Cuộc sống không giới hạn: Hãy yêu con người vốn có của bạn


Chúng ta trở nên dễ bị tổn thương và rơi vào trạng thái chán nản, chán ghét bản thân khi chúng ta để cho cảm giác của mình phụ thuộc vào ý kiến của người khác hoặc vào sự so sánh bản thân mình với người khác.  

Trong một chuyến đi đến Đông Nam Á, tôi đã có buổi diễn thuyết trước hơn 300 doanh nhân hàng đầu ở Singapore. Khi kết thúc bài diễn thuyết và khi khán phòng đã bớt đông, một người đàn ông bước vội về phía tôi. Ông trông có vẻ rất thành đạt và đầy tự tin như tất cả những khán thính giả khác trong khán phòng này, nên những lời đầu tiên ông nói đã khiến tôi ngạc nhiên.

“Nick, hãy giúp tôi với”, ông van vỉ.

Thế rồi tôi được biết câu chuyện của ông, biết rằng người đàn ông thành đạt đó sở hữu tới ba ngân hàng, nhưng ông đến nhờ tôi giúp đỡ bởi vì sự giàu có về vật chất không thể bảo vệ ông khỏi nỗi muộn phiền.

“Tôi có một đứa con gái tuyệt vời mới mười bốn tuổi. Và vì một do khủng khiếp nào đó, cứ mỗi lần con tôi nhìn mình trong gương, nó lại nói rằng nó cảm thấy mình rất xấu xí”, ông nói. “Tôi buồn lắm bởi vì con bé không thể nhận ra rằng nó thực sự đẹp. Làm thế nào tôi có thể giúp con bé thấy được những gì tôi thấy đây?”.

 

Một căn bệnh tinh thần

cuocsong3

 

Điều khó chịu đựng nhất đối với cha mẹ chính là sự đau khổ của con. Vị doanh nhân này đang cố gắng giúp con gái vượt qua sự ghét bỏ bản thân, một điều cực kỳ quan trọng. Bởi vì nếu chúng ta không thể chấp nhận bản thân mình khi chúng ta còn khỏe mạnh và trẻ trung, thì chúng ta sẽ cảm thấy như thế nào về chính mình khi về già, khi phải trải qua bệnh tật, ốm đau? Và nếu chúng ta ghét bỏ bản thân vì một lý do vớ vẩn nào đó, thì chúng ta dễ dàng thay thế nó bằng hàng trăm cách phủ nhận bản thân vô căn cứ và tùy tiện khác.

Những sức ép mà các bạn trẻ sắp bước vào ngưỡng cửa của cuộc đời cảm thấy dường như rất phổ biến. Tôi đã được mời đến nói chuyện với các khán thính giả trẻ ở cả Trung Quốc và Hàn Quốc, bởi vì ở những nước đang phát triển một cách nhanh chóng đó trong những năm gần đây có tỷ lệ trầm cảm và tự tử cao.

Để chữa trị căn bệnh tinh thần này, thay vì chỉ chú ý đến khiếm khuyết, thất bại, sai lầm của mình, bạn hãy tập trung chú ý đến những món quà, những điều tốt đẹp, những điểm mạnh của bạn và những gì bạn có thể đóng góp cho cuộc đời – cho dù đó là tài năng, sự hiểu biết, sự sáng suốt, sự sáng tạo, sự chăm chỉ, hay một tâm hồn phong phú. Bạn không cần phải sống theo mong đợi của người khác. Bạn có thể tự định nghĩa sự hoàn hảo theo cách riêng của bạn.

Tỏa sáng từ tâm hồn

Nhà tâm lý học Elisabeth Kubler-Ross đã nói rằng con người giống như những cửa sổ bằng kính màu: “Những cánh cửa sáng lấp lánh khi ánh mặt trời chiếu vào, nhưng khi bóng tối kéo đến, vẻ đẹp của chúng chỉ bộc lộ khi có ánh sáng từ ngọn đèn ở bên trong”. Để sống một cuộc sống không giới hạn, đặc biệt để vượt ra khỏi bóng tối của sự chán nản, nghiện ngập, hoặc bất cứ thách thức lớn nào, bạn phải thắp ngọn đèn từ bên trong lên. Bạn phải tin vào vẻ đẹp và giá trị của chính mình bởi vì người nào có thể tạo ra ảnh hưởng thì người đó trở nên quan trọng.

Cuộc sống có thể rất tàn nhẫn. Trong cuộc sống có những người thiếu suy nghĩ hoặc tầm thường. Vậy nên bạn cần phải có khả năng tìm kiếm sức mạnh từ nội tâm để vượt qua và tỏa sáng.

Chấp nhận và yêu thương bản thân là điều quan trọng, nhưng ngày nay những khái niệm này lại bị hiểu sai. Có quá nhiều bạn trẻ đang ở tuổi mới lớn và không ít người trưởng thành tìm kiếm ý nghĩa hời hợt khi chìm đắm vào sự tự thần tượng bản thân và đam mê lạc thú. Điều này xảy ra một phần là do sự sùng bái sắc đẹp và sự nổi danh được cổ súy bởi các chương trình truyền hình, những bộ phim, đĩa nhạc. Khi xem các sản phẩm nói trên, bạn sẽ thấy thật dễ để quên rằng cuộc sống còn có một mục đích lớn lao hơn mục đích làm đẹp, sống trong cảnh xa hoa, cặp đôi với người này, người kia. Quá nhiều người trong số họ tôn thờ những vị thần không có thật của sự phù hoa, sự tự cao tự đại và sự ham muốn thiếu lành mạnh.

Khi bạn cảm thấy tinh thần suy sụp bởi vì bạn bị người khác làm tổn thương hoặc bị bắt nạt, bị miệt thị, hãy nhìn vào gương và tìm một nét đáng yêu ở bạn. Đó không nhất thiết phải là một nét đẹp về hình thức. Đó có thể là một tài năng, một đặc điểm, hoặc một điều gì khác khiến bạn cảm thấy tự tin về bản thân. Hãy chú ý đến điều đặc biệt đó trong một thời gian. Hãy cảm thấy mình may mắn vì có điều đặc biệt đó, và hãy ý thức rằng vẻ đẹp và giá trị của bạn bắt nguồn từ chính bạn, con người có một không hai mà Thượng đế tạo ra.

Bí mật của hạnh phúc

Tôi đã học để cười, bất chấp khuyết tật của mình và những phản ứng lạ lùng xuất phát từ những khiếm khuyết ấy, nhưng có một phương pháp tốt hơn để vượt qua mối hoài nghi về giá trị bản thân hoặc sự thiếu khả năng yêu và trân trọng bản thân mình. Thay vì chìm trong đau khổ, bạn hãy tìm đến để chia sẻ và xoa dịu nỗi đau của người khác. Hãy hướng sự chú ý và quan tâm của mình vào những người đang cần sự giúp đỡ.

Hãy làm tình nguyện viên tại một quán ăn phục vụ miễn phí những người nghèo cơ nhỡ. Hãy quyên tiền để giúp đỡ trẻ mồ côi. Hãy tổ chức một buổi biểu diễn từ thiện để gây quỹ giúp nạn nhân động đất. Hãy tìm các nhà tài trợ có thể tặng tiền nếu như bạn tham gia vào đi bộ, đua xe đạp hoặc buổi khiêu vũ từ thiện. Hãy thoát ra khỏi sầu muộn và tìm đến những người khó khăn để chia sẻ.

Một cuộc phẫu thuật nâng mũi không thể mang lại cho bạn niềm vui của cả cuộc đời. Một chiếc xe hiệu Ferrari không thể khiến bạn được hàng triệu người khâm phục. Bạn đã có sẵn những gì cần thiết để được yêu thương và coi trọng; vấn đề chỉ là giải phóng và tối ưu hóa tất cả những vốn quý đó trong con người bạn mà thôi. Không phải bạn lúc nào cũng hoàn hảo. Sự chưa hoàn hảo không có nghĩa là không hay, mà ngược lại, là cực kỳ tốt. Đạt được lý tưởng không phải là đạt được sự hoàn hảo trong suốt cuộc đời bạn, mà là tìm kiếm sự hoàn hảo. Luôn vươn tới hoàn hảo nghĩa là luôn thôi thúc mình trên con đường tự hoàn thiện bản thân.

Bạn hãy không ngừng vươn lên, không ngừng cống hiến tất cả những gì bạn cần phải cống hiến để, cuối cùng, khi nhìn lại những gì mình đã làm bạn có thể nói, mình đã cố gắng hết sức.

Ngay lúc này đây bạn hãy nhìn vào gương và nói: “Đây là chính mình, và mình chấp nhận mọi thách thức để trở thành người tốt nhất có thể”.

 

Nick Vujicic

Thanhnien online

Càng làm nhiều vị trí, càng có nhiều cơ hội phát triển


 

 

Chỉ sau hơn 10 năm làm việc ở IBM, Tấn Long trở thành một trong những tổng giám đốc đầu tiên của IBM Việt Nam là người Việt. Trầm tính nhưng không xa cách, năng nổ trong công việc nhưng không vì thế mà thiếu sự quan tâm đến các đồng nghiệp…

 

Tốt nghiệp Trường Tổng hợp Kỹ thuật điện ST. Pertersburg đầu năm 1997 sau 10 năm học đại học và tiến sĩ, Võ Tấn Long đến với ngành công nghệ thông tin khá là tình cờ. Ngành anh theo học là nghiên cứu về vật liệu và thiết bị vi điện tử, do vậy thường chỉ phù hợp với các viện nghiên cứu hoặc giảng dạy. Nhưng anh về nước đúng lúc IBM cần một người quản dự án.

Công việc lúc đầu chỉ là hỗ trợ kỹ thuật cho khâu kinh doanh dòng máy chủ, sau đó vừa làm kỹ thuật vừa làm kiến trúc hệ thống, rồi chuyển sang quản lý một nhóm kinh doanh… Chỉ sau hơn 10 năm làm việc ở IBM, Võ Tấn Long trở thành một trong những tổng giám đốc đầu tiên của IBM Việt Nam là người Việt. Trầm tính nhưng không xa cách, năng nổ trong công việc nhưng không vì thế mà thiếu sự quan tâm đến các đồng nghiệp… đó là những cảm nhận ban đầu của bất cứ ai khi tiếp xúc với Võ Tấn Long. Câu chuyện của chúng tôi bắt đầu từ những ngày đầu, khi anh bước chân vào IBM, anh cho biết:

Khi bắt đầu làm ở IBM, công việc của tôi hoàn toàn là kỹ thuật. Sau đó vừa làm kỹ thuật, vừa làm kiến trúc hệ thống. Công việc thú vị ở chỗ là mình phải luôn tìm tòi cái mới, nhiều khi phải tự học. Năm 2004, IBM ở Việt Nam có tổng giám đốc mới là người Singapore – lúc đó quy mô của IBM ở đây còn rất nhỏ. Ông đặt ra mục tiêu là phải thay đổi cơ cấu đội ngũ, cách tiếp cận thị trường.

Thời điểm đó tôi đã có kinh nghiệm bảy năm làm việc ở IBM, nhưng có lẽ đã đến lúc đi vào lối mòn, cần phải có một môi trường mới. Ông ấy đưa tôi sang quản lý một nhóm kinh doanh. Tôi rất lo lắng bởi vì từ xưa đến nay là dân kỹ thuật, và không phải là người quảng giao, và hình như cũng cảm thấy làm việc với máy móc “ổn” hơn làm việc với con người…

Và khi chuyển sang làm kinh doanh, anh thấy làm việc với con người có “ổn” không?

Thấy tôi còn do dự, tổng giám đốc lúc đó bảo tôi: Đó không phải là việc khó, mà vấn đề ở chỗ biết mình phải làm cái gì và dẫn dắt đội ngũ ấy đến đâu. Phải xây dựng cho bản thân niềm tin là mình làm được. Cái thật sự khác biệt giữa người làm được và người không làm được là ở niềm tin ấy. Đó là điều tôi học được. Và quả thật, công việc kinh doanh giúp tôi phát triển rất nhiều. Cách tư duy cũng khác hẳn. Đối với người làm kỹ thuật, mọi việc cần phải theo những bước thứ tự mạch lạc. Nhưng người làm kinh doanh lại có cách nghĩ khác, linh hoạt hơn rất nhiều: Không nhất thiết sau A phải là B, sau B phải là C… Kinh doanh lại thêm cách tiếp cận lôgic, có cấu trúc của người làm kỹ thuật là một sự trải nghiệm thú vị. Làm được điều đó cũng chính là tự tin và tạo niềm tin cho những người xung quanh. Điều đó không chỉ có lợi trong công việc, mà còn nhiều mối quan hệ nữa trong xã hội, gia đình.

Có lợi hơn cả trong công việc điều hành sau này của anh, khi đã ở vị trí tổng giám đốc là gì?

Tôi cho rằng, mô hình về kỹ năng của một người hiện nay phải giống như chữ T: Phải có chuyên môn sâu, nhưng không thể thiếu được một loạt các kỹ năng xã hội khác. Ví dụ trong bối cảnh toàn cầu hóa, anh cần có kỹ năng văn hóa, xã hội không chỉ ở nước mình mà còn của các dân tộc khác, các nước khác. Tất cả các kỹ năng ấy được coi là gạch ngang của chữ T. hội càng phát triển thì gạch ngang của chữ T càng quan trọng. Dù là ở vị trí nào thì ngoài kiến thức chuyên môn sâu (gạch dọc của chữ T), anh vẫn phải có những kỹ năng, kinh nghiệm, hiểu biết khác. Truyền thống bổ nhiệm lãnh đạo của IBM là thường chọn những người đã kinh qua nhiều vị trí làm việc khác nhau chứ không đi theo chiều dọc chữ T.

Tuy vậy, người đã từng qua vị trí kinh doanh vẫn có lợi thế hơn. Ở Việt Nam, người mình không kém bất cứ ai ở nét dọc của chữ T (đi thi quốc tế ở nhiều bộ môn khác nhau, nắm bắt khoa học kỹ thuật rất tốt…), nhưng tại sao tốt nghiệp đại học ra không đủ khả năng để làm ở các công ty nước ngoài? Đơn thuần là 2/3 trong số họ không đáp ứng được yêu cầu ngoại ngữ, 1/3 còn lại thì vẫn cần từ 6-18 tháng để hòa nhập vào với môi trường đó, vì thiếu kỹ năng xã hội và kỹ năng làm việc theo nhóm.

Ở Việt Nam, kỹ năng làm việc trong xã hội chỉ tập trung ở ngành dọc. Nói một cách cụ thể, ở IBM có một số nhân viên người Việt rất giỏi nhưng khi làm việc, cái mà họ thiếu là những kỹ năng xã hội để tạo ra sự khác biệt. Và do đó không có khả năng tạo ra một nhóm làm việc với mình thì không đi xa được. Anh có thể rất giỏi chuyên môn nhưng lại không có khả năng sắp đặt công việc theo một trình tự nhất định để người khác có thể cùng làm việc hoặc hỗ trợ thì cũng rất khó thành công.

Anh có nghĩ mình là người may mắn khi làm việc ở một môi trường như vậy?

Nếu như tôi không ở vị trí như ngày hôm nay thì liệu có cuộc trò chuyện của chúng ta hiện nay không, mặc dù tôi vẫn là tôi với những tố chất được tạo nên từ một quá trình học hành, trải nghiệm… Nói thế để thấy rằng, bản thân mỗi con người chỉ là một phần của sự thành công, phần còn lại là mình có cơ hội được làm việc ở trong một môi trường chuyên nghiệp, và cơ hội đó lại mang lại cho mình sự phát triển bản thân nhiều hơn nữa. Hai điều này tương hỗ lẫn nhau và cùng phát triển. Làm việc trong IBM, tôi luôn có cơ hội được tiếp cận với những điều thách thức bản thân mình. Con người như lò xo, nếu không bị nén lại thì cũng khó mà có sức bật. Qua mỗi lần như vậy là mình lớn lên một chút. Đối với những người thực sự muốn phát triển bản thân thì càng qua nhiều công việc bao nhiêu, càng nhiều kinh nghiệm bấy nhiêu. Ở ta, việc thay đổi công việc hầu như là một ý nghĩ “cực chẳng đã”. Còn ở nước ngoài thì ngược lại, đó là cơ hội.

Anh đánh giá thế nào về vị trí của ngành công nghệ thông tin (CNTT) Việt Nam trên thế giới?

Kinh nghiệm làm việc nhiều năm trong ngành Công nghệ thông tin cho phép tôi nghĩ rằng người Việt Nam có thể cung cấp được dịch vụ, sản phẩm có chất lượng toàn cầu. Đây là sự chuyển biến không chỉ về lượng mà còn vì chất. Hiện, Việt Nam đứng thứ hai về tốc độ phát triển về thị trường CNTT trên thế giới.

Theo anh, tốc độ phát triển CNTT như thế có ảnh hưởng như thế nào tới xã hội?

Ai cũng có thể nhìn thấy CNTT là tác nhân tạo ra một số thay đổi lớn về nhận thức, về xã hội, về công việc của mỗi người. Khoảng chục năm trước đây, nếu nói đến việc để tiền trong tài khoản ngân hàng thì ai cũng e ngại. Hoặc nếu như muốn chuyển tiền cho ai đó là cả một mớ thủ tục hành chính và phí cũng tương đối cao. Hoặc mua một cái gì mà không cần đến cửa hàng là điều không tưởng. Nhưng bây giờ đó là những việc rất bình thường. Nói tóm lại, CNTT đã giúp thay đổi quan trọng về nhận thức để hòa nhập với thế giới, nâng cao chất lượng cuộc sống bằng những dịch vụ tiên tiến. Tác động đó ảnh hưởng đến từng người…

 

Với sự phát triển công nghệ như thế thì liệu trong tương lai gần có xảy ra tình trạng thất nghiệp?Tôi không nghĩ vậy. Sự phát triển công nghệ sẽ thay đổi cơ cấu lao động, nhưng nó không tạo ra sự thất nghiệp. Nếu như mình nhìn công nghệ, hay kỹ thuật nói chung là một phương tiện nâng cao năng suất lao động thì rất dễ nhầm là sẽ tạo ra sự thất nghiệp. Nhưng nếu nhìn ngược lại thì bao giờ cũng thấy được một sự cân đối giữa nhu cầu nâng cao năng suất lao động và sự phát triển.

Có những giai đoạn mà sự phát triển đòi hỏi phải nâng cao năng suất lao động. Cách đây mấy tháng tôi có dịp nghe bài trình bày của ông Erich Clementi – một lãnh đạo cấp cao của IBM. Ông đưa ra câu hỏi là tại sao câu chuyện về Cách mạng khoa học kỹ thuật (Cái nồi hơi) lại xảy ra ở Anh chứ không phải ở Đức hay nước nào khác? Bởi vì lúc đó khoa học kỹ thuật (KHKT) ở Anh rất lạc hậu, đòi hỏi phải có sự phát triển đột biến, nâng cao đời sống xã hội. Đó là một câu trả lời rất xác đáng cho các vấn đề của Việt Nam hiện nay: Với 89 triệu dân và 95% là đã được xóa mù chữ, người Việt Nam được thế giới công nhận là cần cù, chăm chỉ.

Nhưng sự đãi ngộ có xứng đáng với sự cần cù chăm chỉ ấy không? Không. Là bởi vì phần lớn là làm thuê, là công nhân… KHKT tạo ra năng suất lao động, cụ thể là năng suất lao động trong một giờ sẽ nhiều hơn vì vậy, càng nhiều người làm thì càng tạo ra nhiều của cải hơn, sức phát triển càng lớn. Nói một cách cụ thể: Nếu tôi là chủ một doanh nghiệp có 1.000 lao động thì tôi vẫn muốn giữ 1.000 người ấy và tìm một phương cách sản xuất nào đó để tăng doanh thu lên gấp đôi, chứ không thể là muốn giảm đi một nửa người để doanh thu vẫn giữ như cũ. Do vậy, công nghệ không bao giờ tạo nên sự thất nghiệp mà chỉ tạo nên năng suất và sự phát triển xã hội. Ở Việt Nam điều này càng quan trọng vì nếu như mình không tiếp cận với KHKT tiên tiến thì mình sẽ mãi mãi là đất nước mà người ta đến vì giá nhân công rẻ. Đó là một trong các vấn đề mà chính phủ và các doanh nghiệp cần lưu ý.

Là một người gắn bó với công nghệ thông tin, anh nhận xét thế nào về khả năng xuất khẩu công nghiệp phần mềm của Việt Nam trong những năm tới?

Tại Việt Nam, khi nói đến thị trường phần mềm, chúng ta thường đề cập đến hai phân loại: thị trường nội địa và thị trường xuất khẩu.

Thứ nhất là thị trường phần mềm dành cho các khách hàng trong nước. Theo đánh giá của chúng tôi năm nay, chi phí dành cho thị trường này chiếm khoảng 10% tổng chi phí của Việt Nam dành cho CNTT. Nếu muốn biến Việt Nam thành nước mạnh về CNTT thì thị trường phần mềm cần phải mang lại những giá trị ở tầm cỡ lớn hơn cũng như thị trường này phải có được một ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển nền kinh tế. Để có được điều này, đội ngũ CNTT không chỉ làm phần mềm một cách đơn giản mà phải thực sự hiểu biết cả về nghiệp vụ của lĩnh vực được ứng dụng, biến những lợi ích công nghệ thành những giá trị kinh doanh chính.

Thứ hai là thị trường xuất khẩu phần mềm. Đây là một thị trường tiềm năng cho Việt Nam nếu chúng ta thực sự biết tận dụng. Có thể nói cho đến nay, Ấn Độ, sau đó là Trung Quốc, nằm trong số những quốc gia chiếm thị phần lớn nhất trong phân đoạn này. Vì thế, để cạnh tranh được với họ, đối với các chuyên gia CNTT của Việt Nam, ngoài việc cần nâng cao kiến thức CNTT nói chung, chúng ta còn cần phải nâng cao khả năng cạnh tranh về mặt chuyên môn cũng như phải không ngừng tích lũy và gia tăng bề dày kinh nghiệm của mình.

Hiện nay, có thể nói tại Việt Nam, các hoạt động xuất khẩu các phần mềm mang tính chất như một giải pháp trọn gói là rất ít mà chúng ta chủ yếu cung cấp phần mềm theo phương thức outsourcing (gia công) nhưng cũng rất ít doanh nghiệp làm được điều này. Nếu muốn Việt Nam có thể xuất khẩu các giải pháp phần mềm trọn gói trong các lĩnh vực ví dụ như ngân hàng hay viễn thông, thì trước tiên các giải pháp đó buộc phải có bề dày thử nghiệm thành công tại Việt Nam hoặc các nước trong khu vực trước, cũng như phải có sức cạnh tranh với các giải pháp tương tự trên thị trường. Khi thực sự có được điều đó, Việt Nam có thể hướng tới các thị trường tiềm năng như các nước có trình độ phát triển gần như Việt Nam, các nước đang phát triển trong khu vực, hoặc các nước mới phát triển ở châu Mỹ Latin và châu Phi.

Anh nhận định như thế nào về các xu hướng CNTT trong năm 2012?

Năm 2012 sẽ là năm đặt ra nhiều thách thức lớn hơn với nền kinh tế toàn cầu cũng như nền kinh tế Việt Nam, do khủng hoảng nợ công vẫn còn đang tiếp diễn tại những nền kinh tế “lõi” trong khu vực. Trong bối cảnh biến động của thị trường tài chính hiện nay, các doanh nghiệp sẽ không chỉ gặp khó khăn hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn để tái đầu tư mà còn phải đối mặt với tình trạng nhu cầu của người tiêu dùng sụt giảm, doanh nghiệp thiếu sức cạnh tranh.

Song song với những chính sách vĩ mô từ chính phủ Việt Nam trong việc duy trì chặt chẽ chính sách tiền tệ, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư để thu hút vốn, các doanh nghiệp vẫn phải chủ động “vượt bão” bằng cách thúc đẩy các hoạt động tự tái cấu trúc toàn diện, nghiên cứu những hình thức phát triển sản xuất, kinh doanh để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việc giải mã bài toán về trên phụ thuộc vào chiến lược nâng cao sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường; chú ý đào tạo nguồn nhân lực, đón đầu được các xu hướng CNTT chủ đạo trong tương lai và đẩy nhanh đầu tư cho công nghệ.

Trong bối cảnh chi tiêu dành cho công nghệ thông tin sẽ được thắt chặt hơn, những doanh nghiệp biết sử dụng CNTT làm một công cụ đắc lực để tiết kiệm chi phí và đẩy mạnh năng suất sẽ có khả năng tạo sự khác biệt trên thị trường.

Mấy năm gần đây, chương trình KidSmart của IBM đã thu hút được sự quan tâm của ngành giáo dục. Vậy nên, có vẻ như các anh đang có chiến lược “tấn công” vào thị trường giáo dục?

Được làm quen với CNTT từ nhỏ sẽ giúp các em có những nhận thức mới, có hướng tư duy mới. Đó chính là việc giáo dục từ gốc. Ngoài KidSmart, IBM còn có các chương trình hỗ trợ giáo dục từ lứa tuổi mầm non đến sau đại học. Hàng trăm trường học và hàng trăm nghìn học sinh, sinh viên đang được hưởng lợi từ các chương trình này.Ngoài ra, các năm gần đây IBM đều cử chuyên gia đến những đơn vị khó khăn trong lĩnh vực kinh doanh và giúp đơn vị đó, cơ sở đó, vùng đó về khả năng làm kinh doanh (không chỉ về lĩnh vực CNTT mà là ở tất cả các lĩnh vực kinh doanh), truyền đạt kinh nghiệm về khả năng phát triển. Năm 2011, các nhân viên và lãnh đạo của IBM Việt Nam đã đóng góp hơn 5.000 giờ hoạt động tình nguyện trong nhiều dự án vì cộng đồng khác nhau tại Việt Nam, trong khuôn khổ chương trình Trách nhiệm Xã hội. Ngoài các dự án tài trợ thường niên, trị giá hơn 15 tỉ đồng, IBM còn tài trợ gần 4 tỉ đồng cho 23 dự án tại 20 trường đại học, tổ chức phi lợi nhuận, các trung tâm đào tạo và nghiên cứu trong nước, nhằm huy động tinh thần tình nguyện trong cộng đồng.

Một ngày làm việc của ông tổng giám đốc như thế nào?

Thực ra với một người làm CNTT thì khó có thể nói bắt đầu từ khi nào và kết thúc vào lúc nào. Bây giờ người ta ít nói về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống mà nói đến sự tích hợp giữa công việc và cuộc sống. Trong tình cảnh toàn cầu hóa nhiều khi không có lựa chọn. Bản thân tôi, có những người làm việc với mình 4, 5 năm trời nhưng chưa bao giờ gặp mặt, hoặc họ ở tận nửa địa cầu bên kia. Do vậy, muốn được việc thì mỗi người lại phải chịu thiệt một chút. Điều này dẫn đến chuyện công việc của một doanh nghiệp không dừng lại trong tám giờ hành chính nữa. Công việc được phân đoạn ra rất nhiều.

Tôi đọc được một câu chuyện ngụ ngôn ở đâu đó rằng: Có một đống cát, một đống sỏi, và một đống đá phải cho vào một cái bình. Có người đã đổ sỏi, cát và đá vào thì không thể được. Nhưng người khác đã làm lại bằng cách đổ đá vào trước, sau đó là sỏi và cát… Như vậy, trong cuộc sống của mình có đá, có sỏi, có cát. Mình biết cách đặt cái gì vào trước, thì những thứ còn lại lách vào được hết. Có lẽ đó là phương châm để tôi sử dụng 24 tiếng trong ngày làm sao có thể đủ cho vừa làm việc, vừa nghỉ ngơi, tái tạo sức lao động.

Đó là những chia sẻ thú vị về công việc, vậy cuộc sống ngoài công việc của anh thế nào?

Thời gian rảnh rỗi, tôi cũng làm những công việc thường nhật như bao người như dạy con học, tập thể dục, đọc sách… Có thể nói đọc sách là thói quen của tôi từ hồi còn nhỏ. Tôi tranh thủ đọc sách bất cứ khi nào có thể. Winning là tiêu đề một quyển sách mà tôi thường đọc lại khi có điều kiện. Tác giả của nó là Jack Welch (cựu CEO của Công ty GE). Quyển sách này nói về cách quản lý cũng như cách thức để làm sao xây dựng được một tập thể thành công.

Nhìn tổng thể con đường đi của anh có vẻ trơn tru, nhưng thực tế, có khi nào anh cảm thấy rất mệt mỏi, thất vọng?

Nơi tôi làm việc luôn có sức ép, dù ở bất cứ vị trí nào. Nhiều khi nó là sức ép nội tại vì mình muốn hoàn thành công việc một cách tốt nhất. Cũng có những lúc tôi nản chí. Nhưng chỉ ngay sáng hôm sau, tỉnh táo hơn lại nghĩ: Nếu mình bỏ cuộc thì mình lại thua một ai đó, hoặc thua đối thủ cạnh tranh của mình, hoặc cụ thể hơn là thua những khó khăn của mình, thua bản thân vì vấn đề bản thân mình gặp phải… Và thật không thể tin được là qua mỗi lần như vậy thì tôi lại càng cảm thấy khó khăn bớt đi rất nhiều ở những lần sau.

Xin cảm ơn anh về cuộc trò chuyện.

 

 

Theo DNSG

Sư thật về câu chuyện đồn đại tại Bảo tàng Mỹ Thuật TP HCM


 

“Lời nguyền ma ám” ở Bảo tàng mỹ thuật TP.HCM

Suốt hơn nửa thế kỷ qua, những câu chuyện đồn đại tòa nhà cổ gồm 99 cánh cửa tại số 97A, đường Phó Đức Chính (phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, TP.HCM) có… ma khiến không ít người hoang mang, tò mò

Câu chuyện được người ta quan tâm hơn khi tòa nhà này nay là Bảo tàng mỹ thuật TP.HCM, một trong những bảo tàng lớn nhất Việt Nam, nơi thu hút hàng trăm ngàn lượt du khách mỗi năm. Phải đến khi nghe giám đốc bảo tàng, bà Mã Thanh Cao vạch mặt “con ma” trong ngôi nhà này, người ta mới ngỡ ngàng với những tình tiết chưa từng được công bố về tòa nhà cổ này.

 

Lời đồn Bảo tàng Mỹ thuật Tp HCM có ma hoàn toàn là nhảm nhí (Ảnh: Tường Vân).

 

“Con ma” tưởng tượng

 

Giai thoại về “hồn ma” trong tòa nhà này khiến người ta tò mò đến mức trước 1975 có cả một bộ phim tựa đề “Con ma nhà họ Hứa” (hãng phim Dạ Hương, đạo diễn Mộng Hoàng, có sự diễn xuất diễn viên Bạch Tuyết, Thanh Tú, Dũng Thanh Lâm, Thanh Việt, Tùng Lâm, Năm Sa Đéc…) có nội dung dựa trên những gia thoại này. Đây là 1 trong những bộ phim ma đầu tiên của điện ảnh Việt Nam, dù kỹ xảo “nhát ma” lúc ấy được xếp vào hạng… thô sơ.

 

“Tòa nhà ấy có ma, hễ cứ vào những đêm mưa lại có tiếng khóc thét lên trong đó vọng ra khiến mọi người phải rùng mình”, ông Quang, một người chạy xe ôm ở đường Nguyễn Thái Bình, thường đậu xe chờ khách bên hông Bảo tàng Mỹ thuật kể. Ông Hùng, đồng nghiệp của ông Quang chen thêm vào: “Có khi xuất hiện cả bóng ma trắng vật vờ trên những khung cửa, bóng ma ấy mang dáng dấp của một thiếu nữ”.

Tỏ ra thấu hiểu ngọn ngành câu chuyện, ông Hùng “thao thao bất tuyệt”: Những năm đầu thế kỷ 20, đây là ngôi nhà của thương gia người gốc Phúc Kiến, Trung Quốc, tên Hứa Bổn Hòa. Ông lập nghiệp bằng nghề buôn bán phế liệu. Nhờ vận may, ông mua được chiếc nệm cũ trong đó có một hũ vàng.

Sau khi “trúng mánh”, ông xây dựng khu biệt thự là nơi sinh sống và làm việc cho gia đình mình gồm 3 căn nhà theo vòng cánh cung trên trục đường Phó Đức Chính – Lê Thị Hồng Gấm – Nguyễn Thái Bình. Không rõ ông có bao nhiêu người con nhưng đều là “trai tài gái sắc” và đều được cho ra nước ngoài học tập. Tuy nhiên, không hiểu vì sao có 1 người con gái út không đi. Không lâu sau thời gian các anh trai đi, mọi người không còn thấy người con gái này nữa. “Cũng từ đó, những tiếng la hét hoảng loạn, tiếng khóc ai oán, những bóng ma thoắt ẩn thoắt hiện liên tục xuất hiện trong khu nhà này, thậm chí có khi bóng ma còn ra ngoài đường… Và chắc chắn cô gái đã chết, bóng ma ấy chính là cô gái”, ông Hùng thì thào vẻ sợ hãi.

Giai thoại này được nhiều người quanh khu vực đồn thổi và “thêm mắm thêm muối”. Thử hỏi về nguyên nhân cái chết bí ẩn của cô gái, bà K., người bán nước ở khu vực này cho rằng: “Cô con gái của vị đại gia bị bệnh nan y vô phương cứu chữa, nhưng mất đột ngột vào giờ “trùng tang” nên gia đình mai táng sơ sài khiến hồn ma cứ hiện về như trách móc”.

Đồn thổi giai thoại

Chúng tôi cũng ghi lại nhiều giai thoại đồn đại khác về câu chuyện mang tính liêu trai này. Người thì cho rằng vì xót con gái mất, đại gia không đưa con đi chôn cất mà đặt thi thể vào quan tài và đặt ở phòng con gái ở lúc còn sống, ngày ngày vẫn đều đặn mang cơm nước vờ như con gái còn sống để che giấu sự thật; có người thì lại cho rằng người con gái này mắc chứng bệnh phong cùi, tuy được gia đình cố gắng chữa trị nhưng không qua khỏi…

Bà K tiếp tục thì thào: “Mà cần gì biết đích xác nguyên nhân cái chết ấy hả chú? Chỉ biết rằng hồn ma của người con gái vắn số ấy chính là hồn ma tồn tại gần cả nửa thế kỷ nay. Hồn ma ấy vì không siêu thoát được cứ khóc than ai oán mỗi đêm”.

Không chỉ có những đồn đại về hồn ma của người con gái, cuộc đời của ông Hứa Bổn Hòa cũng được người đời thêu dệt thành hàng chục câu chuyện khác nhau. Từ nguyên nhân giàu có, nguyên nhân cái chết của hai cha con ông Hòa… mỗi giai thoại mỗi khác. Thậm chí có không ít lời bàn tán cho rằng hồn ma quẩn quanh trong tòa nhà cổ không chỉ có 1 mà có đến 2, trong đó có cả hồn ma của ông Hòa. Thế nhưng khi được hỏi “liệu những câu chuyện vừa kể là sự thật”, cả ông Quang, ông Hùng hay bà K. đều chung câu trả lời “tôi không chắc, tôi chỉ kể như những gì tôi được nghe”.

Tòa nhà được thiết kế rất đẹp và độc đáo, kiểu dáng kiến trúc cổ hòa hợp giữa hai trường phái xây dựng Á – Âu, tường nhà được đúc kiên cố, dày từ 40 – 60cm. Còn có gia thoại khi thiết kế, dinh thự này có một trăm cửa lớn, cửa nhỏ và cửa sổ. Thế nhưng, Toàn quyền Đông Dương khi duyệt thiết kế đã bắt chủ nhân bỏ đi một cửa và không được mở cổng chính với lý do cổng này to hơn cổng Dinh toàn quyền, vậy nên hiện nay dinh thự chỉ có 99 cửa. Tòa nhà cổ với dáng vẻ cổ kính khuất trong những tán cây âm u, rậm rạp gây cảm giác liêu trai càng tô đậm thêm những giai thoại huyễn hoặc, để từ đó xuất hiện ngày càng nhiều giai thoại hơn mà 1 số người cả tin vẫn thì thào truyền miệng cho nhau nghe.

Sự thật ngỡ ngàng

Lục tìm những tài liệu trong các kho tư liệu, chúng tôi được biết ngôi nhà nêu trên được xây dựng bởi ông Hứa Bổn Hòa – một đại gia “có máu mặt” nhất nhì Sài Gòn những năm đầu thế kỷ XX. Sau khi giải phóng miền Nam, những thành viên còn lại trong gia tộc nhà này đã sang nước ngoài và tòa nhà trở thành nhà hoang không chủ, được Nhà nước tiếp quản. Tòa nhà lần lượt được giao cho Đội tuyên truyền xung kích, Trung tâm thông tin triển lãm… quản lý và bắt đầu từ năm 1987 đến nay, tòa nhà cổ với hàng loạt giai thoại này chính thức là trụ sở của Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, một trong những trung tâm mỹ thuật hàng đầu Việt Nam, lưu giữ hơn 20.000 tác phẩm mỹ thuật và mỹ nghệ dân gian qua nhiều thời kỳ lịch sử. Mỗi năm nơi đây thu hút hơn 200.000 lượt khách tham quan, trong đó gần phân nửa là du khách nước ngoài.

 

Một căn phòng trong bảo tàng nghệ thuật TP.HCM (Ảnh: Tường Vân)

 

Bà Mã Thanh Cao, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM khẳng định: “Tuy vẫn tôn trọng những giai thoại liên quan đến tòa nhà nhưng tôi xin khẳng định ở đây không hề có ma như những lời thêu dệt đó. Không những bản thân tôi, mà tất cả những nhân viên, bảo vệ làm việc tại đây gần mấy chục năm, mọi người đều chưa từng một lần nhìn thấy “hồn ma” gì cả. Mỗi ngày¸ có rất nhiều sinh viên từ nhiều trường đại học, cao đẳng vào tận những ngóc ngách của tòa nhà để vẽ từ sáng đến tối mịt nhưng chúng tôi chưa hề nhận được phản hồi nào như những lời tương truyền kia”.
Giám đốc Cao cho biết, để xua tan những giai thoại về ma tà trong tòa nhà này, bà cũng đã mất nhiều thời gian, công sức để tìm kiếm những người có liên quan đến ngôi nhà, đặc việt là người thân trong gia tộc họ Hứa. Tháng 7/2006, những người họ hàng trong gia đình ông Hứa Bổn Hòa đang sinh sống và làm việc ở nhiều nơi trên thế giới như Hồng Kông, Mỹ, Đài Loan, Singapor… đã về Việt Nam tham quan. Hay tin, bà Cao đã trực tiếp gặp những nhân chứng sống này và được biết sự thật ngỡ ngàng: “Khi đó, tôi có đề cập đến sự tò mò của mọi người về cuộc đời người con gái ông Hòa và được người cháu nội ông Hòa (hiện đã 91 tuổi) cho xem danh mục gia phả dòng tộc.

Sự thật thì ông Hòa chỉ có 3 người con trai mà không hề có bất cứ người con gái nào. Về giai thoại ông Hòa “giàu một cách bất ngờ” và xây được tòa nhà vì vớ được hũ vàng, người cháu nội cho biết: “Gia đình không giàu có từ nghề ve chai, càng không phải đào được vàng, tìm được kho báu… mà gia đình bắt đầu mưu sinh từ cửa hàng cầm đồ. Tòa nhà này trước đây đã từng là cửa hàng cầm đồ đầu tiên ở Sài Gòn, và với tiêu chí “đặt chữ Tín lên hàng đầu”, công việc kinh doanh đã dần giúp gia đình phát đạt, giàu có, dần mở rộng sang lĩnh vực bất động sản, xây dựng nhiều công trình lớn”.

Được biết hiện nay, lãnh đạo ban giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM vẫn thường xuyên liên lạc với các thành viên của họ hàng ông Hứa Bổn Hòa để được cung cấp lại những bản thiết kế, hồ sơ hoàn công của tòa nhà cũng như tìm hiểu thông tin về dòng họ, hình ảnh gia đình để qua đó có thể giúp khách tham quan hiểu rõ hơn. Bà Giám đốc cho biết thêm: “Những người trong gia tộc nhà họ Hứa rất vui mừng khi tòa nhà từng là nơi sinh sống của dòng họ mình đang là di tích kiến trúc thu hút đông đảo khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới”.

Bà Cao tâm sự: “Mặc dù vẫn có lời đồn thổi của một số người về những giai thoại hồn ma trong tòa nhà này, tuy nhiên không nên quan tâm đến những chuyện nhảm nhí đó. Bản thân chúng tôi khi được tiếp nhận một tòa nhà đồ sộ như thế này, lại nằm trong “khu đất vàng” của trung tâm Quận 1, chúng tôi chỉ biết cố gắng làm sao để tòa nhà đẹp hơn, bảo quản tốt hơn để tuổi thọ dài lâu hơn. Ngoài việc trùng tu gia cố những hạng mục bị hư vì tuổi thọ đã lâu năm, Bảo tàng còn tự làm đổi mới mình bằng cách mở rộng hệ thống trưng bày triển lãm, hoàn thiện những bộ sưu tập về mỹ thuật đặc sắc… để là điểm đến lý tưởng của khách tham quan”.

Bảo Thanh

http://www.nguoiduatin.vn

 

—————————————————-

Địa chỉ một số bảo tàng tại TP Hồ Chí Minh

http://60s.com.vn

Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh (dinh Gia Long cũ) 


Địa chỉ:
 65 Lý Tự Trọng, Q. 1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.829 9741

Bảo tàng cách mạng thành phố ngày nay được xây dựng từ năm 1985 đến năm 1890 thì hoàn thành.

Khởi đầu, việc xây dựng ngôi nhà này với mục đích làm nơi triển lãm thương mại. Nhưng khi hoàn thành thì được làm tư dinh cho Thống đốc Nam Kỳ. Sau Cách mạng tháng Tám (08/1945) trở thành trụ sở Ủy ban hành chánh lâm thời Nam Bộ.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, nơi đây là “Dinh thủ hiến Nam phần”, đến “Dinh Gia Long” của Ngô Đình Diệm rồi “Tối cao pháp viện” trong thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu.

Từ ngày 12/8/1978 được sử dụng làm Bảo tàng cách mạng thành phố Hồ Chí Minh. Bảo tàng trưng bày các nội dung chính sau:

  • Một vài nét về Sài Gòn xưa, thời kỳ thực dân Pháp xâm lược Việt Nam.
  • Những cuộc vận động chống thực dân Pháp trước khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời (1859-1930).
  • Sự truyền bá của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, cuộc vận động chống thực dân Pháp của nhân dân Sài Gòn – Gia Định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản trong phong trào những năm 1930-1939.

Khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 và đặc biệt là cách mạng tháng Tám 1945, thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và ở thành phố là ủy ban hành chánh kháng chiến lâm thời Nam Bộ (1930-1945).


Bảo tàng lịch sử Việt Nam

Địa chỉ: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q 1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 829 0268

Trước đây là Bảo tàng Blanchard de la Brosse, tên của Thống đốc Nam Kỳ – người sáng lập và xây cất vào năm 1927 và hoàn thành 1/1/1929. Khi người Pháp rút đi (1954), Bảo tàng đổi tên là Viện Bảo tàng Quốc Gia.

Ngày 23/8/1979, Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ra quyết định thành lập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh.

Công trình nằm bên trái cổng vào Thảo Cầm Viên do kiến trúc sư người Pháp Delaval thiết kế. Tòa nhà ở giữa có hình bát giác với hai tầng mái. Phần sau tòa nhà được bố trí theo hình chữ U do kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng thiết kế gồm 2 dãy nhà bên và sau cùng là dãy nhà 3 tầng. Khoảng giữa là hồ nước, cây cảnh.

Bảo tàng có 15 phòng tập hợp trên 5.000 cổ vật thuộc nền văn hóa V iệt Nam và các quốc gia Đông Nam Á như Chămpa, Phù Nam, Khơme, Lào, Indonesia và cả Nhật Bản, Trung Quốc… đặc biệt có nhiều tượng đá, bia đá, bình lọ gốm, các loại y phục dân tộc của các dân tộc từ Bình Trị Thiên trở vào, phần lớn có niên đại trên 1.000 năm.

 


Bảo tàng chứng tích chiến tranh


Địa chỉ:
 28 Võ Văn Tần, Q.3. TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 829 0325

Xưa khu vực này là phần đất của chùa Khải Tường, nơi sinh ra vua Minh Mạng vào năm 1791 và được ông cho sửa sang lại năm 1832.

Trước 30/4/1975, đây là nơi bảo trì điện tử của quân đội Mỹ cho 4 cơ quan: Đại sứ quán Mỹ, Bộ chỉ huy quân sự Mỹ, Phủ Tổng Thống và Phủ thủ tướng chính quyền Sài Gòn.

Ngày 18/10/1978, Ủ y ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ra quyết định thành lập Nhà trưng bày tội ác Mỹ – Ngụy.

Ngày 10/11/1990, đổi tên thành Nhà trưng bày tội ác chiến tranh xâm lược. Đến ngày 4/7/1995, lại đổi tên là Bảo tàng chứng tích chiến tranh.
Bảo tàng trưng bày các hiện vật và chứng tích chiến tranh gồm các vũ khí, phương tiện chiến tranh của Mỹ đã sử dụng ở VN như máy bay, xe tăng, đại bác, bom đạn… Có cả cỗ máy chém do Pháp sản xuất đã được sử dụng trong khi áp dụng luật 10/59 dưới thời Ngô Đình Diệm.

Ngoài ra, còn có các phòng trưng bày về: chiến tranh biên giới Tây Nam, chiếen tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, vấn đề quần đảo Trường Sa, âm mưu của các thế lực thù địch.
Bên ngoài bảo tàng có những gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm văn hóa dân tộc Việt Nam, phòng rối nước Việt Nam.


Bảo tàng Hồ Chí Minh


Địa chỉ:
 1 Nguyễn Tất Thành, , Q. 4, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 826 3563

Bến Nhà Rồng hay còn gọi là K hu lưu niệm Bác Hồ nằm trên ngã ba sông Sài Gòn, đầu đường Nguyễn Tất Thành. Nơi đây ngày 05/06/1911 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xuống tàu Ðô đốc Latouche Tréville ra đi tìm đường cứu nước.

Bến Nhà Rồng nguyên là trụ sở của đại diện hãng chuyên chở hàng hải Pháp (thuộc Công ty vận tải đường biển Pháp Messageries Pharitimes) xây dựng vào năm 1862 để làm nơi ở cho viên tổng quản lý và là nơi bán vé tàu. Toà nhà có hình 2 con rồng trên nóc. Con tàu đầu tiên rời bến Nhà Rồng vào tháng 11/1862.

Ngày 3/9/1979, Ủ y ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh quyết định lấy Bến Nhà Rồng là Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh (tức Bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng). Bên trong khu nhà lưu niệm có trưng bày nhiều hình ảnh và hiện vật về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch. Từ đó đến nay, Bảo tàng Hồ Chí Minh – Bến Nhà Rồng đã đón tiếp hàng chục triệu lượt khách trong và ngoài nước vào tham quan.


Bảo tàng Tôn Đức Thắng


Địa chỉ:
 5 Tôn Ðức Thắng, Q.1TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 829 7542

Bảo tàng Tôn Ðức Thắng được thành lập nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Ðức Thắng ( 20/8/1888 – 20/8/1988) tại tòa nhà trước đây là tư dinh của Trần Thiệu Khiêm, Thủ tướng của chính quyền Sài Gòn trước năm 1975.

Bảo tàng là nơi lưu giữ, nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu, về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Ðức Thắng (còn gọi là Bác Tôn)- nhà yêu nước lớn, một chiến sĩ kiên cường mẫu mực. Chủ tịch Tôn Ðức Thắng là người Việt Nam duy nhất đã tham gia phản chiến trên chiến hạm France tại Hắc Hải vào năm 1917, ủng hộ cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới thắng lợi – cách mạng tháng Mười Nga. Là người kế tục chức vụ Chủ tịch nước Việt Nam sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, từ năm 1969 đến năm 1980.

Hiện này, Bảo tàng có 7 phòng trưng bày với diện tích trên 700 m 2. Bảo tàng đã thể hiện một cách sinh động , khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của chủ tịch Tôn Ðức Thắng qua hơn 600 hiện vật, tài liệu, hình ảnh.

 

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ


Địa chỉ:
 Địa chỉ: 200 – 202 Võ Thị Sáu, Q.3TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 932 5519

Tòa nhà này nguyên là dinh cơ của Nguyễn Ngọc Loan – Giám đốc Tổng nha Cảnh Sát chế độ Sài Gòn cũ.

Năm 1984 được Nhà nước giao làm Nhà truyền thống Phụ nữ Nam Bộ. Sau đó được xây thêm toà nhà 4 tầng và đổi thành Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ.

Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ có diện tích trưng bày khoảng 2000 m 2 gồm 10 phòng trưng bày về truyền thống dựng nước và giữ nước của phụ nữ Nam Bộ. Có một hội trường 800 chỗ ngồi, một phòng chiếu phim, một thư viện và một kho lưu giữ hàng trục ngàn hiện vật, tranh ảnh quý hiếm.
Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ mở cửa từ năm 1985, là trung tâm sinh hoạt văn hoá giáo dục , hội thảo khoa học, họp mặt truyền thống, giao lưu văn hoá của giới nữ nhằm bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp của phụ nữ.

 


Bảo tàng chiến dịch Hồ Chí Minh


Địa chỉ:
 2 Lê Duẩn, Q.1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.822 9387

Bảo tàng chiến dịch Hồ Chí Minh giới thiệu một cách tổng quát quyết tâm của toàn Ðảng, toàn dân trong sự nghiệp giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc vào ngày 30/4/1975.

Ngoài ra, bảo tàng còn có một sa bàn điện tử 60 m 2, phòng chiếu phim màn hình 100 inch, phòng trưng bày về Bộ tổng tham mưu Ngụy, các tác phẩm nghệ thuật, các vũ khí hạng nặng, giới thiệu hoàn chỉnh về một giai đoạn lịch sử trong thời điểm cuối cùng của cuộc kháng chiến thống nhất đất nước


Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh


Địa chỉ:
 97 Phó Đức Chính, Q.1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 821 1340

Bảo tàng được thành lập theo quyết định của Ủ y ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh ngày 5/9/1987.

Đây vốn là ngôi nhà của một người Hoa tên là Hui Bon Hoa xây dựng từ cuối thế kỷ XIX theo kiến trúc phương Tây, gồm 4 tầng. Đây là một trong số ít ngôi nhà tư nhân bề thế nhất của Sài Gòn xưa.
Bảo tàng trưng bày các tác phẩm mỹ thuật, đồ thủ công mỹ nghệ Việt Nam từ cổ, cận đến hiện đại. Ngoài ra, Bảo tàng cũng giới thiệu những tượng đá, phù điêu thuộc văn hóa Ốc Eo, Chămpa


Bảo Tàng Địa Chất

Địa chỉ: 2 Nguyễn Bỉnh Khiêm, Q. 1, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08. 829 8146

Bảo tàng địa chất tại thành phố Hồ Chí Minh được thành lập năm 1954, là một trong hai bảo tàng địa chất của Việt Nam. Tại đây, hiện lưu giữ và trưng bày hơn 20.000 mẫu đá, hàng ngàn mét lõi khoan, 50 sưu tập mẫu cổ sinh vật, nhiều sưu tập mẫu khoáng sản của các mỏ điển hình của Việt Nam, nhiều sưu tập mẫu khoáng vật chuẩn của các nơi trên thế giới.

Ðến Bảo tàng địa chất, du khách sẽ thấy rõ sự tiến hóa địa chất của lãnh thổ Việt Nam (khoảng 4000 triệu năm cho đến nay) để thấy rõ các quá trình địa chất (vũ trụ, kiến tạo, magma, trầm tích, biến chất, phong hóa) đã tác động đến sự hình thành trái đất như thế nào. Bức tranh về sự phong phú tài nguyên khoáng sản của đất nước đã được thể hiện sinh động bởi nhiều sưu tập mẫu khoáng sản.

Bảo tàng địa chất còn có khả năng cung cấp các sưu tập mẫu đá, quặng phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của học sinh, sinh viên và các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Bảo tàng cũng hướng dẫn các tour du lịch địa chất quanh thành phố Chí Minh và các vùng lân cận.


Bảo tàng Lực lượng Vũ trang miền Đông Nam bộ


Địa chỉ:
 247 Hoàng Văn Thụ, Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh
Điện thoại: 08.842 1304

Bảo tàng còn có tên là Bảo tàng Quân Khu 7, nằm trên khu đất rộng 2,5ha.

Toàn bộ hiện vật, sa bàn, hình ảnh trưng bày tập trung thể hiện quá trình hình thành và phát triển của lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ.

Nội dung trưng bày được chia làm 03 phần:
– Từ tổ chức vũ trang đầu tiên (xích vệ đội Phú Riềng năm 1930) đến lực lượng vũ trang thời kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954).
– Lực lượng vũ trang miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975).
– Lực lượng vũ trang Quân khu 7 trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong nghĩa vụ quốc tế (1975 – 1995)

Singapore thành công nhờ tiêu chuẩn 3T


Công thức thành công của Singapore thật ra không có gì bí hiểm. Những người tham gia guồng máy quản trị của quốc gia phải là những tài năng đã được khẳng định, được người dân tín nhiệm và tin tưởng.

 


Hình ảnh Marina bay sands của Singapore

Họ được đãi ngộ và trả công sòng phẳng để phục vụ lợi ích chung của đất nước Singapore. ĐTTC giới thiệu bài viết của chuyên gia Hữu Huy để bạn đọc tham khảo.

Mặc dù có nhiều khác biệt về bối cảnh lịch sử, địa lý và văn hóa, Việt Nam và Singapore có một số điểm tương đồng khá thú vị. Về thể chế chính trị, tuy Singapore tiếp thu di sản của người Anh nhưng kể từ lúc là một quốc gia tự chủ, độc lập vào năm 1959, Singapore vẫn chỉ có một chính đảng lãnh đạo đất nước là Đảng Hành động Nhân dân (PAP), với triết lý lãnh đạo “dân chủ xã hội chủ nghĩa” ghi rõ trên trang web chính thức của PAP.

Vai trò lãnh đạo đất nước của đảng cầm quyền tại Singapore tuy không được ghi rõ trong Hiến pháp, nhưng cương lĩnh hành động của PAP về bản chất không khác gì mục tiêu Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra: “PAP là một phong trào quốc gia tận tụy phục vụ đất nước vì sự thịnh vượng của người dân Singapore”.

Có lẽ vì thế trong suốt hơn 50 năm qua, PAP luôn luôn được đa số người dân Singapore tín nhiệm và chiến thắng trong các cuộc bầu cử quốc hội tiến hành 5 năm một lần. Chính phủ mới được hình thành từ các nghị viên trúng cử, Thủ tướng là người đứng đầu nội các và chịu trách nhiệm giải trình trước Quốc hội.

1/ Talent (Tài năng)

Thật ra, nếu chỉ căn cứ theo Điều 44 của Hiến pháp, một công dân Singapore muốn trở thành đại biểu quốc hội (ĐBQH) cũng không có gì khó khăn: “Trên 21 tuổi, có mặt trên lãnh thổ Singapore vào thời điểm ứng cử, có khả năng tham gia vào nghị trình quốc hội; nếu không bị thương tật mù lòa thì có khả năng đọc và viết một trong bốn ngôn ngữ chính thức của Singapore là tiếng Anh, Hoa, Mã Lai và Ấn Độ”.

Hiến pháp Singapore còn “thoáng” đến nỗi cho ứng viên đối lập (mặc dù thua trong kỳ bầu cử) nhưng đạt phiếu bầu cao nhất cũng được trở thành ĐBQH bán chính thức (NCMP). Các NCMP này có quyền tham gia nghị trường nhưng không được biểu quyết các vấn đề liên quan đến ngân sách.

Ngoài ra, Hiến pháp Singapore còn có cơ chế cho phép mỗi nhiệm kỳ Quốc hội có 9 ĐBQH được chỉ định (NMP), không cần qua bầu cử nhưng là những cá nhân đã thành đạt trong các lĩnh vực đa dạng trong xã hội như luật sư, giáo sư, nhà kinh doanh, nghệ sĩ và cả hoa hậu. Các NMP này chỉ có nhiệm kỳ 2 năm và có thể được gia hạn nếu tiếp tục chứng tỏ khả năng đóng góp vào hoạt động của Quốc hội.

Lắm lúc người dân Singapore không hoàn toàn đồng ý với cách điều hành của Quốc hội, bởi lẽ hầu như đề nghị nào của Chính phủ cũng được Quốc hội thông qua, theo cách nói của giới chuyên môn phía hành pháp có vẻ như luôn lấn lướt phía lập pháp. Người dân Singapore cũng cảm thấy bực mình vì lương của bộ trưởng không có vị nào dưới 1 triệu đô la Singapore (SGD) mỗi năm, còn lương của ĐBQH chính thức hay bán chính thức (NCMP) cũng trên 15.000SGD mỗi tháng.

Nhưng nói gì thì nói, không ai phủ định rằng ĐBQH Singapore là những tài năng của đất nước và họ được giao trọng trách lắng nghe và thể hiện tiếng nói của người dân tại diễn đàn Quốc hội.

2/ Test (Thử thách)

Nhìn vào guồng máy Quốc hội và Chính phủ Singapore toàn những người có trình độ học vấn cao, người ta dễ lầm tưởng bằng cấp là tiêu chí quyết định nhân tài. Nhưng thật ra bằng cấp chỉ là điều kiện cần chứ chưa đủ, vì đối với đảo quốc bé nhỏ không có tài nguyên thiên nhiên và hơn phân nửa nguồn nước phải nhập khẩu từ Malaysia, thì nhân tài chỉ có thể được thừa nhận nếu như người này đã qua thực tiễn, chứng tỏ được năng lực và tạo ra giá trị mới cho cộng đồng và xã hội.

Nguyên tắc trui rèn trong thực tiễn và chứng tỏ được năng lực đã giúp bộ máy Nhà nước Singapore giải quyết được nhiều vấn đề tế nhị, trong đó có cả chuyện “con ông cháu cha”, cụ thể là trường hợp Hiển Long, con trai trưởng của vị cha già lập quốc Lý Quang Diệu.

Năm 2004, ông Lý con lúc đó đang ở cương vị Phó Thủ tướng được tiến cử làm Thủ tướng thay người tiền nhiệm là ông Goh Chok Tong. Tuy nhiên tài năng của ông Thủ tướng mới mang họ Lý chỉ được khẳng định sau khi PAP tiếp tục chiến thắng trong kỳ bầu cử quốc hội năm 2006 và kinh tế Singapore tăng trưởng ổn định, thậm chí mạnh hơn sau khi vượt qua khủng hoảng.

Ngoài Thủ tướng đương nhiệm, họ Lý còn có thêm ông Lý Hiển Dương, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn nước giải khát Fraser and Neave; bà Lý Vĩ Linh, Giám đốc Trung tâm Thần kinh học Singapore và người làm hao tốn giấy mực của báo chí nhất là bà phu nhân Thủ tướng Ho Ching làm Tổng giám đốc Tập đoàn Temasek.

Đáng ghi nhận là cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu không ngại ngùng khi được phóng viên nước ngoài cắc cớ đặt câu hỏi về những thành viên trong dòng tộc họ Lý tại một số cuộc phỏng vấn. Ông khẳng định những người này được thăng tiến nhờ tài năng thực sự và họ được thực tiễn chứng minh trong định nghĩa tiếng Anh với từ Mecritocracy.

3/ Trust (Lòng tin)

Bộ máy nhà nước Singapore không phải lúc nào cũng vận hành trơn tru, thỉnh thoảng cũng gặp một số “sự cố”, thậm chí cả tham nhũng hay biển thủ công quỹ của một vài con sâu. Tuy nhiên, không người dân Singapore nào nghi ngờ tính liêm khiết của bộ máy nhà nước. Cần lưu ý là trong suy nghĩ của người Singapore, lòng tin không phải là một cái gì cho sẵn mà phải giành được. Có thể nói không ngoa:

Singapore là một trong rất ít quốc gia trên thế giới mà ĐBQH định kỳ tiếp dân hàng tuần để lắng nghe và giải quyết những nguyện vọng thiết yếu của người dân. Ai đó nói Singapore làm được điều này vì đây là một quốc gia nhỏ nên dễ quản lý, nhưng không nên quên đảo quốc này có rất nhiều sắc tộc, tôn giáo; vị trí địa lý Singapore ở ngay cạnh 2 quốc gia Hồi giáo đông dân là Indonesia và Malaysia.

Cá nhân tôi cũng cảm nhận được ý nghĩa của chữ T thứ 3 sau một thời gian sinh sống và làm việc trên đảo Sư Tử. Lòng tin vào thể chế và hoạt động guồng máy nhà nước của người dân thể hiện qua việc chấp hành luật pháp nghiêm minh từ đường phố cho đến khu dân cư, từ cộng đồng cho đến xã hội. Và nó còn thể hiện qua chỉ số chứng khoán, cách ứng xử của doanh nhân trong hoạt động kinh doanh.

Một bộ phận không nhỏ người dân Singapore thỉnh thoảng kêu ca về chuyện lương bổng quan chức nhà nước quá cao, nhưng người ta tin rằng Chính phủ Singapore có trách nhiệm giải trình trước dân với từng đồng tiền thuế chi tiêu sao cho hiệu quả và đã mang đến lợi ích cụ thể cho toàn xã hội.

Theo: Công ty tư vấn Vietnam Global Network

Đào tạo kinh tế: Toàn cầu hóa nhiều hơn, Mỹ hóa ít hơn


Tác giả: NGUYỄN TUYẾN (THEO THE ECONOMIST)

Các trường kinh tế tự hào rằng việc sinh viên đến từ các nước khác nhau học chung với nhau sẽ buộc họ phải mở rộng tầm nhìn và kiểm định giả định của họ. Nhưng thực tế, họ đã thổi phồng mọi việc: đa dạng hóa giọng nói và màu da không nhất nhiết có nghĩa là đa dạng hóa thế giới quan.

Toàn cầu hóa từ đầu vào

Các doanh nhân thích buộc tội các viện kinh tế là chỉ được cái giỏi bốc phét. Nhưng khi toàn cầu hóa, các giáo sư đã có bắt đầu thực tế hơn nhiều.

Trong thập kỷ vừa qua, đào tạo kinh tế đã toàn cầu hóa toàn diện hơn bản thân kinh doanh. Điều này không chỉ có ý nghĩa với quyền lợi riêng của chính nó (các trường kinh tế là những doanh nghiệp lớn và là nền tảng đào tạo tầng lớp cấp cao toàn cầu). Nó cũng có ý nghĩa bởi vì phần còn lại của giới học viện rất có thể theo sau nơi các trường kinh tế đã dẫn đầu.

Một số trường kinh tế đã xây dựng khuôn viên trường tại phía bên kia thế giới. INSEAD, một trường của Pháp, dẫn đầu trào lưu này. Năm 2000, trường này khai trương một cơ sở xa hoa tại Singapore với các khoa đào tạo chính quy. Sinh viên có thể học MBA ngay tại Singapore hoặc Pháp và chuyển đổi giữa hai nước.

Khoảng 35-40% sinh viên là những “swithcers” (những người bắt đầu học tại một cơ sở và hoàn thành tại cơ sở khác), rất ít người là những “swinger” (những người dành hẳn một khoảng thời gian chỉ học ở một nước). Những trường lớn khác như trường Wharton thuộc Đại học Pennsylvania và trường Booth thuộc Đại học Chicago đã thành lập cơ sở tại nước ngoài cho các chương trình MBA dành cho các Giám đốc điều hành.

Các trường thiếu tiền hoặc không đủ danh tiếng muốn lập cơ sở tại nước ngoài có những sự lựa chọn khác. Rất nhiều trường kết nối với các đối tác nước ngoài. Trường Kinh doanh Quốc tế Châu Âu Trung Quốc (CEIBS) tại Thượng Hải hợp tác với trường Kinh tế Harvard và Wharton để giảng dạy chương trình MBA cho Giám đốc điều hành. Các trường cũng đưa ra “yêu cầu kinh nghiệm toàn cầu”. Trường Kinh tế Ross thuộc trường Đại học Michigan yêu cầu các sinh viên MBA năm đầu phải dành bảy tuần làm việc ở nước ngoài.

Các trường học tốt nhất thế giới cũng đang toàn cầu hóa đầu vào. Năm 2008, khoảng 34% sinh viên trong 55 chương trình MBA hàng đầu của Mỹ (được xếp hạng bởi Financial Times) là sinh viên nước ngoài và 85% thuộc top 55 khóa học hàng đầu tại các nước châu Âu (con số giảng viên nước ngoài là 26% với Mỹ và 46% với châu Âu). Các tổ chức ít học viên nước ngoài hơn cũng đang quốc tế hóa. Viện thống kê UNESCO tính toán rằng trong năm 2007, gần một phần tư số sinh viên học tập tại nước ngoài đều theo học ngành kinh doanh – nhiều hơn hẳn so với bất kỳ ngành học nào khác.

Đồng thời, các nền kinh tế mới nổi đang xây dựng các trường kinh tế với tốc độ nhanh chóng. Hiệp hội các trường kinh tế tiên tiến tính được có hơn 13.000 trường cấp bằng kinh doanh trên thế giới. Trung Quốc và Ấn Độ có 2.700 trường với nhau, hầu hết trong số đó được thành lập từ năm 1990. Vào năm 1997, các trường đại học đưa ra 74 khóa học kinh tế mới, vào năm 2007 họ thành lập 641 khóa. Các trường học trên thị trường mới nổi tốt nhất quyết tâm đi ra toàn cầu (hoặc ít nhất trong khu vực) vì quyền lợi của chính mình: CEIBS đã tăng lượng sinh viên nước ngoài từ 10% năm 2002 tới 40% năm 2009 và hy vọng sẽ tạo được một Ivy League cho phương Đông.

Sự toàn cầu hóa đột ngột của giáo dục kinh doanh có những nhược điểm. Nhược điểm rõ ràng nhất là kiểm soát chất lượng . Toàn cầu hóa cũng đẩy các chi phí vốn đã cắt cổ của việc đào tạo kinh tế lên cao. Gửi sinh viên ra ngước ngoài, tiến hành các nghiên cứu quốc tế và cạnh tranh với các học viện tốt nhất trên thị trường lao động không biên giới là tốn kém. Tồi tệ nhất, toàn cầu hóa, biệt ngữ quản lý nghĩa là từ “tư duy 360 độ” đến “nấc thang chiến lược”, lan rộng qua các biên giới như dịch cúm gia cầm.

Toàn cầu nhiều hơn, Mỹ hóa ít hơn

Các trường kinh tế tự hào rằng việc sinh viên đến từ các nước khác nhau học chung với nhau sẽ buộc họ phải mở rộng tầm nhìn và kiểm định giả định của họ. Nhưng thực tế, họ đã thổi phồng mọi việc: đa dạng hóa giọng nói và màu da không nhất nhiết có nghĩa là đa dạng hóa thế giới quan. Cho dù họ đến từ đâu, các sinh viên MBA toàn cầu có xu hướng trở thành công dân quốc tế nói nhiều thứ tiếng. Hòa nhập với những công dân quốc tế khác trên nhiều châu lục có thể đánh lừa họ với suy nghĩ rằng thế giới bao gồm phần lớn những người như họ, trong khế giới không hề như vậy.

Tuy nhiên, lợi ích của đào tạo kinh tế toàn cầu vượt xa những nhược điểm đó.

Kinh doanh đang toàn cầu hóa: tỷ lệ các công ty trong số 500 công ty lớn nhất thế giới xuất phát từ các thị trường mới nổi đã gấp đôi trong vòng 5 năm, từ 8,2% trong năm 2005 đến 17,4% trong năm 2010. Các trường kinh doanh không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải thích ứng với xu hướng chung. Các trường tốt nhất đang truyền bá xa và rộng các tiêu chuẩn cao của họ. IESE của Tây Ban Nha đã giúp thành lập các trường kinh tế trên 15 nước khác. CEIBS của Trung Quốc đã thành lập một trường tại Ghana.

Các trường địa phương luôn điều chỉnh chương trình giảng dạy hợp với hoàn cảnh địa phương: Trường quản lý Moscow, Skolkovo đưa ra chương trình MBA lấy trọng tâm là đối phó với tham nhũng. Toàn cầu hóa gia tăng lựa chọn: Singapore chỉ có 4 trường đại học hoàn toàn là địa phương cấp bằng kinh doanh nhưng người Singapore có thể lựa chọn giữa 70 tổ chức quốc tế cấp bằng thông qua một số hình thức nhượng quyền.

Khi giáo dục kinh doanh trở nên toàn cầu hóa nhiều hơn thì nó cũng ít mang tính chất Mỹ hơn. Mãi đến gần đây, ngành này vẫn bị thống trị bởi các trường kinh tế Mỹ giảng dạy các ví dụ kiểu Mỹ. Hiện tại hơn một phần ba các trường hợp nghiên cứu giảng dạy trong các khóa học chiến lược tại các trường đại học Mỹ là của công ty nước ngoài. Và trong số những người châu Á tham dự cuộc kiểm tra GMAT (các trường Mỹ sử dụng GMAT để lựa chọn sinh viên), tỷ lệ những người sau đó nộp đơn học tại Mỹ giảm từ 85% trong năm 2001 xuống 67% trong năm 2009.

Một giải siêu đấu toàn cầu của các trường kinh doanh đang nổi lên, gồm vài trường ở châu Âu và châu Á cũng như Mỹ. Tất cả đều cạnh tranh khốc liệt để giành sinh viên và nhân viên ở khắp mọi nơi (những người có uy tín bay đến mọi nơi theo chỉ thị của những người trả giá cao nhất). Sự sùng bái MBA đang toàn cầu hóa: các cử nhân tương lai từ Boston đến Bắc Kinh đến Bangalore đang dành những năm đầu định hướng say sưa lắng nghe, cho dù sâu sắc hay không, thuyết quản lý của Pierian.