ĐẠO TRONG VÕ HỌC



Tác giả: Chu Tất Tiến
Nói về Đạo trong võ học, là nói về Đường lối, là Chân lý, là Giáo Dục. Võ học chính thống – cho dù võ Việt Nam, võ Nhật, võ Trung Hoa, Đại Hàn, hay bất cứ môn phái của dân tộc nào cũng có Đạo. Võ Học có năm Đạo: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Những năm đầu thập niên 60, khi tôi mới bước vào võ đường Nhu Đạo Judonam trên đường Chi Lăng, tôi rất hồi hộp, lo ngại vì không biết mình có đủ khả năng tập luyện hay không. Hồi đó tôi chưa đủ 50 kí lô, lại hay bị xây xẩm bất ngờ, trong khi thấy các sư huynh, sư muội quật nhau rầm rầm, nên hơi hoảng. Nhưng đồng thời tôi lại thấy kích thích, hào hứng vì nhìn những đàn anh đàn chị bay trên 5,7 người quỳ gối, lộn qua, lộn lại, té đằng trước, ngã đằng sau, trông thật đẹp mắt. Rồi những buổi đầu tiên tập luyện đã qua đi, tôi đã mê man với các thế tập và thấy rằng võ học thật tuyệt vời, để sau đó hào hứng ghi tên đi học luôn 12 buổi một tuần, sáng 2, 4, 6 học Judo, sáng 3, 5, 7, học Aikido, chiều 2, 4, 6 học Karate, chiều 3, 5, 7 học Jujitsu và Kendo.

 

 

Tôi say mê học võ để bị thương tật, gẫy cổ tay, gẫy lưng, rớt ngón tay ngón chân, quẹo cùi chỏ, bị mẹ đánh cho nhừ tử, đốt cả quần áo võ sinh. Tôi phải mượn quần áo của bạn để mặc, xin tiền Chị hai để đóng tiền học. Đau khổ nhất là tôi quên cả học chữ, nên thi Tú Tài Một rớt luôn hai kỳ, phải học lại một năm. Đến kỳ thi đầu năm sau, cũng rớt, bị mẹ đánh đòn, các anh chị la, tôi buồn quá, tính tự tử luôn cho rảnh nợ. Tôi leo lên nóc nhà hai tầng, ngồi trên đó, khóc một hồi, rồi toan nhẩy xuống, nhưng chợt trong đầu tôi nhớ lại lời thầy Nguyễn Bình dặn đi dặn lại: “Thắng không kiêu, bại không nản.” Tỉnh trí lại, tôi tàn tàn leo xuống, nghiến răng học như điên, và kỳ thi thứ hai, đậu rất cao. Bây giờ nghĩ lại, mới nghiệm thấy trong võ học có đạo, và điểm đầu tiên về Đạo trong võ học là “Thắng không kiêu, bại không nản.” Đó là một Đạo trong võ học.

Nói về Đạo trong võ học, là nói về Đường lối, là Chân lý, là Giáo Dục. Võ học chính thống, thì cho dù là võ Việt Nam, võ Nhật, võ Trung Hoa, Đại Hàn, hay bất cứ môn phái của dân tộc nào cũng có Đạo. Nói chung, Võ Học có năm Đạo: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

 

1-Trước hết, nói về chữ Nhân: “Nhân” có nghĩa là lòng thương người, trên căn bản Nhân đạo. Võ học chính thống luôn dậy người phải có lòng Nhân. Học võ không phải để hại người, để khoe tài, để kiêu căng, chà đạp người khác, mà học võ là để vừa Tự vệ vừa để bảo vệ người yếu đuối. Không một môn võ chính thống nào dậy võ sinh là học xong, các trò phải đi xưng hùng xưng bá, phải giết chết địch thủ như trong các phim chưởng, truyện chưởng mà chúng ta thường xem. Tất cả những điều đó chỉ là kết quả của sự tưởng tượng, nhất là đối với dân tộc Việt Nam chúng ta. Nếu lần giở lại lịch sử trên 4000 năm văn hiến, từ khi lập quốc đến nay, đến thời đại chúng ta, từ Nam, qua Trung, ra Bắc, chưa hề bao giờ nghe nói đến có những môn võ nào dậy đệ tử đi làm hại người cả. Ngược lại, chỉ thấy những môn võ rèn luyện môn sinh để giữ gìn đất nước, bảo vệ người cô thế. Đến khi những môn võ nước ngoài du nhập vào đất nước ta, cũng chỉ nghe nói đến chữ “Nhân” trong võ học. Các đòn thế đấm, đá, vật, xiết cổ, đè, quăng, ném đều hạn chế người xử dụng tới một điểm nào đó. Những cú đánh kết liễu chỉ được dành cho các môn sinh ở trình độ cao, có thể tự điều khiển được mình rồi, mới được học cách xử dụng, với lời căn dặn là “chỉ khi nào nguy cấp, không còn cách tự vệ nào khác, mới được áp dụng đòn hiểm để thoát thân.” Do đó, từ cả trăm năm nay, không mấy ai nghe nói đến có những trường hợp tử vong chỉ vì người xử dụng võ thuật nóng giận, đấm đá kẻ địch đến chết hoặc chết vì thách đấu.

2- Chữ Nghĩa: Một khi nói đến chữ “Nghĩa”, người ta thường nghĩ ngay đến “Nghĩa hiệp” và “hành hiệp trượng nghĩa”. Mà muốn hành hiệp trượng nghĩa, cứu khổn phò nguy, thì phải biết võ nghệ. Do đó, võ học đi liền với “nghĩa”. Người học võ thường thích ra tay nghĩa hiệp. Giữa đường thấy chuyện bất bằng là phải ra tay ngay. Nghĩa còn dậy chúng ta phải biết trả ơn một khi đã nhận ơn. Người học võ thường không bao giờ muốn nợ ai mà không trả. Nhất là nghĩa Thầy, Cô, nghĩa Sư Phụ, Đệ Tử. Học chữ có thể quên Thầy, nhưng học võ thì không bao giờ có thể không nhớ ơn Thầy đã nắm tay, cầm chân, chỉ cho một thế đá, thế đấm, không thể quên lời Thầy dặn dò, chỉ bảo, hoặc gắt mắng chỉ vì lo cho môn sinh mau tiến bộ, mà lại không gây thương tích cho chính mình hoặc cho người khác.

 

3- Chữ Lễ: Lễ là hình thức cư xử giữa môn sinh và Thầy Cô, giữa các môn sinh với nhau, giữa môn sinh của môn phái này và môn phái khác. Lễ được thể hiện ngay ở cách chào kính, bái tổ trước khi bước ra sân đấu. Tùy theo môn phái, mà cách chào kính, bái tổ khác nhau, thường thì bái Tổ sư, kính Thầy, chào bạn, có môn phái chào cả khán giả, có môn phái lại chào cả nơi chốn mà mình tập luyện, song đấu nữa. Trong môn phái Nhu Đạo, khi thi lên đẳng cấp đai đen, ngoài thi song đấu, thi kỹ thuật còn thi Lễ nữa. Các võ sinh đai đen phải di chuyển từng bước chân, từng cử động thật chậm đúng Lễ Nghi, đúng phong thái mới được trao bằng.

Chữ Lễ trong võ học còn dậy các môn sinh quy củ trường tập, kính trên nhường dưới. Lễ dậy cách bảo vệ danh dự của Môn phái, bảo vệ danh dự cho nhau. Người đã tập võ chân chính càng ngày càng cung kính, nhún nhường, không cao ngạo, không tự phụ, khoe khoang, không biểu diễn võ công khi không cần thiết. Chữ “Lễ” trong Võ học được trọng kính và áp dụng hơn rất nhiều chữ lễ trong khi học chữ. Người Thầy trong Võ học khi xưa còn có quyền sinh sát với môn sinh hơn cả cha mẹ nữa cũng chỉ vì chữ “Lễ”.

4- Chữ Trí: Người học võ nhất định phải học những cách phản công, xử thế trong các trường hợp ngặt nghèo. Môn võ nào cũng dậy cách biến hóa, phản đòn, nghĩa là dậy các môn sinh dùng Trí tuệ đi kèm theo Võ thuật. Không có Trí, võ chỉ là những đòn hùng hục như trâu, gặp đối thủ lanh lợi thì nhừ đòn. Trí trong các môn võ học chính thống không phải là lường gạt, mưu mô, mặc dù có đòn hư, đòn giả. Người võ sinh chính nhân quân tử chỉ dùng Trí để không cho địch thủ biết mình định xủ dụng đòn nào thật, đòn nào giả. Những cạm bẫy để lừa gạt người không phải là Trí mà chỉ là phương pháp tiểu nhân mà thôi. Ngoài ra, các môn võ chân chính cũng dậy môn sinh phải biết suy nghĩ để cho võ thuật được xử dụng đúng lúc và đúng cách hầu đúng với câu :Một trí tuệ minh mẫn trong một thân thể tráng kiện.

5- Chữ Tín: Không cần phải giải thích nhiều, ai cũng hiểu, người có võ học luôn biết giữ chữ Tín của Người Anh Hùng, đã nói là làm, đã hứa là phải giữ lời. Người có chữ Tín thà chết không để cho danh dự bị xúc phạm vì nói mà không giữ lời. Trong chiến tranh, đã biết bao võ sinh hy sinh thân mình chỉ vì một chữ Tín với Giang Sơn, Tổ Quốc.
Tóm lại, nói đến Võ Học là nói đến Đạo, đến Lễ Nghĩa, Trung Tín, đến Danh Dự, đến lòng Nhân Từ và Trí Tuệ. Võ học không chỉ là tay đấm, chân đá, quật, vật, ném, tung mà là cả một hệ thống Đạo trầm ẩn, thâm sâu. Người học võ thâm thúy cũng như người tu đạo.

 

Cho nên, khi nhìn một vị Tôn Sư thật sự, chúng ta tự nhiên thấy kính nể, vì những ưu trầm của Đạo đã thể hiện lên khuôn mặt cũng như một vị tu hành đã thành chánh quả. Không khắc khổ, cau có, không giận bùng, không buồn bã. Chỉ cất tiếng Sư Tử Hống để áp đảo địch thủ, chứ không nổi giận gào thét bất thường. Chỉ ra tay vũ bão để giảm nhẹ đau thương, chứ không biểu diễn, dậm dọa người cô thế. Võ học cao quý như thế nên võ học chính thống càng ngày càng thịnh. Những thế võ quái đản, hại người, hại thân như của Nhạc Bất Quần, Đông Phương Bất Bại như trong chuyện Chưởng thì tự nhiên dần dần tàn lụi.

Những người Bình Dương thi cử đỗ đạt dưới thời triều Nguyễn


Huỳnh Ngọc Đáng

Địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay gần như nằm gọn trong địa hạt của 3 huyện là Bình An, Nghĩa An và Phước Chánh của trấn Biên Hòa (sau này là tỉnh Biên Hòa) thời triều Nguyễn. Tuy nhiên, có một số vùng đất là các thôn của ba huyện trên, ngày nay đã không thuộc địa bàn tỉnh Bình Dương mà thuộc huyện Công Thanh và thành phố Biên Hòa của tỉnh Đồng Nai hoặc thuộc Thủ Đức của TP.HCM.

Ngược lại, vùng Dầu Tiếng hiện nay của Bình Dương vốn xưa thuộc tổng Dương Hòa của Gia định nay là TP.HCM. Do tình hình phân chia địa giới hành chính có thay đổi như vậy nên khi tìm hiểu về những người của đất Bình Dương thi cử và đỗ đạt dưới thời Nguyễn có những khó khăn nhất định. Việc xác định đúng quê hương bản quán của vị cử nhân, tú tài hay tiến sĩ nào đó ở đâu, nhất thời dễ dàng có những sai lệch để dẫn đến tình hình, hoặc vơ hết những người đỗ đạt ở nơi khác về thành người Bình Dương, hoặc bỏ sót, không kể đến những người đỗ đạt vốn là người Bình Dương do không xác định đúng quê quán.
Cũng như cả vùng Nam kỳ lục tỉnh, 3 huyện trên đều là vùng đất mới, đương thời dân chúng mới định cư, lại trải qua nhiều binh đao chiến loạn nên cuộc sống chưa hẳn đã ổn định và phồn thịnh, việc học của con em chắc chắn còn nhiều hạn chế. Có lẽ một phần do vậy nên trong tổng số 558 vị tiến sĩ cả nước của triều Nguyễn, qua 30 khoa đình thí, từ thời Minh Mạng đến Thành Thái, thì Nam kỳ lục tỉnh chỉ có vẻn vẹn 5 người. Đó là các ông Phan Thanh Giản (đỗ đại khoa năm 1826) quê tỉnh Vĩnh Long; Đinh Văn Minh (đỗ năm 1835) quê tỉnh Định Tường; Phan Hiển Đạo (đỗ năm 1856) quê Định Tường; Nguyễn Chánh (đỗ năm 1862) quê tỉnh Gia Định và Nguyễn Trọng Tỉnh (đỗ năm 1916) cũng quê Gia Định. Tỉnh Biên Hòa (có ba huyện là địa bàn Bình Dương hiện nay) không có vị  nào đỗ đạt tiến sĩ.
Tuy nhiên, qua các tài liệu triều Nguyễn, ta không khỏi ngạc nhiên và tự hào khi thấy có khá nhiều nhưng người Bình Dương đã học hành thi cử và đỗ đạt ở cấp thi Hương, thậm chí có những vị đã đỗ cử nhân khá sớm. Phép thi Hương thời triều Nguyễn tuy có nhiều thay đổi dưới các đời vua, hoặc có nhiều biệt lệ nhưng nhìn chung thí sinh phải vượt qua cả 4 lần thi mới được lấy đỗ cử nhân; chỉ đỗ 3 lần thì gọi là tú tài. Danh sách các cử nhân triều Nguyễn là người Bình Dương hiện nay có các vị như sau:
1. Huỳnh Văn Tú, người thôn Tân Hội, huyện Phước Chánh nay là xã Thạnh Hội, huyện Tân Uyên; thi đỗ năm 1819, trường thi Gia Định, khoa năm Kỷ Mão Gia Long thứ 18. Làm quan triều Nguyễn đến chức Bố Chánh, đứng đầu tỉnh Cao Bằng. Đây là người đỗ đạt sớm nhất.
2. Phạm Tuấn, người thôn Bình Trúc, huyện Phước Chánh, nay là xã Bạch Đằng, huyện Tân Uyên thi đỗ năm 1821, trường thi Gia Định, khoa năm Tân Tỵ, Minh Mạng năm thứ 2. Tài liệu không ghi có ra làm quan hay không, chức vụ gì, ở đâu…
3. Nguyễn Văn Trị, người thôn Linh Chiếu, huyện Nghĩa An nay thuộc xã Đông Hòa, huyện Dĩ An. Thôn Linh Chiểu xưa, qua địa bạ lập thời Minh Mạng cho thấy phần lớn diện tích thuộc xã Đông Hòa ngày nay chứ không thuộc Thủ Đức; thi đỗ năm 1837, trường thi Gia Định, khoa năm Đinh Dậu, Minh Mạng thứ 15 Tài liệu cũng không ghi làm quan tới cấp chức gì.
4. Nguyễn Văn Toại, người thôn Linh Chiếu Đông, huyện Nghĩa An nay thuộc thị trấn Dĩ An, huyện Dĩ An thi đỗ năm 1841, năm Tân Sửu, Thiệu Trị nguyên niên, cũng tại trường thi Gia Định. Tài liệu không ghi quan chức gì.
5. Nguyễn Duy Doãn, người thôn Tân An, huyện Bình An nay là xã Tân An, thị xã Thủ Dầu Một; thi đỗ năm Nhâm Dần (1842), Thiệu Trị năm thứ hai tại trường thi Gia Định. Làm quan tới chức Biện lý bộ Hộ (như vụ trưởng hiện nay), sau sung chức Điển Nông Phó Sứ Cùng khoa này còn có:
6. Nguyễn Quang Khuê, người thôn Bình Phú, huyện Nghĩa An nay là xã Vĩnh Phú, huyện Thuận An; làm quan tới chức Ngự sử.
7. Phạm Văn Trung, người thôn Linh Chiếu, huyện Nghĩa An nay là xã Đông Hòa, huyện Dĩ An thi đỗ năm Quý Mão (1843), Thiệu Trị năm thứ 3, cũng tại trường thi Gia Định; làm quan tới chức Đốc học An Giang. Cùng khoa này còn có một người nữa là:
8. Trần Văn Học, cũng người thôn Linh Chiếu, huyện Nghĩa An; làm quan tới chức Tri huyện (không ghi rõ huyện nào), sau bị cách chức. Cùng thôn Linh Chiếu còn có:
9. Hồ Văn Phong, thi đỗ năm Đinh Mùi (1847), Thiệu Trị năm thứ 7; làm quan tới chức Tri phủ (không ghi rõ địa phương làm quan).
10. Nguyễn Khiêm Hanh, người thôn Tân Uyên, huyện Phước Chánh, nay làthị trấn Uyên Hưng, huyện Tân Uyên; thi đỗ năm Kỷ Dậu (1849), Tự Đức năm thứ hai; làm quan tới chức án sát (như Phó Tỉnh trưởng). Theo tài liệu ghi, năm này vì xảy ra dịch bệnh nên các địa phương khác đều hoãn đến năm sau mới tổ chức thi Hương, chỉ có trường Gia Định là vẫn tổ chức thi. Đặc biệt, tài liệu cũng ghi rõ người em ruột của Nguyễn Khiêm Hanh cũng đã thi đỗ trong khoa này, đó là:
11. Nguyễn Khiêm Trinh, quê Tân Uyên, là em ruột và đỗ cùng khoa với Nguyễn Khiêm Hanh, làm quan Đốc học, không rõ tỉnh nào.
12. Võ Xuân, người thôn Tân Thuận, huyện Phước Chánh nay là xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên; thi đỗ năm Giáp Tý (1864), Tự Đứcthứ 17 tại trường thi An Giang. Năm này, 3 tỉnh miền Đông đã thuộc về thực dân Pháp nên không còn trường thi Gia định, triều Nguyễn mở thêm trường An Giang cho sĩ tử cả Nam kỳ. Võ Xuân làm quan tới chức Chủ sự bộ Lại (như Chánh văn phòng Bộ).
Từ năm này về sau, chiến tranh loạn lạc, cả Nam kỳ lục tỉnh sau đó rơi vào tay Pháp, các sĩ tử phương Nam muốn thi Hương phải ra Bình Thuận. Kiểm lại tài liệu ghi chép không thấy người nào quê Bình An, Nghĩa An, Phước Chánh (tức thuộc địa bàn Bình Dương hiện nay) thi đỗ. Danh sách có thể chỉ có 12 người như trên.
Qua bảng danh sách 12 vị cử nhân, có thể có một số nhận xét sau đây:
– Phần đông 12 vị đỗ đạt trên đều có quê là vùng ven sông Đồng Nai và vùng giáp ranh Gia định. Trong danh sách các cử nhân thời Nguyễn nếu tính thêm những vị quê huyện Phước Chánh những tả ngạn sông đồng Nai, nay thuộctỉnh Đồng Nai thì số lượng tăng gần gấp Đôi. Còn nếu tính thêm những vị quê thuộc Nghĩa An nhưng nay thuộc địa bàn Thủ Đức thì số lượng còn tăng đáng kể. Điều đó cho thấy sự học chỉ phát triển ở những vùng cư dân định cư trước, sớm có cuộc sống ổn định và kinh tế- xã hội đã phát triển nhất định. Điều này giúp cho giới nghiên cứu sử học của Bình Dương nhận thức thêm về diễn tiến của quá trình định cư và phát triển kinh tế – xã hội của di dân người Việt trên vùng đất Bình Dương. Thời nào cũng vậy, có an cư mới lạc nghiệp; phải an cư lạc nghiệp mới có học hành thi cử và việc học phải phát triển đến trình độ nào đó mới có người thi cử đỗ đạt, thành danh.
– Danh sách những người đỗ đạt cho thấy đội ngũ trí thức ban đầu của vùng đất này hầu hết đều xuất thân từ vùng nông thôn. Đó là những vùng thâm canh lúa và trồng mía như hai Cù lao Rùa và Cù lao Bạch Đằng; đó là các vùng canh tác cây ngắn ngày và khai thác lâm sản vùng ven các thị tứ… Chỉ có hai anh em Nguyễn Khiêm Hanh và Nguyễn Khiêm Trinh là xuất thân dân chợ, có thể gia đình khá giả nhờ buôn bán ở chợ Đồng Sứ (chợ Tân Uyên), còn lại đều là con em nông dân, điền chủ. Những thị tứ nổi tiếng như chợ Phú Cường, ly sở của huyện Bình An, chợ Tân Hoa (hay chợ Tân Ba, còn gọi là Đồng Ván), chợ Bình Nhan Thượng, ly sở của huyện Nghĩa An đều chẳng có một ai đỗ đạt. Nói cách khác, có thể suy luận rằng, việc học Bình Dương ban đầu không phải thịnh hành, phát triển ở thị tứ mà ngược lại, ở vùng nông thôn truyền thống, nơi người Việt định cư sớm và ở đó truyền thống học hành cũng sớm hình thành. Nguồn gốc xuất thân nông thôn của trí thức Bình Dương thời Nguyễn đã vậy, các thời sau này cũng có đặc điểm như vậy. Đây là đặc điểm đáng lưu ý khi nghiên cứu lịch sử nhân văn vùng đất Bình Dương.
– Danh sách và nhân thân của 12 vị cử nhân đầu tiên của đất Bình Dương còn cho thấy những trí thức ban đầu của đất Bình Dương đã đi khắp mọi vùng Tổ quốc, đem đạo học cống hiến cho nhân dân. Người ra tận Cao Bằng, vùng biên giới Việt – Trung xả thân giữ gìn từng tấc đất biên cương; người ra kinh thành làm tròn phận sự kẻ sĩ; người làm đốc học ở địa phương xa nhà; người tham gia bộ máy chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện, người làm quan chăm sóc việc nông tang… Họ làm tốt mọi việc gì mà chính quyền đương thời phân công; người gặp thời chức trọng quyền cao, người không gặp thời an nhàn thư họa nơi điền viên bản quán… nhưng tất cả đều cố gắng giữ tròn đạo học, đạo làm người của kẻ sĩ.
Từ sau khi ba tỉnh miền Đông mất vào tay Pháp, kẻ sĩ Bình Dương đương thời đã vắng bóng ở các trường thi. Nước mất nhà tan, trí thức Nho học đương thời của Bình Dương chọn con đường đi với nhân dân mà từ bỏ hẳn quan trường. Đạo học đất này phát xuất từ nhân dân, hình thành từ vùng nông thôn và khi thời loạn đạo học ấy thôi thúc kẻ sĩ Bình Dương đương thời gắn bó với nhân dân. Đạo lý đó của trí thức Bình Dương luôn tỏa sáng trong mọi thời, mọi lúc, bất chấp mọi thăng trầm của thế cuộc. Đây là ngọn nguồn truyền thống cách mạng của trí thức Bình Dương.
Tìm hiểu về những người đỗ đạt đầu tiên của đất Bình Dương cũng chính là từng bước nghiên cứu về đội ngũ tri thức Bình Dương và từng bước phác họa chân dung những nhân vật lịch sử của vùng đất vốn sản sinh nhiều anh hùng, hào kiệt và cũng là nơi hội tụ của những hào kiệt, anh hùng từ khắp nơi.
Công việc này hầu như chỉ mới bắt đầu, rất cần sự chung tay góp sức của nhiều người. Ngay cả bài viết này cũng cần được quan tâm góp ý của nhiều người để chính xác và hoàn thiện hơn.
H.N.Đ
Tài liệu tham khảo:
1.    Cao Xuân Dục; Quốc triều Hương khoa lục; NXB.TP.HCM. 1993.
2.    Cao Xuân Dục; Quốc triều Khoa bảng lục; NXB Văn học. 2001.
3.    Nguyễn Đình Đầu; Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn- Biên Hòa; NXB. TP.HCM. 1994.
4.    Huỳnh Ngọc Đáng (chủ biên); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Dương (193-1975); NXB Chính trị Quốc gia. 2002.