, có người chuyển chỗ làm. Theo The Conversation, đại dịch đã cắt đứt của người lao động khả năng duy trì những mối quan hệ xã hội, những vai trò xã hội vốn mang lại cho họ “một cấu trúc đời sống có ý nghĩa” trước COVID-19. Một người quản đốc oai phong mất việc và trở thành lính mới của một công ty. Một chủ nhà hàng nhộn nhịp phá sản và lâm cảnh nợ nần. Mỗi người, dù ý thức hay không, đều cố xây dựng những bậc thang để tiến lên trong xã hội. COVID-19 trong hai năm đã giật sập những bậc thang ấy của rất nhiều con người.

Lại có những thắc mắc khác, rằng làm việc bao nhiêu năm thế vậy tiền tích lũy đâu, chẳng lẽ có vài tháng phong tỏa mà đã khốn đốn vậy sao? Nhưng chẳng phải đa số chúng ta đều sống và phát triển nhờ niềm tin rằng một việc chắc chắn “sẽ xảy ra” trong tương lai sao: lương chắc chắn sẽ tới vào đầu tháng, tiền thuê nhà chắc chắn có như hợp đồng đã ký, lãi tăng do bán đất chắc chắn dư trả lãi ngân hàng…? COVID-19 là cơn cuồng phong đốn gục từng gốc một của rừng cây chắc chắn ấy.

Tuy mỗi vùng địa lý trên thế giới chỉ bị phong tỏa ngặt nghèo trong vài tháng, nhưng cơn bão ấy đã quần thảo toàn cầu suốt hai năm, và thế giới phẳng này chưa bao giờ kết nối nhau chặt chẽ đến vậy; chuỗi cung ứng và tiêu thụ nối nhau nhịp nhàng và nhạy bén như một mạng nhện – một đầu này run rẩy và cả một mạng lưới run theo. Sự mất mát thật sự đã diễn ra từ cách đây hai năm và cứ thế ngày càng tăng, là phép cộng dồn của mọi mất mát rồi chia đều, đổ lên đầu từng người, không chừa một ai. Anh xe ôm hay chị chủ nhà hàng, về mặt kinh tế đều khốn đốn như nhau.

THẤT NGHIỆP TRÁ HÌNH

Đó là chưa nói tới “thất nghiệp trá hình”, là khi người lao động có làm việc đấy mà cái thu về gần như bằng 0, hoặc tình trạng nhiều người mà ít việc khiến “một bộ phận không nhỏ” ngồi chơi xơi nước. Họ có thể là những nông dân không bán được nông sản do giao thông đình trệ và chuỗi cung ứng đứt, đành vứt bỏ thành quả suốt cả mùa mục thối trên đất hoặc ẩm mốc trong kho. Họ cũng có thể là các nhân viên vẫn ăn lương tối thiểu của doanh nghiệp nhưng mỗi tuần chỉ chia ca đến làm một chút… Con số “thất nghiệp trá hình” ấy không được thể hiện trong các bảng thống kê vì họ vẫn có việc mà! Gạt qua một bên những kẻ lười nhác quả thực chỉ muốn nằm dài nhưng vẫn mang danh đi làm, còn thì cái sự làm việc cầm chừng, không thấy bản thân mình được “sống cho ra sống, làm cho ra làm” sẽ khiến người ta trầm cảm, như cỗ máy bực mình cứ phải chạy ì ì dưới công suất.

Trước COVID-19 ta đã có bao nhiêu người “thất nghiệp trá hình”? Khi mở cửa trở lại, con số ấy chắc chắn sẽ còn tăng nếu các mối nối vẫn bị đứt gãy, khâu này chờ khâu kia. Lượng người đổ về nông thôn sau một cơn kinh hoàng nơi thành phố lớn cũng sẽ góp phần cho con số ấy phình lên. Họ về quê, nghĩ mình sẽ làm ruộng, làm phụ nề, sẽ buôn bán đủ sống. Nhưng chúng ta đều biết, thành phố không chỉ là tiền lương, tiền công mà còn là cơ hội. Bạn ra thành phố là tiếp xúc với hàng chục cơ hội: bạn có thể là lái xe, là người chăm cây cảnh, là thợ cắt tóc, đi học lên thành kỹ sư…, tùy bạn. Nhưng quay về nông thôn, bạn có rất ít lựa chọn và công việc không nhiều. Với con người nói chung, chúng ta đều biết vấn nạn khi quá thừa thời gian là gì rồi, đặc biệt là nông thôn. Và khủng hoảng hậu COVID e rằng sẽ còn kéo dài, lan đến cả những nơi tưởng là xa xôi, êm đềm nhất.

Minh hoạ

CHẤN THƯƠNG VỀ ĐẠO ĐỨC

Trong một bài viết trên The Atlantic, tác giả Jonathan Moens nói đến một vấn đề tâm lý hậu COVID-19. Ấy là khi bão qua rồi, người ta mới có thời gian ngẫm nghĩ lại những việc mình làm. Một số người sẽ cảm thấy ân hận vì đã có lúc không lao vào cứu một người đau ốm do quá sợ hãi COVID-19; một số người sẽ băn khoăn sao lúc chống dịch mình có thể cứng nhắc đến thế, “hành” người ta đến thế mà thực tâm mình không “ác” thế.

Các nhà tâm lý học gọi đó là “chấn thương đạo đức”, là dai dẳng mang cảm giác xấu hổ, có lỗi, mất định hướng sau khi chính mình đã vi phạm nguyên tắc đạo đức của mình. Người ta thường sẽ thể hiện chấn thương này bằng cách quy tội cho quy chế, tổ chức đã buộc họ phải ra những quyết định khó khăn ấy. Tác giả kể một ví dụ là nữ điều dưỡng Turner của một bệnh viện ở San Francisco. Vào đúng Ngày của mẹ, Turner theo đúng quy định đã không cho một người phụ nữ vào vĩnh biệt bà mẹ đang hấp hối. “Tôi làm đúng theo những gì ghi trên giấy tờ, nhưng liệu đó có phải là việc mà một người tử tế sẽ làm không? Không… Giờ tôi nghi ngờ chính mình: mình có phải là người tốt không?”.

Những người mang chấn thương đạo đức nặng nhất lại chính là những người bản chất tốt đẹp, nhưng lúc dầu sôi lửa bỏng đã không biết uyển chuyển để làm dịu lòng những người mà mình buộc phải đối xử cứng rắn. Có bao nhiêu người giờ đây đang ân hận vì đã không thể nói một câu tử tế hay nhắn một dòng tin cho thân nhân người bệnh được yên lòng? Có bao nhiêu người giờ đang tiếc phải chi lúc đó mình đừng ra quy định nghiệt ngã? Chắc chắn phải có chứ, và ta tin rằng họ cắn rứt thành thật. Theo bài báo, một khảo sát mới đây cho thấy tại Mỹ, nhân viên y tế là những người chịu chấn thương này nhiều nhất sau đại dịch, khoảng 1/4 trong số họ nói muốn nghỉ hưu sớm và 12% đang tính đổi nghề.

LO LẮNG VỀ HỌC HÀNH

Sẽ vô cùng thiếu sót nếu ta không tính tới thành phần cần “chữa lành” về tâm lý sau COVID-19: học sinh. Chớ nên thấy chúng ngồi trước màn hình, lén lút nhảy sang các trang khác xem các thứ linh tinh mà nghĩ rằng chúng được hưởng toàn là lợi ích từ việc học trực tuyến. Với trẻ con, nhu cầu tiếp xúc thật sự giữa bạn bè với nhau là rất cao. Nhận định về những mất mát của trẻ con trong đại dịch, UNESCO cho biết khi các trường học đóng cửa, thanh thiếu niên bị tước mất các cơ hội phát triển về thể chất lẫn tinh thần. Điều này càng rõ với học sinh nghèo khi ngoài trường học chính thống cũng chẳng còn môi trường giáo dục nào khác. Trường học là “tụ điểm” của hoạt động xã hội và giao tiếp người với người. Đó là một xã hội hẳn hoi: có người cao người thấp, có tên bắt nạt, có kẻ anh hùng. Trẻ con dùng trường học làm nơi ướm thử những hình mẫu mình muốn có: là tiểu thư hay cô gái năng động? Là tên láu cá hay chàng công tử? Trường học đóng cửa, đóng luôn sân khấu các phép thử sai về kỹ năng giao tiếp của trẻ con. Trong gia đình, thiếu niên là phận thấp bé nhất, chúng không thể than vãn và khả năng diễn đạt của chúng cũng chưa đủ để mà than vãn cho đúng mức độ, vì thế những mất mát về mặt tinh thần của chúng dễ bị bỏ qua. Ta nghĩ đơn giản: giao cho chúng cái máy là xong hết ấy mà!

Chưa kể, theo The Conversation, nghiên cứu mới cho thấy khi quay trở lại trường vào tháng 9, hầu hết kiến thức của học sinh Mỹ đều tụt hậu mất vài tháng (và có em là cả năm) so với giá như vẫn được lên lớp bình thường. Ở nước ta chắc chắn lại càng thế, mặc dù ngành giáo dục đã tìm mọi cách xoay xở. Có những gia đình không có Internet, máy tính hay điện thoại riêng cho từng đứa con… Gánh nặng tụt hậu này sau đó giáo viên phải gánh: ta có thêm một thành phần nữa bị ảnh hưởng tâm lý lâu dài sau đại dịch.

PHẢI LÀM GÌ?

Vẫn biết thời gian là thuốc tiên, cái gì rồi cũng quên bớt, cả sự bất an rồi cũng tìm cách về trạng thái bình an, nhưng đặc ân đó có lẽ chỉ nên dành cho người dân thường, khi hoàn cảnh họ rơi vào là bất khả kháng.

Ngược lại, nhà quản lý thì không nên và không được phép quên những gì đã trải qua. Người thường nếu muốn lành mạnh đi tiếp thì nên tránh nghĩ mãi về những mất mát của riêng mình; nhưng nhà quản lý để trưởng thành và hợp đạo đức thì mỗi ngày đều nên nghiền ngẫm lại những mất mát của người dân, kiểm điểm một cách chân thành (cho dù là chỉ với bản thân) rằng quyết định nào đáng lẽ không nên đưa ra trong thời gian dịch, và rằng ta đã và đang làm gì khiến người dân thêm khổ sở.

Bởi vì đại dịch COVID-19 đã lui bớt, nhưng chẳng có gì đảm bảo là một đại dịch khác sẽ không diễn ra.

Theo TTCT

Mạng xã hội đang khiến cho con người trở nên tự ti hơn


Sử dụng mạng xã hội quá nhiều sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe tinh thần.

Có lẽ điều này sẽ khiến bạn ngạc nhiên nhưng việc sử dụng mạng xã hội kéo dài thực sự có thể khiến chúng ta rơi vào trạng thái buồn bã. Mặc dù tạo ra cuộc cách mạng trong cách thức con người kết nối với nhau, nhưng hệ quả của việc lạm dụng mạng xã hội chính là tác động tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của chúng ta.

Các nghiên cứu đã xâu chuỗi việc sử dụng mạng xã hội với tình trạng gia tăng mức độ trầm cảm, lo lắng và cô đơn. Dưới đây là một số tác động tiêu cực mà mạng xã hội có thể tác động đến sức khỏe tinh thần của bạn.

Gây nên chứng Cyberostracism

Việc sử dụng phương tiện truyền thông mạng xã hội được kích thích bởi nhu cầu thuộc về nội tại của chính con người – sự thúc đẩy hình thành các kết nối đầy ý nghĩa giữa các cá nhân với nhau. Đó còn do nỗi sợ hãi bị chối bỏ hoặc còn được nhiều người gọi là “FOMO”. Nó thúc đẩy chúng ta tìm đọc các cập nhật trạng thái thường xuyên của bạn bè và liên tục lướt trên các dòng thời gian.

Nhiều người trong chúng ta phụ thuộc vào phương tiện truyền thông xã hội ngay cả với những tương tác hàng ngày và việc sử dụng nó đã thấm sâu vào mọi khía cạnh của đời sống. Ngày càng có nhiều nghiên cứu về những tác động tiêu cực của mạng xã hội, bao gồm cả hệ quả dẫn đến quá trình có tên thuật ngữ là “cyberostracism” (tạm dịch: loại trừ xã hội trực tuyến).

Cyberostracism bắt đầu từ 0 lượt thích và bình luận

Bị tẩy chay ảnh hưởng đến lòng tự trọng, tâm lý kiểm soát, cảm giác thân thiết, cũng như quan điểm của chúng ta về ý nghĩa của sự tồn tại. Theo một nghiên cứu năm 2018 của các nhà nghiên cứu từ Đại học bang Illinois, Mỹ thì cyberostracism trên mạng truyền thông xã hội thường xảy đến khi tương tác không được phản hồi.

Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng khi bài đăng của chúng ta không được nhìn nhận (tức là không nhận được những lượt like và bình luận), chúng ta dễ cảm thấy bị chối bỏ và loại trừ bởi những người khác.

Khi điều này lặp đi lặp lại nhiều lần, chẳng hạn như bạn chỉ nhận được một vài lượt thích và bình luận trên nhiều bài đăng của mình trong một thời gian dài, nó có thể dẫn đến “cảm giác bị xa lánh, trầm cảm, bất lực và bao trùm là cảm giác vô nghĩa”.

Rơi vào vòng xoáy của “Seen” và “Unfriend”

Một nghiên cứu độc lập của các nhà nghiên cứu từ Đại học Mannheim ở Đức đã phát hiện ra mô hình tương tự trong cách chúng ta trải qua cảm giác bị chối bỏ trên mạng xã hội. Chẳng hạn như một số trải nghiệm nhất định trên Facebook, Twitter hoặc Instagram gây ra cảm giác bị tẩy chay khi mà không nhận được tương tác trở lại ngay lập tức.

Cảm giác chờ đợi được phản hồi sau một tin nhắn đã “seen” (đã xem) có thể thổi bùng nên những suy nghĩ tiêu cực đó. Và việc phải chờ đợi ai đó chấp nhận lời mời kết bạn cũng mang lại kết quả tệ hại tương tự. Những trải nghiệm này, theo các nhà nghiên cứu, đặt mọi người vào “chế độ chờ đợi” gần như mọi lúc.

Và mạng xã hội là nơi mà mọi nhu cầu đó đều bị dập tắt ngay lập tức, mỗi phút giây phản hồi chậm trễ sẽ có thể chôn vùi một người trong “hố sâu” của cảm giác bị xa lánh, ruồng bỏ. Theo các nhà nghiên cứu, tình trạng tương tự cũng có thể xảy ra khi ai đó unfriend (hủy kết bạn) chúng ta trên mạng xã hội.

Mang lại cảm giác tự so sánh cực kỳ độc hại

Điều này đã không còn gì mới mẻ trong xã hội hiện đại, con người vẫn luôn so sánh bản thân và cách sống của mình với những người xung quanh trong hàng trăm năm qua. Nhưng vì mạng xã hội, bạn sẽ không chỉ thấy hàng xóm của mình đang làm gì, bạn thậm chí còn bị “nhồi nhét” trong những dòng cập nhật trạng thái của mọi người, ở mọi nơi, đang làm gì.

Bạn lướt liên tục những News Feed của bạn bè và nhìn thấy họ vượt qua được những cột mốc đáng nhớ trong cuộc sống, khoe thành tích mới nhất của họ, chiếc ô tô mới bóng láng hoặc những món đồ trang sức lấp lánh. Kết quả là, bạn tự vấn bản thân mình và cuối cùng tự chôn vùi tâm trí trong cảm giác thất bại.

Theo một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Social and Clinical Psychology, những cảm nhận trên là một trong nhiều hậu quả của tương tác trung gian kỹ thuật số. “So sánh xã hội xảy ra khi mọi người tự động soi chiếu bản thân họ với những người khác về khả năng hoặc thuộc tính mà họ tự cho là quan trọng”, các nhà nghiên cứu giải thích.

So sánh bản thân với bạn bè trên mạng xã hội

Các nền tảng truyền thông xã hội như Facebook và Instagram mang đến rất nhiều lý do để người dùng so sánh mình với bạn bè và tất cả những người nổi tiếng mà họ theo dõi.

Chúng ta có thể tự cuốn bản thân vào so sánh xã hội trên Facebook khi tính toán số lượt thích và bình luận mà mình nhận được so với bạn bè. Từ đó, nó trở thành một vấn đề thật sự khi mà nhiều người chỉ “tô vẽ” phiên bản tốt nhất của họ trên mạng xã hội.

Vì vậy, khi so sánh bản thân với những phiên bản hoàn hảo của ai đó trên mạng xã hội, chúng ta sẽ có xu hướng cảm thấy mình thấp kém hơn. Thường xuyên nhìn thấy những bức chân dung về cuộc sống hoàn hảo của người khác trên mạng xã hội sẽ khiến chúng ta cảm thấy cuộc sống thật thiếu thốn. Điều này có thể kích động hoặc làm trầm trọng thêm các cảm xúc tiêu cực và làm gia tăng các triệu chứng trầm cảm mỗi ngày.

Ảnh hưởng tiêu cực đến cơ thể của bạn

Hàng loạt nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa việc sử dụng mạng xã hội kéo dài và cảm giác không hài lòng về hình thể. Những nghiên cứu này đã chỉ ra rằng tác động lên hình ảnh cơ thể của một người đều được cả nam giới và nữ giới cảm nhận. Ví dụ, một nghiên cứu được công bố trên tạp chí Body Image đã phát hiện ra rằng việc sử dụng mạng xã hội kéo dài có thể gây ra những lo ngại về hình ảnh cơ thể ở phụ nữ trẻ.

Những người dành nhiều thời gian trên mạng xã hội có xu hướng so sánh ngoại hình của họ với bạn bè, đồng nghiệp ở xa và thậm chí cả những người nổi tiếng. Họ cũng thường đánh giá ngoại hình của mình xấu hơn so với những người khác.

Điều này đặc biệt trở nên nghiêm trọng vì người dùng hiện đại dần lạm dụng các ứng dụng chỉnh sửa ảnh. Sự hiện diện phổ biến của các bức ảnh được chỉnh sửa “nặng đô” tạo ra một hình ảnh cơ thể không thực tế mà đối với nhiều người là gần như không thể đạt tới hoặc duy trì được vóc dáng đó.

Những mưu cầu về cơ thể không thực tế này có thể khiến chúng ta cảm thấy bất mãn, hạ thấp giá trị bản thân và thậm chí gây ra chứng rối loạn ăn uống ở một số người.

Phong trào Body Positivity (được tự do sống với hình thể, vẻ đẹp của bản thân) đã cố gắng làm cho khái niệm về vẻ đẹp trở nên toàn diện hơn, tập trung vào vẻ đẹp bản thể như một đặc điểm quan trọng để mọi người cố gắng vươn tới, nhưng mạng xã hội cuối cùng vẫn đánh giá cao vẻ ngoài hào nhoáng của bạn, thứ có thể góp phần tạo nên hình ảnh cơ thể tiêu cực hoặc so sánh độc hại với người khác.

Tạm sống xa mạng xã hội

Tất cả những nghiên cứu này đều dẫn về một điều: tạm ngưng dùng mạng xã hội sẽ tốt cho bạn. Với tất cả các tác động tiêu cực đã chỉ ra đối với sức khỏe tâm thần của con người, việc giảm thời gian dành cho các mạng xã hội thực sự có thể khiến bạn hạnh phúc hơn rất nhiều. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc hạn chế sử dụng mạng xã hội có tác động tích cực đến sức khỏe của con người theo thời gian.

Giang Vu theo MakeUseOf / Theo vnreview.vn