TÌM HIỂU NGUỒN GỐC HẨU – LINH VẬT CỦA NGƯỜI HOA PHƯỚC KIẾN Ở BÌNH DƯƠNG


Cộng đồng người Hoa ở Bình Dương gồm 4 nhóm ngôn ngữ chính: Triều Châu,
Quảng Đông, Phước Kiến và Sùng Chính. Mỗi nhóm lại có một nét độc đáo, đặc trưng
riêng: Người Quảng Đông tự hào với điệu trống múa lân, người Sùng Chính nhộn nhịp
với điệu múa sư tử, người Triều Châu rộn ràng cùng dàn nhạc Tiều và người Phước
Kiến tự hào với điệu múa Hẩu. Hẩu là linh vật mà người Phước Kiến sùng kính, là
niềm tự hào của họ nhưng cũng là nỗi e sợ của các nhóm người Hoa khác. Nguồn gốc
của linh vật Hẩu và nghệ thuật múa lốt 1 Hẩu nằm trong tri thức của hai nhóm họ
Vương và họ Lý – hai nhóm họ trong cộng đồng người Phước Kiến, song ý kiến của
hai họ lại không giống nhau. Bài viết này thử tìm về, lý giải nguồn gốc Hẩu qua các
lăng kính khác nhau để có thể đưa ra được câu trả lời thoả đáng, toàn diện nhất.
1. Nguồn gốc Hẩu qua tên gọi Hẩu có khá nhiều tên gọi, xuất phát từ nhiều vùng khác nhau. Người Phước Kiến họ Lý gọi tên là Lân, trong khi cũng cùng là người Phước Kiến nhưng họ Vương lại gọi tên là Hẩu. Qua tỉnh Đồng Nai, cộng đồng người Phước Kiến ở đây gọi chung bằng cái tên con Càng Cúp/Càng Kít trong khi đó những nhóm còn lại, dựa vào hình dáng cái mặt tròn tựa cái nia mà gọi là con Nia. Vậy đâu mới là tên gọi chính của linh vật này?
Khu vực cư trú đầu tiên của người Hoa Phước Kiến ở Bình Dương chính là khu
vực Lò Chén, phường Chánh Nghĩa 2 . Ở đây, người Phước Kiến sống thành cộng đồng
khá ổn định với đầy đủ những thiết chế về kinh tế, văn hóa. Truyền thống văn hóa,
phong tục tập quán, nghi thức cúng kiếng của họ được bảo lưu khá tốt. Quan trọng
hơn, trong khi các nhóm khác chỉ có thể đọc tên thì nhóm họ Lý vẫn viết được tên của
linh vật này là chữ 獅 (âm Hán – Việt đọc là “Sư” – con Sư tử).
Theo tư liệu điền dã cá nhân, tên gọi Hẩu xuất phát đầu tiên từ vùng Tân Phước
Khánh (thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Tân Phước Khánh là vùng đất mà quá
trình giao lưu, tiếp biến văn hoá của người Hoa và người Việt diễn ra với tốc độ khá nhanh.
Múa lốt: theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 1992, “lốt” là xác bọc ngoài của một số động vật, là vỏ bên ngoài để che giấu con người thật. Múa lốt là hình thức múa con người mang vỏ bọc ngoài của động vật; như múa lân, sư, rồng, hẩu là hình thức múa đội lốt ….được tạo hình giống lân, sư, rồng hay hẩu 2

Xem thêm: Hội Khoa học lịch sử tỉnh Bình Dương, Huỳnh Ngọc Đáng (chủ biên) (2012), Người Hoa ở Bình Dương, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật.
(*) Giảng viên bộ môn Lý luận chính trị và Khoa học xã hội nhân văn, trường Đại học cảnh sát nhân dân.
Email: nguyenquocduyhcs@gmail.com.

Trong quá trình cộng cư cùng nhau, người Việt nhiều lần thấy con vật lạ lùng
trong lễ hội chùa ông Bổn 3 mà người Hoa gọi là Lân. Tuy nhiên Lân trong ý thức của
người Việt khác hoàn toàn với Lân này, để tránh nhầm lẫn và hình dáng của linh vật
này khá giống Hổ nên đọc trại âm thành Hẩu.
Bên cạnh đó, trong tất cả các tài liệu và từ điển đều không thấy nhắc tới tên con
vật nào là Hẩu, mặc dù hình dáng hoặc truyền thuyết có ít nhiều điểm giống. Vậy, có
thể khẳng định, trong hai tên Lân và Hẩu thì Lân là tên gọi đầu tiên, chính thống; Hẩu
là tên gọi xuất hiện sau này. Tuy Lân là tên gọi truyền thống nhưng hiện nay chỉ có
cộng đồng người Hoa Phước Kiến họ Lý sống tại khu vực Lò Chén còn gọi; Hẩu tuy là
tên gọi có sau nhưng hiện nay được dùng phổ biến hơn và có lẽ do tên gọi lạ tai, âm
đọc mang ít nhiều chất “Hoa”, lại không bị nhầm lẫn với con Lân mà người Việt gọi
nên được ưa chuộng hơn. Dần dần, tên gọi Hẩu trở thành tên chính thức mỗi khi người
ta nhắc tới con vật linh của cộng đồng người Hoa Phước Kiến và chúng tôi cũng sử
dụng tên gọi này là tên gọi chính thức trong đề tài của mình.
2. Nguồn gốc Hẩu qua truyền thuyết
Truyền thuyết về con Hẩu của họ Lý: truyền thuyết kể lại rằng Hẩu là con thú
dữ, thường xuyên quấy phá, giết hại dân lành. Biết chuyện, Thái Thượng Lão Quân 4
đã sai Thổ Địa xuống thu phục nó. Cuộc chiến đã diễn ra rất gay cấn, quyết liệt.Cuối
cùng Thổ Địa phải sử dụng hai lá bùa của Thái Thượng Lão Quân mới hàng phục
được Hẩu. Hẩu bị thu phục và trở thành linh vật hộ vệ cho cộng đồng. Dấu hiệu để biết
Hẩu đã được thu phục là cái lục lạc đeo trên cổ và hai tấm bùa, một tấm dán ở trán,
một tấm gắn dưới cằm để Hẩu không thể hả miệng cắn người (Vì vậy khi tạo hình Hẩu
không bao giờ được để Hẩu há miệng mà chỉ có hàm răng trắng xoá và hai răng nanh
dữ tợn nhô ra). Truyền thuyết này cũng được tái hiện trong một bài múa biểu diễn của
đoàn Hẩu họ Lý như một cách để bảo vệ di sản một cách sinh động, hiệu quả.
Truyền thuyết về con Hẩu của họ Vương: gắn liền với hành trình tu tiên và hàng
yêu phục quái của Huyền Thiên Thượng Đế. Truyện Bắc Du Chơn Võ kể rằng Huyền
Thiên Thượng Đế là một phần hồn của Ngọc Hoàng. Trong quá trình tu tập, phần tu đã
đắc nhưng ngũ tạng chưa được tinh sạch do ăn trái cây và uống nước suối. Diệu Lạc
Thiên Tôn bèn sai một thần tướng mổ bụng lấy bao tử và ruột ra, thế bằng một cái áo
tiên và một cái dây đai mới dứt phàm trần. Không dè, ruột ấy hóa thành con rắn, bao tử
hóa ra con rùa, hai con ấy đều thành tinh quấy nhiễu dân lành. Bắc phương Chơn Võ
trong quá trình thu phục 36 yêu quái theo lệnh Ngọc Hoàng đã thu phục hai con yêu 2 quái thành hai tùy tướng đắc lực của mình và hai con được Ngọc Hoàng phong là
Thủy (Qui) Hỏa (Xà) nhị tướng, thường gọi là Qui – Xà tướng quân. Hình dạng của
Hẩu hiện nay là cách phối hợp đầu Rùa, mình Rắn và mỗi lần tổ chức lễ hội chùa ông
Bổn, rước Huyền Thiên Thượng Đế tuần du quanh khu vực cư trú của cả cộng đồng thì
luôn có Hẩu đi trước mở đường và đây chính là tái hiện lại quá trình thu phục 36 thiên
tướng của thầy trò Huyền Thiên Thượng Đế.
Ông Bổn: Có cách giải thích, “bổn” là cách đọc trại của “bản” – là gốc, “ông Bổn” nghĩa là ông tổ của một cộng đồng, một khu vực mà người Hoa cư trú. Cũng có cách lý giải “ông Bổn” chính là Bổn Đầu Công – vị thần đứng đầu trong một cộng đồng hay một khu vực mà người Hoa cư trú. Vì vậy mỗi khu vực lại có một “ông Bổn” riêng: là Phước Đức Chánh  thần; là Châu Đạt Quan – một vị quan đời Nguyên (người Hoa Phước Kiến ở khu vực Chợ Lớn), là Tam Bảo Thái giám Định Hoà – một vị quan đời Minh (người Triều Châu, Hải Nam ở miền Tây Nam Bộ)… Ở Bình Dương, “ông Bổn” của cộng đồng người Hoa Phước Kiến là Thất phủ đại nhân – bảy ông tổ của người Phước Kiến và “ông Bổn” của người Hoa Phước Kiến họ Vương là Huyền Thiên Thượng Đế 4 Thái Thượng Lão Quân (太上老 君 ): là tôn hiệu một vị thần tiên tối cao trong Đạo giáo, là một trong ba Tam Thanh gồm: Ngọc Thanh Nguyên Thuỷ Thiên Tôn, Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn và Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn.3

Theo truyền thuyết Phật giáo Đại thừa, sư tử chúa lông vàng (kim mao sư vương) là vật cưỡi của Văn Thù Bồ Tát, theo đó, nó là linh vật hỗ trợ Phật pháp. Ở đây, Hẩu là linh vật khác với sư tử thường. Trong kho tàng linh vật nhà Phật có con Kim Tì La có hình tướng và lai lịch đáng lưu ý. Đây là con vật ngoại dạng, là dạng của rắn và cá sấu, dòng dõi của nó là con quỷ Dạ Xoa. Kim Tì La vốn hung ác, tài phép siêu việt, sau đã cải tà quy chính thành kẻ bảo hộ cho Phật. Ở Trung Quốc, theo truyện Phong Thần, Hẩu vốn là Kim Hoa Tiên, một vị tiên đã bị Từ Hàng đạo nhân (Bồ Tát Quan Âm) hóa thành con Kim Mao Hẩu để làm vật cưỡi 5 .
3. Nguồn gốc Hẩu qua hình dáng
Ngoại hình Hẩu nổi bật với khuôn mặt dữ tợn và thân mình khá dài. Ngoại hình
Hẩu được lưu truyền qua câu: “đầu Hổ, mình Rắn, chân Nai, đuôi Bò” gọi là “tứ bất
tướng”. Trải qua hàng thế kỷ, hai họ Vương và họ Lý người Phúc Kiến vẫn giữ truyền
thống múa cũng như kỹ thuật làm con Hẩu của mình.
Làm Hẩu quan trọng và khó nhất là khâu làm đầu. Để tạo ra đầu Hẩu, người
Phúc Kiến đã lấy chính nguyên liệu và kỹ thuật làm gốm để làm. Đầu tiên là nắn
khuôn, nắn cốt 6 đầu Hẩu từ đất sét. Mỗi cốt đầu Hẩu cần chừng 30kg đất sét thành
phẩm đã lọc qua tạp chất. Đất sét đó lại được trộn với thạch cao và adao, nhào thêm
một ngày để đất vừa độ dẻo. Nặn mặt Hẩu dễ mà khó. Dễ là chỉ cần tạo hình được chỗ
gồ lên của trán, hai má, mũi, chỗ lõm xuống của hai mắt và cái miệng thật rộng cùng
với hai răng nanh dữ tợn nhe ra. Khó là làm sao cũng từ một quy tắc chung đó mà mỗi
góc lại có một hình dáng riêng, mỗi con lại mang một thần thái riêng. Cốt Hẩu thực ra
là một cái khuôn âm bản. Để làm ra đầu Hẩu thực, theo cách làm truyền thống, người
ta dán lên khuôn âm nhiều lớp giấy và vải bằng hồ. Đầu Hẩu truyền thống dày khoảng
15 lớp, nặng từ 3 – 4kg.
Hẩu có đầu của Hổ nhưng có bờm như Sư tử. Trước đây bờm của Hẩu hầu hết
được tạo bằng những sợi dây chén 7 . Thân Hẩu là miếng vài dài 2,5 x 3,5m, có 3 hoặc
4 sợi dây trên lưng là dây cương. Là hóa thân của Hổ, thân Hẩu bắt buộc phải màu
vàng. Trên thân Hẩu có hai sợi dây chạy dọc hai bên mép vải (để tạo độ đằm) và hai
sợi dây chạy dọc sống lưng tượng trưng cho hai dây cương. Đuôi Hẩu được làm từ
đuôi bò phơi khô, cột vào một cái que chừng 30cm, khi múa lòn qua đầu người múa
đuôi để đuôi Hẩu lúc nào cũng nhỏng lên. Trước đây người múa đuôi phải cột xà cạp
chân để tạo hình chân Nai cho Hẩu nhưng sau này không thấy sử dụng. Nhìn tổng thể,
Theo: Huỳnh Ngọc Trảng(1997),” Nghi lễ của múa Hẩu”, Hội Khoa học và Lịch sử Việt Nam, tạp chí “Xưa và nay”, (số 45B).6 Cốt: được hiểu là cái chính, cái cốt lõi, cái khung xương để làm nên đầu Hẩu.7 Dây chén: Loại dây nỉ dùng để cột 10 chiếc chén gốm thành một xâu.53tạo hình Hẩu gợi tới thân hình dẻo dai, màu lông vàng óng cùng cái bờm dữ tướng của con Sư tử chúa lông vàng (Kim Mao sư vương).

4. Nguồn gốc Hẩu qua động tác múa
Hẩu có ba động tác múa cơ bản là: bộ múa thông thường, bộ xá và bộ lạy. Sau
một thời gian bị thất truyền, một vài năm trở lại đây, Hẩu đã có lại một vài bài múa
biểu diễn như bài múa diễn lại truyền thuyết Thổ Địa thu phục Hẩu, bài múa tái hiện
lại cảnh dân làng chiến đấu với thú dữ và bài múa “Tứ quý hưng long” để chúc phúc
trong gia đình.
Những bậc thầy về múa Hẩu đều khẳng định: Hẩu có bộ thế của Hổ. Từ cách di
chuyển, các động tác rình mồi, vồ mồi, các bộ thế múa đều học và mô phỏng các động
tác của con Hổ. Đây cũng là yêu cầu mà mỗi võ sư đặt ra cho các học trò của mình khi
dạy về các động tác múa của Hẩu. Đó là người múa Hẩu, qua từng động tác phải làm
sao toát ra được khí chất của Hổ, phát ra được thế uy trấn áp mọi sinh vật sống khác,
kể cả con người. Ở tư thế hạ tấn phải như Hổ đang trườn, ở tư thế trung tấn như Hổ
đang khoan thai bước đi và ở tư thế cao phải như Hổ đang đe dọa hoặc sắp phóng tới
vồ mồi. Muốn được như vậy thì chân của người múa bước phải “ra” thế, tay phải cầm
đầu Hẩu sao cho đầu phải hơi chúc xuống đất, do vậy tuy mặt Hẩu quét sang ngang
nhưng lúc nào cũng gườm gườm, uy dũng khác người.
Đứng trước con mồi, Hẩu hoàn toàn thể hiện mình là con thú dữ, là chúa sơn
lâm. Khi phát hiện con mồi, Hẩu không bao giờ bắt ngay mà nó lặng lẽ di chuyển, áp
sát và vờn đến khi con thịt kiệt sức nó mới khoan thai nhấm nháp chiến lợi phẩm.
Từng động tác rình, vờn, vồ; bộ thế bước tới, nhảy lùi, vươn người đều là những động
tác mô phỏng động tác của Hổ.
Trong bài bản biểu diễn của Hẩu cũng có những bài bản mô phỏng, tái hiện quá
trình con người chiến đấu với Hổ, với thú dữ. Người điều khiển dùng đao phạt dưới
chân, dùng gậy đâm vào đùi hoặc dùng ba chia đâm vào hai bên trái, phải và trên trán.
Hẩu tùy vào từng động tác mà phải nhảy lên hoặc nghiêng trái, nghiêng phải, lùi ra sau
để né tránh.Cốt tinh của Hổ, Hẩu không biết leo trèo, chỉ chơi đùa dưới đất và khi chơi đùa Hẩu cũng có những động tác như những con Hổ con đang nô giỡn. Chơi một mình, nó
ngó nghiêng, gườm gườm vạn vật như tò mò, như muốn khám phá hoặc hai con đua
tài với nhau qua những động tác lăn tròn dưới đất hoặc bốn năm con chụm lại giống
như cách một bầy Hổ con đang quần nhau trên đồng cỏ mênh mông.
5. Nguồn gốc Hẩu qua lễ hội
Hẩu là linh vật mang tính nghi lễ, chủ yếu dùng để phục vụ cho các nghi lễ,
không dùng để múa biểu diễn phục vụ vui chơi giải trí như múa Lân, múa Sư, muá
Rồng. Hẩu chỉ xuất hiện trong lễ hội Thiên Hậu Thánh Mẫu và lễ hội chùa ông Bổn
của hai họ Vương và họ Lý (nhóm Phước Kiến) cũng như chỉ gói gọn trong cộng đồng
người Hoa Phước Kiến.
Trong dịp cộ Bà Thiên Hậu (15/1 ÂL), với sự góp mặt của rất nhiều các đoàn
Lân, Sư, Rồng của các nhóm người Hoa thì đoàn Hẩu của người Phước Kiến luôn luôn
đi đầu mở đường. Theo tín ngưỡng, người Hoa Bình Dương công nhận mỗi bang có
4cốt tinh của một con vật: người Phước Kiến cốt tinh con Hổ, người Sùng Chính (Hẹ)
có cốt tinh con Chó, người Triều Châu có cốt tinh con Ngựa và người Quảng Đông có
cốt tinh con Dê. Sở dĩ Hẩu luôn luôn đi đầu mở đường bởi một mặt, Hẩu là linh vật trừ
tà, đi trước để đánh đuổi tà ma, tiễu trừ yêu quái, mở đường cho đoàn rước. Mặt khác,
Hẩu có cốt tinh con Hổ, nếu nó đi sau những linh vật của các bang khác như Lân, Sư,
Rồng thì nó sẽ “ăn thịt” hết các con kia và trong năm đó các nhóm người Hoa khác sẽ
không làm ăn được.
Trong lễ hội chùa ông Bổn họ Lý hay họ Vương, Hẩu cũng là linh vật mở đường và thêm một vị trí hộ tống ông Bổn tuần du qua khu vực cộng đồng người Phước Kiến cư trú để thanh tẩy và ban phước lành. Là thanh tẩy âm hồn tán khí hay là mô phỏng quá trình thu phục 36 thần tướng của Huyền Thiên Thượng Đế, trong cả hai lễ hội đều có hình thức lắc kiệu 8 . Người ta tin tưởng rằng, lắc kiệu là Ông đang tả xung, hữu đột, trừ yêu, diệt quái và quan trọng hơn, lắc kiệu là để Ông vui mà càng lắc Ông càng vui thì tại sao lại không lắc? Và múa Hẩu, lắc kiệu đã trở thành điểm nhấn đặc sắc tạo nên một không khí đầy cuồng nhiệt, thần bí trong đêm lễ hội.
Hẩu là linh vật dữ, ngoài người Phước Kiến, các gia đình trong các nhóm khác
không ai dám mời Hẩu tới múa trong nhà. Trong quan niệm của người Phước Kiến,
Hẩu là con vật trừ tà nên vào dịp đầu xuân năm mới, họ mời Hẩu vào nhà, xua tà khí,
đón điềm lành. Trong dịp hộ tống Thất Phủ Đại Nhân trong lễ hội Phước An miếu
ngày 16/1 của họ Lý hay lễ hội Huyền Thiên Thượng Đế ngày 24 – 27/2 của họ
Vương, Hẩu là con vật phò tá của ông Bổn, có nhiệm vụ tiễu trừ tà ma để ông Bổn ban
phước lành nên các gia đình thường mời Hẩu vào múa trong nhà và điều này cũng chỉ
diễn ra trong các gia đình nhóm Phước Kiến.
6. Nguồn gốc Hẩu qua thực tế cuộc sống
Múa Hẩu nói riêng, múa lốt nói chung không phải tự nhiên có mà nó xuất phát
từ nhu cầu thực tế của cuộc sống, ở đây là nhu cầu đấu tranh, chiến đấu với thú dữ, bảo
vệ dân làng. Trong dân gian, có rất nhiều truyền thuyết về các linh vật khác đã đề cập
đến mặt này như truyền thuyết về múa Lân, múa Sư đều là những hành động để chống
lại thú dữ ăn thịt người hay quấy phá dân làng. Ở Hẩu, tuy không rõ rệt nhưng ẩn sâu
dưới lớp vỏ văn hoá về con vật dữ được Thổ Địa thu phục hay Qui Xà tướng quân thì
cũng đều là con vật được mang ra để chống lại thú dữ. Để trấn áp lại thú dữ, người ta
phải sáng tạo ra hình dáng một con vật nhìn còn dữ dằn hơn cả loài dữ dằn nhất mà họ
biết chúa sơn lâm – Hổ. Từ trí tưởng tượng, những người nghệ nhân/lao động đã tập
hợp những nét đáng sợ nhất của những con vật đáng sợ là họ biết để tạo ra Hẩu. Việc
một linh vật là sản phẩm tập hợp nhiều bộ phận của nhiều con vật không phải là điều
lạ khi rất nhiều linh vật như Rồng là tập hợp của các đặc điểm: đầu trâu, sừng hươu,
mắt tôm, vuốt chim ưng, thân rắn, đuôi sư tử; Lân là sự kết hợp của: đầu rồng, mình
ngựa, đuôi trâu; Phụng có: đầu gà, hàm én, cổ rắn, lưng rùa, đuôi công, lông ngũ sắc…
đều là sản phẩm của trí tưởng tượng phong phú của người xưa và là sự kết hợp của rất
nhiều loài vật thấy trong hiện thực. Việc Hẩu có đầu Hổ, mình Rắn, đuôi Bò, chân Nai
Lắc kiệu: là “điệu múa” của những người khiêng kiệu. Mỗi một kiệu gồm có hai người khiêng (nhóm Phước Kiến họ Lý) và bốn người khiêng (nhóm Phước Kiến họ Vương); nhóm hai hoặc bốn người trên phối hợp tung kiệu lên cao, hạ kiệu xuống đất một cách nhịp nhàng.85mà dân gian thường gọi là “tứ bất tướng” càng minh chứng cho điều trên.

Người Phước Kiến đã dùng chính tình yêu với đất, tình yêu và kinh nghiệm
trong nghề gốm để tạo ra Hẩu. Mỗi một công đoạn tạo ra Hẩu, mỗi một bộ phận trên
người Hẩu đều có liên quan đến đất, đến gốm. Đầu Hẩu được tạo ra từ khuôn đất sét,
tóc Hẩu được làm từ những sợi dây (cột) chén, kỹ thuật làm Hẩu được áp dụng từ kỹ
thuật làm gốm, dụng cụ làm Hẩu cũng là những dụng cụ của nghề gốm và đuôi là hình
ảnh một góc nghi lễ hiến tế của cộng đồng làm gốm đối với vị thần bảo hộ nghề. Và
cuối cùng, khi Hẩu ra đời, được khai sinh qua nghi lễ khai quang điểm nhãn 9 , chính nó
lại quay lại bảo hộ nghề gốm, bảo vệ những con người làm ra gốm và là biểu trưng
sống động cho sự lao động cần mẫn và sự gắn bó cũng như tình yêu với đất, với gốm
của người Phước Kiến.

Tóm lại
Hẩu là linh vật có lai lịch đặc biệt và vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá
tinh thần của người Hoa Phước Kiến nói riêng, người Hoa Bình Dương nói chung. Nó
không phải là con vật có thật trong thực tế, không phải là Hổ hay Qui – Xà tướng
quân, không phải Kim Mao sư vương hay con vật dữ chuyên quấy phá dân lành nhưng
Hẩu lại chính là tất cả những con vật đó. Hẩu ra đời từ thực tế khó khăn, thử thách của
cuộc sống và tron thực tế lao động. Chính thực tế cuộc sống, vừa là nhu cầu, vừa là
người thầy tuyệt vời thúc đẩy con người sáng tạo. Đêm đêm, đoàn người mặc lốt Hẩu
nhảy múa hòa với tiếng trống, chiêng huyên náo là cách mà người xưa đánh đuổi thú
dữ mỗi khi chúng vào làng.

Khi Đạo giáo thâm nhập vào dân gian, lên khuôn các nghi lễ tín ngưỡng cũng đồng thời lên khuôn, tạo lý lịch cho nhiều nhân vật, linh vật thông qua các câu chuyện. Tùy vào điều kiện và nhu cầu mà từng cộng đồng đã tiếp nhận và kể tiếp câu chuyện sao cho phù hợp với văn hóa của mình. Những truyền thuyết thêu dệt xunh quanh tên gọi, thần tích, lai lịch của Hẩu cũng là một sự sáng tạo để tăng thêm sự ly kỳ nhưng cũng là để thể hiện sự tôn sùng đặc biệt của người Phước Kiến đối với linh vật của họ. Không những thế, người Phúc Kiến, thông qua Hẩu đã kể lại câu chuyện về cuộc sống, về những khó khăn, thử thách và bản lĩnh của họ khi đối mặt và vượt qua những khó khăn, thử thách đó. Câu chuyện về Hẩu là câu chuyện về bản lĩnh, về trí lực, về lòng can đảm của người Phúc Kiến khi đã chiến đấu, thu phục được vị chúa tể của núi rừng chỉ bằng những vũ khí thô sơ.
Tuy là loại hình nghệ thuật nặng tính nghi lễ, song múa Hẩu vẫn là một loại hình nghệ thuật. Nó không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tâm linh mà còn đáp ứng cho nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của quần chúng nhân dân. Khi đời sống vật chất của người dân còn nhiều khó khăn, khi các loại hình văn hoá nghệ thuật đáp ứng cho đời sống tinh thần còn nghèo nàn thì ngày lễ hội hàng năm lại dường như là những món ăn tinh thần duy nhất. Múa Hẩu, với vai trò là một loại hình nghệ thuật dân gian vừa thể hiện văn hoá nghệ thuật dân gian. Đó là nghệ thuật múa mô phỏng, là việc trình diễn các động tác múa võ, là nghệ thuật sử dụng các loại nhạc cụ… Đồng thời múa Hẩu cũng lại vừa thoả mãn nhu cầu làm phong phú đời sống tinh thần của người dân. Hẩu cùng nghệ thuật múa Hẩu là sợi dây gắn kết cộng đồng; là mạch ngầm gìn giữ di sản cộng Khai quang điểm nhãn: là nghi thức “mở mắt” cho linh vật, là sự ấn chứng cho sự ra đời của Hẩu. Thực hiện nghi thức là thầy pháp và lễ vật bắt buộc phải có một con gà trống trắng mào lá. Thực hiện nghi thức, thầy pháp dùng dao, lấy một ít máu từ mào gà, hoà cùng bột chu sa, một ít nước rồi dùng hỗn hợp đó điểm lên mắt, má, miệng, thân, đuôi Hẩu.

. Tôi không thể quên được hình ảnh một cậu bé chỉ mới khoảng 3 tuổi cởi trần say
sưa đánh trống Hẩu trong một lần điền dã qua khu Lò Chén. Đó là một minh chứng
sống động cho việc giữ gìn di sản một cách “động” là việc hết sức đúng đắn. Di sản
chỉ có thể sống, được bảo vệ, duy trì bằng chính những thực hành của cộng đồng đang
nắm giữ di sản. Người Phước Kiến nói riêng, người Hoa nói chung rất hiểu điều đó
nên họ luôn cố gắng truyền lửa, truyền nhiệt huyết cho thế hệ trẻ tiếp nối. Vì thế Hẩu
cũng như nghệ thuật múa Hẩu luôn được bảo vệ, duy trì và phát triển.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hội Khoa học lịch sử tỉnh Bình Dương, TS. Huỳnh Ngọc Đáng (chủ biên), (2012),
Người Hoa ở Bình Dương, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật.
3. Huỳnh Ngọc Trảng, (1997), “Nghi lễ của múa Hẩu”, Hội Khoa học và Lịch sử Việt
Nam , tạp chí “Xưa và nay”, (số 45B).
4. Tư liệu điền dã cá nhân.

 

NGUYỄN QUỐC DUY(*)

Tham khảo:

http://sugia.vn/portfolio/detail/1696/tim-hieu-nguon-gc-hau-linh-vat-cua-nguoi-hoa-phuoc-kien-o-binh-duong.html

http://sugia.vn//assets/file/lich-su-viet-nam/Ngu%E1%BB%93n%20g%E1%BB%91c%20H%E1%BA%A9u.pdf