Bug Bounty: tìm lỗi săn tiền thưởng trong lĩnh vực an ninh mạng


Hơn 400 lỗ hổng bảo mật đã được phát hiện thông qua nền tảng WhiteHub

Tính đến nay, WhiteHub – nền tảng Bug Bounty đầu tiên tại Việt Nam, đã giúp các doanh nghiệp phát hiện được hơn 400 lỗ hổng trong các sản phẩm công nghệ.

Bug Bounty (tìm lỗi săn tiền thưởng) được đánh giá là một phương pháp hiệu quả trong việc giảm thiểu rủi ro về bảo mật cho doanh nghiệp

Nền tảng WhiteHub được Công ty CyStack, một startup trong lĩnh vực an toàn thông tin, chính thức cho ra mắt hồi tháng 4/2019. Đây là nền tảng Bug Bounty giúp kết nối các doanh nghiệp có nhu cầu bảo mật sản phẩm công nghệ (Web, Mobile App, API, IoT…) với cộng đồng chuyên gia để tìm kiếm lỗ hổng trong sản phẩm.

Trong thông tin mới phát ra hôm nay, ngày 3/9/2019, CyStack cho biết, đến nay WhiteHub đã triển khai kết nối các chuyên gia tham gia hỗ trợ cho 17 doanh nghiệp phát hiện được hơn 400 lỗ hổng trong các sản phẩm công nghệ. Trong số hơn 400 lỗ hổng đã được phát hiện, có đến 30% là những lỗ hổng nguy hiểm. Những lỗ hổng này nếu tin tặc phát hiện và khai thác sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hệ thống và dữ liệu của doanh nghiệp.

Theo ông Trần Quang Chiến – CEO CyStack, trong số các doanh nghiệp đã triển khai trên WhiteHub, phần lớn thuộc các mảng E-commerce (thương mại điện tử), Fintech (công nghệ tài chính), SaaS (phần mềm dịch vụ)… Những công ty này thường sở hữu lượng dữ liệu khách hàng lớn, là mục tiêu nhắm đến của các hacker.

“Nhiều lỗ hổng được phát hiện trên WhiteHub rất phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian và sự sáng tạo để tìm ra. Sẽ rất khó khăn để các dịch vụ truyền thống với một vài người thực hiện trong một khoảng thời gian hạn chế có thể phát hiện được”, ông Trần Quang Chiến cho biết.

Thông tin từ CyStack cũng cho hay, thời điểm hiện tại, nền tảng WhiteHub đã có hơn 500 nhà nghiên cứu tham gia. Gần 80% trong số đó tới từ Việt Nam, nhiều chuyên gia khác tới từ Mỹ, Indonesia, Đài Loan, Pháp, Philippines, Thái Lan… Bên cạnh việc sở hữu số lượng chuyên gia đông đảo, WhiteHub còn có tỉ lệ chuyên gia hoạt động (active) cao, lên tới 70% trên tổng số chuyên gia trên nền tảng. Do đó, mỗi khi có chương trình Bug Bounty được công bố, chỉ tốn từ 1 – 3 ngày triển khai để các doanh nghiệp bắt đầu nhận được các báo cáo lỗ hổng chất lượng”, đại diện CyStack khẳng định.

Chuyên gia trên Whitehub có thể là một kỹ sư an ninh mạng, hacker mũ trắng, pentester, hoặc những nhà nghiên cứu bảo mật độc lập. “Việc khác nhau về kỹ năng, kinh nghiệm, văn hóa khiến cho tư duy, cách tiếp cận của cộng đồng chuyên gia WhiteHub được đa dạng hóa, giúp tăng hiệu quả trong việc tìm kiếm những lỗ hổng khó.” CEO CyStack Trần Quang Chiến chia sẻ.

Thống kê cho thấy, Top 30 chuyên gia trên WhiteHub đều là những cá nhân nổi bật trong cộng đồng Bug bounty tại Việt Nam và thế giới. Họ từng tìm thấy nhiều lỗi bảo mật và được công nhận bởi các tập đoàn lớn như Google, Facebook, Microsoft, Dell, HP, Deloitte…

Bug Bounty (tìm lỗi săn tiền thưởng) được đánh giá là một phương pháp hiệu quả trong việc giảm thiểu rủi ro về bảo mật cho doanh nghiệp, được chứng minh bởi nhiều tập đoàn lớn trên thế giới như Google, Facebook, Microsoft, Apple. Tại Việt Nam, WhiteHub là giải pháp giúp doanh nghiệp dễ dàng triển khai chương trình Bug Bounty hiệu quả với cộng đồng hơn 500 chuyên gia bảo mật. Dự kiến, WhiteHub sẽ thu hút được 1.000 chuyên gia vào đầu năm 2020.

M.T – Theo ICTnews

Những tên gọi khác nhau của mẹ vợ trên thế giới


 

 

Mẹ vợ là một nhân tố không thể thiếu và không thể không đề phòng trong hôn nhân.

 

Biết bao cặp vợ chồng đã tan vỡ hoặc hạnh phúc vì do này. Ở mỗi quốc gia, mẹ vợ lại có một biệt danh và nỗi sợ hãi khác nhau. Sau đây, xin thống kê để mọi người, đặc biệt là các chàng trai, tham khảo:

Mỹ: Dân Mỹ gọi mẹ vợ là “luật sư”. Nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào, mẹ vợ cũng tìm ra lý lẽ bênh vực cho con gái mình. Luật sư này cũng tính tiền công nhưng luôn luôn do con rể trả.

Tại sao các tổng thống Mỹ phần lớn đều tốt nghiệp trường luật? Tại vì họ muốn đấu tranh với mẹ vợ trước khi đấu tranh cho xã hội.

 

 Những tên gọi khác nhau của mẹ vợ trên thế giới
Minh họa: DAD

 

Pháp: Ngược với Mỹ, dân Pháp gọi mẹ vợ là quan tòa. Tất cả những phán quyết của quan tòa luôn luôn cần chấp hành, nhưng quan tòa có thể hối lộ được, đấy là chân lý đàn ông Pháp thuộc lòng.

Anh: Dân Anh gọi mẹ vợ là “nữ bá tước”. Đấy là một danh hiệu có từ lâu đời, đáng kính nhưng không nhất thiết phải hỏi ý kiến trong nhiều vấn đề. Đó là một chức danh có giá trị biểu tượng nhiều hơn giá trị thực, nhưng cũng chớ quá coi thường. Nói chung các mẹ vợ Anh bằng lòng với danh hiệu này. Đối tượng của họ là bố vợ chứ không phải con rể.

Đức: Dân Đức gọi mẹ vợ là “sếp”. Như mọi người đều biết, sếp là nhân vật cấp trên bổ xuống đầu ta chứ chả cần hỏi ý kiến ta. Sếp có thể bất công, sếp có thể vui vẻ và sếp có thể công bằng nhưng không sếp nào muốn mất chức và không sếp nào muốn nhân viên lên làm sếp, các ông phải nhớ điều này.

Trung Quốc: Dân Trung quốc gọi mẹ vợ là “ma ma tổng quản” ý nói đây là một bà già thiên về quản lý chứ không thiên về văn hóa văn nghệ. Bà ấy rất khó khăn trong ngân sách, trong nội quy, trong giờ giấc nhưng lại thiếu hiểu biết về tâm hồn. Đáng sợ nhất khi các “ma ma tổng quản” đã ly dị chồng vì khi đó họ sẽ dồn sức cho công việc.

Ý: Dân Ý gọi mẹ vợ là “cảnh sát”. Bình thường chả ai thấy cảnh sát nhưng khi có sự cố xảy ra họ tới rất nhanh và thường rút súng ra trước tiên. Tuy vậy, cảnh sát chả khi nào bắt được hết tội phạm và việc cảnh sát thỉnh thoảng liên kết với tội phạm cũng xảy ra.

Tuy nhiên, cảnh sát tới bao giờ cũng hú còi, còn mẹ vợ có thể tới trong im lặng.

Tây Ban Nha: Người dân Tây Ban Nha gọi mẹ vợ là “thám tử”. Khác với cảnh sát điều tra một cách công khai, thám tử không ra mặt và không phải lúc nào cũng dùng những nghiệp vụ hợp pháp. Tuy nhiên, thám tử cũng có thể dùng tới bạo lực. Nhìn chung, thám tử hoạt động một cách âm thầm.

Đan Mạch: Dân Đan Mạch gọi mẹ vợ là “lính gác”. Lính gác luôn có hai chức năng: khám xét người bên ngoài vào và khám xét người từ trong ra. Lính gác cũng hay ngủ gật và hay mang súng mà không có đạn. Tâm trạng của lính gác là cô đơn và ghét kẻ khác không cô đơn.

Thụy Điển: Người Thụy Điển gọi mẹ vợ là “giáo sư”. Một số thứ giáo sư có kiến thức cực kỳ sâu sắc, nhưng rất nhiều thứ giáo sư chả biết gì.

Các giáo sư luôn luôn tỏ ra đường bệ và luôn luôn cần có học trò. Giáo sư thường sống thanh đạm cho nên không hiểu được khi kẻ khác sống phong phú. Muốn được điểm cao từ giáo sư, đôi lúc chỉ cần học thuộc lòng.

Na Uy: Dân Na Uy gọi mẹ vợ là “cá voi”. Cá voi to lớn, hiền lành và cứu người nhưng nếu cần cá voi sẽ nuốt cá mập.

Việt Nam: Dân Việt Nam gọi mẹ vợ là mẹ vợ. Mỗi cá nhân có cách cư xử với mẹ vợ tùy vào hiểu biết và lòng dũng cảm!

 

 

Lê Hoàng

Báo Thanh Niên

 

GS. Trần Văn Giàu, người thầy mà tôi học mãi.


Lê Sơn
 Khi còn học trung học ở tỉnh nhà miền Trung, bên ngoại tôi có người ông, từ đầu thế kỷ XX, vào Sài Gòn làm nghề thợ may, đến khi gần 70 tuổi, ông giao tiệm may cho con gái, trở về ở nhà thờ họ tộc dưỡng già. Trong họ có 4 cụ tuổi suýt soát nhau, qua lại trà thuốc, đánh cờ, chuyện trò. Mỗi sáng sớm, 4 cụ kéo nhau ra bờ sông Trà Khúc hóng nắng ban mai, có khi họ nối lưng nhau đi bộ 2 cây số qua tỉnh lỵ ăn don rồi mới về. Trông 4 cụ ai cũng khen khí cốt tiêu sái, tiên phong đạo cốt.

Nhà thờ họ ngoại tôi, gần tỉnh lỵ, vườn tược rộng rãi, con cháu nội ngoại các nhà ở xa, thường về nhà thờ họ ăn ở đi tỉnh học cho tiện. Chúng tôi được giao nhiệm vụ bưng bê cơm nước, trà thuốc phục vụ các cụ, nên thường la cà hóng chuyện các cụ. Chúng tôi thích nghe chuyện của cụ thợ may Sài Gòn, vì ông lưu lạc Sài Gòn gần 60 năm, lưu trữ cả kho chuyện lạ mà bọn thiếu niên chúng tôi rất thích nghe. Ông thường nhắc đến Trần Văn Giàu như một nhân vật hùng biện đến huyền thoại. Ông nói, bấy giờ Sài Gòn vừa khởi nghĩa Tháng Tám thành công, nhiều phe phái nổi lên lắm, phe anh chị trộm cướp có, phe quốc gia tư sản có, phe cộng sản đệ tứ có… Họ xưng hùng xưng bá gây rối ren lắm. Chỉ có Trần Văn Giàu mới khóa miệng chúng được. Rồi ông kể những cuộc diễn thuyết của Trần Văn Giàu trước cả trăm ngàn thính giả mà ông được dự. Ông ca tụng Trần Văn Giàu như một vị anh hùng cứu nước đầy tài năng, nào Trần văn Giàu đã từng du học Pháp, du học Liên Xô, được Bác Hồ cử về nước lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Tháng Tám thành công ở Nam bộ.

Bấy giờ là những năm đầu của thập niên 60, miền Nam do chính quyền Ngô Đình Diệm quản lý, ai nhắc đến Bác Hồ là bị tù. Ông thợ may Sài Gòn cũng chỉ dám nói những chuyện ấy trong gia đình họ tộc. Tôi vừa hơn 10 tuổi, thích nghe chuyện anh hùng, hình ảnh người anh hùng Trần Văn Giàu chiếm một vị trí rất lớn trong tâm hồn tôi.

Ông thợ may Sài Gòn là em ruột Cử nhân Nguyễn Đình Quản. Ông Cử Quản tham gia lãnh đạo phong trào khất thuế ở Quảng Ngãi bị tù Côn Đảo, chung thân biệt xứ, hy sinh ngoài Côn Đảo năm 1913. Trong tác phẩm “Thi tù tùng thoại” nổi tiếng, cụ Huỳnh Thúc Kháng nhắc nhiều đến Cử Quản, ca ngợi Cử Quản là một con người có chí khí và đởm lược. Cử Quản bị tù, các em ông phần lớn bỏ xứ vào Sài Gòn sinh nhai và dễ dàng hòa nhập vào các phong trào yêu nước tại chỗ. Ông thợ may Sài Gòn có 2 người con, người con trai ra đi từ những ngày đầu Nam bộ kháng chiến và hy sinh trong thời chống Pháp ở trong Nam, chưa vợ con chi. Ông thương tiếc mãi người con trai, nên đến tuổi già, ông tìm về sống nơi quê nhà, giữa bà con họ tộc, xóm giềng cho đỡ nhớ con, như ông nói, mà còn để đỡ cô đơn, nhưng ông không bao giờ nói ra.

 

o0o

 

Đến những năm cuối thập kỷ 80, tôi theo học lớp “trên đại học” lần đầu tiên mở tại TP.HCM, có nhiều vị thầy đáng kính nổi tiếng giảng dạy, trong đó có những khuôn mặt nổi bật như Giáo sư Trần Văn Giàu, Giáo sư Trần Đức Thảo, Giáo sư Vũ Khiêu, Giáo sư Phạm Đức Dương, Giáo sư Văn Tạo, Giáo sư Phan Lạc Tuyên…

Tôi thích lối giảng bài đầy nhiệt thành của thầy Giàu, tôi khâm phục sự uyên bác và lý luận khúc chiết của thầy Giàu. Thầy mở ra cho chúng tôi một khung trời văn hóa tư tưởng rất rộng lớn, nhưng tôi nhớ mãi câu thầy nói đại khái là:

“Kho kiến thức của nhân loại ngày nay vô cùng phong phú, nhiều tác phẩm giá trị mà thanh niên ta cần phải tiếp cận. Phải nhanh chóng chuyển thành tiếng Việt cho mọi người cùng tham khảo thì kiến thức mới sâu rộng. Đối với nước ta công việc dịch thuật là hết sức cần thiết hiện nay. Thanh niên ta không thể chỉ đọc những gì cha chú ta viết, mà thanh niên ta cần đọc càng nhiều những tác phẩm vĩ đại của nhiều người thuộc các nền văn minh khác viết…”.

Cuối khóa học, tôi vinh dự được lọt vào top ten, rồi ngày phát bằng, tôi lại được đích thân thầy Giàu trao bằng “Cao học Sử”. Làm viên chức Nhà nước cấp quận, ngoài công việc chuyên môn hàng ngày, tôi dành nhiều thời giờ cho sách vở, nhưng rất chung chung. Ngành khoa học lịch sử có đến hàng chục chuyên ngành, mênh mông lắm. Tôi nhớ mãi câu nói trên kia của thầy Giàu và hướng mình vào mũi nhọn dịch thuật. Thế là tôi tập trung trước hết cho chữ Nho, vì trước đây tôi được các thầy Nguyễn Đăng Thục, Trần Trọng San… đánh giá cao về Hán văn, môn này tôi đỗ Bình thứ, mà khóa học ấy chẳng có ai đỗ Bình hoặc Ưu cả. Tôi đã từng được thầy Nguyễn Đăng Thục giao cho dịch một số bài ngắn trong “Ẩm băng thất” của Vương Dương Minh khi tôi học năm thứ tư. Khi ấy thầy chê tôi dịch chưa đạt và giảng giải thêm các chỗ còn yếu. Tôi vẫn thường xuyên đọc sách chữ Nho, Liêu Trai, Nho lâm ngoại sử, Hồng lâu mộng, Tây sương ký… Tôi đã thử dịch trọn bộ “Nho lâm ngoại sử”, dịch dở dang “Liêu Trai chí dị” và một số tác phẩm khác, đều chỉ vì thích mà làm, gọi là cho vui, chứ chưa tính việc theo hẳn nghề dịch thuật, trong khi tôi vẫn an phận với công việc của một nhân viên Nhà nước cấp quận. Tôi vẫn tiếp tục theo chuyên ngành Dân tộc học mà tôi thích, bấy giờ mới có vài ba Phó Tiến sĩ, để rồi đến cuối năm 1995, tôi bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ. Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn, Viện trưởng Viện Dân tộc học và Tôn giáo Việt Nam, giáo sư phụ trách phản biện I trong Hội đồng giám khảo chấm bài cho tôi, sau một tháng đọc luận án của tôi, giáo sư bảo riêng tôi:

“Cậu không nên tiếp tục làm việc hành chánh, mà nên chuyển hẳn qua nghiên cứu thì sẽ có ích hơn. Vì cậu rất phù hợp với nghiên cứu, tôi tin sau 10 năm nghiên cứu, cậu sẽ vượt tôi”.

Có lẽ thầy đọc trong luận án của tôi, bài dịch một chương chữ Nho trong Gia Định thành thông chí và bài dịch nguyên một tiểu luận tiếng Pháp của GS Nguyễn Văn Khoan, người Việt Nam lấy học vị Tiến sĩ Sorbonne đầu tiên từ những năm 1920, làm việc ở Viện Viễn Đông Bác cổ. GS Nguyễn Văn Khoan đã bỏ ra trên 10 năm nghiên cứu, viết 32 trang tiếng Pháp về Đình làng và tục lệ cổ của cư dân đồng bằng sông Hồng cực hay, mà chưa ai dịch ra tiếng Việt.

Lời động viên của thầy hết sức ấn tượng, nhưng tôi chưa cảm thấy tự tin lắm, vẫn công việc hành chánh và lan man với đủ loại sách Ta, Tàu, Tây, chưa thể tìm ra hướng đi mũi nhọn thích hợp cho mình.

Thế rồi, nửa cuối năm 2002, Giải thưởng Trần Văn Giàu ra đời, năm 2003 đi vào hoạt động. Giải thưởng do NNC Trần Bạch Đằng làm Chủ tịch, Ủy ban Giải thưởng gồm 7 thành viên. Các Ủy viên UB Giải thưởng Trần Văn Giàu đều là các học giả uy tín trong sử học và triết học, đều có công việc thường xuyên của riêng từng người. Họ đứng trong Ủy ban Giải thưởng TVG là được cụ Giàu và cụ Bạch Đằng mời kiêm nhiệm, vài ba tháng mới họp một lần. Thế là Giải thưởng cần có một nhân viên trực Văn phòng Giải thưởng. Các cụ cũng đã nhắm ít nhất là Thạc sĩ. Điều kiện ấy cũng không khó tìm người, nhưng một Tiến sĩ chịu ngồi suốt ngày suốt tuần, một mình một phòng để trực mà không có lương, chỉ có phụ cấp 500.000 đồng/tháng thì mới khó tìm.

Tiến sĩ, Đại tá Nguyễn Hữu Nguyên, Viện phó Viện Lịch sử quân sự, là người được các cụ nhắm tới trước, nhưng anh đang ôm cả núi công việc của tỉnh Long An, chiến trường mà anh gắn bó thời chống Mỹ. Anh Nguyên lớn hơn tôi 2 tuổi, là bạn đồng môn top ten Cao học Sử năm nào, anh nhắm tôi thay thế anh, anh giới thiệu tôi với Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu và đến thuyết phục tôi:

“Sơn vẫn thường nói là khâm phục cụ Giàu, nay làm lính cho cụ thì hợp quá rồi. Lại còn được làm việc với các vị trong Ủy ban Giải thưởng do cụ Bạch Đằng làm Chủ tịch thì còn gì thích hơn”.

Thế là từ năm 2003, tôi làm thư ký văn phòng của Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu, tức là từ khi Giải thưởng đi vào hoạt động cho đến nay đã hơn 8 năm. Hàng ngày tôi ngồi tại văn phòng Giải thưởng tiếp khách, đọc sách, tổ chức hội họp của các vị với nhau hoặc với khách. Tôi thích nhất là được tỉnh táo quan sát cung cách và phương pháp làm việc của các bậc cây đa cây đề trong sự nghiệp nghiên cứu mà bắt chước. Tôi đọc tất cả các tác phẩm gửi dự giải thưởng, toàn những sách có giá trị đã được đánh giá cao, thì người ta mới gửi tới dự giải.

Được gần gũi với những cây đại thụ trong làng văn hóa Nam bộ, thấy họ làm họ sống, tôi đã học được nhiều, tôi bắt đầu viết và dịch.

Vạn sự khởi đầu nan! Nhưng kiến tha lâu đầy tổ, mỗi ngày tôi lập chí ngồi vào máy khoảng 15 tiếng, đều đặn suốt 8 năm như thế, nên đến nay, tôi đã có trên 10 tác phẩm trình làng.

Điều mà tôi muốn nói ở đây, là ảnh hưởng hết sức lớn mang tính quyết định của cụ Giàu đối với tôi. Hàng ngày, tôi tiếp những vị lão thành đến hỏi thăm sức khỏe cụ Giàu. Tôi đọc thấy nơi các vị khách ấy sự chân tình, lòng yêu mến sâu nặng và tinh thần cảm phục đối với một người luôn luôn cao hơn mình một cái đầu về nhiều phương diện. Đó là những vị xưa kia làm việc dưới quyền cụ Giàu, là các thế hệ học trò cụ Giàu, thậm chí có những vị chỉ nghe đến danh tiếng cụ Giàu. Trong đó, có nhiều vị giữ cương vị cao, thậm chí rất cao trong hệ thống Đảng, chính quyền, Hội, Đoàn Trung ương và các tỉnh, thành từ Bắc chí Nam, đương chức hoặc đã về hưu. Tôi cũng bắt đầu đọc có hệ thống tủ sách khá phong phú của văn phòng Giải thưởng, mà trong đó có đầy đủ sách của cụ Giàu và của các nhà lãnh đạo, của nhiều học giả nổi tiếng viết về cụ Giàu. Bấy giờ tôi đã hơn 50 tuổi, càng đọc tôi càng thấy cụ Giàu lớn quá, làm được nhiều việc quá, chỉ tính riêng trong lĩnh vực văn hóa, tư tưởng.

Tôi bắt đầu lập chương trình cho mình và làm việc một cách cần cù. Khởi nghiệp bằng chữ Nho trước. Phải tìm các bản sách có ích cho văn hóa mà chưa ai dịch. Lúc này, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Nhuận, Phó Viện  trưởng Viện Hán Nôm, qua PGS. TS. Phan An, Viện Khoa học xã hội tại TP.HCM, biết tôi người Quảng Ngãi bảo tôi dịch “Học văn dư tập” của ông quan to kiêm nhà thơ, người đồng hương Trương Đăng Quế. Hòa thượng Thích Phước Sơn, Phó Viện trưởng Viện Phật học TP.HCM, Thượng tọa Thích Đồng Bổn, Ban Phật giáo Việt Nam khuyến khích tôi dịch “Đại Đường Tây vực ký” của thầy Đường Tăng Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh. Tôi nhận lời dịch, chỉ nhờ các sư phụ chỉ dạy thêm và chịu bỏ công nhuận sắc cho. Đến đầu năm 2007 thì hoàn thành bản dịch và nhuận sắc, 2 cuốn sách đã ra đời. Tôi tiếp tục dịch một số tác phẩm chữ Hán có tiếng của các tác giả Nho học nước ta mà chưa ai dịch. Tôi cũng tham gia dịch một số sách Phật học như “Đại bát Niết bàn kinh”…

Nhưng theo cụ Giàu, tôi đã không dừng lại ở việc dịch thuật chữ Hán. PGS. TS. Nguyễn Văn Lịch, Phó Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu, Chủ nhiệm bộ môn Việt Nam học, Đại học Khoa học và Nhân văn TP.HCM, kéo tôi vào kho sách Tây học hiện đại, thuộc chuyên ngành Dân tộc học của tôi. Các sách tiếng Anh, tiếng Pháp đang thịnh hành ở phương Tây mà Việt Nam rất cần nhưng chưa ai dịch. Tôi chủ biên và đồng dịch các tác phẩm “Anthropology: The study of man” (Nhân chủng học: Khoa học về con người), “Anthropological Theory” (Lý thuyết Nhân loại học) và tự mình dịch “Le Japon d Aujourd hui” (Nhật Bản ngày nay).

Những tác phẩm trên rất cần cho thanh niên ta tham khảo, nhưng nguyên tác đều dày cả ngàn trang, lượng tiêu thụ hạn hẹp, nên không thu hút các nhà dịch thuật. Mỗi cuốn sách ấy tôi phải làm hàng nhiều năm trời mới xong, mà thật ra chỉ với cung cách sinh hoạt nghiêm túc, môi trường hoạt động của Giải thưởng Trần Văn Giàu mới giúp tôi nhẫn nại và cầu tiến như thế.

Từ khi đọc một cách có hệ thống các tác phẩm của thầy Trần Văn Giàu và được gần gũi làm việc dưới sự chỉ dạy thân tình của các vị trong Ủy ban Giải thưởng mang tên cụ Giàu, tôi đã có được hướng đi rất rõ ràng cùng với phương pháp làm việc có hiệu quả. Đến nay, sau 8 năm cần cù trong sự ưu ái của các vị là cây đa cây đề, tôi đã có trên 10 đầu sách. Chính thầy Giàu đã mở lối đi cho tôi thật sáng sủa. Tôi mong muốn làm một trò nhỏ của thầy Giàu, dịch ra tiếng Việt các tác phẩm có ích cho văn hóa nước nhà, là thực hiện một chút gì đối với hoài bão vĩ đại của thầy Giàu. Năm nay, đã 62 tuổi, tôi sẽ theo suốt cuộc đời sự nghiệp mà thầy Giàu đã vạch ra cho tôi.

                                                                                                 Ngày 16-12-2010

                                                                       LÊ SƠN (LÊ SƠN PHƯƠNG NGỌC)

Người khai sáng dân ta phải biết sử ta


 NGUYỄN MINH ĐứC (CBHT)
 Mừng Bác Hồ kính yêu 120 năm sống mãi với sự nghiệp độc lập tự do hạnh phúc – CNXH của nhân dân ta. Vui tháng năm đến rực rỡ mặt trời cách mạng học tập làm “Thật sự Đảng trong sạch vững mạnh, đạo đức, văn minh”.

          Đối với tôi và đồng nghiệp chúng ta còn thêm một gánh nặng bên vai là tìm lại bài thơ diễn ca “Dân ta phải biết sử ta” do cụ Nguyễn Ái Quốc sáng tác cách đây 69 năm kể từ năm 1941.
          Chúng ta cùng tìm hiểu những giá trị của 6 chữ vàng: dựa vào đâu, mục đích biên soạn, tác giả có đặc điểm gì khác với các nhà thơ, nhà viết lịch sử.
          Nhà viết sử là thư ký thời đại
          Trước năm 1941, các bậc sử gia biên soạn những bộ sách: Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu đời Trần, Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên đời Lê, Đại Việt Thông Sử của Lê Quý Đôn đời hậu Lê, lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú đời Nguyễn…
          Tổng quát lại bộ Việt Nam Lược Sử quyển 1 (cổ đại tự chủ thời đại), quyển 2 (tự chủ thời đại, cận kim thời đại). Theo niên biểu từ 2879 đông lịch đời Hồng Bàng đến năn 1902 Tây lịch đời Nguyễn Đức Tông của Trần Trọng Kim (1882-1953) quê ở Hà Tĩnh, viết xong năm 1919, ấn hành lần đầu năm 1921. Năm 2001 NXB TP.HCM tái bản 1.000 cuốn.
          Những vị tiền nhân sử học biên soạn bằng chữ Hán và chữ Việt, theo thể văn chính luận, ghi chép các biến cố về đời sống, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội nước nhà. Phong cách viết khác nhau, xong họ đều giống nhau theo hướng yêu tha thiết quốc sử chống giặc ngoại bang. Tuy thế, do bị hạn chế cách nhìn của học giả dưới thời phong kiến, Pháp thuộc nên dòng lịch sử theo dòng tư tưởng đương đại mà tung hô “Vạn tuế” và ca ngợi “Những công việc của chính phủ bảo hộ”.
          Khát vọng cháy bỏng
          Năm 1941 tại Pắc Pó, cụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập báo Việt Nam Độc Lập và viết bài cho cơ quan ngôn luận Việt minh bí mật đóng ở căn cứ rừng núi Cao Bằng. Ý định của cụ là giúp cán bộ Việt minh có thêm nguồn tư liệu đi truyền bá vào quần chúng tham gia vào đoàn thể cứu quốc, vào đội bán vũ trang chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng khi thời cơ đến. Theo chủ trương mới của Việt minh: “Làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. Làm cho dân Việt Nam được sung sướng tự do”.
          Để phục vụ mục tiêu cao cả cụ Ái Quốc viết 30 bài thơ gắn mỗi bài một chủ đề riêng cho từng giới: nông dân, lão thành, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, sư sãi, thiên chúa giáo và binh lính… Cụ còn viết phục vụ chung cho người bình dân và trí thức với hai bài thơ diễn ca lịch sử địa dư, lịch sử nước ta và nhấn mạnh “Xét trong lịch sử Việt Nam. Dân ta vốn cũng vẻ vang anh hùng”.
          Tác giả viết bằng thơ lục bát về lịch sử đấu tranh thể hiện nội dung phong phú, hình thức đa dạng giá trị tư tưởng sâu sắc dễ đi vào tâm hồn độc giả.
          Mở đầu người ẩn danh là lãnh đạo Việt minh kêu gọi thiết tha: “Dân ta phải biết sử ta. Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Kể hơn 4.000 năm. Tổ tiên rực rỡ anh em thuận hòa.
          Sự tích năm 2979 TCN “Hồng Bàng là tổ nước ta. Nước ta lúc ấy gọi là Văn Lang”. Năm 1942 SCN: “Bấy giờ Pháp mất nước rồi không đủ sức không đủ người trị ta. Giặc Nhật Bản thì mới qua. Cái nền cai trị chưa ra mối mành”.
          Bài thơ sử Việt Nam có 210 câu dài nhất từ cổ đến kim của Nguyễn Ái Quốc. Ngược dòng thời gian truyện thơ Lục Vân Tiên với 2.080 câu thơ của Nguyễn Đình Chiểu; truyện thơ Kiều với 3.254 câu của Nguyễn Du. Mỗi bài thơ theo chủ đề tư tưởng riêng nhằm phản ánh đời sống văn hóa xã hội đương thời khác nhau. Tức là, mỗi thời thế tạo ra một danh nhân văn hóa đáp ứng sự đòi hỏi của công chúng, của lịch sử.
          Chủ đề chính tư tưởng của lịch sử Việt Nam nhằm nêu cao tinh thần đoàn kết các thế hệ. Tác giả nhấn mạnh khi nào sự đoàn kết được lực lượng yêu nước chung quanh tướng lĩnh trung quân ái quốc, lấy quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy đánh đổ giặc ngoại xâm và tay sai của chúng, đặng cứu nòi giống Lạc Hồng ra khỏi nước sâu lửa nóng. Ngược lại, nếu ai không đoàn kết được thì bị kẻ thù chia rẽ đè đầu cởi cổ như ngựa trâu.
          Sự kiện năm 40-43, Trưng Vương khởi binh đánh quân Mã Viện chiếm đất Giao Chỉ: “Quân Tàu nhiều kẻ tham lam. Dân ta há hễ chịu làm tôi ngươi? Hai bà Trưng có đại tài. Phất cờ khởi nghĩa đánh người tà giang. Ra tay khôi phục giang san. Tiếng thơm ghi tạc đá vàng nước ta”.
          Sự kiện năm 939-965, tiền Ngô Vương đóng đô ở Cổ Loa thành đã giải phóng nước nhà khỏi ách Bắc thuộc với ý chí cùng quân dân dựng nghiệp lâu dài… ”Ngô Quyền quê ở Đường Lâm. Cứu dân thoát khỏi cát lầm ngàn năm. Đến hồi Thập Nhị sứ quân. Bốn phương loạn lạc muôn dân cơ hàng”.
          Sự kiện đột biến tháng chạp Bính Thìn – 1076 nước ta bị đại quân nhà Tống đánh vào, dưới thời vua Lý Nhân Tông (1072-1087). Vua cử tướng tài giỏi nhất là Lý Thường Kiệt đem đại quân ta đánh chận đại quân Tàu ở sông Như Nguyệt (Bắc Ninh). Hai bên chiến đấu hao binh tổn tướng, hại dân lành mà chưa thành thắng bại.
          Quyết tâm của Tổng chỉ huy Lý Thường Kiệt là không cho địch tiến công vào thành Thăng Long. Song “Sợ quân mình có ngã lòng chăng, bèn đặt ra một chuyện nói rằng có thần cho 4 câu thơ: Nam quốc sơn hà nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lệ lai xâm phạm. Nhử đẳng hành khan thủ bại hư”.
          Lời kết của sử gia Trần Trọng Kim: “Quân lính nghe đọc mấy câu thơ ấy ai nấy đều nức lòng đánh giặc, quân nhà Tống không tiến lên được”.
          Thanh gươm thiêng diệt thù. Cây bút thần chinh phục lòng người. Cây bút thay thế tiếng nói tâm huyết tác giả như một thứ vũ khí sắc bén cùng thanh gươm giành thắng lợi.
          Cụ Nguyễn Ái Quốc diễn ca: “Công Uẩn là kẻ phi thường. Mở mang văn hóa, cầm quyền nước ta” và “Lý Thường Kiệt là hiền nhân. Tuổi già phỉ chí công danh. Mà lòng yêu nước trung thành không phai”.
          Sự kiện năm 1802-1888, nhà Nguyễn Thế Tổ lên ngôi vua là Gia Long truyền nghiệp đến đời vua thứ 7 là Đồng Khánh thì “Trung kỳ cũng mất Bắc kỳ cũng tan! Ngàn năm gấm vóc giang san. Bị vua nhà Nguyễn đem hàng cho Tây! Tội kia càng đắp càng dầy. Sự tình càng nghĩ càng cay đắng lòng”.
          Sự kiện 1941-1942, cuộc chiến tranh Thái Bình Dương do Nhật phát xít phát động là một bộ phận của đại thế chiến thứ II đang ảnh hưởng vào nước ta. Trước đó có 3 cuộc “Kéo cờ khởi nghĩa đánh Tây bạo tàn” Năm 1940. Trong 2 năm sau “Bấy giờ Pháp mất nước rồi. Không đủ sức không đủ người trị ta. Giặc Nhật Bản thì mới qua. Cái nền thống trị chưa ra mối mành”.
          Động lực chủ yếu được vang lên ở những dòng thơ cuối bài, người kêu gọi đồng bào cả nước ta: “Hỡi ai con cháu Rồng Tiên! Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau. Bất kỳ nam nữ nghèo giàu. Bất kỳ già trẻ cùng nhau kết đoàn”.
          Dựa vào diễn biến mới nhất cuộc chiến tranh thế giới cuối năm 1941 đầu năm 1942, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Ban Thường vụ TƯ Đảng đưa ra lời kết luận: “…Gây ra chiến tranh Thái Bình Dương tức là Nhật tự xác” và Nhật bản bị các lực lượng quân đồng minh đánh bại. Người chỉ rõ: “Dân ta có Hội Việt minh. Đủ tài lãnh đạo chúng mình đấu tranh” hãy “Nổi lên khôi phục nước nhà tổ tông”. Thay mặt Hội Việt minh người ra tuyên bố: “Mai sau sự nghiệp hoàn thành. Rõ tên nước Việt rạng danh Lạc Hồng” và nhấn mạnh “Dân ta xin nhớ chữ đồng. Đồng tình đồng sức, đồng lòng, đồng minh”. Gọi tắc là Việt minh.
          Đầu năm 1942, tác giả kết thúc tác phẩm lịch sử nước ta và ghi thêm: “Những năm quan trọng có 28 sự kiện đã diễn ra: số 1 là Hồng Bàng và số 28 là năm 1940 Nam Kỳ khởi nghĩa. Không dừng lại ở đó như các sử gia, cụ Nguyễn Ái Quốc ghi sự kiện số 29 là Việt Nam độc lập – 1945 chưa diễn ra.
          Báo vừa phát hành được nhiều công nhân nhà in tờ Việt Nam độc lập và cán bộ đọc liền có ý kiến “anh em người nói sớm, kẻ nói muộn, Bác nghe trao đổi chỉ nói ừ để rồi xem” lời kể lại của đồng chí Vũ Anh.
          Cần hiểu thêm, bài thơ Diễn ca Lịch sử Việt Nam (còn gọi là tập thơ Việt Nam Lịch sử Diễn ca) do cụ Nguyễn Ái Quốc sáng tác được in đá (in litô hồi đó. Sau này, nhờ cán bộ Viện Bảo tàng cách mạng sưu tầm được trong một ống bương do một lão hội viên cứu quốc ngày trước giữ trong nhà. Hồi ký Đại tướng Võ Nguyên Giáp: những chặng đường lịch sử, NXB VH 1977. Năm 1980 lịch sử nước ta toàn văn đăng trong tập 36, Tổng tập văn học Việt Nam NXB KHXH HN…
          Hành động quyết liệt
          Mùa xuân 1942 cụ Nguyễn Ái Quốc đưa ra lời tiên đoán Việt Nam Độc lập năm 1945, sang mùa thu năm ấy Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng lên đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
          Lệnh tổng khởi nghĩa của Ủy ban khởi nghĩa, hỏa tốc, hỏa tốc đưa đi khắp tổ chức Việt minh chớp thời cơ ngay. Chỉ trong 15 ngày (14 đến 28-8) bạo lực cách mạng của 20 triệu đồng bào hành động quyết liệt. Kết quả giành được chính quyền 61 tỉnh, thành trên tay súng phát xít Nhật Bản bị tê liệt tinh thần.
          Mở đầu ở Bắc bộ ngày 14-8 tại các tỉnh căn cứ Cao – Bắc – Lạng – Thái – Tuyên. Ngày 21-8 kết thúc các tỉnh đồng bằng trung du. Nổi nhất tại trung tâm Bắc bộ Phủ là xứ bảo hộ trước kia nay không còn ai bảo vệ.
          Sáng chủ nhật ngày 19-8-1945, Quảng trường Nhà hát Lớn TP. Hà Nội hơn 2 vạn người kêu hãnh “Ta được làm dân, dân có nước. Nước có chủ, chủ là ta” thơ Phan Trọng Bình. Họ phấn chấn hát vang lời ca “Mười chín tháng tám khi khối dân căm hờn kêu thét. Đồng đứng lên gông xích ta đập tan…” của nhạc sĩ Xuân Oanh vừa sáng tác đêm qua phổ biến ngay. Một chiến sĩ tự vệ trèo lên ban công vứt xuống đất lá cờ quẻ ly” Chính phủ Nam Triều đã treo lên năm 1911 khi khánh thành nhà hát này. Chiến sĩ ta trân trọng kéo lá quốc kỳ Việt Nam bay phấp phới.
          Đúng 11 giờ, sau phút mặc niệm hát bài “Chiêu hồn tử sĩ” vì nước hy sinh và 2 triệu đồng bào chết đói do chính sách dã man Pháp – Nhật gây ra. Chiến sĩ ta nổ 3 phát súng làm lễ chào quốc kỳ, nhạc cử quốc ca hùng tráng do đoàn nam nữ tự vệ hợp xướng. 3 nghi thức được Đại hội Quốc dân Tân Trào quyết định công nhận từ lá cờ đỏ sao vàng khởi nghĩa Nam kỳ, từ bài Tiếng quân ca và phải hát theo. Địa điểm núi rừng Tân Trào là tên mới do Bác Hồ đặt thay tên cũ làng Kim Lũng, tỉnh Tuyên Quang. Nơi đây chứng minh tia lửa tiềm tàng trong đá lửa. Chỉ hội tụ đủ hoàn cảnh là tia lửa lại bùng lên ngọn lửa từ đá lửa lặng lẽ.
          Trở lại Nhà hát TP., đại diện Ủy ban quân sự cách mạng do đồng chí Vương Thừa Vũ đọc lời kêu gọi toàn dân đi biểu tình giành chính quyền. Hôm sau, Báo Hà Nội đưa tin đến khắp nơi: đồng bào Hà Nội – Thăng Long đã giành độc lập thật sự, đánh đổ chính quyền phát xít và bè lũ bù nhìn của chúng. Không có sự chống trả của đối phương, tuy trong tay họ vẫn còn đầy đủ súng đạn.
          Tại TP. Huế, nơi đặt dinh cơ của hoàng đế Bảo Đại và chính quyền Trần Trọng Kim trong bầu không khí trầm cảm: “Đức Kim Thượng đêm nay trong ngọc điện ngự lên lầu, trông lên cao sao xuyến muôn vì sao lạnh lẽo thấm áo bào. Người rung mình tưởng đứng trên đỉnh cao cù lao…” – Thơ Tố Hữu. Bởi những làn sóng khởi nghĩa thắng lợi các tỉnh Trung kỳ: Hà Tĩnh, Quảng Nam, Quảng Ngãi, đưa dồn dập tới Huế, do sự chỉ đạo Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên là Nguyễn Chí Thanh (1914-1967).
          Ngày 21-8, Ủy ban Giải phóng dân tộc từ Hà Nội gửi bức điện khẩn đến vua Bảo Đại yêu cầu ông ta thoái vị. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy không nên dùng vũ lực lật đổ triều đình mà gợi ý Bảo Đại thoái vị thì có lợi về sách lược nhằm phân hóa kẻ thù cách mạng.
          Thứ năm ngày 23-8-1945, Tỉnh ủy Thừa Thiên huy động trên 150.000 nhân dân TP. Huế và các huyện xung quanh nổi dậy chiếm công sở buộc vua Bảo Đại phải đầu hàng. Kết quả phá tan mưu đồ của Chính phủ Trần Trọng Kim cố gượng sức tàn làm một cuộc biểu tình tại Huế mừng quan thầy Nhật vừa ban cho tự trị chính quyền Nam kỳ đang hấp hối mà trước kia họ độc đoán nắm như giữ vàng rồng.
          7 ngày sau chính quyền cách mạng đứng ra làm lễ thoái vị vua Bảo Đại tại Ngọ Môn. Trước đó ông ta hỏi cận thần: Nếu Chủ tịch Ủy ban Giải phóng Dân tộc Hồ Chí Minh và nhân vật thần kỳ Nguyễn Ái Quốc là một. “Nếu vậy thì ta không còn cách nào khác là chấp nhận thoái vị” nhà thơ Tố Hữu hân hạnh có mặt ở đó và cảm nhận: “…Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy hãy bay lên sông núi của ta rồi!”.
          Mùa thu năm Ất Dậu 1945, hoàn toàn chấm dứt lập tức tập tục “Con vua thì được làm vua” do chế độ phong kiến tập quyền lâu đời đẻ ra.
          Mùa thu vàng son năm ấy mở ra thế hệ đầu tiên mang danh dự “Cháu Bác Hồ”, “Bộ đội Bác Hồ” hiên ngang đi trên đường thiên lý.
          Lịch sử Nam bộ đi đầu khởi nghĩa Nam kỳ lại về cuối tổng khởi nghĩa, trong hoàn cảnh nhiều sự kiện chính trị xã hội phức tạp, diễn biến sôi động giữa Việt minh với các đối thủ, khác với thành phố Huế và TP. Hà Nội?
          Ngày 19-8, Nguyễn Văn Sâm phái viên đắc lực của vua Bảo Đại từ Huế đáp máy bay vô Sài Gòn đến cầu viện tổng chỉ huy quân đội Nhật ở Đông Dương cung cấp vũ khí và ủng hộ cho lực lượng các đảng phái, cao Đài, Hòa Hảo, nhóm Tờ- rốt-kít theo Nhật – thân Pháp đang chống Việt minh.
          Hơn thế nữa, bọn cầm đầu phái tả Nhật tuân lệnh quan đại diện Anh quốc đồng minh ở Sài Gòn ra lệnh thả tù binh Pháp cấp cao Đông Dương đang bị giam ở Lộc Ninh. Chúng công khai đi xe lửa đến sân bay Phú Hòa tỉnh lỵ Thủ Dầu Một, về Sài Gòn giữ vai trò chủ chốt phá hoại cách mạng sắp tới.
 Sức mạnh phi thường của Đảng bộ Nam kỳ tại Sài Gòn đã quy tụ khoảng 250.000 người vào các tổ chức cứu quốc của Việt minh: Hội Công nhân, Hội Thanh niên tiền phong, Hội Phụ nữ, Hội Lão thành, các lực lượng vũ trang cựu chiến binh và tự vệ… Quân dân nội thành, ngoại thành chờ lệnh “Lên đàng” giành chính quyền.
          Khi ấy, có một số đại diện các giới trí thức đảng phái yêu nước đến gặp vị đại diện Tổng bộ Việt minh ở Hà Nội vào đang làm việc với Xứ ủy Nam bộ nhà ở gần dinh Đốc phủ Nam kỳ. Họ thật thà, thẳng thắn hỏi đồng chí Hoàng Quốc Việt và được vui vẻ trả lời ngay:
          – Xin cho biết Hồ Chí Minh là ai, có phải là Nguyễn Ái Quốc?
          – Còn ai nữa, chính Nguyễn Ái Quốc là Hồ Chí Minh!
          Mọi người vỗ tay đồng thanh hô: Nhiệt liệt ủng hộ chính phủ TW do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Khẩu hiệu này lần đầu được tung hô, phải chờ mấy năm nữa mới trở thành tâm khẩu của đồng bào hô “Hồ Chí Minh muôn năm” hoặc “Hồ Chủ tịch muôn năm” trong các ngày lễ, các cuộc mít-tinh.
          Đúng 10 giờ thứ bảy ngày 25-8-1945, vừa dứt tiếng còi báo hiệu thì khai mạc cuộc mít-tinh tại quảng trường phủ toàn quyền Đông Dương. Đồng chí Trần Văn Giàu đại diện Ủy ban khởi nghĩa, Chủ tịch UBND lâm thời Nam bộ, Bí thư Xứ ủy Nam bộ đứng trên bục diễn đàn tuyên bố đã giành chính quyền thắng lợi từ hôm qua. Giờ đây chính quyền cách mạng ra mắt với toàn dân, với các tôn giáo yêu nước…
Đồng chí Chủ tịch UBND đọc bài diễn văn quan trọng trước 1.200.000 đồng bào Sài Gòn, các tỉnh Nam bộ, các lực lượng chính quy và lực lượng vũ trang tự vệ. Nội dung diễn văn được báo Điển Tín Sài Gòn đăng tải ngày 26-8-1945 có đoạn:
          “Hỡi đồng bào!
          Bây giờ chủ quyền về tay ta rồi nhưng còn phải chờ sức nỗ lực làm việc và phấn đấu của ta thì nó mới vững bền và rực rỡ.”
          10 giờ 15 phút, quần chúng vừa đi vừa tung hô đoàn đi trước: “Việt minh”, “Dân chủ Cộng hòa” đoàn đi sau đáp “Muôn năm, muôn năm, muôn năm”.
          Làn sóng thần hòa nhịp tiếng hát vang lừng “Này thanh niên ơi đứng lên đáp lời sông núi…” tiếng hô lớn của đoàn cựu thủy binh: “Ủng hộ Việt minh, sẵn sàng đổ máu với quân ngoại xâm bảo vệ bờ cõi”. Tiếng hô dồn dập của Đoàn thanh niên tiền phong “Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm” và “Độc lập hay là chết”.
          Trên tờ báo Sài Gòn đăng bài thơ chào cách mạng 1945 của đồng chí Trần Bạch Đằng “…Rộn ràng tiếng hát quê hương. Sài Gòn trong nắng tà dương đỏ bừng. Một, hai, chân bước giục lòng. Nón rơm với ngọn tầm vông tung hoành”.
          Khi đó, đồng chí Hoàng Quốc Việt (1902-1992), ở Sài Gòn trong bầu không khí cách mạng tưng bừng điện nhanh ra Hà Nội kính báo lên Chính phủ TƯ: “21 tỉnh mà tôi đã đi qua đều giành được chính quyền. Các tỉnh Nam bộ cũng đã xong”.
          Đêm 25-8, Xứ ủy Nam bộ họp ngay quyết định đầu tiên là tổ chức một đoàn cán bộ đưa tàu ra giải phóng nhà tù Côn Đảo, đón các chiến sĩ cách mạng về đất liền an toàn.
          Sau đó, 620 tù chính trị Côn Đảo lên tàu vượt biển về bến sông ở xã Đại Ngãi, tỉnh Sóc Trăng. Đồng chí Mai Chí Thọ xúc cảm sinh tình bật ra mấy câu thơ: Cách mạng thành công như giấc mơ. Bức tung xiềng xích phá lao tù. Đại bàn vỗ cánh tung lồng ngực. Bay dưới cờ sao lộng gió thu.
          Mời Bác Hồ về quê ta
          Suốt chiều dài 2 cuộc kháng chiến Đảng bộ và quân dân tỉnh Bình Dương tình nguyện làm theo Tuyên ngôn Ba Đình mùa thu xanh ngát. Trong tâm trí mọi người ước mơ Bác Hồ luôn khỏe mạnh vào Nam cho thỏa lòng nhớ thương.
          Năm 1969, Hà Nội còn chống chiến tranh phá họai của giặc Mỹ – ngụy đang lúc Bác còn bệnh mà lòng vẫn ôm ấp vào miền Nam thăm đồng bào chiến sĩ. Khi đó quân dân ta đang dùng sức mạnh thần kỳ tấn công vào sào huyệt Mỹ – ngụy, máu hồng tô đỏ niềm tin chiến thắng đón Bác vô quê hương.
          Bất thần được tin: “Ôi! Quả tim lớn lọc trong dòng máu chảy ngừng đập. Mọi người ngẩn ngơ thầm nghĩ Bác Hồ đã đi xa rồi, không vào được quê mình. Trời đất chiến khu Thuận – An – Hòa, chiến khu Đ và toàn tỉnh nặng ân tình. Sông Đồng Nai, sông Bé, sông Thị Tính thương yêu sóng dậy xôn sao. Ngôi sao đêm đêm lấp lánh như mi mắt lệ tuôn trào.
          Họ cầm chắc tay súng quyết “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, Nam – Bắc hưởng trọn khúc ca khải hoàn.
          Họ lại tuân theo lý lẽ tổ tiên “Sống khôn thác thiêng” nên thỉnh chân dung người thờ trong nhà, trong cơ quan, trong chùa, trong tháp. Trong những trái tim ta có Bác Hồ ngày đêm, 4 mùa có dũng khí vững đi tới mục tiêu cuộc sống.
          Qua nửa thế kỷ “Còn non còn nước còn người” Đảng bộ Bình Dương làm đầu tàu cùng quân dân vượt qua bão táp phong ba nội tâm, ngoại cảnh. Lấy hành động xóa cũ, xây mới và “Trải thảm đỏ” đón bầu bạn gần xa đưa vốn đầu tư hợp cùng sức mạnh “Sáng tạo, năng động” của dân ta làm nên những thành tựu kinh tế, xã hội, văn hóa vang tiếng khắp đất trời.
          Chúng ta như trai “Phù Đổng” sánh vai bạn bè làm nên tứ trụ miền Đông gian lao mà anh dũng thời đổi mới, hội nhập và phát triển. Thế lực và diện mạo Bình Dương “Hơn 10 ngày qua” đủ sức mạnh bay xa, bay cao bay vững bền trong tương lai, cần phải có con mắt thứ 3.
          Cứ mỗi độ xuân qua hạ đến tháng 5 ai cũng thương nhớ tha thiết Bác Hồ trong tâm tư của các lão thành kháng chiến có một điều hệ trọng chưa có dịp nói ra. Hòa nhập với tâm sự đó chúng tôi thấy có đủ điều kiện trình bày lên các vị lãnh đạo tỉnh và các cơ quan tham mưu:
          Xây dựng đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ở Trung tâm TP. mới Bình Dương. Năm 2020 là cơ hội tốt nhất khi cắt băng khánh thành TP. hiện đại nhất so với đường phố TX.TDM đang đi vào thế kỷ.
          Ngày lịch sử trang trọng ấy, có Bác Hồ âu yếm bên đồng bào, chiến sĩ, các cháu… các cháu, chiến sĩ, đồng bào bên Bác. Hình ảnh hiện tại gợi nhớ lại ca khúc “Mong Bác Hồ vào Nam” do thiếu nhi cứu quốc trình diễn trên sân khấu ở căn cứ xã Long Nguyên, huyện Bến Cát – Đêm 19-5-1948. Hôm đó, lần đầu tiên làm lễ sinh nhật “Cụ Hồ”; về sau toàn tỉnh cử hành và gọi là sinh nhật “Bác Hồ”.
          Thiết nghĩ lý tưởng tôn thờ Bác không phải là cúng bái người âm mà chính là vận dụng nguồn sức mạnh tâm linh cổ hữu nhân kiệt, nhân tài, nhân lực Bình Dương. Đây là một trong những trung tâm giáo dục niềm tin nhằm quy tụ mọi người đến bày tỏ lòng mình với Bác: Mỗi khi họ có điều vui được nâng lên cao, gặp lúc điều buồn được vơi xuống thấp. Nhân tốt tâm linh phát sinh quả tốt hành động.
          Ấy là chân lý: Nói ít làm nhiều của bậc danh nhân văn hóa thế giới xuất thân từ đất nước ngàn năm văn hiến Việt Nam. Có đài hoa dâng Bác. Có nén hương trầm dâng Bác làm cho tinh thần chúng ta cao đẹp hơn.
 
                                                                                           N.M.Đ