[NDTBD] Một ngày mới đầy năng lượng


Trung tâm thương mại Thế giới Thành phố mới Bình Dương tầm nhìn của “Trí thức – Kết nối – Sáng tạo”


Hơn một năm sau khi được công bố, Dự án Trung tâm thương mại Thế giới Thành phố mới Bình Dương (WTC BDNC) đã khẳng định được vị trí, vai trò và tầm ảnh hưởng của mình đối với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Dương. “Siêu” dự án với tầm nhìn “Trí thức – kết nối – sáng tạo” sẽ là đòn bẩy để Bình Dương hội nhập và phát triển mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy dịch vụ thương mại chất lượng cao và giao thương quốc tế.

Sáng tạo hoạt động giữa đại dịch Covid-19

Trung tâm Thương mại Thế giới Thành phố mới Bình Dương có bốn nhiệm vụ trọng tâm: Kết nối giao thương; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển dịch vụ thương mại chất lượng cao và giao thương quốc tế; phát triển bất động sản. Trong năm 2020 vừa qua, mặc dù tình hình dịch Covid-19 diễn ra hết sức căng thẳng, ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động triển lãm, hội nghị, hội thảo, tuy nhiên WTC BDNC vẫn thực hiện tốt chức năng của mình bằng cách nhanh chóng chuyển đổi mô hình hoạt động từ “trực tiếp” sang “trực tuyến” ngay từ những ngày đầu năm.

Trung tâm thương mại Thế giới Thành phố mới Bình Dương tầm nhìn của “Trí thức - Kết nối - Sáng tạo”
Đồng chí Trần Văn Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy, Trưởng Đoàn Đại biểu quốc hội tỉnh Bình Dương (thứ hai từ trái qua) trao quà lưu niệm cho ông Scott Wang, Phó chủ tịch WTCA phụ trách thị trường châu Á – Thái Bình Dương tại lễ công bố WTC BDNC.

Thời gian vừa qua, WTC BDNC đã triển khai được 16 cuộc hội thảo, hội nghị trực tuyến chất lượng với các đối tác, các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Các chương trình đã thu hút hơn 2000 khách tham dự, trong đó có khoảng 100 khách hàng tiềm năng. Ông Nguyễn Văn Hùng, Chủ tịch HĐQT Tổng công ty Becamex IDC (đơn vị quản lý vận hành WTC BDNC) cho biết: “Trong năm 2020, chúng tôi đã tổ chức khá nhiều hoạt động với nội dung phong phú, thiết thực. Điển hình như cung cấp các thông tin thương mại quốc tế thiết yếu, các chính sách để có thể tham gia vào thị trường châu Âu sau Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), kết nối giao thương với các doanh nghiệp trong và ngoài nước, tư vấn chiến lược kết nối toàn cầu cũng như phát triển xây dựng thương hiệu quốc tế…”.

Dù trong điều kiện dịch bệnh diễn biến phức tạp, các hoạt động trực tuyến của WTC BDNC đã tìm kiếm, kết nối được nhiều khách hàng tiềm năng ở các nước và vùng lãnh thổ phát triển trên toàn cầu như: Nhật Bản, Hà Lan, Singapore, Mỹ, Đức; Hồng Kông, Đài Loan (Trung Quốc)… Với cách làm nhạy bén, sáng tạo của mình, WTC BDNC tổ chức được nhiều hoạt động giao thương hiệu quả, thu hút hàng ngàn doanh nghiệp và tạo ra các chuỗi giao dịch tiếp theo để các liên doanh, liên kết phát triển kinh tế.

Trung tâm thương mại Thế giới Thành phố mới Bình Dương tầm nhìn của “Trí thức - Kết nối - Sáng tạo”
Webinar thu hút đầu tư giữa tỉnh Bình Dương và Emilia Rogmana.

Từ đầu năm 2020 đến nay, WTC BDNC triển khai nhiều chương trình ấn tượng, mang thương hiệu đổi mới sáng tạo của tỉnh Bình Dương. Các chuỗi hội thảo trực tuyến về thương mại, công nghệ đã tăng thêm uy tín, tầm ảnh hưởng của WTC BDNC trong Hiệp hội Trung tâm thương mại thế giới (WTCA) và khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Các hoạt động kết nối với cộng đồng doanh nhân, doanh nghiệp trong và ngoài nước về thương mại quốc tế cũng như các công nghệ mới. Đây là một thành công ngoài mong đợi trong điều kiện dịch bệnh hiện nay đối với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của tỉnh Bình Dương.

Tầm nhìn của “trí thức-kết nối-sáng tạo”

Dự án xây dựng “Vùng đổi mới sáng tạo Bình Dương – Binh Duong Innovation Region”, được lãnh đạo tỉnh Bình Dương công bố tháng 9-2020 và lấy Thành phố mới Bình Dương, TP Thủ Dầu Một làm trung tâm, với WTC BDNC là hạt nhân. Do vậy, tầm nhìn “trí thức-kết nối-sáng tạo” là một điểm đến mới và là nơi tập trung các chuyên gia hàng đầu về khoa học, kinh tế, chính trị trong và ngoài nước. Đến WTC BDNC, các doanh nghiệp, nhà khoa học, chính trị gia sẽ được chia sẻ hiệu quả về tri thức, công nghệ, lý luận, kết nối với WTCA toàn cầu và góp phần đối mới sáng tạo trong khu vực.

Trao đổi với chúng tôi trong dịp Tết Tân Sửu, đồng chí Trần Văn Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư tỉnh ủy tỉnh Bình Dương nói rằng: “Chúng tôi mong muốn WTC BDNC sẽ là một nhân tố quan trọng, đánh dấu giai đoạn phát triển mới của tỉnh. Thông qua hoạt động giao thương quốc tế, sẽ thúc đẩy phát triển nền kinh tế dịch vụ thương mại, phát triển và nâng tầm nguồn nhân lực, cũng như gián tiếp tăng sự thu hút và góp phần nâng cao giá trị bất động sản ở khu vực Thành phố mới Bình Dương, đáp ứng tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần cho người dân, doanh nghiệp”.

Trung tâm thương mại Thế giới Thành phố mới Bình Dương tầm nhìn của “Trí thức - Kết nối - Sáng tạo”
Webinar giới thiệu nền tảng thu hút đầu tư trực tuyến O2O.

Trên thực tế, việc tập trung phát triển WTC BDNC chính là chiến lược thực thi cụ thể, nhằm đẩy mạnh xây dựng thành phố thông minh Bình Dương (giai đoạn 2021-2026) và phát triển vùng đổi mới sáng tạo trong tương lai. Từ đó, WTC BDNC sẽ tạo ra đòn bẩy để thúc đẩy và xây dựng nền tảng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và rộng hơn là văn hóa đổi mới sáng tạo bền vững cho địa phương, tạo môi trường hấp dẫn cho các dự án khởi nghiệp, các công ty công nghệ và tham gia hiệu quả vào các tổ chức kinh tế lớn trên thế giới.

Trung tâm thương mại Thế giới Thành phố mới Bình Dương tầm nhìn của “Trí thức - Kết nối - Sáng tạo”
Trung tâm triển lãm WTC Expo đang trong giai đoạn hoàn thiện để đưa vào sử dụng.

Để chuẩn bị cho các bước phát triển tiếp theo, trong quý IV-2020, Trung tâm triển lãm quốc tế với tên gọi là WTC EXPO và tòa nhà WTC đã được tiến hành xây dựng. Theo kế hoạch đề ra, các công trình này sẽ hoàn thành trong tháng 2-2021 và trở thành một khu vực triển lãm được quản lý, vận hành theo tiêu chuẩn quốc tế trên diện tích 22.000 m2 (trong đó có 12.000 m2 là diện tích triển lãm trong nhà, có thể đón tiếp cùng lúc khoảng 8.000 khách). Từ năm 2021, các chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước cho các lĩnh vực trọng điểm tại tỉnh Bình Dương, cũng như các khu vực kinh tế trọng điểm sẽ được tổ chức tại đây. Bên cạnh đó, tòa cao ốc WTC có quy mô 30 tầng sẽ nhanh chóng hoàn thành sau 18 tháng xây dựng, thu hút các doanh nghiệp hàng đầu đến giao thương và làm việc.

Dự kiến trong năm 2021, khu vực vòng xoay trung tâm của WTC BDNC sẽ tiến hành khởi công xây dựng, nhằm hoàn thiện một khu vực phức hợp rộng 163.000 m2. Đây chính là một điểm đến mới cho các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của vùng. 

Một mùa xuân đã đến với đất nước ta và tỉnh Bình Dương. Hy vọng vùng Đổi mới sáng tạo Bình Dương với hạt nhân là WTC BDNC sẽ hình thành và phát triển mạnh mẽ, đúng như nhận định của ông Michael Croft – Trưởng Văn phòng UNESCO tại Hà Nội: “Với tiềm năng, thế mạnh và quyết tâm cao của mình, tỉnh Bình Dương sẽ xây dựng thành công dự án đổi mới sáng tạo, xây dựng thành phố thông minh, tạo động lực để phát triển mạnh mẽ cho hiện tại và tương lai”.

Bài, ảnh: PHÚ HƯNG / Theo QDND

Vì sao Bình Dương được vinh danh thành phố thông minh tiêu biểu?


Lần thứ hai liên tiếp, Bình Dương được vinh danh là một trong các đô thị có chiến lược phát triển thành phố thông minh tiêu biểu thế giới năm 2020. Điều gì đã giúp Bình Dương đạt được thành tích này?

Vì sao Bình Dương được vinh danh thành phố thông minh tiêu biểu? - Ảnh 1.
Phối cảnh Trung tâm thương mại thế giới tại Thành phố mới Bình Dương sẽ trở thành một khu phức hợp kết nối giao thông, văn phòng, dịch vụ… – Ảnh: B.C.M.

Vừa qua, tại thành phố New York (Mỹ), Diễn đàn Cộng đồng thông minh thế giới (ICF) đã công bố danh sách 21 địa phương, khu vực được vinh danh là đô thị có chiến lược phát triển thành phố thông minh tiêu biểu của thế giới năm 2020.

Việt Nam có một đô thị được vinh danh trong danh sách này. Đáng lưu ý, đây là năm thứ hai Bình Dương được lọt vào danh sách Smart 21 (lần đầu tiên là năm 2019).

Chiến lược mới để thu hút đầu tư 

“Vùng thông minh Bình Dương” là một thuật ngữ được sử dụng thời gian gần đây, gắn với đề án xây dựng “thành phố thông minh” đã được Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Dương thông qua. Vùng thông minh Bình Dương lấy nòng cốt là một số địa phương phát triển kinh tế xã hội mạnh của tỉnh, được quy hoạch bài bản, gồm: thành phố Thủ Dầu Một (bao gồm cả khu vực “thành phố mới”), thị xã Dĩ An, Thuận An, Tân Uyên, Bến Cát.

Đề án thành phố thông minh Bình Dương được khởi động từ năm 2016, là một nội dung cụ thể để thực hiện các chương trình phát triển đột phá của tỉnh. Đề án này lấy nòng cốt là xây dựng mối tương tác giữa “ba nhà” gồm: nhà nước – nhà khoa học (trường, viện nghiên cứu) – nhà doanh nghiệp. 

Đề án phát triển của Bình Dương được sự phối hợp, hỗ trợ của thành phố kết nghĩa là Eindhoven, Hà Lan. Đồng thời, tỉnh Bình Dương cũng mở rộng hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế và các thành phố phát triển khác của thế giới như Hiệp hội Đô thị khoa học công nghệ thế giới, thành phố Daejeon (Hàn Quốc)…

Ý tưởng hình thành “thành phố thông minh Bình Dương” cũng chính là sự thể hiện khát khao vươn lên mạnh mẽ của các thế hệ lãnh đạo, chính quyền, doanh nghiệp và người dân Bình Dương. 

Đó là câu chuyện sau hơn 20 năm thu hút thành công vốn đầu tư nước ngoài (Bình Dương liên tục dẫn đầu cả nước, hiện đứng thứ ba toàn quốc, chỉ sau TP.HCM, Hà Nội), giai đoạn hiện nay Bình Dương lựa chọn thu hút vào các lĩnh vực khoa học công nghệ cao, mang lại năng suất lao động và giá trị lớn hơn. 

Đồng thời, với thế mạnh phát triển hạ tầng, quy hoạch bài bản; đề án thành phố thông minh còn tìm kiếm những giải pháp nhằm tăng cường tiện ích tốt hơn để phục vụ cho cuộc sống của người dân…

Vì sao Bình Dương được vinh danh thành phố thông minh tiêu biểu? - Ảnh 2.
Với việc quy hoạch và thu hút đầu tư bài bản, Bình Dương liên tiếp được vinh danh là đô thị có chiến lược thành phố thông minh tiêu biểu thế giới. Hình tuyến đường Mỹ Phước – Tân Vạn kết nối TP.HCM – Bình Dương – Ảnh: QUANG ĐỊNH

Những dự án cụ thể 

Với việc liên tiếp được vinh danh trong danh sách thành phố thông minh tiêu biểu thế giới, đề án thành phố thông minh Bình Dương tới nay đã định hình rõ chiến lược phát triển và đã có những dự án cụ thể được khởi động.

Dự kiến vào tháng 11-2019, trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á (HORASIS) 2019 tổ chức tại Bình Dương, cơ quan chức năng sẽ chính thức công bố xây dựng Trung tâm thương mại thế giới tại thành phố mới Bình Dương (WTC BDNC). Đây là dự án tầm cỡ, được kỳ vọng sẽ mang lại sự thay đổi  đột phá cho thành phố mới – được quy hoạch là hạt nhân của “vùng thông minh Bình Dương”.

Trung tâm thương mại thế giới tại Bình Dương được quy hoạch trên khu đất rộng gần 24ha, hiện đã có sẵn mặt bằng liền kề Trung tâm hành chính tập trung tỉnh Bình Dương. Trung tâm này sẽ kết nối giao thông tuận tiện với các vùng của tỉnh Bình Dương và kết nối với TP.HCM (dự kiến nhà ga trung tâm của các tuyến buýt nhanh, metro cũng sẽ được đặt tại đây). 

Trung tâm còn bao gồm nhiều công trình phức hợp như tòa nhà văn phòng, triển lãm hội nghị, khu mua sắm, khách sạn, giải trí… 

Ngoài ra, trung tâm còn xây dựng “hạ tầng mềm” khi tạo môi trường kết nối, hình thành nên các chương trình kết nối giao thương, hợp tác giữa các nhà đầu tư, doanh nghiệp, các nhà khoa học, sinh viên…

Vừa qua, Hiệp hội Trung tâm thương mại thế giới (WTCA) đã công bố kết nạp Trung tâm thương mại thế giới tại Thành phố mới Bình Dương trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội này. Với việc là thành viên chính thức của WTCA – một tổ chức hiện có 330 thành viên đến từ 100 quốc gia, có hơn 1 triệu doanh nghiệp tham gia – Bình Dương có nhiều cơ hội để thúc đẩy sự hợp tác quốc tế, tạo cầu nối, môi trường để doanh nghiệp trong nước làm ăn với các đối tác trên toàn cầu. 

Vì sao Bình Dương được vinh danh thành phố thông minh tiêu biểu? - Ảnh 3.
Vị trí Trung tâm thương mại thế giới tại Thành phố mới Bình Dương liền kề trung tâm hành chính tỉnh, hiện đã có quỹ đất sạch – Ảnh: B.C.M.

Sôi nổi hoạt động

Với việc liên tiếp có tên trong danh sách “Smart 21” do Diễn đàn Cộng đồng thông minh thế giới (ICF) bình chọn, Bình Dương được cộng đồng quốc tế quan tâm, tìm hiểu các cơ hội đầu tư. ICF là một tổ chức quốc tế uy tín, tới nay đã có hơn 180 thành viên là các đô thị thông minh, thịnh vượng khắp thế giới. 

Dự kiến từ ngày 23 đến 26-11-2019, tại Bình Dương sẽ diễn ra Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á (HORASIS) 2019 với sự tham dự của 400 khách mời cao cấp đến từ 60 quốc gia trên thế giới, cùng hàng trăm khách mời trong nước. Diễn đàn quy tụ các doanh nhân hàng đầu thế giới với nhiều phiên họp toàn thể và hàng chục phiên đối thoại diễn ra liên tiếp. Đây là lần thứ hai Bình Dương đăng cai HORASIS, sau hội nghị năm 2018 đã để lại ấn tượng tốt với bạn bè quốc tế.

BÁ SƠN / Theo TTO

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc


Mất khả năng diễn đạt cảm xúc (tiếng Anh: alexithymia), hay mù cảm xúc là một cấu trúc nhân cách với nét đặc trưng là thiếu khả năng cận lâm sàng để nhận biết và miêu tả cảm xúc của bản thân.[1] Những đặc điểm chính bao gồm loạn chức năng rõ rệt trong việc nhận thức cảm xúc, việc gắn bó với xã hội và trong quan hệ với người khác.[2] Thêm vào đó, người mất khả năng này cũng gặp khó khăn trong việc phân biệt và trân trọng cảm xúc của người khác. Điều này được cho là nguyên nhân gây ra những phản ứng thiếu đồng cảm và có hiệu quả cảm xúc kém.[2] Khoảng 10% dân số mất khả năng diễn đạt cảm xúc. Hiện tượng này có thể xuất hiện với một số bệnh tâm thần.[3]

Từ nguyên

Thuật ngữ alexithymia được đặt bởi nhà hai nhà tâm lý trị liệu John Case Nemiah và Peter Sifneos vào năm 1973,[4][5][6] bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: ἀ- (a-, “không có”) + λέξις (léxis, “ngôn từ”) + θῡμός (thȳmós, “trái tim” hoặc “cảm xúc”),[7] tức “không có ngôn từ cho cảm xúc”.[4]

Các thuật ngữ ngoài y tế dùng miêu tả những trạng thái tương tự gồm dửng dưng và vô cảm xúc.[8] Trong tiếng Anh, người mất khả năng diễn đạt cảm xúc được gọi là alexithymic hoặc alexithymiac.[9]

Phân loại

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc được xem là một đặc điểm tính cách khiến người mắc phải có nguy cơ bị những chứng bệnh hoặc rối loạn tâm thần khác, đồng thời làm giảm khả năng những người này phản ứng lại những liệu pháp điều trị thông thường cho bệnh khác.[10] Hiện tượng này không được xếp vào các loại bệnh tâm thần trong Cẩm nang chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần ấn bản thứ tư. Nó là một đặc điểm tính cách có chiều, có thể khác nhau về độ nghiêm trọng tùy theo từng người. Điểm số mất khả năng diễn đạt cảm xúc được tính bằng các bảng câu hỏi như Toronto Alexithymia Scale (TAS-20), Bermond-Vorst Alexithymia Questionnaire (BVAQ),[11]Online Alexithymia Questionnaire (OAQ-G2)[12] hay Observer Alexithymia Scale (OAS).[10] Mất khả năng diễn đạt cảm xúc khác với rối loạn nhân cách tâm thần, ví dụ như rối loạn nhân cách chống đối xã hội hay rối loạn nhân cách ranh giới, tuy chúng có một số đặc điểm chung. Nó cũng khác với những trạng thái bất thường ở bệnh xã hội (sociopathy) hoặc bệnh nhân cách(psychopathy). 

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc được xác định bởi:[13]

  1. khó khăn trong việc nhận biết cảm giác; khó khăn trong việc phân biệt giữa cảm giác và cảm nhận cơ thể khi cảm xúc được kích thích
  2. khó khăn trong việc miêu tả cảm giác cho người khác
  3. quá trình tưởng tượng bị hạn chế, bằng chứng là người mất khả năng diễn đạt cảm xúc hiếm khi tưởng tượng
  4. cách nhận thức hướng ngoại và bị ràng buộc bởi kích thích.

Theo các nghiên cứu trên dân số nói chung, mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc nặng hay nhẹ bị ảnh hưởng bởi độ tuổi, không bởi giới tính. Tỷ lệ mất khả năng này ở những đối tượng khỏe mạnh đã được xác định là 8.3%, 4.7%, 8.9% và 7%. Do đó, nhiều nghiên cứu báo cáo tỷ lệ mất khả năng diễn đạt cảm xúc nằm dưới 10%.[14] Một khám phá khác ít phổ biến hơn cho rằng hiện tượng này có tỷ lệ cao hơn ở nam giới, dựa trên việc một số nam gặp khó khăn trong việc “miêu tả cảm xúc”, nhưng không dựa trên việc “nhận biết cảm xúc”, bởi cả nam và nữ đều bộc lộ khả năng này như nhau.[15]

Nhà tâm lý học R. Michael Bagby và nhà tâm thần học Graeme J. Taylor lập luận rằng cấu trúc mất khả năng diễn đạt cảm xúc có liên kết cách mật thiết (nhưng tiêu cực) tới các khái niệm về tâm lý cởi mở[16] và trí tuệ xúc cảm.[17][18] Họ cho rằng có “bằng chứng thực nghiệm vững chắc cho thấy mất khả năng diễn đạt cảm xúc là một đặc điểm tính cách ổn định, không chỉ là hệ quả của tình trạng đau buồn về tâm lý.”[19] Những ý kiến bất đồng lại đưa ra bằng chứng cho rằng nó phụ thuộc vào trạng thái của người mắc.[20]

Bagby và Taylor cũng cho rằng mất khả năng diễn đạt cảm xúc gồm hai loại: Mất khả năng diễn đạt cảm xúc sơ cấp—một đặc tính tâm lý bền vững không thay đổi theo thời gian; mất khả năng diễn đạt cảm xúc thứ cấp—phụ thuộc vào trạng thái của người mắc và biến mất sau khi tình huống gây căng thẳng thay đổi. Hai biểu hiện trên còn được gọi là mất khả năng diễn đạt cảm xúc “đặc tính” hoặc “trạng thái”.[19]

Mô tả

Những khiếm khuyết điển hình gồm khó khăn trong việc nhận biết, xử lý, miêu tả cảm giác của chính bản thân, thường biểu lộ bằng việc không hiểu được cảm giác của người khác; khó khăn trong việc phân biệt giữa cảm giác và cảm nhận của cơ thể khi cảm xúc được kích thích;[5] ít khi  hay tưởng tượng vì trí tưởng tượng bị hạn chế; suy nghĩ logic, thực tế, cụ thể, thường vì những phản ứng về mặt cảm xúc đã bị loại trừ. Người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có những giấc mơ rất logic và thực tế, như đi chợ hay đang ăn cơm.[21] Kinh nghiệm lâm sàng cho rằng đặc điểm cấu trúc của những giấc mơ – không phải khả năng nhớ lại chúng – chính là thứ giúp mô tả hiện tượng này một cách rõ rệt nhất.[5]

Một số cá thể mất khả năng diễn đạt cảm xúc có thể có biểu hiện trái ngược những đặc điểm kể trên, vì họ cũng bị khó chịu (dysphoria) kinh niên, tức giận bộc phát, hay òa khóc.[22][23][24] Tuy nhiên, khi được hỏi, họ thường không có khả năng miêu tả cảm giác hoặc tỏ ra bối rối khi được hỏi về cảm giác của mình một cách chi tiết.[13]

Theo Henry Krystal, những cá thể mất khả năng diễn đạt cảm xúc có cách nghĩ hiệu quả và tỏ ra thích ứng với thực tại hơn hẳn người khác. Tuy nhiên, trong tâm lý trị liệu, họ lại có rối loạn rõ rệt về nhận thức vì thường thuật lại những sự kiện, phản ứng và hành động nhỏ nhặt thường ngày theo thứ tự thời gian bằng những chi tiết đơn điệu.[25][26] Nhìn chung, những cá thể này thiếu trí tưởng tượng, trực giác, đồng cảm và sự thúc giục thỏa mãn trí tưởng tượng, đặc biệt là khi có liên quan đến đối thể (object). Thay vào đó, họ hướng tới vật thể (thing) và thậm chí là coi mình như robot. Những vấn đề này giới hạn khả năng phản ứng của họ trước tâm lý trị liệu phân tâm học. Nếu họ tham gia tâm lý trị liệu thì những bệnh tâm-thể (psychosomatic illness) hay lạm dụng chất gây nghiện sẽ trở nên trầm trọng hơn.[13]

Một quan niệm sai lầm phổ biến về người mất khả năng diễn đạt cảm xúc là họ hoàn toàn không có khả năng diễn đạt cảm xúc bằng lời, thậm chí không thể công nhận việc mình có trải nghiệm cảm xúc. Trước cả khi đưa ra thuật ngữ này, Sifneos (1967) đã lưu ý người bệnh thường nhắc đến lo âu hoặc trầm cảm. Yếu tố đặc trưng là khi phải miêu tả cảm giác của mình, họ không thể đào sâu hơn ngoài một số tính từ ít ỏi như “vui” hoặc “không vui”.[27] Ở đây, vấn đề cốt lỗi là những người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc không giỏi phân biệt cảm xúc, làm giới hạn khả năng phân biệt và miêu tả cảm xúc của mình cho người khác.[5] Điều này góp phần khiến họ cảm thấy bản thân bị tách rời khỏi cảm xúc và thấy khó khăn trong việc kết giao với người khác. Mất khả năng diễn đạt cảm xúc, do đó, có ảnh hưởng tiêu cực tới mức độ hài lòng với cuộc sống, ngay cả khi trầm cảm và những biến nhiễu khác đã được kiểm soát.[28]

Nguyên nhân

Không rõ nguyên nhân gây mất khả năng diễn đạt cảm xúc là gì, nhưng có nhiều lý thuyết đã được đưa ra.

Các nghiên cứu trước đây chứng minh não của người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc gặp lỗi liên lạc giữa hai bán cầu; tức những thông tin về cảm xúc ở bán cầu não phải không được truyền đúng cách tới vùng đảm trách ngôn ngữ ở bán cầu não trái, gây ra bởi sự suy giảm thể chai. Hiện tượng này thường xuất hiện ở những bệnh nhân tâm thần bị bạo hành khi còn nhỏ.[29] Theo một nghiên cứu tâm lý học thần kinh năm 1997, mất khả năng diễn đạt cảm xúc có thể xảy ra do nhiễu loạn ở bán cầu não phải, nơi phần lớn đảm trách việc xử lý cảm xúc.[30] Một mô hình tâm lý học thần kinh khác cho rằng hiện tượng này có thể liên quan tới rối loạn chức năng ở vùng đai trước của vỏ não (anterior cingulate cortex).[31] Tuy nhiên, những nghiên cứu này vẫn còn thiếu sót, và bằng chứng thực nghiệm về cơ chế thần kinh của mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn chưa đưa ra kết luận nào thuyết phục.[32]

Nhà phân tâm học người Pháp Joyce McDougall phản đối việc các bác sĩ lâm sàng tập trung giải thích nguồn gốc và cách vận hành của hiện tượng này theo sinh lý học thần kinh thay vì theo tâm lý học. Ông cũng giới thiệu thuật ngữ “bất mãn” (disaffectation) để mô tả hiện tượng mất khả năng diễn đạt cảm xúc tâm thần.[33] Theo ông, cá thể bị “bất mãn” đã từng “trải qua thứ cảm xúc choáng ngợp đến nỗi nó đe dọa tấn công ý thức của họ về tính nguyên vẹn và bản sắc của mình,” do đó họ phải trang bị cho mình một lớp phòng thủ tâm lý để tiêu diệt và đẩy lui tất cả những cảm xúc tiêu cực khỏi ý thức.[34]Một cách diễn giải tương tự tiếp bước bằng cách sử dụng các phương pháp hiện tượng học.[35] McDougall cũng lưu ý rằng tất cả các trẻ sơ sinh sinh ra đều không có khả năng nhận biết, sắp xếp và trò chuyện về những trải nghiệm cảm xúc của mình (từ infans bắt nguồn từ tiếng Latin là “không nói”), và “vì chưa trưởng thành nên việc chúng thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc là không thể tránh khỏi.”[36] Dựa trên đó, năm 1985, McDougall trình bày rằng phần thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc trong nhân cách một người trưởng thành có thể là “một cấu trúc tâm lý cực kỳ ức chế và nhi tính”.[36] Thứ ngôn ngữ đầu tiên của một đứa trẻ không phải lời nói mà là nét mặt. Trạng thái cảm xúc của cha mẹ là yếu tố rất quan trọng trong việc quyết định sự phát triển của đứa trẻ. Việc lờ đi hoặc thờ ơ trước những thay đổi trên nét mặt của đứa trẻ mà không có phản hồi thích hợp sẽ thúc đẩy việc những nét mặt mà đứa trẻ thể hiện trở nên mất hiệu lực. Một yếu tố quan trọng khác là khả năng phản ánh sự tự nhận thức lên con trẻ của cha mẹ. Nếu người lớn không có khả năng nhận biết và phân biệt những cảm xúc mà đứa trẻ thể hiện, điều đó sẽ ảnh hưởng tới khả năng đứa trẻ đó nhận thức biểu hiện cảm xúc.

Những nghiên cứu di truyền phân tử về mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn còn ít, nhưng các gen tiềm năng đã được xác định qua những nghiên cứu về mối liên hệ giữa hiện tượng này và một số gen nhất định, giữa cả những người mắc bệnh và toàn dân số nói chung. Một nghiên cứu đã kiểm tra một nhóm nam giới Nhật Bản và nhận thấy những người đồng hợp tử về alen dài 5-HTTLPR ghi điểm cao hơn trên thang Toronto Alexithymia (TAS-20). Khu vực 5-HTTLPR của gen vận chuyển serotonin có ảnh hưởng đến quá trình phiên mã của gen vận chuyển serotonin chuyên loại bỏ serotonin khỏi khe xináp, và được nghiên cứu rất kỹ bởi mối liên hệ của nó với nhiều rối loạn tâm thần khác.[37] Một nghiên cứu khác kiểm tra thụ thể 5-HT1A – thụ thể liên kết serotonin – và nhận thấy những người có allele G của đa hình Rs6295trên gen HTR1A có mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cao hơn.[38] Một nghiên cứu khác nghiên cứu hiện tượng này cùng rối loạn ám ảnh cưỡng chếnhận thấy mức độ thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc cao hơn có liên quan đến allele Val/Val của đa hình Rs4680 trên gen mã hóa enzym Catechol-O-methyltransferase (COMT), một enzym làm suy giảm các dẫn truyền thần kinh catecholamine như dopamine.[39]Những liên kết này chưa có bằng chứng chắc chắn; cần phải nghiên cứu thêm để làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các gen trên và những dị tật thần kinh ở não của người mất khả năng diễn đạt cảm xúc.

Đã có bằng chứng cho vai trò của yếu tố môi trường và thần kinh, tuy nhiên, vai trò và ảnh hưởng của yếu tố di truyền tới sự phát triển của mất khả năng diễn đạt cảm xúc vẫn còn chưa rõ ràng.[40] Một nghiên cứu có quy mô lớn của Đan Mạch cho rằng yếu tố di truyền góp một phần đáng lưu ý tới sự phát triển của hiện tượng này. Tuy nhiên, những nghiên cứu song sinh này còn gây tranh cãi vì chúng “giả định rằng các môi trường đều như nhau” và các ước tính về “khả năng di truyền” không hề tương ứng với cấu trúc DNA thực tế.[41] Chấn thương sọ não cũng có liên quan đến sự phát triển của mất khả năng diễn đạt cảm xúc. Những bệnh nhân chấn thương sọ não có khả năng mắc hiện tượng này cao gấp sáu lần người thường.[42][43]

Trong quan hệ

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc gây ra nhiều vấn đề trong quan hệ với người khác, vì những cá thể này thường tránh những mối quan hệ gần gũi về mặt cảm xúc. Nếu họ có hình thành quan hệ với người khác, họ thường đặt mình ở vị trí hoặc lệ thuộc, hoặc làm chủ, hoặc chung chung, khách quan “để mối quan hệ ấy chỉ được duy trì ở mức hời hợt.”[44] Theo quan sát, người mất khả năng này cũng không “phân biệt” được bản thân mình và người khác một cách thỏa đáng.[45][46]

Trong một nghiên cứu, một nhóm lớn những người thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc đã hoàn thành Bản kê Vấn đề giữa các Cá nhân (IIP-64) gồm 64 câu. Họ nhận thấy “hai vấn đề có quan hệ đáng kể và ổn định tới việc mất khả năng diễn đạt cảm xúc là hoạt động xã hội lạnh lùng/xa cách và thiếu quyết đoán. Tất cả những thang điểm IIP-64 phụ khác đều không có liên hệ đáng kể tới mất khả năng diễn đạt cảm xúc.”[44]

Sifneos cũng nhận thấy người mất khả năng diễn đạt cảm xúc có những mối quan hệ hỗn loạn.[47] Do những khó khăn cố hữu trong việc nhận biết và miêu tả cảm xúc của bản thân và người khác, hiện tượng này cũng có ảnh hưởng tiêu cực tới sự mãn nguyện trong quan hệ giữa các cặp đôi.[48]

Theo một nghiên cứu năm 2008,[49]mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có tương quan với sự suy giảm trong việc hiểu và bày tỏ tình cảm thân thiết. Sự suy giảm này phần nào khiến tinh thần kém khỏe mạnh, đồng thời làm giảm chất lượng các mối quan hệ.[49] Những cá thể bị nặng cũng ít lo buồn khi thấy người khác bị đau và ít thể hiện lòng vị tha.[2]

Những cá thể làm việc cho các tổ chức mà ở đó việc điều khiển cảm xúc là chuyện bình thường có thể có những hành vi giống mất khả năng diễn đạt cảm xúc, nhưng không phải họ bị mắc hiện tượng này. Tuy nhiên, theo thời gian, việc thường xuyên không bộc lộ cảm xúc có thể trở thành thói quen và khiến họ thấy khó đồng cảm với người khác hơn.[50]

Các rối loạn đi kèm

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc thường xuyên xảy ra cùng các rối loạn khác. Nghiên cứu chỉ ra rằng bị mất khả năng diễn đạt cảm xúc xuất hiện trùng với rối loạn phổ tự kỷ (ASD).[12][51][52] Theo một nghiên cứu đã sử dụng TAS-20 (2004), 85% người lớn bị tự kỷ rơi vào nhóm mất khả năng diễn đạt cảm xúc; gần 50% rơi vào nhóm trầm trọng. Trong nhóm người lớn tiêu chuẩn để so sánh, chỉ có 17% mất khả năng này; không có trường hợp nào trầm trọng.[52][53] Fitzgerald và Bellgrove chỉ ra rằng, “Cũng như mất khả năng diễn đạt cảm xúc, hội chứng Asperger cũng có đặc điểm là rối loạn trong khả năng nói, khả năng về ngôn ngữ và các mối quan hệ xã hội.”[54] Hill và Berthoz đồng ý (2006) và tuyên bố “giữa mất khả năng diễn đạt cảm xúc và tự kỷ có một sự gối trùng nào đó”. Họ đưa ra những nghiên cứu đã phát hiện người mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng khuyết kỹ năng về thuyết tâm trí; bằng chứng từ giải phẫu học thần kinh cũng chỉ ra nguyên nhân gây bệnh chung và kỹ năng xã hội yếu tương tự nhau.[55]Bản chất của sự gối trùng này chưa được xác định chắc chắn. Biểu hiện thiếu khả năng diễn đạt cảm xúc ở người bị tự kỷ có thể liên quan đến trầm cảm lâm sàng hay lo âu;[53] không rõ yếu tố trung gian là gì. Có khả năng mất khả năng diễn đạt cảm xúc sẽ dẫn đến lo âu.[56]

Còn nhiều rối loạn tâm thần khác có thể xảy ra cùng hiện tượng này. Một nghiên cứu nhận thấy 41% cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam mắc rối loạn stress sau sang chấn (PTSD) cũng mất khả năng diễn đạt cảm xúc.[57] Một nghiên cứu khác nhận thấy mức độ mất khả năng diễn đạt cảm xúc ở những người sống sót sau diệt chủng Holocaust bị PTSD cao hơn người không bị.[58] Theo một nghiên cứu khác, mức độ mất khả năng diễn đạt cảm xúc cao ở những người làm mẹ bị PTSD liên quan đến bạo hành có tỷ lệ nhạy cảm với việc chăm sóc thấp hơn.[59] Nghiên cứu này cũng cho rằng, khi điều trị những bệnh nhân PTSD đã là cha hoặc mẹ, cần chú ý đến quan hệ giữa cha mẹ-con cái và sự phát triển cảm xúc-xã hội của đứa trẻ khi đánh giá và xử lý hiện tượng mất khả năng diễn đạt cảm xúc. 

Các kết quả nghiên cứu đơn lẻ về tỷ lệ của những rối loạn khác gồm 63% trong số những người bị chán ăn tâm thần,[60] 56% bị chứng háu ăn,[60]khoảng 40%[20] đến 50%[61] bị trầm cảm, 34% mắc rối loạn hoảng sợ,[62]28% mắc ám ảnh xã hội, và 50% trong số những người lạm dụng chất gây nghiện.[63] Một tỷ lệ lớn các cá thể bị tổn thương não mắc phải (acquired brain injury) như tai biến mạch máu nãohay chấn thương sọ não cũng mất khả năng diễn đạt cảm xúc.[64][65][66]

Mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có liên quan đến những rối loạn nhân cách,[67] rối loạn lạm dụng chất gây nghiện,[68][69] một số rối loạn lo âu[70]và rối loạn tình dục[71] nhất định, cũng như các bệnh về thể chất như cao huyết áp,[72] viêm ruột[73] và loạn tiêu hóa (dyspepsia) chức năng.[74] Thêm vào đó, mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng có liên quan đến đau nửa đầu, đau lưng dưới, hội chứng ruột kích thíchsuyễn, buồn nôn, dị ứng, và hội chứng đau xơ cơ.[75]

Một số người mất khả năng diễn đạt cảm xúc có khuynh hướng giải phóng sự căng thẳng phát sinh từ những cảm xúc khó chịu qua hành động bốc đồng, hay những hành vi cưỡng chế như ăn uống vô độ, lạm dụng chất gây nghiện, có hành vi tình dục lệch lạc hoặc chán ăn tâm thần.[76] Thất bại trong việc điều chỉnh cảm xúc một cách có nhận thức có thể ảnh hưởng đến hệ thần kinh tự chủ và hệ thần kinh nội tiết, gây ra các bệnh về cơ thể.[75] Người mất khả năng diễn đạt cảm xúc cũng bị giới hạn ở khả năng cảm nhận những cảm xúc tích cực, nên Krystal (1988) và Sifneos (1987) miêu tả những cá thể này là bị mất khoái cảm (anhedonia).[6]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ Sifneos PE (1973). “The prevalence of ‘alexithymic’ characteristics in psychosomatic patients”. Psychotherapy and psychosomatics 22 (2): 255–262. PMID 4770536. doi:10.1159/000286529.
  2. ^ a ă â FeldmanHall O, Dalgleish T, Mobbs D (2013). “Alexithymia decreases altruism in real social decisions”. Cortex 49: 899–904. PMID 23245426. doi:10.1016/j.cortex.2012.10.015.
  3. ^ Taylor GJ, Bagby, M.R., Parker, J.D.A. Disorders of Affect Regulation: Alexithymia in Medical and Psychiatric Illness. Cambridge: Cambridge University Press, 1999
  4. ^ a ă Stichwort Alexi|thymie. In: Duden. Das Wörterbuch medizinischer Fachausdrücke. Software für PC-Bibliothek.Bibliographisches Institut, Mannheim
  5. ^ a ă â b Bar-On, Reuven; Parker, James DA (2000). The Handbook of Emotional Intelligence: Theory, Development, Assessment, and Application at Home, School, and in the Workplace. San Francisco, California: Jossey-Bass. ISBN 0-7879-4984-1. pp. 40–59
  6. ^ a ă Taylor GJ & Taylor HS (1997). Alexithymia. In M. McCallum & W.E. Piper (Eds.) Psychological mindedness: A contemporary understanding. Munich: Lawrence Erlbaum Associates pp. 28–31
  7. ^ “alexithymic – definition of alexithymic in English”. Oxford Dictionaries. Bản gốc lưu trữngày 11 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2016.
  8. ^ Nicholls MER và đồng nghiệp (1999). “Laterality of expression in portraiture: putting your best cheek forward”. Proceedings of the Royal Society of London B: Biological Sciences 266 (1428): 1517–1522. PMC 1690171. doi:10.1098/rspb.1999.0809.
  9. ^ Mark A (2005). “Organizing emotions in health care”. Journal of Health Organization and Management 19 (4/5): 277–289. doi:10.1108/14777260510615332.
  10. ^ a ă Haviland MG, Warren WL, Riggs ML (2000). “An observer scale to measure alexithymia”. Psychosomatics 41 (5): 385–92. PMID 11015624. doi:10.1176/appi.psy.41.5.385. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007.
  11. ^ Vorst HC, Bermond B (2001). “Validity and reliability of the Bermond-Vorst Alexithymia Questionnaire”. Personality and Individual Differences 30 (3): 413–434. doi:10.1016/S0191-8869(00)00033-7.
  12. ^ a ă Paula-Perez I (tháng 3 năm 2010). “Alexitimia y sindrome de Asperger”. Rev Neurol 50 (Suppl 3): S85–90. Bản gốc lưu trữngày 27 tháng 7 năm 2011.
  13. ^ a ă â Taylor (1997), p. 29
  14. ^ Fukunishi I, Berger D, Wogan J, Kuboki T (1999). “Alexithymic traits as predictors of difficulties with adjustment in an outpatient cohort of expatriates in Tokyo”. Psychological reports 85 (1): 67–77. PMID 10575975. doi:10.2466/PR0.85.5.67-77. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2007.
  15. ^ Salminen JK, Saarijärvi S, Aärelä E, Toikka T, Kauhanen J (1999). “Prevalence of alexithymia and its association with sociodemographic variables in the general population of Finland”. Journal of psychosomatic research 46 (1): 75–82. PMID 10088984. doi:10.1016/S0022-3999(98)00053-1.
  16. ^ Taylor & Taylor (1997), pp. 77–104
  17. ^ Taylor (1997), p. 38
  18. ^ Parker, JDA; Taylor, GJ; Bagby, RM (2001). “The Relationship Between Emotional Intelligence and Alexithymia”. Personality and Individual Differences 30: 107–115. doi:10.1016/S0191-8869(00)00014-3.
  19. ^ a ă Taylor (1997), p. 37
  20. ^ a ă Honkalampi K, Hintikka J, Laukkanen E, Lehtonen J, Viinamäki H (2001). “Alexithymia and depression: a prospective study of patients with major depressive disorder”. Psychosomatics 42 (3): 229–34. PMID 11351111. doi:10.1176/appi.psy.42.3.229.
  21. ^ Krystal H (1979). “Alexithymia and psychotherapy”. American journal of psychotherapy 33 (1): 17–31. PMID 464164.
  22. ^ Nemiah et al. (1970), pp. 432–33
  23. ^ Krystal (1988), p. 246; McDougall (1985), pp. 169–70
  24. ^ Taylor (1997), pp. 29, 246–47
  25. ^ Krystal (1988) pp. 246-247
  26. ^ Nemiah, CJ (1978). “Alexithymia and Psychosomatic Illness”. Journal of Continuing Education39: 25–37.
  27. ^ Sifneos, PE (1967). “Clinical Observations on some patients suffering from a variety of psychosomatic diseases”. Acta Medicina Psychosomatica 7: 1–10.
  28. ^ Mattila AK, Poutanen O, Koivisto AM, Salokangas RK, Joukamaa M (2007). “Alexithymia and Life Satisfaction in Primary Healthcare Patients”. Psychosomatics 48: 523–529. doi:10.1176/appi.psy.48.6.523.
  29. ^ Hoppe KD, Bogen JE (1977). “Alexithymia in twelve commissurotomized patients”. Psychotherapy and psychosomatics 28 (1–4): 148–55. PMID 609675. doi:10.1159/000287057.
  30. ^ Jessimer M, Markham R (1997). “Alexithymia: a right hemisphere dysfunction specific to recognition of certain facial expressions?”. Brain and cognition 34 (2): 246–58. PMID 9220088. doi:10.1006/brcg.1997.0900.
  31. ^ Lane RD, Ahern GL, Schwartz GE, Kaszniak AW (1997). “Is alexithymia the emotional equivalent of blindsight?”. Biol. Psychiatry 42 (9): 834–44. PMID 9347133. doi:10.1016/S0006-3223(97)00050-4.
  32. ^ Tabibnia G, Zaidel E (2005). “Alexithymia, interhemispheric transfer, and right hemispheric specialization: a critical review”. Psychotherapy and psychosomatics 74 (2): 81–92. PMID 15741757. doi:10.1159/000083166.
  33. ^ McDougall (1989), pp. 93, 103
  34. ^ McDougall (1989), pp. 93–94
  35. ^ Maclaren K (2006). “Emotional Disorder and the Mind-Body Problem: A Case Study of Alexithymia”. Chiasmi International8: 139–55. doi:10.5840/chiasmi2006819.
  36. ^ a ă McDougall (1985), p. 161
  37. ^ Kano, Michiko; Mizuno, Tomoko; Kawano, Yuko; Aoki, Masashi; Kanazawa, Motoyori; Fukudo, Shin (ngày 1 tháng 1 năm 2012). “Serotonin transporter gene promoter polymorphism and alexithymia”. Neuropsychobiology65 (2): 76–82. ISSN 1423-0224. PMID 22222552. doi:10.1159/000329554.
  38. ^ Gong, Pingyuan; Liu, Jinting; Li, She; Zhou, Xiaolin (ngày 1 tháng 12 năm 2014). “Serotonin receptor gene (5-HT1A) modulates alexithymic characteristics and attachment orientation”. Psychoneuroendocrinology 50: 274–279. ISSN 1873-3360. PMID 25247748. doi:10.1016/j.psyneuen.2014.09.001.
  39. ^ Koh, Min Jung; Kang, Jee In; Namkoong, Kee; Lee, Su Young; Kim, Se Joo (ngày 1 tháng 5 năm 2016). “Association between the Catechol-O-Methyltransferase (COMT) Val¹⁵⁸Met Polymorphism and Alexithymia in Patients with Obsessive-Compulsive Disorder”. Yonsei Medical Journal 57 (3): 721–727. ISSN 1976-2437. PMC 4800363. PMID 26996573. doi:10.3349/ymj.2016.57.3.721.
  40. ^ Jørgensen MM, Zachariae R, Skytthe A, Kyvik K (2007). “Genetic and Environmental Factors in Alexithymia: A Population-Based Study of 8,785 Danish Twin Pairs”. Psychotherapy and Psychosomatics 76: 369–375. PMID 17917473. doi:10.1159/000107565.
  41. ^ Pam, A; Kemker, SS; Ross, CA; Golden, R (1996). “The “equal environments assumption” in MZ-DZ twin comparisons: an untenable premise of psychiatric genetics?”. Acta Genet Med Gemellol (Roma) 45: 349–60. PMID 9014000.
  42. ^ Williams C, Wood RL (tháng 6 năm 2009). “Alexithymia and emotional empathy following traumatic brain injury”. J Clin Exp Neuropsychol 32 (3): 1–11. PMID 19548166. doi:10.1080/13803390902976940. Tóm lược dễ hiểuPsychology Today (ngày 3 tháng 1 năm 2010).
  43. ^ Hogeveen, J.; Bird, G.; Chau, A.; Krueger, F.; Grafman, J. (ngày 1 tháng 2 năm 2016). “Acquired alexithymia following damage to the anterior insula”. Neuropsychologia (Elsevier) 82: 142–148. ISSN 1873-3514. PMC 4752907. PMID 26801227. doi:10.1016/j.neuropsychologia.2016.01.021.
  44. ^ a ă Vanheule S, Desmet M, Meganck R, Bogaerts S (2007). “Alexithymia and interpersonal problems”. Journal of clinical psychology 63 (1): 109–17. PMID 17016830. doi:10.1002/jclp.20324.
  45. ^ Blaustein JP, Tuber SB (1998). “Knowing the Unspeakable”. Bulletin of the Menninger Clinic62: 351–365.
  46. ^ Taylor (1997) pp. 26-46
  47. ^ Sifneos PE (1996). “Alexithymia: past and present”. The American Journal of Psychiatry 153 (7 Suppl): 137–42. PMID 8659637. doi:10.1176/ajp.153.7.137.
  48. ^ Yelsma P, Marrow S (2003). “An Examination of Couples’ Difficulties With Emotional Expressiveness and Their Marital Satisfaction”. Journal of Family Communication 3 (1): 41–62. doi:10.1207/S15327698JFC0301_03.
  49. ^ a ă Hesse Colin; Floyd Kory (2008). “Affectionate experience mediates the effects of alexithymia on mental health and interpersonal relationships”. Journal of Social and Personal Relationships 25 (5): 793–810. doi:10.1177/0265407508096696.
  50. ^ Manfred F.R. Kets de Vries (2001) “Struggling with the Demon: Perspectives on Individual and Organizational Irrationality”
  51. ^ Shah, Punit; Hall, Richard; Catmur, Caroline; Bird, Geoffrey (ngày 1 tháng 8 năm 2016). “Alexithymia, not autism, is associated with impaired interoception”. Cortex 81: 215–220. PMC 4962768. PMID 27253723. doi:10.1016/j.cortex.2016.03.021.
  52. ^ a ă Hill E, Berthoz S, Frith U (2004). “Brief report: cognitive processing of own emotions in individuals with autistic spectrum disorder and in their relatives”. Journal of Autism and Developmental Disorders 34 (2): 229–235. PMID 15162941. doi:10.1023/B:JADD.0000022613.41399.14.
  53. ^ a ă Frith U (2004). “Emanuel Miller lecture: confusions and controversies about Asperger syndrome”. Journal of child psychology and psychiatry, and allied disciplines 45 (4): 672–86. PMID 15056300. doi:10.1111/j.1469-7610.2004.00262.x.http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1111/j.1469-7610.2004.00262.x/pdf The study to which Frith refers is the Hill E, Berthoz S, Frith U (2004) referenced before this one.
  54. ^ Fitzgerald M, Bellgrove MA (2006). “The Overlap Between Alexithymia and Asperger’s syndrome”. Journal of autism and developmental disorders 36(4): 573–6. PMC 2092499. PMID 16755385. doi:10.1007/s10803-006-0096-z. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2007.[liên kết hỏng]
  55. ^ Hill E, Berthoz S (tháng 5 năm 2006). “Response to ‘Letter to the Editor: The Overlap Between Alexithymia and Asperger’s syndrome’, Fitzgerald and Bellgrove, Journal of Autism and Developmental Disorders, 36(4)”. Journal of Autism and Developmental Disorders 36 (8): 1143–1145. PMID 17080269. doi:10.1007/s10803-006-0287-7.
  56. ^ Tani P, Lindberg N, Joukamaa M và đồng nghiệp (2004). “Asperger syndrome, alexithymia and perception of sleep”. Neuropsychobiology 49 (2): 64–70. PMID 14981336. doi:10.1159/000076412.
  57. ^ Shipko S, Alvarez WA, Noviello N (1983). “Towards a teleological model of alexithymia: alexithymia and post-traumatic stress disorder”. Psychotherapy and psychosomatics 39 (2): 122–6. PMID 6878595. doi:10.1159/000287730.
  58. ^ Yehuda R, Steiner A, Kahana B, Binder-Brynes K, Southwick SM, Zemelman S, Giller EL (1997). “Alexithymia in Holocaust survivors with and without PTSD”. J Trauma Stress 10 (1): 83–100.
  59. ^ Schechter DS, Suardi F, Manini A, Cordero MI, Sancho Rossignol A, Gex-Fabry Merminod G, Moser DA, Rusconi Serpa S. “How do maternal PTSD and alexithymia interact to impact maternal behaviour?”. Child Psychiatry and Human Development.
  60. ^ a ă Cochrane CE, Brewerton TD, Wilson DB, Hodges EL (1993). “Alexithymia in the eating disorders”. The International Journal of Eating Disorders 14 (2): 219–22. PMID 8401555. doi:10.1002/1098-108x(199309)14:2<219::aid-eat2260140212>3.0.co;2-g.
  61. ^ Kim JH, Lee SJ, Rim HD, Kim HW, Bae GY, Chang SM (2008). “The Relationship between Alexithymia and General Symptoms of Patients with Depressive Disorders”. Psychiatry Investig 5: 179–85. PMC 2796028. PMID 20046363. doi:10.4306/pi.2008.5.3.179.
  62. ^ Cox BJ, Swinson RP, Shulman ID, Bourdeau D (1995). “Alexithymia in panic disorder and social phobia”. Comprehensive Psychiatry 36 (3): 195–8. PMID 7648842. doi:10.1016/0010-440X(95)90081-6.
  63. ^ Taylor GJ, Parker JD, Bagby RM (1990). “A preliminary investigation of alexithymia in men with psychoactive substance dependence”. The American Journal of Psychiatry 147 (9): 1228–30. PMID 2386256. doi:10.1176/ajp.147.9.1228.
  64. ^ Williams C, Wood RL (tháng 3 năm 2010). “Alexithymia and emotional empathy following traumatic brain injury”. J Clin Exp Neuropsychol 32 (3): 259–67. PMID 19548166. doi:10.1080/13803390902976940.
  65. ^ Koponen S, Taiminen T, Honkalampi K và đồng nghiệp (2005). “Alexithymia after traumatic brain injury: its relation to magnetic resonance imaging findings and psychiatric disorders”. Psychosom Med 67(5): 807–12. PMID 16204442. doi:10.1097/01.psy.0000181278.92249.e5.
  66. ^ Becerra R, Amos A, Jongenelis S (tháng 7 năm 2002). “Organic alexithymia: a study of acquired emotional blindness”. Brain Inj 16(7): 633–45. PMID 12119081. doi:10.1080/02699050110119817.
  67. ^ Schizotypal, dependent and avoidant disorders are particularly indicated: See Taylor (1997), pp. 162–165
  68. ^ Li CS, Sinha R (ngày 1 tháng 3 năm 2006). “Alexithymia and stress-induced brain activation in cocaine-dependent men and women”. Journal of psychiatry & neuroscience: JPN 31 (2): 115–21. PMC 1413961. PMID 16575427.
  69. ^ Lumley MA, Downey K, Stettner L, Wehmer F, Pomerleau OF (1994). “Alexithymia and negative affect: relationship to cigarette smoking, nicotine dependence, and smoking cessation”. Psychotherapy and psychosomatics 61 (3–4): 156–62. PMID 8066152. doi:10.1159/000288884.
  70. ^ Jones BA (1984). “Panic attacks with panic masked by alexithymia”. Psychosomatics 25(11): 858–9. PMID 6505131. doi:10.1016/S0033-3182(84)72947-1. Bản gốc(PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  71. ^ Michetti PM, Rossi R, Bonanno D, Tiesi A, Simonelli C (2006). “Male sexuality and regulation of emotions: a study on the association between alexithymia and erectile dysfunction (ED)”. Int. J. Impot. Res. 18 (2): 170–4. PMID 16151475. doi:10.1038/sj.ijir.3901386. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2007.
  72. ^ Jula A, Salminen JK, Saarijärvi S (ngày 1 tháng 4 năm 1999). “Alexithymia: a facet of essential hypertension”. Hypertension 33(4): 1057–61. PMID 10205248. doi:10.1161/01.HYP.33.4.1057. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  73. ^ Verissimo R, Mota-Cardoso R, Taylor G (1998). “Relationships between alexithymia, emotional control, and quality of life in patients with inflammatory bowel disease”. Psychotherapy and psychosomatics 67 (2): 75–80. PMID 9556198. doi:10.1159/000012263.
  74. ^ Jones MP, Schettler A, Olden K, Crowell MD (2004). “Alexithymia and somatosensory amplification in functional dyspepsia”. Psychosomatics 45 (6): 508–16. PMID 15546828. doi:10.1176/appi.psy.45.6.508. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2006.
  75. ^ a ă Taylor (1997), pp. 216–248
  76. ^ Taylor (1997), pp. 31

Theo Wikipedia

11 CÁCH VƯỢT QUA CẢM XÚC, Ý NGHĨ TIÊU CỰC


Suy nghĩ tiêu cực hoặc ý nghĩ tự tử có thể là hệ quả từ các rối loạn tâm lý như rối loạn trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lạm dụng chất hay rối loạn nhân cách ranh giới hoặc có thể là hệ quả từ sự bất thường của não bộ như u não. Có những dạng rối loạn tâm lý cần phải dùng thuốc để điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh hay nội tiết. 11 cách dưới đây sẽ giúp bạn vực dậy tinh thần sau những tháng ngày trầm uất, u ám:

1. Nghe hay đọc những câu chuyện truyền cảm hứng

Những khi bị áp lực, hoặc có những ngày tôi trầm uất đến mức không thể làm được một việc đơn giản như ăn cơm, khi tất cả mọi thứ đều trở nên vô nghĩa và đọng lại trong tôi là sự trống rỗng, mờ mịt và hoảng loạn, thì tôi lại tìm nghe những buổi diễn thuyết trên TedX. Những chia sẻ về tự tử, về trầm cảm của những người đã và đang trải qua khiến tôi cảm thấy như mình không cô độc, không quái dị, không tệ hại, và giảm bớt phần nào cảm giác tội lỗi. Những kinh nghiệm của họ, cách nhìn của họ khiến tôi phần nào thay đổi suy nghĩ và yêu bản thân mình hơn.

Tôi xin được trích vài đoạn mà tôi tâm đắc nhất trong bài nói chuyện của Mark Henrick, một nhà hoạt động vì sức khỏe tâm lý và là người từng trải qua hàng chục lần cố gắng tự tử trong quá khứ.

“Hãy tưởng tượng rằng bạn bị nhốt trong một nơi chật hẹp, tối tăm. Ừm, đó có thể là cảm giác khi phải sống chung với một căn bệnh tâm lý nào đó. Ít ra, đó là cảm giác mà tôi đã phải trải qua khi đang ở dưới đáy của cơn rối loạn tâm lý lúc còn là thanh thiếu niên. Nhận thức của tôi bị gò bó, trở nên tối tăm và đổ vỡ, và những suy nghĩ như “mày không đủ tốt”, “mày tệ hại”, “mày không nên sống nữa” là hệ quả từ sự đổ vỡ của nhận thức ấy.”

Chúng ta sẽ không mãi ở trong một hoàn cảnh, tình huống hay trạng thái tâm lý kể cả tiêu cực. Tôi luôn tự nhủ với bản thân như vậy mỗi khi tôi cảm thấy như mình không còn sức nữa. “Rồi sẽ có cách, rồi mình sẽ vượt qua.”Trạng thái tâm lý luôn là những giai đoạn tiếp diễn. Nhận thức của chúng ta được tạo ra và tiếp tục xây dựng bởi sinh lý, tâm lý và cả xã hội nên chúng ta có nhiều phương thức để cải thiện nó. Vì thế, tôi mong bạn hãy đừng vội bỏ cuộc.

“Với những người có suy nghĩ tự tử. Cũng ổn thôi. Hãy cứ tiếp tục nghĩ về nó. Và rồi nói về nó. Và sau đó hãy bắt đầu làm chuyện gì đó với nó”.

Một số bài diễn thuyết hay mà tôi nghĩ rằng những ai đang vật lộn với trầm cảm và suy nghĩ tự tử cũng nên nghe qua một lần.

Kevin Breel – Confession of a depressive comic

Mark Henrick – Why we choose suicide

Andrew Solomon – Depression, a secret we all share (rất hay, bất kỳ ai cũng nên nghe)

2. Nghe nhạc

Những khi tôi có suy nghĩ tiêu cực thì tôi lại nghe những bản nhạc thuộc nhiều thể loại khác nhau như từ nhạc cổ điển như Giao hưởng ánh trăng, Fur Elise của Beethoven, đến những bài nhạc vàng nhạc đỏ, tiếp lại chạy qua Jrock, ngồi trong xe đóng kín cửa mở volume dộng ầm ầm với X Japan hoặc the GazettE.

Âm nhạc có thể tiến vào tầng nhận thức của chúng ta, là một công cụ tuyệt vời có thể giúp chúng ta thay đổi khí sắc, tâm trí và hành vi. Những giai điệu của bài hát có thể gợi những phản ứng không chỉ ở những vùng não có liên quan đến hệ thống thưởng (reward system) mà còn cả những vùng điều chỉnh cảm xúc. Hãy chọn những bài bạn thích, truyền cảm hứng và giải phóng cảm xúc của bạn. Những lúc tôi chán nản thì thường thích nghe Dạ cổ hoài lang, Chuyện ba mùa mưa, Chuyện giàn thiên lý… và thường hay bị chọc là nghe nhạc sến, nhưng mà tôi mặc kệ tất vì cảm xúc của tôi ổn hơn rất nhiều sau khi nghe những bài này.

Chọn ra những bài hát khiến bạn vui vẻ, yêu đời, hạnh phúc hơn và lập thành một playlist trên điện thoại hay trên YouTube chẳng hạn, và thi thoảng bạn mới nên nghe nó. Đừng nghe playlist đó thường xuyên. Việc nghe quá nhiều một bài hát hay một playlist có thể bão hòa đi sự kết nối giữa hệ thống thần kinh với bài hát đó và thay vào đó là những cảm xúc mới. Đó là vì sao khi bạn nghe lại những bài hát mà mình chưa từng nghe trong hàng tháng hay năm trời có thể đưa bạn quay trở lại những cảm xúc ban đầu (1). Điều này cũng áp dụng lên playlist “yêu đời” của bạn.

3. Viết nhật ký

Nhật ký ở đây không chỉ đơn giản là viết về ngày thường của bạn hay những gì bạn làm mà còn là những sự kiện đã xảy ra có ảnh hưởng đến bạn. Hãy tập trung viết về sự kiện đó, cảm xúc và cái nhìn của bạn đối với nó.

Nếu bạn lười, không thích viết nhật ký như tôi thì ít nhất cũng nên viết ra hết những cảm xúc của bạn khi bạn cảm thấy tiêu cực hay có những suy nghĩ tự tử. Các nhà tâm lý học cho rằng việc viết ra những cảm xúc giúp não bộ điều chỉnh cảm xúc tốt hơn. Những bản chụp cắt lớp não bộ chứng minh rằng khi viết những cảm xúc xuống trang giấy thì hoạt động ở hạch hạnh nhân (amygdala) chịu trách nhiệm cho những cảm xúc sợ hãi, lo âu, hoảng hốt giảm đi (2).

Viết ra những cảm xúc cũng giúp bạn có cái nhìn sâu hơn về những gì đang xảy ra chung quanh. Đọc lại những gì bạn viết lúc bình tĩnh và hãy tự hỏi mình nếu chuyện này xảy ra lần nữa thì mình sẽ giải quyết nó như thế nào? Những hoàn cảnh nào dẫn đến phản ứng như thế này? Làm sao để cải thiện nó?

Max River
Ảnh: Max Rive

4. Luyện tập tỉnh thức

Trong buổi workshop hồi tháng hai ở Việt Nam, tôi có nói đến ích lợi của tỉnh thức. Tỉnh thức, còn được gọi là chánh niệm trong đạo Phật, (mindfulness) nghĩa là có chủ đích chú ý vào một thứ gì đó trong  thời điểm hiện tại và không phán xét nó. Nói cách khác, tỉnh thức chính là nhận thức ở hiện tại, không quan tâm về quá khứ, không suy nghĩ đến tương lai, chỉ quan sát và không phán xét.

Đối với những người trải qua nhiều sự kiện trầm uất trong cuộc sống có xu hướng phản ứng tiêu cực vì não bộ của họ đã quen với đường lối suy nghĩ như vậy. Luyện tập tỉnh thức sẽ giúp các bạn mắc lại, kết nối lại bộ não và tạo ra một thói quen, một phản ứng lành mạnh hơn trước các sự kiện tiêu cực.

Bạn có thể luyện tập tỉnh thức ở bất kỳ đâu hay bất cứ lúc nào nhưng nên luyện tập nó hằng ngày để tạo thành thói quen.

Một số bài tập tỉnh thức:

a) Hai lần cắn tỉnh thức

Quan sát bề mặt, vị, mùi hương, hoặc hình dáng của món ăn, và âm thanh vang lên khi bạn cắn vào món ăn ấy, dừng lại một chút nhấm nháp hương vị trước khi bạn nhai. Bạn có cảm nhận được chuyển động của thức ăn hay không.

b) Luyện tập hít thở

  • Hít vào mũi theo nhịp: 1 – 2 – 3 – 4.
  • Thở ra bằng miệng, hơi chu môi, thổi nhẹ nhàng, như đang thổi bong bóng: 1 – 2 – 3 – 4 – 5 – 6 – 7 – 8.
  • Lặp lại 3 đến 4 lần.
  • Luyện tập cách thở này đều đặn trong ngày. Bạn có thể thử hít thở chậm rãi mỗi khi bạn trả lời điện thoại, hoặc khi bạn ngồi vào xe, hoặc khi bạn vào phòng tắm, trước khi bạn ăn, và dĩ nhiên là khi bạn cảm thấy căng thẳng. Hãy chọn ra những lúc có tác dụng nhất để luyện tập, và tạo nên được thói quen hít vào bằng mũi với nhịp bốn, và thở ra bằng miệng với nhịp tám từ một đến ba lần.

c) Tô màu

Đây cũng là một liệu pháp nghệ thuật giúp giảm tải stress và lo âu. Những cuốn sách tô màu này bán trên các trang web như amazon.com hay Barn and Noble với cái giá không chát lắm và có nhiều chủ đề khác nhau từ rừng, đến biển, đến hoa, hay động vật. Tôi không chắc là nhà sách ở Việt Nam có loại sách tô màu này. Nhưng bạn có thể thử tìm xem.

Hoặc nếu các bạn không thể mua thì với từ khóa “Mindfulness Color Book”trên google bạn sẽ tìm thấy hàng ngàn kết quả và những bức tranh chưa tô. Bạn có thể in nó xuống và mỗi ngày tô một tờ như thế. Nên dùng những tông màu lạnh và sáng như các gam màu xanh biển, xanh lá hoặc tím sẽ giúp cho bạn bình tĩnh hơn. Màu tím nhạt được cho là giúp giảm áp lực, màu xanh biển thì tạo cảm giác thanh bình và hạ huyết áp. Tuy nhiên những tông màu tối của gam màu lạnh có thể dẫn đến buồn bã thế nên các bạn nên hạn chế sử dụng. Đồng thời cũng  hạn chế dùng những tông màu nóng chủ đạo như đỏ tươi hoặc cam tươi vì dễ gây ra cảm giác khó chịu và giận dữ (3).

5. Chấp nhận cảm xúc tiêu cực

Cảm xúc, dù tích cực hay tiêu cực đều có vai trò quan trọng trong đời sống. Mỗi cảm xúc không được phân chia bởi chức năng mà là bởi những tình huống thích nghi mà nó hữu dụng. Ví dụ như cảm xúc lo âu sợ hãi khi gặp phải tình huống nguy hiểm đến tính mạng là cần thiết để sinh tồn.

Cách xử lý và giải quyết tình huống tốt chỉ có 3 phần:

  • Thực sự chấp nhận rằng có đôi lúc chuyện sẽ xảy ra theo hướng mà chúng ta không thích một chút nào cả.
  • Đừng làm nó tồi tệ thêm.
  • Nhận ra rằng bạn có thể giải quyết nó bằng cách trả lời những câu hỏi sau đây:
  • Điều xấu nhất là gì và hậu quả ra sao?
  • Khả năng xảy ra có cao hay không?
  • Nếu nó thật sự xảy ra, mình sẽ giải quyết nó như thế nào?

Giải quyết vấn đề không chỉ đơn giản là bạn sẽ sửa chữa nó vì có những vấn đề bạn không thể nào sửa chữa được mà bạn nhận ra rằng dù có chuyện gì xảy ra thì bạn vẫn vượt qua được và bước tiếp.

6. Quản lý stress hiệu quả hơn

Stress là một yếu tố nguy hiểm dẫn đến các rối loạn tâm lý và các bệnh về thể chất như tim mạch. Đôi lúc, nhiều sự kiện ập đến và chúng ta bị áp lực bởi không biết nên bắt đầu từ đâu và  nên giải quyết vấn đề như thế nào. Quản lý stress hiệu quả là một cách làm giải tải áp lực và hạn chế những cảm xúc tiêu cực. Vậy thì làm sao để quản lý stress hiệu quả hơn?

  • Đầu tiên bạn nên xác định những nguyên nhân gây stress. Tập trung giải quyết từng vấn đề một, dễ trước khó sau, đừng nên ôm hết lại cùng một lúc.
  • Tìm ra những yếu tố, khía cạnh của vấn đề mà mình có thể điều khiển được. Chúng ta thường bị stress vì những thứ chúng ta không thể điều khiển được, ví dụ như thầy cô chấm bài khó, hay thi học kỳ, thì đại học. Tìm ra những khía cạnh mà chúng ta có thể thay đổi hoặc cải thiện ví dụ như học bài kỹ hơn, luyện giải nhiều bộ đề có thể giúp giảm tải căng thẳng.
  • Lên kế hoạch, thời gian hiệu quả hơn.
  • Lập một hộp “công cụ” giải quyết stress và sử dụng nó tùy vào tình huống. (tập thể dục, hoạt động ngoại khóa, luyện tập tỉnh thức…)
  • Chấp nhận khi mình mắc lỗi lầm và đừng làm nó tồi tệ hơn bằng việc tự trách hay tự đổ lỗi bản thân.

7. Dùng các loại thực phẩm và vitamin giảm tải stress

Một số loại thức ăn và vitamin có tác dụng giảm căng thẳng và áp lực. Ví dụ như Vitamin B tổng hợp hỗ trợ giấc ngủ, giảm các triệu chứng lo âu (đậu phộng, rau chân vịt, hạt điều hoặc trứng, sữa, thịt bò, thịt cá, quả bơ). Vitamin C tăng cường hệ miễn dịch và giảm các ảnh hưởng tâm lý gây ra bởi stress (ổi, mãng cầu, măng cụt, kiwi, cam, chanh). Vitamin D giảm trầm cảm và căng thẳng (ra nắng, sữa, dầu cá…).

Bạn có thể dùng vitamin tổng hợp sẽ tốt hơn, đừng nên dùng mỗi loại riêng biệt, nếu có thì hãy hỏi ý kiến bác sĩ trước khi dùng vì liều lượng cao cộng với sự tương tác giữa các chất có thể gây ra những tác dụng phụ.

8. Hạn chế hay từ bỏ các mối quan hệ độc hại

Trong gần cả chục năm tha hương xứ người tôi từ từ hạn chế những mối quan hệ gây ra ảnh hưởng tiêu cực của tôi và hiện tại thì tôi chỉ có một hai người bạn thân ở cách xa tôi mấy tiếng lái xe và có khi cả mấy tháng không nói chuyện do ai cũng bận chuyện riêng. Nhưng tôi lại khá hài lòng với mối quan hệ ít ỏi này vì tôi biết rằng mối quan hệ của chúng tôi khá lành mạnh, hỗ trợ cho nhau về mặt suy nghĩ, nhận thức và tâm lý và khi cần sự giúp đỡ thì cô bạn của tôi sẽ cố hết sức mình.

Những mối quan hệ độc hại thường để lại những tổn thương to lớn khó lành không những ở thể xác mà còn cả tâm lý của bạn. Những mối quan hệ khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, trầm uất hơn là hạnh phúc bao gồm quan hệ giữa người thân, bạn bè hay người yêu. Những dấu hiệu của mối quan hệ độc hại bao gồm sự dối lừa, bạo hành về thể xác, không cảm thấy thoải mái hay an toàn, không được tôn trọng, luôn chỉ trích và đổ lỗi, lạm dụng quyền và luôn muốn điều khiển đối phương, không trung thực, ganh tỵ… Những tác hại của mối quan hệ độc hại chẳng kém gì những thức ăn chứa đầy hóa chất, làm biến chất nội tâm của bạn và dẫn đến trầm cảm, lo âu thậm chí là những vấn đề về y tế.

Trong một nghiên cứu lớn với hơn 10000 người trong vòng hơn 12 năm, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra những người ở trong một mối quan hệ tiêu cực có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch cao hơn những người khác.

Để thoát ra khỏi nó thì điều đầu tiên bạn phải làm là nhận ra rằng mình đang ở trong một quan hệ độc hại và bạn có quyền được đối xử tốt hơn thế. Khi bạn nhận ra được điều này thì việc chỉ rõ ra những hành vi độc hại đó sẽ trở nên dễ dàng hơn. Lúc nói về những vấn đề này, nên dùng những câu với đại từ nhân xưng “Tôi/ Mình/ Em” càng nhiều càng tốt để làm giảm khả năng tạo ra những phản ứng bảo vệ ở đối phương. Ví dụ như: “Em cảm thấy anh luôn không hài lòng với mọi thứ và điều này khiến em… Em yêu/tôn trọng/quan tâm đến em và em sẽ biết ơn hơn nữa nếu anh dừng việc… lại.” Bạn chỉ nên làm điều này khi bạn đang trong tình trạng an toàn. Nếu bạn đang bị bạo hành thì không nên làm như thế vì có thể gây ra những hậu quả xấu, ngược lại hãy tìm cách thoát ra khỏi đó an toàn trước.

Cuối cùng, nếu những gì bạn làm hoặc nói không thể thay đổi được những hành vi độc hại thì bạn nên cân nhắc chuyện rời khỏi hay giữ khoảng cách với người đó. Với người yêu thì điều này có nghĩa là chia tay tạm thời hoặc mãi mãi. Với cha mẹ và con cái nên hạn chế tiếp xúc. Với đồng nghiệp thì cố gắng giữ khoảng cách càng xa càng tốt. Nếu không làm gì cả thì bạn sẽ càng khiến bản thân chìm sâu trong sự ảnh hưởng tệ hại về mặt thể xác lẫn tinh thần (4).

9. Thuốc tránh thai

Là con gái, mỗi tháng tôi đều phải chịu sự hành hạ của bà dì ghẻ suốt một tuần cùng với những sự thay đổi thất thường về mặt cảm xúc do hóc môn thay đổi. Một tuần trước và sau khi bà dì tới chơi, tôi thường cảm thấy cực kỳ trầm uất, lo âu và trống rỗng. Những thứ mà tôi thích trở nên vô nghĩa, có những ngày sau khi đi làm về, tôi nằm dài trên ghế salon chẳng buồn động đậy. Những lúc đó tôi phải kiềm lắm mới không dùng dao rọc giấy cắt những đường trên tay để chứng minh rằng mình vẫn “sống”. Lại có những lúc tôi cáu gắt kinh khủng, chỉ muốn hét lên, muốn đập phá tất cả mọi thứ. Theo lời bác sĩ nói thì tôi bị PMS (premenstrual syndrome – hội chứng trước kỳ kinh).

Tôi nghĩ rằng nếu những cảm xúc này là hệ quả từ chuyện hóc môn thay đổi, vậy nếu tôi hạn chế hoặc trung hòa sự thay đổi ấy thì mọi chuyện có tốt hơn không? Thế nên tôi nói chuyện với bác sĩ của mình và bắt đầu dùng thuốc tránh thai. Đến bây giờ sau gần sáu tháng dùng nó thì mọi việc khá hơn rất nhiều. Thi thoảng tôi vẫn cảm thấy trầm uất, lo âu, nhưng chỉ kéo dài một hai ngày chứ không phải hai tuần mỗi tháng như lúc trước.

Nếu những cảm xúc tiêu cực và suy nghĩ của bạn xuất hiện xoay quanh kỳ kinh giống tôi thì bạn nên cân nhắc việc sử dụng thuốc tránh thai để điều chỉnh nội tiết và cảm xúc. Trên thị trường có nhiều loại thuốc tránh thai với các cơ chế hoạt động và ảnh hưởng lên hóc môn khác nhau. Bạn nên hỏi bác sĩ Tâm lý thật kỹ trước khi dùng vì có nhiều loại có thể khiến cho bạn càng trầm uất hơn khi dùng.

10. Đi khám chuyên khoa

Nếu bạn thử những phương pháp mà những suy nghĩ tiêu cực hoặc tự tử vẫn kéo dài không thay đổi sau vài tuần thì bạn nên đi khám bác sĩ chuyên khoa tâm lý hoặc Tâm thần học. Suy nghĩ tiêu cực hoặc ý nghĩ tự tử có thể là hệ quả từ các rối loạn tâm lý như rối loạn trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn lạm dụng chất hay rối loạn nhân cách ranh giới, hoặc có thể là hệ quả từ sự bất thường của não bộ như u não. Có những dạng rối loạn tâm lý cần phải dùng thuốc để điều chỉnh các chất dẫn truyền thần kinh hay nội tiết. Khám, chẩn đoán và chữa trị sớm sẽ giúp giảm phần nào các hệ quả tiêu cực do các rối loạn tâm lý gây ra.

11. Yêu thương bản thân hơn nữa

Tôi muốn kết bài bằng một câu nói mà tôi đã từng nói với rất nhiều người khi họ chia sẻ với tôi rằng họ cảm thấy tội lỗi, hổ thẹn khi có những suy nghĩ tiêu cực, tự hại bản thân, rằng bản thân yếu đuối. Đó là hãy yêu thương bản thân hơn nữa.

Cảm xúc của bạn đến từ cơ chế sinh lý và suy nghĩ. Nhận thức lại đến từ sinh lý, tâm lý và xã hội, cách xã hội nhìn bạn và cách bạn nhìn xã hội. Trong những yếu tố này, cái bạn có thể thay đổi chính là suy nghĩ, ngay cả sinh lý thì bạn cũng chỉ có thể thay đổi được phần nào vì có những phần bạn không thể thay đổi được như di truyền. Vì thế hãy bắt đầu thay đổi suy nghĩ của bạn từ bây giờ. Đừng tự trách bản thân tại sao lại có những suy nghĩ như vậy, mà hãy chấp nhận rằng mình đang không ổn nhưng mình sẽ tìm cách vượt qua, mọi chuyện rồi sẽ khá hơn. Đừng tự dằn vặt mình coi mình là kẻ có tội, những gì bạn đang trải qua có thể là hệ quả từ những rối loạn tâm lý chứ không phải do bản thân bạn muốn thế. Nhận ra rằng mình cần sự giúp đỡ và đừng ngại tìm kiếm sự giúp đỡ ấy từ bạn bè, từ những người có cùng trải nghiệm với bạn, từ những chuyên gia như bác sĩ, chuyên viên tư vấn. Đừng vì cái nhìn của người khác mà trốn tránh không đối mặt với vấn đề để rồi tự tổn thương mình. Bạn xứng đáng được những điều tốt đẹp hơn thế.

Mong rằng sự an yên rồi sẽ đến với bạn, với tôi và những người chúng ta yêu thương!

Nguồn tham khảo:

  1. https://www.psychologytoday.com/blog/the-athletes-way/201212/the-neuroscience-music-mindset-and-motivation
  2. https://www.theguardian.com/science/2009/feb/15/psychology-usa
  3. http://www.arttherapyblog.com/online/color-psychology-psychologica-effects-of-colors/
  4. https://www.psychologytoday.com/blog/high-octane-women/201108/the-hidden-health-hazards-toxic-relationships

Link bài viết gốc: https://beautifulmindvn.com/20…

Biên dịch: Hải Đường Tĩnh Nguyệt

Rối loạn ngôn ngữ: Trở ngại khiến bạn sợ giao tiếp


rối loạn ngôn ngữ

Đôi khi bạn quên từ, nói câu tối nghĩa, ậm ờ quá nhiều cũng có thể là dấu hiệu của chứng rối loạn ngôn ngữ. Đây là chứng bệnh phổ biến ở trẻ em, song nếu không được điều trị sẽ kéo dài đến cả khi trưởng thành.

Trong quá trình học nói, đôi khi trẻ dùng từ sai cách hay nói câu không đúng ngữ pháp. Khi tình trạng này kéo dài thì bạn cần để tâm vì đây có thể là dấu hiệu của chứng rối loạn ngôn ngữ thường gặp ở trẻ em. Nếu không được chữa trị, bệnh sẽ là một rào cản giao tiếp rất lớn khi trẻ trưởng thành.

Rối loạn ngôn ngữ là gì?

Rối loạn ngôn ngữ là tình trạng một người gặp khó khăn trong việc nói ra những suy nghĩ của bản thân cũng như hiểu những gì người khác đang nói. Bệnh xảy ra ở 10 – 15% trẻ dưới 3 tuổi nhưng cũng có trường hợp bệnh nhân tới tuổi trưởng thành mới được chẩn đoán bệnh.

Dấu hiệu rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em

Nếu phát triển bệnh rối loạn ngôn ngữ khi còn nhỏ, trẻ sẽ có những biểu hiện sau đây:

– Thường xuyên không nhớ tên gọi của những vật dụng xung quanh và dùng những từ thay thế như “cái đó” hay “cái ấy” để thay thế.

– Lẫn lộn những từ có liên quan với nhau, ví dụ như gọi “cái bàn” là “ghế”, gọi “thịt bò” là “thịt gà”…

– Vô thức đảo các âm trong một từ, ví dụ “mèo con” thì đọc thành “mòn ceo”…

– Thường xuyên quên từ và phải tự chế một từ khác để thay thế.

– Nói những câu tối nghĩa hay sắp xếp từ ngữ trong câu sai thứ tự.

– Dùng sai hoặc nói sai thành ngữ, tục ngữ.

– Luôn hiểu mọi thứ theo đúng nghĩa đen nên không hiểu được những câu đùa ẩn ý.

– Không thể tập trung khi nghe người khác nói, đặc biệt là khi có những tiếng ồn như tiếng tivi, tiếng nhạc…

– Không hứng thú khi nói chuyện, ngay cả khi nói chuyện với người nhà hay bạn bè thân thiết.

– Không nhớ thông tin trong cuộc đối thoại vừa xảy ra.

Dấu hiệu rối loạn ngôn ngữ ở người trưởng thành

Đối với người ở độ tuổi trưởng thành, những biểu hiện của chứng rối loạn ngôn ngữ ở môi trường làm việc có thể là:

– Lo lắng khi phải nói chuyện hay thuyết trình trước mặt nhiều người.

– Gặp khó khăn khi phải trả lời những câu hỏi từ cấp trên, ngay cả khi đã biết câu trả lời.

– Gặp khó khăn trong những cuộc tán gẫu nhỏ ở công ty.

– Không nhớ được những từ ngữ chuyên ngành trong công việc của mình.

– Không theo kịp trong các cuộc họp, đặc biệt trong các cuộc họp có nhiều người phát biểu.

– Nghiêm trọng hóa những câu nói bình thường.

– Gặp khó khăn trong việc trả lời câu hỏi khi họp.

– Gặp khó khăn trong việc làm theo các hướng dẫn phức tạp và thường chỉ muốn nhận nhiệm vụ qua email.

Nguyên nhân của chứng rối loạn ngôn ngữ thường không rõ. Tuy nhiên, hai nguyên nhân ảnh hưởng tới khả năng ngôn ngữ có thể kể đến là di truyền và dinh dưỡng. Đôi khi một số chấn thương đầu cũng có thể gây ra bệnh.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ

Bệnh nhân rối loạn ngôn ngữ có thể bị rối loạn ngôn ngữ diễn đạt, rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận hay cả hai. Bạn hãy tham khảo những triệu chứng sau để hiểu rõ hơn về hai dạng rối loạn ngôn ngữ này.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ diễn đạt

Rối loạn ngôn ngữ diễn đạt là khi khả năng nói hay viết của người bệnh bị ảnh hưởng. Những ai mắc chứng này thường gặp vấn đề trong việc nhớ từ vựng, ngữ pháp và chọn từ. Một triệu chứng dễ thấy là người bệnh thường dùng những từ như “ờm”, “ừm” khi không kiếm được từ ngữ phù hợp.

Một số triệu chứng khác của rối loạn ngôn ngữ diễn đạt bao gồm:

Bỏ mất chữ khi nói

Nói sai thứ tự từ trong câu

Khả năng thành lập câu bị hạn chế

Lặp lại câu hỏi khi suy nghĩ câu trả lời

Giảm khả năng xây dựng một cuộc đối thoại

Vốn từ vựng ít hơn so với những người cùng trang lứa

Giảm khả năng sử dụng từ ngữ và kết nối các câu để giải thích hoặc mô tả một cái gì đó

Không xác định đúng thời gian xảy ra các hành động trong câu nói (ví dụ như “đang ăn” nói thành “đã ăn”)

Một số triệu chứng kể trên có thể là một phần của quá trình phát triển ngôn ngữ bình thường nếu trẻ đang trong giai đoạn tập nói.

Tuy nhiên, nếu những triệu chứng trên không cải thiện sau một quãng thời gian thì bé có thể mắc chứng rối loạn ngôn ngữ.

Triệu chứng rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận

Rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận là khi bạn không thể tiếp thu hay hiểu thông tin mình nghe được. Điều này có thể khiến sinh hoạt hằng ngày ở trường, nơi làm hay ở nhà trở nên khó khăn.

Ví dụ như một bé 18 tháng tuổi không thể làm theo những hướng dẫn đơn giản như “nhặt đồ chơi lên”, “ngồi xuống” hay “đi vào phòng” thì có thể đã mắc rối loạn ngôn ngữ. Bé trên 30 tháng tuổi không trả lời những câu hỏi của người khác bằng lời nói hoặc bằng cách gật hay lắc đầu cũng là một dấu hiệu của rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận.

Giao tiếp hiệu quả là một phần quan trọng của việc hình thành các mối quan hệ trong xã hội. Những triệu chứng của rối loạn ngôn ngữ nếu không được chữa trị sẽ dẫn đến trầm cảm và các vấn đề về hành vi khác.

Cách điều trị chứng rối loạn ngôn ngữ

Những bệnh nhân rối loạn cần sự hợp tác điều trị của người nhà, thầy cô, chuyên gia ngôn ngữ và bác sĩ. Sau đây là những cách điều trị rối loạn ngôn ngữ mà bạn nên thực hiện càng sớm càng tốt:

1. Kiểm tra sức khỏe: Việc đầu tiên cần làm khi phát hiện triệu chứng rối loạn ngôn ngữ là đưa người bệnh đến gặp bác sĩ để kiểm tra thể chất. Điều này sẽ giúp loại trừ các bệnh có liên quan như vấn đề về thính giác hoặc suy giảm giác quan khác.

2. Âm ngữ trị liệu: Phương pháp điều trị phổ biến cho chứng rối loạn ngôn ngữ là âm ngữ trị liệu. Cách điều trị sẽ phụ thuộc vào độ tuổi, nguyên nhân và mức độ rối loạn của người bệnh. Quá trình trị liệu sớm thường sẽ mang lại những kết quả khả quan hơn.

3. Chăm sóc tại nhà: Người thân có thể giúp đỡ người bệnh tại nhà bằng các cách như:

Kiên nhẫn chờ đợi người bệnh tìm câu trả lời

Giữ sự thoải mái để giảm bớt lo lắng cho người bệnh

Nói rõ ràng, chậm rãi và chính xác khi đặt câu hỏi cho người bệnh

Yếu cầu người bệnh nhắc lại hướng dẫn bạn vừa nói bằng từ của riêng họ

Nếu bạn có con bị rối loạn ngôn ngữ ở độ tuổi đi học, bạn nên liên hệ với giáo viên của trẻ để thảo luận về các hoạt động trong lớp.

4. Tâm lý trị liệu: Những khó khăn trong giao tiếp với mọi người có thể gây tâm lý khó chịu, ức chế và thậm chí có thể dẫn đến một số hành vi vượt ngoài tầm kiểm soát.

Vậy nên, bệnh nhân có thể cần đến bác sĩ tâm lý trị liệu để cân bằng cảm xúc và hành vi.Chứng rối loạn ngôn ngữ ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống, quá trình học tập và hiệu quả công việc của người bệnh.

Tuy nhiên, việc ngừa chứng này rất khó khăn vì nguyên nhân gây bệnh thường không rõ ràng. Cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia ngôn ngữ hay tâm lý, bạn sẽ có thể từng bước vượt qua hoặc giúp người thân cải thiện tình hình khả quan hơn.

Như Vũ | HELLO BACSI

Tham vấn y khoa: BS. Nguyễn Thường Hanh|Tác giả: Như Vũ

Tìm hiểu chứng rối loạn hành vi, cảm xúc


roi-loan-hanh-vi-cam-xuc

Nhiều người cho rằng chứng rối loạn hành vi, cảm xúc chỉ xuất hiện ở những người sử dụng các chất kích thích. Tuy nhiên, bệnh lý này ngày xuất hiện càng nhiều, không những chỉ ở giới trẻ mà còn ở những người có độ tuổi lớn hơn.

1. Rối loạn hành vi là gì? Rối loạn cảm xúc là gì?

Bệnh lý rối loạn hành vi là nhóm các vấn đề về hành vi và cảm xúc thường bắt đầu từ thời niên thiếu hoặc vị thành niên. Mắc phải chứng rối loạn này, trẻ em và trẻ vị thành niên thường gặp khó khăn khi phải tuân theo các nguyên tắc hành xử thông thường được xã hội chấp nhận

Rối loạn cảm xúc là trạng thái cảm xúc bị trầm trọng quá mức, người bệnh ít có khả năng kiểm soát, dẫn tới tâm trạng trầm cảm, khả năng học tập, làm việc bị suy yếu. Chứng bệnh rối loạn cảm xúc thường dễ chữa khỏi.

Khi mắc chứng rối loạn hành vi, cảm xúc cần phải được điều trị sớm. Việc điều trị cần có sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường, các chuyên gia y tế và cả cộng đồng.

2. Dấu hiệu và biểu hiện của chứng rối loạn hành vi, cảm xúc

Người mắc chứng rối loạn hành vi thường khó kiểm soát và không tuân theo nguyên tắc nào cả. Bệnh rối loạn hành vi có thể được nhận biết thông qua một số hành vi sau:

  • Người mắc bệnh cư xử hung hãn với những người và đồ vật xung quanh
  • Uống rượu, hút thuốc, làm những hành động gây hại cho bản thân
  • Người mắc bệnh thường xuyên có những hành vi tiêu cực, không tuân theo các quy định, quy tắc xã hội
  • Thường gây gổ, đánh nhau, nói dối, ăn cắp…
  • Việc hòa nhập với xã hội trở nên khó khăn

Bệnh nhân mắc chứng rối loạn cảm xúc thường sẽ có những biểu hiện và triệu chứng sau đây:

  • Người bệnh thường có cảm giác tuyệt vọng, tiêu cực
  • Luôn cảm thấy vô dụng, bất tài
  • Sức khỏe sụt giảm
  • Khó tập trung và ghi nhớ
  • Bồn chồn, đứng ngồi không yên, dễ cáu giận
  • Xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, rối loạn tiêu hóa
  • Người mắc chứng rối loạn cảm xúc sẽ thấy chán ăn, hoặc ăn quá nhiều

Người mắc chứng rối loạn cảm xúc sẽ thường bồn chồn, đứng ngồi không yên, dễ cáu giận

3. Nguyên nhân gây rối loạn hành vi, cảm xúc

Chứng rối loạn hành vi thường có rất nhiều nguyên nhân. Một số yếu tố gây ra bệnh gồm:

  • Do gen di truyền
  • Do não bị tổn thương hoặc do các chấn thương khác
  • Do các yếu tố về môi trường như bị lạm dụng, hoặc do tác động từ gia đình ( gia đình không hạnh phúc…)

Hiện nay, chứng rối loạn cảm xúc vẫn chưa xác định rõ được nguyên nhân. Nhìn chung, các chứng rối loạn cảm xúc phát sinh từ cả yếu tố di truyền và kết hợp với các yếu tố môi trường khác.

4. Tác hại của chứng rối loạn hành vi, cảm xúc

Những bệnh nhân mắc chứng rối loạn hành vi, cảm xúc trước hết sẽ gây hại cho chính sức khỏe bản thân của người bệnh. Bên cạnh đó, những bệnh nhân này có thể có những hành vi ảnh hưởng tới những người xung quanh:

  • Làm những hành động gây hại cho bản thân, ảnh hưởng tới sức khỏe
  • Có những hành động phá phách, hung hãn gây ảnh hưởng tới những người xung quanh
  • Khó thích nghi với xã hội, cô lập mình
  • Hay gây gổ, không thực hiện theo nguyên tắc xã hội
  • Hay cáu gắt, tức giận
  • Không tự chủ được hành vi và cảm xúc cá nhân

Người mắc chứng rối loạn hành vi, cảm xúc hay gây gổ, không thực hiện theo nguyên tắc xã hội

5. Điều trị chứng rối loạn hành vi, cảm xúc

Bệnh nhân mắc chứng rối loạn hành vi, cảm xúc cần được đưa đến các cơ sở y tế chuyên khoa để được các bác sĩ tư vấn và đưa ra các bài kiểm tra tâm lý để xác định được nguyên nhân gây ra tình trạng rối loạn.

Tùy thuộc vào nguyên nhân mà các chuyên gia y tế sẽ đưa ra các phương án điều trị chứng rối loạn hành vi khác nhau. Các bác sĩ có thể sử dụng các phương pháp trị liệu về hành vi hoặc trò chuyện để giúp người bệnh bày tỏ và kiểm soát cảm xúc đúng mực.

  • Phương pháp trị liệu hành vi tâm lý: giúp bệnh nhân nhận thức rõ ảnh hưởng của cảm xúc và suy nghĩ lên hành vi. Suốt quá trình điều trị bệnh, bệnh nhân sẽ học được cách kiểm soát và thay đổi suy nghĩ tiêu cực đến hành vi của mình.
  • Trong trường hợp rối loạn tâm thần khác nhau, các bác sĩ sẽ kê đơn thuốc để điều trị các bệnh này

Hiện nay, chứng rối loạn hành vi, cảm xúc ngày càng gia tăng. Để điều trị hiệu quả cần có sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Trong đó, gia đình là nhân tố đóng vai trò vô cùng quan trọng, cũng với nhà trường có các phương pháp giáo dục hợp lý. Bên cạnh đó, khi các đối tượng mắc chứng rối loạn cần phải được đến ngay các cơ sở uy tín để có phương pháp chữa trị kịp thời.

Theo Vinmec