Một vài tìm tòi về ngôn ngữ


Bài viết giải đáp được phần nào các câu hỏi: Vì sao cùng là ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Việt làm được chữ biểu âm còn tiếng Hán thì không; vì sao tiếng Nhật rất nghèo âm tiết lại làm được chữ biểu âm; vì sao phần lớn các nước đều dùng ngôn ngữ đa lập và chữ biểu âm.

Tuy không còn nhiều người tìm hiểu về ngôn ngữ của cha ông trong quá khứ nhưng những lớp học chữ Nho như thế này vẫn có lượng “học trò” nhất định, bao gồm cả người già và người trẻ. Trong ảnh: Lớp học tại chùa Mễ Trì Thượng (Nam Từ Liêm, Hà Nội). Nguồn: Zing.


Tiếng Việt kỳ diệu

Hai dân tộc Kinh Việt Nam và Hán Trung Quốc (TQ) có nhiều điểm giống và khác nhau. Trong 1000 năm Bắc thuộc, nước ta bị Hán hóa toàn diện, các khác biệt bị xói mòn rất nhiều. May sao tổ tiên ta vẫn giữ được một khác biệt căn bản nhất – ngôn ngữ. Giữ được thế cũng là nhờ tiếng Việt tiềm ẩn những tính năng kỳ lạ, chẳng hạn ngữ âm cực kỳ phong phú, có thể ghi âm hầu như mọi ngữ âm ngoại ngữ.

Với hai ưu điểm quý giá – biểu âm và Latin hóa – chữ Quốc ngữ đã làm thay đổi hẳn đời sống ngôn ngữ, văn hóa, xã hội nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới cho nền văn minh Việt.

Sau 1000 năm bị Hán hóa, ngôn ngữ Việt chấp nhận chữ Hán nhưng cấm cửa tiếng Hán. Tổ tiên ta đã nghĩ ra cách đọc chữ Hán bằng tiếng Việt (gọi là từ Hán-Việt) mà không đọc bằng tiếng Hán, tức Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán, biến thành chữ của mình, gọi là chữ Nho với ý nghĩa “Chữ của người có học”. Chữ Nho chính là chữ Hán được phiên âm ra tiếng Việt, vì thế dễ học hơn. Tổ tiên ta có thể dùng chữ Nho bút đàm giao dịch với quan chức chính quyền chiếm đóng, đạt được yêu cầu bắt dân ta học chữ của chúng. Rốt cuộc người Việt có chữ để ghi chép và giao tiếp nhưng vẫn đời đời nói tiếng mẹ đẻ, không ai nói tiếng Hán. Mưu toan Hán hóa ngôn ngữ hoàn toàn thất bại1.


Giữ được nguyên vẹn tiếng mẹ đẻ và nhờ đó giữ được nòi giống và đất nước mình – đây là thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Nói theo ngôn ngữ học hiện đại, là tổ tiên ta đã biết lợi dụng đặc điểm ghi ý không ghi âm của chữ Hán để đọc chữ Hán bằng bản ngữChữ Nho đã thầm lặng vô hiệu hóa quá trình Hán hóa ngôn ngữ. Từ Hán-Việt đã giúp kho tàng từ vựng tiếng Việt phong phú thêm nhiều lần cả về số lượng và mỹ cảm. Cho dù khoảng 60% từ vựng tiếng Việt hiện nay có gốc Hán ngữ nhưng đó chỉ là hiện tượng giao thoa ngôn ngữ bình thường. Tại TQ, khoảng 70% từ ngữ tiếng Hán hiện dùng có gốc tiếng Nhật2.


Để sửa nhược điểm chữ Nho không ghi được tiếng Việt, thế kỷ XII tổ tiên ta làm một thử nghiệm ngôn ngữ táo bạo: sáng tạo chữ Nôm có yếu tố biểu âm, ghi được tiếng Việt. Chữ Nôm cấu tạo trên nền tảng chữ Hán, biết chữ Hán mới học được chữ Nôm, vì vậy phụ thuộc Hán ngữ và khó phổ cập, lại chưa được nhà nước công nhận, thời gian tồn tại quá ngắn. Tuy vậy, do chữ Nôm thể hiện được tiếng nói và nỗi lòng của số đông bình dân nên đã tạo dựng được một nền văn học mới trội hơn hẳn văn học chữ Nho, mở ra một giai đoạn phát triển rực rỡ nền văn hóa Việt. Thử nghiệm này còn hé lộ một tính năng tiềm tàng cực kỳ quý giá của tiếng Việt –thích hợp chữ biểu âm(phonograph). Đây là điều kiện tất yếu về ngôn ngữ học để 5 thế kỷ sau các giáo sĩ Francesco de Pina, Cristoforo Borri, Alexandre de Rhodes,…làm được chữ biểu âm Latin hóa cho tiếng Việt. Giả thử các giáo sĩ-bậc thầy ngôn ngữ học ấy đến TQ làm chữ biểu âm cho tiếng Hán thì chắc chắn cực kỳ khó khăn bởi lẽ tiếng Hán không thích hợp chữ biểu âm.

Nghiên cứu về di sản chữ Viết ở Việt Nam là một trọng tâm được các Viện nghiên cứu về KHXH quan tâm trong nhiều năm qua. Gần đây nhất, dự án hợp tác Pháp – Việt Vietnamica sẽ số hóa nhiều di sản Hán Nôm. Trong ảnh: Ông Gaudemar (Tổng giám đốc Tổ chức Đại học Pháp ngữ) và Ông Verdier (Chủ tịch Viện Khảo cứu cao cấp Pháp) đi in rập thác bản văn bia cùng Viện Nghiên cứu Hán Nôm và đoàn Dự án Vietnamica tại chùa Nôm, Hưng Yên, 6/11/2019. Ảnh: Fb Nguyễn Tuấn Cường.

Với hai ưu điểm quý giá biểu âm và Latin hóa chữ Quốc ngữ đã làm thay đổi hẳn đời sống ngôn ngữ, văn hóa, xã hội nước ta, mở ra một kỷ nguyên mới cho nền văn minh Việt. Loại chữ này ghi âm được 100% tiếng Việt, thực hiện nói/nghĩ thế nào viết thế ấy, viết thế nào đọc thế ấy, lại dễ học dễ dùng chưa từng thấy. Giới tinh hoa nước ta ca ngợi Chữ Quốc ngữ là hồn đất nước. Trên thế giới đã có chữ viết nào được đánh giá cao như thế?


Nói chữ biểu âm Latin hóa là loại chữ viết tiên tiến chắc sẽ bị những người theo “Thuyết chữ Hán ưu việt” phủ định, nhưng lại được hai sự việc sau khẳng định: 1- Người TQ từng bỏ ra ngót 100 năm thực thi cải cách chữ viết theo hướng làm chữ biểu âm Latin hóa thay cho chữ Hán. 2- Toàn bộ 14 phương án chữ viết do Nhà nước TQ làm sau năm 1949 cho 10 dân tộc thiểu số chưa có chữ đều dùng chữ biểu âm Latin hóa. Dân tộc Tráng từ xưa đã có chữ vuông kiểu chữ Nôm, Nhà nước vẫn làm chữ mới biểu âm Latin hóa cho họ.

Việt Nam nhờ dùng chữ Quốc ngữ mà từ năm 1919 chính thức bỏ chữ Hán. Quá trình “Thoát Hán -Thoát Khổng” này nhanh gọn, không gây ra sự đứt gãy văn hóa, là một thắng lợi văn hóa-tư tưởng cực kỳ quan trọng.

Cùng với những chuyển biến của lịch sử đầu thế kỷ XX, chữ Quốc ngữ góp phần thúc đẩy nền văn minh Việt phát triển với tốc độ gấp trăm lần quá khứ. Thứ chữ này nhanh chóng được toàn dân hân hoan chào đón và học tập, vừa nâng cao dân trí vừa có tác dụng thống nhất âm tiếng Việt trong cả nước, qua đó góp phần thống nhất dân tộc. Dùng chữ Quốc ngữ có thể dịch các từ ngữ Hán-Nôm và ngoại văn ra tiếng Việt, nhờ thế dân ta được tiếp xúc với kho tàng văn hóa của tổ tiên, các trào lưu tư tưởng mới và khoa học kỹ thuật phương Tây. Các lĩnh vực văn học, giáo dục, nghệ thuật, báo chí, xuất bản nhanh chóng hình thành và phát triển, vượt xa mấy nghìn năm cũ. Cây văn hóa Việt Nam vươn cao, thoát khỏi nguy cơ còi cọc vì cớm nắng do ở cạnh đại thụ văn hóa Trung Hoa. Phạm Quỳnh nói chữ Quốc ngữ là công cụ kỳ diệu giải phóng trí tuệ người Việt. Đúng thế, dùng chữ Quốc ngữ có thể ghi lại mọi ý nghĩ, không bị gián đoạn do phải tra tìm chữ như khi dùng chữ Hán, chữ Nôm, nhờ thế trí tuệ được giải phóng, dẫn đến sự hình thành một tầng lớp trí thức tân tiến. Do chữ cái Latin dùng được kỹ thuật in chữ rời, các sách báo, ấn phẩm đua nhau xuất bản. Các tổ chức cách mạng đều dùng chữ Quốc ngữ để tuyên truyền tư tưởng yêu nước chống thực dân phong kiến.


Chữ Quốc ngữ làm cho tiếng Việt trở thành ngôn ngữ độc lập với chữ Hán. Thời xưa Việt Nam, Nhật, bán đảo Triều Tiên đều dùng chữ Hán; khi thấy mặt hạn chế của nó, cả ba đều cố “Thoát Hán” về ngôn ngữ. Bán đảo Triều Tiên thế kỷ XV làm chữ biểu âm Hangul, nhưng Hàn Quốc hiện vẫn phải dùng chữ Hán để chú giải các từ ngữ cần chính xác (như về pháp lý). Người Nhật thế kỷ IX làm chữ biểu âm Kana, nhưng hiện vẫn dùng gần 2000 chữ Hán. Riêng Việt Nam nhờ dùng chữ Quốc ngữ mà từ năm 1919 chính thức bỏ chữ Hán. Quá trình “Thoát Hán -Thoát Khổng” này nhanh gọn, không gây ra sự đứt gãy văn hóa, là một thắng lợi văn hóa-tư tưởng cực kỳ quan trọng.

Hán ngữ nhìn từ tiếng Việt

Sau khi tiếp xúc phương Tây, giới tinh hoa TQ nhận ra các nhược điểm nghiêm trọng của chữ Hán. Từ cuối thế kỷ XIX, họ bắt đầu nghiên cứu cải cách Hán ngữ theo hướng phiên âm hóa chữ Hán do nhà truyền giáo người Ý Matteo Ricci đề ra năm 1605. Đầu tiên họ làm ra chữ thiết âm (1892), đến 1911 đã đề ra 28 phương án chữ phiên âm. Thời Ngũ Tứ, nhiều học giả đòi bỏ chữ Hán, dùng chữ phiên âm. Năm 1918, TQ ban hành phương án “Chú âm Tự mẫu” dùng 39 chữ cái ghi âm Hán ngữ, là công cụ để nghiên cứu phần ngữ âm tiếng Hán. Phương án này hiện vẫn dùng ở Đài Loan và trong các tự điển của TQ.


Năm 1952, Mao Trạch Đông chỉ thị cải cách chữ Hán phải theo xu hướng phiên âm chung của thế giới. Năm 1954 TQ lập Ủy ban Cải cách chữ viết, tiến hành cải cách chữ Hán với quy mô lớn chưa từng có. Ngô Ngọc Chương Chủ nhiệm Ủy ban nói: TQ sau này sớm muộn sẽ phải chuyển sang dùng chữ phiên âm (tức chữ biểu âm), đây là quy luật khách quan phát triển chữ viết của thế giới; nhưng TQ không chủ trương bỏ chữ Hán…

Một số ví dụ về hiện tượng từ đồng âm khiến người Trung Quốc thường phải giải thích cách viết của những từ đồng âm để tránh gây hiểu lầm.

Cải cách chữ viết đã đạt được thành tựu quan trọng: – Đơn giản hóa (bớt nét) được vài nghìn chữ Hán để chữ trở nên dễ học dễ nhớ; – Làm ra Phương án Pinyin Hán ngữ dùng chữ cái Latin có thể ghi chú âm (phiên âm) cho chữ Hán, mã hóa chữ Hán đưa vào máy tính, đánh chữ trên máy tính và smartphone, quốc tế hóa chữ Hán; – Chuẩn hóa chữ Hán, xác định tiếng Phổ thông (Standard Mandarin) là tiếng nói của toàn dân. Các thành tựu trên đã được luật hóa và áp dụng trong cả nước, giúp nâng cao tỷ lệ biết chữ, thống nhất ngôn ngữ. Hiện nay TQ đã áp dụng rộng rãi chế độ “Nhất ngữ Song văn”(Một tiếng nói, hai chữ viết): Toàn dân nói một thứ tiếng Phổ thông; chữ Hán là chữ viết pháp định, vẫn dùng như cũ, kèm theo dùng chữ Pinyin Hán ngữ để ghi âm chữ Hán.


Từ 1986, Nhà nước TQ ngừng đặt vấn đề làm chữ biểu âm thay chữ Hán, và nói tương lai chữ Hán sẽ do các thế hệ sau quyết định. Nghĩa là rốt cuộc TQ đã không đạt được mục tiêu tạo loại chữ biểu âm thay cho chữ Hán.


Ở đây có hai vấn đề: có nên bỏ chữ Hán không và có thể làm được chữ biểu âm cho Hán ngữ không. Hiển nhiên, bỏ chữ Hán sẽ gây thảm họa bỏ mất di sản vĩ đại của nền văn minh Trung Hoa 5000 năm; 1,4 tỷ người Hoa khó có thể chấp nhận. Việc làm chữ biểu âm có nhiều khó khăn, chủ yếu là Hán ngữ có quá nhiều chữ hoặc từ đồng âm.

Chấp nhận quan điểm Chữ Hán là báu vật thời xưa lại là gánh nặng thời nay nhưng người Trung Quốc sẽ không vì mang gánh nặng ấy mà tiến chậm trên con đường hiện đại hóa, bởi lẽ họ nổi tiếng cần cù, chịu khó, chịu khổ lại được tiếp nguồn sức mạnh to lớn của nền văn minh Trung Hoa 5000 năm.


Chữ/từ đồng âm (homophonic words) là những chữ/từ khác nhau về tự hình và ý nghĩa nhưng đọc cùng âm, do đó mỗi chữ/từ có nhiều ý nghĩa khác nhau, khi nghe đọc hoặc khi dùng chữ biểu âm sẽ không phân biệt được, gây hiểu lầm. Chữ đồng âm dẫn tới cụm từ đồng âm, làm cho ngôn ngữ kém chính xác. Đây là vấn đề của Hán ngữ chứ không phải của chữ Hán. Một ngôn ngữ chính xác thì không nên có chữ/từ đồng âm, nhưng thực tế ngôn ngữ nào cũng ít nhiều có hiện tượng này. Khi có nhiều chữ/từ đồng âm thì không thể dùng chữ biểu âm – vì nhìn chữ sẽ chẳng hiểu gì. Như câu 他 叫 她 跟 它 走 khi nhìn chữ Hán (chữ biểu ý, ideograph) thì có thể hiểu ý nghĩa, nhưng nhìn chữ biểu âm Ta jiao ta gen ta zou thì chẳng thể hiểu, vì ba chữ 他, 她, 它 (he, she, it) cùng đọc [ta]. Đoạn văn 施氏食狮史3 cho thấy rõ nạn đồng âm đã giết chết chữ biểu âm.


Tổ tiên người TQ hiểu lẽ đó nên đã làm chữ viết có tính biểu ý (tức chữ Hán) mà không làm chữ biểu âm. Thế nhưng hiện nay một số học giả TQ vẫn hy vọng giải quyết được vấn đề chữ đồng âm và do đó làm được chữ biểu âm cho Hán ngữ 4.


Qua nghiên cứu tiếng Hán từ trên nền tảng tiếng Việt, chúng tôi cho rằng hy vọng nói trên là không hiện thực. Ngay từ năm 1954 Ủy ban Cải cách chữ viết TQ đã đặt nhiệm vụ tham khảo chữ Quốc ngữ Việt Nam. Nhưng năm 2009 một học giả hàng đầu TQ chê bai: “Chữ viết của Việt Nam sau khi phiên âm hóa, đầu đội mũ, chân đi giày, rất nực cười.”5 Do nhìn chữ Quốc ngữ với con mắt trọng tự hình, nhẹ ngữ âm nên họ chỉ thấy “giày, mũ” mà chưa thấy một điều quan trọng: tiếng Việt giàu âm tiết, tiếng Hán nghèo âm tiết, do đó Hán ngữ có quá nhiều chữ đồng âm, hậu quả là không làm được chữ biểu âm.


“Nghèo âm tiết” là nói số âm tiết ngôn ngữ đó sở hữu nhỏ hơn số đơn từ thông dụng.


Để xác minh Hán ngữ nghèo âm tiết, chúng tôi đã dùng “Tự điển Tân Hoa” bản thứ 10 (có 8700 đơn tự) để thống kê số âm tiết có trong tự điển, kết quả được 415 âm tiết không xét thanh điệu, gồm 22 âm tiết có một chữ, 393 âm tiết có 2 chữ trở lên (tức có chữ đồng âm); đổ đồng mỗi âm tiết có 22 chữ đồng âm. Một số âm tiết có quá nhiều chữ đồng âm: [yi] có 135, [ji] – 123, [yu] – 118, [xi] – 103,…. So với 8105 chữ thông dụng Nhà nước TQ quy định thì 415 âm tiết rõ ràng là nghèo âm tiết


Số liệu trên không khác mấy số liệu của TQ 4. Li Gong-Yi dựa “Hán tự Tin tức tự điển” (7785 đơn tự) thống kê, được 414 âm tiết không xét thanh điệu, gồm 22 âm tiết có một chữ, 392 âm tiết có chữ đồng âm; [yi] có 131, [ji] – 121, [yu] – 115, [xi] – 102, [fu] – 99 chữ. Khi thống kê theo “Từ Hải” (19485 đơn tự), âm [yì] (khứ thanh) có 195 chữ! Thống kê âm tiết có xét thanh điệu thì tiếng Hán có khoảng 1400 âm tiết – so với 8105 chữ thông dụng thì vẫn là quá nghèo âm tiết. Nếu xét toàn kho chữ Hán 100 nghìn chữ (và không ngừng tăng) thì số chữ đồng âm quá nhiều.


Dễ thấy tiếng Việt giàu âm tiết: có 11 âm ă, â, b, đ, gh, ô, ơ, ư, v, ng, nh mà tiếng Hán không có; về thanh điệu tiếng ta có 6, tiếng Hán 4. Thống kê âm tiết (không xét thanh điệu) bắt đầu bằng nguyên âm A: tiếng ta có 27, tiếng Hán có 5 âm tiết6. Dễ thấy tiếng ta có nhiều âm tiết chưa dùng, như đỉu, đĩu, bỉa, bĩa… Hiện chưa có số liệu âm tiết tiếng Việt do Nhà nước công bố. Một công bố trên mạng cho biết tiếng Việt có 17.974 âm tiết, trong đó quá nửa chưa dùng7. Một công bố khác nói có hơn 6000 âm tiết đã dùng8.


Tiếng Hán và tiếng Việt thuộc loại ngôn ngữ đơn âm tiết (đơn lập, monosyllabic), mỗi tiếng một âm tiết, do đó cần dùng rất nhiều âm tiết, vì thế dễ xảy ra nạn lắm chữ/từ đồng âm. Như đã nói, tiếng Việt giàu âm tiết nên không có nạn đồng âm, do đó làm được chữ biểu âm; tiếng Hán nghèo âm tiết nên có nạn đồng âm nghiêm trọng, do đó không làm được chữ biểu âm. Theo chúng tôi, chừng nào Hán ngữ còn là ngôn ngữ đơn lập và nghèo âm tiết thì còn chưa thể làm chữ biểu âm, suy ra không thể thay được chữ Hán. Kết luận này dường như không hợp với quan điểm của học giả TQ, hy vọng vào việc làm được chữ biểu âm (viết trong tài liệu số 4).

Ngôn ngữ đa âm tiết

Có một sự thực: tiếng Nhật ít âm tiết hơn tiếng Hán (100 so với 415)9mà vẫn làm được chữ biểu âm Kana – điều đó chứng tỏ tiếng Nhật có số đơn từ khác âm nhiều hơn số đơn từ cần dùng. Như đã biết, tiếng Nhật thuộc loại ngôn ngữ đa âm tiết(đa lập, polysyllabic, multisyllabic), ví dụ từ samurai  Hiroshima có 3 và 4 âm tiết.


Trong ngôn ngữ đa lập, mỗi đơn từ có thể là một chỉnh hợp (arrangement, tổ hợp có phân biệt thứ tự) gồm ít nhất 2 âm tiết khác nhau. Sau đây sẽ dùng toán học để chứng minh kết cấu chỉnh hợp tạo ra tổng số đơn từ lớn hơn tổng số âm tiết của ngôn ngữ. Khi ấy được bài toán tính số chỉnh hợp chập kcủa một tập hợp chứa n phần tử. nlà lượng âm tiết của ngôn ngữ; k là số âm tiết khác nhau trong một đơn từ, A là số lượng các chỉnh hợp (đơn từ) tạo ra từ n âm tiết. Kết quả A bằng n giai thừa (factorial) chia cho (n – k) giai thừa:


(n, k) =  n! / (n-k)! 


Rõ ràng A lớn hơn n rất nhiều; kcàng lớn thì A càng lớn. Khi k=2 thì A= (n-1) n ; khi k=3 thì A=(n-2) (n-1) n…Tóm lại, kết cấu chỉnh hợp có ưu điểm tạo ra số lượng đơn từ rất lớn, khiến cho ngôn ngữ dù nghèo âm tiết vẫn làm được chữ biểu âm.


Ví dụ một ngôn ngữ có 415 âm tiết (n = 415), khi mỗi đơn từ là một chỉnh hợp 2 âm tiết (k = 2, như city,семья), tổng số đơn từ A sẽ bằng (415-1)(415), tức 171810 đơn từ, quá nhiều so với 415 âm tiết. Khi k= 3 (như minister, привычка) được 70957530 đơn từ.


Giả thử Hán ngữ là ngôn ngữ đa lập, mỗi từ 2 âm tiết, thì do có 171810 đơn từ nên không thể có chữ đồng âm. Tiếc rằng không thể cải tạo Hán ngữ từ đơn lập thành đa lập. Tiếng Nhật có thể chỉ dùng chữ biểu âm Kana nhưng vì để thừa kế di sản văn hóa mà Nhật hiện vẫn dùng gần 2000 chữ Hán kết hợp với chữ Kana.

Kết luận

Các trình bày nói trên đã chứng minh hai luận điểm của tác giả:


1– Ngôn ngữ đơn lập nếu nghèo âm tiết thì không thể làm được chữ biểu âm, nếu giàu âm tiết thì làm được chữ biểu âm. 


2– Ngôn ngữ đa lập dù nghèo âm tiết vẫn có thể làm được chữ biểu âm.


Từ đó giải đáp được các câu hỏi vì sao cùng là ngôn ngữ đơn lập mà tiếng Việt làm được chữ biểu âm còn tiếng Hán thì không; vì sao tiếng Nhật rất nghèo âm tiết lại làm được chữ biểu âm; vì sao phần lớn các nước đều dùng ngôn ngữ đa lập và chữ biểu âm.


Xin nói thêm: cho dù hiện nay chữ Hán vẫn bị phê phán, song cần thấy rằng chữ Hán là lựa chọn hợp lý của người TQ. Chữ Hán có tính biểu ý thích hợp với một đất nước quá rộng và đông dân, nói hàng trăm phương ngữ khác nhau, hơn nữa ngôn ngữ nói có quá nhiều chữ/từ đồng âm, nếu chỉ dựa vào thính giác thì rất khó phân biệt (nhưng không thể tránh được tình trạng này, bởi lẽ Hán ngữ nghèo âm tiết). Những lý do ấy không cho phép Hán ngữ dùng chữ biểu âm; từ đó suy ra chữ Hán sẽ không thể bị thay thế, – nghĩa là chữ Hán sẽ không bao giờ bị từ bỏ. Chấp nhận quan điểm Chữ Hán là báu vật thời xưa lại là gánh nặng thời nay nhưng người Trung Quốc sẽ không vì mang gánh nặng ấy mà tiến chậm trên con đường hiện đại hóa, bởi lẽ họ nổi tiếng cần cù, chịu khó, chịu khổ lại được tiếp nguồn sức mạnh to lớn của nền văn minh Trung Hoa 5000 năm.

—–

Ghi chú:

1Nguyễn Hải Hoành: “Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1000 năm Bắc thuộc”  http://nghiencuuquocte.org/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/

2Nguyễn Hải Hoành: “Người Nhật phát triển Hán ngữ hiện đại ”.

http://nghiencuuquocte.org/2017/02/07/nguoi-nhat-phat-trien-han-ngu-hien-dai/

3 Nguyễn Hải Hoành : “Lạm bàn về tính ghi ý của chữ Hán ”.

https ://tiasang.com.vn/-van-hoa/Lam-ban-ve-tinh–ghi-y-cua-chu-Han-Nhan-doc-”Nghien-cuu-chu-Han-hien-dai-cua-the-ky-XX”-17438

苏培成著 “二十世纪的现代汉语研究”, 书海出版社2001版.

5 Nguyễn Hải Hoành : “ Sao lại nói chữ Quốc ngữ Việt Nam rất nực cười ”   http ://vanhoanghean.com.vn/component/k2/35-dien-dan/12220-sao-lai-noi-chu-quoc-ngu-viet-nam-rat-nuc-cuoi

Tiếng Việt : a, ac, ach, ai, am, an, ang, anh, ao, ap, at, au, ay ; ăc, ăm, ăn, ăng, ăp, ăt ; âc, âm, ân, âng, âp, ât, âu, ây (27 âm tiết). Tiếng Hán : a, ai, an, ang, ao (5 âm tiết).

7  All syllables in Vietnamese language.  (http://www.hieuthi.com/blog/2017/03/21/all-vietnamese-syllables.html).

8  http ://luom.tv/2015/11/01/danh-sach-am-tiet-tieng-viet-xep-theo-van/

9http://afe.easia.columbia.edu/japan/japanworkbook/language/lsp.htm

Nguồn: Tạp Chí Tia Sáng

Tiếng Latin đã chết?


Tiếng Latin từng được sử dụng trên khắp Đế quốc La Mã. Nhưng hiện nay, không còn quốc gia nào chính thức sử dụng thứ ngôn ngữ này nữa, chí ít là ở dạng cổ điển của nó. Như vậy, có phải tiếng Latin đã thực sự biến mất cùng với sự diệt vong của Đế chế La Mã – từng là thế lực hùng mạnh nhất thế giới?Sau khi không ngừng bành trướng lãnh thổ và đạt tới đỉnh cao dưới triều đại Trajan (98–117), Rome bắt đầu lâm vào bất ổn và suy tàn. Ảnh hưởng của nó với các vùng đã chiếm đóng được (thuộc địa) dần bị thu hẹp trước khi hoàn toàn mất kiểm soát.

Mặc dù vậy, tiếng Latin vẫn giữ được vị thế là ngôn ngữ chung trên khắp châu Âu sau hàng trăm năm. Đối với câu hỏi: Khi nào thì tiếng Latin biến mất?, câu trả lời là khá phức tạp. Biên niên sử không ghi rõ thời điểm lụi tàn của tiếng Latin, ngôn ngữ được nói phổ biến nhất thời bấy giờ, và một số người còn cho nó chưa bao giờ thực sự “chết”.

Tượng hoàng đế La Mã Antoninus Pius ở Hesse, Đức. Ảnh: Martin Moxter/Getty Images.

Người dân Vatican vẫn có thể truyền tải một số thông điệp bằng tiếng Latin. Nhưng tại Ý, hầu như không còn ai còn sử dụng tiếng Latin hằng ngày. Nhưng điều không có nghĩa là ngôn ngữ này đã “chết” – Tiến sỹ Tim Pulju, giảng viên cấp cao về ngôn ngữ học và kinh điển Hi-La tại Đại học Dartmouth, New Hampshire, khẳng định. Ông nói: “Tiếng Latin không hẳn là không còn được sử dụng. Nó vẫn hiện diện một cách tự nhiên ở Ý, vùng Gaul1, Tây Ban Nha và những khu vực khác, tuy nhiên giống như tất cả các ngôn ngữ đương đại, nó đã tiến hóa theo thời gian”.

Tiếng Latin trên thực tế đã biến đổi theo từng khu vực địa lý thuộc Đế chế La Mã cổ đại; những khác biệt này càng lớn qua thời gian và tạo nên những ngôn ngữ hoàn toàn mới song vẫn liên hệ chặt chẽ với nhau. TS. Pulju lập luận: “Những thay đổi đó được tích lũy qua hàng thế kỷ, để rồi cuối cùng tiếng Latin phát triển thành nhiều ngôn ngữ khác nhau và cũng khác hẳn tiếng Latin cổ. Đó là các ngôn ngữ thuộc hệ Roman, bao gồm tiếng Pháp, tiếng Ý, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Rumani và tiếng Tây Ban Nha ngày nay”.

Luận thuyết của Newton về Philosophiae Naturalis Principia Mathematica (tạm dịch: Các Nguyên lý Toán học của Triết học Tự nhiên) xuất bản năm 1687 được viết bằng tiếng Latin.Ảnh: Wikipedia.

Đây là sự tiến hóa xảy ra với mọi ngôn ngữ, chẳng hạn: tiếng Anh. TS. Pulju lý giải: “Tiếng Anh đã được sử dụng trên vùng đất thuộc Vương quốc Anh trong suốt hơn một thiên niên kỷ, nhưng nó cũng biến đổi nhiều theo thời gian. Đó là điều hiển nhiên. Nếu so sánh tiếng Anh hiện đại với tiếng Anh thời Elizabeth – như trong các tác phẩm của Shakespeare, … chúng ta hầu như vẫn có thể hiểu được những nội dung được sáng tác từ khoảng bốn thế kỷ trước. Tuy nhiên, tiếng Anh trong thơ của Chaucer (thế kỷ XIV) thì khó hiểu hơn rất nhiều. Và tiếng Anh trong trường ca Beowulf (khoảng 1000 năm trước) thì lại càng khác biệt”. Nhưng không một ai dám nói tiếng Anh là ngôn ngữ đã chết, nó đơn giản chỉ biến đổi chậm rãi trong suốt một thời gian dài.

Điểm khác biệt duy nhất giữa tiếng Anh và tiếng Latin là tiếng Anh cổ đã tiến hóa thành tiếng Anh hiện đại nhưng vẫn giữ được tên gọi, trong khi tiếng Latin cổ thì trở nên quá đa dạng dưới hình thức của nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đó là lý do tại sao không ít người có một suy nghĩ (sai lầm) rằng tiếng Latin là ngôn ngữ đã chết.

Sau khi phát triển đến đỉnh cao và không ngừng mở rộng lãnh thổ, Đế chế La Mã bắt đầu khủng hoảng và lụi tàn.Ảnh: History.com

Trên thực tế, không ít ngôn ngữ của thế giới đã biến mất. Nguyên nhân là do không còn người bản ngữ, hoặc bởi những thứ tiếng đó đã biến đổi quá nhiều đến mức không còn ai thông thạo ngôn ngữ gốc ban đầu. Đó là điều đã xảy ra với tiếng Etruscan – ngôn ngữ bản địa ở vùng Tuscany, nước Ý ngày nay. “Sau khi Etruria bị người La Mã chinh phục, các thế hệ người Etrusca mặc dù vẫn tiếp tục nói tiếng Etruscan trong hàng trăm năm, nhưng một số đã học tiếng Latin làm ngôn ngữ thứ hai một cách tự nhiên. Nhiều trẻ em theo đó đã lớn lên và thông thạo cả hai thứ tiếng”, TS. Pulju nói. “Cuối cùng, lợi thế xã hội từ việc nói tiếng Latin và tư cách công dân Roman đã vượt hơn tiếng Etruscan và niềm tự hào là người Etrusca. Vì thế, trải qua nhiều thế hệ, ngày càng ít trẻ em Etruscan học tiếng của tổ tiên. Kết quả là ngôn ngữ này cuối cùng đã hoàn toàn biến mất.”

Ngôn ngữ “chết” không phải là một hiện tượng cổ xưa. Tiến sĩ Pulju lý giải: “Nó đã và đang xảy ra với các ngôn ngữ bản địa ở nhiều nơi trên khắp thế giới. Trung Đông là một điểm nóng khi ngày càng nhiều ngôn ngữ cổ xưa đang dần biến mất. Nguyên nhân là do sự kỳ thị xã hội nhắm vào việc sử dụng những ngôn ngữ không chính thống – không được dạy trong trường học, bên cạnh tư tưởng thanh lọc sắc tộc bằng các biện pháp mạnh, bao gồm cả bạo lực để chống lại những nhóm thiểu số”. Theo ước tính của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), ít nhất một nửa trong số 7.000 ngôn ngữ đang được sử dụng trên thế giới sẽ biến mất trước khi kết thúc thế kỷ XXI.


Nhưng tiếng Latin có “chết” không? Câu trả lời là không. Ngôn ngữ này chưa bao giờ biến mất, nó chỉ đơn giản là đã phát triển thành những ngôn ngữ mới mà thôi.
Chú thích1. Vùng Gaul hay Gallia là khu vực thuộc Tây Âu trong thời kỳ đồ sắt và La Mã, bao gồm Pháp, Luxembourg và Bỉ, phần lớn Thụy Sĩ, Tây Bắc Ý, cũng như một phần của Hà Lan và Đức ở bờ trái sông Rhine ngày nay.

Hải Đăng / Khoahocphattrien /Theo Live Science

Chọn ngôn ngữ để thành công


Ngôn ngữ là một bộ phận của sự thành công, cho dù trong giao tiếp, học tập, nghiên cứu hay kinh doanh. Mỗi dân tộc có ngôn ngữ riêng nhưng một số ngôn ngữ lại vượt lên trên tầm ảnh hưởng toàn cầu, không phải vì quốc gia hay dân tộc đó đông dân hơn, mà vì chúng được nhiều người sử dụng hơn…

Nói hay viết bằng tiếng Anh, cả thế giới có thể nghe được bạn, nhưng một thông điệp truyền đi bằng tiếng Tamil hay Bồ Đào Nha sẽ rất khó để tạo nên một ảnh hưởng hay tiếng vang tương tự. Sự thành công của một người nay gắn kết với việc chọn lựa ngôn ngữ để diễn đạt, và cả bằng tốc độ giọng nói khi họ diễn đạt bằng ngôn ngữ đó. Nhưng đây không còn là vấn đề cảm tính mà đã trở thành một thứ thước đo theo sau công trình nghiên cứu của Shahar Ronen tại Viện Kỹ thuật Massachusetts (MIT, Hoa Kỳ).

Đưa dữ liệu từng ngôn ngữ lên bản đồ ảnh hưởng

Shahar Ronen vốn là một nhà quản lý lập trình tại Microsoft, người có thể sử dụng cả tiếng Anh và tiếng Hebrew, với sự cố vấn của César Hidalgo tại MIT, người cũng sử dụng hai ngôn ngữ là tiếng Anh và Tây Ban Nha, đã thực hiện một công trình nghiên cứu quy mô lớn để thành lập bản đồ thế giới về cách mà những thông tin và ý tưởng truyền đạt từ ngôn ngữ này qua các ngôn ngữ khác. Cùng tham gia vào công trình nghiên cứu của Ronen còn có các đồng nghiệp tại MIT, Đại học Harvard, Đại học Northeastern ở Hoa Kỳ, và Đại học Aix-Marseille ở Pháp.

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện chi tiết bản đồ ảnh hưởng ngôn ngữ thành hệ thống nút và đường bằng việc thiết lập 3 mạng lưới riêng. Thứ nhất là mạng lưới dịch thuật theo đó một cuốn sách viết bằng tiếng nước này được dịch trực tiếp hay gián tiếng sang một hay nhiều tiếng nước khác; mạng lưới này dựa trên 2,2 triệu ấn bản với hơn 1.000 ngôn ngữ sử dụng. Thứ hai là mạng lưới tin nhắn ‘tweets’ bao gồm 550 triệu tin nhắn của 17 triệu người sử dụng 73 ngôn ngữ. Thứ ba là mạng lưới Wikipedia, theo đó các tác giả cẩn thận nghiên cứu các nội dung được viết bằng 5 thứ tiếng trở lên.

Kết quả bản đồ ảnh hưởng ngôn ngữ vừa được trình bày trên trang kỷ yếu Hội thảo Proceedings of the National Academy of Sciences, theo đó tiếng Anh có năng lực truyền đạt mạnh nhất, thể hiện trên cả 3 mạng lưới. Tiếng Pháp, Đức, Nga đang tạo thành các hào quang trung gian ở những mức độ lớn nhỏ khác nhau. Ngược lại một số ngôn ngữ được nhiều người sử dụng nhất như Quan Thoại, Hindi hay Ả Rập vẫn chỉ tạo thành những vùng cô lập trên bản đồ. Điều này có nghĩa là chúng khó tạo nên ảnh hưởng trên những người nói tiếng khác.

Những ngôn ngữ có ảnh hưởng mạnh nhất

Khả năng truyền đạt tạo tầm ảnh hưởng

Ngược lại, bản đồ cho thấy tiếng Hà Lan vốn chỉ sử dụng cho 27 triệu người có khả năng truyền đạt rộng hơn tiếng Ả Rập hiện có 530 triệu người sử dụng như ngôn ngữ mẹ đẻ hay ngôn ngữ thứ hai. Các tác giả cho biết nguyên nhân là vì hầu hết người Hà Lan biết sử dụng cùng lúc nhiều ngôn ngữ, và điều này tạo nên những gạch nối giữa các nút trên bản đồ. Các gạch nối này rất quan trọng: Trên Twitter, người Philippines truyền đạt thông tin đến người Hàn Quốc qua trung gian những người nói tiếng Mã Lai, và người Thổ Nhĩ Kỳ biết được tin tức về nhóm Malayalam chỉ gồm 35 triệu dân ở Ấn Độ nhờ vào tiếng Anh.

Bản đồ ảnh hưởng ngôn ngữ mang tính thực tiễn và có thể áp dụng vào nhiều công việc. Hidalgo cho rằng nó ngầm bao hàm cách mà hai nền văn hóa khác nhau nhìn về nhau. Khi mà cuộc chiến Ukraine diễn ra cách nay mấy năm, người ta biết về màu sắc của sự kiện này qua những bản tin hoặc bản dịch sang tiếng Anh đến các dân tộc không nói tiếng Anh. Vì thế, bản đồ ảnh hưởng ngôn ngữ có ý nghĩa rất lớn cho các chính phủ và các cộng đồng ngôn ngữ áp dụng vào việc cải thiện vị thế của họ trong cộng đồng quốc tế.

Ronen cho rằng một quốc gia có thể tạo thêm ảnh hưởng cho mình bằng việc cổ vũ người dân sử dụng ngôn ngữ nước mình trên các mạng xã hội như Twitter, Wikipedia. Ngược lại một cá nhân hay doanh nghiệp muốn ảnh hưởng của ý tưởng hay sản phẩm của mình lan rộng thì không gì bằng chọn một ngôn ngữ thích hợp để truyền đạt, và đó có thể là ngôn ngữ thứ hai như tiếng Anh thay vì chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ. Và điều nhìn thấy trên bản đồ là, theo các nhà phân tích, chọn Tây Ban Nha làm ngôn ngữ thứ hai có lợi hơn chọn tiếng Trung Quốc.

Mark Davis, Chủ tịch và đồng sáng lập Hiệp hội Unicode ở Trung tâm Công nghệ Mountain View tại Hoa Kỳ chuyên lo về mã hóa ký tự cho các máy tính và thiết bị di động toàn cầu nhận xét việc đo lường trạng thái tương đối của các ngôn ngữ trên thế giới là một vấn đề rất khó và thường rất khó để có thể thu thập các dữ liệu tốt. Ông nói “Tầm nhìn của họ trên vấn đề này là một điều rất bổ ích và thú vị”. William Rivers, Giám đốc điều hành một trung tâm ngôn ngữ quốc gia tại Maryland còn cho rằng khi việc tiếp cận với nhiều ngôn ngữ rất khó khăn thì chính internet đang giúp người ta phổ biến những tiếng mẹ đẻ của họ. Và điều này thể hiện rất rõ trên bản đồ.

Chọn ngôn ngữ để thành công -3
10 ngôn ngữ được nói nhiều nhất

Ảnh hưởng của tốc độ giọng nói và mật độ thông tin

Khi năng lực lan truyền tạo nên tầm ảnh hưởng cho các ngôn ngữ, thì giọng nói cũng đóng vai trò quan trọng không kém, và lẽ dĩ nhiên bổ sung cho sức mạnh của ngôn ngữ. Một nghiên cứu vừa công bố trên tạp chí Science gần đây cho biết các ngôn ngữ không chỉ khác nhau về giai điệu, cú pháp, và tốc độ hay mật độ mà cũng thay đổi tầm mức ảnh hưởng theo cách chúng ta truyền đạt thông tin. Một điều hết sức ngạc nhiên, theo kết quả nghiên cứu, là mật độ thông tin gần như được cân bằng theo tốc độ nói nhanh hay chậm, có nghĩa là về tổng thể khả năng truyền đạt thông tin bằng các ngôn ngữ gần như bằng nhau trong cùng một khoảng thời gian.

Đơn cử như tiếng Nhật có xu hướng được nói thật nhanh nhưng nó chứa một lượng thông tin tương đối thấp trong mỗi âm vận. Ngược lại tiếng Việt nói chậm nhưng lại chứa nhiều thông tin hơn nơi các âm vận của nó. Và, nhìn chung, cả hai cùng truyền đạt thông tin theo cùng tốc độ cho dù nói nhanh hay nói chậm. Tiếng nói của con người thực sự rất phức tạp, khi tiếng Nhật hay Tây Ban Nha chỉ có 25 âm vị (phonemes) thì tiếng Anh, tiếng Thái có tới 40, và khi tiếng Nhật chỉ có vài trăm âm vận (syllables) thì số âm vận trong tiếng Anh lên tới gần 7.000. Âm điệu hay phong cách cũng là một đa dạng của giọng nói: trong khi một số ngôn ngữ có âm điệu trầm bổng tương phản thì một số ngôn ngữ khác lại khá đều đặn bình lặng.

Mật độ thông tin, nghĩa là lượng thông tin chứa trong mỗi âm vận, tạo nên sự khác biệt trong khả năng lan truyền của một ngôn ngữ, nhưng đây là một khía cạnh khá phức tạp. Trước mắt, các nhà nghiên cứu nhận ra rằng con người gần như tránh các thái cực hoặc nói nhanh quá hoặc chậm quá. Những ngôn ngữ nói nhanh thường phức tạp hơn và khó nói và hiểu hơn, trong khi ngôn ngữ nói chậm làm cho bộ nhớ làm việc tốt hơn. Một mặt quan trọng khác, những người có khuynh hướng nói nhanh trong bất kỳ ngôn ngữ nào thường cung cấp ít thông tin hơn người nói chậm, và đây lại là một yếu tố khác trong năng lực truyền đạt để thành công.

Hoàng Quân – Doanhnhanplus.vn