Anonymous công bố thông tin bị rò rỉ liên quan tới điện hạt nhân của Việt Nam


 

Ngày 5/7/2012, tổ chức Anonymous đã công bố 1.2 Gigabyte dữ liệu nội bộ từ công ty Innodata Isogen. Tổng cộng có 40 Gigabyte sẽ được phát hành, bao gồm cả thông tin liên lạc của nhà cung cấp dữ liệu kinh doanh Thomson-Reuters vẫn chưa được tiết lộ.

 

any

 

Các thông tin bị rò rỉ chủ yếu chứa các tài liệu từ Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), đặc biệt có tài liệu liên quan đến sự phát triển của một cơ sở hạ tầng hạt nhân tại Việt Nam. Những tập tin này bao gồm các tài liệu tiếng Anh và tiếng Việt, bản scan hộ chiếu công vụ, thông tin cá nhân của một số cán bộ.

Bên cạnh đó Anonymous còn công bố một số tài liệu liên quan tới sự cố điện hạt nhân Fukushima.

 

(Theo Par-anoia)

http://www.vnisa.org.vn

Hội tụ anh tài võ Việt


 

 

Liên hoan quốc tế võ cổ truyền VN lần 4 quy tụ 69 đoàn võ thuật với 725 võ sư, huấn luyện viên và võ sinh đến từ 27 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và 28 đoàn võ thuật trong nước.

Liên hoan diễn ra từ ngày 1 đến 3-8 tại Bình Định. Đây là dịp hội tụ những con người có chung niềm đam mê võ thuật đến từ nhiều vùng miền khác nhau.

 

 
Võ sư Thích Trung Thiền, môn phái Nội Gia Quyền ở TP.HCM, biểu diễn tại liên hoan võ – Ảnh: Ngô Thanh Bình

 

Không phân biệt màu da và ngôn ngữ, võ sư, võ sinh “tây” – “ta” cùng thắp nén nhang trước điện thờ hoàng đế Quang Trung tại quê hương đất võ Tây Sơn bái tổ, tôn vinh. Họ cùng giao lưu, biểu diễn võ thuật tại các võ đường nổi tiếng, tặng cho nhau những món quà đặc trưng thể hiện tình hữu nghị. Liên hoan quốc tế võ cổ truyền lần này đã góp phần bảo tồn và phát huy tinh thần thượng võ của dân tộc Việt Nam, gắn kết tình hữu nghị giữa những người yêu võ cổ truyền Việt Nam trên thế giới với Việt Nam. Chị Roberta, môn phái Tinh Võ Đạo (Ý), tâm sự: “Liên hoan võ ở Bình Định là một sân chơi lớn, tập hợp nhiều tài năng để trổ tài và học hỏi lẫn nhau. Tôi rất ngưỡng mộ những võ sư ở đây, họ rất giỏi. Qua những buổi giao lưu, xem biểu diễn, tôi tự nhận thấy mình cần phải tiếp tục rèn luyện nhiều, rèn luyện một cách nghiêm túc. Võ cổ truyền Việt Nam rất tuyệt”.

 

 
Hồ Thị Như Ý (12 tuổi) tập võ tại Bảo tàng Quang Trung – Ảnh: Trường Đăng

 

 

 
Các võ sinh Võ Kinh Vạn An Thái (Pháp) biểu diễn ở bãi biển Quy Nhơn – Ảnh: Hoa Khá

 

 

 
Lễ hội đường phố là một nét mới trong liên hoan võ năm nay – Ảnh: Hoài Thu

 

 

 
Trình diễn trang phục áo dài truyền thống trong lễ hội đường phố – Ảnh: Hoài Thu

 

 

 
Rước cờ các nước tham gia Liên hoan quốc tế võ cổ truyền Việt Nam lần 4-2012 tại Bình Định – Ảnh: Tiến Thành

 

 

 
Hai võ sư thuộc đoàn Việt Võ Đạo Ý biểu diễn tại chùa Long Phước, Tuy Phước – Ảnh: Tiến Thành

 

 

 
Biểu diễn quyền gậy mang đặc trưng của võ cổ truyền Việt Nam – Ảnh: Tiến Thành

 

 

 
Các võ sinh đến thắp nhang trước điện thờ ba anh em nhà Tây Sơn tại Bảo tàng Quang Trung – Ảnh: Tiến Thành

 

 

 
Tiết mục biểu diễn tại chùa Long Phước (huyện Tuy Phước). Đây là nơi dạy võ lâu đời và nổi tiếng tại Bình Định – Ảnh: Đào Tiến Đạt

 

 

 
Các võ sinh môn phái Việt Võ Đạo (Ý) thể hiện sự thích thú với chiếc nón lá Việt Nam – Ảnh: Trường Đăng

 

 

 
Đông đảo các đoàn võ thuật và người dân đến dâng hương, dâng hoa, bái tổ trước tượng đài hoàng đế Quang Trung và các văn thần, võ tướng nhà Tây Sơn tại Bảo tàng Quang Trung – Ảnh: Na Uyên

 

 

 

TIẾN THÀNH – TRƯỜNG ĐĂNG – TTO

 

Đi tìm bản sắc võ Việt: Trong võ có văn


 

 

Phương pháp truyền dạy võ thuật Việt Nam không giống bất cứ môn võ nào trên thế giới. Võ sinh nhập môn phải học thuộc lời thiệu.

Thiệu là một bài văn vần với các thể loại lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn. Nắm được ý nghĩa lời thiệu mới học tới bài thảo (quyền). Khi đi quyền thuần thục mới được hướng dẫn phần phân thế.

Có lẽ ít dân tộc nào trên thế giới có tinh thần lạc quan, lãng mạn như dân tộc Việt. Ngay cả trong hoàn cảnh hiểm nghèo vẫn ung dung cầm gươm ra trận, tiếng thơ vẫn vang lên sang sảng. Như trong trận chiến với quân Tống tại phòng tuyến sông Như Nguyệt năm Bính Thìn (1076), trước thế giặc đang mạnh, quân Đại Việt vẫn không hề nao núng, hai bên giằng co quyết liệt.

Bất ngờ trong một đêm tiếng ngâm thơ vang lên hùng tráng: Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư… Tiếng thơ như của thần nhân đã gieo vào lòng binh lính một sức mạnh ghê gớm, ai nấy đều nức lòng đánh giặc. Quân giặc buộc phải lùi bước và cuối cùng lui binh về nước, nuốt mối nhục bại trận ê chề.

Có thể nói tinh thần lạc quan đã ngấm sâu trong từng tế bào, trong từng huyết mạch của dân tộc. Cái nhân sinh quan sống đó đã cho người Việt có sự sáng tạo phi thường. Võ thuật là lĩnh vực người Việt có nhiều thành tựu, tạo nên sức chiến đấu bền bỉ từ đời này sang đời khác. Có hiểu như vậy thì mới lý giải được tại sao một đất nước không rộng, người không đông lại đánh bại những kẻ xâm lấn lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần.

Chỉ cần tìm trong các bài võ cổ truyền, các nhà nghiên cứu có thể thấy tinh thần lấy mềm thắng cứng, lấy yếu thắng mạnh, lấy ít thắng nhiều. Sự kết hợp hài hòa giữa thi ca (lời thiệu) và các thế võ thể hiện nguyên lý âm dương tương hỗ. Kỹ thuật thể hiện trong các bài võ cổ truyền đều chú trọng đến thực chiến, không cần tạo dáng hoa mỹ. Đấy cũng là cách hành xử xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước, tạo nên sách lược và chiến lược quyền biến để nước Việt trường tồn đến ngày hôm nay.

Thử phân tích một vài câu thiệu trong bài Lão mai quyền. Đây là bài võ khá phổ biến, thuộc dòng võ Tây Sơn, mô phỏng hình tượng cây mai già vững chãi trước gió. Lão mai độc thọ nhứt chi vinh/Lưỡng túc khinh khinh tấn bộ hoành (Cây mai già riêng lẻ, một nhánh trổ hoa. Hai chân bước nhẹ, tiến lên tấn công rồi vòng về). Lời thiệu câu đầu có cách nói ẩn dụ, câu hai chỉ dẫn bước chân tấn và hoành bộ tạo nên thế đánh và dụ địch. Vừa đọc thơ (thiệu) vừa đi quyền là sự phối hợp tuyệt vời giữa tâm pháp và thân pháp. Khi điêu luyện đến độ tâm thân hợp nhất là đã đạt tới cảnh giới tối cao: tâm cùng ý hợp, ý cùng khí hợp, khí cùng lực hợp.

 

Các môn sinh nước ngoài theo học võ cổ truyền Việt Nam – Ảnh: C.T

 

Trở lại với bài roi Thần đồng: Chống roi đứng thủ thần đồng/Bước qua bên trái đánh càn lưỡng biên/Đánh rồi thì chống roi lên/Quay lưng đâm trái, phút liền đánh qua… Chỉ qua mấy câu thơ lục bát dễ hiểu, dễ nhớ làm môn sinh học võ rất dễ nhập tâm này, đã nói lên tính ưu việt của phương pháp dạy võ của người xưa. Cách học này khi đã thuộc rồi thì không có cách nào quên. Các thế võ càng điêu luyện thì tinh thần nhân văn càng thấm đẫm trong tâm hồn. Cho nên học võ mà không trở thành võ biền, biết cách hành xử với tha nhân là tâm thế của hành giả luyện võ xưa nay.

Một võ sinh cho dù đã thuộc làu các bài thảo (quyền) vẫn không thể ứng dụng nếu chưa được người thầy phân thế. Phân thế là cách giải mã những chiêu thức cài đặt trong bài quyền. Ngày xưa tùy theo đạo đức của người học trò mà thầy phân cho bao nhiêu thế. Có những thế võ hiểm chết người tuyệt đối không chỉ dạy cho những kẻ mang tâm tính bất trung bất nghĩa. Trong 18 bài võ thống nhất đã được Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam ban hành, ban chuyên môn đã tập họp các vị võ sư phân thế 10 bài quyền. Bộ sách phân thế sẽ được cho xuất bản trong một ngày gần đây.

Ở đây chúng ta nhận thấy cách dạy võ cổ truyền không giống các môn võ khác trong thiên hạ. Võ thuật các nước luôn đi từ phân tích đến tổng hợp, học thuộc từng động tác riêng lẻ rồi mới ráp lại thành quyền. Cách này có ưu điểm là rất dễ học. Võ cổ truyền Việt Nam đi ngược lại tổng hợp rồi mới phân tích. Nếu không nghiên cứu sâu xa sẽ có nhiều ý kiến cho rằng võ Việt thiếu tính khoa học. Về vấn đề này cũng đã có nhiều cuộc tranh luận.

Võ sư Huỳnh Tuấn Kiệt thuộc dòng võ Huỳnh Gia cho rằng: “Cư dân Việt cổ xưa đã phát kiến và làm chủ nhiều tri thức. Chính người Việt trong nền văn hóa phương Nam rộng lớn đã tìm ra cặp đối lập âm dương. Âm dương nằm trong chỉnh thể thái cực nhất nguyên. Nhất nguyên là cách nhìn toàn thể trước khi phân cực của mỗi sự vật. Chính các bài quyền võ cổ truyền đã thể hiện cách nhìn minh triết này”.

Như vậy triết lý và phương pháp dạy võ cùng cấu trúc quyền thuật Việt Nam hoàn toàn khác biệt với các nền võ học khác. Đây là một “nền võ học có hệ thống căn bản, quyền pháp, binh khí riêng. Có binh thư, binh pháp như Hổ trướng khu cơ, Vạn kiếp tông bí truyền, Binh thư yếu lược. Được nhiều binh gia nổi tiếng áp dụng thành công trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Ngày nay tuy cùng phát triển với những môn võ khác từ nước ngoài du nhập, nhưng võ cổ truyền Việt Nam vẫn giữ một bản sắc riêng, có ngôn ngữ riêng và đứng riêng một chân trời cùng tuyệt”.

Những dòng nhận định trên của võ sư Trương Văn Bảo, Phó ban Chuyên môn Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam như “thay lời muốn nói” của nhiều võ sư tâm huyết trong làng võ Việt Nam.

 

 

Nguồn: Cao Thụ – Thanh Niên Online

 

Võ sư Phạm Đình Phong: “Treo ấn từ quan” vì võ Việt


 

 

Từng là một quan chức cao cấp của ngành TDTT Bình Định, nhưng niềm đam mê và ý thức trách nhiệm với các môn võ cổ truyền của dân tộc đã khiến võ sư Phạm Đình Phong xin thôi chức PGĐ Sở TDTT Bình Định để có thể dành toàn bộ thời gian và tâm huyết cho hành trình chấn hưng võ Việt.

Tâm nguyện chấn hưng võ cổ truyền

Sinh ra và lớn lên trên miền đất võ Bình Định, đâu đâu cũng có phong trào học võ và luyện võ nên từ tấm bé võ sư Phạm Đình Phong đã được trui rèn trong môi trường võ thuật, nơi không chỉ rèn luyện thể chất và tinh thần, mà còn giúp ông thêm hiểu biết và yêu mến truyền thống võ học vĩ đại của dân tộc VN.

Từng là Phó Giám đốc Sở TDTT tỉnh Bình Định, võ sư Phạm Đình Phong không ngừng trăn trở vì nền võ dân tộc đang dần mai một, các làng võ dần biến mất, các tư liệu quý dần thất lạc theo thời gian, nếu không kịp thời chấn hưng bảo tồn thì e rằng trong thời gian ngắn nữa sẽ không còn khi các võ sư lớn tuổi qua đời.

Nhận ra việc bảo tồn văn hóa dân tộc là điều cấp bách trước nguy cơ nền văn hóa dân tộc bị pha tạp, vì thế, cuối năm 2000, ông xin thôi chức để tập trung sưu tầm nghiên cứu võ học. Với kinh nghiệm trong công tác quản lý văn hóa thể thao, ông vào công tác tại báo Thể thao VN với các bút danh Đình Phong, Duyên Anh, Phạm Đình.

Một thời gian dài võ cổ truyền không được chú trọng, ông đi gõ cửa nhiều nơi thỉnh đạt những ý kiến mong được quan tâm để cùng chấn hưng dòng võ dân tộc. Bên cạnh đó, ông tự bỏ kinh phí đi khắp nơi từ Nam ra Bắc để nghiên cứu, đúc kết, sưu tầm những tư liệu, những di chỉ và tài liệu quý của võ dân tộc để xây dựng những kế hoạch phát triển nâng tầm võ Việt.

 

 

Võ sư Phạm Đình Phong tâm huyết với võ cổ truyền Việt Nam

 

“Trong cuộc hành trình đầy chông gai này, nhiều lúc tôi có ý định bỏ cuộc. Nhưng mỗi lần như vậy thì dòng máu đam mê võ học lại thôi thúc khiến tôi suy nghĩ rằng, một nền võ học dân tộc với bao công lao của các vị võ sư, các bậc tiền bối cha anh đã dày công gây dựng không thể bị mai một. Như vậy sẽ có lỗi với tổ tiên”, võ sư Phạm Đình Phong chia sẻ về hành trình của mình.

Yêu quý, đam mê nghiệp báo và nặng lòng với võ thuật, ông đã phối hợp cùng phòng truyền hình báo Tuổi trẻ dàn dựng bộ phim “Huyền thoại miền đất võ” gồm 6 tập và ngay sau đó, nó tạo được tiếng vang lớn trong công tác bảo tồn nền võ học dân tộc.

Năm 2006, với mối quan hệ nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực võ thuật, ông cùng nữ võ sư Hồ Hoa Huệ vận động các hiệp hội võ cổ truyền VN các nước cùng hành hương về nguồn. Đồng thời đề xuất UBND tỉnh Bình Định để tổ chức liên hoan quốc tế võ cổ truyền VN lần đầu tại quê hương Hoàng đế Quang Trung (Tây Sơn, Bình Định).

Việc tổ chức ở đây không chỉ đơn thuần là hoạt động giao lưu võ thuật, mà còn là cuộc hành trình về thăm miền đất võ oai hùng, thăm các di tích lịch sử, văn hóa và các làng võ nổi tiếng đã dệt nên bao huyền thoại kỳ bí được lưu truyền từ đời này sang đời khác trên chính quê hương của người anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung-Nguyễn Huệ.

Lần tổ chức đầu tiên chính là cầu nối của võ Bình Định với bạn bè võ sư – võ sĩ nước ngoài. Từ đó đến nay đã 3 kỳ liên hoan được tổ chức và đều là những ngày hội lớn của người yêu võ. Đầu tháng 8/2012 này sẽ là liên hoan lần thứ 4. Tính đến thời điểm này đã có 53 đoàn của 26 quốc gia đăng ký tham gia.

40 năm làm trong ngành văn hóa thể thao, ông đã đi khắp miền đất nước tìm hiểu võ thuật cũng như giành hết tâm huyết để chấn hưng nền võ học cổ truyền nước nhà. Tâm nguyện lớn nhất của ông là mong sao trước lúc qua đời được nhìn thấy võ cổ truyền VN trở thành quốc võ như thời hoàng kim cách đây hơn 200 năm của nhà Tây Sơn.

Đổi 12 năm cho 1 tác phẩm

Sau nhiều năm điền dã đến nhiều miền đất nước để nghiên cứu sưu tầm, ông chứng kiến sự biến mất khá nhanh của các “bảo bối” võ cổ truyền dân tộc. Nhiều làng võ vang danh một thời nay chỉ còn trong ký ức; nhiều dòng võ, võ phái nổi tiếng với các bậc anh hùng võ công tuyệt thế nhưng nhiều lý do khác nhau mà con cháu không theo nghiệp võ nữa nên hầu hết các tư liệu, hiện vật về võ học cũng mai một theo năm tháng. Mặt khác phần lớn các sách sử về võ học do để quá lâu và không được bảo quản đúng cách cũng đã nhanh chóng bị hư hỏng và tiêu hủy, trong khi đó ở các thư viện, viện nghiên cứu, trung tâm lưu trữ tư liệu lại quá ít.

Lo sợ trước thực trạng trên, đầu năm 2001, sau khi xin thôi giữ chức Phó Giám đốc Sở TDTT Bình Định, ông bắt đầu cuộc phiêu lưu tìm về cội nguồn của võ học cổ truyền. Đó là một chặng đường đầy chông gai. Một mình đơn độc trong việc sưu tầm nghiên cứu với điều kiện thiếu thốn trong khi nguồn tư liệu quá khan hiếm, tản mát do đó ông gặp không ít khó khăn khi đến các bảo tàng, thư viện, viện nghiên cứu, kho dữ liệu và các vùng đất võ để sưu tầm khai thác các nguồn tư liệu, gặp gỡ các dòng tộc, môn phái, võ sư…

Năm 2009, ông gặp tai nạn trên đường nghiên cứu và có ý định bỏ cuộc, nhưng với lòng yêu nghề và sự động viên của các võ sư, giáo sư, ông đã tiếp tục viết tác phẩm tâm huyết.

12 năm, một quãng đời không nhỏ của một con người chỉ dành cho việc nghiên cứu đúc kết tinh hoa võ thuật, cuối cùng đứa con tinh thần mà ông Phong mang nặng đẻ đau cũng hoàn thành.

Nó mang tên “Lịch sử võ học VN”, sách được phát hành vào ngày 17/6/2012. Sách dày 784 trang, gồm 2 chương, 12 mục và hơn 80 tiểu mục về quá trình hình thành, các giai đoạn phát triển, mốc son, sự kiện lịch sử oai hùng của nền võ Việt. Sách cũng có nhiều thông tin về các bậc tiên đế, anh hùng trung liệt với võ công tuyệt luân.

Những mảnh đất võ và nhiều truyền thuyết thú vị về những võ sư, môn phái lừng danh được dân gian truyền tụng cũng được ghi chép lại. Những kiến thức về hệ thống võ học VN như võ lý, võ lễ, võ đạo, võ y… cũng được viết lại một cách sâu sắc.

12 năm đằng đẳng không quản công chỉ với một khát khao gìn giữ cho được một tinh hoa văn hóa của dân tộc. Ngần đó thôi đủ nói lên cái tâm của ông với truyển thống, bản sắc đáng tự hào của quê hương. Trưởng thành trong gian khó nên thấu hiểu những khó khăn trên con đường võ nghiệp, hơn 40 năm hoạt động và chuyên tâm nghiên cứu võ cổ truyền dân tộc võ sư Phạm Đình Phong còn có một ước nguyện thành lập quỹ ủng hộ tài năng võ thuật và các lão võ sư gặp khó khăn hoạn nạn trong cuộc sống. Với những tấm gương điển hình như võ sư Phạm Đình Phong, võ học VN không sợ mất đi cái vốn quý nhất.

 

Tân Khánh Bà Trà


Võ Thị Trà

Võ Thị Trà là một dũng tướng trước thời thực dân Pháp xâm lực Nam Kỳ, là người phụ nữ gắn trực tiếp với tên gọi một môn phái võ thuật cổ truyền Việt Nam: môn phái Tân Khánh Bà Trà

 

Tiểu sử

Gốc gác của bà Trà vốn là dòng dõi của một vị tướng nhà Tây Sơn đã từ bỏ quê hương Tây Sơn, Bình Định vào đây sinh sống từ đầu thế kỷ XIX để tránh sự trả thù của vua Gia Long. Tương truyền bà Trà từng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nhân dân địa phương chống lại bọn cường hào ác bá tại địa phương khoảng từ năm 1850 đến 1859.

Bà Võ Thị Trà cũng là người phụ nữ có công khai phá vùng đất mà nay là xã Bình Chuẩn, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Để ghi công của bà, nhân dân đã gọi vùng đất này bằng tên “đất Bà Trà”, nay còn lưu lại tên giáo xứ Bà Trà với một nhà thờ Công giáo nằm trên địa bàn xã Bình Chuẩn, thuộc giáo phận Phú Cường.

Bà Trà và võ phái Tân Khánh Bà Trà

Chính sự định cư của vị tướng này và sau là uy danh của bà Trà mà môn phái võ thuật Tân Khánh đã được nối dài thêm hai tiếng Bà Trà để thành võ thuật Tân Khánh Bà Trà.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

——————————————————–

 

 

Tân Khánh Bà Trà

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Mục lục

Tân Khánh Bà Trà hay Bà Trà-Tân Khánh hay Võ lâm Thiếu Lâm[1] là một trong những hệ phái võ thuật thuộc võ cổ truyền Việt Nam. Hệ phái có xuất xứ từ Bình Định và được các võ sư trau chuốt qua nhiều thế hệ tại vùng đất mớimiền Nam Việt Nam là làng Tân Khánh (nay là thị trấn Tân Phước Khánh, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), và làng Bình Chuẩn (nay thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương).

Lịch sử

Bình Định là quê hương của những hệ phái võ Tây Sơn nổi tiếng, gắn liền với chiến công hiển hách của những đoàn quân bách chiến bách thắng dưới ngọn cờ đào của Tây Sơn tam kiệt Nguyễn Nhạc, Nguyễn HuệNguyễn Lữ. Sau khi Gia Long được người Pháp hậu thuẫn đánh bại nhà Tây Sơn (1778-1820), nhiều người dân vùng đất này đã buộc phải di cư vào Nam trốn tránh sự thảm sát trả thù của vương triều mới và lập ra làng Tân Khánh. Họ mang theo mình truyền thống thượng võ và những kỹ pháp võ thuật của quê hương Tây Sơn-Bình Định tới vùng đất mới, tiếp tục phát triển nó trong sự hòa trộn với những hệ thống kỹ thuật tại quê hương mới[2].

Giữa thế kỷ 19, dưới triều vua Tự Đức (1848-1883), nổ ra một sự kiện phản ánh rõ rệt tinh thần bất khuất của dân làng Tân Khánh: cuộc khởi nghĩa của dân làng Tân Khánh chống lại bè lũ quan lại thối nát tay sai của ngoại bang ở địa phương. Ngày nay nhiều người dân bản địa vẫn còn rất tự hào về sự kiện này và luôn nhắc về nó gắn liền với tên tuổi của một người phụ nữ tên là Võ Thị Trà[3]. Bà vốn rất giỏi võ Tây Sơn, đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa trong 10 năm trời ròng rã từ năm 1850 và chấm dứt khi khi người Pháp xâm lược ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vì vậy, vùng đất này, bao gồm cả làng Tân Khánh và làng Bình Chuẩn còn được gọi là “đất Bà Trà”. Và cũng từ đây, người dân gọi phái võ truyền thống xuất phát từ Tân Khánh, Bình Chuẩn là “phái võ Bà Trà – Tân Khánh” hay “Tân Khánh Bà Trà”. Thời đó, phái võ này được coi là một trong số rất ít phái võ cổ truyền có tiếng ở miền Nam Việt Nam. Võ Bình Định, võ Tân Khánh Bà Trà cũng đã nổi tiếng trong giới võ lâm Việt Nam[4].

Đặc điểm

Một đòn đá thẳng trong võ Tân Khánh Bà Trà đang được các môn sinh luyện tập.

Hai môn sinh Tân Khánh Bà Trà đang luyện đấu tề mi côn.

Hình thành và phát triển trên quê hương mới, phái võ Tân Khánh Bà Trà vẫn duy trì gần như tất cả những miếng võ cơ bản của phái Tây Sơn trong đó có những bài danh quyền như Ngọc trản, Lão mai quyền, Thần đồng quyền, Thái Sơn[5], Tấn Nhứt, Huỳnh Long quá hải, Đồng Nhi, Lão Mai, Thiền Sư…, các bài côn như Tấn nhất, Tứ môn, Thần Đồng, Giáng Hỏa, Ngũ Môn… và nhiều bài binh khí như: Siêu Thái Dương, Siêu Thái Âm, Song Kiếm, Trường Thương… Tuy nhiên các võ sư đã điều chỉnh và cải tiến các kỹ thuật đòn thế để phù hợp với vùng đất mới đồng thời gia tăng hiệu quả tính, nhanh hơn và mạnh mẽ hơn. Những bài thiệu dùng để dạy các võ sinh trong võ Tây Sơn cũng được trau truốt, một số bài có cả những câu mới được bổ sung.

Đặc trưng kỹ thuật của võ phái Tân Khánh Bà Trà là lối tấn công phối hợp, liên hoàn những kỹ thuật đòn chân và đòn tay nhằm làm rối loạn sự phòng thủ của đối phương cũng như giúp cho sự tấn công đạt hiệu quả cao. Những đòn tay và đòn chân tung ra theo đường thẳng, có sức án ngự mọi sự tấn công đối phương được võ phái này chú trọng ngang với những đòn tay và đòn chân, cận chiến bằng kỹ thuật đầu gối, cùi chỏ, nắm đấm, cạnh bàn tay, ngón tay, ức bàn tay… Chính đặc điểm này đã giúp cho môn sinh của võ phái Tân Khánh Bà Trà có khả năng chiến đấu trong mọi tình huống.

Binh khí của võ phái Tân Khánh Bà Trà có đủ thập bát ban võ nghệ nhưng nổi tiếng nhất với roi và côn, là thứ binh khí làm từ nguyên liệu có sẵn tại địa phương như: tre, tầm vông, gỗ căm xe, gỗ mật cật… Nhiều bậc tiền bối của võ phái Tân Khánh Bà Trà từng nổi danh với những đường roi, đường côn kỳ tuyệt đả bại nhiều cao thủ khắp lục tỉnh Nam Kỳ.

Hệ thống đai được sắp xếp từ thấp đến cao như sau: – Huyền đai (đai đen) – Thanh đai (đai xanh lá cây) – Hồng đai (đai đỏ) – Hoàng đai (đai vàng) – Bạch đai (đai trắng)

Võ sư

Võ phái Tân Khánh Bà Trà có nhiều thế hệ anh tài nối tiếp nhau vang danh khắp Nam Bộ. Bà Võ Thị Trà, thường gọi tắt là Bà Trà, lẫy lừng một thời ở Tân Khánh chống lại bọn tham quan ô lại, để rồi tên đất được gắn thêm tên người kể từ giữa sau thế kỷ 19. Hai anh em Võ Văn Ất (Hai Ất) và Võ Văn Giá (Ba Giá) và bà Võ Thị Vuông (Năm Vuông) từng làm rạng danh võ phái Tân Khánh Bà Trà với những lần đánh hổ[6] [7].. Những võ sư nổi tiếng khác có thể kể tên: Hai Đước, Sáu Trực, Năm Nhị, Bảy Phiên và Năm Quy, mỗi người đều có những phong cách riêng với nhiều thành tích. Quyền sư Võ Văn Đước (Hai Đước) phá tan thế trận Mai Hoa Thung bảo vệ thanh danh xứ sở. Sáu Trực, một học trò của Hai Ất, tiếp nối truyền thống rực rỡ của thầy, đã truyền thụ võ công cho nhiều môn sinh trong số này có hai nhà chí sĩ yêu nước Nguyễn An NinhPhan Văn Hùm. Đệ nhất côn Đỗ Văn Mạnh (Năm Nhị) làm cho võ phái Tân Khánh Bà Trà nổi tiếng khắp Nam kỳ với cây trường côn khiến nhiều võ sĩ kinh hồn táng đởm. Trong khi đó Bảy Phiên và Năm Quy lại đóng góp cho sự phát triển của môn phái bằng cách đào tạo những môn sinh cho các cuộc đấu võ đài mà người Pháp tổ chức những năm 1930-1940, đồng thời rèn luyện kỹ pháp chiến đấu, giáo dục tinh thần yêu nước cho những người tham gia các phong trào khởi nghĩa chống Pháp nổ ra trong vùng [8].

Những năm 1950 phái Tân Khánh Bà Trà bước sang một giai đoạn mới. Nối tiếp truyền thống hào hùng của võ phái, lão võ sư Hồ Văn Lành (biệt danh Từ Thiện, môn đệ xuất sắc của Bảy Phiên và là cha của võ sư Hồ Tường sau này) đã rời quê hương lên Sài Gòn tham gia Tổng cuộc Quyền thuật Việt Nam, một tổ chức quần chúng được chính quyền Sài Gòn cho phép hoạt động dưới quyền Tổng nha Thanh niên của Bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên. Tại đây, với tư cách Ủy viên Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Cuộc Quyền Thuật Việt Nam vài nhiệm kỳ (từ những năm 1950 đến 1975), võ sư Hồ Văn Lành đã nỗ lực giúp hòa nhập và phổ biến võ phái Tân Khánh Bà Trà vào cộng đồng võ thuật miền Nam. Cho đến năm 1984, khi đã 70 tuổi, lão võ sư Hồ Văn Lành đã truyền bá võ phái Tân Khánh Bà Trà tới hàng vạn môn sinh (các môn sinh nam mang họ Từ và các môn sinh nữ mang họ Hồ) và trang bị kỹ thuật đặc thù của môn phái cho họ. Hơn 400 võ sĩ chuyên nghiệp đã được đào tạo trong đó có tới 100 phụ nữ. Nhiều môn sinh đã trưởng thành, tiếp bước con đường truyền bá võ phái Tân Khánh Bà Trà cho các thế hệ nối tiếp ngay tại các quận, huyện của thành phố Hồ Chí Minh, một số tỉnh thành Nam Bộ và cả ở nước ngoài.

Đóng góp

Một lớp võ Tân Khánh Bà Trà không lấy học phí dành cho sinh viên.

Một buổi thi đấu cờ người (kết hợp giữa thi đấu cờ tướng và biểu diễn võ thuật Tân Khánh Bà Trà.

Phái võ Tân Khánh Bà Trà đã đóng góp vào kho tàng võ học truyền thống của dân tộc nhiều kỹ thuật mới như các bài quyền Đồng nhi quyền (còn gọi là Bát Tiên), Tấn nhứt côn và đặc biệt là bài Tứ linh đao.

Một số môn sinh xuất sắc của võ phái Tân Khánh Bà Trà đã từng tham gia thi đấu võ đài, đạt được hai huy chương vàng (Từ Thanh Nghĩa và Hồ Ngọc Thọ), bốn huy chương bạc (Từ Thanh Tòng, Từ Duy Tuấn, Từ Hoàng Út, Hồ Thanh Phượng), một huy chương đồng (Từ Hoàng Minh) trong các giải vô địch toàn quốc. Ba người (Từ Thanh Nghĩa, Từ Trung Tín, Từ Y Văn) đã từng được chọn đại diện cho toàn miền Nam thi đấu bẩy trận toàn thắng trước các nhà vô địch của những nước Thái Lan, Lào, Campuchia. Các võ sĩ chưa từng nếm mùi thất bại liên tục trong mười trận đấu: Từ Hùng (từng là Phó giám đốc Sở Thể dục Thể thao tỉnh Tây Ninh), Hồ Hoàng Thủy, Từ Dũng, Hồ Hoàng Hạnh, Từ Bạch Long, Hồ Tố Nguyệt. Có người đã trưởng thành với tư cách một chưởng môn của một võ phái mà nhiều kỹ thuật của võ phái có nguồn gốc từ Tân Khánh Bà Trà như Hồ Hoa Huệ [9].

Thành tích

Ngày nay, võ sư Nguyễn Hồng Đỏ của môn phái Tân Khánh Bà Trà, đang công tác tại Trung Tâm Thể dục Thể thao huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, tiếp tục góp phần mang lại vẻ vang cho môn phái với trên 120 huy chương các loại (vàng, bạc, đồng) tại các giải vô địch học sinh, Hội khỏe Phù Đổng , cụm, thành phố Hồ Chí Minh, trẻ thành phố Hồ Chí Minh, câu lạc bộ mạnh thành phố Hồ Chí Minh, câu lạc bộ mạnh toàn quốc, trẻ toàn quốc và toàn quốc, chủ yếu về môn thi đấu đối kháng của Võ Cổ Truyền và về môn thi đấu đối kháng của Quyền AnhWushu . Trong đó có 1 huy chương bạc quốc tế về Quyền Anh, 2 huy chương vàng quốc gia (võ sĩ Trần Văn An và võ sĩ Nguyễn Thanh Tâm), 17 huy chương vàng thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều võ sĩ của võ sư Nguyễn Hồng Đỏ đã từng thi đấu quốc tế và số khác trở thành vận động viên đội tuyển thành phố Hồ Chí Minh, như: Phạm Thanh Hải, Dương Tấn Hùng, Mai Hoàng Trí…

Những câu chuyện và nhận định về Tân Khánh Bà Trà

  • Theo một tờ nhật báo Việt Nam phát hành cách nay đã lâu thì “ông Cả Đại ở Thủ Dầu Một nhảy qua nóc nhà ngói một cách dễ dàng và con gái của ông ta chỉ đại được một phần công phu của cha mà đã nhảy qua được cây rơm” [10]
  • Người dân Sông Bé tự hào vì “làng Tân Khánh đã có một cô gái trẻ, với võ thuật Tân Khánh Bà Trà, đã đơn thương giết chết cọp, khiến ngoại bang hết lòng khâm phục”[11].
  • “Tôi nghĩ đến danh đồn võ ta ở Bà Trà Tân khánh đánh cọp rất hay, mà nếu không sao dám đánh với cọp dữ? Thử hỏi võ Đại Hàn, võ Nhu Đạo, võ đánh Bóc có dám đứng nhìn khi gặp cọp trong rừng không?” [12].
  • Sáng ngày 29 tháng 5 năm 2009, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh Uỷ và Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh Bình Dương, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường tỉnh Bình Dương đã thông qua công trình nghiên cứu “Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà – Bình Dương” do Tiến sĩ Hồ Sơn Diệp làm chủ nhiệm công trình, Thạc sĩ – võ sư Hồ Tường là một trong những thành viên trực tiếp thực hiện công trình. Công trình “Bảo tồn và phát huy võ thuật Tân Khánh Bà Trà – Bình Dương” dự kiến sẽ tiến hành trong vòng 18 tháng.

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Có một lớp võ SV miễn phí hơn 10 năm

    có đoạn “võ sư Hồ Văn Tường hiện nay đã có 24 năm đứng lớp võ dành cho các bạn trẻ yêu thích bộ môn Thiếu lâm võ lâm”. Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ. Có thể tên này là theo cách gọi một số võ sinh

  2. ^ Bài Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, trong cuốn Võ dân tộc, Hữu Ngọc và Lady Borton chủ biên, NXB Thế giới, H. 2004, trang 53 kéo dài đến 54
  3. ^ Đây chỉ là tương truyền. Xem thêm bài Võ Thị Trà
  4. ^ Bài Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, như trên, trang 54, đoạn 3
  5. ^ Trong võ thuật cổ truyền Việt Nam, cụ thể là môn phái Tân Khánh Bà Trà và môn phái Bình Định, Thái Sơn, tên một ngọn núi nổi tiếng ở Trung Quốc, được chọn để đặt tên cho một bài quyền và một bài côn. Trong chương trình thống nhất của Liên Đoàn Võ thuật Cổ truyền Việt Nam có bài côn Thái Sơn. Đặc trưng của hai bài võ này là có đòn thế vững chắc, dũng mãnh giống như núi Thái Sơn ở Trung Quốc.
  6. ^ Chuyện cọp Bầu Lòng, Võ Tòng Tân Khánh, tác giả Lưu Linh Tử
  7. ^ Bài “Võ Việt Nam, võ ngoại quốc: võ nào trọng? võ nào khinh?”, báo Võ Thuật, số 22, bộ III, ngày 1/1/1971, trang 9
  8. ^ Phái võ Tân Khánh Bà Trà bắt đầu và phát triển như thế nào trong lịch sử, như trên, trang 56, toàn bộ nội dung đoạn này là tóm tắt của đoạn 2 trong tài liệu
  9. ^ Xin xem bài Hồ Hoa Huệ và hệ thống kỹ thuật của môn Tinh Võ đạo
  10. ^ Từ Hải (tức Hàng Thanh), trong bài “Thi võ đời Gia Long, báo Võ Thuật, số 4, bộ I, ngày 1/4/1969, trang 22
  11. ^ Tứ Lang, trong bài “Người Sông Bé đánh cọp”, báo Sông Bé, số 450, ngày 1/2/1986
  12. ^ Hàng Thanh, trong bài “Võ Việt Nam, võ ngoại quốc: võ nào trọng? võ nào khinh?”, báo Võ Thuật, số 22, bộ III, ngày 1/1/1971, trang 9

Tham khảo

  • Bài về Võ phái Tân Khánh Bà Trà trong cuốn Võ dân tộc, Hữu Ngọc và Lady Borton chủ biên, NXB Thế giới, H. 2004.
  • Võ sư Từ Thiện, Hồ Tường, Võ thuật phái Tân Khánh, Nhà xuất bản Sông Bé, Sông Bé, 1989.
  • Hoài Phong, Tự học võ thuật phái Tân Khánh, Nhà xuất bản Tân Khánh, Gia Định, 1971.
  • Mai Văn Muôn, Chu Quang Trứ, Ngô Xuân Bính, Lê Anh Thơ, Lược sử võ cổ truyền Việt Nam, Nhà xuất bản Thể dục Thể thao, Hà Nội, 1991.

Liên kết ngoài

  • Bài Ai đến sân võ hôm nay?

    đề cập môn phái Võ lâm Tân Khánh Bà Trà ở Nhà văn hóa Thanh niên mở hẳn nhiều khóa học miễn phí dành cho sinh viên – học sinh. Bài đăng trên Báo Tuổi trẻ.

  • Bạn đọc có thể tìm hiểu thêm tại Trung Tâm TDTT huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, số 585, đường Hùynh Tấn Phát, khu phố 7, thị trấn Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, điện thoại: 08.7827100.

Trang này được sửa đổi lần cuối lúc 11:03, ngày 12 tháng 2 năm 2011.

Tham khao: http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C3%A2n_Kh%C3%A1nh_B%C3%A0_Tr%C3%A0

 

 

————————————-

 

 

Sơ lược lịch sử hình thành võ thuật Tân Khánh – Bà Trà

Nguyễn Văn Quốc
 www.sugia.vn

        Bối cảnh lịch sử – những tiền dề của quá trình xuất hiện võ thuật Tân Khánh – Bà Trà

 

Tân Khánh – Bà Trà vốn là tên gọi của vùng đất Tân Khánh và vùng đất Bà Trà của tỉnh Bình Dương xưa.

Địa bàn Tân Khánh xưa hiện nay là thị trấn Tân Phước Khánh thuộc địa bàn huyện Tân Uyên; Địa bàn Bà Trà xưa hiện nay là dịa bàn xã Bình Chuẩn thuộc địa bàn huyện Thuận An. Dù tên gọi hai vùng đất được hình thành trong hai thời điểm lịch sử khác nhau, tuy nhiên cả hai vùng đất trên đều được khai phá từ đầu thế kỷ XVII do công sức khai hoang của cư dân xiêu tán người Việt từ miền Thanh Nghệ – Ngũ Quảng theo bước chân vu quy của công chúa Ngọc Vạn ( con gái của Chúa Nguyễn Phước Nguyên ) với Quốc vương Chân Lạp là Chey Chetta II vào năm 1620.

Nhà sử học Phan Khoang đã cho biết: “ Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Xiêm La nguy hiểm đã xin cưới một công nữ con Chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong được sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa và Chúa Hy Tông có mưu đồ xa xôi. Năm 1620 đã gả cho vua Chân Lạp một công nữ. Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân lạp sau này. Bà hoàng hậu này, đem nhiều người Việt đến, có người được giữ hệ trong trong triều, bà lập một xưởng thợ và nhiều nhà buôn bán lớn gần kinh đô. Đến năm 1623, một sứ bộ của Chúa Nguyễn đến yêu cầu được lập cơ sở ở Prey Kor, tức Sài Gòn ngày nay và dược đặt ở đây một sở thu thuế hàng hóa. Vua Chey Chetta chấp thuận và triều đình Thuận Hóa khuyến khích người Việt di cư đến đất ấy làm ăn, rồi lấy cớ để giúp chính quyền Chân Lạp giữ gìn trật tự, còn phái một tướng lãnh đến đóng ở Prey Kor nữa. Khi Chey Chetta mất, vùng đất Prey Kor trở ra bắc đến biên giới Chiêm Thành tức Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa ngày nay đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai”.

Năm 1698, Thống Suất Nguyễn Hữu Cảnh vâng lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu vào Nam kinh lược, lập nên hai phủ: Phước Long và Tân Bình vốn là hai nơi có đông đảo người Việt từ miền Thanh Nghệ – Ngũ Quảng vô khai phá và sinh sống từ trước đó. Riêng vùng Tân Khánh – Bà Trà thời đó thuộc phủ Phước Long.

Từ năm 1802 đến nắm 1827, phủ Phước Long mang tên Trấn Biên; vùng đất Tân Khánh – Bà Trà đều thuộc tổng Bình Chánh, huyện Bình An, dinh Trấn Biên.

Năm 1832, nhà Nguyễn bỏ trấn lập tỉnh, năm trấn của Nam bộ thành luc tỉnh, đổi dinh Trấn Biên thành tỉnh Biên Hòa. Địa bàn Tân Khánh – Bà Trà lúc bấy giờ thuộc tổng Bình Chánh Trung, huyện Bình An (Thủ Dầu Một) và huyện Ngãi An (Thủ Đức).

Năm 1862, sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam kỳ, cả hai ấp Tân Khánh và Bình Chuẩn (tên gọi mới của vùng đất Bà Trà) được nâng lên thành hai làng, đều thuộc tổng Bình Thiện, huyện Bình An, phủ Phước Long, tỉnh Biên Hòa.

Năm 1867, sau khi chiếm đóng và bình định toàn Nam kỳ, Pháp chia lục tỉnh thành 27 địa hạt. Tỉnh Biên Hòa được chia thành 5 địa hạt, trong đó địa hạt Bình An vẫn giữ nguyên địa phận huyện Bình An, lỵ sở đặt tại Thủ Dầu Một. Địa hạt Bình An chia thành 7 tổng, 71 xã thôn. Địa bàn Tân Khánh – Bà Trà lúc ấy là 2 trong số 71 xã thôn của địa hạt Bình An thuộc tổng Bình Thiện.

Năm 1871, Pháp bỏ địa hạt Bình An và thay bằng địa hạt Thủ Dầu Một. Hạt Thủ Dầu Một chia làm 10 tổng với 91 xã thôn, Tân Khánh và Bình Chuẩn là 2 xã của tổng Bình Thiện, hạt Thủ Dầu Một.

Ngày 20 tháng 12 năm 1889, Pháp nâng địa hạt Thủ Dầu Một thành tỉnh Thủ Dầu Một. Tỉnh Thủ Dầu Một được chia thành 12 tổng với 172 làng xã. Đến năm 1910, tổng Bình Thiện của tỉnh Thủ Dầu Một gồm làng xã: An Mỹ, Bình Chuẩn, Hóa Nhựt, Khánh Vân, Phước Lộc, Tân An, Tân Khánh, Vĩnh Phú và Tuy An. Năm 1926, 2 làng Tân Khánh và Phước Lộc sáp nhập thành xã Tân Phước Khánh.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945 – 1975), do tình hình chính trị, xã hội của từng thời kỳ chi phối, nên chính quyền cách mạng Việt Nam đã đưa hai xã Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn co1luc1 thuộc huyện Lái Thiêu, có lúc thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Thủ Dầu Một (tỉnh Bình Dương). Về phía chính quyền Sài Gòn, từ năm1956 đến năm 1975, xã Tân Phước Khánh và Xã Bình Chuẩn đều thuộc huyên Châu Thành, tỉnh Bình Dương.

Từ năm 1975 đến nay, xã Tân Phước Khánh thuộc huyện Tân Uyên và xã Bình Chuẩn thuộc huyện thuận An tỉnh Bình Dương.

Trở lại lịch sử thời khai phá, cho đến cuối thế kỷ XVI, vùng đất miền Đông Nam bộ, trong đó bao gồm cả tỉnh Bình Dương ngày nay, về cơ bản vẫn là vùng đất hoang dã, chưa được mở mang khai phá bao nhiêu.

Trong cuốn Phủ biên tạp lục viết vào thế kỷ XVIII, Lê úy Đôn cũng ghi rằng:” Ở phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển Cần Giờ, Soài Rạp, cửa Tiểu, cửa Đại trở lên toàn là rừng rậm hoang vu, đồng cỏ rậm rộng hàng ngàn dặm”.

Còn theo lời kể lại của các cụ cao niên tại địa phương thì vùng đất Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn xưa ( vùng đất Tân Khánh – Bà Trà), có hai lõm dân cư chen lẫn giữa rừng già đầy thú dữ, nhiều nhất là cọp. Người dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề nương rẫy và khai thác lâm sản. mãi đến những năm giữa thế kỷ XX, nhiều người Dân Tân Phước Khánh – Bình Chuẩn vẫn duy trì nghề” quơ củi”, nghĩa là hằng ngày vào rừng rừng chặt củi gánh ra chợ bán lấy tiền là kế sinh nhai chính…

Cho đến những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), rừng ở Tân Phước Khánh – Bình Chuẩn vẫn chiếm khoảng 3/5 diện tích tự nhiên với những loại danh mộc như sao, dầu, bằng lăng…tạo thành một hành lang nối dài từ chiến khu Đ tới rừng Cò Mi chiến khu Thuận An Hòa…Tuy nhiên, do cường độ chiến tranh ngày càng ác liệt, nên trong những năm tháng cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rừng Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn bị bom đạn, chất độc hóa học và xe ủi của Mỹ tàn phá nghiêm trọng…

Về dân cư, vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, lớp cư dân người Việt từ miền Bắc, miền Trung xiêu tán về vùng miền Đông Nam bộ, trong đó có địa bàn thuộc tỉnh Bình Dương ngày nay tìm vùng đất mới để lập nghiệp. Họ bao gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau và lìa bỏ quê hương với nhiều nguyên nhân khác nhau. Họ là những nông dân nghèo khổ, không chịu nổi những cơ cực lầm than chốn quê nhà, là những người chạy trốn sự truy đuổi của chính quyền phong kiến, những người trốn lính, trốn thuế…Thời kỳ ban đầu, lưu dân người Việt, người Hoa sống chủ yếu ven sông Đồng Nai, ven sông Sài Gòn, nhất là vùng chung quang Thủ Dầu Một sau này và vùng Tân Uyên, Tân Khánh, Cù Lao Rùa. Ở những nơi này, từ rất sớm, đã hình thành những xóm làng đông đúc của những lưu dân.

Năm 1698, có thể coi là mốc chính thức quan trọng về việc xác lập cương vực lãnh thổ chủ quyền đất nước. Tiếp đó, các Chúa Nguyễn, các vua nhà Nguyễn về sau đã có nhiều chính sách khuyến khích, thu hút lưu dân đến khai hoang, lập làng ở vùng Gia Định – Đồng Nai cũng như trên phạm vi toàn Nam bộ.

Lê Quý Đôn trong sách” Phủ biên tạp lục”, ghi nhận rằng Chúa Nguyễn đã” chiêu những dân có vật lực ở xứ Quảng Nam, các phủ Điện Biên, Quảng Ngãi, Quy Nhơn cho dời tới đây ( chú thích của người viết: tức đất Đông Nam bộ ngày nay), phát chặt mổ mang, hết thảy thành bằng phẳng, đất nước màu mỡ, cho dân tự chiếm, trồng cau và làm nhà cửa”.

Khi triều Tây Sơn sụp đổ, có thêm dân Bình Định đến nhằm tránh họa Gia Long trả thù. Do vậy, thời gian này cư dân quê Tây Sơn, Bình Định vào vùng Tân Phước Khánh _ Bình Chuẩn xưa sinh sống có thể coi là đợt dân lưu tán mang đậm màu sắc chính trị. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng có viết:  “Ngược dòng lịch sử, chúng ta biết thành phần dân lưu tán ở Bình Dương không khác dân lưu tán nói chung khắp Nam bộ. Họ là những người quá nghèo từ đồng bằng sông Hồng, từ Nghệ Tĩnh, Ngũ Quảng, mạo hiểm đi tìm đất sống, họ là những kẻ bị áp bức và chống áp bức…Sau này, lượng lưu tán được bổ sung thêm tù nhân và lính thú, khi triều đình Tây Sơn sụp đổ thêm dân Bình Định tránh họa Gia Long trả thù, và với triều Nguyễn, nhiều đợt mộ dân lập ấp, nơi miền bấy giờ gọi là Thiên (Phiên) Trấn. Làng Tân Khánh có thể coi như điển hình của đợt lưu tán mang đặm màu sắc chính trị: hầu hết quê Tây Sơn, Bình Định vào Nam đầu thế kỷ XIX, cát cứ vùng rừng hiểm trở và sống ngoài vòng pháp luật”.

 

         Lịch sử hình thành võ Tân Khánh – Bà Trà  

 

         Vùng đất Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn ngày xưa cũng như những vùng đất khác ở Nam bộ vô cùng nhiều thú dữ: voi, cọp, trăn, rắn, trâu rừng…Những thế hệ lưu dân khai hoang vùng đất mới phương Nam đã từng mô tả cảnh tượng này qua câu ca dao:

Chèo ghe sợ sấu cắn chưn,

Xuống sông sợ đỉa, lên rừng cọp um !

Nhưng đáng sợ nhất trong những loài thú chính là cọp. Cọp có thể sống ở mọi địa hình: giữa sình lầy nước mặn, ở bãi bùn nước lợ với rặng dừa nước, ở gó đất với vài cây kè…đất thấp và trống trải, cọp có thể tạo căn cứ, kết bầy, sinh con, Những vị bô lão ở Tân Phước Khánh và Bình Chuẩn kể rằng: đất giồng gần bờ sông có nhiều cây đa, cây gừa mọc um tùm là nơi cọp thường bám giữ, ít đổi địa bàn vì sợ không tranh giành được với các đối thủ khác. Cho nên dân gian có câu: “Rừng nào, cọp nấy”. Tuy vậy, địa bàn nào có cọp thì dân khai hoang thường không phải sợ nai, sợ heo rừng phá hoại hoa màu, nương rẫy, bởi nai và heo rừng thường là loại thức ăn lý tưởng của cọp.

Đó là trên đất liền, còn khi bước xuống sông nước thì cá sấu là nổi kinh hoàng cho những người đi mở đất. Có không biết bao nhiêu người đã trở thành miếng mồi ngon cho cá sấu để cho thế hệ đi sau đúc kết kinh nghiệm: “đâm thẳng vào chiếc miệng há rộng của chúng! Chiếc miệng của cá sấu vừa là sự nguy hiểm cho con người khi bị nó ngoạm phải, nhưng đồng thời cũng là chổ yếu  của loài thú này – đó là chổ mềm mại nhất của loài cá sấu mà con ngươi dễ làm sát thương nhất!”. Từ đó mới có câu thành ngữ “Thứ nhất là phá sơn lâm, thứ hai là đâm hà bá”. Phá sơn lâm là phá rừng núi, túc là loại trừ địa bàn cư trú của cọp, đâm hà bá là đâm vào chổ nhược của loài cá sấu – ác thú dưới sông nước!.

Những kinh nghiệm diệt trừ thú dữ của lưu dân người Việt vào khai phá đất phương Nam không những hình thành từ những kinh nghiệm thực tiễn mà còn học hỏi ngay lớp cư dân bản địa đã từng cư trú lâu đời. Riêng ở trên mảnh đất Tân Phước Khánh – Bình Chuẩn có người Khmer, người Stiêng, người Mạ, người Châu Ro…

Ở vùng Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn người Việt đã tiếp thu văn hóa của người Khmer trên bước đường mở đất như: tập tục nhà trai thường trao sính lễ đính hôn cho nhà gái là đôi bông tai để cô dâu đeo…Quá trình giao lưu văn hóa đó cũng diễn ra cả trên lĩnh vực võ thuật: ngươi Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa thường sử dụng ngón đá vòng cầu bằng ống chân giống như võ thuật của người Khmer…

Cũng trên vùng đất mới thời khai hoang, bộ máy cai trị của chính quyền còn lỏng lẻo đã dẫn đến nạn trộm cướp, phá rối trật tự trị an khá nhiều. Một mặt do tình hình dân cư khai hoang lập ấp vốn đa phần là dân tứ chiếng, nghèo đói cho nên “ngựa quen đường củ”. Một mặt khác, “người Miên (túc dân Chân Lạp) cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam dường như sẵn sàng hưởng ứng chống đối quan lại địa phương khi ở Cao Miên (tức nước Chân Lạp) phong trào lên cao”. Do vậy, những lớp người đến khẩn hoang đầu tiên không phải đều gặp những thuận lợi, dễ dàng, bởi một mặt họ luôn phải sẵn sàng diệt trừ các loài thú dữ để tồn tại, một mặt họ luôn sẵn sàng đương đầu với bọn cường hào, ác bá, cướp bóc để bảo vệ thành quả lao động của bản thân, gia đình, chòm xóm…

Chính trong điều kiện thiên nhiên và xã hội khắc nghiệt như vậy, để có thể tồn tại trên vùng đất mới, thế hệ người Việt đi mở đất một mặt phải đoàn kết nhau lại, một mặt tận dụng tất cả kiến thức, kinh nghiệm để bảo đảm sự bình an cho tính mạng và thành quả lao động. Sách “Lịch sử khai phá vùng Nam Bộ” ghi: “ Lưu dân người Việt khi vào vùng đất mới làm ăn sinh sống, đến đâu họ cũng nhanh chóng kết thành chòm xóm, để dựa vào nhau làm ăn, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau những lúc gặp khó khăn hoạn nạn, bảo vệ cho nhau, chống lại thú dữ, cướp bóc, cường hào”.

Trong thực tiễn, không gian sống của vùng đất mới không giống như ở quê cha đất tổ tại miền Trung, miền Bắc, vốn liếng võ thuật truyền thống dân tộc mang theo dù “đạm bạc, ít ỏi” nhưng những kiến thức võ thuật tiếp thu của dân tộc anh em và kinh nghiệm đúc kết được từ thực tiển cuộc sống, trên cơ sở đó, những người mở đất sáng tạo thêm những đòn thế, bài bản võ thuật mới để thích nghi với thiên nhiên và xã hội no7inque6 hương mới, làm phong phú thêm vốn liếng võ thuật mà họ mang theo.

Năm 1679, hai võ tướng Trân Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch của triều đình nhà Minh ( Trung Quốc) không khuất phục trước sự lật đổ triều đại nhà Minh của những người Mãn Thanh, đã cùng với 3.000 binh sĩ và gia đình chạy sang Đại Việt xin tá túc và được chúa Nguyễn cho vào sinh sống tại đất Đồng Nai và Mỹ Tho.

Dương Ngạn Địch đã chọn đất Mỹ Tho, còn Trần Thuông Xuyên thì đến đất Đồng Nai xây dựng cuộc sống mới và tạo lập nên Cù Lao Phố nổi tiếng. Dĩ nhiên, vùng đất Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa là mảnh dất nằm giữa hai con sông Phước Long ( tức sông Đồng Nai) và sông Tân Bình ( tức Sông Sài Gòn) thuận tiện cho việc giao thông, không xa cách lắm khu vực Cù Lao Phố, lại có mỏ đất sét thuận tiện cho việc phát triển nghề gốm. Do vậy, nhiều người Hoa đã tìm đến làm ăn, buôn bán, xây lò phát triển nghề gốm như một lẽ tất nhiên. Bên cạnh đó, người Hoa còn mang đến vùng đất Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa nhiều đòn thế võ Trung Hoa, Vì tất cả họ đều thuộc tướng sĩ của Trần Thượng Xuyên rất giỏi võ nghệ. Đó là dòng võ Tiều (võ của người Triều Châu), võ Hẹ (võ của người Hẹ – Hakka Quảng Đông), võ Tàu ( võ của người Phúc Kiến)…Đó chính là cơ hội để cư dân Tân Phước Khánh, Bình Chuẩn xưa học hỏi thêm nhiều đòn thế võ Trung Hoa nổi tiếng, để chắt lọc, bổ sung cho môn võ miệt rừng.

Đến năm 1802, khi Nguyễn Ánh lên ngôi, lợi dụng chính sách mộ dân lập ấp của nhà Nguyễn, nhiều lưu dân Tây Sơn – Bình Định đã vào đất Đống Nai – Gia Định sinh sống.

Tương truyền rằng, trong đoàn người từ Bình Định kéo vào khai khẩn đất hoang dựng trại cất nhà sinh sống ở vùng Truông Mây có một gia đình thuộc dòng dõi tướng lĩnh nhà Tây Sơn, Gia đình tướng Ta7y Sơn nói trên có một người con gái tên là Trà, không rõ họ – vốn là binh sĩ thân tín của nữ tướng Bùi Thị Xuân. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng cô mang họ Võ – Võ Thị Trà, tuy nhiên cho đến nay, các nhà khoa học vẩn chưa tìm thấy tài liệu nào làm cơ sở khoa học để minh chứng cho những ý kiến trên,

Do sức khỏe tốt,giỏi võ nên cô (Bà Trà) cùng dân xiêu tán khai phá đất hoang trồng tỉa, làm ăn, trừ diệt cọp dữ bảo vệ xóm làng. Lúc rảnh rỗi, cô còn chỉ dẩn, luyện tập võ nghệ Tây Sơn cho thanh niên trai gái, Do vậy, ở vùng Truông Mây, trai gái đều biết đi roi, múa quyền. Đặc biệt, dưới sự tổ chúc, chỉ huy của cô Trà, thanh niên trai tráng vùng Truông Mây còn đánh tan nhiều băng cướp, chống trả lại sự áp bức, đán áp của bọn cường hào ác bá, bảo vệ bình yên cho bà con xóm ấp. Hơn nữa, tuy rất giàu có, nhưng cô Trà rất siêng năng, cần mẫn và có lòng nhân hậu, thường hay giúp đỡ những người nghèo khổ, thất cơ lỡ vận, nên được mọi người yêu mến, quý trọng.

Tiếng lành đốn xa, dân nghèo các nơi kéo về vùng Truông Mây ngày một đông – nơi có cô con nhà võ tướng Tây Sơn để làm ăn sinh sống. Người dân xiêu tán gọi cô là Bà Trà và từ vùng đất Tân Khánh đến làng Bình Chuẩn vốn là địa bàn hoạt động của Bà Trà đều được dân xiêu tán gọi là “đất Bà Trà”

(dấu tich1duy nhất còn lại hiện nay ở vùng này là một nhà thờ Công giáo có tên gọi Bà Trà đang tọa lạc ấp Bình Phú, xã Bính Chuẩn, huyện Thuận An).

Tại vùng đất mới, Bà Trà không những luyện tập, truyền võ Tây Sơn Bình Định cho thanh niên trai tráng, mà cô còn học hỏi, tiếp thu các chiêu thức, thế võ, các bài quyền cước của những người khai hoang trước đó. Sự kết hợp kỳ diệu của võ Tây Sơn với võ của dân xiêu tán vùng Ngũ Quảng khai phá vùng đất Đồng Nai- Gia Định, pha trộn với võ thuật của dân cư bản địa, võ thuật của người Minh Hương để hình thành nên một hệ thống kỹ thuật võ thuật mới – được người dân gọi là võ Tân Khánh – Bà Trà; “võ Bà Trà – Tân Khánh” hay còn gọi là” võ lâm Tân Khánh – Bà Trà”; “võ lâm Bà Trà – Tân Khánh”.

                                                                              

     

  Nguyễn Văn Quốc

Tài liệu tham khảo:

– Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong,NS Khai Trí XB,SG,(1969)

– Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch Viện Sử học,NXB KHXH,HN(1977)

– Huỳnh Lứa, Vài nét về tiến trình khai phá vùng đất Bình Dương trong các TK XVII – XVIII và nửa đầu TKXIX, TTKHLS số 13, Hội KHLS tỉnh BD, XB(2008)

– Trần Bạch Đằng, Địa chí tỉnh Sông Bé, NXBTH, SB, (1991)

– Sơn Nam, Lịch sử khẩn hoang miền Nam, NXB ĐP, SG (1973)

– Huỳnh Lứa, chủ biên, Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, NXB TPHCM (1987)

– Nguyễn Văn Bình, Lịch sử truyền thống Đảng bộ và nhân dân xã Bình Chuẩn, NXB CTQG, HN (2008)

Khí công – Thực chất và huyền thoại


Nói một cách tổng quát, tập luyện khí công cần dựa vào những thành tựu khoa học thực tế để việc tập luyện phù hợp với vận động sinh lý tự nhiên của cơ thể..  

Từ xưa, nhiều môn phái Võ thuật và các trường phái Đông y đều nhấn mạnh việc luyện Khí công là phương pháp chủ yếu để gìn giữ và tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, cũng có những truyền thuyết về các khả năng gần như siêu việt của Khí công được nhiều người nói tới. Chẳng hạn như trong đoạn trích dẫn sau đây :

“…Chỉ thấy cụ Lưu Văn Khanh cất bàn tay trái lên, một luồn hào quang màu hồng như tia sáng mặt trời từ tay cụ phóng ra. Đó chính là công phu nổi tiếng “Võ Đang long môn thất ất kim thích chưởng”. Tiếp đó, cụ lại biểu diễn “Hắc phong chưởng”: Một luồng khí sắc đen lại từ huyệt Lao Cung của bàn tay trái phóng ra tựa như một luồng khói đen, khiến mọi người chứng kiến sửng sốt kinh ngạc và thán phục. “Mai hoa chưởng” của cụ lại càng tinh diệu hơn nữa. Một luồng khí sắc trắng như khói từ tay cụ phóng ra kèm theo âm thanh “vù vù”, khiến hơn 200 con người hâm mộ đứng xem lặng người kinh ngạc và sau đó hoan hô vang dậy…Cụ Lưu cười ha hả nói : “Các vị vất vả quá và đã có vẻ mệt nhọc lắm rồi, để tôi giúp các vị bổ khí một chút”. Nói rồi cụ cất bàn tay lên lần lượt hướng tới mồm của ba người phóng ba lần “Dược vương chưởng”. Ba người điều cảm thấy một luồng khí có khí vị rất đậm của Trung dược từ khoang miệng lan tỏa khắp thân thể. Sau đó liền cảm thấy toàn thân thư giãn nhẹ nhàng, tinh thần thư thái sảng khoái vô cùng…”(Khí công-các kỳ nhân đương đại, Thiên Tùng biên dịch, Nhà xuất bản Thể dục thể thao, Hà Nội, 1990, trang 6-7) là một trong nhiều câu chuyện kể về khả năng siêu việt của khí công gần như là huyền thoại ! Bởi trong thực tế vẫn chưa có những luận cứ khoa học nào giải thích một cách minh bạch và tường tận về các khả năng sử dụng Khí công như vậy. Thái độ của những con người đang chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI không nên vội phê phán về các huyền thoại khí công như vừa kể, mà hãy gác nó qua một bên, chờ đợi kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học.

Thực chất về công năng của Khí công trong việc giữ gìn và tăng cường sức khỏe đã được khoa học chứng minh. Thật vậy, ngày nay, khoa học cho ta biết rõ cơ thể, và đặc biệt là các bắp thịt, trong lúc hoạt động rất cần khí Oxy và tiêu khử khí Carbonic. Oxy tiềm tàng trong không khí được hít vào phổi, rồi hòa tan vào huyết để được tải khắp cơ thể. Huyết cũng tải về phổi khí thán do các bộ phận khác tiết ra, để được thải ra ngoài lúc thở ra. Như vậy khí và huyết là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau, do đó hai quá trình vận khí và vận huyết cũng gắn chặt với nhau. Lưu thông khí huyết là điều kiện cơ bản trong việc bảo vệ sức khỏe và rèn luyện cơ thể.

Tùy theo ý muốn, chúng ta có thể vận dụng bộ máy hô hấp, vận dụng các bắp thịt để thở. Bắp thịt thở chủ yếu là hoành cách mạc. Vận động của nó bảo đảm 2/5 dung tích không khí ra vào. Hoành cách mạc nằm thành một cái vòm giữa ngực và bụng, phía trên là phổi và tim phía dưới là gan, dạ dày và ruột. Lúc hoành cách mạc co thắt để hạ xuống 2 đến 3cm, nếu tập nhiều có thể hạ xuống đến 10 hay 15cm. Lúc ấy, lồng ngực và phổi dãn ra, bụng phình lên vì gan, ruột bị đẩy xuống, không khí được hít vào. Hoành cách mạc trở về chỗ cũ, phổi bị ép lại, không khí được đẩy ra ngoài, lúc ấy ruột gan bị kéo lên và bụng thót lại. Như vậy, lúc hít vào thì bụng phình lên, và lúc thở ra, bụng thót lại. Bắp thịt bụng cũng giúp vào việc thở, đặt biệt là lúc thở ra, khi ấy hoành cách mạc đi lên, cơ bụng thắt lại, đẩy gan ruột lên, do đó thở ra được sâu hơn. Tóm lại, cần nhớ nguyên tắc : thót bụng thở ra, phình bụng hít vào.

Ngoài hoành cách và cơ bụng, giữa các xương sườn cũng có những cơ nối liền hai xương với nhau, phía trong và phía ngoài. Lúc các cơ liên sườn bên ngoài co thắt lại, xương sườn bị kéo ra, lồng ngực phồng lên, giúp cho không khí vào, và ngược lại, khi các cơ liên sườn bên trong kéo sườn vào thì lồng ngực thắt lại, không khí bị đẩy ra. Vì phía dưới của phổi rộng hơn phía chóp phổi, do các xương sườn trên rất cứng, gồm toàn xương từ trước ra sau, không như các xương sườn phía dưới, gồm một phần sụn ở phía trước, nên lồng nhực phía trên không co giãn được bao nhiêu. Những bắp thịt níu vào các xương sườn phía trên và xương đòn gánh, đóng góp vào việc đưa không khí ra vào không đáng kể. Thông thường khá nhiều người cứ lầm tưởng bắp thịt ngực, tức bắp thịt kéo từ cánh tay đến giữa ngực, là bắp thịt để thở, nên lúc tập thường đưa vai lên, kéo căn phần trên của ngực, trái với sinh lý tự nhiên.

Thở bụng, tức là vận dụng hoành cách mạc, cơ bụng, cơ liên sườn phía dưới, là cách thở có hiệu quả cao nhất. Rèn luyện các bắp thịt ấy cho thật nhuần nhuyễn, trong lúc thở nắm cho được mình đang vận dụng bắp thịt nào là công tác cơ bản của khí công. Nói một cách tổng quát, cần nắm vững những động tác sau đây :

Lúc thở ra, hoành cách mạc đưa lên, bụng thót lại, cơ liên sườn và các cơ bụng kéo sườn vào.

Lúc hít vào, hoành cách mạc hạ xuống, bụng phình lên cơ liên sườn kéo sườn ra.

Thở ra dài hơn hít vào và càng sâu càng tốt. Lúc hít vào xong, có thể giữ hơi lại một chút. Sách xưa thường nói rằng lúc hít vào, khí xuống đan điền, tức bụng dưới, thực ra vì hoành cách mạc đẩy ruột xuống nên bụng phình ra.

Bình thường lúc ngồi yên hay làm việc nhẹ, dung tích không khí ra vào chừng 0,5 lít, và người ta thở chừng 12 đến 16 lần trong một phút. Khi vận động, nhất là vận động nhanh như chạy đua, đấu võ, lưu lượng không khí ra vào có thể gấp 15 hay 20 lần. Lúc ấy dung tích không khí ra vào có thể lên tới từ 4 lít đến 6 lít, tần số thở cũng tăng lên gấp đôi hoặc hơn. Muốn tăng lưu lượng phải tăng chủ yếu khả năng hoạt động của hoành cách mạc lên, xuống thật nhiều và nhanh, nếu cần có thể cho không khí ra vào qua miệng, vì con đường này rộng hơn và ít khúc khủy hơn con đường qua mũi. Nhưng nếu ta không vận động nhiều, không cần lưu lượng không khí ra vào, thì cũng không nên đưa quá nhiều Oxy vào cơ thể, khử quá nhiều khí thán ra ngoài, vì như thế sẽ bị choáng váng. Lúc ngồi yên điều hòa nhịp thở cho thật đều đặn, nhẹ nhàng, dài và sâu, chủ yếu để điều hòa hoạt động của nội tạng và làm cho thần khinh thoải mái. Nhịp thở lúc ấy là một cho đến bốn lần trong một phút.

Tóm lại, có hai phương pháp luyện khí công :

Lúc vận động nhiều, thở sâu và nhanh, có thể cho không khí qua miệng để tăng cường lưu lượng không khí ra vào, cung cấp nhiều oxy và khử nhiều khí carbonic

Lúc vận động ít và không vận động, thì thở nhẹ, dài, sâu, rất chậm và toàn thể con người yên tĩnh điều hòa lại. Nếu hoàn cảnh cho phép, nhắm mắt lại tập trung ý nghĩ vào từng nhịp thở.

Có thể tập khí công trong tư thế nằm cũng được, đứng, nằm hay ngồi, miễn sao vận dụng được hoành cách mạc một cách dễ dàng. Kết hợp với động tác chân tay trong khi tập khí công cũng được. Khi rèn luyện xong rồi thì lúc vận động, nhịp thở và động tác chân tay sẽ tự nhiên phối hợp nhịp nhàng với nhau. Kỹ thuật của khí công đơn giản, tập vài lần sẽ quen, chủ yếu là đừng đưa vai lên xuống lúc thở, đừng cho vận động của lồng ngực tréo với vận động của hoành cách mạc, vì có khi ta cho lồng ngực căng lên để hút không khí vào, đồng thời lại thót bụng lại đẩy hoành cách mạc lên, tức đẩy không khí ra. Động tác của hoành cách mạc, cơ bụng và cơ liên sườn cần được phối hợp chặc chẽ. Trong lúc tập khí công điều hòa, cần chú ý làm chủ nhịp thở : thở thật đều là chủ yếu, không để nhịp thở rối loạn.

Nói một cách tổng quát, tập luyện khí công cần dựa vào những thành tựu khoa học thực tế để việc tập luyện phù hợp với vận động sinh lý tự nhiên của cơ thể, hầu tránh được những tật bệnh có thể phát sinh, đồng thời tạo điều kiện tốt cho khí oxy vào cơ thể giúp các tế bào hoạt động tốt hơn cũng như đưa khí carbonic ra khỏi cơ thể tạo môi trường tốt đẹp cho toàn cơ thể. Được như vậy, sức khỏe chắc chắn tăng tiến, từ đó khả năng dụng võ cũng tiến bộ là lẽ đương nhiên, đúng như Hải Thượng Lãn Ông đã từng viết :

Tập cho khí huyết lưu thông
Tay chân lanh lợi, tinh thần thảnh thơi

 

Võ Sư Hồ Tường

ĐỨC HIẾU SINH CỦA NGƯỜI LUYỆN VÕ



Trong võ cổ  truyền, hầu như mọi bài quyền hay binh khí đều bắt đầu và kết thúc với tư thế  Chấp thủ thần đồng. Khi võ sinh từ Lập tấn, khiêm nhu trầm mình, mắt trang trọng nhìn thẳng tới trước, đưa lòng bàn tay mở tựa lên bàn tay nắm để tả bái tổ sư và hữu kính huynh đệ, thì người ấy đã mở cửa thân tâm cho sự sống thẩm thấu và chuyển dịch trong từng hơi thở, từng động tác.

Sự kiện  ấy nói lên một thực tế ngàn đời rằng đức tính cơ bản và cao nhất của con nhà võ  là đức hiếu sinh. Thiếu đức hiếu sinh, người luyện võ không thể trang trọng bắt đầu, nuôi dưỡng đam mê, vượt thắng qua mọi gian khổ trên con đường hôm sớm trau dồi, và cũng chẳng thể liên tục đưa đẩy bản thân ngày càng tinh tiến.

Ðức của trời đất và người

Hiếu là yêu mến, ưa thích, ham muốn. Sinh là sự sống của mọi sinh linh và thiên nhiên, nguyên khí của vạn vật. Người có đức hiếu sinh biết quí trọng sự sống, mạng sống, tránh những hành động xâm phạm sự sống của con người, sinh linh và thậm chí cỏ cây. Qua đó, võ sinh mở rộng cửa lòng mình để sự sống rạt rào trong từng cử chỉ, hơi thở, từng đường gân sớ thịt. Cuối cùng, bản thân nhập làm một với sự sống.

Ðức hiếu sinh là  đức của trời, của đất, của người và nói rộng ra, của mỗi chúng sinh. Người lâm cảnh cực kỳ khốn khổ vẫn không muốn chết. Con giun đất biết quằn quại toàn thân khi bị ta vô tình dẫm phải. Ðến loài kiến cũng biết tìm đường chạy khi cảm thấy mạng sống của nó bị lâm nguy.

Ðối với người hiếu sinh, việc dụng binh hoặc dụng võ là tối kỵ. Mở  đầu thiên thứ nhất cuốn binh thư vô song của mình, Tôn Tử hạ bút: “Việc binh là việc lớn của quốc gia. Nó quan hệ mất còn của đất nước, không thể không xét kỹ.” Người luyện võ cũng thế, tránh tối đa những cuộc đối đầu bằng vũ lực, thậm chí việc sử dụng các đòn thế hung hiểm, vì họ thừa biết sinh mạng con người tuy vô cùng quí giá nhưng rất đổi mong manh, trong khi “đao kiếm vô tình, chân tay không mắt.” Có những môn võ mà môn đồ chỉ có thể động thủ hoặc phát huy tối đa tính diệu dụng của chúng trong điều kiện bị đối phương ra tay tấn công trước, như Nhu đạo, Hiệp khí đạo, Võ đang Thái cực quyền…

Thượng tôn sự sống

Ngày nay, loài người càng lúc càng quay về với khái niệm đạo lý  và công đạo thời nguyên thủy bằng các nỗ lực bảo vệ sinh khí của vạn vật và cư xử  với nhau nhân đạo hơn.

Ðã đi vào dĩ vãng thời kỳ hai võ sĩ chuẩn bị thượng đài với cỗ  áo quan kê sẵn dưới chân đài. Ðã ở hẳn trong “cải lương tuồng cổ” việc hai võ sĩ trao nhau “sinh tử trạng” trước khi giao đấu. Hành động của một võ sĩ nhằm cố tình hủy diệt sinh mạng đối thủ hoặc các cam kết cá nhân không phù hợp với khung luật pháp chung đều vô giá trị, và nếu liều lĩnh thực hiện, sẽ bị kết tội phạm pháp. Dù thượng đài chỉ để thi đấu thể thao, các võ sĩ cũng phải giữ đúng những qui định nghiêm ngặt theo từng môn võ.

Các phim ảnh có  quá nhiều cảnh đầu rơi máu chảy, trước khi trình chiếu, cũng phải chạy hàng chữ cảnh báo khán giả  và các bậc phụ huynh. Rồi đây, sẽ ngày càng ít những phim tàn sát ghê rợn như Thất Kiếm. Cũng sẽ ngày càng hiếm những cảnh vung đao bạt kiếm cho cây rừng xanh tươi bị vạt cụt từng mãng, lá trúc lá liễu và hoa đào tan tác, bay phất phới đầy trời theo đao phong kiếm khí như trong Ngọa hổ tàng long, Thập diện mai phục. Các thước phim “Mãn thiên hoa vũ” ấy tuy đẹp mắt nhưng khán giả không khỏi chạnh lòng khi thấy vì một chút giải trí mà con người thẳng tay tàn phá cỏ hoa vô tội.

Khoẻ  mạnh, sáng suốt và phong phú

Khang kiện thể  xác, minh mẫn tinh thần, phong phú tâm linh. Ðó là  mục đích cơ bản của người luyện võ. Ðuổi theo khát vọng tinh tiến, người luyện võ nhận ra rằng muốn thăng hoa trong luyện thuật thì không thể không luyện khí.

Khí chính là  sự sống của bản thân, của sinh linh. Khí luân lưu trong mọi người, mọi sinh vật, mọi cỏ cây chung quanh ta, bàng bạc từ lòng đất đen thẳm sâu tới trời cao xanh diệu vợi. Và cơ bản của luyện khí là tu dưỡng đức hiếu sinh, tôn trọng sinh mạng của muôn loài, bảo tồn nguyên khí của thiên nhiên, giữ gìn linh khí của vũ trụ.

Mọi sự trên thế gian đều quanh quẩn trong vòng nhân quả, nhưng có một cái duy nhất vượt hẳn ra ngoài, không bị tra vấn về nguyên nhân và chẳng thắc mắc về hậu quả vì tự thân nó không bao giờ bị biến thành một nguyên nhân xấu. Ðó là lòng từ bi bác ái. Nói cụ thể, đó chính là đức hiếu sinh, được thường trực thể hiện mọi nơi mọi lúc. Ðức hiếu sinh đi với người luyện võ như thuyền đi với nước. Vì thế, thật không lạ khi, theo truyền thuyết, chùa Thiếu Lâm xưa nay được đánh giá là linh địa của võ lâm, và các cao tăng quanh năm chỉ tu tập quanh quẩn trong chùa lại là người đạt tới cảnh giới võ thuật thượng thừa.

Thương thân mới biết thương người

Thương người như thể thương thân, có nghĩa, kẻ không biết thương bản thân mình thì chẳng bao giờ thật sự thương người khác. Trước khi tính chuyện “hành hiệp giúp đời”, kẻ luyện võ phải biết trân trọng sự sống trong mình, vì bản thân chính là nơi khởi đầu cho mọi tập luyện và tu dưỡng. Tập võ chính là tu dưỡng cho mình, cho sự sống của mình. Biến mình trở thành mảnh đất màu mỡ cho sự sống, và bằng tâm niệm, tu dưỡng đức hiếu sinh, chuẩn bi cho mình được nhập làm một với sự sống.

Võ thuật cũng là ký ức, di sản và nghệ thuật. Nó  là sự sống, sức sống và khát vọng chân thiện mỹ của người xưa để lại trong từng bài quyền hay bài binh khí. Ði một đường quyền, múa một ngọn roi, hoành một lưỡi đao… là bước đúng theo bộ vị và vũ bộ mà các bậc tôn sư anh kiệt từng cất chân, hoa tay.

Trong uy hùng và  uyển chuyển của bài Ngọc Trản, ta thấy lại khí  thế của chén rượu tiễn đưa buổi xuất quân vì dòng sống của dân tộc cả ngàn năm qua. Thiên nhiên được mô phỏng và thâm nhập vào từng bước tinh tế khi ta đi đường Lão Mai độc thụ. Sinh linh cùng quẫy lộn với võ sinh theo tiếng gọi Kim kê độc lập, Phượng hoàng tranh cước vĩ hay vung cùi chỏ Phượng dực. Hình ảnh tượng trưng và đầy ấn tượng  trong các câu thiệu Thái sơn áp đỉnh, Song long xuất hải, Song phi hồ điệp, v.v. đưa ta bay bổng trong một không gian tích nạp đầy khí lực của bản thân, thế sống của chúng sinh, sự sống của thiên nhiên và phiêu bồng cùng vũ trụ.

Hiếu sinh là  từ bi bác ái

Sức sống và  khí sống ấy chỉ có thể được cảm  ứng và thâm nhập vào những người tập võ có  con tim từ bi và niềm xác tín rằng luyện võ  cũng là một cách cụ thể luyện đức hiếu sinh cho mình và cho đời.

Ðức hiếu sinh được thể hiện bằng lòng từ bi, bác ái, nghiêm khắc với mình, bao dung với người, và đức ấy thường tràn ngập võ đường, thấm đẫm mỗi giờ cùng nhau tập luyện. Do đó, không lấy làm lạ rằng các võ đường đông đảo và hiệu quả nhất là nơi có các võ sư, huấn luyện viên và võ sinh yêu thương nhau, cư xử tận tình với nhau như thân nhân ruột thịt. Tiếng sư phụ đệ tử huynh muội vốn chan chứa tình cảm theo truyền thống văn hóa của dân tộc, giờ đây được củng cố sâu lắng hơn và nồng ấm hơn trong một võ đường thấm nhuần đức hiếu sinh. Mỗi lò võ là một lò hiếu sinh. Nó góp phần làm giàu bầu sinh khí của thế gian. Nó đào tạo cho đời những thanh niên thiếu nữ dũng cảm và hiền hòa, biết sống tích cực và góp sức làm cho thế giới tốt đẹp hơn để mọi người cùng sống.

Hiếu sinh là an nhiên và anh dũng

Dồi dào trong bản thân, đầy ắp nơi luyện võ rồi mang theo sâu chặt trong tâm khảm suốt đường đời xuôi ngược, người có võ với đức hiếu sinh không làm tổn thương thể xác hoặc tâm lý của người đời, không săn  đuổi giết chóc cầm thú và thậm chí không làm đau một bông hoa cọng cỏ, không gây tác hại cho môi sinh.

Ðức hiếu sinh giờ  đây đã hóa thành hơi thở và máu thịt, làm bản thân nên một với sự sống, khiến cho tinh thần và cơ thể mình chuyển động nhịp nhàng với sự sống. Ðể tâm tư bất hoại và có thể vận dụng nhuần nhuyển tứ chi quyền cước bất cứ chớp mắt nào cần tới. Người có võ lúc ấy sống bình an và thuần hậu, tử tế và tận tụy với con người, loài vật và thiên nhiên hoa cỏ.

Rồi nếu cần, vào một sát-na nào đó, sẽ không chút ngại ngần, sẵn sàng hy sinh bản thân vì những nguyên cớ cao cả. Một khi cùng sống với đức hiếu sinh, con nhà võ an nhiên thấy rõ rằng sự sống thì luân lưu cao trọng và rằng biết chết cao thượng cũng chính là biết trở về với cội nguồn sự sống và biết chuẩn bị cho mình một lần sống khác, trong phục sinh tuyệt vời giữa dòng sống tối thượng muôn đời của muôn loài.

 

Nguyễn Ước

Main Home