Tết 2021 đi qua


Bông nhà trồng – hehe

Một cái tết khác hẳn mấy chục cái tết trước đó, tết trôi qua không nhẹ nhàng cũng không nặng nề gì mấy nhưng đủ làm nhiều người thấy không vui, không thoải mải, buồn một chút … nói chung là nhìn lại mình vẫn đỡ hơn nhiều người trên thế giới đang oằn oại vượt qua tháng ngày phong toả, cách ly. Dù sao cũng nên viết một vài câu chúc, chúc tất cả mọi người trên thế giới bình an, khoẻ mạnh để đi qua đại dịch bệnh này.

—- Nguoidentubinhduong —-

Đi tìm bản sắc võ Việt – Những bí ẩn chưa được giải mã


 

 

Theo võ sư Lê Kim Hòa, trong dân gian còn rất nhiều bài võ hay, chiêu thức lạ cùng các phương thức luyện khí, luyện công đặc sắc. Việc tiếp tục tìm kiếm, sưu tầm những tinh hoa võ thuật còn tản mát vẫn đang tiếp tục.

Võ sư Đoàn Thọ Sơn và võ sư Phan Văn Quảng phân thế Độc lư thương – Ảnh: C.T

Xin nhắc lại một chút về bài Hùng kê quyền. Đây là bài quyền mô phỏng các thế đánh của gà chọi (gà nòi) sáng tạo nên. Tương truyền tác giả là Nguyễn Lữ, một trong Tây Sơn tam kiệt vốn lừng danh về võ nghệ. Bài quyền này nghe truyền tụng đã lâu, nhưng không ai biết hình bóng ra sao, tưởng chừng đã vĩnh viễn thất truyền.

Bất ngờ tại hội nghị chuyên môn võ thuật cổ truyền lần thứ nhất năm 1993, lão võ sư Ngô Bông truyền nhân Hùng kê quyền xuất hiện. Nhìn các thế đánh và nghiên cứu lời thiệu, hội đồng các võ sư nhận định bài quyền còn giữ được nguyên bản và chọn ngay vào hệ thống các bài võ thống nhất.

Còn biết bao nhiêu cái hay, cái đẹp của võ dân tộc chưa được nhận diện, nghiên cứu? Thử nêu lên một vài công phu lạ tồn tại trong dân gian từ lâu đời. Đó là môn võ gồng. Ngay cả từ điển tiếng Việt cũng có đề cập: “Thuật lên gồng cho là có thể làm cho đánh vào người không biết đau, thậm chí chém vào người không đứt”. Điều này làm chúng tôi nhớ lại lời của võ sư Lê Văn Kiển (Tám Kiển) chưởng môn võ phái Nam tông lúc còn sống: “Ngày xưa theo thầy học võ còn bị đao, kiếm chém chảy máu thì chưa được hạ sơn”. Nghe giống như công phu Thiết bố sam của Thiếu lâm tự luyện cho thân thể đạt đến tầng công đao thương bất nhập.

Thầy Tám Kiểng kể lúc lên Sài Gòn làm quản lý cho sòng bạc Đại thế giới, có lần ông bị đám giang hồ dùng mã tấu chém xả xuống vai. Thấy ông lên gồng và tỉnh rụi, bọn chúng liền tháo chạy, từ đó không dám đụng tới ông nữa. Lúc ở độ tuổi bát tuần, ông vẫn còn minh mẫn nhanh nhẹn, và có biểu diễn thử để chứng minh gồng là có thật.

Chúng tôi nhớ lúc còn nhỏ theo thầy học võ, chưa từng nghe nói đến khái niệm về nội công. Nhưng võ gồng trong dân gian thì nghe nói đến rất nhiều. Rồi có lần chúng tôi chứng kiến một đàn ông trung niên bị một đám thanh niên du đãng dùng cây, gậy vây đánh ở khu Trại Bò cạnh QL1 chạy ngang TX.Tuy Hòa. Chỉ thấy người đàn ông rùng chân xuống bộ đưa hai tay che đầu chịu đòn. Tưởng đâu nhịn cho qua chuyện, không ngờ thấy đám du đãng quá hung hãn, bất ngờ ông chớp nhoáng tung đòn, trong nháy mắt đám thanh niên đều bị hạ gục. Đám đông mục kích có người kêu to lên: Võ gồng! Lúc ấy chúng tôi nhìn thấy mà thán phục lắm.

Sau này trao đổi với nhiều võ sư, họ đều có chung nhận định võ gồng là môn khí công thượng thừa hoàn toàn của người Việt, được che đậy dưới lớp vỏ thần bí. Đó là phép vận động các bộ phận cơ thể kết hợp vận khí cùng cách xúc cốt, tán cốt làm cho gân cơ xương khớp và da thịt trở nên rắn chắc như sắt thép. Đến nay môn võ này vẫn còn nằm trong màn bí ẩn!

Một môn võ khác không kém phần bí hiểm hay được nhắc tới trong những lần cao đàm khoát luận về võ học ở các miệt vườn. Công phu này có tên rất dân dã gọi là môn trói bộ. Đó là kỹ thuật trói, khóa không cần đến dây cột, làm cho kẻ bị bắt giữ không thể cựa quậy, cử động. Có người giải thích trói bộ là kỹ thuật đánh tháo khớp vai, khớp chỏ, khớp đùi rồi bẻ quặt chân tay ra sau bắt phải nằm yên. Giống như người ta vẫn thường khóa chéo hai cánh gà, làm cho gà không thể chạy dù không dùng dây nhợ gì. Hoặc đó có thể là một kỹ thuật điểm huyệt làm cho cơ thể tê liệt, bất động chăng?

Võ gồng là môn khí công thượng thừa hoàn toàn của người Việt, được che đậy dưới lớp vỏ thần bí

Mới đây chúng tôi có gặp võ sư Nguyễn Ngọc Hùng, là thầy dạy của nữ võ sĩ Trần Hiếu Ngân đoạt huy chương bạc tại Olympic Sydney 2000. Hôm ấy bên bờ biển giữa tiếng sóng ầm vang, võ sư Hùng tiết lộ: “Hơn mười năm theo đuổi tôi đã học được môn trói bộ từ một vị đại tá đặc công đã nghỉ hưu. Đây là kỹ thuật bí truyền của võ Việt, ít truyền dạy ra ngoài”. Khi chúng tôi đề nghị hãy thử biểu diễn với cậu học trò của ông là đại úy công an Nguyễn Bảo Quốc, ông nói món này “sống để dạ, chết mang theo” không thể đem ra thử được!

Có một câu chuyện không kém phần thú vị nữa là giả thuyết về sự tương đồng giữa kỹ thuật võ Tây Sơn và võ muay Thái. Người nêu giả thuyết này là bác sĩ Trần Đại Sỹ vốn am tường võ học, làu thông cổ sử và dịch lý, sử dụng được nhiều thứ tiếng. Ông sống ở nước ngoài và có điều kiện nghiên cứu, đối chiếu so sánh. Theo ông đời nhà Trần võ học Việt Nam đạt đến đỉnh cao với nhiều phái võ lớn gọi chung là dòng võ Đông-a. Triều đại nhà Hồ tiếp thu và kế nghiệp dòng võ này. Khi Hồ Quý Ly bại trận, con cháu phải chạy về lánh nạn ở Nghệ An vốn là vùng đất phát tích họ Hồ. Nơi đây xưa gọi là đất Cửu Chân có nhiều dòng võ Việt cổ sơ còn giữ nguyên gốc. Con cháu họ Hồ đã phối hợp võ Đông-a và võ Cửu Chân tạo ra dòng võ mới. Đây là môn võ có tính sát thủ dữ dội, khắc tinh của các phái võ Trung Quốc như Đường lang (Thoong loòng), Tung sơn Thiếu lâm.

Thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, quân chúa Nguyễn từng vượt qua sông Linh Giang bắt một số dân đưa vô Nam khai hoang lập ấp. Hậu duệ họ Hồ đã đứng chân ở vùng đất Tây Sơn – Bình Định và khai sáng nên dòng võ Tây Sơn sau này. Điều đó giải thích tính thiện chiến của các đạo quân Tây Sơn từng đánh cho quân Xiêm La và quân Thanh thất điên bát đảo.

Khi Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, nhiều tướng lĩnh bỏ trốn sang đất Xiêm La ẩn náu. Họ đã truyền bá võ thuật và hình thành nên môn muay Thái. Đây là môn võ có đòn thế khốc liệt và nhiều nét tương đồng với võ Tây Sơn. Bác sĩ Trần Đại Sỹ khẳng định ông đã sang Thái Lan nghiên cứu, thấy tại các tổng đường võ phái bài vị thờ các tổ sư đều đề chữ Nho, tên các tổ là người Việt.

 

 

Nguồn: Cao Thụ – Thanh Niên Online

 

Cư dân Bình Dương qua các thời kỳ lịch sử


Cư dân Bình Dương qua các thời kỳ lịch sử

             Thuở ban đầu thời mở đất Phương Nam, Bình Dương là tên một tổng thuộc huyện Tân Bình, phủ Gia Định. Đến năm 1808, khi huyện Tân Bình được đổi thành phủ thì Bình Dương được nâng lên là một trong bốn huyện của phủ này. Đất Bình Dương thuở đó nay chủ yếu thuộc địa bàn thành phố hồ Chí Minh, chỉ có một phần vùng Dầu Tiếng, lúc đó là tổng Dương Hòa Hạ thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay. Năm 1956, tỉnh Bình Dương được thiết lập nhưng không phải trùng với địa bàn của huyện Bình Dương xưa kia. Và đến năm 1997, tỉnh bình Dương được tái lập, nhưng cũng không phải hoàn toàn là địa phận của tỉnh bình Dương trước năm 1975. Như vậy, trong lịch sử Bình Dương là tên của gọi những đơn vị hành chánh – lãnh thổ theo những cấp độ khác nhau (tổng, huyện, tỉnh) với những địa bàn lãnh thổ khác nhau. Do vậy, nói đến cư dân Bình Dương qua các thời kỳ lịch sử chỉ có tính chất tương đối, không thể phân định rạch ròi theo kiểu thống kê hộ tịch của một đơn vị hành chính lãnh thổ cụ thể như hiện hành.
              Bình Dương vốn gắn liền với Gia Định – Đồng Nai xưa, tức là miền Đông Nam Bộ ngày nay, cư dân Bình Dương là một bộ phận cư dân Đông Nam Bộ. Nhưng đồng thời với trung tâm là thị xã thủ Dầu Một với một vùng phụ cận bên bờ sông Sài Gòn có những điều kiện môi trường sinh thái đặt biệt, cư dân Bình Dương cũng có nhũng đặc điểm riêng từ lịch sử hình thành đến kỹ năng nghề nghiệp và lối hành xử trong cuộc sống của mình.
 Một ngôi nhà xưa ở Thủ Dầu Một 1920
 
1.  Những trang sử được lật lên từ lòng đất Bình Dương qua các di tích khảo cổ học như Vườn Dzũ, Cù lao Rùa – Gò Đá, Dốc Chùa đã cho thấy cách đây hàng ngàn năm, con người nguyên thủy đã sinh sống và phát triển trên địa bàn Bình Dương. “Người Vườn Dzũ” (Tân Uyên) là lớp cư dân đầu tiên khai phá vùng đất Đông Nam Bộ nói chung, Bình Dương nói riêng, cách ngày nay đã chục ngàn năm.
            Vào thời kỳ phát triển của xã hội nguyên thủy, trên đất Bình Dương có di tích khảo cổ Cù Lao Rùa – Gò Đá (Tân Uyên). Đó là những khu cư trú của con người tiền sử vào thời kỳ “hậu kỳ đá mới – đầu đồng thau” vào loại lớn nhất của Đông Nam Á. Chủ nhân của nó là những cư dân nông nghiệp dùng rìu, cuốc để rẫy, là một bộ phận quan trọng của cư dân xứ Đồng Nai – Đông Nam Bộ thời tiền sử cách nay 3-4000 năm.
            Cũng trên đất Bình Dương vào thời đoạn cường thịnh của người tiền sử – thời đại kim khí cách ngày nay khoảng 3000 – 2500 năm, các nhà khảo cổ học đã phát hiện di tích Dốc Chùa (Tân Uyên) là một di tích của khu cư trú lâu dài, một xưởng thủ công đúc đồng có tầm cỡ, một khu mộ táng lớn có sưu tập di vật đồ đồng khuôn đúc nhiều nhất trong toàn vùng Đông Nam Bộ. “Người Dốc Chùa” qua nhiều thế hệ đã có sự giao lưu rộng rãi, đã hoạt động “xuất nhập khẩu” (nhập nguyên liệu, xuất sản phẩm) để phục vụ cho nghề thủ công đúc đồng nổi tiếng nhất vào thời bấy giờ.
            Tóm lại, cư dân tiền sử Bình Dương với những mốc phát triển trên đây là một bộ phận chủ nhân của một trong ba nền văn hoá kim khí nổi tiếng ở nước ta là văn hoá Đồng Nai (vùng Đông Sơn, Sa Huỳnh). Đó là lớp cư dân đầu tiên của Bình Dương nói riêng và của vùng đất Nam Bộ nói chung, cách ngày nay khoảng 4000 – 2500 năm. Rồi vào khoảng trước và sau Công Nguyên, họ đã mở rộng quan hệ với nhiều cộng đồng khác nhau trong khu vực lân cận, mở rộng cuộc khai phá đến vùng châu thổ sông Cửu Long, tạo lập nên nền văn hóa Óc Eo nổi tiếng ở Nam Bộ.
            Sau 5 – 6 thế kỷ tồn tại và phát triển, những khu cư dân phồn vinh của văn hoá Óc Eo bị chôn vùi trong bùn lầy châu thổ và ven biển Nam Bộ, thì vùng Đông Nam Bộ lại nhanh chóng phát triển với nhiều lớp cư dân hỗn hợp. Trong đó, vùng trung lưu và cả thượng lưu Đồng Nai. Truyền thống văn hoá tiền sử muộn bắt đầu hồi phục trở lại và phát triển trong sự hiện diện của một số cư dân bản địa mà hậu duệ của họ vẫn còn sinh sống ở vùng đất Đông Nam Bộ – Nam Tây Nguyên cho đến tận hiện nay. Đó là người Stiêng, Mạ, Châu Ro…
           Ngày nay trên địa bàn Bình Dương mới được tách ra từ năm 1997. Hầu như rất ít người Stiêng, Mạ, Châu Ro sinh sống. Phần lớn họ cư trú ở tỉnh Bình Phước – người anh em sinh đôi của Bình Dương và một số cư trú ở các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Lâm Đồng, Bà Rịa. Tuy vậy, trong lịch sử vùng đất Bình Dương ngày nay đã từng là nơi sinh sống một thời của các dân tộc vừa nêu trên. Qua những truyện kể dân gian mang tính chất hồi tưởng lịch sử về quê hương tổ tiên của mình, các dân tộc bản địa hiện đang sinh sống ở miền Đông Nam Bộ thường cho biết địa bàn sinh sống xưa kia của tổ tiên họ là đất gần biển, là những vùng ít núi non. Nhóm người Ta – mun ở sóc 5 xã Minh Hoà và nhóm người Stiêng Budeh còn nói rằng cách đây không lâu, ông cha họ còn ở vùng Thuận An. Rất có thể họ là thành phần cư dân của “Vương quốc Mạ” trong lịch sử từng tồn tại theo hai bên bờ sông Đồng Nai ở trung lưu và hạ lưu. Và lúc ấy, địa bàn Bình Dương là một trong những vùng lãnh thổ của họ. Sau này, do áp lực của nhiều luồng di dân và do nhiều điều kiện lịch sử xã hội của thời kỳ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, các dân tộc bản địa vùng này đã lùi dần về vùng núi thượng lưu thuộc các tỉnh miền Đông Nam Bộ và Nam Tây Nguyên hiện nay .
2. Vào cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung xiêu tán về vùng Đông Nam Bộ, trong đó có địa bàn Bình Dương, tìm vùng đất mới để lập nghiệp. Họ bao gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau và lìa bỏ quê hương với nhiều nguyên nhân khác nhau. Họ là những nông dân nghèo khổ không chịu đựng nỗi cơ cực lầm than chốn quê nhà, là những người chạy trốn sự truy đuổi của chính quyền phong kiến. những người trốn lính, trốn thuế v.v…nhìn chung là vì bức xúc của cuộc sống mà bất chấp nguy hiểm đi tìm nơi nương thân, mưu lập cuộc sống mới. Có lẽ ngay từ những năm tháng đầu tiên, Bình Dương là một trong những nơi dừng chân của đoàn quân di cư người Việt cùng với những địa bàn khác nhau như Mô Xoài, Cù lao Phố, Bến Nghé. Bởi ngày ấy dân di cư thường theo những cửa biển con sông để tìm những vùng đất. Và Bình Dương, đặc biệt là những vùng xung quanh thị xã Thủ Dầu Một, vốn là vùng giáp sông Đồng Nai, sông Sài Gòn là những nơi định cư lý tưởng thuở đầu khai phá.
            Sau khi thiết lập hệ thống hành chính, và sau đó là triều Nguyễn đã có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút lưu dân đến khai hoang lập làng vùng Gia Định – Đồng Nai. Trong bối cảnh đó Bình Dương cũng nhanh chóng được khai phá. Theo nhà nghiên cứu địa bạ Nguyễn Đình Đầu thì vùng Bình An (đất Bình Dương trước đây) là nơi có nhiều ruộng đất nhất của tỉnh (Biên Hòa), điều đó cho phép đoán định đây là vùng có đông dân cư nông nghiệp nhất. Và xung quanh Thủ Dầu Một sau này như Phú Cường, Lái Thiêu, Phú Lợi hay vùng Tân Khánh, Tân Uyên, Cù Lao Rùa là những xóm làng đông đúc của Bình Dương từ thuở đầu mở nước thời nhà Nguyễn.
            Một ngôi chợ làng ở Lái Thiêu 1920
 
            Sau thế kỷ XIX, cư dân Bình Dương đã phát triển nhanh hơn. Đặc biệt trong thời kỳ này, cộng đồng người Hoa di dân đến Bình Dương ngày một đông. Họ đến đây từ Cù Lao Phố – Biên Hoà và từ Bến Nghé – Gia Định. Những làng gốm của người Hoa xuất hiện ở vùng Lái Thiêu, Phú Cường, Tân Uyên với những sản phẩm được tạo ra đã có sự chuyển hóa khá rõ nét (lò của người Hoa Quảng Đông chuyên về tượng trang trí, lò gốm người Hoa Triều Châu chuyên sản xuất đồ gia dụng, còn lò gốm người Hoa Phúc Kiến chuyên sản xuất vật dụng to lớn như lu, khạp v.v…). Cho đến nay, người Hoa ở Bình Dương vẫn tập trung ở một số vùng “định cư truyền thống” của họ như thị xã Thủ Dầu Một, Lái Thiêu – Thuận An, Tân Uyên. Ngoài nghề buôn bán, họ còn chung thủy với một số nghề truyền thống, mà trước hết là nghề gốm từ thuở ban đầu, tạo nên một nét sinh hoạt văn hoá đặc sắc cho người Bình Dương qua các thời kỳ.
3. Từ khi tỉnh Thủ Dầu Một được thiết lập thì dân cư ở vùng này đã phát triển nhanh chóng. Nhiều ấp, làng mới được hình thành theo sự tăng trưởng của dân cư. Đặc biệt nhiều làng nghề trên đất Thủ Dầu Một được ra đời, trong đó đáng chú ý nhất là những làng mộc, và những cơ sở sản xuất sơn mài. Cư dân người Việt ở miền Bắc, miền Trung vốn có tay nghề kỹ thuật khảm xà cừ trên tủ thờ, ghế dựa tràng kỷ, hương án … đã lần lượt đến Bình Dương khai thác thế mạnh ở đây là giàu gỗ quí (gõ, cẩm lai, giáng hương…) tạo nên một nghề độc đáo và nổi tiếng cho Bình Dương. Miếu mộc tổ ở Lái Thiêu, các làng nghề mộc ở Phú Thọ, Chánh Nghĩa là các cụm dân cư độc đáo của Bình Dương. Sau này Pháp mở trường Bá Nghệ ở Thủ Dầu Một, nghề mộc Bình Dương càng có điều kiện phát truển trên cơ sở tiếp thu những kỹ thuật hiện đại, kết hợp với những truyền thống vốn có đã tạo nên những sản phẩm nổi tiếng không những trong nước mà còn cả quốc tế.
            Nghề sơn mài là một thế mạnh của cư dân Bình Dương vốn được những người lưu dân Việt từ Bắc và Trung mang theo khi đến định cư ở vùng đất này. Tương Bình Hiệp ở huyện Bình An xưa vốn là một huyện làm tranh cổ đã tiếp nhận những lưu dân có nghề từ Bắc và Trung vào đây lập nghiệp, dần dần đã trở thành “trung tâm sơn mài” của bình Dương qua các thời kỳ.
            Một đặc điểm quan trọng khác trong sự biến đổi thành phần dân cư của Bình Dương vào thời kỳ này là sự xuất hiện một đội ngũ công nhân cao su ngày càng nhiều theo chiều mở rộng của các đồn điền cao su của thực dân Pháp trên địa bàn Thủ Dầu Một – Đông Nam Bộ. Từ đầu thế kỷ XX, Thủ Dầu Một đã trở thành tỉnh dẫn đầu về trồng cao su ở Nam Bộ. Theo đó các làng cao su lần lượt mọc lên trên đất Thủ Dầu Một ngày càng nhiều, nhất là xung quanh các đồn điền cao su nổi tiếng như Dầu Tiếng, Lôc Ninh, Đa Kia, Quản Lợi, Phú Riềng, Xa Cam, Xa Cát… Dân cao su Thủ Dầu Một đa số là những người nông dân ở miền Bắc, miền Trung (đông nhất là miền Bắc) vốn bị khánh kiệt ruộng đất, thất cơ lỡ vận buộc phải bỏ xứ đi làm “phu công tra” cho các chủ Tây. Chính ở Bình Dương xưa kia là nơi xuất phát đầu tiên phong trào đấu tranh cách mạng của công nhân cao su với sự kiện “Phú Riềng Đỏ” nổi tiếng.


Nhà máy chế biến mủ cao su ở Thủ Dầu Một 1920

 4. Trong thời kỳ cận hiện đại, bức tranh thành phố dân cư và mật độ dân số Bình Dương không ngừng thay đổi, luôn luôn được bổ sung từ nhiều nguồn, nhiều nơi. Đáng chý ý nhất là đợt “bổ sung dân số” vào năm 1954 từ nguồn di cư của người Việt từ các tỉnh phía Bắc vào và sau này có một số từ miền Trung đến với các chính sách “đinh điền” của chế độ Sài Gòn trước năm 1975. Trong thời kỳ chiến tranh trước năm 1975, sự phân bố cư trú của cư dân Bình Dương cũng có nhiều thay đổi do Bình Dương là một trong những chiến trường ác liệt. Nhưng sau ngày giải phóng 1975, nhân dân xiêu tán khắp nơi đã nhanh chóng hồi hương, lấp dần các khoảng trống ở các vùng Bến Cát, Tân Uyên, Dầu Tiếng…
             Thêm vào đó, một bộ phận dân cư đi kinh tế mới, khai hoang phục hóa cũng đã đến địa bàn Bình Dương. Trong vòng hơn hai mươi năm sau ngày giải phóng, dân số Bình Dương đã tăng gấp đôi, từ gần 350 ngàn người tăng lên 668 ngàn người (lúc chia tỉnh). Nhưng sự biến động về thành phần dân cư và mật độ dân số ở Bình Dương vẫn tiếp tục diển ra với mức độ đáng kể. Tân Uyên và Bến Cát, nơi mật độ dân cư còn thấp nhưng đang hình thành các xí nghiệp công nghiệp, phát triển các vùng lâm trường (cao su, mía, điều, lâm nghiệp…) sẽ thu hút lao động và cư dân đến.
             Thị xã Thủ Dầu Một đang đô thị hóa, hình ảnh một thành phố trong tương lai đang hiện lên rõ nét, mật độ dân số đã đông nhất nhưng sẽ tiếp tục tăng hơn nữa. Vùng Thuận An – Dĩ An, vốn có mật độ dân cư đã đông, lại là nơi đã và đang hình thành, phát triển các khu công nghiệp tập trung qui mô lớn đang thu hút nhiều lao động và dân cư khắp miền đến. Tất cả nhũng điều đó sẽ làm cho bức tranh thành phần dân cư của Bình Dương không ngừng thay đổi.


Đại lộ Bình Dương

 5. Như vậy, Bình Dương có được như hôm nay là nhờ công sức của bao thế hệ, bao lớp dân cư. Họ là dân tứ xứ, do nhiều cảnh ngộ, nhiều nguyên nhân khác được dòng đời xô đẩy cuộn chảy về đây, đã tề tựu, hoà hợp với nhau xây dựng cơ đồ trên vùng đất mới. Nghề làm gốm sứ được vùng đất giàu cao lanh, đất sét nuôi dưỡng… sự uất ức với cường hào, áp bức được chiến khu D dưỡng dục, nâng cao về chất tinh thần quật khởi… Tất cả những điều đó qua nhiều thế hệ, qua nhiều năm tháng gian truân đã giúp cho những người tứ xứ vốn có gốc nguồn xã hội, lối sống, tính cách khác nhau hòa hợp cùng nhau, hình thành nên con người Bình Dương chịu đựng gian lao anh dũng, năng động và nhạy cảm, thực sự là chủ nhân của vùng đất bán sơn địa với những vùng có tính “thủ hiểm” nhưng lại rất thuận lợi trong giao thông thủy bộ, kề sát như một vùng “ngoại ô” của thành phố Sài Gòn – Hồ Chí Minh lớn nhất nước, với những khu công nghiệp, những vùng kinh tế, xã hội phát triển cao.
(PGS – PTS Phan Xuân Biên “Thủ Dầu Một – Bình Dương Đất lành chim đậu” – NXB Văn Nghệ tp. HCM 1999)

GS. Trần Văn Giàu, người thầy mà tôi học mãi.


Lê Sơn
 Khi còn học trung học ở tỉnh nhà miền Trung, bên ngoại tôi có người ông, từ đầu thế kỷ XX, vào Sài Gòn làm nghề thợ may, đến khi gần 70 tuổi, ông giao tiệm may cho con gái, trở về ở nhà thờ họ tộc dưỡng già. Trong họ có 4 cụ tuổi suýt soát nhau, qua lại trà thuốc, đánh cờ, chuyện trò. Mỗi sáng sớm, 4 cụ kéo nhau ra bờ sông Trà Khúc hóng nắng ban mai, có khi họ nối lưng nhau đi bộ 2 cây số qua tỉnh lỵ ăn don rồi mới về. Trông 4 cụ ai cũng khen khí cốt tiêu sái, tiên phong đạo cốt.

Nhà thờ họ ngoại tôi, gần tỉnh lỵ, vườn tược rộng rãi, con cháu nội ngoại các nhà ở xa, thường về nhà thờ họ ăn ở đi tỉnh học cho tiện. Chúng tôi được giao nhiệm vụ bưng bê cơm nước, trà thuốc phục vụ các cụ, nên thường la cà hóng chuyện các cụ. Chúng tôi thích nghe chuyện của cụ thợ may Sài Gòn, vì ông lưu lạc Sài Gòn gần 60 năm, lưu trữ cả kho chuyện lạ mà bọn thiếu niên chúng tôi rất thích nghe. Ông thường nhắc đến Trần Văn Giàu như một nhân vật hùng biện đến huyền thoại. Ông nói, bấy giờ Sài Gòn vừa khởi nghĩa Tháng Tám thành công, nhiều phe phái nổi lên lắm, phe anh chị trộm cướp có, phe quốc gia tư sản có, phe cộng sản đệ tứ có… Họ xưng hùng xưng bá gây rối ren lắm. Chỉ có Trần Văn Giàu mới khóa miệng chúng được. Rồi ông kể những cuộc diễn thuyết của Trần Văn Giàu trước cả trăm ngàn thính giả mà ông được dự. Ông ca tụng Trần Văn Giàu như một vị anh hùng cứu nước đầy tài năng, nào Trần văn Giàu đã từng du học Pháp, du học Liên Xô, được Bác Hồ cử về nước lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tháng Tám thành công ở Nam bộ.

Bấy giờ là những năm đầu của thập niên 60, miền Nam do chính quyền Ngô Đình Diệm quản lý, ai nhắc đến Bác Hồ là bị tù. Ông thợ may Sài Gòn cũng chỉ dám nói những chuyện ấy trong gia đình họ tộc. Tôi vừa hơn 10 tuổi, thích nghe chuyện anh hùng, hình ảnh người anh hùng Trần Văn Giàu chiếm một vị trí rất lớn trong tâm hồn tôi.

Ông thợ may Sài Gòn là em ruột Cử nhân Nguyễn Đình Quản. Ông Cử Quản tham gia lãnh đạo phong trào khất thuế ở Quảng Ngãi bị tù Côn Đảo, chung thân biệt xứ, hy sinh ngoài Côn Đảo năm 1913. Trong tác phẩm “Thi tù tùng thoại” nổi tiếng, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhắc nhiều đến Cử Quản, ca ngợi Cử Quản là một con người có chí khí và đởm lược. Cử Quản bị tù, các em ông phần lớn bỏ xứ vào Sài Gòn sinh nhai và dễ dàng hòa nhập vào các phong trào yêu nước tại chỗ. Ông thợ may Sài Gòn có 2 người con, người con trai ra đi từ những ngày đầu Nam bộ kháng chiến và hy sinh trong thời chống Pháp ở trong Nam, chưa vợ con chi. Ông thương tiếc mãi người con trai, nên đến tuổi già, ông tìm về sống nơi quê nhà, giữa bà con họ tộc, xóm giềng cho đỡ nhớ con, như ông nói, mà còn để đỡ cô đơn, nhưng ông không bao giờ nói ra.

 

o0o

 

Đến những năm cuối thập kỷ 80, tôi theo học lớp “trên đại học” lần đầu tiên mở tại TP.HCM, có nhiều vị thầy đáng kính nổi tiếng giảng dạy, trong đó có những khuôn mặt nổi bật như Giáo sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Trần Đức Thảo, Giáo sư Vũ Khiêu, Giáo sư Phạm Đức Dương, Giáo sư Văn Tạo, Giáo sư Phan Lạc Tuyên…

Tôi thích lối giảng bài đầy nhiệt thành của thầy Giàu, tôi khâm phục sự uyên bác và lý luận khúc chiết của thầy Giàu. Thầy mở ra cho chúng tôi một khung trời văn hóa tư tưởng rất rộng lớn, nhưng tôi nhớ mãi câu thầy nói đại khái là:

“Kho kiến thức của nhân loại ngày nay vô cùng phong phú, nhiều tác phẩm giá trị mà thanh niên ta cần phải tiếp cận. Phải nhanh chóng chuyển thành tiếng Việt cho mọi người cùng tham khảo thì kiến thức mới sâu rộng. Đối với nước ta công việc dịch thuật là hết sức cần thiết hiện nay. Thanh niên ta không thể chỉ đọc những gì cha chú ta viết, mà thanh niên ta cần đọc càng nhiều những tác phẩm vĩ đại của nhiều người thuộc các nền văn minh khác viết…”.

Cuối khóa học, tôi vinh dự được lọt vào top ten, rồi ngày phát bằng, tôi lại được đích thân thầy Giàu trao bằng “Cao học Sử”. Làm viên chức Nhà nước cấp quận, ngoài công việc chuyên môn hàng ngày, tôi dành nhiều thời giờ cho sách vở, nhưng rất chung chung. Ngành khoa học lịch sử có đến hàng chục chuyên ngành, mênh mông lắm. Tôi nhớ mãi câu nói trên kia của thầy Giàu và hướng mình vào mũi nhọn dịch thuật. Thế là tôi tập trung trước hết cho chữ Nho, vì trước đây tôi được các thầy Nguyễn Đăng Thục, Trần Trọng San… đánh giá cao về Hán văn, môn này tôi đỗ Bình thứ, mà khóa học ấy chẳng có ai đỗ Bình hoặc Ưu cả. Tôi đã từng được thầy Nguyễn Đăng Thục giao cho dịch một số bài ngắn trong “Ẩm băng thất” của Vương Dương Minh khi tôi học năm thứ tư. Khi ấy thầy chê tôi dịch chưa đạt và giảng giải thêm các chỗ còn yếu. Tôi vẫn thường xuyên đọc sách chữ Nho, Liêu Trai, Nho lâm ngoại sử, Hồng lâu mộng, Tây sương ký… Tôi đã thử dịch trọn bộ “Nho lâm ngoại sử”, dịch dở dang “Liêu Trai chí dị” và một số tác phẩm khác, đều chỉ vì thích mà làm, gọi là cho vui, chứ chưa tính việc theo hẳn nghề dịch thuật, trong khi tôi vẫn an phận với công việc của một nhân viên Nhà nước cấp quận. Tôi vẫn tiếp tục theo chuyên ngành Dân tộc học mà tôi thích, bấy giờ mới có vài ba Phó Tiến sĩ, để rồi đến cuối năm 1995, tôi bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ. Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, Viện trưởng Viện Dân tộc học và Tôn giáo Việt Nam, giáo sư phụ trách phản biện I trong Hội đồng giám khảo chấm bài cho tôi, sau một tháng đọc luận án của tôi, giáo sư bảo riêng tôi:

“Cậu không nên tiếp tục làm việc hành chánh, mà nên chuyển hẳn qua nghiên cứu thì sẽ có ích hơn. Vì cậu rất phù hợp với nghiên cứu, tôi tin sau 10 năm nghiên cứu, cậu sẽ vượt tôi”.

Có lẽ thầy đọc trong luận án của tôi, bài dịch một chương chữ Nho trong Gia Định thành thông chí và bài dịch nguyên một tiểu luận tiếng Pháp của GS Nguyễn Văn Khoan, người Việt Nam lấy học vị Tiến sĩ Sorbonne đầu tiên từ những năm 1920, làm việc ở Viện Viễn Đông Bác cổ. GS Nguyễn Văn Khoan đã bỏ ra trên 10 năm nghiên cứu, viết 32 trang tiếng Pháp về Đình làng và tục lệ cổ của cư dân đồng bằng sông Hồng cực hay, mà chưa ai dịch ra tiếng Việt.

Lời động viên của thầy hết sức ấn tượng, nhưng tôi chưa cảm thấy tự tin lắm, vẫn công việc hành chánh và lan man với đủ loại sách Ta, Tàu, Tây, chưa thể tìm ra hướng đi mũi nhọn thích hợp cho mình.

Thế rồi, nửa cuối năm 2002, Giải thưởng Trần Văn Giàu ra đời, năm 2003 đi vào hoạt động. Giải thưởng do NNC Trần Bạch Đằng làm Chủ tịch, Ủy ban Giải thưởng gồm 7 thành viên. Các Ủy viên UB Giải thưởng Trần Văn Giàu đều là các học giả uy tín trong sử học và triết học, đều có công việc thường xuyên của riêng từng người. Họ đứng trong Ủy ban Giải thưởng TVG là được cụ Giàu và cụ Bạch Đằng mời kiêm nhiệm, vài ba tháng mới họp một lần. Thế là Giải thưởng cần có một nhân viên trực Văn phòng Giải thưởng. Các cụ cũng đã nhắm ít nhất là Thạc sĩ. Điều kiện ấy cũng không khó tìm người, nhưng một Tiến sĩ chịu ngồi suốt ngày suốt tuần, một mình một phòng để trực mà không có lương, chỉ có phụ cấp 500.000 đồng/tháng thì mới khó tìm.

Tiến sĩ, Đại tá Nguyễn Hữu Nguyên, Viện phó Viện Lịch sử quân sự, là người được các cụ nhắm tới trước, nhưng anh đang ôm cả núi công việc của tỉnh Long An, chiến trường mà anh gắn bó thời chống Mỹ. Anh Nguyên lớn hơn tôi 2 tuổi, là bạn đồng môn top ten Cao học Sử năm nào, anh nhắm tôi thay thế anh, anh giới thiệu tôi với Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu và đến thuyết phục tôi:

“Sơn vẫn thường nói là khâm phục cụ Giàu, nay làm lính cho cụ thì hợp quá rồi. Lại còn được làm việc với các vị trong Ủy ban Giải thưởng do cụ Bạch Đằng làm Chủ tịch thì còn gì thích hơn”.

Thế là từ năm 2003, tôi làm thư ký văn phòng của Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu, tức là từ khi Giải thưởng đi vào hoạt động cho đến nay đã hơn 8 năm. Hàng ngày tôi ngồi tại văn phòng Giải thưởng tiếp khách, đọc sách, tổ chức hội họp của các vị với nhau hoặc với khách. Tôi thích nhất là được tỉnh táo quan sát cung cách và phương pháp làm việc của các bậc cây đa cây đề trong sự nghiệp nghiên cứu mà bắt chước. Tôi đọc tất cả các tác phẩm gửi dự giải thưởng, toàn những sách có giá trị đã được đánh giá cao, thì người ta mới gửi tới dự giải.

Được gần gũi với những cây đại thụ trong làng văn hóa Nam bộ, thấy họ làm họ sống, tôi đã học được nhiều, tôi bắt đầu viết và dịch.

Vạn sự khởi đầu nan! Nhưng kiến tha lâu đầy tổ, mỗi ngày tôi lập chí ngồi vào máy khoảng 15 tiếng, đều đặn suốt 8 năm như thế, nên đến nay, tôi đã có trên 10 tác phẩm trình làng.

Điều mà tôi muốn nói ở đây, là ảnh hưởng hết sức lớn mang tính quyết định của cụ Giàu đối với tôi. Hàng ngày, tôi tiếp những vị lão thành đến hỏi thăm sức khỏe cụ Giàu. Tôi đọc thấy nơi các vị khách ấy sự chân tình, lòng yêu mến sâu nặng và tinh thần cảm phục đối với một người luôn luôn cao hơn mình một cái đầu về nhiều phương diện. Đó là những vị xưa kia làm việc dưới quyền cụ Giàu, là các thế hệ học trò cụ Giàu, thậm chí có những vị chỉ nghe đến danh tiếng cụ Giàu. Trong đó, có nhiều vị giữ cương vị cao, thậm chí rất cao trong hệ thống Đảng, chính quyền, Hội, Đoàn Trung ương và các tỉnh, thành từ Bắc chí Nam, đương chức hoặc đã về hưu. Tôi cũng bắt đầu đọc có hệ thống tủ sách khá phong phú của văn phòng Giải thưởng, mà trong đó có đầy đủ sách của cụ Giàu và của các nhà lãnh đạo, của nhiều học giả nổi tiếng viết về cụ Giàu. Bấy giờ tôi đã hơn 50 tuổi, càng đọc tôi càng thấy cụ Giàu lớn quá, làm được nhiều việc quá, chỉ tính riêng trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng.

Tôi bắt đầu lập chương trình cho mình và làm việc một cách cần cù. Khởi nghiệp bằng chữ Nho trước. Phải tìm các bản sách có ích cho văn hóa mà chưa ai dịch. Lúc này, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Nhuận, Phó Viện  trưởng Viện Hán Nôm, qua PGS. TS. Phan An, Viện Khoa học xã hội tại TP.HCM, biết tôi người Quảng Ngãi bảo tôi dịch “Học văn dư tập” của ông quan to kiêm nhà thơ, người đồng hương Trương Đăng Quế. Hòa thượng Thích Phước Sơn, Phó Viện trưởng Viện Phật học TP.HCM, Thượng tọa Thích Đồng Bổn, Ban Phật giáo Việt Nam khuyến khích tôi dịch “Đại Đường Tây vực ký” của thầy Đường Tăng Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh. Tôi nhận lời dịch, chỉ nhờ các sư phụ chỉ dạy thêm và chịu bỏ công nhuận sắc cho. Đến đầu năm 2007 thì hoàn thành bản dịch và nhuận sắc, 2 cuốn sách đã ra đời. Tôi tiếp tục dịch một số tác phẩm chữ Hán có tiếng của các tác giả Nho học nước ta mà chưa ai dịch. Tôi cũng tham gia dịch một số sách Phật học như “Đại bát Niết bàn kinh”…

Nhưng theo cụ Giàu, tôi đã không dừng lại ở việc dịch thuật chữ Hán. PGS. TS. Nguyễn Văn Lịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu, Chủ nhiệm bộ môn Việt Nam học, Đại học Khoa học và Nhân văn TP.HCM, kéo tôi vào kho sách Tây học hiện đại, thuộc chuyên ngành Dân tộc học của tôi. Các sách tiếng Anh, tiếng Pháp đang thịnh hành ở phương Tây mà Việt Nam rất cần nhưng chưa ai dịch. Tôi chủ biên và đồng dịch các tác phẩm “Anthropology: The study of man” (Nhân chủng học: Khoa học về con người), “Anthropological Theory” (Lý thuyết Nhân loại học) và tự mình dịch “Le Japon d Aujourd hui” (Nhật Bản ngày nay).

Những tác phẩm trên rất cần cho thanh niên ta tham khảo, nhưng nguyên tác đều dày cả ngàn trang, lượng tiêu thụ hạn hẹp, nên không thu hút các nhà dịch thuật. Mỗi cuốn sách ấy tôi phải làm hàng nhiều năm trời mới xong, mà thật ra chỉ với cung cách sinh hoạt nghiêm túc, môi trường hoạt động của Giải thưởng Trần Văn Giàu mới giúp tôi nhẫn nại và cầu tiến như thế.

Từ khi đọc một cách có hệ thống các tác phẩm của thầy Trần Văn Giàu và được gần gũi làm việc dưới sự chỉ dạy thân tình của các vị trong Ủy ban Giải thưởng mang tên cụ Giàu, tôi đã có được hướng đi rất rõ ràng cùng với phương pháp làm việc có hiệu quả. Đến nay, sau 8 năm cần cù trong sự ưu ái của các vị là cây đa cây đề, tôi đã có trên 10 đầu sách. Chính thầy Giàu đã mở lối đi cho tôi thật sáng sủa. Tôi mong muốn làm một trò nhỏ của thầy Giàu, dịch ra tiếng Việt các tác phẩm có ích cho văn hóa nước nhà, là thực hiện một chút gì đối với hoài bão vĩ đại của thầy Giàu. Năm nay, đã 62 tuổi, tôi sẽ theo suốt cuộc đời sự nghiệp mà thầy Giàu đã vạch ra cho tôi.

                                                                                                 Ngày 16-12-2010

                                                                       LÊ SƠN (LÊ SƠN PHƯƠNG NGỌC)

Đình thần Phú Long: Một di tích lịch sử- văn hóa cấp quốc gia


* TRẦN THANH ĐẠM

 Đình thần Phú Long cách chợ 500m về phía Tây Nam thị trấn Lái Thiêu, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Đình do cư dân người Việt đến lập nghiệp xây dựng từ năm 1825. Đây là ngôi đình cổ kính được trùng tu nhiều lần còn lại đẹp nhất của tỉnh Bình Dương.
Vào ngày 8-1-1853 (nhằm ngày 28-11 âm lịch, năm Tự Đức thứ 5), triều đình có sắc chỉ cho đình Phú Long, huyện Bình An (nay là huyện Thuận An) thờ thần “Bảo an chính trực” là thần hoàng có công giúp dân khai hoang lập ấp, an cư lạc nghiệp.
Đình tọa lạc trên khuôn viên rộng khoảng 1 ha, nằm sát sông, có rạch thông ra sông Sài Gòn, rất thuận tiện giao thông đến các vùng miền trong xứ.
Đình kiến trúc theo mô típ phương đông cổ là “trùng thềm điệp ốc”, có nhiều bậc tam cấp bước lên chính điện và nhiều nhà trải dài mỗi bề 40x50m. Mặt tiền cẩn vào bê tông bằng mảnh gốm, sức màu sắc lóng lánh.
Chẳng những cảnh quan thâm nghiêm thanh tịnh đầy ấn tượng mà đây còn là nơi ẩn trú, hội họp bí mật của những chiến sĩ cách mạng vùng Lái Thiêu từ mùa xuân Giáp Thân (1944) trong không khí rạo rực chuẩn bị tổng khởi nghĩa, đến suốt hai thời kỳ kháng chiến vừa qua. Phải chăng là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà lý thú của người thiết kế làm tăng vẻ uy nghi của đình và với con mắt tinh tường của các chiến sĩ ta đã biến nóc nhà kín của tòa chính điện thành nơi trú ẩn hoạt động đánh địch. Đó là một tấm đan bằng bê tông rộng khoảng hơn 2m chạy theo suốt chiều dài của tòa chính điện, vừa là máng xối, vừa là bệ nâng khối lớn trang trí gồm nhiều khung lớn nhỏ khác nhau về “lưỡng long tranh châu biểu trưng cho sự hòa hợp âm dương trời đất và con người. Mái ngói âm dương của tòa chính điện trải dài sát đến bệ trang trí. Ở 2 đầu hồi có 2 lỗ tròn và có nắp đậy che mưa nắng tạo thành một nóc nhà kín, người cúi lom khom đi lại trên đó được.
Mãi đến khi tôn tạo lại đình, sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ta đã tìm thấy trên nóc nào là cờ đỏ sao vàng cờ mặt trận, võng ni-lông, mũ cối, thuốc đỏ, bông băng. Theo cụ Tư Biết, 80 tuổi (còn sống) và các cụ Năm Hoặc, 89 tuổi; Năm Huệ, 85 tuổi (mới qua đời cách đây vài năm), nguyên là đoàn viên Thanh niên Tiền phong thời kỳ tiền khởi nghĩa và cơ sở mật trong kháng chiến đã từng ẩn náu ở đây, cho biết thêm. Hồi đó các chiến sĩ ta hàng ngày vẫn sống trong tình “quân dân cá nước”. Nhưng khi giặc vây ráp đã có đường thoát hiểm là lẩn vào vườn đình có cây cao bóng cả rậm rạp, rồi leo lên mái hậu đình, chui vào nóc nhà kín. Nhiễu lần ta phải ẩn náu trên đó một vài ngày, chờ cho chúng rút đi mới tụt xuống tiếp tục hoạt động. Còn nguồn thực phẩm đã có các cơ sở mật tiếp tế, được che giấu trong các vật hiến cúng, không bao giờ thiếu.
Thế là, nóc nhà kín đã che giấu cơ quan đầu não huyện Lái Thiêu từ thời tiền khởi nghĩa và trong kháng chiến để lãnh đạo đánh giặc. Nhưng quân thù thường, hùng hổ vây ráp đường thủy, đường bộ liên miên, vạch từng gốc cây ngọn cỏ trong vườn đình mà chúng vẫn như đui, như điếc.
Nhân dân làng Phú Long rất tự hào về truyền thống bảo mật, che giấu cán bộ của mình. Bà con còn rất khâm phục tinh thần gan dạ và cặp mắt tinh đời của chiến sĩ ta đã biết tìm nơi trú ẩn kín đáo, làm cho địch bị đánh bất ngờ. Bà con đã gọi các chiến sĩ ấy là những “Đại thánh” hiện về trên nóc đình Phú Long, như những “Tôn Ngộ Không” trong truyện Tây Du Ký bên Trung Quốc ngày xưa.
Đình thần Phú Long xứng đáng được Bộ Văn hóa- Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia ngày 22-12-2001.
T.T.Đ

Tìm hiểu nghệ thuật vẽ tranh trên kiếng và nghề tranh kiếng ở Bình Dương


VŨ TIẾN SƠN
Tranh kiếng là một loại hình nghệ thuật dân gian được dân Nam bộ nói chung và người dân Bình Dương nói riêng rất là ưa chuộng. Trước đây hầu như nhà nào cũng treo một vài bức tranh kiếng nơi bàn thờ, gian nhà chính phòng khách và ngay cả nơi cửa buồng nhà ở (Kiểu nhà ba gian, hai chái theo lối kiến trúc cổ xưa ở Nam bộ). Việc treo tranh kiếng ở trong nhà đã được cư dân Nam bộ cũng như người dân xứ Thủ – Bình Dương xem như đó là một nét đẹp văn hóa riêng rất độc đáo không thua kém gì  những loại hình tranh tượng khác.

Từ nghề vẽ tranh trên giấy, lụa, gỗ, các nghệ nhân nghề vẽ đã sáng tạo ra cách vẽ tranh trên kiếng. Dù kỹ thuật vẽ tranh kiếng có khó hơn, đòi hỏi người vẽ phải khéo léo và óc thẩm mỹ cao, nhất là lâu bền dễ bảo quản hơn, khi cần chỉ chùi tranh sẽ mới đẹp như vừa vẽ xong. Về kỹ thuật vẽ, tranh kiếng khác với các loại tranh vẽ thông thường là phải vẽ từ phía sau mặt kiếng vì khi vẽ xong hoàn thành tấm kiếng phải lật lại, phía không có nét vẽ mới chính là mặt chính của tranh. Vì thế khi vẽ các chi tiết đáng lẽ  phải vẽ sau cùng, ở tranh kiếng phải vẽ trước tiên. Chính với đặc điểm này đã tạo nên nét độc đáo của tranh kiếng, nó đòi hỏi sự khéo léo và tài năng của người nghệ nhân vẽ tranh trên kiếng. Khi nghề tranh kiếng hình thành lại gặp ngay sự thuận lợi nhờ sự sử dụng kiếng (thủy tinh) trở nên phổ biến, dễ tìm, dễ mua, các loại sơn màu sơn tốt kể cả sơn nước ngoài cũng không hiếm, vì thế “cùng với nghề mộc, nghề vẽ tranh kiếng cũng phát triển khá nhanh mãi đến trước năm 1945” (Sơn Nam).

Khi nói về nghề vẽ tranh kiếng truyền thống ở vùng đất Lái ThiêuThủ Dầu Một, nhà nghiên cứu văn hóa Sơn Nam đã cho biết: “Lái Thiêu, từ năm 1910 trở về sau, nghệ nhân người Việt đã phỏng theo kỹ thuật vẽ kiếng, lần hồi sáng tạo ra kiểu tranh thờ, định hình và phù hợp với cảnh quan của người Nam bộ, đặc biệt là người đi khẩn hoang ở đồng bằng. Hai câu liễn vẽ với màu tươi tắn, mỗi chữ Hán mang một trái đào, hoặc đóa hoa. Loại kèm theo hình con dơi ngậm trái tụi, chậu bông, con hạc… theo mô – típ của mỹ thuật Huế. Loại tranh đắt tiền thì dùng nước sơn đỏ làm nền, câu liễn gắn ốc xà cừ. Kiếng nhập cảng ở Sài Gòn giá không cao, màu vẹc ni xanh (Vernicobalt) khiến cho tranh thờ Lái Thiêu trở nên trang nghiêm, rực rỡ (…), ta gặp vài tấm tranh kiếng thờ xưa, nếu chùi kiếng, xem như mới, qua 70 năm” (Sơn Nam – 1991: Địạ chí Sông Bé, trong phần truyền thống Văn hóa, trang 345).

Nhà văn Sơn Nam còn cho biết thêm sự cải tiến tranh thời cổ theo phong cách Nam bộ trong tranh kiếng Lái Thiêu, Nghệ nhân ở lái Thiêu lại cải tiến tranh thờ tổ tiên, trước kia thờ chữ “Phước”, Chữ “Lộc”, hoặc tranh nhập từ huơng cảng với non cao, cây tùng và dòng suối. Tranh vẽ trên kiếng ra đời vui tươi hơn, có dòng sông chảy ra biển, cây phượng trổ hoa, ngôi nhà ngói. Vẫn là “cây cội nước nguồn” ở vùng văn minh sông nước phổ biến đến tận mũi cà mau…”. Ông cũng nói đến một cảnh sinh hoạt của nhóm thợ vẽ tranh kiếng tại Lái Thiêu: “Dọc theo bờ rạch Lái Thiêu, có dãy nhà chuyên vẽ kiếng, thợ chính vẽ mô hình, phụ nữ và trẻ con thì tô nước sơn sau đó thợ chính dặm lại lần chót cho hoàn chỉnh”. (Sđd trang 345).

Nghề vẽ tranh trên kiếng ở những năm đầu của thế kỷ 20, Nam bộ có 3 nơi sản xuất nhiều nhất và rất là nổi tiếng đó là : Lái Thiêu ( Thủ Dầu Một – Bình Dương), Chợ Lớn (Sài Gòn) và Chợ Mới (An Giang). Ba trung tâm này tạo thành 3 phong cách và đặc điểm riêng biệt. Mặt hàng nổi tiếng nhất của Lái Thiêu là tranh thờ tổ tiên và tranh cửa buồng Lái Thiêu đa dạng, có loại vẽ nhiều màu sắc nhưng cũng có loại chỉ vẽ màu xanh hoặc đỏ, các loại hoa văn thường cẩn ốc xà cừ. Đường nét của tranh vừa tỉ mỹ vừa cách điệu.

 Người thợ Lái Thiêu thường mạnh dạng dùng gam màu ngũ sắc Huế gồm các màu như: Trắng, hường, đỏ, đen, xanh dương, xanh  màu lông Két…Tùy từng loại sản phẩm mà người ta có thể  dùng mực Tàu, sơn Tây hoặc bột màu pha a dao…

Tranh kiếng ở đây rất được chú ý đến nội dung và hình thức chữ viết nên nhiều bộ tranh Lái thiêu đẹp và có ý nghĩa, tranh kiếng được treo trong nhà tạo nên nét đẹp mỹ thuật làm tôn lên vẻ đẹp sang trọng của ngôi nhà lúc bấy giờ. So với tranh kiếng của Chợ Mới (An Giang) và tranh kiếng Chợ Lớn (Sài Gòn), tranh kiếng Lái Thiêu đẹp hơn, tinh tế hơn. Đặc biệt người thợ Lái Thiêu chú ý nhiều đến thể loại tranh thờ tổ tiên, phù hợp với truyền thống thờ phụng và thị hiếu của người Việt Nam. Còn người thợ tranh kiếng Chợ Lớn thì họ thường chú trọng đến tranh Thánh Thần, tranh bài vị, cùng các hoành phi, liễn đối, tranh dùng để chúc mừng, xưng tụng thường phù hợp với tâm lý  của người Hoa.

Riêng tranh kiếng Chợ Mới (An Giang) ra đời muộn hơn, sản phẩm không được đẹp như tranh kiếng của Lái Thiêu, Chợ Lớn, nhưng nó lại có nhiều mẫu mã phong phú, đa dạng, giá thành lại rẻ hơn. Hiện nay, sản phẩm tranh kiếng Chợ Mới vẫn còn bán trên thị trường Miền Tây Nam Bộ, tuy không nhiều như xưa nhưng nó vẫn còn tồn tại.

Tranh kiếng có rất nhiều thể loại và khá phong phú như: tranh thờ Phật, Trời, Tổ Tiên ông bà, Cửu Huyền Thất Tổ…Riêng những tranh dùng để treo ở cửa buồng (Trang trí theo đặc điểm kiến trúc nhà ở Nam bộ), tranh phong cảnh, nhân vật, vật linh…Loại tranh thờ phật Trời, Tổ tiên thường treo ở bàn thờ Phật, bàn thờ ông bà, thường thể hiện các đề tài như: Bức tranh hoành phi, liễn đối, chung quanh trang trí viền bằng cây trúc, cây tùng minh họa, tranh viết chữ “Phước Lộc Thọ” trên nền đỏ, xung quanh vẽ khung hình dây lá hoặc hồi văn đôi khi có thêm con bướm hay con dơi ngậm trụ chỉ. Tất cả các chữ trên tranh đều được viết bằng chữ Hán. Ngoài ra loại tranh này còn vẽ một bụi mai già bên cạnh có cây trúc, bụi mai, bụi lan, cúc…tượng trưng cho vẻ đẹp cao khiết, thanh tao. Đề tài khác hắp dẫn hơn đối với những người bình dân như tranh vẽ phong cảnh, vẽ núi non, bầu trời…Tranh cao cấp thì có một tấm liễn vẽ một cành cây có 7 bông, xung quanh có lá, có nụ, phía trên có ghi chữ Hán, loại tranh này rất đắc tiền nên chỉ có những gia đình khá giả, giàu có mới có khả năng mua sắm loại tranh này về để trang trí.

Loại tranh thờ Phật Trời Thánh thần: có khổ nhỏ, dùng để thờ Phật, Thánh, Thần, Thổ Địa…gồm có 2 loại: Tranh vẽ các vị Phật Adi Đà, Quan Âm Bồ Tát, đức ông Quan Thánh Đế Quân, Mẹ Sanh – Mẹ Độ…các bài vị (loại này chỉ có chữ, xung quanh trang trí hoa văn) thường treo trong các chùa, đình miếu…

Loại tranh thờ ông bà tổ tiên: thường được treo ở bàn thờ tổ tiên, thờ phật…loại tranh này thường được thể hiện các đề tài như: các bức hoành phi, câu đối có chữ “Trần Phủ Đường” (ghi họ tên gia chủ), “Thiện tối lạc” (ca tụng tổ tiên), xung quanh trang trí dây lá, hồi văn hoặc trang trí viền cây trúc cây tùng minh họa. Tranh viết chữ “Phước” “Lộc” “Thọ” trên nền đỏ, xung quanh trang trí dây lá hoặc hồi văn, thỉnh thoảng có thêm con bướm hoặc con dơi ngậm trụ chỉ. Tất cả các chữ vẽ trên tranh đều được viết bằng chữ Hán.

Loại tranh treo cửa buồng: Đây là loại tranh sáng tác để trang trí theo kiến trúc đặc biệt của ngôi nhà ở Nam bộ. Trong gian nhà ngoài (phòng khách), bàn thờ được đặt chính diện với cửa chính, phía trước bàn thờ đặt một cái tủ lớn, một bộ bàn ghế tiếp khách, hai bên bàn thờ có hai lối đi vào trong (buồng) gọi là cửa buồng, thường treo tấm rèm hay tấm màn cửa, có hoa văn đẹp để che cửa, phía trên cửa treo tranh trang trí. Tranh kiếng cửa buồng thường có kích thước cỡ 0,9m X 0,6m. Tranh cửa buồng vẽ theo đề tài “Loan phượng hòa minh” (tượng trưng cho sự giàu có sang trọng).

Loại tranh tứ bình, phong cảnh, nhân vật và vật linh: Một tranh tứ bình gồm 4 tấm treo trên vách để trang trí. Ngoài cảnh trời mây, sông núi thường vẽ các đề tài phổ biến như “Mai Lan Liên (Sen) cúc” tượng trưng cho 4 mùa trong năm, “Bát Tiên quá hải” (Tám Tiên vượt biển), “Tứ hùng”(vẽ 4 con mãnh thú: Cọp, Báo, Sư tử…Ngoài ra cũng có tranh đề tài 4 bó hoa (loại hoa phương Tây) hoặc những đàn hạc lội ven sông…(loại tranh này mô phỏng như tranh ở phương tây) xuất hiện muộn hơn, thích hợp cho các nhà ở nơi thành thị, .

Tranh kiếng thường được sản xuất theo kiểu gia đình, các gia đình thường tập trung thành xóm nghề. Sản phẩm thường làm theo đơn đặt hàng hoặc tự bán cho lái buôn. Trong một xưởng vẽ tranh thường có năm bảy thợ, trong đó thường có một người giỏi tay nghề chỉ huy và am tường về kỹ thuật và phân công cho thợ chuyên môn, thợ phụ để hoàn chỉnh một bức tranh.

Tranh kiếng Lái Thiêu không chỉ được tiêu thụ rộng rãi ở khắp miền Nam, mà còn mở rộng ra các vùng lân cận như miền Trung và nước bạn Campuchia.

Trong khoảng thời gian khá dài tranh kiếng nói chung, đặc biệt là tranh kiếng Lái Thiêu của Bình Dương trước đây đã được phổ biến rộng rãi ở không chỉ trong các gia đình khá giả, quý tộc mà đến cả số cư dân nghèo ở nông thôn. Đây là nghề thủ công truyền thống đã giữ một vai trò khá quan trọng trong việc giải quyết đời sống kinh tế dân sinh của một bộ phận làm nghề và liên quan đến nghề vẽ tranh trên kiếng, vừa đáp ứng được nhu cầu văn hóa về thẩm mỹ trang trí nhà cửa cũng như nơi bàn thờ cúng tổ tiên của cư dân địa phương và các vùng lân cận. Tiếc thay hiện nay nghề thủ công truyền thống nói trên không còn phù hợp với thời đại  nữa. Nghệ thuật vẽ tranh trên kiếng chỉ còn lưu lại dấu vết trong các Đình Chùa, nhà cổ, hoặc ở một số xe bánh mì, xe hủ tiếu cổ của người Hoa. Rất nhiều người thật là núi tiếc và thậm chí họ còn mong ước sự phục hồi của nghề vẽ tranh kiếng cũng như vẻ đẹp của một bức tranh kiếng được trang trí làm tô điểm thêm cho ngôi nhà.Việt.

Có thể nói nhu cầu về văn hóa là rất cần thiết, nhưng cách thể hiện và đáp ứng ấy thường thay đổi theo thực tiễn của cuộc sống và thị hiếu thẩm mỹ của xã hội, thực tế với từng thời điểm của cuộc sống xã hội mà phù hợp. tranh kiếng cũng không nằm ngoại lệ những trường hợp như thế. Nay nghề thủ công truyền thống này không còn tồn tại nữa mà nó đã đi dần vào trong sự mai một lãng quên. Lý do thì có nhiều đấy nhưng nguyên nhân chủ yếu có lẽ là do chiến tranh, nhất là sau 1945 phần lớn là do nhà cửa ở vùng nông thôn đều bị hủy hoại. Mặt khác, thị hiếu về tranh thờ, tranh trang trí của nhân dân có nhiều thay đổi, trong khi các loại tranh vẽ, ảnh chụp truyền thần, chân dung phong cảnh ngày càng tiến bộ hơn, mang lại cho người tiêu dùng nhiều lựa chọn hơn. Tranh kiếng có vẻ như bị lạc hậu với thời đại nên không được người tiêu dùng ưa chuộng và sử dụng. thiết nghĩ để phục hồi lại nghề thủ công truyền thống này, nên chăng cần có sự cải tiến và đổi mới gì đó thì chắc sẽ có cơ hội để đi vào đời sống văn hóa cũng như thị hiếu thẩm mỹ của người tiêu dùng mà thôi./.

 

 

                                                                                                                                 V.T.S

                                                                                                          (Sở NN & PTNT tỉnh Bình Dương)

 


                                                                                                                                   

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

 

1/ Địa chí Sông Bé . Nxb tổng hợp Sông Bé – 1990.

2/ Tạp san Khoa học Lịch sử Bình Dương số 02 – 2006.

3/ Làng nghề Bình Dương. Nxb trẻ Tp. Hồ Chí Minh. Hội Văn học nghệ thuật Bình Dương– 2008.

 

http://www.sugia.vn

Thầy – Võ Sư Hồ Văn Tường


Hồ Tường

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Võ sư Hồ Tường (bên trái) cùng một môn sinh người Italia.

Hồ Tường, tên thật là Hồ Văn Tường, là một võ sư môn phái võ thuật cổ truyền Tân Khánh Bà Trà Việt Nam.

Mục lục

Tiểu sử và sự nghiệp

Hồ Tường, sinh năm 1954 tại ấp Khánh Thạnh, xã Tân Phước Khánh, quận Châu Thành, tỉnh Thủ Dầu Một (nay là khu phố Khánh Thạnh, thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), là con út trong số ba người con của lão võ sư Hồ Văn Lành (tức Từ Thiện).

Hồ Tường từng học võ phái Tân Khánh Bà Trà trực tiếp từ cha và từ võ sư Hồ Văn Thạch (một võ sư lớp sau đồng môn với võ sư Hồ Văn Lành) từ những năm bốn, năm tuổi. Lớn lên, ông được sống gần cha ở Sài Gòn, vừa học văn hóa, vừa tiếp tục rèn luyện võ thuật. Từ những năm 19651966 trở đi, ông bắt đầu giúp cha trong việc huấn luyện võ thuật, lúc đầu là võ sinh ở lứa tuổi thiếu niên và sau là võ sinh ở lứa tuổi thanh niên.

Năm 1972, ông được Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam cấp giấy chứng nhận là huấn luyện viên. Từ đó, huấn luyện viên Hồ Tường đã tích cực lao vào công tác huấn luyện cùng với cha là võ sư Từ Thiện Hồ Văn Lành để đào tạo nên nhiều võ sĩ hơn và trong đó có những nhà vô địch cho danh hiệu võ đường Từ Thiện và môn phái Tân Khánh Bà Trà nói riêng và võ thuật Việt Nam nói chung. Do ở lứa tuổi thanh niên, nên những năm trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông dành thời gian nhiều hơn vào việc học văn hóa từ các trường phổ thông lên đến trường Đại học Văn khoa Sài Gòn, để tránh trường hợp bị bắt đi lính cho quân đội Sài Gòn.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, võ thuật chưa được hoạt động, võ sư Hồ Tường là người đầu tiên viết bài góp ý trên báo Sài Gòn Giải Phóng (cơ quan ngôn luận của Thành Ủy Thánh phố Hồ Chí Minh) về việc nên khôi phục lại hoạt động võ thuật cổ truyền Việt Nam, vừa đáp ứng nhu cầu tập luyện của thanh niên thời bấy giờ, vừa khôi phục truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam. Dĩ nhiên do nhiều lý do mà võ thuật đã được hoạt động trở lại, nhưng rõ ràng võ sư Hồ Tường là người đầu tiên đã gíong lên tiếng chuông trong vấn đề này. Năm 1979, khi lớp Võ dân tộc được khai giảng tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quận 1 (143, đường Nguyễn Du), Hồ Tường trực tiếp tham gia huấn luyện cùng với các võ sư: Đặng Văn Anh (Kim Kê), Nguyễn Hữu Tiết và Quách Văn Phước. Chính trong thời gian này, Hồ Tường đã dành cả tháng trời để hằng ngày đến tận quận 5 (trong một hãng chế biến nước tương bị chủ bỏ chạy sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trên đường Châu Văn Liêm) với mục đích hướng dẫn cho võ sư Đặng Văn Anh bài Tứ linh đao do chính ông sáng tạo vào năm 1979 và bài đao này đã được Hồ Văn Lành giới thiệu vào chương trình huấn luyện thống nhất ở lớp Võ dân tộc quận 1. Bù lại, võ sư Kim Kê hướng dẫn lại cho Hồ Tường bài Mai hoa quyền (bài quyền duy nhất của võ sư Tây Sơn Nhạn Bùi Công Hóa truyền lại cho Kim Kê) [1]

Sau đó, cũng trong năm 1979, Hồ Tường mở lớp võ Tân Khánh Bà Trà tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao quận 3 (số 2, đường Hồ Xuân Hương). Đến năm 1981, ông mở lớp Võ lâm Tân Khánh Bà Trà tại Nhà văn hóa Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh (số 4, đường Phạm Ngọc Thạch, quận 1)[3]

Song song với việc truyền bá môn võ Tân Khánh Bà Trà – một bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, Hồ Tường còn tham gia nhiều công trình nghiên cứu văn hóa, xuất bản một số sách về di sản văn hóa. Với những thành tựu đó, ngày 10 tháng 3 năm 2000, Hồ Tường được nhà nước Việt Nam trao tặng “Huy Chương Vì Sự Nghiệp Bảo Tồn Di Sản Văn Hóa”.

Trên con đường nối tiếp sự nghiệp truyền bá võ thuật Tân Khánh Bà Trà của Hồ Văn Lành, đến năm 2007, Hồ Tường đã đào tạo hàng vạn lớp môn sinh và nhiều võ sư đang hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh, như: Phan Văn Trung (Trung Tâm Văn Hóa quận 1), Nguyễn Hồng Đỏ (Trung Tâm Thể Dục Thể Thao huyện Nhà Bè), Bùi Thị Tuyết Nhung (Trung tâm Thể dục Thể thao quận 4), Thiều Ngọc Sơn (Trung Tâm Thể dục Thể thao quận Gò Vấp), Dương Mỹ Phương (Trung tâm Văn hóa quận 5), Phạm Thị Mộng Thuỷ (Nhà Văn hóa Thanh niên) và Đặng Văn Vạn (Trung tâm Thể dục Thể thao huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương). Trên lãnh vực võ thuật, Hồ Tường từng nhận được nhiều bằng khen của Thành ĐoànTrung ương Đoàn [6] . Ngoài ra, trong các môn sinh đó còn có một số môn sinh là người ngoại quốc đến từ các nước: Hoa Kỳ, Australia, Pháp, Ý, Thụy Sĩ, Đức…[7] Hồ Tường cũng đã từng được Sở Thể Dục Thể Thao tỉnh Bình Dương mời tham gia đề án “khôi phục và phát triển môn võ Tân Khánh Bà Trà” từ năm 2005.Năm 1989, Hồ Tường xây dựng đội cờ người tại Nhà Văn hóa Thanh niên và là người đầu tiên tại Việt Nam giới thiệu loại hình cờ người sử dụng võ thuật trong khi thi đấu[8] . Đội Cờ Người của môn phái Tân Khánh Bà Trà biểu diễn khắp nơi: thành phố Hồ Chí Minh[9] , Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, Đồng Tháp, Thừa Thiên Huế… Từ Đội cờ người của Nhà Văn hóa Thanh niên, Hồ Tường đã tạo thêm nhiều Đội cờ người khác tại thành phố Hồ Chí Minh do các huấn luyện viên của Hồ Tường phụ trách, như: Đội cờ người Trung Tâm Văn Hóa quận 1 (Phan Văn Trung phụ trách), Đội cờ người Trung tâm Thể dục Thể thao Nhà Bè (Nguyễn Hồng Đỏ phụ trách), Đội cờ người 2 Trung Tâm Văn Hóa quận 1 (Trương Tấn Đạt phụ trách).

Trong quá trình giảng dạy võ thuật tại Nhà Văn Hóa Thanh Niên, Hồ Tường còn có sáng kiến mở lớp dạy võ thuật miễn phí cho các sinh viên hằng năm vào các tháng 10, 11 và 12, nhằm tạo một sân chơi hữu ích cho sinh viên. Chương trình “lớp võ miễn phí” của Hồ Tường bắt đầu từ năm 1995, đến năm 2007, đã huấn luyện cho khoảng 3600 lượt sinh viên. Có thể nói rằng Hồ Tường là người dạy võ miễn phí nhiều nhất và lâu nhất tại Việt Nam. Phát huy thành quả đã đạt được, bắt đầu từ mùa hè năm 2008, võ sư Hồ Tường đã bắt đầu mở lớp dạy võ miễn phí cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 12. Ngày 4 tháng 1 năm 2009, Trung Tâm Sách Kỷ Lục Việt Nam (Vietnam records book center) đã xác lập kỷ lục đối với “Võ sư Hồ Tường, người dạy võ miễn phí cho sinh viên lâu năm nhất Việt Nam” [1].

Ngày 6 tháng 6 năm 2007, Hồ Tường được mời tham gia Ban Nghiên cứu Võ học Việt Nam của Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam để có thể góp phần vào công cuộc khôi phục và phát huy truyền thống võ thuật Việt Nam.

Hồ Tường và bài Tứ Linh Đao

Bài Tứ linh đao do Hồ Tường sáng tạo, được võ sư Kim Kê giới thiệu tại Hội nghị chuyên môn toàn quốc lần 1, do Liên đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam tổ chức năm 1993 tại Thành phố Hồ Chí Minh, và đã được chọn là một trong những bài quốc võ nhằm đưa bài vào bảo tồn, giới thiệu và tập luyện trong các võ đường võ cổ truyền Việt Nam toàn quốc. Sau Hội nghị này, bài Tứ Linh Đao được phổ biến ra toàn quốc và ra cả nước ngoài. Bài Tứ Linh Đao của võ sư Hồ Tường đã được dịch ra tiếng Pháp [10]để có thể phổ biến rộng rãi tại Pháp.

Tác phẩm

Võ thuật

Hồ Tường đã từng xuất bản trên 10 đầu sách viết về võ thuật và hàng trăm bài viết khác trên Sổ tay Võ thuật với nhiều bút danh khác nhau: Hồ Tường, Nguyễn Võ, Võ Lê, Thượng Võ, Hiếu Võ, Thúy Vinh, Diễm Hằng v.v., đáng chú ý có những cuốn:

  1. Võ thuật phái Võ Tân Khánh
  2. Kỹ thuật Côn Nhị Khúc Nunchaku (căn bản)
  3. Kỹ thuật Côn Nhị Khúc (nâng cao)
  4. Tự luyện Công phá Thiếu Lâm Tự
  5. Điểm huyệt giải huyệt Thiếu Lâm Tự
  6. Thiếu Lâm Mai hoa tiên
  7. Bí quyết tự vệ trong đời sống
  8. Cẩm nang tự vệ của bạn gái
  9. Thiếu Lâm Cầm Nã Thủ
  10. 72 thế chiến đấu Thiếu Lâm Tự
  11. Thiếu Lâm Vĩnh Xuân Quyền – Lý Tiểu Long
  12. Kỹ thuật Đoản côn Thiếu Lâm Tự
  13. Trật đả cốt khoa.
  14. Thế chiến đấu môn phái Thiếu Lâm Vịnh Xuân
  15. Đời người, nghiệp võ (viết chung)
  16. Làng võ Sài Gòn – thành phố Hồ Chí Minh” (viết chung)
  17. Tìm hiểu võ thuật Việt Nam (2010)

Văn hóa

  1. Đình Nam Bộ, tín ngưỡng và nghi lễ, Huỳnh Ngọc Trảng, Trương Ngọc Tường, Hồ Tường, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
  2. Văn hóa Văn Lang, (viết chung nhiều tác giả), NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, 1996.
  3. Tục lệ thờ Hai Bà Trưng và Liễu Hạnh Thánh Mẫu, Hồ Tường, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 1992.
  4. Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh, Hồ Tường (chủ biên), Nguyễn Huy Cường, NXB Trẻ, 2004
  5. Đình ở thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Tường (chủ biên), Nguyễn Hữu Thế, NXB Trẻ, 2005
  6. Nhà thờ Công giáo ở thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Tường (chủ biên), Lê Đình Tấn, Ngô Hỷ, NXB Trẻ, 2007
  7. Nghi lễ vòng đời người , Lê Trung Vũ (chủ biên), Nguyễn Hồng Dương, Lê Hồng Lý, Lưu Kiếm Thanh, Hồ Tường, NXB Trẻ, 2007

Chú thích

  1. ^ Có một lớp võ SV miễn phí hơn 10 nămdo thầy – võ sư Hồ Văn Tường trực tiếp đứng lớp. Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ

Liên kết ngoài

Theo :  Bách khoa toàn thư mở Wikipedia 
———————————————————————————–

Hồ Tường và trăn trở nghiệp võ!

Tống Phương – Đức Thuận
Gặp Võ sư Hồ Tường trong một chiều mưa tầm tã, một góc vắng tầng 1 Nhà Văn hóa Thanh Niên, mấy chiếc ghế nhựa quây lại, chúng tôi được đón tiếp bằng tất cả lòng chân thành và sự chia sẻ. Vị võ sư mà chúng tôi được biết tới với 45 năm gìn giữ và truyền dạy võ Tân Khánh- Bà Trà, 15 năm dạy võ miến phí cho sinh viên thật bình dị. Ông 56 tuổi, nước ra rám nắng, thân hình gọn chắc, mái tóc muối tiêu, cặp mắt với những nỗi niềm trăn trở…Nụ cười của ông như xóa đi sự căng thẳng và bỡ ngỡ ban đầu. Ông bước vào cuộc đời và nghiệp võ của mình bằng một chất giọng trầm trầm, một chất điệu miền Đông, một phong thái ung dung của con người vùng Tân Khánh.Sinh ra tại Khánh Thạnh-Tân Phước Khánh, võ sư Hồ Tường từng học võ phái Tân Khánh -Bà Trà trực tiếp từ người cha và từ võ sư Hồ Văn Thạch từ rất nhỏ. Lớn lên, ông được sống với cha ở Sài Gòn, vừa học văn hóa, vừa tiếp tục rèn luyện võ thuật. Từ những năm 19651966 trở đi, ông bắt đầu giúp cha trong việc huấn luyện võ thuật, lúc đầu là võ sinh ở lứa tuổi thiếu niên và sau là võ sinh ở lứa tuổi thanh niên. Năm 1972, ông được Tổng cuộc Quyền thuật Việt Namcấp giấy chứng nhận là huấn luyện viên. Từ đó, huấn luyện viên Hồ Tường đã tích cực lao vào công tác huấn luyện cùng với cha là võ sư Từ Thiện Hồ Văn Lành để đào tạo nên nhiều võ sĩ có tên tuổi trong giới võ thuật. Võ sư Hồ Tường là người đầu tiên viết bài góp ý trên báo Sài Gòn Giải Phóng về việc nên khôi phục lại hoạt động võ thuật cổ truyền Việt Nam, vừa đáp ứng nhu cầu tập luyện của thanh niên thời bấy giờ, vừa khôi phục truyền thống hào hùng, thượng võ của dân tộc Việt.Rõ ràng võ sư Hồ Tường ý thức rất rõ vấn đề gìn giữ và phát huy nền võ học nước nhà. Ngay sau khi võ thuật được chính thức hoạt động trở lại (1975), Võ sư Hồ Tường đã lặn lội khắp nơi truyền bá võ nghệ và thành lập các câu lạc bộ võ thuật. Năm 1979, khi lớp Võ dân tộc được khai giảng tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quận 1 (143, đường Nguyễn Du), Hồ Tường trực tiếp tham gia huấn luyện cùng với các võ sư: Đặng Văn Anh(Kim Kê), Nguyễn Hữu Tiết và Quách Văn Phước. Sau đó, cũng trong năm 1979, Hồ Tường mở lớp võ Tân Khánh- Bà Trà tại Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Quận 3 (số 2, đường Hồ Xuân Hương). Đến năm 1981, ông mở lớp Võ lâm Tân Khánh -Bà Trà tại Nhà văn hóa Thanh niên thành phố Hồ Chí Minh (số 4, đường Phạm Ngọc Thạch, Quận 1).Trên con đường nối tiếp sự nghiệp truyền bá võ thuật Tân Khánh -Bà Trà của Hồ Văn Lành, đến năm 2007, Hồ Tường đã đào tạo hàng ngìn môn sinh và nhiều võ sư đang hoạt động tại thành phố Hồ Chí Minh, như: Phan Văn Trung (Trung Tâm Văn Hóa Quận 1), Nguyễn Hồng Đỏ (Trung Tâm Thể Dục Thể Thao huyện Nhà Bè), Bùi Thị Tuyết Nhung (Trung tâm Thể dục Thể thao Quận 4), Thiều Ngọc Sơn (Trung Tâm Thể dục Thể thao Quận Gò Vấp), Dương Mỹ Phương (Trung tâm Văn hóa Quận 5), Phạm Thị Mộng Thuỷ (Nhà Văn hóa Thanh niên) và Đặng Văn Vạn (Trung tâm Thể dục Thể thao huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương)…Gần 60 năm tuổi đời và cũng như ngần ấy thời gian ông gắn bó với nghiệp võ, ông vẫn miệt mài truyền dạy, đúc kết và không ngừng khổ luyện. Tiếng tăm của phái võ Tân Khánh- Bà Trà gắn liền với tên tuổi của ông. Nói ông rất thành công với việc phát triển võ Tân Khánh – Bà Trà cũng không lấy gì làm ngoa khi nhìn vào lượng môn sinh, lượng câu lạc bộ đang được phát triển rộng khắp. Ông cũng được tặng thưởng nhiều huy chương, bằng khen về công tác bảo tồn văn hóa. Tuy nhiên, cho đến nay vị Võ sư này vẫn đau đáu nghĩ về nền võ học của dân tộc, nghĩ về tương lai của phái Tân Khánh – Bà Trà. Ông luôn trăn trở: “làm thế nào để võ cổ truyền dân tộc được nhiều người biết đến, nhiều người luyện tập hơn”, và “làm sao để khôi phục môn phái Tân Khánh- Bà Trà ngay chính tại mảnh đất đã từng khai sinh ra nó- Vùng Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn”.

Có lẽ ai cũng biết niềm trăn trở thứ nhất của Võ sư Hồ Tường về việc phát triển võ phái Tân Khánh- Bà Trà đã được ông cống hiến gần như trọn cả cuộc đời. Kế thừa những bí kíp võ học của người cha-Võ sư Hồ Lành, võ sư Hồ Tường hầu như cũng được kế thừa trách nhiệm phát triển môn phái, trách nhiệm gìn giữ và truyền lửa cho các thế hệ môn sinh đi sau. Ông muốn võ phái của mình được nhiều người biết đến hơn, chính vì thế võ sư Hồ Tường luôn vượt qua những khó khăn do hoàn cảnh lúc bấy giờ đem lại. Ông đạp xe đạp từ quận 1 sang quận 5, sang Nhà Bè, Gò Vấp, đạp về Thủ Dầu Một – Bình Dương…hễ nơi nào có thể gieo nên những hạt mầm võ thuật là ông không tiếc công sức, không ngại gian khổ.

Hiện tại, 6 buổi /tuần ông vẫn đều đặn chạy xe máy từ Gò Vấp sang Nhà Văn hóa Thanh Niên, Quận 1 để cùng các môn sinh luyện tập, không kể nắng mưa, vất vả. Có mặt tại sân tập của CLB võ thuật Tân Khánh – Bà Trà, Nhà văn hóa Thanh Niên Quận 1 mới thấy được tầm quan trọng của ông như thế nào. Công việc giảng dạy phần lớn là do các huấn luyện viên đạm nhiệm. Song, ông vẫn luôn có mặt trên sân tập: sửa cho môn sinh những động tác, thế tấn, động viên sự khổ luyện của từng người. Sự có mặt của ông luôn là niềm khích lệ tinh thần, động lực cho các môn sinh hăng say tập luyện. 29 năm ông mở CLB võ thuật tại Nhà văn hóa Thanh niên có rất nhiều người theo học. Trong đó không ít những môn đồ không đủ kiên nhẫn vượt qua nổi khó khăn, thử thách. Tuy nhiên cũng không thiếu những tấm gương miệt mài cùng ông luyện tập. Họ là niềm tự hào, niềm hạnh phúc, thành quả ngọt ngào báo đáp công lao truyền dạy của ông.

Thật bất ngờ khi chúng tôi chứng kiến cảnh một nhóm người Pháp khi nghe danh môn phái Tân Khánh – Bà Trà đã lặn lội sang tận Việt Nam, tìm cho được ông. Họ giành khoảng thời gian ít ỏi của mình để theo học và luyện tập, và cũng không ít môn sinh ở nước ngoài một vài năm lại trở lại Việt Nam một lần để tiếp tục theo học. Chúng tôi cũng được chứng kiến cảnh 4 võ sinh người Pháp, sang tham gia Liên hoan võ thuật dân tộc cổ truyền Việt Nam 2010 diễn ra tại Bình Định, họ xuống máy bay, vội vàng tới nhà Văn hóa Thanh niên, gặp –thăm hỏi võ sư Hồ Tường, tặng võ sư chai rượu vang mang từ Pháp, xin võ sư để cùng mọi người luyện tập một lúc rồi lại vội vã ra sân bay để đi Bình Định ngay trong đêm.

Những tình cảm mà mọi người dành cho ông cũng như dành cho môn phái như tiếp thêm sức mạnh để võ sư bền bỉ truyền giảng. 15 năm dạy võ miễn phí cho sinh viên, học sinh là một quãng thời gian dài kỷ lục mà khó có ai có thể bắt kịp. Ông muốn tạo cho học sinh, sinh viên một sân chơi vui khỏe, một khả năng tự vệ cần thiết và đó cũng được xem như một lời giới thiệu trực quan, sinh động, một sự lựa chọn thú vị cho thanh, thiếu niên khi tham gia các hoạt động tại đây.

Theo ông, dân tộc Việt Nam có tinh thần thượng võ rất cao. Tuy nhiên, để người dân tiếp cận được với võ thuật dân tộc thì không phải là vấn đề đơn giản. Bởi vì nền võ thuật Việt Nam chưa có được sự quảng bá rộng rãi trong quần chúng, mặt khác những dòng phái võ thuật nước ngoài xâm nhập vào nước ta những năm gần đây rất mạnh mẽ. Người dân đa phần chỉ biết tới karatedo, pencasilat, judo, whusu…. Cũng có một bộ phận muốn theo học võ dân tộc, song tại địa phương họ khó có thể tìm thấy một địa điểm học thích hợp.

Khoảng gần một thập kỷ gần đây, Vovinam đã rất thành công trong việc quảng bá và vận động để có mặt trong các kỳ đại hội thể thao- võ thuật mang tầm cỡ khu vực. Vovinam đã thực sự thành công khi tạo được tiếng vang, ấn tượng sâu sắc trong lòng người dân Việt. Tuy nhiên, việc muốn phát triển Vovinam thành quốc võ hay đem Vovinam vào giảng dạy trong nhà trường lại là vấn đề chưa thực sự thấu đáo, đặc biệt là xét đến lịch sử hình thành và vai trò của dòng phái trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt.

Với võ sư Hồ Tường, cách quảng bá của ông thật đặc biệt. 15 năm ròng đều đặn mở lớp học miễn phí cho học sinh- sinh viên. Ông không chỉ muốn mọi người biết đến tên môn phái của minh mà điều quan trọng hơn ông muốn ai cũng có cơ hội theo học. Nhiều học trò tâm huyết theo ông suốt gần 30 năm trời để cùng ông khổ luyện, họ đã trở thành những vận động viên, huấn luyện viên có tiếng trong làng võ thuật cổ truyền Việt Nam, song họ vẫn trở về bên ông, giúp sức thầy chỉ dạy cho lớp hậu bối. Ông xem đó là phần thưởng xứng đáng bù đắp những công sức và tâm nguyện của ông.

Trăn trở sau cuối của võ sư Hồ Tường là làm thế nào để võ Tân Khánh – Bà Trà về được với vùng Tân Phước Khánh, cái nôi đã sinh thành ra nó. Có thể nói đây là tâm huyết của rất nhiều người đi trước, trong đó có cố võ sư Hồ Văn Lành, người đã rất thành công khi phát triển võ Tân Khánh- Bà Trà ra ngoài khu vực Tân Uyên nhưng lại chịu thất bại khi muốn đem võ về chốn cũ. Không ai ngờ rằng vùng đất Tân Uyên quả cảm, nơi tạo nên môn võ lừng danh Tân Khánh hiện tại lại không còn người dạy võ. Người biết võ thì đếm được trên đầu ngòn tay, song lại đang ở vào độ tuổi 70-80, khả năng mở lớp truyền dạy võ nghệ là rất ít.

Niềm trăn trở của võ sư Hồ Tường, mà nói đúng hơn là của người cha Hồ Lành truyền lại đã không ngừng thôi thúc ông. Đã có giai đoạn ông chạy xe từ Thành phố về Thủ Dầu Một dạy võ, ông cũng là người đầu tiên dựng võ đài ở vùng Tân Uyên, đem võ sỹ về thi đấu và biểu diễn 3 đêm liền. Bà con trong vùng đặc biệt tán thưởng. Tuy nhiên, việc mở lại các tụ điểm dạy và luyện võ tại đây vẫn chưa thể thực hiện.

Theo võ sư Hồ Tường có 3 nguyên nhân dẫn đến tình trạng này đó là:

-Thứ nhất: Các cấp chính quyền chưa có hành động cụ thể nào hỗ trợ việc khôi phục và phát huy môn võ truyền thống này. Hiện tại, dự án bảo tồn và phát huy võ Tân Khánh- Bà Trà đang được triển khai thực hiện. Song, nhìn nhận một cách xác thực thì tính khả thi và kết quả thực tế của các dự án bảo tồn đang còn rất hạn chế. Thật ra, việc thành lập một vài câu lạc bộ để truyền dạy không phải là vấn đề quá phức tạp. Nhưng làm sao để võ Tân Khánh có thể “sống” và phát triển vững chắc mới là mục đích lâu dài, mục đích mà chúng ta cần hướng tới.

Thứ hai: Tính biệt lập, gia truyền ảnh hưởng không nhỏ đến việc phổ biến và truyền dạy. Thế kỷ XIX, XX hầu hết người dân Tân Khánh ít nhiều đều biết chút ít võ nghệ, với một số người võ nghệ còn là một phương tiện mưu sinh như các nhóm bảo an hàng hóa đường bộ, đường thủy. Thời Pháp thuộc, việc học và dạy võ bị cấm do Pháp lo sợ những cuộc nổi dậy của dân chúng được trang bị võ nghệ sẽ gây ra những hậu quả khôn lường, người biết võ được chú ý đặc biệt. Chính từ hệ lụy này việc luyện tập và truyền dạy bị hạn chế rất nhiều. Những người biết võ thường chỉ truyền dạy cho con cháu trong gia đình, hiếm có trường hợp nhận dạy người ngoài cho dù sau này võ thuật sau này được tự do hoạt động. Lối truyền dạy như vậy đã làm cho môn võ Tân Khánh ngày càng đi vào ngõ cụt. Những đòn thế, bài bản võ học bị thất truyền, đặc biệt là khi các cao thủ võ học khuất núi.

Thư ba: Thiếu một lớp môn sinh tiên phong, xung kích. Võ sư Hồ Tường hiện tại đã khá cao tuổi, lại định cư tại Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc trở về Bình Dương lập câu lạc bộ và dạy võ chỉ là phương án tình thế. Điều tiên quyết là phải đào tạo được một lớp môn sinh Bình Dương, sau đó từ những hạt nhân này mới từ từ nhân rộng. Tuy nhiên, hơn 1 nghìn môn sinh của thầy Tường chủ yếu là người thành phố. Anh Đặng Văn Vạn là môn sinh hiếm hoi người Bình Dương, hiện tại anh đã thành lập Câu lạc bộ võ thuật Tân Khánh- Bà Trà tại Trung tâm văn hóa Thuận An, chắc chắn rằng đây sẽ là một trong những nhân tố quan trọng trong công cuộc khôi phục và phát huy võ phái Tân Khanh- Bà Trà trong thời gian sắp tới…

Chúng tôi tạm biệt võ sư Hồ Tường mà lòng vẫn đau đáu suy nghĩ về những tâm nguyện của ông, những tâm nguyện thốt lên từ sự mong mỏi của cả vùng Tân Phước Khánh. Dẫu biết rằng những ước nguyện của một đời người không phải ai cũng được toại nguyện. Song, chúng tôi vẫn hy vọng rằng Võ Tân Khánh – Bà Trà sẽ nhận được nhiều sự chia sẻ và đón nhận, những trăn trở của ông sớm trở thành hiện thực…/…

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn võ sư Hồ Tường, các anh chị trong CLB võ Tân Khánh- Bà Trà Nhà văn hóa Thanh niên đã dành nhiều thời gian tâm sự, chia sẻ. Chúc võ sư Hồ Tường và các anh chị thật nhiều sức khỏe để thực hiện ước mơ cao cả của mình.

Dĩ An, ngày 23 tháng 9

Tống Thị Phương

-Giáo viên Lịch sử- Trường THPT Dĩ An – Bình Dương

-Tel:         0164.6414.271

-Email:   tongphuong511@gmail.com

Trần Đức Thuận

-Phòng Di sản văn hóa – Bảo tàng Bình Dương

-Tel:          0977.328.132

-Email:    diepvientran@gmail.cm

————————————————————————————

Có một lớp võ SV miễn phí hơn 10 năm

Chỉ trừ tối thứ 7, còn lại tất cả các buổi tối từ thứ hai cho đến chủ nhật, cứ 19 giờ là sân 4A Nhà văn hoá Thanh niên TP.HCM nhộn nhịp không khí luyện tập của các lớp võ thuật.Có một lớp võ rất đặc biệt đã gắn bó với sân 4A NVHTN trong suốt nhiều năm nay, đó là lớp võ miễn phí dành cho các bạn trẻ (lớp kéo dài 3 tháng mỗi năm, từ tháng 10 đến tháng 12 hằng năm) do thầy – võ sư Hồ Văn Tường trực tiếp đứng lớp.

Gắn bó gần 30 năm với NVHTN, từ khi còn là một thanh niên, thầy – võ sư Hồ Văn Tường hiện nay đã có 24 năm đứng lớp võ dành cho các bạn trẻ yêu thích bộ môn Thiếu lâm võ lâm. Thầy nói: “Khoảng năm 1995, trong điều kiện sân bãi còn chưa được chỉnh trang như bây giờ, tôi đã nghĩ đến chuyện mở lớp võ miễn phí cho các bạn SV. Mục đích duy nhất mà tôi hướng đến và duy trì là giúp cho các bạn có một sân chơi võ thuật để rèn luyện thân thể”.

Nhưng khó khăn không phải là không có. Trước đây sân chưa được nâng cấp nên dù trời chỉ mưa rất nhỏ cũng khiến mặt sân đọng nước không thể tập, những lúc như thế thầy trò phải kéo nhau lên hành lang của hội trường 1 luyện tập. Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, cô Hoàng Sa – trưởng phòng Thể dục thể thao NVHTN, nói: “Vấn đề sân bãi là một khó khăn chung của NVHTN. Với lớp võ thì đó thực sự là một khó khăn thường trực, bởi nếu có những hoạt động kỉ niệm lễ tết diễn ra thì lớp võ thường phải nhường sân”.

Thế nhưng bằng quyết tâm và lòng nhiệt thành của thầy và trò, lớp học “cứ đến hẹn lại lên” bao năm qua…

Lớp học năm nay cũng thu hút gần 300 bạn trẻ đến tham gia luyện tập, đa số họ là SV đến từ các trường: ĐH Kinh tế TP.HCM; ĐH KHXH & NV; ĐH Ngoại ngữ – Tin học; ĐH Kĩ thuật – Công nghệ; Trường Nghiệp vụ Du lịch Sài Gòn… Dù là SV của trường nào và học vì những mục đích khác nhau (có bạn học vì yêu thích, có bạn học chỉ đơn thuần là rèn luyện sức khoẻ, hoặc cũng có bạn chỉ là tò mò theo bạn đến học thử!), song một điều có thể nhận thấy từ các gương mặt ấy là niềm hân hoan, phấn khởi. Bởi thật không dễ để có được một môi trường rèn luyện sức khoẻ tốt mà lại hoàn toàn miễn phí như vậy ở thành phố này.

Do đó các bạn học với một tinh thần thượng võ, nghiêm túc và say mê. Bạn Tô Tuấn Khiêm (SV năm nhất trường ĐH Kĩ Thuật Công nghệ) nói: “Tôi thực sự rất vui khi tham gia lớp võ thuật miễn phí của thầy Tường. Lớp võ chắc chắn sẽ giúp mình khỏe hơn, từ đó không chỉ học tốt hơn mà còn có khả năng tự vệ”.

Bên cạnh việc đến lớp luyện võ, các bạn trẻ còn được tham gia biểu diễn (như đi cà kheo, đánh cờ người, biểu diễn võ thuật …) tại các hoạt động, các lễ hội văn hoá lớn được tổ chức bởi các cơ quan Nhà nước, hay cả đơn vị cá nhân … mà thầy là người tích cực, thường xuyên liên hệ. Đặc biệt trong dịp tết Nguyên đán nhiều sinh viên vì điều kiện xa xôi, không thể về quê ăn tết thì việc tham gia các hoạt động biểu diễn ấy đã giúp họ vơi đi nỗi nhớ nhà trong ba ngày tết.

Bạn Nguyễn Thị Thanh Loan – một võ sinh (là SV trường Đại học Ngoại ngữ – Tin học ), tâm sự với chúng tôi: “Tham gia những buổi biểu diễn vào dịp Tết giúp mình có điều kiện va chạm thực tế, có kinh nghiệm trong giao tiếp và tổ chức các hoạt động xã hội. Và điều mà mình cảm thấy tâm đắc nhất là sống “ích” hơn, đặc biệt nỗi nhớ quê hương, nhớ người thân cũng vơi đi phần nào”…

BẢO MINH – CHÍ QUỐC – MỄ THUẬN

Báo Tuổi Trẻ – 21/10/2005, 17:27 (GMT+7)

——————————————————————-

Tìm hiểu thêm về võ phái Tân Khánh-Bà Trà 


* HỒNG THUẬN

 Nói đến võ phái Tân Khánh – Bà Trà (TK-BT) là nói đê’n võ phái của những người đi khai hoang mở đất, của những người thuộc dòng dõi nhà Tây Sơn vi chạy trốn sự trả thù của triều Nguyễn nên đê’n vùng đất Tân Khánh (thuộc TT Tân Thuộc Khánh, Tân Uyên, Bình Dương ngày nay) sinh cơ lập nghiệp và gây dựng nên môn võ truyền thống lưu truyền đê’n ngày hôm nay. Mỗi khi nhắc đê’n võ phái TK-BT, người ta liên tưởng đê’n biết bao giai thoại gắn liền với tên tuổi của những bậc tiền nhân đã có công gây dựng, sáng tạo vả lưu truyền môn võ cổ truyền này trong cuộc sống lao động, bảo vệ mùa màng, chống thú dữ cũng như trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm…

Những ngày đầu hình thành
Vào khoảng thế kỷ XVll, một số người di cư từ miền Thuận Quảng thuộc xứ Đàng Trong nam tiến khai phá vùng đất đông Nai – Gia định, cùng với việc định cư trên vùng đất mới để đối phó với những khó khăn của vùng rừng núi vốn lắm thú dữ, những người dân này từng bước rèn luyện, sáng tạo và hình thành nên môn võ miệt rừng, gọi là võ lâm. Những kinh nghiệm trong chiến đấu chống thú dữ, cướp bóc hợp cùng những thế võ truyền thống của tổ tiên, cộng thêm sự giao thoa với võ của người bản địa (người Chân Lạp) họ đã tạo ra những thế võ nổi tiếng lưu truyền trong dân chúng mà mỗi khi nhắc đến, người dân khắp Lục tỉnh Nam kỳ đều không khỏi thán phục, trong đó có võ phái TK-BT.
Danh tiếng võ TK-BT gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ có tên là Bà Trà, thuộc dòng dõi nhà Tây Sơn vì chạy trốn sự truy đuổi trả thù của nhà Nguyễn nên đã dẫn theo một nhóm người đến vùng đất tân Khánh để sinh cơ lập nghiệp. Nối tiếp truyền thống kiêu hùng của ông cha, Bà Trà đứng ra chiêu mộ thêm nghi binh để chống lại triều đình nhà Nguyễn, số người quy tụ lên đến hàng trăm người, hầu hết họ đều là nữ giới. Cùng với việc sinh cơ lập nghiệp nơi vùng đất mới, Bà Trà chia chị em thành từng toán và tích cực ngày đêm luyện tập võ nghệ. Theo lời truyền lại, Bà Trà từng đưa nữ binh của mình đi đánh những tên cường hào, ác bá lấy của cải về phát cho dân nghèo quanh vùng nên bà rất được người dân ở đây tin tưởng, kính nể và xem như một anh hùng nghĩa hiệp lúc bấy giờ. Còn bọn quan lại địa phương thì xem bà như cái gai trước mắt cần phải nhổ bỏ nhưng vì danh tiếng và kiêng nể tài võ nghệ của bà mà không ai dám đụng đến. Dưới thời Bà Trà, danh tiếng võ TK-BT không chỉ vang dội vùng Nam bộ mà còn lan rộng ra cả nước, sánh ngang với võ Bình Định. Kế tục sự nghiệp của tiền nhân, những hậu duệ đời sau của Bà Trà cũng trở thành những bậc thầy danh tiếng như: thầy Hai Ất, thầy Ba Giá, cô Năm Vuông (con gái của thầy Hai Ất)… một thời làm rạng danh xứ võ Tân Khánh.
Hậu duệ của Bà Trà là thầy Sáu Trực – một vị võ sư nổi tiếng vào những năm 1939-1959 có nhiều môn sinh sau này danh tiếng còn vang dội hơn thầy như môn sinh Võ Văn Phiên (thầy Bảy Phiên, được xem là hậu tổ) – sư phụ của võ sư Hồ Văn Lành (tức võ sư Từ Thiện), Hồ Văn Thứ (Tư Thứ), Hồ Văn Thạch (Tư thạch), Võ Văn Ché và có cả nhà yêu nước Võ An Ninh.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làng võ TK-BT đã có biết bao thanh niên võ dũng tiếp bước lên đường cầm súng bảo vệ Tổ quốc thân yêu: Những Nguyễn An Ninh, Đào Ngọc Báu, Trương Văn Phước một lán nữa đã làm rạng danh làng võ TK-BT. Một số người không tham gia chiến đấu thì làm nhiệm vụ truyền dạy, lưu truyền môn võ truyền thống này, như võ sư Từ Thiện, là người có thời gian gắn bó lâu dài cùng những thế võ TK-BT (nay ông đã qua đời). Ông là người duy nhất truyền dạy môn võ cổ truyền này và phát triển rộng ra Sài Gòn từ những năm 1954 cho tới những năm cuối đời. Con trai ông là võ sư Hồ Văn Tường (Hồ Tường) hiện đang tiếp tục phát triển sự nghiệp của tổ tiên mà ông đã có công gây dựng. Ngoài ra còn có thầy Hồ Văn Thứ (Tư thứ) thời thanh niên đã xuôi ngược Lục tỉnh miền Tây, dạy không biết bao môn sinh.
Một thời hào hùng
Để tìm hiểu thêm về võ phái TK-BT, chúng tôi đã từng về lại vùng đất Tân Khánh và may mắn gặp được những bậc cao niên trong làng, họ chính là hậu duệ của võ phái TK-BT. Trò chuyện với chúng tôi lúc đó là những ông cụ đã trên 70 tuổi. Tuy tuổi đã cao, nhưng trong khi trò chuyện với chúng tôi các cụ vẫn còn giữ được phong thái con nhà võ: thân hình rắn chắc, đi đứng tuy không còn oai vệ như thời trai trẻ nhưng vẫn còn nhanh nhẹn và hoạt bát. Theo các vị võ sư cao tuổi trong làng, võ TK-BTcó đến 6 loại quyền cước và 18 loại binh khí chính. Người nào luyện khoảng 1/3 là yên tâm không sợ người khác bắt nạt. Nghệ thuật võ TK-BT phảng phất tinh thần nghĩa khí hào hiệp, vì đó là nghệ thuật lấy nhỏ chống lớn, ít chống nhiều, nhu chương… Nói về các giai thoại của võ TK-BT thì có rất nhiều, nhưng có lẽ nổi tiếng nhất là sự tích ông Hai Ất, ông Ba Giá hay cô Năm Vuông ”đả hổ” (đánh cọp); hay sự tích Bà Trà với đôi kiếm có ghi trên đó câu ”Anh chị ăn không trả tiền, hỏi gặp kiếm ừ rồi đi” treo ở cửa quán để răn đe những người thích ăn quịt của người khác… Những sự tích cứ như huyền thoại nâng tầm thế của làng võ TK-BT ngày càng trở nên nổi tiếng. Truyền thống hào hùng của võ xứ TK-BT, nhất là uy danh của bậc võ sư tiền bối Võ Văn Ất (Hai Ất) qua thành tích nhiều phen ”đả hổ” đã thôi thúc nhiều thanh niên của Lục tỉnh miền Tây đến với võ phái này, tham gia vào các lớp học võ do các thầy ở TK- BT đi truyền dạy…
Những người kế tục và phát triển võ phái Tân Khánh-Bà Trà
Đầu tiên phải kể đến võ sư Từ Thiện. Lúc 14 tuổi ông đã bắt đầu học võ. Cái uy danh của võ sư Hai Ất với những chiến công ”đả hổ’ đã thôi thúc ông đến với lớp võ TK-BT. Trực tiếp truyền dạy cho ông là người dượng thứ sáu – võ sư võ Văn Phiên (Bảy Phiên) – đệ tử đời thứ hai của lão sư Hai ẤT. Không lâu sau đó, ông đã trở thành người nổi danh với những pha nhập nội thần tốc khi tham gia trong đoàn võ sĩ tân Khánh và tham dự võ đài dành cho các võ sĩ khắp miền Đông Nam bộ. Lần nào thi đấu ông cũng đem vinh quang về cho xứ võ Tân Khánh. Đến năm 1939, võ sư Từ Thiện đứng ra mở lớp dạy võ TK-BT, thu hút khá nhiều thanh thiếu niên tại xã nhà và các xã lân cận đến theo học. Đến năm 1954, võ sư Từ Thiện được mời dạy môn võ lừng danh của miền đất ”đả hổ” này cho người dân Sài Gòn. Võ TK-BT từ đó được phát triển rộng ra nhiều vùng, quận của Sài Gòn và tồn tại đến nay. Những võ sĩ nam mang họ Từ, võ sĩ nữ mang họ Hổ, sử dụng kỹ thuật của võ phái TK-BT đã góp phần tô điểm vinh quang cho xứ võ quê hương này, trong số đó có nhiều võ sĩ đạt thành tích cao trên các võ đài trong và ngoài nước, như: Từ thanh Nghĩa, Từ trung Tín, Từ Y Văn từng thắng các giải vô địch Lào, lndo- nesia, Thái Lan, Hồng Ong trong những năm 70. Ba người con trai của ông cũng được cha truyền dạy võ từ nhỏ. Tuy nhiên, đến nay chỉ có người con trai út là võ sư hồ Tường nối nghiệp cha để tiếp tục phát triển môn võ của tổ tiên đến với những người mến mộ môn võ cổ truyền này ở TP.HCM. Hiện ông là Trưởng ban Huấn luyện lớp võ lâm Tân Khánh tại Nhà Văn hóa thanh niên TP.HCM. Hàng ngày vẫn miệt mài truyền dạy các thế võ TK-BT cho môn đồ của mình, trong đó có không ít người nước ngoài.
Cũng là đệ tử của thầy Bảy Phiên, võ sư Tư Thứ cũng một thời trai trẻ ngang dọc bôn ba khắp các tỉnh miền Tây Nam bộ để truyền dạy môn võ TK-BT cho những người nghĩa dũng. Ông nói rằng, chỉ là những người học trò thân tín, tin tướng ông mới truyền dạy cho. Có lớp ông dạy trên một ngàn người. Lúc chúng tôi tìm gặp ông, ông đã ở vào cái tuổi ”Thất thập” và hơn 20 năm không còn đi dạy nữa nhưng trông ông vẫn giữ được nét phong thái, khỏe mạnh của con nhà võ, hàng ngày ông vẫn múa quyền đánh roi vì sợ già rồi sẽ quên nghề…
Cần được phát huy
Theo các cụ cao niên ở Tân Khánh, hiện nay chỉ có võ đường Từ Thiện và Nhà Văn hóa thanh niên TP.HCM là hai địa chỉ truyền dạy về võ TK-BT. Ngoài ra, hầu như không có võ đường nào mở lớp dạy môn võ cổ truyền này, kể cả ở địa phương. Theo các cụ nếu có truyền dạy thì cũng chỉ diễn ra trong phạm vi mỗi gia đình riêng, theo phương thức cha truyền cho con. Mà phải là những người con có khí thế, bản chất của người học võ thì mới được truyền dạy, bởi vì các cụ cho rằng, học võ là để tự vệ, phòng thân nên không thể truyền cho những ai vốn có tính hiếu thắng, thích gây gổ với người khác… Vậy, để phát huy và nâng cao tầm của võ phái TK-BT, vấn đề là chính quyền địa phương, các cấp các ngành liên quan nên có biện pháp như thế nào để lưu giữ lại môn võ cổ truyền này, tránh bị mai một và lãng quên nó ngay trên mảnh đất sản sinh ra nó. Bởi vì, khôi phục lại võ TK-BT chính là khôi phục lại một nét đẹp văn hóa của quê hương.
H.T

(Tài liệu điền dã)

http://sugia.vn

——————————————————————–

Nguy cơ thất truyền võ phái Tân Khánh Bà Trà

Kỳ 1: Miếng võ của những người đi khai hoang

(TT&VH) – Hơn 200 năm qua, võ phái Tân Khánh Bà Trà (TKBT) của những người thuộc dòng dõi nhà Tây Sơn đi khai hoang mở đất tại Đồng Nai – Gia Định được hình thành và lưu truyền đến tận hôm nay.

Nói đến võ phái TKBT là nói đến nhiều giai thoại hào hùng của các bậc tiền nhân đã có công gây dựng, sáng tạo và lưu truyền võ phái cổ truyền này. Thế nhưng hiện nay, tại “cái nôi” nơi sản sinh ra môn võ này chỉ còn là ký ức, là truyền thuyết đối với người dân huyện Tân Uyên và Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Sự kết hợp kỳ diệu của võ Tây Sơn và người Nam bộ

Vào khoảng thế kỷ 17, có một số người di cư từ miền Thuận Quảng thuộc xứ Đàng Trong đã nam tiến khai phá vùng đất Đồng Nai – Gia Định. Để có thể an tâm định cư trên vùng đất mới, tại một vùng rừng núi nhiều thú dữ, những người dân này từng bước rèn luyện, sáng tạo và hình thành nên môn võ miệt rừng (còn gọi là võ lâm). Mỗi khi nhắc đến tên, người dân khắp lục tỉnh Nam Kỳ đều biết tiếng. Những người di cư này đã lập ra làng Tân Khánh, nay là thị trấn Tân Phước Khánh (huyện Tân Uyên, Bình Dương). Tới vùng đất mới, họ mang theo mình truyền thống thượng võ, những kỹ pháp võ thuật của quê hương Tây Sơn và đã tiếp tục phát triển nó trong sự hòa trộn với những hệ thống kỹ thuật tại miền đất mới.

Dưới triều vua Tự Đức (1848-1883), cuộc khởi nghĩa của dân làng Tân Khánh chống lại quan lại thối nát làm tay sai cho ngoại bang ở địa phương đã nổ ra, phản ánh tinh thần bất khuất của dân ở xứ này. Đến nay, nhiều người dân địa phương vẫn tự hào về sự kiện kể trên và luôn nhắc về nó gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ tên là Võ Thị Trà. Bà vốn xuất thân từ nhà võ Tây Sơn, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống lại bè lũ quan lại thối nát là tay sai cho ngoại bang ở địa phưong trong 10 năm (từ năm 1850). Từ vùng đất Tân Khánh đến làng Bình Chuẩn (thuộc huyện Thuận An, Bình Dương) đều được gọi là “đất bà Trà”. Cũng từ đó, người dân gọi phái võ truyền thống xuất phát từ Tân Khánh, Bình Chuẩn là “phái võ Bà Trà – Tân Khánh” hay “Tân Khánh Bà Trà”.

Những hậu duệ đời sau của Bà Trà cũng trở thành những bậc thầy danh tiếng như: thầy Hai Ất, thầy Ba Giá, cô Năm Vuông… tiếp nối tiền nhân, cũng một thời làm rạng danh xứ võ Tân Khánh. Tiếp đến là thầy Sáu Trực, một vị võ sư nổi tiếng vào những năm 1939-1959. Có nhiều môn sinh của võ phái TKBT sau này danh tiếng còn vang dội hơn như: Thầy Bảy Phiên (Võ Văn Phiên) là sư phụ của võ sư Hồ Văn Lành (tức võ sư Từ Thiện), Hồ Văn Thứ (Tư Thứ), Hồ Văn Thạch (Tư Thạch), Võ Văn Ché…

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, làng võ TKBT đã có biết bao thanh niên võ dũng tiếp bước lên đường cầm súng bảo vệ Tổ quốc: Nguyễn An Ninh, Đào Ngọc Báu, Trương Văn Phước… đã tiếp tục làm rạng danh làng võ TKBT. Bên cạnh đó, để lưu truyền môn võ truyền thống này, có võ sư Từ Thiện (Hồ Văn Lành), là người có thời gian gắn bó lâu dài cùng những thế võ TKBT. Ông là người duy nhất truyền dạy môn võ cổ truyền này và phát triển rộng ra Sài Gòn từ những năm 1954 cho tới lúc cuối đời. Ngoài ra, còn có thầy Hồ Văn Thứ (Tư Thứ) thời thanh niên đã xuôi ngược lục tỉnh miền Tây, dạy không biết bao môn sinh.

Việt Nam cũng có “Võ Tòng”

Trước năm 1975, võ sinh của TKBT đã đạt nhiều thành tích khi tham gia đấu võ đài do Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam tổ chức tại Sài Gòn: Hai huy chương vàng của Từ Thanh Nghĩa (năm 1970) và Hồ Ngọc Thọ (năm 1974); bốn huy chương bạc của Từ Thanh Tòng, Từ Duy Tuấn, Từ Hoàng Út, Hồ Thanh Phượng. Ngoài ra, 3 võ sinh Từ Thanh Nghĩa, Từ Trung Tín, Từ Y Văn đã từng được chọn đại diện cho toàn miền Nam thi đấu bảy trận toàn thắng trước các nhà vô địch của những nước Thái Lan, Lào, Campuchia.
Từ năm 1999 đến nay, nhiều võ sinh của môn TKBT đã đạt nhiều thành tích cấp quốc gia ở các cuộc thi võ Cổ truyền và ở các môn khác như Wushu, Quyền Anh.
Để tìm hiểu thêm về võ phái TKBT, chúng tôi đã từng về lại vùng đất Tân Khánh cách trung tâm TP.HCM gần 50 km về phía Đông – Bắc. Khó khăn lắm, chúng tôi mới gặp được 2 bậc võ sư cao niên trong làng còn sót lại. Đó chính là ông Tư Thạch và ông Tư Thứ đã ngoại bát tuần.

Trong cuộc chuyện trò với 2 cụ, chúng tôi cảm nhận cái phong thái của con nhà võ vẫn hiện rõ trên khuôn mặt. Thân hình các cụ không còn rắn chắc, đi đứng tuy không còn oai vệ như thời trai trẻ, nhưng tinh thần vẫn minh mẫn. Mặc dù, được các cụ cảnh báo là ở cái tuổi “bát thập hóa như nhi”, mấy căn bệnh già đã ghé “thăm” nhưng câu chuyện về giai thoại của võ TKBT vẫn được kể mạnh mẽ, nhiệt huyết, bay bổng đến lạ thường.

“Mấy chú chắc nghe đến truyện Tàu có Võ Tòng “đả hổ”? Sự tích của mình cũng có đó!”, ông Tư Thứ hỏi chúng tôi và ông chậm rãi kể lại: “Ngày trước ông Hai Ất và ông Ba Giá là 2 anh em ở cái đất Tân Khánh, 2 ông đều là đệ tử của bà Trà. Có lần, trời tối mịt mà ông Hai Ất không thấy em mình là ông Ba Giá đi làm ruộng về nên ông Hai Ất sinh lo, chạy đi tìm ông Ba Giá. Đến đoạn, ông Hai Ất thấy ông Ba Giá tay cầm cây cào cỏ Đậu thủ thế, trước mặt ông Ba Giá là một con hổ to đang nằm phục dưới đất, móng vuốt giương ra thủ thế. Ông Hai Ất biết là em mình đã có trận quần nhau sinh tử với con hổ này. Ông Hai Ất nhanh trí, quăng ngay cái áo đang mặc lên mình hổ. Con hổ tung mình lên cao và tức thời ông Ba Giá tung ngay cú đá trí mạng vào bụng con hổ. Đau quá, con hổ chạy tuốt vào rừng sâu”.

Rồi như say sưa với câu chuyện, 2 cụ lại kể cho chúng tôi nghe về sự tích bà Trà với đôi kiếm có ghi trên đó câu ”Anh chị ăn không trả tiền, hỏi cặp kiếm ừ rồi đi” treo ở cửa quán để răn đe những người thích ăn quịt của người khác…

Những sự tích nêu trên đã thôi thúc nhiều thanh niên thời đó theo học môn võ TKBT. Và cũng từ môn võ này đã sản sinh ra nhiều bậc anh hùng kỳ tài đóng góp cho đất nước trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước.

Kỳ 2: Vùng đất võ chỉ còn hư danh

(TT&VH) – Điều đáng buồn là tại nơi sản sinh ra võ phái Tân Khánh Bà Trà (TKBT), thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Thuận An, Bình Dương, đã từ rất lâu người dân không còn thấy những lớp dạy võ TKBT như ngày xưa.

Những thanh niên biết đến môn TKBT này ngày càng ít đi, thay vào đó là những môn võ khác được du nhập từ nước ngoài. Việc khôi phục lại môn võ TKBT ngay tại quê hương của nó là một điều cần thiết và cấp bách.

Chỉ còn là “truyền thuyết”

Rong ruổi gần 50 km từ trung tâm TP.HCM tới thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, Bình Dương, người đầu tiên mà chúng tôi gặp mặt chính là võ sư Chung thuộc môn võ Bắc phái, Bình Định. Sau khi nghe chúng tôi trình bày mục đích của mình là muốn tìm hiểu về võ phái TKBT, thầy Chung ái ngại, lo sợ chúng tôi sẽ không thu thập được thông tin gì quý giá. Thầy Chung bộc bạch: “Đã từ lâu, môn võ này không được truyền dạy tại đây và chỉ còn lại 2 ông cụ tuổi đã 80 biết về môn TKBT, mà chắc có lẽ không giúp gì nhiều được cho các chú. Riêng tôi thì không biết gì, mà nếu có biết thì cũng không dám nói vì là người ngoài”.

Võ sư Tư Thạch tại quê hương môn võ Tân Khánh Bà Trà

Hai ông cụ mà võ sư Chung nhắc đến chính là cụ võ sư Tư Thạch và Tư Thứ mà chúng tôi nói đến trong bài trước. Định bụng trước khi đến gặp 2 cụ, chúng tôi muốn đi xung quanh thị trấn để tìm lại những di tích còn sót lại về võ phái hoặc võ đường TKBT để có cái nhìn trực quan và sinh động hơn. Thế nhưng, chúng tôi đã thất vọng vì không thể tìm ra bất cứ khung cảnh, hình ảnh nào liên quan đến môn võ này. Nghe lời kể lại từ thầy Chung, ngay tại chợ Tân Khánh, trước đây có một cái rạp đã từng phục vụ cho cuộc thi đấu so tài cao thấp của 2 phái: TKBT và Bắc phái, Bình Định nhưng giờ đây cũng không lưu giữ lại dấu tích gì mà thay vào đó là ngôi chợ đẹp đẽ, kiên cố.

Nói chuyện với 2 cụ võ sư Tư Thạch và Tư Thứ, được biết các cụ đã “giải nghệ” từ khi đất nước hoàn toàn thống nhất. Các cụ đều gác chuyện truyền bá võ nghệ sang một bên và làm nghề khác để nuôi sống gia đình. Và từ đó đến nay, không có bất cứ võ đường nào tại tỉnh Bình Dương được thành lập để truyền bá môn võ thuật này.

Theo các cụ, môn võ thuật này được truyền theo kiểu “cha truyền con nối”. Tùy thuộc vào tư chất mới truyền dạy và tùy độ “sáng, tối” của người học nên việc truyền thụ cũng có phần khiếm khuyết, chênh lệch. Có người biết nhiều, người biết ít. Bên cạnh đó, vào thời điểm đất nước còn bị xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chính quyền chế độ cũ không cho phép thành lập võ đường, nên người theo học võ phải học lén, không dám công khai.

Những bài Thiệu (bài thơ ghi các tư thế để đánh quyền) cũng được truyền miệng, học thuộc và cũng được các môn sinh ghi chép lại nhưng không đầy đủ. Hiện tại, chỉ còn lại 2 bậc võ sư cuối cùng tại làng Tân Khánh xưa này và các tư liệu về môn võ TKBT của 2 cụ lưu giữ theo năm tháng cũng đã thất lạc.

Trước khi chúng tôi lên đường đi tìm hiểu võ phái TKBT ngay tại nơi sản sinh ra nó, mỗi chúng tôi đều hi vọng sẽ được thấy và chụp hình lại những di vật, hình ảnh liên quan đến võ phái TKBT có thể như: Quyển sử ký về môn võ TKBT, hoặc là đền thờ Tổ, võ đường, chí ít thì cũng vài tấm ảnh mà các cụ múa roi đi quyền hồi xưa.

Chúng tôi đã hỏi cụ Thứ việc khôi phục lại môn võ TKBT này ngay tại quê hương của nó có thể thực hiện được không? Cụ Tư Thứ tay run run đưa điếu thuốc lá lên miệng rít một hơi dài và ngậm ngùi nói: “Điều này chỉ trông chờ vào Nhà nước và hậu duệ duy nhất là võ sư Hồ Tường đang truyền bá môn võ TKBT trên đất Sài Gòn”.

Các môn sinh đang tập luyện môn võ này tại NVH Thanh Niên TP.HCM

Một di sản cần được bảo tồn

Được biết, UBND tỉnh Bình Dương đã giao cho Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương thực hiện công trình nghiên cứu “Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà – Bình Dương” do Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp làm chủ nhiệm công trình, Thạc sĩ – Võ sư Hồ Tường là một trong những thành viên trực tiếp thực hiện công trình. Đề tài này đã được thông qua vào tháng 5/2009 và dự kiến thời gian thực hiện đề tài là 2 năm, bắt đầu từ tháng 9/2009.

Tại TP.HCM hiện nay có khoảng hơn 50 môn phái đang được giảng dạy tại các trung tâm. Trong đó, TKBT chủ yếu được tập trung giảng dạy ở Nhà văn hoá Thanh Niên và Trung tâm TDTT Nhà Bè. Trong hệ thống võ cổ truyền dân tộc, TKBT là môn võ “có tiếng” nhất ở khu vực phía Nam cùng với Kim Kê phái và Thanh Long võ đạo. Tuy nhiên, nơi được xem là “khai sinh” môn võ này (Thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, Bình Dương) lại không còn bất cứ võ đường nào.
Đề tài sẽ tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển của võ thuật TKBT, những chiến tích mà võ thuật TKBT đã giành được qua các thời kỳ lịch sử như: Từ việc chống lại thiên nhiên hoang dã để sinh tồn và tham gia chống giặc ngoại xâm. Bên cạnh đó, sẽ khôi phục, tập hợp lại tất cả các bài quyền, đòn thế của võ TKBT nhằm mục đích tiếp tục nhân rộng, vinh danh và bảo tồn. Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp, Chủ nhiệm đề tài cho biết: “Môn võ TKBT được xem là tài sản văn hóa phi vật thể của con người Bình Dương. Qua công trình nghiên cứu này, với mong muốn xây dựng lại võ đường vừa làm nơi sinh hoạt võ thuật, vừa là nhà truyền thống để bảo lưu các giá trị, các hiện vật của bộ môn võ thuật TKBT”.

Tuy nhiên, để thực hiện thành công công trình nghiên cứu này sẽ gặp rất nhiều khó khăn do tài liệu tư liệu của môn võ TKBT qua thời gian đã thất lạc rất nhiều. Võ sư Hồ Tường cho biết, hiện còn lưu giữ được gần 20 bài quyền và bài binh khí của môn võ TKBT. Đây sẽ là nguồn tư liệu quý giá cho công trình phục dựng di sản văn hóa này.

Anh Đức – Phan Vũ

Tham khảo tại Diễn Đàn Bình Định FFC :  http://binhdinhffc.com/diendan/viewtopic.php?f=23&t=6445

——————————————————————–

“Võ đánh cọp” sẽ là di sản văn hóa quốc gia?

Các cụ kể rằng, có một thời đất ở Tân Khánh người đi học võ đông như trẩy hội. Các võ đường giao đấu trên tinh thần thượng võ khiến người xem đã con mắt. Thế nhưng thời gian cùng chiến tranh loạn lạc đã khiến cho môn võ một thời đánh cọp lẫy lừng dần dà mai một.

THẾ VÕ CỦA NGƯỜI ĐI KHAI HOANG
Theo lịch sử Bình Dương 300 năm, giữa thế kỷ 17, lưu dân người Việt từ miền Thuận Quảng thuộc xứ Đàng trong tiến vào khai phá vùng đất Đồng Nai – Gia Định. Trên bước đường mưu sinh, họ mang theo thế võ cổ truyền để phòng thân. Những lưu dân đầu tiên này lập ra làng Tân Khánh, nay là thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Để thích nghi với nơi hoang sơ, nhiều thú dữ và cướp bóc, họ phát huy thế võ cổ truyền. Từ đó hình thành môn võ miệt rừng, với tên gọi võ lâm Tân Khánh (VLTK).

Đầu thế kỷ 19, Gia Long lên ngôi. Với chính sách tìm diệt cựu thần nhà Tây Sơn để trả thù, mảnh đất Tân Khánh trở thành nơi đón tiếp cựu thần họ Võ đến mai danh. Từ đây VLTK có cơ hội thăng hoa, do được tăng cường kỹ thuật võ Tây Sơn – Bình Định.

Cựu thần họ Võ chính là bà Võ Thị Trà, giữa thế kỷ 19, lãnh đạo khởi nghĩa chống lại bọn tham quan địa phương từ căn cứ Truông Mây trên đất Tân Khánh suốt 10 năm (1850 – 1859). Để rồi tên đất gắn tên người: Tân Khánh – Bà Trà, và môn võ miệt rừng cũng được gọi là võ lâm Tân Khánh Bà Trà (TKBT). Võ sư Hồ Tường, hậu duệ đời thứ năm của môn phái này, cho biết bà Trà có hai đệ tử xuất sắc là anh em ông Hai Ất (Võ Văn Ất) và Ba Giá (Võ Văn Giá), được người dân gọi là “Võ Tòng” Tân Khánh với hơn 10 lần đả cọp. Võ nghệ hai ông vang danh khắp vùng, ai nghe qua đều kính phục.


Di ảnh võ sư Hồ Văn Lành

NHỮNG GIAI THOẠI “VÕ TÒNG” TÂN KHÁNH 
Nói về tài đả cọp của “Võ Tòng” Tân Khánh, người dân nơi đây kể vanh vách và tự hào như “chiến tích” của mình. “Chiến tích” kinh hoàng được truyền tụng như giai thoại diễn ra ở Hố Ngỡi, nay thuộc xã Tân Vĩnh Hiệp, huyện Tân Uyên.

Đó là vào buổi chiều, người ta chứng kiến ông Ất, áo rách tả tơi, nhảy qua trớ lại tránh móng vuốt của ba con cọp dữ. Càng thất kinh hơn khi ông Ất bất ngờ ngã xuống. Một số người sẵn cung tên định bắn giải cứu, bỗng nghe tiếng thét: Đừng bắn!

Đó là tiếng ông Giá, sợ họ bắn lạc tên trúng anh mình bởi ông biết anh ông không dễ bị hạ như vậy. Cú ngã chính là thế “phục địa lang hành”, ngã để xoay mình đá móc lên. Quả không sai. Cọp từ trên chụp xuống tưởng tóm gọn đối thủ thì bất ngờ lãnh cú đá ác liệt. Lẹ làng, ông Ất phóng lên lưng cọp, vung tay đấm xuống gáy cọp liên hồi. Trong lúc ông Ất ra đòn thì hai con kia định nhảy bổ vào. Thấy vậy, ông Ất định buông con cọp đang giữ nhưng vừa nới tay thì nó hất ông suýt ngã. Hốt hoảng, ông lấy hết sức đấm xuống gáy nó thêm mấy cái. Do phí sức nhiều, quả đấm không còn đủ lực hạ con cọp dữ. Ông Ất đè cọp xuống, gắng sức bẻ cổ nó thì lại nghe tiếng ông Giá: Ngồi yên đó. Ông Giá la lên nhưng trong lòng rất kinh khiếp. Làm sao chặn đứng hai con cọp giải cứu anh mình? Trong chớp mắt, ông Giá dùng thế “giải giáp”, cởi phăng chiếc áo đang mặc ném vào con cọp gần nhất. Thấy chiếc áo thình lình bay tới, cọp ngỡ có người trợ chiến, liền chụp áo xé tan nát.


Hai môn sinh đang giao đấu

Chặn đứng một con, ông Giá vung roi phóng tới đập thẳng vào đầu con cọp đang sắp chụp lên đầu ông Ất. Cọp té lộn về phía sau, đầu vỡ toang. Tiện đường roi, ông lia vào chân con cọp vồ chiếc áo, nhưng không trúng. Liền sau đó đường roi thứ hai tung ra vắt ngang lưng khiến cọp nằm im không cựa quậy.

Thấy em giết được hai con cọp, ông Ất mới hoàn hồn nhìn xuống thì thấy con cọp ông đang cưỡi đã chết tự bao giờ.

Một giai thoại khác: “Cọp Bàu Lòng Võ Tòng Tân Khánh”, chuyện mà ngay cả trẻ con cũng thuộc lòng và cho rằng “Võ Tòng” Tân Khánh “dữ” hơn Võ Tòng bên Tàu. Số là người dân xứ Bàu Lòng (Chơn Thành, Bình Phước) nhiều tháng liền bị cọp về bắt bò, heo. Mặc dân làng xua đuổi bằng mõ tre, thùng thiếc cọp cũng không bỏ con mồi. Dân làng sợ đến nỗi không làm ăn gì được. Ban Hội tề bèn lên thầy Cai tổng cầu cứu. Thầy Cai cho người mời anh em ông Ất đến và lệnh hai ông lên Bàu Lòng trừ cọp dữ.

Đến Bàu Lòng, vừa cơm nước xong, ông Ất nói: “Cọp đâu đánh phứt cho rồi”. Ông Ất dứt lời thì nghe một tiếng gầm rõ to ngoài sân. Dường như cọp có linh tính, biết thầy võ về làng nên đến thử sức. Trong lúc mọi người đang khiếp vía thì ông Giá cắp roi nhảy ra sân thủ thế. Ngoài sân, cọp thấy có người nhảy ra liền phóng tới chụp đầu. Ông Giá né vội, liền đó vung roi đâm trúng hông cọp. Cọp gầm lên rồi quay lại chụp. Ông Giá vung roi, lúc đập lúc đâm. Bụi bay mịt trời. Người coi quên phần sợ hãi. Cuộc giao tranh độ tàn điếu thuốc, bất ngờ cọp hộc lên một tiếng vọt ra ngoài vòng chiến, nằm chỏng vó lên trời. Theo các thầy võ, đó là thế “trâu vằn”, miếng tổ của cọp, ai sơ suất nhảy vào là toi mạng. Roi đánh thì bị cọp bắt, tiện dịp móc họng luôn đối thủ.

Ông Giá thấy cọp thủ thế “trâu vằn”, không thèm đánh, đứng chống roi nghỉ. Một hồi lâu, cọp không thấy ông Giá phá miếng nghề của mình, liền gầm lên phóng lại vòng chiến. Ông Giá vung roi đánh tiếp. Lát sau cọp giở lại miếng cũ. Ông Giá chống roi đứng chờ tái chiến.

Cọp không thấy ông Giá phá thế của nó liền xoay mình phóng vào vòng chiến. Và rồi người ta nghe tiếng cọp gầm thật to, vọt ra khỏi vòng chiến định chạy vào rừng. Tiếp theo, một tiếng gầm to hơn, dài hơn, nhìn lại thấy ông Ất đứng bên xác cọp. Tất cả mọi người đứng xem không ai thấy ông Ất ra tay. Thì ra ông Ất đoán được đường rút lui của cọp liền lao ra chặn đầu. Dưới ngọn roi ngàn cân của ông, cọp hết đường thoát.

Không chỉ có những bậc “tiền bối” mới có tài đả cọp. Võ sư Hồ Tường cho biết, năm 1914, ông Ất được chính quyền Pháp mời về Sài Gòn đánh cọp nhân lễ khai thị chợ Bến Thành, nhưng ông từ chối và giao cho con gái mình là Năm Vuông (Võ Thị Vuông), lúc ấy mới ngoài 20 tuổi. Chỉ hơn một giờ giao đấu cô Vuông đã hạ con cọp dữ trước sự kinh ngạc của đông đảo quan khách.



Môn sinh tập luyện

VÙNG ĐẤT VÕ CHỈ CÒN HƯ DANH
Võ lâm TKBT có nhiều thế hệ anh tài nối tiếp vang danh khắp Nam kỳ lục tỉnh. “Nữ chúa” Truông Mây một thời lẫy lừng xứ Tân Khánh. Kế đến Hai Ất, Ba Giá, Năm Vuông từng làm rạng danh môn phái này với tài đả cọp. Đến nay, võ lâm TKBT trải qua năm đời: anh em ông Ất được xếp vào hàng tiên sư, đời thứ nhất; tiếp theo có Võ Văn Trực (Sáu Trực), Võ Văn Phiên (Bảy Phiên), Hồ Văn Lành (mất 2005, thọ 92 tuổi) và hậu duệ đời thứ năm Hồ Tường (con võ sư Hồ Văn Lành), dạy võ tại Nhà văn hóa Thanh niên TPHCM từ năm 1981 đến nay.

Theo võ sư Hồ Tường, năm 1950, đánh dấu bước ngoặc mới của môn phái này. Cố VS Hồ Văn Lành rời Tân Khánh lên Sài Gòn tham gia Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam. Với tư cách là ủy viên, ông đã nỗ lực phổ biến võ lâm TKBT vào cộng đồng võ thuật miền Nam. Từ năm 1970 – 1974, các môn sinh của ông Từ Thanh Nghĩa, Hồ Ngọc Thọ đoạt huy chương vàng cấp quốc gia. Ngoài ra có Từ Trung Tín, Từ Y Văn từng đại diện miền Nam thi đấu 7 trận toàn thắng trước các nhà vô địch Thái Lan, Lào và Campuchia.

“Môn võ một thời lẫy lừng như vậy, nhưng giờ đây đi khắp làng cũng không tìm thấy dấu tích nào của võ đường. Một môn võ từng vang danh, giờ hiển hiện nguy cơ thất truyền quả thật đáng buồn” – võ sư Hồ Tường tỏ ra lo lắng.

Có lẽ nhận thấy đều đó nên mới đây UBND tỉnh Bình Dương đã quyết định khôi phục lại. Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp – Khoa sử, trường Đại học KHXH & NV TPHCM, người chấp bút đề án “Khôi phục võ lâm TKBT” – cho biết sẽ hoàn chỉnh đề án vào cuối năm nay. Giai đoạn đầu đề án, biên soạn lại lịch sử môn phái, khôi phục các bài quyền, binh khí, trang phục. Tiếp theo sẽ xây võ đường, nhà truyền thống, vừa dạy võ vừa giáo dục tinh thần thượng võ cho thế hệ trẻ. Từng bước đưa môn phái này hòa nhập vào làng võ cổ truyền quốc gia và thế giới. Tiến sĩ Diệp tỏ ra lạc quan: Tương lai võ lâm TKBT không còn là tài sản của người Bình Dương mà sẽ trở thành di sản văn hóa quốc gia. Bởi trong quá khứ, võ lâm TKBT không chỉ đánh cọp mà từng mang lại vinh quang cho nền võ thuật nước nhà. Các nhà cách mạng tiền bối Nguyễn An Ninh, Huỳnh Văn Nghệ, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Văn Hùm… cũng từng là võ sinh của môn phái này. Việc để một phái võ nổi tiếng như vậy thất truyền là có tội với tiền nhân, ông Diệp nói. Tuy vậy, để khôi phục môn phái này phải có người tâm thuyết và kinh phí có thể lên đến chục tỷ đồng.

Cũng theo ông Diệp, mặc dù đây là miếng võ của người đi khai hoang, nhưng những người biết võ TKBT có thể đánh thắng cọp. Do vậy, việc khôi phục phái “võ đánh cọp” là việc nên làm. Dẫu có hơi muộn nhưng cho phép những người lạc quan tin rằng, phái võ này rồi sẽ lại vang danh.

Bài, ảnh: LÝ GIA BÌNH