Tin tức môi trường – khí hậu


Rác thải nhựa đổ vào đại dương có thể tăng gấp ba lần trong 20 năm tới

Nếu con người không có những giải pháp kịp thời để hạn chế hoạt động sản xuất và tiêu thụ nhựa, lượng rác thải nhựa đổ vào đại dương dự kiến sẽ tăng lên gấp ba lần, từ 11 triệu tấn mỗi năm lên 29 triệu tấn/năm trong 20 năm tới.

Rác thải nhựa đổ vào đại dương
Rác thải nhựa đổ vào đại dương

Đây là kết quả nghiên cứu của tổ chức The Pew Charitable Trusts và SYSTEMIQ được công bố trên tạp chí Science vào tháng 7/2020. Đến năm 2040, tổng lượng rác thải nhựa tích lũy trong các đại dương có thể đạt mức 600 triệu tấn.Nhóm nghiên cứu cho biết, những cam kết hiện nay của các chính phủ trên thế giới sẽ chỉ góp phần làm giảm khoảng 7% lượng rác thải nhựa đổ vào đại dương vào năm 2040.

Để giải quyết cuộc khủng hoảng rác thải nhựa, chúng ta cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, ví dụ như thay thế nhựa bằng các vật liệu khác có khả năng phân hủy, cải thiện việc thu gom chất thải nhựa, tăng tỷ lệ tái chế và giảm xuất khẩu chất thải nhựa.“Ngày nay, chúng ta có tất cả các công nghệ và giải pháp cần thiết để ngăn chặn hơn 80% lượng rác thải nhựa. Điều quan trọng là các chính phủ, doanh nghiệp và người tiêu dùng quyết tâm thực hiện nó”, Martin Stuchtey, thành viên của nhóm nghiên cứu, cho biết.

Quốc Hùng (Theo Sciencedaily) /khoahocphattrien.vn


Nóng lên toàn cầu thu hẹp cơ hội sống sót của chim non

Khoảng thời gian thuận lợi để nuôi dưỡng chim non an toàn đang bị ngắn lại do biến đổi khí hậu – nghiên cứu mới của các nhà khoa học Phần Lan cho biết. Đối với việc sinh sản của chim, thời gian là tối quan trọng. Hầu hết các loài chim chỉ có một cửa sổ thời gian rất hẹp để nuôi chim non mới nở.

Nóng lên toàn cầu thu hẹp cơ hội sống sót của chim non
Nóng lên toàn cầu thu hẹp cơ hội sống sót của chim non

Nghiên cứu mới đăng trên Kỷ yếu của Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ cho thấy chim ở Phần Lan đang sinh sản sớm hơn và trong một khoảng thời gian ngắn hơn so với 40 năm trước.


Chim thường “căn thời gian” sinh sản theo những tín hiệu bắt đầu mùa xuân, để chim con nở ra khi có nhiều thức ăn như thực vật và côn trùng nhất.Để tìm hiểu cửa sổ thời gian sinh sản của chim đã thay đổi thế nào, một nhóm do Maria Hällfors, nhà sinh thái học tại Đại học Helsinki, đã phân tích một bộ dữ liệu từ năm 1975 đến 2017 của các nhà nghiên cứu chim nghiệp dư do Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Phần Lan điều phối.

Bộ dữ liệu bao gồm hồ sơ về việc làm tổ của 73 loài và hơn 820.000 con chim từ một khu vực rộng 1.000 km2 trong các khu rừng ở Phần Lan. Mỗi năm, các tình nguyện viên được đào tạo buộc những chiếc vòng có đánh số vào chân chim non mới nở để theo dõi sự di chuyển và sinh tồn của chúng. Các nhà nghiên cứu có thể sử dụng thời gian gắn vòng để tính ra thời điểm chim con ra đời vì chim non phải đạt kích thước nhất định để đeo được vòng.
Nhìn chung, cả mốc khởi đầu và kết thúc của thời kỳ sinh sản chim đang bị lùi dần về phía đầu năm, Hällfors và các đồng nghiệp báo cáo trong Kỷ yếu của Viện hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ (PNAS). Tuy nhiên, mốc kết thúc kỳ sinh sản đang lùi nhanh hơn so mốc khởi đầu, dẫn đến cửa sổ sinh sản trung bình rút ngắn hơn 1,7 ngày so với năm 1975. Trong cùng thời gian đó, nhiệt độ trung bình của Phần Lan tăng 0,8 độ C, cho thấy nhiều loài chim phản ứng với sự thay đổi nhiệt độ, Hällfors nói.


“Nếu các loài chim có thể thích nghi theo các điều kiện tối ưu khi khí hậu thay đổi thì tốt,” bà nói. Tuy nhiên, các cửa sổ sinh sản ngắn hơn có nghĩa là nhiều chim non đang được sinh ra sớm hơn trong mùa – một thời điểm rủi ro, đặc biệt là khi thời tiết chuyển lạnh đột ngột. Ngoài ra, nhiều loài chim sinh sản cuối mùa cũng đang sinh sản sớm hơn về đầu năm, kéo theo cạnh tranh thức ăn và nơi làm tổ, khiến một số chim con bị đói. Mặc dù các nhà nghiên cứu không thể đưa ra xu hướng tổng thể từ bộ dữ liệu, Hällfors cho rằng những thay đổi này sẽ có tác động lớn đến số lượng chim, trong đó một số loài sẽ có dân số ngày càng vượt trội so với các loài khác.


Lucyna Halupka, nhà sinh thái học tại Đại học Wrocław, gọi nghiên cứu này là “rất quan trọng” vì nó là một trong số ít các nghiên cứu đo cửa sổ thời gian sinh sản. Trong 2 thập kỷ, bà nói, nhiều nhà khoa học nghiên cứu về chim và biến đổi khí hậu chỉ nhìn vào mốc khởi đầu kỳ sinh sản cho các nhóm chim cụ thể. Tuy nhiên, bà cảnh báo rằng nghiên cứu chỉ giới hạn ở Phần Lan, nên những phát hiện có thể không phổ quát; các nghiên cứu trong tương lai nên xem xét mùa sinh sản thay đổi thế nào ở các khu vực khác, vì ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ở mỗi nơi cũng khác nhau. Các nghiên cứu tiếp nối cũng nên cố gắng xác định tác động của việc rút ngắn cửa sổ sinh sản đến quy mô dân số, bà nói.


Đối với Hällfors, những phát hiện mới minh họa sức mạnh của các bộ dữ liệu dài hạn. “Hãy tưởng tượng các nhà nghiên cứu chim trong những năm 1970,” cô nói. “Có lẽ họ không thể tưởng tượng được rằng, dữ liệu của họ sẽ được sử dụng vào năm 2020 để xem xét sự thay đổi khí hậu.”
Nhà sinh học bảo tồn Stuart Butchart thuộc BirdLife International cho biết: đây cũng là một bổ sung có giá trị cho các nghiên cứu về biến đổi khí hậu. “Nhiều người vẫn nghĩ về biến đổi khí hậu như một vấn đề sẽ phát sinh trong tương lai,” ông nói. “Đây là một nghiên cứu cho thấy toàn bộ cộng đồng các loài đã phản ứng đáng kể đối với sự thay đổi khí hậu trong những thập kỷ gần đây.”


Nguồn:
https://www.sciencemag.org/news/2020/07/global-warming-shrinks-bird-breeding-windows-potentially-threatening-species

Hoàng Nam dịch /khoahocphattrien.vn

Nghĩ gì khi uống cà phê?


Vấn đề không phải cà phê gì, bao nhiêu cà phê, mà là chừng ấy cà phê sinh ra bao nhiêu rác?

Câu trả lời thực ra đơn giản: không nên nghĩ gì.

Vì từ khi thứ nước uống đen ngòm đắng nghét của Vương quốc Kaffa (miền tây nam Ethiopia hôm nay) được phát tán ra toàn thế giới hồi thế kỷ 17, nó đã liên tục thay đổi công năng: từ dược phẩm, chất kích thích, ma túy đến dạng nước uống khoái khẩu hằng ngày.

Cái mà ta, tuy vậy, vẫn nên suy nghĩ là ngay trong khi uống tách cà phê mỗi sáng, con người cũng đang góp tay làm tổn hại 
môi sinh.

KỶ LỤC XỨ LẠNH

Ai từng sinh sống, thậm chí lưu bước vài tuần ở miền Bắc Âu, sẽ hiểu vì sao quá nửa các bản tình ca của họ nhắc đến Mặt trời. Khác với cái nắng thiêu da đốt thịt ở xứ mình, nửa năm liền người ở đó phải ngắm bầu trời như cái chăn bông xám xịt.

Ở đó, người mới vào công ty bị hạn chế nghỉ phép vào mấy tháng hè, để cho các đồng nghiệp thâm niên có được thời cơ tắm nắng. Chắc để tránh trầm cảm hay nhằm giữ được trạng thái tỉnh táo trong không gian u ám đó mà họ cần cái chất methyltheobromine, gọi một cách dân dã hơn là cafein.

Cafein ẩn chứa nhiều trong cà phê, trà, hạt cây cola…, có tác dụng kích thích hệ thần kinh, nhịp tim, nhu động ruột. Kỷ lục về tiêu thụ cà phê nằm trong tay người Phần Lan: mỗi người uống mỗi năm một bịch 10 kg. Nhìn chung, mấy nước lạnh lẽo này uống cà phê như uống nước. Sau Phần Lan là đến Na Uy (9,9kg), Iceland (9kg), Đan Mạch (8,7kg)…

Vấn đề không phải họ uống bao nhiêu cà phê. Mà chừng ấy cà phê sinh ra bao nhiêu rác?

RÁC NHÀ GIÀU

Đúng, phải gọi đó là rác nhà giàu. Trong khi người uống cà phê bình dân chỉ gây ra chút bã trong phin thì các ông lớn như Nestlé, Jacobs đóng bột cà phê vào các túi lọc và ngày càng hướng tới dùng viên nén vỏ nhựa tổng hợp hoặc vỏ nhôm. Máy cà phê sẽ ép nước nóng với áp suất 1,2 – 1,9 bar để tận thu bột cà phê nén trong đó, trong nháy mắt ta có tách cà phê ngon lành mà không mất công rửa phin. Tùy vào thành phần trong viên nén mà ta nhận được cà phê đen hay nâu, Espresso, Cappuccino, Latte hay Macchiato…

Hiện tại, viên nén mới chiếm 5% thị phần, song nó đang tăng trưởng 
không ngừng.

Chậm nhất đến đây, ta nhận ra vấn đề: nhựa tổng hợp hay nhôm đều là các tác nhân có hại cho môi trường. Để có 1kg nhôm từ bôxit, ta cần 14kWh và quá trình chế biến còn tống ra môi trường 8kg thán khí.

Từ 1kg nhôm làm ra 1.000 vỏ viên nén, nghe có vẻ nhiều, song nếu mỗi năm – đoán non – có 8 tỉ viên nén bán ra thì ta cần 8 triệu ký nhôm! Chưa kể đến hàng tỉ cốc nhựa dùng một lần ở Starbucks hoặc các tiệm cà phê bán cho người vội vã qua đường.

Một số thảm họa khác mà người tiêu dùng không nhìn thấy hoặc cố tình lờ đi: mấy nước nghèo chuyên cung cấp cà phê thô dần dần chuyển sang chuyên môn hóa một loại nguyên liệu. Xin nhớ “chuyên môn hóa” chỉ là một mỹ từ ám chỉ “độc canh”, khiến đất đai bạc màu nhanh. Chẳng mấy chốc họ phải trích nguồn thu ít ỏi ra mua phân hóa học, thuốc trừ cỏ, hóa chất diệt rầy của chính các khách hàng lớn.

Thật khó hình dung ra một thế giới không cà phê. Và cà phê có quá đắng khi ta biết đến hậu quả? Vậy ta nghĩ theo hướng khác: làm gì với rác thải từ thú vui cà phê?

GIÀY, BỘT, LY TÁCH

Từ khi châu Âu tiên phong ra lộ trình cấm đồ nhựa dùng một lần, hàng loạt nhà sản xuất tìm cách son phấn cho bộ mặt sứt mẻ của mình. Nestlé Úc trả thưởng cho nhân viên bưu điện để họ thu gom viên nén bằng nhôm và nộp cho trạm tái chế. Có lẽ tốt nhất vẫn là không dùng viên nén? Câu hỏi đó dĩ nhiên không được Nestlé trả lời.

Bã cà phê ở các gia đình thường được cho vào chậu cây cảnh, nghe nói cũng là một dạng phân xanh. Song ở quy mô công nghiệp thì dân Bắc Âu lại dẫn đầu: Công ty RENS của Phần Lan làm từ bã cà phê và cốc nhựa thành một loại sợi, từ đó may giày thể thao. Giày này không ngấm nước, chống mùi mồ hôi, vừa được giải nhì cuộc thi sáng kiến thân thiện với khí hậu “Climate Launch Pad 2018”.

Julian Lechner là sinh viên người Berlin, qua Bolzano (Ý) học thiết kế sản phẩm. Anh biết mỗi ngày châu Âu ném vào thùng rác 8 triệu kg bã cà phê và mày mò tìm cách tận dụng thứ chất thải ấy.

Thí nghiệm trộn bã cà phê với gỉ đường để làm tách đựng cà phê thất bại, vì tách bị tan chảy khi đổ nước nóng vào. Sau nhiều tháng mất ngủ, Lechner tìm ra hỗn hợp gồm bã cà phê, sợi gỗ dẻ, cellulose và polyme sinh học. Bộ ly “Weducer” có màu cà phê nguyên thủy, nhẹ, dễ phân hủy, vừa được giải Red Dot Design Award.

Ai không trồng cà phê thì không biết: hơn một nửa quả cà phê tươi là rác, vì 50kg quả mới ra 10kg hạt khô. Dan Belliveau, sáng lập viên của CoffeeFlour (ở Seattle), biết rằng nông dân Nicaragua hay Việt Nam ném rác xuống ao hồ hoặc chất đống rồi đốt – từng là quản lý của Starbucks nên ông mục sở thị chuyện đó.

Công ty của Dan Belliveau sấy khô thịt quả cà phê (sau khi tách hạt) và xay thành bột, gọi nó là bột cà phê (CoffeeFlour), dùng để nấu nướng như bột mì hay bột ngô. CoffeeFlour chứa nhiều sắt, đạm, kali, chất xơ hơn bột mì và người trồng cà phê nay có thêm thu nhập.

Giờ thì đã xong chầu cà phê sáng, chỉ nghĩ thêm một điều nữa: các vấn đề với cà phê sẽ tuyệt đối không thể giải quyết, mà còn trở nên khủng khiếp hơn nếu ta thay cà phê bằng bắp rang, đậu nành, hạt muồng, hóa chất tạo bọt, 
tạo sánh…

Công ty của Dan Belliveau sấy khô thịt quả cà phê (sau khi tách hạt) và xay thành bột, gọi nó là bột cà phê (CoffeeFlour), dùng để nấu nướng như bột mì hay bột ngô. CoffeeFlour chứa nhiều sắt, đạm, kali, chất xơ hơn bột mì và người trồng cà phê nay có thêm thu nhập.

Giờ thì đã xong chầu cà phê sáng, chỉ nghĩ thêm một điều nữa: các vấn đề với cà phê sẽ tuyệt đối không thể giải quyết, mà còn trở nên khủng khiếp hơn nếu ta thay cà phê bằng bắp rang, đậu nành, hạt muồng, hóa chất tạo bọt, tạo sánh…

LÊ QUANG – Tuoitre.vn

Hành trình của rác thải nhựa


Theo dấu chân những đồ nhựa từ khi sản xuất đến lúc kết thúc vòng đời trên biển, đất liền và trong bụng con người.

Theo TEDEd – http://khoahocphattrien.vn

https://www.ted.com

https://nguoidentubinhduong.blogspot.com/p/hanh-trinh-cua-rac-thai-nhua.html