[Khoa Học] Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm


Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không?

Người ta nói rằng mái tóc của Marie Antoinette, hoàng hậu của vua Pháp Louis XVI, hoàn toàn chuyển sang màu trắng vào đêm trước khi bà bị chém, khi bà 38 tuổi. Vậy hiện tượng này có thực sự tồn tại hay không?

Câu chuyện trên có thể chỉ là hư cấu, thế nhưng hiện tượng tóc bị bạc đi chỉ sau một đêm hoặc trong một thời gian rất ngắn là hoàn toàn có thật và nó được gọi là Hội chứng Marie Antoinette. 

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 1.

Hội chứng Marie Antoinette là hiện tượng mà tóc của một người đột nhiên chuyển sang màu trắng (mất sắc tố). Tên của tình trạng này xuất phát từ câu chuyện dân gian về nữ hoàng Pháp Marie Antoinette, người có mái tóc được cho là đột ngột trở nên bạc trắng trước khi bị hành hình vào ngày16/10/1793.

Mọi người thường cho rằng hội chứng này được hình thành là do áp lực – có lẽ điều này được thể hiện rõ nhất qua các bức ảnh chụp nguyên thủ quốc gia trước và sau khi nhậm chức.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 2.
So sánh tổng thống Obama trước và sau khi nhậm chức, nghỉ hưu.

Tuy nhiên, do cơ chế cụ thể của việc tóc bạc vẫn chưa được làm rõ nên chưa rõ 3 yếu tố lão hóa, yếu tố di truyền và căng thẳng sẽ ảnh hưởng đến việc tóc bạc ở mức độ nào.

Gần đây, các nhà nghiên cứu từ Đại học Harvard đã công bố một nghiên cứu trên tạp chí Nature xác định cơ chế khiến lông chuột bạc sớm khi bị căng thẳng.

Da đầu của con người trung bình có 100.000 nang tóc và con người cũng có nhiều màu tóc khác nhau. Màu tóc được xác định bởi các tế bào hắc tố, sản sinh ra melanin hấp thụ ánh sáng theo nhiều cách kết hợp khác nhau. Tế bào hắc tố có nguồn gốc từ tế bào gốc tạo hắc tố (MeSC), nằm ở phần nhô ra của nang lông.

Chu kỳ phát triển của tóc được chia thành ba giai đoạn, đó là giai đoạn tăng trưởng anagen, giai đoạn nghỉ ngơi catagen và giai đoạn chuyển hóa dài (rụng) telogen.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 3.
Chu kỳ phát triển của tóc: giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn nghỉ ngơi và giai đoạn rụng (từ trái sang phải).

Tế bào hắc tố được tạo ra trong giai đoạn tăng trưởng. Khi con người già đi, các tế bào gốc melanin sẽ dần cạn kiệt, và sắc tố được tạo ra sẽ có màu “muối tiêu”, sau đó chuyển sang màu xám, và cuối cùng là màu trắng – sắc tố bị mất hoàn toàn trong tất cả các nang lông.

Lúc đầu, các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng căng thẳng sẽ gây ra một cuộc tấn công miễn dịch vào các tế bào gốc melanin. Nhưng sau đó điều này đã được chứng minh là một giả thuyết sai lầm, vì chuột thiếu tế bào miễn dịch những vẫn bị biến đổi và xuất hiện các đốm trắng.

Căng thẳng sẽ làm tăng tiết hormone cortisol nên các nhà nghiên cứu bắt đầu nghi ngờ rằng hormone cortisol là nguyên nhân khiến tóc bị thay đổi màu. Tuy nhiên, khi người ta loại bỏ các tuyến sản xuất cortisol ở chuột, lông của chuột sẽ vẫn chuyển sang màu trắng.

Cuối cùng, các nhà khoa học tập trung vào hệ thần kinh giao cảm – hệ thống trong cơ thể được sử dụng để kiểm soát phản ứng căng thẳng trong các tình huống nguy hiểm.

Thông qua các nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện rằng tế bào gốc tạo hắc tố nằm trong phần phồng của nang lông, được bao bọc bởi các tế bào thần kinh của hệ thần kinh giao cảm và giải phóng một phân tử dẫn truyền thần kinh được gọi là norepinephrine.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 4.
Hoạt động của tế bào gốc melanin trong điều kiện bình thường và căng thẳng.

Như hình a có thể thấy, trong điều kiện bình thường, tế bào gốc melanin (MeSC) di chuyển từ chỗ phình ra (theo hướng mũi tên đỏ) và biệt hóa thành tế bào hắc tố trong quá trình phân tích. Từ đó, tế bào hắc tố tổng hợp sắc tố để làm cho tóc tái sinh có màu sẫm.

Trong giai đoạn thoái hóa và nghỉ ngơi, các tế bào gốc này bắt đầu chết. Tuy nhiên, trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo, vẫn sẽ có một lượng lớn MeSC mới được dùng để thay thế các tế bào gốc đã chết.

Trong hình b, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng áp lực bên ngoài kích thích và kích hoạt hệ thần kinh giao cảm, làm tăng cường giải phóng adrenaline trong các nang tóc. Sau đó, norepinephrine sẽ khiến MeSC biến đổi hoàn toàn thành tế bào hắc tố, và không có tế bào gốc nào còn sống sót qua giai đoạn tăng trưởng trong chu kỳ tiếp theo.

Vì không có tế bào hắc tố mới nào được sản sinh nên tóc sẽ tự nhiên có màu trắng xám.

Các nhà nghiên cứu cũng đã thử nghiệm tác động của các áp lực khác nhau lên sự bạc màu của lông chuột.

Ở các giai đoạn mọc lông khác nhau, họ cho chuột tiếp xúc với ba yếu tố gây căng thẳng khác nhau – đau đớn, hạn chế vận động và căng thẳng tâm lý . Cả ba yếu tố này đều gây ra sự suy giảm MeSC, cuối cùng dẫn đến sự xuất hiện của lông trắng.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 5.

Các lý thuyết phổ biến trước đây tin rằng những thay đổi nội tiết tố do căng thẳng gây ra (chẳng hạn như corticosterone) hoặc phản ứng tự miễn dịch là nguyên nhân khiến tóc bạc.

Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra các cơ chế cơ bản này, trước tiên bằng cách ngăn chặn tín hiệu corticosterone, sau đó làm căng thẳng hệ thống miễn dịch của chuột.

Trong cả hai trường hợp, những thay đổi về corticosterone hoặc phản ứng tự miễn dịch không gây ra sự suy giảm MeSC. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sự biểu hiện của MeSC phụ thuộc vào một thụ thể adrenaline, thụ thể này phản ứng với adrenaline.

Tuyến thượng thận là nguồn cung cấp adrenaline chính. Nhưng đáng ngạc nhiên là các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc loại bỏ các tuyến này vẫn không thể ngăn được màu lông của chuột chuyển sang màu xám khi gặp căng thẳng.

Một nguồn khác của adrenaline là hệ thống thần kinh giao cảm (SNS), hoạt động tích cực để phản ứng với căng thẳng. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng vùng phồng được kết nối bên trong bởi các tế bào thần kinh giao cảm. Sử dụng các phân tử độc tố thần kinh để phá hủy SNS hoặc ngăn tế bào thần kinh giao cảm giải phóng adrenaline có thể ngăn tóc chuyển sang màu xám do căng thẳng.

Tiếp theo, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu những con chuột có tế bào thần kinh giao cảm được kích hoạt và phát hiện ra rằng việc kích hoạt quá mức SNS ở những con chuột này có thể khiến lông chuyển sang màu xám mà không cần bị căng thẳng.

Tổng hợp lại, những kết quả này chỉ ra rằng adrenaline được giải phóng từ các tế bào thần kinh giao cảm khi được hoạt động sẽ gây ra sự suy giảm MeSC.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 6.
Màu đỏ cho thấy các tế bào gốc melanin ở dưới cùng của các nang lông và các dây thần kinh giao cảm được hiển thị bằng màu xanh lá cây xung quanh chúng.

Do đó, hung thủ gây ra Hội chứng Marie Antoinette chính là adrenaline, thế nhưng vấn đề của chúng ta vẫn chưa kết thúc. Căng thằng sản sinh ra adrenaline làm bạc tóc, vậy một mái bị chuyển sang màu bạc có thể giúp chúng ta giảm bớt căng thẳng?

Nhóm nghiên cứu từ Đại học Harvard do Xu Yajie đứng đầu tin rằng việc làm trắng tóc thực chất là một tác dụng phụ của quá trình xử lý căng thẳng của hệ thần kinh giao cảm: “Đối với những loài như bạch tuộc và tắc kè hoa có khả năng thay đổi màu sắc nhanh chóng, các tế bào sắc tố trong cơ thể chúng sẽ được kích hoạt dưới tác động của hệ thần kinh. Nhưng đối với động vật có vú ngày nay, chỉ có tế bào hắc tố vẫn còn rất nhạy cảm với các hormone do hệ thần kinh tiết ra. Một khi hormone được tiết ra quá mức, các tế bào này sẽ vô tình bị kích hoạt”.

Màu tóc bị bạc không mang lại nguy hiểm tính mạng nên trong quá trình tiến hóa, khuyết điểm nhỏ này vẫn được giữ nguyên. Trên thực tế, khi đối mặt với căng thẳng, tóc sẽ không thực sự biến đổi hoàn toàn thành màu trắng trong một sớm một chiều, đây là một quá trình diễn ra chậm và kéo dài trong vài tháng.

Ngoài việc liên quan đến căng thẳng và tuổi tác, tóc bạc đôi khi có thể liên quan đến kinh nghiệm, khả năng lãnh đạo và lòng tin.

Ví dụ, khi một con khỉ đột núi lưng bạc đực trưởng thành hoàn toàn, nó sẽ mọc lông màu xám trên lưng và trở thành thủ lĩnh của bầy khỉ đột. Sau khi hứng chịu đủ áp lực, những cá thể được “nhuộm” lông trắng thường có địa vị trong cộng đồng cao hơn so với tuổi của chúng.

Theo Tri Thức Trẻ

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng


Tóc của chúng ta một khi đã cắt, nó thường được quét thành đống và sau đó vứt vào thùng rác. Nhưng một số người đã tìm ra những cách độc đáo để sử dụng lại số tóc này. Một số cách thức có tính thực tế và mang lại lợi ích cho mọi người, nhưng cũng có những phương cách hoàn toàn ngớ ngẩn. Dù bằng cách thức nào, chúng cũng là sự sáng tạo và đẩy lùi giới hạn của cách mà chúng ta nghĩ về tóc. Dưới đây là một số cách kỳ lạ mà tóc của con người đã được sử dụng trong quá khứ.

Ghế làm từ tóc

Tóc của con người còn chắc hơn sợi thủy tinh, và một người đàn ông đã tìm ra cách sử dụng độ chắc của tóc để tạo ra một sản phẩm gia dụng. Ronald Thompson, từng là nhà tạo mẫu tóc cho những người nổi tiếng và siêu sao, đã tạo ra chiếc “ghế Stiletto” được làm chủ yếu bằng tóc người. Người thợ làm tóc này đã giữ lại những sợi tóc được quét trong các tiệm cắt tóc và làm tóc ở London để tạo ra chiếc ghế này.

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng - 1

Chiếc ghế nguyên mẫu được làm từ 2kg tóc. Thompson hy vọng rằng sự thay thế độc đáo này – thay cho sợi thủy tinh – sẽ được sử dụng trong các sản phẩm tiêu dùng khác như giày dép, quần áo và các bộ phận của thuyền. Thompson nói: “Nó rất linh hoạt, không thấm nước, không dẫn điện, không bị ăn mòn, chống cháy, dai, mạnh, bền và có thể cạnh tranh với các sản phẩm, chẳng hạn như các tấm sợi mật độ trung bình, sợi thủy tinh, polyme và nhôm”.

Chiếc ghế nguyên mẫu được tung ra thị trường với giá 15.000 USD. Nhưng Thompson hy vọng sẽ tạo ra những mẫu ghế ít tốn kém hơn trong tương lai.

Đồ trang sức

Người dân thời Victoria để tang người chết theo một cách độc đáo: họ tạo ra đồ trang sức từ tóc của những người thân đã mất. Sau khi chồng bà, hoàng tử Albert, qua đời, nữ hoàng Victoria đã đeo một dây chuyền hình trái tim có chứa tóc của chồng bà trên cổ. Người dân thời Victoria thường làm trâm cài hoặc mặt dây chuyền với phần tóc đan ở giữa. Ngày nay, trang sức làm từ tóc nghe có vẻ điên rồ, nhưng nó đã từng được coi là món đồ vừa là tình cảm, vừa hợp thời trang.

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng - 2

Đồ trang sức làm từ tóc thể hiện mối liên hệ của bạn với người đã qua đời, nhưng nó cũng được dùng để thể hiện mối liên hệ của bạn với bạn bè, con cái hoặc vợ/chồng còn sống. Nhiều mẫu trang sức làm từ tóc có thể được tìm thấy tại bảo tàng tóc Leila ở Missouri.

Theo trang web của hãng, Leila là bảo tàng tóc duy nhất trên thế giới có hơn 2.000 món đồ trang sức làm từ tóc người. Mỗi món đồ trang sức kể lại một câu chuyện và thường có tên, ngày sinh và ngày mất của chủ nhân của món tóc đó.

Chế biến nước tương

Một công ty Trung Quốc bắt đầu quảng cáo bột và chất lỏng được làm từ tóc người như một loại nguyên liệu mới để sản xuất nước tương. Tóc người được biết là rất giàu hàm lượng protein, giống như đậu nành, lúa mì và cám. Công ty này cho biết bột và chất lỏng làm từ tóc có chứa một loại axit amin sẽ được sử dụng để làm nước tương. Họ đã vận chuyển nguyên liệu đến các nhà máy sản xuất nước tương trên khắp đất nước.

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng - 3

Công nhân của công ty đã phân loại tóc người từ các túi bẩn, cho vào máy mà không làm sạch tóc, rồi tạo ra bột và chất lỏng. Các viên chức y tế cảnh báo rằng việc sử dụng tóc có thể gây nguy hiểm. Các quan chức chính phủ cho biết tóc người có thể có chứa chì và thạch tín, có thể gây hại cho gan, thận và mạch máu. Nó thậm chí còn có thể gây ung thư.

Hỗ trợ tăng trưởng cây trồng

Tóc của con người cũng đã được sử dụng để làm phân bón và ngăn chặn cỏ dại. Phân bón chế biến từ tóc người thậm chí còn được so sánh với phân bón hóa học. Một công ty tên là Smart Grow đã sử dụng tóc người để tạo ra một tấm thảm hoạt động như một chất hỗ trợ tăng trưởng hữu cơ khi đặt dưới gốc cây và như một chất ngăn chặn cỏ dại khi đặt trên mặt đất. Thảm tóc cho phép người trồng tránh sử dụng phân bón hoặc các loại thuốc diệt cỏ có chứa hóa chất có thể gây hại cho con người.

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng - 4

Công ty được thành lập bởi Phil McCrory, người từng là nhà tạo mẫu tóc. Anh có ý tưởng này sau khi cố tìm cách sử dụng những mẫu tóc vụn mà anh đã hớt tại nơi làm việc. Mặc dù vậy, sử dụng tóc người làm phân bón không phải là điều gì mới mẻ. Nông dân Trung Quốc từ thời cổ đại đã sử dụng tóc và phân người để nuôi cây trồng của họ.

Hương liệu

Nếu đã từng phải ngửi mùi tóc cháy thì bạn sẽ biết rằng đó không phải là mùi dễ chịu. Tuy nhiên, những người Ấn Độ thời cổ đại đã biết sử dụng tóc trong hương liệu của họ.

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng - 5

Để thỏa mãn ma quỷ và linh hồn, họ đốt tóc người trộn với gừng, lá thơm hoặc nhựa thơm để tạo ra mùi thơm dễ chịu. Họ đã thử điều này khi các linh hồn làm điều gì đó mà người Ấn Độ cổ đại không thích.

Một loại hương khác được tạo ra bằng cách trộn tóc người với một thứ gì đó tệ hơn, chẳng hạn như phân lợn. Mục đích là làm cho lũ quỷ chạy trốn khỏi cái mùi khủng khiếp.

Kiểm soát sâu bọ

Tóc người từng được sử dụng trong nhiều thế kỷ để kiểm soát dịch hại ở Hoa Kỳ, Ấn Độ và Trung Quốc. Tóc người không chỉ có tác dụng làm phân bón mà còn có thể ngăn các con vật gây hại lẻn vào khu vườn nhà bạn. Tóc chủ yếu ngăn chặn ốc sên, loài gặm nhấm, thỏ và hươu. Nhưng bạn có thể buộc vải thưa hoặc túi nylon chứa đầy tóc chưa được làm sạch vào các trụ gần hoặc bên trong vườn để ngăn chặn các loài vật khác.

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng - 6

Tóc dùng để xua đuổi động vật sẽ bị mất mùi trong vòng 2 tuần và nên được thay thường xuyên. Người ta nói rằng bạn có thể trộn lông chó hoặc lông mèo với tóc người cho khu vườn của mình, và nó sẽ có hiệu quả tương đương hoặc thậm chí còn hiệu quả hơn. Nếu bạn đang tìm kiếm một cách dễ dàng và không tốn kém để ngăn chặn và xua đuổi những loài gây hại đó ra khỏi khu vườn của bạn, hãy chuyển sang dùng tóc!

Y phục

Có vẻ hơi ngứa ngáy, khó chịu nhưng tóc thậm chí còn được dùng để tạo ra quần áo. Bill Black là một thợ cắt tóc đã tạo ra những món đồ từ tóc mà anh thu thập được từ khách hàng. Một trong những sáng tạo của Bill là bộ bikini làm từ tóc người. Bộ bikini của anh giống bộ bikini bình thường, và kích thước gần bằng “B cup” (bộ ngực tự nhiên, ở mức vừa phải).

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng - 7

Vợ anh đã mặc thử nó và phàn nàn rằng nó quá ngứa – không có gì ngạc nhiên cả. Bill cũng tạo ra giày lười, đồ lót, mũ, áo sơ mi và áo vest từ tóc người.

Một phiên bản đáng lo ngại hơn của bộ quần áo làm từ tóc người đến từ Sarah Louise Bryan, 28 tuổi. Cô đã tạo ra một chiếc áo và váy từ lông mu và cố gắng bán với giá khoảng 13.000 USD.

Louise đã mất sáu tháng để tạo ra bộ quần áo. Cô bắt đầu với chất liệu thép mỏng và dán lông lên đó bằng keo nóng. May mắn thay, cô đã khử trùng lông trước và sử dụng nước nóng để tiêu diệt mọi vi khuẩn.

Làm sạch dầu tràn

Bạn có nhớ Phil McCrory, người thợ làm tóc đã chế tạo ra tấm lót tóc để giúp bón phân cho cây trồng? Anh cũng nảy ra ý tưởng dùng tóc để làm sạch dầu tràn. Phil nhận thấy lông của một con rái cá bị thấm dầu sau vụ tràn dầu ở Alaska năm 1989 và tự nghĩ: “Nếu lông động vật có thể bẫy và thấm được dầu tràn, thì tại sao tóc người lại không thể?”

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng - 8

Để thử nghiệm ý tưởng này, McCrory đã nhét 2,2 kg tóc người vào trong một chiếc quần tất của vợ mình. Anh buộc hai đầu lại với nhau để tạo thành hình chiếc nhẫn. Sau đó, anh đổ đầy nước vào bể bơi của con trai mình và đổ dầu máy đã qua sử dụng vào giữa.

Anh cho chiếc vòng-tóc vào nước và dầu được hấp thụ vào sợi tóc bên trong chiếc vòng. Dầu tập trung thành từng lớp trên bề mặt tóc, cho phép dễ dàng thu hồi nó để có thể tái sử dụng.

McCrory đã làm việc với NASA để thử nghiệm sản phẩm của mình trong điều kiện được kiểm soát của phòng thí nghiệm. Các thử nghiệm cho thấy 4 lít dầu có thể được hấp thụ trong vòng chưa đầy hai phút bằng phương pháp của anh. Họ cũng nhận thấy rằng nó có thể tiết kiệm tiền cho chi phí dọn dẹp. McCrory là một thiên tài khi tìm ra công dụng của tóc người.

Tác phẩm nghệ thuật

Tóc người cũng đã được sử dụng trong nhiều năm để tạo ra nhiều loại hình nghệ thuật trên khắp thế giới. Tóc người đã được sử dụng vào thời Victoria để tạo ra nhiều đồ trang sức. Như được trưng bày trong bảo tàng tóc Leila, tóc đã được sử dụng để tạo vòng hoa cài tóc, vòng tay, vòng cổ, hoa tai, ghim mũ, liên kết vòng bít, cúc áo… Mặc dù nghệ thuật chế tác các sản phẩm làm từ tóc phát triển mạnh vào thời Victoria, nhưng gần đây nó đã được sử dụng nhiều hơn trong nghệ thuật đương đại.

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng - 8

Một biểu ngữ khổng lồ bằng tóc người đã được dựng lên trong thư viện Baker-Berry của Trường Đại học Dartmouth. Tác phẩm nghệ thuật dài 24m x 4m sử dụng 190kg tóc người được thu thập từ 42.000 lần cắt tóc.

Phải mất nhiều tháng để thu thập tóc từ các sinh viên, giảng viên và nhân viên của Dartmouth cũng như của cư dân địa phương. Tiêu đề “ngôi nhà xanh” và dòng chữ màu xanh lá cây của biểu ngữ tượng trưng cho tiền bạc và cho thấy rằng giáo dục và chủ nghĩa tư bản không thể tách rời.

Dụng cụ âm nhạc

Một trong những nhạc cụ được tìm thấy ở Mangyans, những người bản địa từ đảo Mindoro của Philippines, gọi là gitgit. Gitgit là một loại vĩ cầm 3 dây dùng tóc người để làm dây kéo.

Nhạc cụ này được sử dụng bởi một người nam khi đang cố gắng tán tỉnh một người nữ. Anh ta chơi nó để thông báo việc anh đến nhà người nữ. Nhiều nhạc cụ đã từng được se sợi bằng tóc người, nhưng cũng có nhiều cách sử dụng hiện đại hơn cho tóc với các nhạc cụ.

Những cách kỳ lạ mà tóc người đã được sử dụng - 9

Tadas Maksimovas là một nghệ sĩ thử nghiệm đã cho phép chơi một nhạc cụ bằng chính mái tóc của anh ấy! Tadas sử dụng mái tóc của mình để làm một nhạc cụ thử nghiệm cho buổi biểu diễn mang tên Hair Music.

Maksimovas đã dán mái tóc dài đến thắt lưng của mình thành những sợi xơ quấn vào chốt chỉnh của cây vĩ cầm và duỗi ra như những sợi dây bình thường. Sau đó, nhạc sĩ Eimantas Belickas trượt cây vĩ của mình trên nhạc cụ tóc của Maksimovas. Dự án nghệ thuật âm nhạc rất ngộ nghĩnh, nhưng cuối cùng Maksimova lại phải mất đi những lọn tóc dài. Đó là một cái giá không hề nhỏ mà người nghệ sĩ phải trả cho nghệ thuật của mình.

Hoàng Lương / Doanhnhanplus

Cung điện ký ước: Bí quyết ghi nhớ của thám tử Sherlock Holmes


Sherlock Holmes ghi nhớ mọi thứ bằng cách tưởng tượng rằng ông đang lưu trữ thông tin trong một “cung điện ký ức”, một kỹ thuật có nguồn gốc từ thời Hy Lạp cổ đại. Giờ đây, các nhà nghiên cứu đã chứng minh phương pháp này thực sự có tác dụng tạo ra những ký ức lâu dài.Sherlock Holmes là một nhân vật thám tử hư cấu, do nhà văn người Anh Arthur Conan Doyle sáng tạo nên.

Holmes nổi danh với khả năng quan sát, diễn dịch, am hiểu về khoa học pháp y và khả năng suy luận logic tuyệt vời. Đây những yếu tố giúp ông phá được nhiều vụ án phức tạp.

Thám tử Sherlock Holmes trong bộ phim The Adventures of Sherlock Holmes (1939). Ảnh: Alamy.

Holmes áp dụng một kỹ thuật ghi nhớ có thật được gọi là phương pháp loci. Từ “loci” là dạng số nhiều của từ “locus”, có nghĩa là vị trí hoặc nơi chốn. Người sử dụng phương pháp loci sẽ tưởng tượng mình đang đi dạo quanh một địa điểm quen thuộc, chẳng hạn như một con đường [trong trường hợp của Holmes là một cung điện].

Để ghi nhớ một dữ liệu thông tin nào đó, bạn có thể “thả” nó tại một vị trí dọc theo con đường quen thuộc trong tưởng tượng của bạn. Khi cần truy xuất thông tin, bạn sẽ hình dung đang đi bộ trở lại vị trí đó và “nhặt nó lên”. Ví dụ, nếu bạn là người đã biết mọi ngõ ngách tại Công viên Trung tâm ở thành phố New York (Mỹ), bạn có thể tưởng tượng trong lúc đi bộ tại công viên, bạn thả từ “sách” ở Nhà thuyền (Boat House), sau đó là từ “chai nước” ở khúc cua tiếp theo, cuối cùng là từ “không gian” tại đài phun nước. Khi bạn muốn nhớ các từ, bạn hãy hồi tưởng lộ trình đã đi trong công viên theo thứ tự ban đầu, nhờ đó kích hoạt khả năng nhớ lại thông tin.

Bằng cách luyện tập theo phương pháp loci, các nhà vô địch trí nhớ thế giới có thể ghi nhớ một lượng lớn thông tin không theo thứ tự, chẳng hạn như danh sách các từ, dãy số và bộ bài, theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Science Advances vào tháng 3/2021. Tuy nhiên, Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới (World Memory Championships) chỉ kiểm tra trí nhớ ngắn hạn, và hiện nay chỉ có một số ít các nghiên cứu đã xem xét bộ não của những người sử dụng phương pháp này để cải thiện trí nhớ.

“Chúng tôi bị cuốn hút bởi khả năng đạt được hiệu suất trí nhớ phi thường từ những người tham gia Giải Vô địch Trí nhớ Thế giới”, Isabella Wagner, tác giả chính của nghiên cứu tại Đại học Vienna (Áo), cho biết. “Phương pháp loci sử dụng các địa điểm hoặc tuyến đường quen thuộc như một giàn giáo hoặc bộ khung để liên kết với các thông tin mới lạ, không liên quan. Sự kết hợp giữa những điều đã biết trước đó – lộ trình quen thuộc – và thông tin mới tạo ra những liên kết rất mạnh mẽ giúp tăng cường trí nhớ”.

Để đánh giá phương pháp loci, Wagner và cộng sự đã tuyển chọn 17 “vận động viên trí nhớ” chuyên nghiệp, những người được xếp hạng top 50 thế giới trong các cuộc thi về trí nhớ. Họ cũng tuyển chọn 16 người khác tương đồng với các vận động viên về nhiều đặc điểm như tuổi tác và trí thông minh. Nhóm nghiên cứu đã chụp ảnh cộng hưởng từ (fMRI) bộ não của những người tham gia trong khi yêu cầu họ học thuộc các từ ngẫu nhiên trong một danh sách. Sau đó, các nhà khoa học đưa cho những người tham gia mỗi lần ba từ trong danh sách và yêu cầu họ nhớ lại xem các từ có ghi theo đúng thứ tự đã học thuộc trước đó hay không.

Trong phần thứ hai của nghiên cứu, Wagner tuyển chọn 50 người trước đây không có kinh nghiệm về các phương pháp ghi nhớ. Wagner đào tạo cho 17 người trong số họ ghi nhớ bằng phương pháp loci trong sáu tuần. Những người tham gia còn lại thuộc nhóm kiểm soát [hay nhóm đối chứng]. Nhóm nghiên cứu quét não của những người tham gia bằng fMRI khi họ thực hiện các nhiệm vụ giống nhau, cả trước và sau quá trình đào tạo. Các nhà khoa học cũng yêu cầu những người tham gia nhớ lại các từ cần ghi nhớ trong danh sách sau khi quét fMRI 20 phút và 24 giờ. Họ dùng bài kiểm tra này để xác định trí nhớ ngắn hạn [hoặc những ký ức có thể nhớ được sau 20 phút nhưng không phải sau 24 giờ], và trí nhớ dài hạn [những ký ức có thể nhớ được sau 24 giờ].

Bốn tháng sau, các nhà nghiên cứu đã kiểm tra lại khả năng ghi nhớ của những người tham gia.
Kết quả cho thấy, những người tham gia có trí nhớ dài hạn tốt hơn sau khi luyện tập với phương pháp loci. Nhưng họ không có sự thay đổi đáng kể về trí nhớ ngắn hạn so với nhóm đối chứng.


Sau 20 phút, những người sử dụng phương pháp loci nhớ trung bình khoảng 62 từ trong danh sách, trong khi những người không được đào tạo chỉ nhớ được 36 từ. Sau 24 giờ, những người sử dụng phương pháp loci nhớ khoảng 56 từ trong danh sách, so với 21 từ tương ứng ở nhóm đối chứng.
Bốn tháng sau, những người được đào tạo theo phương pháp loci có thể nhớ trung bình khoảng 50 từ với một danh sách các từ mới, so với 27 từ ở nhóm đối chứng. Hơn nữa, dữ liệu quét não fMRI cho thấy các vận động viên trí nhớ hàng đầu thế giới và những người tham gia được đào tạo theo phương pháp loci có hoạt động não tương tự nhau khi họ ghi nhớ danh sách các từ và thứ tự của chúng.
Nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy một điều bất ngờ. “Trong khi các vận động viên trí nhớ và những người học phương pháp loci tham gia vào các bài kiểm tra, cường độ hoạt động trong não của họ thấp hơn so với nhóm đối chứng ở những khu vực não liên quan đến xử lý trí nhớ và trí nhớ dài hạn”, Wagner cho biết. “Điều này khiến chúng tôi hơi ngạc nhiên, vì hiệu suất ghi nhớ tốt hơn thường liên quan đến việc gia tăng mức độ hoạt động ở các vùng não khác nhau”.


Nói cách khác, nhóm nghiên cứu phát hiện việc kích hoạt não ít hơn dẫn đến trí nhớ tốt hơn. Điều này có thể là do phương pháp loci thúc đẩy não hoạt động hiệu quả hơn, thông qua việc gia tăng các liên kết giữa những vùng não quan trọng có nhiệm vụ lưu trữ trí nhớ dài hạn.
“Hầu như ai cũng có thể học cách sử dụng phương pháp loci. Mặc dù phương pháp này đòi hỏi phải luyện tập thường xuyên nên có thể không phù hợp với tất cả mọi người, nhưng nó chắc chắn có thể giúp bạn tăng cường trí nhớ và đạt được hiệu suất bộ nhớ cao hơn, thậm chí trở nên vượt trội”, Wagner nhận định.
Hiện tại, nhóm nghiên cứu chưa thể xác định phương pháp loci có thể giúp giảm bớt tình trạng suy giảm nhận thức trong quá trình lão hóa tự nhiên hay không, hoặc mức độ hiệu quả của nó trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh liên quan đến trí nhớ. “Tuy nhiên, chúng tôi rất vui mừng về những kết quả đã đạt được. Đây sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu trong tương lai để giải đáp những câu hỏi tương tự như trên”, Wagner nói trên.

Quốc Hùng (Theo Live Science) / khoahocphattrien

Liệu pháp tế bào gốc: Mở ra tiềm năng điều trị bệnh tự miễn


Các nghiên cứu gần đây cho thấy, liệu pháp tế bào gốc có thể cải thiện các triệu chứng của các bệnh tự miễn thông qua ba cơ chế: Điều chỉnh miễn dịch, điều biến miễn dịch và cấy ghép tế bào gốc đã qua chỉnh sửa gene.

Các bệnh tự miễn dịch (AD), phổ biến như tiểu đường loại 1, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp và viêm đa cơ… ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của bệnh nhân nhưng không thể điều trị dứt điểm. Cho đến nay, thông thường để điều trị AD, phải sử dụng các chất ức chế miễn dịch như corticosteroid, cyclophosphamide (CYC), azathioprine và methotrexate. Tuy vậy, thuốc ức chế miễn dịch chỉ “hữu hiệu” trong giai đoạn đầu, sau khi điều trị lâu dài, hầu hết bệnh nhân trở nên kháng thuốc cũng như gặp phải các tác dụng phụ và độc tính của thuốc.

Vai trò của tế bào gốc trong điều trị bệnh tự miễn

Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy, liệu pháp tế bào gốc có thể cải thiện các triệu chứng của AD. Tế bào gốc có thể tác động đến hệ thống miễn dịch bằng ba cách khác nhau:

(1) điều chỉnh miễn dịch (ví dụ, cấy ghép tế bào gốc tạo máu – HSC) có thể điều chỉnh hệ thống miễn dịch và cải thiện khả năng chịu miễn dịch đối với tự kháng nguyên;

(2) điều biến miễn dịch (ví dụ, cấy ghép tế bào gốc trung mô – MSC có thể điều chỉnh hệ thống miễn dịch thông qua ức chế một số tế bào tác động cũng như kích thích tế bào T điều hòa (Tregs)); 

và (3) chỉnh sửa gene (ví dụ, cấy ghép HSC hoặc cấy ghép MSC đã qua chỉnh sửa gene). 

Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy, cả hai chiến lược điều chỉnh miễn dịch và điều hòa miễn dịch đều được sử dụng để điều trị các AD khác nhau với kết quả đầy hứa hẹn.

Bên cạnh các hiệu ứng miễn dịch, liệu pháp tế bào gốc cũng có thể làm tăng khả năng tái tạo mô tại các mô bị thương hoặc bị lỗi. HSC là nguồn gốc của tất cả các loại tế bào máu, bao gồm bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu. Các tế bào này có thể được phát hiện và phân lập từ các mô khác nhau, chẳng hạn như tủy xương của người trưởng thành, các mô khác nhau của thai nhi (gan, lá lách và tuyến ức), dây rốn và máu ngoại vi. HSC có thể di chuyển tới tủy xương (BM) để tái tạo hệ thống miễn dịch hoặc hệ thống tạo máu. Còn các cytokine hoặc các yếu tố tăng trưởng mà MSCs tạo ra có thể kích thích tái tạo mô và ức chế quá trình chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào tại các mô bị thương.

Liệu pháp tế bào gốc

Ứng dụng lâm sàng 

Cả tế bào gốc tạo máu và tế bào gốc trung mô đã được sử dụng để điều trị AD trên cả mô hình động vật và thử nghiệm lâm sàng.

Cấy ghép tế bào gốc tạo máu HSC đã được sử dụng từ năm 1997 để điều trị các bệnh AD nặng và khó trị liệu. Đã có hơn 2500 bệnh nhân AD được điều trị bằng liệu pháp này tại 247 trung tâm ở 40 quốc gia. Theo cơ sở dữ liệu của the Autoimmune Diseases Working Party, đã có 2606 quy trình cấy ghép HSC để điều trị AD, với 2417 bệnh nhân sử dụng HSC tự thân và 133 bệnh nhân sử dụng HSC đồng loại. Nhiều bệnh tự miễn khác nhau đã được điều trị bằng ghép tế bào gốc tạo máu như đa xơ cứng, viêm khớp, lupus ban đỏ hệ thống, suy giảm tế bào miễn dịch, viêm mạch, bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin, viêm đa dây thần kinh mãn tính, viêm dây thần kinh thị giác và bệnh nhược cơ…

Trong khi cấy ghép HSC có thể thay thế hệ thống miễn dịch thông qua cấy ghép tự thân hoặc cấy ghép đồng loài, thì cấy ghép MSC có thể cải thiện AD bằng các cơ chế điều chỉnh hệ thống miễn dịch của vật chủ để sửa chữa các mô bị thương thông qua các yếu tố mà nó tiết ra.


Trong lâm sàng, MSC đã được sử dụng trong cấy ghép để điều trị các bệnh tự miễn khác nhau. Cấy ghép MSC điều trị lupus ban đỏ hệ thống (SLE) cho thấy có thể cải thiện đáng kể các triệu chứng bệnh, protein niệu và giảm thiếu máu ở bệnh nhân. Một phân tích kết quả điều trị từ 8 nghiên cứu lâm sàng trên 213 bệnh nhân trong và ba thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với 66 bệnh nhân cho thấy cấy ghép MSC làm giảm đáng kể chỉ số hoạt động của bệnh lupus ban đỏ hệ thống và protein nước tiểu trong 24 giờ, trong khi bổ thể C3 tăng đáng kể. Chỉ có ba nghiên cứu trong các phân tích này cho thấy việc cấy ghép MSC có một số tác dụng phụ (bao gồm sốt, tiêu chảy và đau đầu) trong quá trình truyền dịch.

Bệnh đa xơ cứng (MS) là bệnh viêm tự miễn phổ biến nhất của hệ thần kinh trung ương, cuối cùng dẫn đến huỷ myelin và mất sợi trục. Công bố đầu tiên về cấy ghép MSC cho bệnh đa xơ cứng là vào năm 2007. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng MSC tự thân (ghép qua đường tiêm nội tủy) cho 10 bệnh nhân bệnh đa xơ cứng. Tuy nhiên, hiệu quả một cải thiện lâm sàng không đáng kể. Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng cấy ghép MSC có thể giúp tăng tỷ lệ tế bào T điều hòa CD4 + CD25 +, giảm sự tăng sinh tế bào lympho và giảm các dấu ấn hoạt hóa của tế bào đuôi gai. Một nguồn MSC khác đã được sử dụng trên lâm sàng để điều trị bệnh đa xơ cứng. Loại MSC đầu tiên được sử dụng là MSCs lấy từ tủy xương tự thân. Sau đó, MSCs từ tủy xương của người hiến tặng được sử dụng. Năm 2013, nghiên cứu đầu tiên về việc áp dụng MSC có nguồn gốc từ mỡ cho bệnh MS đã được báo cáo. Trong nghiên cứu này, ADSCs được trộn với axit hyaluronic và tiêm vào mặt hoặc cánh tay của bệnh nhân. Bằng quy trình này, 6 bệnh nhân đã cải thiện tình trạng xơ hóa da của họ (với 5 bệnh nhân cải thiện đáng kể và 1 bệnh nhân vừa phải). Cho đến nay, chỉ có một báo cáo sử dụng MSC có nguồn gốc từ dây rốn để điều trị MS. Trong một số thử nghiệm ban đầu, các nhà nghiên cứu đã đánh giá việc tiêm truyền tĩnh mạch MSCs có nguồn gốc từ tủy xương tự thân, trong khi gần đây hơn thì các nghiên cứu đã đánh giá được việc tiêm tại chỗ cả MSC tự thân và đồng sinh.

Cho đến nay, cả bằng chứng tiền lâm sàng và lâm sàng đều cho thấy cấy ghép HSC và MSC đều có thể mang lại hiệu quả tích cực cho bệnh nhân AD. Mặc dù một số cơ chế điều trị vẫn chưa rõ ràng, cùng với sự hạn chế của một số ít bệnh nhân được đánh giá, các nghiên cứu đã được công bố gần đây cho thấy rằng cấy ghép HSC và MSC có tiềm năng rất lớn để điều trị AD.

Các bệnh tự miễn dịch (AD) là các bệnh phổ biến liên quan đến phản ứng của các tế bào miễn dịch đối với tế bào chủ cũng như các mô của vật chủ. AD có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau – từ hệ thống nội tiết đến các mô liên kết, đường tiêu hóa, thận, da và tim. Có hơn 100 AD được ghi nhận với 15 bệnh thông thường; các AD này được chia thành hai nhóm: AD đặc hiệu cho cơ quan và AD toàn thân. AD đặc hiệu cho cơ quan là một phần của nhóm AD mà hệ thống miễn dịch tấn công các tế bào cụ thể trong một cơ quan. Các AD này bao gồm: bệnh tiểu đường loại 1, bệnh Addison, bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto, bệnh Graves, hội chứng Sjögren, bệnh bạch biến, bệnh thiếu máu ác tính, viêm cầu thận, bệnh nhược cơ, hội chứng Goodpasture, bệnh thiếu máu tan máu tự miễn, ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn và bệnh xơ phổi.

Mặt khác, đối với AD toàn thân, hệ thống miễn dịch tấn công các cơ quan khác nhau; những AD này bao gồm lupus ban đỏ hệ thống (SLE), viêm khớp dạng thấp (RA), xơ cứng bì hệ thống (SSc), viêm cột sống dính khớp và viêm đa cơ. Những bệnh này có thể làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Vũ Bích Ngọc / Tạp Chí Tia Sáng

Châu Âu: Sẽ đầu tư vào nghiên cứu về chỉnh sửa hệ gene trong nông nghiệp


Hội đồng châu Âu cho biết, EU sẽ coi kỹ thuật chỉnh sửa gene CRISPR là công cụ để thúc đẩy ngành nông nghiệp và giảm bớt vết carbon về môi trường.

Tòa án Tòa án Công lý Châu Âu (ECJ) có quy định vào năm 2018 là việc chỉnh sửa hệ gene phải tuân thủ lệnh cấm năm 2001 của châu Âu về việc cấm sinh vật biến đổi gene (GMO).

Horizon Europe, chương trình đầu tư cho nghiên cứu lớn nhất châu Âu sẽ phân bổ năm triệu euro cho các dự án nhằm mục tiêu hiểu rõ hơn về lợi ích và rủi ro của việc áp dụng các kỹ thuật chỉnh sửa hệ gene trong nông nghiệp trong hai năm tới, theo một bản dư thảo chương trình.

Hành động này nhằm hỗ trợ kế hoạch “Từ trang trại đến bàn ăn”, vốn được đặt ra để

Để đạt tới các mục tiêu đó, Hội đồng châu Âu cho rằng châu Âu cần “tăng cường các tiên tiến quan trọng trong ngành khoa học sự sống và công nghệ sinh học, trong các kỹ thuật hệ gene mới như kỹ thuật chỉnh sửa gene/hệ gene”.

Kế hoạch trị giá năm triệu euro được đặt ra sau khi các bộ trưởng Bộ Nông nghiệp châu Âu kêu gọi Hội đồng châu Âu tăng cường việc sử dụng “những thành phần mới và kỹ thuật mới” vào tháng 10 năm ngoái nhằm thúc đẩy việc sản xuất lương thực bền vững, khi chúng chứng tỏ an toàn với con người, động vật và môi trường. Kinh phí cho kế hoạch này mới chỉ mang tính chất gợi ý và Hội đồng châu Âu còn có thể tài trợ cho những đề xuất vượt ngoài khuôn khổ số tiền ban đầu này.

Vào tháng 10 năm ngoái, nhà khoa học Pháp Emmanuelle Charpentier, giám đốc Viện nghiên cứu Sinh học truyền nhiễm Max Planck ở Berlin, và đồng nghiệp là Jennifer Doudna, đã được trao giải thưởng Nobel Hóa học “vì đã phát triển một phương pháp chỉnh sửa hệ gene”.

Nhưng việc lai tạo giống cây trồng một cách chính xác với các kỹ thuật chỉnh sửa gene vẫn chưa được sử dụng ở châu Âu, theo một quy định vào năm 2018 của Tòa án Tòa án Công lý Châu Âu (ECJ) là việc chỉnh sửa hệ gene phải tuân thủ lệnh cấm năm 2001 của châu Âu về việc cấm sinh vật biến đổi gene (GMO).

Vào thời kỳ đầu hậu Brexit, tháng trước nước Anh đã thiết lập một cuộc bàn bạc trong giới công nghiệp về chỉnh sửa gene, khi cố gắng loại chỉnh sửa gene khỏi các quy định của châu Âu về GMO. Do còn phụ thuộc vào kết quả, sẽ cần đến một phiên tư vấn thứ hai về việc thay đổi định nghĩa về một sinh vật GMO. Chính phủ Anh coi các sinh vật được tạo ra bằng chỉnh sửa gene hoặc bằng các kỹ thuật di truyền khác không phải là GMO.

Việc đề xuất khoản kinh phí năm triệu euro cho nghiên cứu về chỉnh sửa gene là một phần nhỏ trong tổng số 1,83 tỉ euro trong năm 2021 và 2022 ở trụ cột thứ sáu về thực phẩm, các nguồn tự nhiên về kinh tế sinh học, nông nghiệp và môi trường của Horizon Europe, dự thảo chương trình đã tiết lộ vào tháng 12/2020 như vậy.

Hội đồng châu Âu đang chờ đợi công bố các chương trình chính thức với các con số tài trợ cuối cùng và những hạn định cho việc gửi hồ sơ đề xuất tài trợ vào cuối tháng 4/2021.

EU muốn giảm bớt việc sử dụng phân bón từ 30% xuống 25% trong các khu vực trồng trọt và tiến tới nông nghiệp hữu cơ.

Kêu gọi gỡ lệnh cấm chỉnh sửa gene

Các nhà nghiên cứu đã kêu gọi châu Âu gỡ bỏ lệnh cấm nghiêm khắc về GMO để cho phép sử dụng kỹ thuật chỉnh sửa gene, vốn không hề cần đến việc đưa các gene ngoại lai vào một sinh vật. Trong năm 2020, trong một báo cáo của Liên đoàn Khoa học và nhân văn châu Âu, các nhà nghiên cứu trong 120 tổ chức ở khắp châu Âu kêu gọi Hội đồng châu Âu hỗ trợ đảo ngược tình thế  này.

Theo báo cáo, sự thay đổi về chính sách có thể giúp châu Âu gia tăng sản lượng, thân thiện hơn với môi trường và có những loài có khả năng chống chịu ngoại cảnh, đồng thời đưa châu Âu tới những phát triển về khoa học. “Các công nghệ mới này có thể đóng góp vào việc giảm bớt vết carbon của nông nghiệp trong môi trường”, các nhà nghiên cứu cho biết.

Trong khi các bộ trưởng bộ nông nghiệp chờ đợi Hội đồng châu Âu hoàn thành một nghiên cứu về tình trạng các kỹ thuật chinh sửa gene mới dưới phán quyết của EU, chương trình Horizon cho biết vẫn đang yêu cầu các nhà nghiên cứu điều chỉnh đề xuất của họ về các quy định hiện hành của châu Âu, bao gồm cả phán quyết năm 2018 của ECJ.

Các đề xuất đang được chờ đợi sẽ góp phần đem đến “các kỹ thuật chỉnh sửa hệ gene mới trong những đổi mới sáng tạo về sinh học” và để “đưa đánh giá những tác động tới hạn tiềm năng và cả những nút thắt tới EU và các khung quản lý quốc tế”.

Những ưu tiên khác

Hội đồng châu Âu muốn các nông dân tăng cường năng lực về các công nghệ số và ngăn ngừa việc số hóa sẽ làm phân hóa các trang trại lớn với trang trại nhỏ.

Theo chương trình dự thảo, Hội đồng châu Âu đang lên kế hoạch phân bổ 404 triệu euro trong hai năm tới cho các dự án nghiên cứu hỗ trợ chiến lược “Từ trang trại đến bàn ăn”.

Hội đồng đang trông chờ những đề xuất khám phá cuộc cách mạng và mở rộng của các vi sinh vật trong tự nhiên và mối liên hệ với sự mất mát đa dạng sinh học và sự gia tăng nguy cơ rủi ro dịch bệnh.

Một cuộc mở tài trợ 15 triệu euro sẽ được dành cho các dự án phát triển các công cụ số mang tính đổi mới sáng tạo để thiết kế cho những vấn đề cần thiết ở các trang trại quy mô vừa và nhỏ. Hội đồng châu Âu muốn các nông dân tăng cường năng lực về các công nghệ số và ngăn ngừa việc số hóa sẽ làm phân hóa các trang trại lớn với trang trại nhỏ.

Hội đồng cũng lập kế hoạch phân bổ 230 triệu euro trong hai năm tới về những dự án mà châu Âu mong muốn thực hiện “nền kinh tế tuần hoàn”, bằng việc giảm thiểu chất thải và xúc tiến tái chế các nguồn tài nguyên một cách liên tục.

Các dự án không chỉ được chờ đợi cải thiện việc lựa chọn vật liệu và tạo thiết kế mà còn thúc đẩy chuỗi giá trị mới và những mô hình kinh doanh mới tập trung vào việc nâng cấp, tái chế và tái sản xuất các sản phẩm để giảm thiểu chất thải.

Một số cuộc mở đề xuất sẽ dành cho các dự án để đưa nền công nghiệp châu Âu thêm bền vững và giảm thiểu sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên, bằng việc giảm bớt việc sử dụng các nguyên liệu thô phi tái tạo.

Thanh Phương tổng hợp / Tạp chí Tia Sáng

Nguồnhttps://sciencebusiness.net/framework-programmes/news/horizon-europe-fund-research-genome-editing-agriculture

https://www.genomeweb.com/policy-legislation/european-research-institutes-ask-eu-allow-genome-editing-crops

Hóa ra não cố tình quên


Các nhà nghiên cứu phát hiện não có những quy trình chủ động cho quên. Rất có thể, “quên đi” chính là trạng thái mặc định của não.????

Suốt từ xưa đến nay, khoa học vẫn tập trung nghiên cứu cách não thu thập và lưu trữ thông tin thành trí nhớ ngắn hạn, trí nhớ dài hạn… Vì sợ “quên” mà nghiên cứu “nhớ”, nhưng trớ trêu thay, việc quên của não lại chẳng mấy người quan tâm.

“Phần lớn những thứ đang diễn ra trong đời tôi, nhiều khả năng rồi tôi sẽ chẳng nhớ gì khi 80 tuổi. Chẳng hiểu sao lĩnh vực thần kinh học lại không xem ‘quên’ là việc quan trọng?” – Michael Anderson thắc mắc. Ông là nhà nghiên cứu của Đại học Cambridge, từ những năm 1990 đã chỉ tập trung tìm hiểu về sự quên.

“Nếu không có quá trình quên, ta sẽ hoàn toàn không có ký ức” – Oliver Hardt, chuyên gia của Đại học MacGill, khẳng định. Theo chuyên gia về “nhớ và quên” này, nếu cái gì cũng nhớ thì não sẽ ngập ngụa những ký ức “vớ vẩn”.

Ông nói, do não không biết được ngay thông tin nào là quan trọng nên cứ gặp thông tin là nó ra sức cố mã hóa cho bằng hết đã, càng nhiều càng tốt, sau đó từ từ xóa đi gần hết.

Bằng chứng là nhiều người sau một ngày có thể nhớ lại mọi sự kiện (kể cả những chi tiết lăng nhăng nhất) trong ngày hôm đó, nhưng chỉ mấy ngày sau, mấy tuần sau là quên. “Quên là một bộ lọc – Hardt nói – Quên giúp lọc đi những thứ mà não thấy là không quan trọng”.

Vài năm gần đây, cuối cùng thì người ta cũng chịu thực hiện một số thí nghiệm để tìm hiểu về bản chất của bộ lọc này.

Engram và quên kiểu bị động

Ở loài có vú, ký ức cũng nhiều loại. Ký ức mới thường nằm ở hồi hải mã, ký ức cũ được lưu ở vỏ não. Nếu nhớ có nhiều loại thì quên cũng có nhiều dạng.

Thời trước, các lý thuyết về quên chủ yếu nhấn mạnh vào quá trình quên thụ động, coi mất ký ức là hậu quả của việc tự nhiên hỏng đi hay không sao truy cập được các dấu vết “bằng xương bằng thịt” của một số ký ức, gọi là các engram.

Quá trình quên bị động như thế có thể là do mối nối giữa các neuron chuyên mã hóa ký ức tự nhiên bị hỏng, do các neuron đó chết ngẫu nhiên, do hỏng hóc của những hệ thống thường ra vẫn giúp củng cố và ổn định ký ức mới, hoặc do mất đi những gợi ý chỉ dẫn về bối cảnh cũ… khiến khó mà lấy lại được một ký ức.

Tuy nhiên giờ đây, các nhà nghiên cứu đang quan tâm nhiều hơn tới các cơ chế quên chủ động, trong đó não chủ động xóa hoặc giấu đi các engram ký ức.

Quên nội tại – não chủ động quên

Năm 2017, người ta xác định được dạng một dạng quên chủ động gọi là quên nội tại, liên quan đến một tập hợp tế bào mà hai nhà thần kinh học Ronald Davis và Yi Zhong gọi là “các tế bào quên”; chúng chuyên tiết ra những chất làm thoái hóa các engram của tế bào “nhớ”.

Trong một thí nghiệm, Ronald Davis cho ruồi giấm ngửi một mùi hương và đem “chích” điện chúng. Khi cho ngửi lại mùi ấy vào lần thí nghiệm sau, lũ ruồi giấm bèn tránh xa do ký ức đã gắn liền với trải nghiệm giật điện kia: rõ ràng là chúng có trí nhớ.

Biết trong não ruồi giấm có một số tế bào liên tục tiết ra dopamine vốn là một chất vừa giúp hình thành ký ức vừa giúp xóa ký ức, Davis đã thử ngăn lại không để dopamine tiết ra ở não ruồi, và ông thấy trí nhớ của ruồi tăng lên gấp đôi trong thử nghiệm trên.

Nhóm của Davis giải thích như sau: ngay sau khi hình thành một ký ức mới thì cũng là lúc cơ chế quên nhờ dopamine bắt đầu xóa ký ức đó ngay. Ấy là do các tế bào luôn có khuynh hướng “bảo tồn”, phục hồi những thay đổi về cấu trúc, quay về trạng thái gốc trước khi bị hình thành các engram “vết hằn ký ức”.

May thay, não vẫn nhận ra có một số ký ức là quan trọng, thế là nó tung ra ngay một quy trình khác để củng cố, bảo tồn các engram ký ức quan trọng ấy.

Từ đó ta có sự cân bằng giữa cái nhớ vào với cái quên đi. Davis nhận thấy tính chủ động của não là ở đây: đâu đó trong não luôn có một thứ phán quan tỉnh táo, báo cho não biết ký ức nào đáng nhớ về lâu về dài, và ký ức ấy sẽ được “ghi đè” lên quy trình quên.???

Từ ruồi giấm chuyển sang chuột, năm 2016, nhà thần kinh học Zhong ở Bắc Kinh thấy trong các neuron hồi hải mã của não chuột có một chất tên là Rac1. Khi ức chế Rac1 thì ký ức được giữ lại lâu hơn, tới 120 tiếng thay vì 72 tiếng. Còn tăng hoạt chất Rac1 lên ký ức chỉ giữ lại được chưa tới 24 tiếng.

Tóm lại, cả Davis và Zhong đều cho rằng trong não có các quy trình thường xuyên xóa đi những ký ức vừa mới được hình thành. Những quy trình này là tự thân, do dopamine và Rac1 điều phối, và rất có thể là một cơ chế mặc định của não: cứ thế đều đặn và chầm chậm, bền bỉ xóa đi mỗi ký ức mới toanh. Để làm gì? Để lấy chỗ mà còn nhớ.

Neuron mới và ký ức cũ

Neurogenesis là quy trình sinh ra tế bào não mới. Trước kia người ta thấy, nếu trước khi học mà cho dùng các thuốc thúc đẩy neurogenesis thì dường như việc học hành có tốt hơn. Và nếu dùng thuốc ngăn lại quá trình neurogenesis ở hồi hải mã thì cũng cản trở luôn sự hình thành ký ức mới.

Nhưng hồi năm 2014, khi thí nghiệm trên chuột, nhà thần kinh học Paul Frankland (Đại học Toronto) đã thấy “có vấn đề”. Đầu tiên họ huấn luyện cho chuột bạch một nhiệm vụ để tạo nên ký ức trong não chuột.

Kế tiếp, họ dùng thuốc để thúc quá trình neurogenesis, xem thử các neuron mới sẽ ảnh hưởng thế nào đến cái ký ức “học hành” đã được lưu trữ kia. Một tháng sau, khi Frankland và cộng sự mang những con chuột ra thử, họ thấy những con dùng thuốc kích neurogenesis có trí nhớ tệ hơn hẳn so với những con không dùng thuốc.

Frankland ngờ rằng quy trình sinh neuron mới đã gây khó khăn cho việc gọi ra những ký ức trước đó được giữ trong hồi hải mã của não chuột.

Nói nôm na thì những mạch nối thần kinh được thêm vào ấy đã đè chồng lên mạch điện lưu giữ những ký ức cũ, làm hỏng các engram ký ức cũ, hoặc khiến cho khó mà tách ký ức cũ khỏi ký ức mới.

Người ta lại thấy khi kích thích quy trình neurogenesis ở đồi hải mã lên, ký ức mới bị ảnh hưởng nhưng ký ức lâu ngày có vẻ không sao.

Frankland giải thích rằng do những ký ức cũ đã được não “nhanh tay” chuyển sang lưu trữ ở vỏ não thành trí nhớ dài hạn. Như vậy quá trình neurogenesis ở đồi hải mã sẽ làm hỏng các ký ức trong vòng một tuần hơn là những ký ức có nhiều tháng, nhiều năm trước đó.

Vẫn còn nhiều thứ lù mù

Một trong những băn khoăn lớn của con người là ký ức. Khi ký ức bị quên dù vì bất kỳ cơ chế nào, chúng sẽ ra sao? Mọi dấu vết của chúng đều bị xóa đi sao? Hay chúng vẫn tồn tại dưới một dạng nào đó mà ta không “chạm” tới được? Ta có thể điều khiển được việc quên không?

Từ chục năm trước, hai vợ chồng nhà khoa học Robert Calin-Jagerman và Irina Calin-Jagerman vẫn nghiên cứu về sự hình thành ký ức ở loài sên biển. Đến năm 2017, họ đã chuyển sự chú ý sang việc quên của loài này.

Trong pha đầu của thí nghiệm, họ chích điện vào chỉ một bên thân sên biển. Kết quả, sên biển “học được” cách đáp ứng phản xạ ở nửa bên thân ấy.

Rồi họ để cho đám sên biển quên đi cái đáp ứng đã học được kia trong vòng một tuần, đến mức khi kích thích (bằng các tác nhân khác), hai nửa cơ thể của sên biển đã phản ứng đồng đều.

Tiếp đến họ lại đem sên biển ra chích điện một lần nữa, đồng đều hai bên thân. Họ thấy bên nửa thân từng bị chích điện có phản ứng nhiều hơn là bên nửa thân chưa bị chích trước đó.

Họ kết luận (nghe rất đơn sơ) rằng khác biệt này cho thấy một mảnh nào đó của ký ức vẫn còn tồn tại trong não con vật.

Và con vật đã thay đổi hành vi do hệ thần kinh của nó đã kịp mã hóa trải nghiệm đau đớn trước đó, đến nỗi sau cả một tuần dài, não sên vẫn chưa trở lại được trạng thái lúc chưa mang ký ức đau thương. Kết luận của họ (nghe có vẻ không liên quan) là: ký ức không phải cứ thế mà biến mất hoàn toàn.

Để tìm hiểu xem sau khi trải qua các quá trình quên thì cái gì còn sót lại, vợ chồng nhà Calin-Jagemans đã xem xét đến tận cơ cấu gene của sên biển, và đặc biệt chú ý tới khoảng 1.200 gene mà các nghiên cứu trước đó đã cho biết là có liên quan đến việc lưu trữ ký ức ở loài này.

Họ phát hiện trong số đó có 11 gene vẫn còn hoạt động ở một bên não của sên nhưng lại biến mất ở nửa não bên kia, ngay cả khi con sên về sau rõ ràng đã quên hẳn cú sốc điện.

Vì sao 11 gene này vẫn hoạt động tích cực và chức năng của chúng là gì thì chưa ai biết. Có thể chúng chính là những gene liên quan tới ký ức bị chích điện, hoặc lưu giữ các ký ức ấy hoặc tẩy xóa các ký ức ấy. Mọi thứ còn để ngỏ đó, đợi các thí nghiệm sau…

Ứng dụng gì ?

Biết rõ vai trò của các gene, các chất, các quy trình gây quên thì được gì? Thì ta có thể can thiệp và đảo ngược hoặc trì hoãn lại các bệnh mất trí nhớ, lú lẫn. Bên cạnh đó, tuy ta vẫn quen với quan niệm rằng quên là xấu, là đáng buồn, nhưng thực ra trong một số trường hợp quên lại là việc tốt.

Nếu can thiệp được vào các cơ chế quên, khoa học có thể giúp người ta quên đi những ký ức xấu dễ dàng hơn và nhớ những ký ức tốt được lâu hơn, thậm chí có thể dùng trong cai nghiện.

Davis, người nghiên cứu việc quên ở ruồi giấm, nói rằng tiềm năng của việc ứng dụng trong tương lai phụ thuộc hoàn toàn vào việc hiểu rõ tới đâu các cơ chế quên chủ động của não.

Nhưng theo ông, vẫn còn rất nhiều cơ chế mà khoa học chưa biết. Và giả dụ đến một ngày khoa học có thể chủ động làm người ta nhớ và quên, thì lúc đó lại vẫn phải đối diện với sự chặt chẽ của các nhà đạo đức học.

Theo nhà thần kinh học Paul Frankland, nếu ai đó bảo có thể cho người ta quên một cách chọn lọc (tức chọn ra ký ức gì cần xóa thì cho xóa) thì nghe cũng sợ thật; nhưng nếu có thể tạo ra một thứ thuốc gì đó để quên đi mọi việc một cách đồng đều thì sao? Trong một số trường hợp, theo Paul Frankland, vấn đề đạo đức là… không thành vấn đề.

DALMEET SINGH CHAWLA

Phạm Phong (lược dịch) / Theo TTCT