Chiến lược hải quân của Trung Quốc và hàm ý của nó đối với khu vực Biển Đông


Ngô Vĩnh Long

Chiến lược hải quân của Trung Quốc
và hàm ý của nó đối với khu vực Biển Đông

 

 Ngô Vĩnh Long
Đại học Maine
Orono, Maine
Hoa Kỳ

  

            Ngày 28 tháng 12 năm 2006 hầu hết các báo lớn của Trung Quốc đã trích đăng ngay trang đầu bài diễn văn của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào ngày trước đó trong một cuộc họp với các sĩ quan hải quân về việc Trung Quốc phải xây dựng một hệ thống hải quân hùng mạnh có thể bảo vệ quyền lợi, quyền thế, và an ninh của Trung Quốc bất cứ lúc nào. Hồ Cẩm Đào nói rằng: “Chúng ta phải cố gắng xây dựng một lực lượng Hải quân Nhân dân hùng mạnh có thể đáp ứng được sứ mạng lịch sử trong một thế kỷ mới và một thời kỳ mới.”[1]

          Ngày 28 tháng 12 năm 2006, trả lời câu hỏi của phóng viên Thông tấn xã Việt Nam về việc Trung Quốc đã tiến hành xây dựng bia chủ quyền tại các điểm cơ sở lãnh hải, trong đó có một số điểm cơ sở trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Dũng nói:

Việt Nam một lần nữa khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý  để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này….

 Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ trương giải quyết mọi tranh chấp trên biển giữa các nước liên quan bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông năm 2002, vì mục đích tăng cường hợp tác hữu nghị, giữ gìn hòa bình và ổn định trên biển Đông.[2]

          Không biết hai sự kiện trên có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không. Nhưng vì Trung Quốc không bị một sự đe dọa nào trên trên đất liền cả (trừ các cuộc biểu tình của nông dân và sự chống đối của một thiểu số khoảng 50 nghìn người đạo Hồi ở vùng Tân Cương) trong khi ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã tăng trung bình 15,36% mỗi năm từ năm 1990 đến 2005, và tăng 17,8% năm 2007,[3] hải quân Trung Quốc đã tăng cường rất nhanh trong 16 năm qua. Do đó, ý định của bài nầy là tìm hiểu xem chiến lược của hải quân Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng gì đối với khu vực biển Đông. Các vấn đề tranh chấp trong khu vực biển Đông là ngoài phạm vi của bài nầy và đã được phân tích trong các bài của Từ Đặng Minh ThuVũ Quang Việt trong số Thời Đại Mới nầy. Vì thế, ở đây tôi sẽ không đề cập đến các vấn đề ấy nữa mà chỉ mong bổ sung các bài ấy với một số thông tin về hải quân Trung Quốc và chiến lược của nó.

Trước khi đi vào chi tiết về chiến lược của hải quân Trung Quốc, tôi xin phác qua vài nét về tên gọi và cơ cấu tổ chức của nó.[4]

Hải quân Trung Quốc được gọi là “Giải phóng quân Hải quân” (Jiefangjun Haijun 解 放 军 海 军) vì nó là một bộ phận của Giải phóng quân, tức quân đội, của Trung Quốc. Các sách báo tiếng Anh thường gọi tắt là PLAN (People’s Liberation Army Navy).

Hải quân Trung Quốc gồm có 5 nhánh: binh đội tàu ngầm, binh đội tàu mặt nước, binh đội không quân, binh đội hải quân đánh bộ, và binh đội “ngạn phòng.” Ngoài ra, cũng có 10 học viện và đại học trực thuộc, nhiều viện nghiên cứu, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, và các cục chính trị, cục hậu cần, cục kỹ thuật, và các đơn vị bảo đảm phục vụ và sửa chữa. Các binh đoàn, binh đội và đơn vị trên được phân chia thành 3 vùng gọi là: Bắc Hải Hạm Đội (Beihai jiandui 北 海 舰 队), Đông Hải Hạm Đội (Donghai jian dui 东 海 舰 队),và Nam Hải Hạm Đội (Nanhai jiandui 南 海 舰 队).

Hải quân Trung Quốc được tổ chức thành những chi đội (zhidui 支 队), đại đội (dadui 大 队) và trung đội (zhongdui 中 队). Về phương thức tổ chức thì một chi đội có quân hàm tương đương với một sư đoàn của Mỹ và vì thế thường được dịch ra là “division” hay “flotilla” (hạm đội). Hải quân Trung Quốc có 7 thứ chi đội khác nhau:

  • ·       Tàu ngầm, gọi là “tiềm đĩnh” (qianting 潜 艇).
  • ·       Tàu khu trục (destroyers).
  • ·       Tàu hộ tống, gọi là “hộ vệ đĩnh” (huweiting 护 卫 艇).
  • ·       Tàu cao tốc (speedboats).
  • ·       “Tác chiến chi viện thuyền” (zuozhan zhiyuanjian 作 战支 援 舰).
  • ·       Tàu đánh đuổi tàu lặn (submarine chasers).

Nhiều chi đội là chi đội tổng hợp gồm có các thứ tàu khác nhau. Ví dụ như có một số chi đội tàu ngầm hạt nhân và tàu ngầm thông thường, chi đội tàu khu trục, chi đội tàu hộ tống và chi đội tàu cao tốc gồm có những “đạo đạn đĩnh” (daodanting 导 弹 艇), tàu rà mìn, tàu phóng ngư lôi và tàu đánh đuổi tàu lặn. Các chi đội tàu thường có một số “tác chiến chi viện thuyền” nhất định.

 

Chiến lược chung của Hải quân Trung Quốc

          Theo định nghĩa của quân đội Trung Quốc thì chữ “chiến lược” (zhanlue 战  略) chỉ áp dụng cho chiến tranh (zhanzheng 战 争). Chiến tranh có thể là chiến tranh cục bộ hay chiến tranh toàn bộ; và chiến tranh là để đạt được những mục tiêu chung của một quốc gia. Trong chiến tranh thì có chiến dịch (zhanyi  战 役) và “chiến dịch pháp” (zhanyifa 战 役 法) và được dùng để điều hành các chiến trận, mà họ gọi là “chiến đấu” (zhandou 战 斗), để đạt được những mục tiêu chung của một quốc gia trong chiến tranh. Mỗi mô hình “chiến đấu” có các “chiến thuật” (zhanshu 战 术) khác nhau của nó.

          Chiến lược chung của quân đội Trung Quốc được gọi là “Cương lĩnh Quân sự Quốc gia cho Thời đại mới” và gồm có hai phần. Phần thứ nhất là phần về đổi mới và hiện đại hóa quân đội toàn bộ từ trang bị vũ khí đến cơ cấu và tổ chức. Trong đó, hai vấn đề quan trọng nhất là “chuẩn bị đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ trong hoàn cảnh công nghệ cao hiện đại” và “chuyển đổi từ một quân đội dựa trên số lượng đến một quân đội dựa trên chất lượng.”[5] Từ những năm đầu của thập kỷ 2000 đến nay Trung Quốc chú trọng vào việc xây một quân đội dựa trên cơ khí hóa và tin học hóa mà họ gọi là “tin tức hóa” (xinxihua 信 息 化).[6]

          Phần thứ hai là phần các chiến lược hoạt động, tức các đường lối cơ bản cho  việc chỉ đạo chiến tranh. Phần nầy được gọi là chiến lược “tích cực phòng ngự” (Jiji fangyu 积 极 防 御) và được coi là cương lĩnh chiến lược tối cao của toàn thể quân đội Trung Quốc trong chiến tranh, hay trong việc chuẩn bị cho chiến tranh trong thời bình. Chiến lược “tích cực phòng ngự” gồm những điểm sau:[7]

  • ·    “Nói chung, chiến lược quân sự của ta là phòng ngự. Chúng ta chỉ tấn công sau khi bị tấn công. Nhưng các chiến dịch của chúng ta là tấn công.
  • ·   “Không gian và thời gian sẽ không hạn chế sự phản công của chúng ta.”
  • ·   “Chúng ta sẽ không để các biên giới hạn chế các cuộc tấn công của ta.”
  • ·   “Chúng ta sẽ chờ cho thời điểm và điều kiện thuận lợi cho các lực lượng của chúng ta trước khi chúng ta bắt đầu các cuộc tấn công.”
  • ·   “Chúng ta sẽ tập trung vào các điểm yếu của đối phương.”
  • ·   “Chúng ta sẽ dùng các lực lượng của chúng ta để tiêu diệt các lực lượng của đối phương.”
  • ·   “Các chiến dịch tấn công kẻ thù và các chiến dịch phòng thủ sẽ được thi hành cùng lúc.”     

Một phần của chiến lược “tích cực phòng ngự” là khái niệm chiến lược gọi là “cận hải phòng ngự” (Jinhai fangyu 近海防御) của Hải Quân Trung Quốc. Khái niệm nầy có 3 nhiệm vụ chính:[8]

  • ·   Kiềm chế kẻ thù từ ngoài khơi và không cho đổ bộ.
  • ·   Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia.
  • ·   Bảo vệ sự thống nhất đất nước và quyền lợi trên biển cả. 

“Cận hải” không có nghĩa là gần bờ biển. Nhưng, theo định nghĩa trong các tài liệu của Hải Quân Trung Quốc là “đến tận những nơi xa trên biển cả mà Hải Quân Trung Quốc có khả năng đưa các lực lượng đặc nhiệm đến với sự chi viện và an ninh cần thiết” (…as far as the PLA Navy’s capabilities will allow it to operate task forces out at sea with the requisite amount of support and security.)[9] [Nhấn mạnh là trong nguyên văn] Hiện nay “cận hải” được định nghĩa tối thiểu là trong phạm vi của hai chuỗi quần đảo. Chuỗi quần đảo thứ nhất thường được mô tả là một đường chạy dài từ quần đảo Kurile, qua Nhật, Philippin, và In-đô-nê-sia (từ Borneo đến Natuna Besar). Chuỗi quần đảo thứ hai là đường bắc-nam chạy dài từ quần đảo Kurile, qua Nhật, Bonins, Marianas, Carolines, và In-đô-nê-sia. Hai đường nầy bao gồm gần như toàn bộ Biển đông Trung Quốc (East China Sea) hầu hết các đường giao thương trên biển (sea lanes of communication, SLOCs) của Đông Á.

 Theo một bài viết vào khoảng cuối năm 1999 khi ông còn là tùy viên hải quân Hoa Kỳ ở Trung Quốc, thuyền trưởng (Captain) Brad Kaplan cho biết rằng mục tiêu của chiến lược “tích cực cận hải phòng ngự” (“active offshore defense”) là “để khẳng định vai trò của Trung Quốc như là một cường quốc khu vực trên biển, để bảo vệ các khu vực kinh tế duyên hải và các quyền lợi trên biển, và để tối ưu hóa các chiến dịch của Hải quân (Trung Quốc) cho quốc phòng. Bổn phận của Hải quân Trung Quốc hiện nay bao gồm việc chiếm đóng và phòng thủ các hải đảo, và bảo vệ cũng như phong tỏa các đường giao thương trên biển (sea-lanes of communication). Hơn thế nữa, Hải quân Trung Quốc càng ngày càng được lãnh đạo của Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc coi như là bộ phận không thể thiếu trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan  ̶  khi cần dùng vũ lực  ̶  và để bảo vệ “Tây sa” và “Nam sa” (tức Hoàng sa và Trường sa) ở Trung Quốc Nam Hải (tức biển Đông).”[10]

Kaplan viết tiếp: “Chiến lược đang được Hải quân Trung Quốc phát triển tuần tự đã được mô tả là gồm hai giai đoạn riêng biệt rõ ràng. Giai đoạn đầu là để cho Hải quân Trung Quốc phát triển các khả năng của một “chiến lược phòng ngự tích cực nước màu xanh lục” (“green water active defense strategy”). Chiến lược “nước màu xanh lục” nầy thường được mô tả là bao gồm trong một hình cung từ Vladivostok ở phía bắc đến eo biển Malacca ở phía nam, và ra đến “chuỗi quần đảo thứ nhất” (Aleutians, Kuriles, Ryukyus, Đài Loan, Philippin, và quần đảo Greater Sunda) ở phía đông. Các nhà phân tích đã đánh giá rằng Hải quân Trung quốc có thể đạt được khả năng “nước màu xanh lục” nầy trong những năm đầu của thế kỷ 21. Những tài liệu đã được công bố cũng cho biết là Hải quân Trung Quốc có ý định phát triển khả năng hoạt động ở “chuỗi quần đảo thứ hai” (Bonins, Guam, Marianas, và quần đảo Palau) vào giữa thế kỷ 21. Trong tương lai, Hải quân Trung Quốc có thể sẽ bành trướng hoạt động đến các căn cứ ở Myanmar. Các căn cứ nầy sẽ cung cấp cho Hải quân Trung Quốc phương tiện đi thẳng đến eo biển Malacca và Vịnh Bengal.”

Kaplan cho biết là đến cuối thập kỷ 90 Hải quân Trung Quốc có khoảng 268.000 sĩ quan và lính, trong đó có 25.000 người trong quân chủng hàng không hải quân và khoảng 7.000 lính thủy đánh bộ. Toàn bộ lính thủy đánh bộ là thuộc Hạm đội Nam Hải. Khối lính thủy đánh bộ (thuộc Hạm đội Nam Hải) này gồm 2 lữ đoàn, gọi là Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến số một và số 164. Dưới mỗi lữ đoàn có 3 trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo, một trung đoàn thiết giáp lội nước, và các đơn vị công binh, trinh sát, phòng chống hóa chất, và giao thông. Các đơn vị nầy là những đơn vị hạng tiểu đoàn và đại đội.[11]

Lính thủy đánh bộ của Trung Quốc được huấn luyện tốt và đựợc cung cấp đầy đủ các loại vũ khí cần thiết. Theo Kaplan: “Sứ mạng chính của lính thủy đánh bộ Trung Quốc là bảo vệ các đảo mà Trung Quốc đã chiếm ở Trung Quốc Nam Hải (South China Sea) trong thời bình và chiếm đóng và phòng thủ các đảo trong khu vực Trung Quốc Nam Hải trong thời chiến…. Lính thủy đánh bộ Trung Quốc được trang bị với các xe tăng lội nước (amphibious tanks) và các xe thiết giáp chở lính (armored personnel vehicles), súng đại liên (howitzers) và nhiều thứ vũ khí phóng tên lửa khác nhau. Mặc dù Hải quân Trung Quốc có khoảng 60 xe tăng… khả năng chở lính đổ bộ chỉ khoảng 5 đến 10 nghìn người cùng một lúc.” Vì thế, theo Kaplan, từ cuối thập kỷ 90 Hải quân Trung Quốc đã bắt đầu phát triển các khả năng đổ bộ như thuyền bay trên nệm hơi loại gọi là Jingsha (Jingsha-class air cushion vehicles) và các loại thuyền đẩy bằng cánh quạt gió (wing-in-ground-effect craft) bay trên mặt nước khoảng 1 mét với tốc độ khoảng hơn 120 hải lý một giờ để dùng trong việc đổ bộ lính thủy đánh bộ trong tương lai.

Trong quá khứ, các cuộc tập trận đổ bộ của lính thủy đánh bộ Trung Quốc đã được phối hợp với các cuộc dội bom bằng máy bay và nã pháo từ các chiến thuyền. Nhưng vì khả năng phối hợp này còn yếu nên gần đây Trung Quốc đã phát triển hàng nghìn các loại vũ khí hổ trợ cho việc đổ bộ của lính thủy đánh bộ. Nhưng trong bài nầy tôi không đi vào chi tiết mà chỉ xin lưu ý là mặc dầu với con số khá lớn như thế, khả năng hiện nay của Trung Quốc so với Mỹ trong khu vực nầy còn kém nhiều và vì thế chưa là mối đe dọa lớn cho các tàu lặn tối tân của Mỹ.

Hơn thế nữa, việc Trung Quốc tăng cường các loại chiến thuyển chở lính đổ bộ (amphibious warships) đã gây sự chú ý của Mỹ và phản ứng của một số nước trong khu vực Đông Á. Theo một bài nghiên cứu thì trên thực tế vấn đề chạy đua vũ trang chính trong khu vực nầy là việc phát triển các chiến thuyền có khả năng đưa lính đổ bộ đến bất cứ đâu trong khu vực.[12] Hải quân Nhật, Hàn Quốc, và Ô-xtrây-li-a mỗi nước đang mua hoặc đóng ít nhất là 2 chiến thuyền đổ bộ loại 20 ngàn tấn, lớn tương đương với loại hàng không mẫu hạm loại Invincible (bất bại) của Anh Quốc. Mỗi chiếc của 3 loại nầy trong tương lai rất gần sẽ có thể đưa vào bất cứ nơi nào trong khu vực Châu Á hai đội (squadrons) máy bay trực thăng và một số thuyền đổ bộ bay trên đệm hơi (landing craft, air cushion = LCAC). Mỗi chiếc LCAC nầy có thể chở một xe thiết giáp loại 60 tấn cùng với lính, các loại xe khác, và các loại trang thiết bị cần thiết cho các cuộc viễn chinh ở các nơi trong khu vực. Nhưng Nhật, Hàn Quốc và Ô-xtrây-li-a đặc biệt chú trọng đến khu vực Đông Nam Á.

 Hàn Quốc đã đưa vào hoạt động một chiến thuyền đổ bộ mới loại Dokdo và sẽ hạ thủy thêm 3 chiếc nữa trong tương lai gần. Mỗi chiếc sẽ nặng khoảng 19 ngàn tấn khi trang bị đầy đủ và sẽ có thể chở 700 lính, 15 chiếc trực thăng, 2 chiếc LCAC, vài chục chiếc xe các loại và nhiều tấn vật liệu tiếp tế cho một cuộc đổ bộ.

Theo nghiên cứu trích ở trên thì Ô-xtrây-li-a sẽ có quyết định cuối cùng vào tháng 6 năm 2007 trong việc chọn lựa giữa một kiểu chiến thuyền đổ bộ giống như kiểu Mistral của Pháp hay kiểu Strategic Projection Vessel của Tây Ban Nha. Kiểu Mistral là loại chiến thuyền được thiết kế đặc biệt cho việc đổ bộ và nó có khả năng tương đương với chiếc Dokdo của Hàn Quốc. Chiến thuyền kiểu Tây Ban Nha nặng khoảng 27 ngàn tấn và thiết kế để sử dụng các chiếc máy bay cất cánh nhanh và có thể hạ thẳng xuống (short takeoff and vertical landing = STOVL) như máy bay Harrier của Anh hay máy bay F-35B Lightening II của Mỹ. Vì thế, mặc dầu chiến thuyền đổ bộ kiểu Tây Ban Nha có thể chở hơn 900 lính, 20 chiếc trực thăng và STOVL, nó chỉ có thể chở một chiếc LCAC. Nhưng vì dưới khoang tàu là cái gầm có nước tràn vào cho nên chiếc LCAC có thể ra vào một cách hết sức nhanh chóng (so với những chiến thuyền kiểu khác phải thả các chiếc LCAC bằng các trục giây cáp xuống từ hai bên hông tàu) và có thể đưa nhiều lính và các trang thiết bị vào đất liền ngay từ ngoài khơi.

 Mặc dầu hai chiếc khu trục chở máy bay trực thăng (helicopter destroyer) mà hải quân Nhật—gọi là Lực Lượng Phòng Vệ Biển (Japan Maritime Self-Defense Force = JMSDF)—đang đóng không có cửa vào thẳng trong gầm tàu như kiểu Tây Ban Nha, mỗi chiếc (tên là 16DDH) cũng có thể chở cùng một số lượng máy bay trực thăng như các chiến thuyền đổ bộ kiểu Tây Ban Nha. Thêm vào đó là hai chiếc nầy được thiết kế để phối hợp hoạt động với 3 chiến thuyền đổ bộ kiểu Oosumi mà Nhật đã hạ thủy. Mỗi chiếc Oosumi có thể chở 2 chiếc LCAC, 2 chiếc trực thăng trở lên và 330 lính.

 Ngoài các chiến thuyền đổ bộ của Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, và Nhật trong khu vực Tây Thái Bình Dương còn có những chiếc WASP của hải quân Mỹ. Mỗi chiếc có thể chở 1870 lính, 42 chiếc trực thăng và STOVL và 3 chiếc LCAC.

 Những chiến thuyền đổ bộ kể trên, với những máy bay trực thăng và LCAC và khả năng đưa lính đổ bộ nhanh chóng cũng như khả năng cung cấp và duy trì các cuộc hành quân đó, sẽ là những phương tiện mới để gây ảnh hưởng tại Đông Á cho dù các cuộc hành quân đó không phải là chiếm đóng các vị trí quân sự quan trong mà là để giúp giữ gìn an ninh và trật tự hay để cứu giúp những nạn nhân sóng thần hay núi lửa.

 Trong những năm trước mắt, nếu có biến cố xảy ra ở In-đô-nê-sia, Phi-líp-pin, hay nơi nào đó ở Đông Nam Á thì những chiến thuyền đổ bộ của Mỹ sẽ phải phối hợp với các chiến thuyền đổ bộ có nhiều khả năng của Nhật, Hàn Quốc, và Ô-xtrây-li-a để can thiệp. Việc phối hợp nầy một đằng có nghĩa là Mỹ sẽ mất thế độc tôn trong việc can thiệp hay trợ giúp các nước trong khu vực khi có biến cố. Đằng khác, nếu bất cứ một nước nào đó muốn dùng sức mạnh hải quân để đơn phương can thiệp hay gây biến cố trong khu vực thì nước đó cũng có thể phải e dè đến sự phản ứng đa phương của hải quân các nước như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật, Ô-xtrây-li-a, và một số nước khác.

  

Chiến lược phủ định của Trung Quốc

Như vừa cho thấy ở trên, việc tăng cường chiến thuyền đổ bộ và các phương tiện đổ bộ khác của Trung Quốc đã gây nên một cuộc chạy đua mà nói chung là càng làm cho Trung Quốc tụt hậu so với Nhật, Hàn Quốc và Ô-xtrây-li-a. (Một trong những lý do cho việc tụt hậu của Trung Quốc so với các nước vừa kể trên trong lãnh vực phát triển các chiến thuyền đổ bộ là vì Trung Quốc cũng đang đầu tư khá nhiều vào việc phát triển hàng không mẫu hạm.)[13] Trong khi đó thì hạm đội trên mặt nước của Trung Quốc rất yếu kém so với Mỹ. Mặc dầu Trung Quốc hiện nay có hơn 400 chiến hạm loại tấn công, chỉ có khoảng 50 chiếc là loại lớn theo tiêu chuẩn của Âu-Mỹ. Những chiếc nầy được trang bị với các hỏa tiển và đầu đạn tầm gần và tầm xa nhưng không có khả năng đương đầu với các tàu chiến lớn của Mỹ hay chống lại và tìm diệt các tàu lặn của Mỹ. Ngoài các chiến thuyền tấn công, hải quân Trung Quốc có hơn 300 chiếc chiếc “hộ vệ đỉnh” đủ loại.  Theo Kaplan, gần như toàn bộ các chiếc thuyền nầy đều trang bị với các khả năng gài những loại mìn với những hệ thống sử dụng công nghệ rất hiện đại. Ông ta cho biết là: “Nếu dùng với số lượng đầy đủ thì các loại mìn nầy sẽ gây một đe dọa rất khả quan đối với các chiến thuyền trên mặt nước và tàu lặn hoạt động dọc vùng duyên hải Trung Quốc, Hoàng Hải (Yellow Sea), Biển Nhật Bản, eo biển Đài Loan và Trung Quốc Nam Hải. (If used in sufficient numbers, this inventory poses a significant threat to surface and submarine units operating along China’s littoral, the Yellow Sea, Sea of Japan, Taiwan Strait, and South China Sea.)[14]

Nhưng vì Trung Quốc chưa thể đương đầu với các hạm đội trên mặt nước của Mỹ, chiến lược của Trung Quốc là dùng tàu lặn để tấn công và phủ định sức mạnh của các hạm đội trên mặt nước của Mỹ vì các tàu trên mặt nước, đặc biệt là hàng không mẫu hạm, rất khó phòng thủ trước các cuộc tấn công của tàu lặn bắn hàng loạt các tên lửa có đầu đạn các loại gần xa cùng một lúc.  

Nói đến tàu lặn thì bắt đầu từ thập kỷ nầy Trung Quốc có khoảng 70 chiếc và hiện nay số lượng đó vẫn như thế vì chiến lược của Trung Quốc là thay thế những tàu lặn kiểu cũ với những tàu lặn tối tân hơn như là loại chạy bằng năng lượng nguyên tử có thể phóng các tên lửa (nuclear-power ballistic-missile system, SSBN). Một ví dụ là loại 094 SSBN được trang bị với 16 ống phóng tên lửa. Từ năm 2002 đến giữa năm 2005 Trung Quốc đã đóng 14 chiếc tàu lặn loại mới. Nếu Trung Quốc tiếp tục đóng những chiếc tàu lặn tối tân với tốc độ vừa qua thì đến cuối thập kỷ nầy Trung Quốc sẽ có 40 chiếc tàu lặn tối tân. Một lần nữa trong bài nầy tôi xin không đi vào các chi tiết về các kiểu tàu lặn mới của Trung Quốc và khả năng của chúng. Tôi chỉ muốn lưu ý là phần lớn các loại tàu lặn tối tân là trong Hạm đội Nam Hải và những tàu lặn nầy đã từng đi theo các chiến thuyền của Mỹ đến tận đảo Guam để thử xem khả năng phát hiện tàu lặn của các chiến hạm của Mỹ tinh vi đến độ nào.[15]

Một nhà nghiên cứu Mỹ, tên Richard Fisher, Jr., trong một bài với tựa đề “Trouble Below: China’s submarines pose regional, strategic challenges” đăng trong Armes Forces Journal ngày 6 tháng 3 năm 2006 viết: “Thêm vào đó là, vì trọng tâm của lực lượng tấn công nguyên tử tầng thứ hai (của Trung Quốc) chuyển về phía nam, người ta có thể dự tính rằng Bắc Kinh sẽ càng ngày càng thách thức hơn đối với các lãnh thổ mà Trung Quốc cho là của Trung Quốc trong khu vực Trung Quốc Nam Hải.” (In addition, as the focus of its nuclear second-strike capability moves south, it can be expected that Beijing will become more belligerent regarding its territorial claims in the South China Sea.) Fisher cho biết rằng tàu lặn nguyên tử loại 093 SSN có thể trang bị với các đầu đạn cruise tấn công trên đất liền (land-attack cruise missiles, LACM) với tầm xa từ 1000 đến 2000 cây số sẽ càng ngày càng được dùng ở cuối thập kỷ nầy và đầu thập kỷ tới ở các nước xa Trung Quốc để ủng hộ các chính thể và các phe phái chính trị trung thành với Trung Quốc. Trong khi đó, nếu Nhật không tăng ngân sách quốc phòng một cách đáng kể thì trong tương lai Nhật chỉ có thể duy trì khoảng 15 đến 16 tàu lặn lọai thường (conventional submarines, SSKs).[16]

Trong bài với tựa đề “China’s Submarine Challenge” mà The Heritage Foundation ở Mỹ đăng ngày 1 tháng 3 năm 2006, John J. Tkacik, Jr., cho biết hiện nay Mỹ có 35 tàu lặn trong Hạm đội Thái Bình Dương, trong đó có 3 chiếc loại tấn công nguyên tử (nuclear attack submarines) đóng ở đảo Guam. Nhưng chỉ có khoảng một chục chiếc là được đưa vào hoạt động trong bất cứ một thời điểm nào. Và vì giá đóng mỗi chiếc tàu lặn là hơn 2 tỷ đô la và vì ngân sách đóng tàu lặn đang bị cắt, đến năm 2025 Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ sẽ chỉ còn có 30 chiếc. Tkacik cho biết rằng một số nghiên cứu đã ước tính là đến năm 2025 số lượng tàu lặn của Trung Quốc ở Thái Bình Dương sẽ lớn hơn gấp 5 lần số lượng tàu lặn của Mỹ và các tàu lặn nguyên tử có các đầu đạn nguyên tử của Trung Quốc sẽ đi rình mò dọc miền ven biển Tây của Mỹ để buộc ít nhất là hai chiếc tàu lặn loại tấn công (attack submarines) của Mỹ phải đi theo dõi một chiếc tàu lặn nguyên tử của Trung Quốc. Vì những lý do trên, đến năm 2025 hải quân của Trung Quốc sẽ có thể làm chủ Thái Bình Dương.[17]

 Phương pháp thứ hai trong chiến lược phủ định sức mạnh của hải quân Mỹ là làm tê liệt các phương tiện trinh sát và truyền tin của quân đội Mỹ, như giết các vệ tinh, để cho quân đội của Mỹ bị mù trong khi Trung Quốc tấn công các mục tiêu quân sự và vì thế không có thể trở tay hay tiếp ứng kịp thời. Ngày 11 tháng Giêng vừa qua Trung Quốc thử vũ khí chống vệ tinh (anti-satellite test, ASAT) bằng cách dùng phương pháp ra-đa mảng (phased array radar) để hướng dẫn một phi thuyền giết vệ tinh bằng động năng (kinetic-kill vehicle) bay theo một vệ tinh của Trung Quốc đang bay vòng quanh khoảng 475 dặm Anh trên không trung với tốc độ nhanh hơn một đầu đạn xuyên lục địa đang phóng xuống từ trên không trung và đập nát vệ tinh nầy ra thành hơn 1600 mảnh. Vũ khí chống vệ tinh nầy của Trung Quốc được tình báo Mỹ gọi là SC-19 và được phóng lên từ một dàn phóng di động. Mỹ biết trước là Trung Quốc sẽ thử vũ khí chống vệ tinh nầy nhưng làm thinh vì biết là không có cách nào cản được Trung Quốc.[18]

 Ashley Tellis, một nhà nghiên cứu tại Carnegie Endowment for International Peace, cho biết là các yếu tố kỹ thuật trong cuộc thử vũ khí chống vệ tinh nầy của Trung Quốc cũng giống như các yếu tố kỹ thuật trong việc bắn hạ các tên lửa. Cùng với việc thử vũ khí giết vệ tinh, Trung Quốc sẽ triển khai hệ thống tên lửa xuyên lục địa lưu động (road-mobile intercontinental ballistic missle) gọi là DF-31. Tellis viết thêm rằng Bắc Kinh đã đi đến quyết định là phải có một hệ thống tên lửa và khả năng tiêu diệt vệ tinh hùng mạnh để “chống lại toàn bộ khả năng quân sự của Hoa Kỳ” và để phá vở “mạng lưới phức tạp nhưng khó bảo vệ của chỉ huy, điều khiển, thông tin, và các hệ thống dựa vào máy vi tính để cung cấp tin tức trinh sát” (“complex, exposed network of command, control, communications, and computer-based systems that provide intelligence reconnaissance”) cho quân đội của Mỹ. Tellis viết là bởi vì các nhà hoạch định quốc phòng Trung Quốc thấy các nhược điểm chính của quân đội Mỹ là tính chất nối mạng thông tin nên Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ các nỗ lực xây dựng các quân lực tên lửa hùng mạnh dẫu cho Mỹ có đưa ra bất cứ những đề nghị gì để hòng ngăn chặn vấn đề vũ khí hóa không gian (weaponization of space).[19]

 Trong khi đó thì thái độ chống đối của Trung Quốc đối với việc Mỹ muốn triển khai/dàn dựng hệ thống phòng thủ tên lửa (ballistic missile defense system, BMD) ở Âu Châu và ủng hộ Nga trong việc tranh cãi với Mỹ về vấn đề nầy cho ta thấy Trung Quốc sợ nếu Mỹ thành công ở Âu Châu thì Mỹ sẽ có thể thiết lập hệ thống nầy ở vùng Châu Á Thái Bình Dương. Phản ứng của Trung Quốc càng ngày càng mạnh. Khi cuộc họp thượng đỉnh G8 vừa qua bắt đầu, Jiang Yu (người phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc) tuyên bố là “các hệ thống phòng thủ tên lửa có ảnh hưởng tiêu cực đối với cân bằng chiến lược và ổn định và (vì thế) có phương hại đến vấn đề tin tưởng lẫn nhau giữa các cường quốc và có thể sẽ tạo ra các vấn đề phổ biến vũ khí mới (Xinhua, ngày 5 tháng 6 năm 2007).

 Ngày 21 tờ Nhân Dân nhật báo (People’s Daily) đăng một bài xã luận nói rằng kế hoạch chống tên lửa của Mỹ ở Âu Châu diễn ra cùng lúc với những hoạt động hợp tác với Nhật và Ô-xtrây-li-a để phát triển một hệ thống tương tự ở Á Châu. Bài nầy nói rằng hệ thống phòng thủ tên lửa cũng có thể dùng để tấn công như là “bắn trúng các tên lửa cao tốc tấn công các máy bay đang bay hay những vệ tinh trên quỹ đạo.” Bài báo nhấn mạnh rằng những nỗ lực của Mỹ và đồng minh trong việc xây dựng một hệ thống phòng thủ tên lửa là “phản ánh đầu óc của Mỹ muốn tăng cường trạng thái tâm lý Chiến Tranh Lạnh” và vì thế “sẽ chẳng có thể duy trì an ninh khu vực hay phát triển sự tin tưởng lẫn nhau hay sự hợp tác giữa các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.” Bài xã luận đi đến kết luận đáng ngại là hệ thống phòng thủ tên lửa “sẽ không những  tăng cường sự mất tin tưởng và cảm giác xa lìa giữa các quốc gia nhưng sẽ còn tạo ra những vấn đề phổ biến vũ khí.”

 Vài nhà nghiên cứu cho rằng Trung Quốc thử vũ khí chống vệ tinh để đánh đổi việc Mỹ và các đồng minh muốn gầy dựng các hệ thống vũ khí chống tên lửa từ trên không gian (space-based antimissile weapons). Peter W. Rodman, một viên chức cao cấp của Bộ Quốc Phòng Mỹ vừa từ chức gần đây, không đồng ý với quan điểm nầy và cho biết rằng Trung Quốc đã từ lâu viết về các phương cách làm sao để đánh què một siêu cường dựa vào kỹ thuật cao như vệ tinh và đã rất kiên nhẫn trong việc phát triển các vũ khí có khả năng thực hiện việc đó cho nên, theo ông thấy, Trung Quốc không có lý do gì để trao đổi cả.[20]  Larry Wortzel, một nhà nghiên cứu chiến lược trong Bộ Quốc Phòng Mỹ và là cựu tùy viên quân sự tại Bắc Kinh đi đến kết luận (sau khi nghiên cứu các tài liệu quân sự của Trung Quốc) rằng Trung Quốc, cũng như Nga, chuẩn bị các hệ thống tên lửa để áp đảo bất cứ một hệ thống phòng tên lửa nào của Mỹ. Wortsel trích bài viết mới đây của một số sĩ quan Trung Quốc trong đó họ cho rằng “các lực lượng tên lửa hướng dẫn là những quân chủ bài để dành lấy thắng lợi trong một chiến tranh cục bộ công nghệ cao” (“guided missile forces are the trump card (sa shou jian) in achieving victory in limited high technology war”).[21]

Lô-gích vừa trích ở trên cũng có nghĩa là khả năng bảo vệ các vệ tinh và các mấu thông tin của hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ và đồng minh là một trong những đe dọa lớn nhất đối với chiến lược quân sự của Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc càng phát triển khả năng dùng tên lửa để làm cho hệ thống trinh sát của Mỹ bị mù thì Mỹ lại càng tăng cường hệ thống phòng tên lửa. Và như thế thì quả thật sẽ có thể gây ra một trình trạng giống như Chiến Tranh Lạnh trước đây. Tình trạng mới nầy làm cho nhiều nước ở Đông Nam Á đang phải vừa củng cố quốc phòng vừa tìm các biện pháp phòng hờ (hedging) đối với Trung Quốc và Mỹ.

 

Ví dụ phòng hờ và thái độ của Mỹ

          Một ví dụ phòng hờ là trường hợp của Ma-lai-xi-a. Ma-lai-xi-a là nước có quan hệ rất tốt với Trung Quốc và cả hai nước nầy đều công nhận như thế. Trên bình diện kinh tế thì mậu dịch hai chiều đã tăng từ 14,2 tỷ USD năm 2003 đến 22,5 tỷ USD năm 2005. Theo tài liệu của Quỷ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF) thì đến năm 2005 Trung Quốc là bạn hàng lớn thứ tư của Ma-lai-xi-a, sau Mỹ, Xing-ga-po và Nhật. Tuy nhiên từ năm 2000  nhập siêu của Ma-lai-xi-a đối với Trung Quốc đã tăng dần; và đến năm 2005 nhập siêu của Ma-lai-xi-a đối với Trung Quốc là 3,9 tỷ USD. Một lý do cho việc nhập siêu nầy là vì hàng chế biến của Trung Quốc quá rẻ và làm cho các doanh nhiệp Ma-lai-xi-a rất khó cạnh tranh.[22] Tuy nhiên, chính phủ Ma-lai-xi-a cũng rất lạc quan về quan hệ kinh tế với Trung Quốc và cả hai chính phủ đều đặt mục tiêu mậu dịch hai chiều sẽ tăng lên đến 50 tỷ USD năm 2010. Xuất khẩu nhiên liệu của Ma-lai-xi-a sang Trung Quốc sẽ giúp Ma-lai-xi-a giảm tỷ lệ nhập siêu vì Ma-lai-xi-a là một trong những nước xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (liquified natural gas, LNG) nhiều nhất trên thế giới. Tháng 11 năm 2006 hãng dầu quốc doanh (Petronas) của Ma-lai-xi-a thắng thầu cung cấp cho Thượng Hải mỗi năm 3 triệu tấn LNG trong 25 năm với giá 25 tỷ USD. Và đây là hợp đồng lớn nhất giữa hai nước.[23]

          Ma-lai-xi-a đối đãi rất tế nhị với Trung Quốc. Một ví dụ là từ năm 2000 Ma-lai-xi-a đã nới rộng các hạn chế về thị thực và để cho công nhân Trung Quốc vào ra Ma-lai-xi-a một cách dễ dàng. Kết quả là số du khách từ Trung Quốc đến càng ngày càng tăng. Năm 2003 có 350 ngàn du khách Trung Quốc đến thăm Ma-lai-xi-a và năm 2006 con số nầy đã tăng đến 439 ngàn. Thêm vào đó là Ma-lai-xi-a đã cho rất nhiều sinh viên Trung Quốc vào học tại các đại học và cao học Ma-lai-xi-a. Năm 2003 có 11 ngàn sinh viên Trung Quốc ghi tên học tại các đại học Ma-lai-xi-a, tức là khoảng 25% tổng số các sinh viên nước ngoài tại Ma-lai-xi-a. Số du khách và sinh viên to lớn kể trên đem đến cho Ma-lai-xi-a một số thu nhập đáng kể. Nhưng con số to lớn ấy cũng gây lên những quan tâm về an ninh vì có hàng vạn công dân Trung Quốc ấy không chịu về nước và một là trốn ở lại trái phép hay dùng Ma-lai-xi-a để rồi đi đến nước thứ ba.[24]

          Đối với các vấn đề khác  ̶  như Đài Loan, eo biển Malacca, và an ninh khu vực ̶  Ma-lai-xi-a cũng đã sử sự rất khôn khéo để làm cho Trung Quốc vui lòng.[25] Thủ tướng Abdullah Badawi đã thường tuyên bố là ông không coi Trung Quốc là một mối đe dọa và bộ trưởng quốc phòng Ma-lai-xi-a thường cho rằng Trung Quốc là một đồng minh của ASEAN. Tháng 4 năm 2007 bộ trưởng quốc phòng Ma-lai-xi-a tuyên bố trước quốc hội Ma-lai-xi-a là việc Trung Quốc tăng cường các lực lượng hải quân không có nghĩa là Trung Quốc có tham vọng bành trướng ở Á Châu. Các quan chức và các chính khách Ma-lai-xi-a thường lập đi lập lại luận điểm nầy và những ai nghĩ rằng Trung Quốc là mối đe dọa thì không phát biểu trước công chúng.[26]

          Một trong những vấn đề an ninh tồn tại giữa Ma-lai-xi-a và Trung Quốc là tranh chấp về quần đảo Trường Sa. Năm 1980 Ma-lai-xi-a tuyên bố chủ quyền trên 12 đảo trong quần đảo Trường Sa và từ đó đến nay đã chiếm đóng 5 đảo. Trong thập kỷ 1980 Ma-lai-xi-a đã mua nhiều chiến hạm và máy bay hiện đại để phòng giữ các đảo khu vực trong quần đảo Trường Sa mà Ma-lai-xi-a đã tuyên bố thuộc về chủ quyền của họ. Trung Quốc đã không có phản ứng gì mạnh đối với Ma-lai-xi-a một là vì sợ tổn thương quan hệ chính trị và kinh tế với Ma-lai-xi-a. Hai là những khu vực mà Ma-lai-xi-a tuyên bố chủ quyền cách Trung Quốc quá xa trong khi quân đội Ma-lai-xi-a có đủ sức phòng vệ các khu vực ấy trong khi không quân Trung Quốc chưa có đủ khả năng để trợ lực cho các cuộc đổ bộ dành lấy các đảo nầy.

Vì những lý do vừa kể trên, Trung Quốc và Ma-lai-xi-a đã cố gắng cải thiện quan hệ quân sự với nhau. Tháng 9 năm 2005 hai nước đã ký một bản “Ghi nhớ về đồng ý trên phương diện hợp tác quân sự” (Memorandum of Understanding on Defense Cooperation) để có những trao đổi trong các hoạt động quân sự. Nhưng khi Trung Quốc đề nghị bán các hệ thống vũ khí, kể cả các chiến thuyền, cho Ma-lai-xi-a thì Ma-lai-xi-a đã lễ phép từ chối. Trong khi đó thì Ma-lai-xi-a vẫn tiếp tục mua vũ khí của Mỹ, Anh và Nga vì những vũ khí nầy tốt hơn và tối tân hơn những vũ khí chế tạo tại Trung Quốc. Hơn thế nữa, Ma-lai-xi-a đã cố gắng duy trì một cách rất im lìm sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.[27]

Mặc dầu bề ngoài ra vẻ chống Mỹ, tiền nhiệm của Thủ tướng Abdullah đã bí mật ký một hiệp định với Mỹ để cho các chiến thuyền của hải quân Mỹ và các máy bay quân sự của Mỹ có thể được sửa chữa và tiếp vận tại Ma-lai-xi-a. Hiệp định nầy  ̶  gọi là “Cross Servicing and Acquisitions Agreement  ̶  được giữ trong bí mật cho đến năm 2005 khi chính quyền ông Abdullah ký gia hạn hiệp định nầy trong 10 năm. Theo một số nhận xét thì, nói chung, quan hệ quân sự của Ma-lai-xi-a với Mỹ quan trọng hơn bất cứ những quan hệ gì Ma-lai-xi-a có với Trung Quốc. Mỗi năm các chiến thuyền của Mỹ thường viếng thăm các cảng của Ma-lai-xi-a; hải quân Ma-lai-xi-a và hải quân Mỹ mỗi năm đều tập trận với nhau; các đội lặn của hải quân và bộ binh Mỹ thường tập luyện với các đội Ma-lai-xi-a; và lính huấn luyện chiến trận trong rừng Ma-lai-xi-a. Các khâu quan hệ quân sự của Ma-lai-xi-a với Mỹ  ̶  cũng như với  Anh, Ô-xtrây-li-a, Niu-di-lân qua cái hiệp định gọi là “Five Power Defense Arrangement, FPDA” ̶  chứng tỏ một cách rất rõ ràng là Ma-lai-xi-a muốn có một lực lượng đối trọng trước một Trung Quốc đang lên và đang bành trướng ảnh hưởng. Vì thế, tuy Ma-lai-xi-a cố gắng mềm dẽo và tế nhị với Trung Quốc để duy trì quan hệ tốt, Ma-lai-xi-a cũng có chính sách phòng hờ. Do đó, Ma-lai-xi-a vẫn tiếp tục cảnh giác đối với các khu vực tranh chấp ở quần đảo Trường Sa và cố gắng duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Á Châu.[28]

Nói chung thì các nước Đông Nam Á đều có các chính sách phòng hờ riêng của mình và phần lớn đều đang chạy đua vũ trang, đặc biệt là mua hay đóng tàu ngầm. Tờ Sunday Telegraph, ngày 4 tháng 2 năm 2007 cho biết rằng In-đô-nê-xia đã tuyên bố là sẽ cho đóng 12 chiếc tàu ngầm tối tân để hạ thủy khoảng năm 2024. Tờ báo cho biết là In-đô-nê-xia đã mua nhiều tầm ngầm hơn bất cứ nước nào cùng cỡ: 4 chiếc loại Kilo chạy bằng dầu diesel của Nga với giá là 200 triệu USD mỗi chiếc và hai chiếc của Hàn Quốc với giá 750 triệu USD. Xing-ga-po định có 6 chiếc tàu ngầm khoảng năm 2016. Ma-lai-xi-a đã đặt mua hai chiếc tàu ngầm Scorpene của Pháp. Và Việt Nam muốn có hai hay là 3 chiếc tàu ngầm hạng Kilo của Nga.[29] Như đã trình bày phía trên, tàu ngầm có hiệu lực lớn trong việc chống các tàu trên mặt nước. Nhưng sự chạy đua vũ trang này có nguy cơ gây ra những đụng độ vô tình mà hậu quả là không có thể lường trước được.

Do đó, thái độ của Mỹ là làm sao kéo tất cả các lực lượng hải quân trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương hợp tác để bảo vệ các dường thông thương trên biển, đặc biệt là qua eo biển Malacca và Biển Đông. Cựu Đô đốc Eric A. McVadon viết trong một bài đăng trong China Brief ngày 13 tháng 6 năm 2007 rằng Đô đốc Michael Mullen, tổng tư lệnh chiến dịch của hải quân Mỹ (U.S. Chief of Naval Operations), đã mời Trung Quốc hợp tác,  qua phó đô đốc và tư lệnh quân đoàn hải quân Trung Quốc tên Wu Shengli, với một “Hải Quân Nghìn Thuyền” (“Thousand Ship Navy”). Hải Quân Nghìn Thuyền nầy là kiểu hợp tác tự nguyện trong một mạng lưới hải quân đa quốc gia. Theo cựu Đô đốc McVadon thì lời mời của Đô đốc Michael Mullen được giới quân sự Trung Quốc chú ý và Đô đốc Wu Shengli cho biết rằng ông thích đề nghị nầy và sẽ bàn thêm với Đô đốc Mullen khi ông nầy sang thăm Trung Quốc vào trung tuần tháng 6 năm 2007. Một viên chức cao cấp của hải quân Trung Quốc có nhiều quan hệ với giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc cũng cho Đô đốc McVadon biết hồi tháng 4 năm 2007 là họ ủng hộ việc hợp tác tập trận giữa hải quân Mỹ và Trung Quốc trong việc bảo vệ an ninh của các đường thông thương trên biển.[30]

Theo Đô đốc McVadon thì những đề nghị hợp tác song phương lại được Đô đốc Timothy Keating, chỉ huy trưởng hải quân Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương, lập lại trong khi ông đến thăm Bắc Kinh và gặp Đại tướng Guo Boxiong, phó chủ tịch cao nhất của Quân ủy Trung ương của Trung Quốc. Đô đốc Keating và Đại tướng Guo đều muốn có thêm trao đổi quân sự để phát triển quan hệ song phương. Một chi tiết khá quan trọng trong buổi tọa đàm với Đại tướng Guo là Đô đốc Keating nói ông ta thấy việc Trung Quốc muốn phát triển một hạm đội hàng không mẫu hạm cũng “dễ hiểu”. Ông nhấn mạnh sự khó khăn và rắc rối trong việc phát triển và điều hành một chiếc hàng không mẫu hạm và nói tiếp rằng nếu Trung Quốc muốn thì Mỹ sẽ sẵn sàng giúp đỡ trong các lãnh vực được đề cập đến. Nhưng phản ứng của một số quan chức và chuyên gia quân sự Trung Quốc là nhiều lắm thì Mỹ cũng chỉ truyền đạt suông một số kinh nghiệm điều hành thôi chứ Mỹ còn lâu mới bỏ cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc và chịu chuyển giao các công nghệ hải quân cho Trung Quốc. Theo một tờ báo Hông Kông, Trung tướng Yang Chunchang của Viện Khoa Học Quân Sự tại Bắc Kinh ông ta rất nghi ngờ về những gì Đô đốc Keating đã nói và ông ta cho rằng việc Mỹ muốn giúp đỡ là chỉ muốn nạy ra những bí mật mà thôi. Đô đốc McVadon kết luận rằng những phản ứng như trên chứng tỏ là hai bên cần phải cố gắng rất nhiều để tạo tin tưởng lẫn nhau. Nhưng ít ra Đô đốc Mullen và Đô đốc Keating cũng đã khởi đầu một quá trình và đã gây chú ý đến sự cần thiết của hợp tác. Theo Đô đốc McVadon, để có thể thành công thì bất cứ một cuộc hợp tác hải quân nào cũng cần một nền tảng quan hệ song phương được cải thiện và sự hợp tác rộng rãi hơn giữa Trung Quốc và Mỹ với các nước khác trong khu vực.

Nói tóm lại, yêu cầu chiến lược của Mỹ là duy trì an ninh trên biển Thái Bình Dương, nhất là trên các đường giao thương qua khu vực Đông Nam Á và Biển Đông. Mỹ có thể can thiệp đơn phương hay hợp tác và phối hợp với các lực lượng quân sự khác để bảo vệ an ninh chung trên biển trong khu vực trên. Nhưng điều nầy không có nghĩa là Mỹ hay các lực lượng hải quân khác sẽ can thiệp khi có đụng độ giữa các nước tranh chấp các đảo trong khu vực Biển Đông. Giải pháp quân sự không phải là giải pháp an ninh và an toàn.

 

 Chú thích

[1] Trích trong David Lague, “China airs ambitions to beef up naval power,” International Herald Tribune, ngày 28 tháng 12 năm 2006. Bài nầy có thể tải về từ: http://www.iht.com/bin/print?id=4038159.

[2] Trích trong bài “Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,” đăng trên báo Công An Nhân Dân (cand.com) ngày 29/12/2006. Bài nầy có thể tải về từ: http://www.cand.com.vn/vi-VN/thoisuxahoi/tintucsukien/2006/12/94420.cand.

[3] “Beijing Cashes in Prosperity in Massive Boost to Military Spending,” Agence France Press, ngày 4 tháng 3 năm 2007. Bài nầy cho biết là người phát ngôn viên của Quốc Hội Trung Quốc, ông Jiang Enzhu, cho biết rằng ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2007 sẽ bằng 7,5% của tổng ngân sách nhà nước so với 7,4% năm 2006. Ông Jiang nói tiếp rằng số tiền chi cho quân đội Trung Quốc năm 2007 là 350,9 tỷ đồng nguyên (tương đương với 45 tỷ USD), tức là tăng gần 53 tỷ nguyên so với chi tiêu thật sự năm 2006. Các nguồn tin của chính phủ Mỹ đã ước tính là ngân sách quốc phòng của Trung Quốc hàng năm là vào khoảng 80 đến 115 tỷ USD, tức là lớn nhất trên thế giới sau Mỹ và cao hơn con số chính thức được được đưa ra rất nhiều.

[4] Về những từ ngữ  và cơ cấu tổ chức của Hải quân Trung Quốc bằng tiếng Trung Quốc xin xem:  

  1. Shi Yunsheng (chủ biên), Trung Quốc Hải quân Bách khoa Toàn thư (Zhongguo Haijun Baike Quanshu; 中国海军百科全书). Bắc Kinh: Nhà Xuất Bản Haichao, tháng 12 năm 1998.
  2. Zhang Xusan (chủ biên), Hải quân Đại tự điển  (Haijun Da Cidian; 海军大词典). Thượng Hải: Nhà Xuất Bản Tự Điển Thượng Hải, tháng 10 năm 1993.
  3. Zhang Yongyi (chủ biên), Hải quân Quân sự Huấn luyện Học (Haijun Junshi Xunlian Xue; 海军军事训练学). Bắc Kinh: Viện Khoa học Quân sự, tháng 4 năm 2006.
  4. Zhou Keyu, (chủ biên), Đương đại Trung Quốc Hải quân (Dangdai Zhongguo Haijun; 当代中国海军). Bắc Kinh: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1987.

Hải quân Trung Quốc thường dùng từ hạm đĩnh (jianting 舰 艇) và hạm thuyền (jianchuan 舰 船) để nói chung về các tàu chiến của họ. Chữ thuyền (chuan) có thể dùng để đề cập đến bất cứ chiến thuyền lớn nhỏ nào.

Chữ hạm chỉ dành riêng cho các tàu chiến lớn hơn 400 tấn và có quân hàm đại đội (dadui). Quân hàm đại đội của các tàu chiến hải quân Trung Quốc tương đương với quân hàm trung đoàn (regiment) hay tiểu đoàn (battalion) của Mỹ và vì thế thường được các tài liệu của Mỹ dịch ra là “squadron” (liên đội tàu). Các đại đội hải quân đánh bộ, gọi là “hải quân lục chiến binh” (haijun luzhanbing 海 军 陆 战 兵), “hải quân hàng không binh” (haijun hangkhongbing 海 军 航 空 兵), “hải quân ngạn phòng binh” ( haijun anfangbing 海 军 岸 防 兵), hậu cần và kỹ thuật, đều có quân hàm tương đương với quân hàm tiểu đoàn của Mỹ.

Chữ đĩnh thường được dùng cho những tàu chiến nhỏ hơn 400 tấn. Nhưng hiện nay nhiều chiếc đĩnh đã lớn hơn 400 tấn vì đã được thiết bị với những hệ thống vũ khí tối tân hơn và nặng hơn, nhưng cách gọi vẫn giữ nguyên như thông lệ. Đĩnh có quân hàm cao nhất là đại đội, nhưng có những chiếc chỉ có quân hàm trung đội (zhongdui), tức tương đương với quân hàm đại đội của Mỹ. Ví dụ như những chiếc “hộ vệ đĩnh” cở 125 tấn chỉ có quân hàm trung đội và những chiếc “đạo đạn đĩnh” chỉ có quân hàm phó trung đội hay tiểu đội. Trong khi đó thì những chiếc tàu đổ bộ, gọi là “đăng lục đĩnh” (dengluting 登 陆 艇), do các hạ sĩ quan (士 官) chỉ huy thì không có quân hàm gì cả.

 Mặc dầu tàu ngầm được gọi là “tiềm đĩnh”, tàu ngầm hạt nhân được quân hàm phó chi đội và tàu ngầm thông thường, tùy lớn hay nhỏ, được quân hàm phó đại đội đến đại đội.

Hải quân Trung Quốc có hết tất cả 15 cấp hàm và 5 tầng lớp. Các cấp hàm từ trên xuống dưới là:

  1. “Quân Ủy Chủ Tịch” (Junwei zhuxi 军 委 主 席),tức là chủ tịch của Quân Ủy Trung Ương, và “Quân Ủy Phó Chủ Tịch” (Junwei fuzhuxi 军 委 副 主 席). Chức phó chủ tịch quân ủy  tương đương với chức đô đốc (admiral) của Mỹ.  Đô đốc của Mỹ là sĩ quan cấp 10, tức là cấp cao nhất.
  2. “Quân Ủy Ủy Viên” (Junwei weiyuan 军 委 委 员). Chức nầy cũng tương đương với chức đô đốc của Mỹ.
  3. Tư lệnh vùng, gọi là “đại khu chính chức” (Daqu zhengzhi 大 区 正 职),cũng tương đương với chức đô đốc của Mỹ.
  4. Phó tư lệnh vùng, gọi là “đại khu phó chức” (Daqu fuzhi 大 区 副 职), tương đương với phó đô đốc (vice admiral) hay chuẩn đô đốc (rear admiral) của Mỹ. Vice admiral của Mỹ là sĩ quan cấp 9 và rear admiral là sĩ quan cấp 8.
  5. Tư lệnh quân đoàn, gọi là “chính quân” (Zhengjun 正 军), tương đương với phó đô đốc hay chuẩn đô đốc của Mỹ.
  6. Phó tư lệnh quân đoàn, gọi là “phó quân” (Fujun 副 军), tương đương với chuẩn đô đốc hay thuyền trưởng cấp cao ( senoir captain, sĩ quan cấp 7) của Mỹ.
  7. Sư đoàn trưởng, gọi là “chính soái” (Zhengshi 正师), tương đương với thuyền trưởng cấp cao hay chuẩn đô đốc của Mỹ.
  8. Sư đoàn phó hay lữ đoàn trưởng, gọi là “phó soái” (Fushi 副 师), tương đương với thuyền trưởng (captain, cấp 6) hay thuyền trưởng cấp cao của Mỹ.
  9. Trung đoàn trưởng, gọi là “chính đoàn” (Zhengtuan 正 团), tương đương với trung tá (commander, cấp 5) hay thuyền trưởng của Mỹ.
  10. Trung đoàn phó, gọi là “phó đoàn” (Futuan 副 团), tương đương vớ trung tá hay thuyền trưởng của Mỹ.
  11. Tiểu đoàn trưởng , gọi là “chính doanh” (Zhengying 正营), tương đương với thiếu tá (lieutenant commander, cấp 4) hay trung tá của Mỹ.
  12. Tiểu đoàn phó, gọi là “phó doanh” (Fuying 副 营), tương đương với đại úy (lieutenant, cấp 3) hay thiếu tá (lieutenant commander) của Mỹ.
  13. Đại đội trưởng, gọi là “chính liên” (Zhenglian 正 连), tương đương với trung úy (lieutenant junior grade, cấp 2) hay đại úy của Mỹ.
  14. Đại đội phó, gọi là “phó liên” (Fulian 副 连), tương đương với cấp trung úy hay thiếu úy (ensign, cấp 1) của Mỹ.
  15. Trung đội trưởng, gọi là “chính bài” (Zhengpai 正排), tương đương với cấp thiếu úy hay trung úy của Mỹ.

Trên phương diện cơ cấu tổ chức thì có 5 tầng lớp như sau:

  1. Bộ Tư lệnh Hải quân. Trong cơ cấu tổ chức thì Bộ Tư lệnh có cấp hàm hạng 3, tức “đại khu chính chức.” Mãi đến năm 2004 tư lệnh trưởng và chính ủy đều là sĩ quan có hàm cấp 3. Nhưng đến khoảng giữa năm 2004 tư lệnh trưởng được tăng chức thành một ủy viên Quân Ủy và vì thế có hàm cấp 2. Nhưng chính ủy, theo tổ chức là ngang hàng với tham mưu trưởng, vẫn giữ hàm cấp 3.
  2. Bộ tư lệnh của 3 vùng chiến lược: Bắc hải, Đông hải, và Nam Hải. Mỗi bộ tư lệnh có quân hàm cấp 4. Vì thế, từ những năm cuối thập kỹ 80, tư lệnh của các hạm đội trên đều có hàm “đại khu phó chức.”
  3. Mỗi hạm đội đều có các căn cứ trực thuộc và những căn cứ nầy có hàm cấp 6, tức phó tư lệnh quân đoàn. Có 3 loại căn cứ: căn cứ phục vụ, căn cứ trắc nghiệm, và căn cứ đào tạo. Căn cứ “hải quân hàng không binh” cũng có hàm cấp 6. Trong tất cả các căn cứ, 8 căn cứ phục vụ sau đây là quan trong nhất: Qingdao và Lushun (khu vực Bắc hải Hạm đội); Zhoushan, Fujian, Shanghai (khu vực Đông hải Hạm đội): Guangzhou, Yulin, Zhanjiang (Nam Hải Hạm đội).
  4. Một căn cứ phục vụ có các đơn vị trực thuộc gọi là “thủy cảnh khu” (Shuijingqu 水 警 区), tức là những căn cứ có phận sự cảnh bị và phòng vệ các khu vực duyên hải. Có tất cả 8 căn cứ gọi là “thủy cảnh khu”: Dalian và Weihai (Bắc hải Hạm đội); Xiamen (Đông hải Hạm đội); Shantou, Beihai, Xisha/Hoàng Sa (Nam Hải Hạm đội).
  5. Các chi đội tàu chiến thông thường trực thuộc một căn cứ phục vụ và các đại đội tàu chiến có thể trực thuộc một căn cứ phục vụ hay một chi đội.

[5] Trích trong China’s Navy 2007, Office of Naval Intelligence, trang 24.

[6] Như trên.

[7] Trích trong China’s Navy 2007, như trên, trang 24-25.

[8] China’s Navy 2007, trang 25.

[9] China’s Navy 2007, trang 26.

[10] Xem: Brad Kaplan, “China’s Navy Today: Storm Cloud on the Horizon …or Paper Tiger?”, http://navy.league.org/seapower/chinas_navy_today.htm.

[11] China’s Navy 2007, trang 55.

[12] “Amphibious Warships: The Real East Asian Arms Race,” Stratfor.com, ngày 5 tháng 4 năm 2007. Bài nầy có thể tải về từ:  http//www.stratfor.com/products/premium/print.php?storyId=286856. Những chi tiết về những chiến thuyền đổ bộ sau đây là từ nghiên cứu nầy.

[13] Trung Quốc hiện nay đang tu trang chiếc hàng không mẫu hạm loại Kuznetsov tên là Varyag mà Trung Quốc đã mua của Nga với giá nữa tỷ USD. Chiếc Varyag được đóng khi sự hiểu biết của Liên Xô cũ về các hoạt động của các máy bay trên một chiếc hàng không mẫu hạm chưa được tinh vi lắm. Một ví dụ là sân bay trên hàng không mẫu hạm nầy nhỏ so với những hàng không mẫu hạm khác. Nhưng Trung Quốc đã nhất định đưa chiếc nầy vào hoạt động, có thể như là một hàng không mẫu hạm dùng vào việc đào tạo, vào năm 2010. Trong khi đó thì vào tháng 3 năm nay (2007) một ông đô đốc Trung Quốc đã tiết lộ trong một tờ báo Hồng Kông rằng Trung Quốc đã tiến triển rất nhanh trong việc nghiên cứu và phát triển hàng không mẫu hạm (aircraft-carrier R&D) và sẽ có thể hạ thủy một chiếc hàng không mẫu hạm vào năm 2010. (Peter Brookes, “Pacific Power Play: China’s Naval Expansionism,” The Heritage Foundation, ngày 19 tháng 3 năm 2007: http://www.heritage.org/Press/Commentary/ed032007a.cfm?RenderforPrint=1.) Vấn đề là tại sao Trung Quốc lại hạ quyết tâm phát triển hàng không mẫu hạm trong khi phát triển các chiến thuyền đổ bộ, tàu ngầm, và các hỏa tiển siêu âm lướt trên mặt nước và tự điều khiển đến mục tiêu để chống thuyền trên mặt nước (supersonic, sea-skimming anti-ship cruise missiles) là có hiệu quả hơn. Peter Brookes đưa ra một số giả thuyết (lý do). Một là, Trung Quốc cho là đã đến lúc giương ngọn cờ quốc gia và công báo cho thế giới biết Trung Quốc không chỉ còn là một đại cường khu vực nữa nhưng là một siêu cường. Nếu Trung Quốc có những hạm đội hàng không mẫu hạm mà Trung Quốc có thể gởi đi vòng quanh thế giới như Mỹ đã và đang làm thì Trung Quốc cũng có thể thị oai và chứng minh “sức mạnh mềm” của mình như Mỹ đã và đang làm. Hai là, Trung Quốc càng ngày càng phải vận chuyển nhiên liệu từ các nước Trung Đông và Châu Phi qua biển Ấn Độ, eo biển Mallaca, và Biển Đông. Những tàu chuyên chở nhiên liệu nầy hiện nay được an toàn căn bản là vì Mỹ đãm bảo việc tự do di chuyển trên biển trong các khu vực nầy. Đều nầy làm cho Trung Quốc khó chịu vì vấn đề an ninh nhiên liệu đang phải dựa vào lòng hảo tâm của Mỹ. Không có nhiên liệu nhập thì Trung Quốc không có thể tiếp tục phát kinh tế của mình với cao độ hiện nay, không có thể bành trướng ảnh hưởng, và không có thể tham chiến khi cần. Vì thế, Trung Quốc thấy việc phát triển hạm đội hàng không mẫu hạm là cần thiết để bảo vệ các đường nhập dầu và các nguồn dầu nhập. Một ví dụ là Trung Quốc đã tài trợ việc xây cất một cảng tại Gwadar ở Pakistan, gần vịnh Persian Gulf mà Trung Quốc có thể điều động một hạm đội hàng không mẫu hạm đến đó khi cần trong tương lai.

 Nhưng theo một vài phân tích thì tham vọng thiết lập một hạm đội hàng không mẫu hạm hút rất nhiều tiền và sẽ làm cho hải quân Trung Quốc càng tụt hậu so với các nước trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật và Ô-xtrây-li-a trong những lãnh vực mà Trung Quốc còn suy kém. Hàng không mẫu hạm rất đắt tiền. Ngoài việc chiếc Varyag cần ít nhất là 500 triệu USD để tu trang, hiện nay hải quân Trung Quốc đang thương lượng mua 50 chiếc máy bay Su-33 của Nga với giá là 2 tỷ rưỡi USD, và đang phải chi rất nhiều tiền để mua hay đóng các chiến thuyền hộ tống và các thuyền hổ trợ (như “tác chiến chi viện thuyền” và tàu đánh đuổi tàu lặn) cần thiết khác. Hiện nay, mặc dầu không phải chi tiền để đóng các chiếc hàng không mẫu hạm và các chiếc tàu hộ tống cần thiết, hải quân Mỹ cũng phải chi trung bình mỗi năm là 1 tỷ USD để có thể giữ cho một hàng không mẫu hạm với các thuyền hộ tống của nó (gọi là “carrier strike group”) có thể hoạt động. Nhưng một hạm đội hàng không mẫu hạm (gọi là “carrier fleet”) phải có 3 chiếc hàng không mẫu hạm và những thuyền hộ tống của nó để có thể hoạt động có hiệu lực. Ngoài ra, một hạm đội hàng không mẫu hạm cần một hai thập niên huấn luyện mới có thể hoạt động có hiệu lực được vì vấn đề phối hợp rất phức tạp. (“China: The Deceptive Logic for a Carrier Fleet,” Stratfor.com, ngày 7 tháng 8 năm 2007.)

[14] Brad Kaplan, như trên.

[15] Theo nhiều nghiên cứu thì Hạm Đội Nam Hải là hạm đội hùng hậu nhất của Trung Quốc. Hạm Đội Nam Hải có ít nhất là 32 hạm đội (flotilla) tàu lặn, trong đó có những chiếc tàu lặn tối tân nhất; hai hạm đội chiến thuyền đổ bộ (amphibious flottita);các hạm đội khu trục (destroyer flottila); các hạm đội tàu đặt mìn (mine warfare flottila); hơn một chục hạm đội tàu cao tốc lướt trên mặt nước (speed boat flottila); và toàn bộ các lữ đoàn thủy quân lục chiến.

[16] Bài nầy có thể tải về từ: http://www.strategy.net/printVersion/print_pub.asp?pubID=99.

[17] Xem: http://www.heritage.org/Research/AsiaandthePacific/wm1001.cfm?renderforprint=1

[18] Michael R. Gordon and David S. Cloud, “U.S. Knew of China Missle Test, but Kept Silent,” The New York Times, ngày 23 tháng 4 năm 2007 : http://www.nytimes.com/2007/04/23/washington/23satellite.html. Theo bài nầy thì chính quyền Bush mong rằng sự phản đối của Mỹ và các nước khác trên thế giới sau khi Trung Quốc đã thử vũ khí SC-19 sẽ làm cho Trung Quốc e ngại mà không tiếp tục thử thêm các vũ khí chống vệ tinh khác trong tương lai. Nhưng, theo bài báo nầy, trong cuộc viếng thăm Trung Quốc vào tháng 3 vừa qua Đại tướng Peter Pace, chủ tịch của Tổng Tham Mưu Quân Lực (chairman of the Joint Chiefs of Staff), không có thể đem chuyện vũ khí chống vệ tinh ra bàn với Trung Quốc. Chính ông ta cho biết là Trung Quốc nhất định không muốn đề cập đến chuyện đó.

[19] Ashley Tellis, “Punching the U.S. Military’s ‘Soft Ribs’: China’s Antisatellite Weapon Test in Strategic Perspective,” Carnegie Endowment for International Peace Policy Brief 51 (June 2007), trang 2.3.

[20] Michael R. Gordon and David S. Cloud, “U.S. Knew of China Missle Test, but Kept Silent,” The New York Times, ngày 23 tháng 4 năm 2007. Nguyên văn: “It is a bit of arms-control mythology that there is always a deal to be made… For years, the Chinese military has been writing about how to cripple a superpower that relies on high-tech capabilities like satellites. They have been patiently developing this capablility. I don’t see why they would trade it away.”

[21] Larry Wortzel, “China’s Nuclear Forces: Operations, Training Doctrine, Command, Control, and Campaign Planning,” Strategic Studies Institute (May 2007), trang 13.

[22] Direction of Trade Statistics Yearbook (Washington D.C.: International Monetary Fund, 2006).

[23] The Straits Times, ngày 1 tháng 11 năm 2006.

[24] Ian Storey, “Ma-lai-xi-a’s Hedging Strategy with China,” China Brief, số 14, ngày 11 tháng 7 năm 2007, trang 10. Bài nầy có thể tải về từ: http://jamestown.org/china_brief.

[25] Để biết thêm các chi tiết, xem Ian Storey, “Ma-lai-xi-a’s Hedging Strategy with China,” trang 10-11.

[26] Như trên, trang 11. Xem thêm: Bernama, ngày 27 tháng giêng năm 2007 và ngày 24 tháng 4 năm 2007.

[27] Ian Storey, “Ma-lai-xi-a’s Hedging Strategy with China,” trang 11.

[28] Như trên, trang 11; ABC Radio Australia News, ngày 9 tháng 5 năm 2005; The Straits Times, ngày 3 tháng 5 năm 2002.

[29] Tim Shipman and Chad Bouchard, “China is accused of fueling Pacific arms race,” SundayTelegraph, ngày 4 tháng 2 năm 2007: http://telegraph.co.uk.

[30] Eric A. McVadon, “U.S.-PRC Maritime Cooperation: An Idea Whose Time Has Come?” China Brief Volume VII, Issue 12,  ngày 13 tháng 6 năm 2007: http://jamestown.org/china_brief.

 

 

 

http://www.sugia.vn

Kinh tế Việt Nam 2012: Trong họa có phúc


 

Nhìn nhận rằng nền kinh tế đang đứng giữa ngã ba đường và thời kỳ tăng trưởng phi mã trên 2 con số đã qua rất xa, nhưng các nhà kinh tế, lãnh đạo doanh nghiệp vẫn tin tưởng rằng đây cũng chính là cơ hội để tái cấu trúc DN và nền kinh tế.

Đó là những ý kiến trao đổi tại diễn đàn Cơ hội vượt lên trong năm 2012: Góc nhìn của các doanh nghiệp hàng đầu và tăng trưởng nhanh do công ty Vietnam Report phối hợp với báo VietNamNet tổ chức tại TP.HCM ngày 6/9.

Xa rồi thời tăng trưởng nhanh

Phát biểu trước hàng trăm DN hàng đầu Việt Nam, tiến sĩ Đăng Doanh nhận định, nền kinh tế Việt Nam đã qua “rất xa” thời kỳ tăng trường mạnh mẽ từ 2 con số trở lên. Những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng chậm lại, mức độ lạm pháp tăng cao, đồng tiền mất giá so với nhiều nước trong khu vực; chỉ số chứng khoán cũng “đi xuống” nhanh nhất trong các nước.

Dự kiến chỉ tiêu kinh tế xã hội năm 2012 đề ra là khoảng 6,5%, thấp hơn so với mức 7.5% đề ra trong năm nay và thấp hơn chỉ tiêu đề ra cho kế hoạch 5 năm 2011 – 2015…

“Rõ ràng nến kinh tế Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường. Nếu có sự tái cơ cấu mạnh mẽ từ Chính phủ, từ các DN, phát huy được các tiềm năng về tài nguyên, lao động…thì nền kinh tế Việt Nam có thể tiến tới giai đoạn ổn định khoảng 2 năm sắp tới, rồi tiếp tục tăng trưởng ở mức độ bền vững hơn. Nếu không có biện pháp mạnh mẽ, rất có thể có một kịch bản khó khăn, kinh tế Việt Nam rơi vào trạng thái vừa tăng trưởng trì trệ, vừa lạm phát cao…Đấy là viễn cảnh rất tiêu cực” – tiến sĩ Doanh nói.


Dưới góc độ của chuyên gia tư vấn quốc tế, ông Edward Chien – Giám đốc Pricewaterhouse Coopers Việt Nam cho rằng ở Việt Nam đang có một nghịch lý là tăng trưởng tăng nhưng năng suất lao động không tăng, lạm pháp phi mã thì hiệu quả của nền kinh tế là không cao. Đáng lo ngại nhất vẫn là tốc độ lạm pháp, con số không chính thức có thể lên tới 33%/năm…

Phát biểu nhận định về nền kinh tế Việt Nam, tiến sĩ Alan Phan – Chủ tịch quỹ đầu tư Viasa lại có cái nhìn “lạc quan” hơn. Theo ông, kinh tế vĩ mô xấu đi, nhưng kéo theo nó cũng có rất nhiều thay đổi và cơ hội cũng nhiều hơn…

“Các bạn nhớ những năm 2001, khi nền kinh tế gặp khó khăn, nhiều đại gia người Việt đã biết vận dụng cơ hội để kiếm tiền và tạo ra khối tài sản ngày càng lớn..Hiện tại tôi cảm thấy rất lạc quan, bởi trong thời điểm khó khăn này cũng chính là thời gian tốt cho những người biết nắm bắt cơ hội” – TS  Alan Phan chia sẽ với lãnh đạo DN.

Nắm bắt cơ hội để vươn lên

Trao đổi về khả năng “chèo lái” nền kinh tế, tiến sĩ Lê Đăng Doanh tin rằng, năm 2012 sẽ là năm cải cách, tái cơ cấu mạnh mẽ của Chính phủ.

Theo ông, trước hết phải cải cách tài khóa và tài chính công, cắt giảm đầu tư công và cải cách DN Nhà nước. Chấm dứt việc doanh nghiệp nhà nước vay tiền nhưng sau đó Bộ tài chính đi trả nợ giùm. Ngoài ra phải thực hiện công khai minh bạch, về trách nhiệm giải trình và kiểm soát các lợi ịch nhóm. Nếu như không kiểm soát lợi ích nhóm, thì hiện nay rất nhiều các dự án đầu tư, như số sân golf đang tăng lên, rồi các dự án sử dụng nhiều đất đai, dùng vốn nhà nước, không biết sẽ mang lại lợi ích gì cho người lao động, nhưng chắc chắn mang lại lợi ích cho một số người nào đấy

Ngoài ra cũng cần tăng cao tính dự báo của các chính sách và tăng đối thoại của Chính phủ đối với DN trước khi ban hành

Ông Doanh còn lưu ý các DN cần giải quyết các nhu cầu vốn của mình, tránh các rủi ro về mặt tỷ giá, điều chỉnh kế hoạch sản xuất, đề phòng các rủi ro có thể xảy ra.

Ông Trương Đình Anh – Tổng giám đốc công ty cổ phần FPT trong phát biểu đã ví von rằng: tình cảnh hiện nay là “trong họa có phúc”.

Ông Trương Đình Anh – TGĐ FPT: Tiết kiệm chi phí, giảm nhân sự

Khi mà cả xã hội khó khăn thì FPT cũng không phải là ngoại lệ. Ngay từ đầu năm chúng tôi đã xác định triển vọng kinh doanh năm nay là rất khó khăn. Điều đó đòi hỏi phải tăng cường “hợp lực” trong toàn bộ tập đoàn, tiết kiệm chi phí, tăng cường rà soát lại nhân sự…

Thực tế trong 6 tháng đầu năm 2011, doanh thu của FPT tăng 22%, nhưng số cán bộ giảm 0,6%, doanh thu lợi nhuận trên mỗi đầu người sẽ tăng lên, trong khi chi phí sẽ giảm đi. Làm được điều này, chúng tôi sẽ có nhiều nguồn lực hơn, để huy động cho phát triển trong bối cảnh khó khă

Ông Trương Đình Anh – Tổng giám đốc công ty cổ phần FPT trong phát biểu đã ví von rằng: tình cảnh hiện nay là “trong họa có phúc”. Theo ông Anh, FPT đã có thời kỳ rất tự tin với định hướng phát triển DN, khi có tới 35% số vốn đầu tư vào ngành nghề khác không quen thuộc. Tuy nhiên tới nay, tình hình khó khăn buộc DN này phải chuyển hướng, tái cấu trúc lại, chỉ đầu tư không quá 10% vào lĩnh vực, ngành nghề khác có tình rủi ro.

“Tập trung vào ngành nghề chính sẽ tạo nên sức mạnh cho DN. Đó là bài học mà FPT rút ra tại thời điểm này” – ông Anh chia sẽ.

Tiến sĩ Alan Phan kể một câu chuyện từng “mắt thấy, tai nghe” để nói việc huy động vốn cho phát triển sản xuất mà theo ông “không khó để tìm”. Đó là trường hợp DN của ông Nguyễn Thanh Mỹ ở Trà Vình. Thật khó tin ở một tình thuộc diện khó khăn nhất nước lại có một DN sản xuất công nghệ cao để xuất khẩu, kiếm tiền triệu USD.

“Chính việc chọn lựa lĩnh vực đầu tư, cách điều hành quản lý DN thuộc diện “hiện đại, chuyên nghiệp như ở Mỹ” mà DN này đã nhận được sự đầu tư 12 triệu USD của một quỹ đầu tư từ Pháp..” – tiến sĩ Alan Phan cho biết.

Cho lời khuyên về khả năng DN Việt Nam làm gì để thu hút nguồn vốn từ nước ngoài, ông Edward Chien – Giám đốc Pricewaterhouse Coopers (Việt Nam) lưu ý các DN Việt Nam nên áp dụng hệ thống tài chính, kiểm toán quốc tế, bởi các nhà đầu tư nước ngoài luôn có tâm lý e ngại các đánh giá tài chính trong nước, thường độ chuẩn xác chưa cao..

Còn theo diễn giả tiến sĩ John Vong, CEO Leadership Corporation Australia để đưa sản phẩm công nghệ của Việt Nam ra toàn cầu thì ngoài vai trò hỗ trợ của Nhà nước, các DN phải đăng ký ở nước xuất khẩu để nhận được tài trợ và bảo hộ trí tuệ…

Tại hội nghị, CEO của DN trong lĩnh vực nông nghiệp tại tỉnh Thái Bình kể lại câu chuyện một nhà đâu tư tài chính nước ngoài quan tâm tới DN của ông. Hỏi lý do, nhà đầu tư quốc tế này cho biết hai lĩnh vực lương thực và năng lượng đang rất “nóng”, rất dễ nhận đầu tư…

Đồng tình với với ý kiến này, tiến sĩ Alan Phan cho rằng ngành nông nghiệp vẫn là “cốt lõi” của nền kinh tế Việt Nam, tiếc là mức độ quan tâm từ Chính phủ đang giảm đi. Đây là ngành mà Việt Nam có lợi thế rất lớn về đất đai, tài nguyên…đảm bảo cho sự tăng trưởng, phát triển bền vững.

Còn với các DN viễn thông ở Việt Nam, CEO FPT Trương Đình Anh cho rằng, sự cạnh tranh khốc liệt khiến thị trường viễn thông phát triển tới mức bão hòa, nhưng thị trường nội dung số vẫn còn nhiều cơ hội phát triển cho các DN biết nắm bắt thời cơ, làm ăn bài bản, nhìn xa trông rộng.

 

Năm 2012: Cộng đồng DN có cái nhìn lạc quan

Ông Vũ Đăng Vinh – Tổng giám đốc công ty VietNam Report: Công ty Vietnam Report thường xuyên gửi phiếu điều tra đến DN để cập nhật tình hình, cũng như là xu thế phát triển, với kỳ vọng tạo cầu nối giữa công đồng DN, đặc biệt là cộng đồng lãnh đạo DN Việt Nam đối với đánh giá về hiện trạng phát triển cũng như chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ trong năm vừa qua.

Trong lần điều tra này, chúng tôi có gửi phiếu hỏi tới công đồng 500 DN lớn nhất Việt Nam, 500 DN tăng trưởng nhanh nhất Việt Nam, 1000 DN nộp thuế lớn nhất Việt Nam. Hôm nay, chúng tôi cũng công bố báo cáo điều tra về môi trường kinh doanh của Việt Nam với ý kiến trả lời của 250 DN.

Đánh giá chung, cộng đồng DN có nhận định là trong năm 2011 có những khó khăn, đặc biệt trong lĩnh vực huy động vốn, rào cản về chính sách, các triển vọng… Phần lớn các DN có nhìn nhận năm 2012 là tích cực.

Chúng tôi cũng ghi nhận các khuyến nghị từ cộng đồng DN để có những bước đột phá, cải tổ trong chính sách quản lý tiền tệ, chính sách điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Đồng thời DN cũng có những bước chuẩn bị nhằm đối phó với quản trị về rủi ro, trong tình hình bất ổn.

 

 

Tác giả: Thái Thiện  – VEF.vn

——————————————————-

Tỷ giá: Điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam

 

Nếu tỷ giá được giữ như hiện nay thì có lẽ tăm Việt Nam không thể cạnh tranh với tăm Trung Quốc.

Với tỷ giá như hiện nay, hàng hóa của Việt Nam gần như không thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là các loại nguyên vật liệu phụ trợ gần như không có cửa để phát triển.

Có rất nhiều điều đáng bàn khi nhìn lại bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2010 và dự báo cho năm 2011. Tuy nhiên, dựa vào sự mất cân đối trầm trọng của cán cân ngoại thương cứ dai dẳng trong mấy năm qua thì có thể nói rằng tiền đồng Việt Nam đang bị định giá quá cao, nhất là so với đồng Nhân dân tệ (RMB), chính là điểm yếu của kinh tế Việt Nam. Chính đồng tiền đang bị định giá quá cao làm cho hàng hóa của Việt Nam không thể cạnh tranh nổi với hàng hóa Trung Quốc cho dù ngay trên sân nhà của mình.

Nhiều người có thể cho rằng phần lớn các nguyên vật liệu phải nhập khẩu từ Trung Quốc là do Việt Nam chưa có các ngành công nghiệp phụ trợ trong khi Trung Quốc đang có nhiều lợi thế với các ngành như vậy.

Điều này có thể chấp nhận đối với một số ngành mà Trung Quốc có lợi thế như phôi thép, một số loại điện máy… Nhưng làm sao có thể biện minh cho việc nhiều loại hàng hóa thông thường như tăm tre hay miếng rửa bát của Trung Quốc đang tràn ngập trên thị trường Việt Nam nếu dựa vào lập luận nêu trên.

Chính việc phải đi nhập khẩu từng cây tăm đã làm cho nhập siêu từ Trung Quốc chiếm đến 90% nhập siêu của cả nước. Yếu tố giải thích khả dĩ nhất chính là tỷ giá đồng tiền.

Có nhiều ước lượng khác nhau về mức độ định giá thấp hơn giá trị thực của đồng Nhân dân tệ và mức độ tiền đồng cao giá so với đồng Đô la Mỹ. Nếu dựa vào số liệu từ bài viết của TS. Võ Đại Lược và TS. Lê Xuân Nghĩa trình bày tại hội thảo “Ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng: Kinh tế Việt Nam năm 2010, triển vọng năm 2011” sẽ thấy đồng Nhân dân tệ đang được định giá thấp hơn so với đồng Đô la Mỹ 30% trong khi tiền đồng đang bị định giá cao hơn 15% so với đồng Đô la. Hai kịch bản tỷ giá được trình bày trong bảng 1.

Bảng 1: Hai kịch bản tỷ giá
Tỷ giá Hiện tại Đúng giá Đúng giá/Hiện tại
USD/VND 19.500 22.425 15%
USD/RMB 6,93 4,85 -30%
RMB/VND 2.815 4.625 64%

Hiện nay tỷ giá USD/VND là 19.500, tỷ giá USD/RMB là 6,93 và tỷ giá RMB/VND là 2.815. Giả sử chi phí sản xuất một hộp tăm tại Trung Quốc (bao gồm cả lãi định mức và chi phí vận chuyển) là 1RMB. Để có được mức lời định mức nêu trên, giá bán một hộp tăm Trung Quốc ở thị trường Việt Nam chỉ cần ở mức 2.815 đồng. Nếu chi phí sản xuất một hộp tăm ở Việt Nam là 4.000 đồng thì chắc chắn tăm Việt Nam không thể cạnh tranh được với tăm Trung Quốc vì nếu bán ở Việt Nam thì giá phải là 4.000 đồng và bán ở Trung Quốc phải là 1,42 RMB.

Điều gì sẽ xảy ra nếu tỷ giá các đồng tiền được định đúng giá trị của nó? Lúc này, tỷ giá USD/VND sẽ là 22.425, tỷ giá USD/RMB sẽ là 4,85 và tỷ giá RMB/VND sẽ là 4.625. Do chi phí một hộp tăm ở Trung Quốc vẫn là 1 RMB nên để có được mức lời định mức, giá bán một hộp tăm Trung Quốc ở Việt Nam phải lên đến 4.625 đồng.

Khi đó tăm Việt Nam không những không bị thất thế trên thị trường trong nước như hiện nay mà còn có thể xuất khẩu sang Trung Quốc vì chỉ cần bán được 4.000 đồng trên thị trường Việt Nam hay 0,87RMB là đã đạt được lợi nhuận định mức.

Phân tích trên cho thấy, việc đồng tiền Việt Nam đang bị định giá cao hơn trên 60% so với đồng Nhân dân tệ giống như hàng hóa sản xuất ở Việt Nam bị đánh thuế hơn 60% so với hàng hóa sản xuất từ Trung Quốc.

Hành động hợp lý của các doanh nghiệp không chỉ nhập khẩu các nguyên vật liệu phụ trợ mà còn nhập khẩu cả tăm tre, sản phần gần như không có sự khác biệt về công nghệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, thậm chí nếu không tính đến yếu tố tỷ giá bị bóp méo thì chi phí sản xuất ở Việt Nam còn thấp hơn.

Với tỷ giá như hiện nay hàng hóa của Việt Nam gần như không thể cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là các loại nguyên vật liệu phụ trợ gần như không có cửa để phát triển.

Giải pháp có tính mấu chốt là cần phải đưa đồng tiền trong nước về đúng giá trị của nó so với đồng RMB càng sớm càng tốt. Đây là chìa khóa nhằm làm tăng sức cạnh tranh của các loại hàng hóa trong nước và cơ cấu lại nền kinh tế. Một trong những vấn đề làm nhiều người lo ngại là việc giảm giá đồng nội tệ sẽ gia tăng nợ. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm quốc gia thì đây là một quan niệm sai lầm. Vì giảm giá đồng tiền không chỉ không làm tăng nợ mà còn giúp cho khả năng trả nợ của Việt Nam được cải thiện.

Với khoản nợ nước ngoài khoảng 30 tỉ Đô la Mỹ, tương đương với 600.000 tỉ đồng hiện nay, nếu giả dụ, tỷ giá tăng lên 30.000 đồng/Đô la Mỹ thì tổng nợ quy ra tiền đồng sẽ là 900.000 tỉ đồng, tăng 50%. Đây là con số mà nhiều người nhìn vào và lo ngại. Tuy nhiên, trên thực tế khoản nợ của Việt Nam vẫn là 30 tỉ Đô la và Việt Nam phải kiếm đủ ngoại tệ để trả số nợ này chứ việc quy ra 600.000 hay 900.000 tỉ đồng không có ý nghĩa gì cả.

Đứng dưới góc độ này thì giảm giá đồng tiền sẽ giúp cải thiện khả năng trả nợ của Việt Nam vì xuất khẩu sẽ có lợi và nhập khẩu sẽ bất lợi làm có cán cân ngoại thương được cải thiện. Hơn thế, đối với doanh nghiệp như Vinashin, nếu lấy đóng tàu làm nòng cốt thì giảm giá tiền đồng cũng sẽ có lợi.

Giả sử nợ bằng ngoại tệ của Vinashin là 2 tỉ Đô la, tương đương với 40.000 tỉ đồng. Nếu tỷ giá tăng lên 30.000 đồng/Đô la Mỹ, tổng nợ tính ra sẽ là 60.000 tỉ đồng, tăng 50%. Đây là một con số tạo ra cảm giác vô cùng khủng khiếp, nhưng trên thực tế Vinashin phải kiếm đủ 2 tỉ Đô la để trả nợ chứ không phải là 40.000 hay 60.000 tỉ đồng.

Nếu hoạt động đóng tàu là nòng cốt thì doanh thu chính là từ Đô la, do vậy khi đồng tiền trong nước giảm giá thì ngành đóng tàu sẽ có lợi. Vấn đề của Vinashin chỉ có thể nghiêm trọng hơn khi giảm giá đồng tiền nếu tiền vay ngoại tệ được đổ vào những hoạt động phi ngoại thương như bất động sản hay chứng khoán chẳng hạn.

Cần phải khẳng định rằng đồng tiền được định giá thấp luôn có tác dụng tích cực cho xuất khẩu dù tỷ trọng nguyên liệu đầu vào chủ yếu là nhập khẩu. Đây chính là lý do tại sao cả Nhật Bản và Trung Quốc bằng mọi giá giữ đồng tiền của mình ở một mức có lợi cho hoạt động xuất khẩu.

Tóm lại, chừng nào vấn đề tỷ giá chưa được giải quyết thì việc nâng cao khả năng cạnh tranh, phát triển công nghiệp phụ trợ của Việt Nam vẫn chỉ là ước muốn. Chỉ có điều chỉnh tỷ giá mới có thể giúp cân bằng ngoại thương. Nếu Việt Nam không chủ động thì khi dữ trữ ngoại hối còn ở mức quá thấp và vì một lý do nào đó mà dòng vốn đảo chiều thì việc phá giá bắt buộc và bị động sẽ gây ra những tổn hại rất lớn cho nền kinh tế.

Hơn thế, song song với việc điều chỉnh tỷ giá đồng tiền, việc cắt giảm chi tiêu công, nhất là những khoản đầu tư kém hiệu quả là một trong những yêu cầu bắt buộc vì mất cân đối bên ngoài rất khó giải quyết khi mà mất cân đối bên trong trầm trọng vẫn diễn ra.

Huỳnh Thế Du (TBKTSG)

 

———————————————————————————-

 

Thực trạng Nền kinh tế Việt Nam theo đánh giá các chuyên gia

Bài 1:  Việt Nam giữ vững tiến trình trong 2 cơn bão lớn

Hai cơn bão lớn cùng đổ bộ

Theo chuyên gia kinh tế Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tăng trưởng ấn tượng của Việt Nam trong thời gian qua kéo theo những hiệu ứng phụ như tăng trưởng quá nóng ở một số bộ phận của nền kinh tế, tăng đột biến kim ngạch nhập khẩu, sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng, nhân lực chất lượng cao.

Dòng tiền chảy vào Việt Nam mạnh gây bùng nổ nhu cầu tiêu dùng, xây dựng và bùng nổ thị trường chứng khoán (TTCK) giữa năm 2007 và bong bóng thị trường bất động sản thời gian gần đây.

Nhu cầu trong nước tăng mạnh cùng mức thanh khoản cao tạo áp lực ngày càng cao đối với  lạm phát. Tỷ lệ lạm phát trung bình hằng năm từ 3,1% năm 2003 lên tới 7,8% năm 2004 và duy trì mức cao này trong những năm tiếp theo, cao hơn trung bình khu vực. Trong khi đó, vào thời điểm năm 2000, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam thấp hơn khu vực, và là thiểu phát.

Giá lương thực tăng nhanh hơn so với mức tăng của cả rổ hàng hóa. Việc tăng giá, đặc biệt giá lương thực ảnh hưởng đến người nghèo, nhất là người nghèo đô thị, những người sử dụng phần lớn thu nhập cho mua hàng hóa thực phẩm mà không phải cho giáo dục hay y tế và không có cơ hội tiếp cận lương thực dễ dàng như người nghèo nông thôn.

Hơn nữa, người nghèo nông thôn có khả năng hưởng lợi từ việc mua bán lương thực trong bối cảnh tăng giá, tạo yếu tố triệt tiêu ảnh hưởng lạm phát.

Tỷ lệ lạm phát tăng cũng làm suy yếu năng lực cạnh tranh của Việt Nam. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa đã giảm từ từ đến cuối 2007 và tỷ giá hối đoái thực, chỉ số thực ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp Việt Nam so với ngành công nghiệp Mỹ tăng nhiều từ tháng 3/2004. Lạm phát của Việt Nam tương đối cao hơn so với lạm phát ở Mỹ. Hệ số lạm phát triệt tiêu thay đổi tỷ giá danh nghĩa, dẫn đến tăng tỷ giá thực.

Đồng thời với cơn bão lạm phát, ông Bahodr Ganiev, chuyên gia ABD phân tích, sự suy giảm kinh tế toàn cầu bắt đầu từ suy thoái kinh tế Mỹ cũng đổ bộ và gây ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Những diễn biến này ảnh hưởng bất lợi tới Việt Nam.

Sự thay đổi mạnh ở TTCK thế giới ảnh hưởng đến sự biến động của TTCK Việt Nam. Giá tăng gây áp lực lên lạm phát, ít nhất trong ngắn hạn. Sự phát triển của các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam suy giảm dẫn đến chậm lại tốc độ tăng xuất khẩu và đà tăng trưởng GDP. Do các quốc gia chủ đạo có tốc độ tăng trưởng chậm lại, đặc biệt là những nước có tiền đổ vào Việt Nam và những nước có đông người Việt Nam sinh sống, nên lượng kiều hối từ cộng đồng người Việt cũng sẽ giảm. Thâm hụt tài khoản vãng lai sẽ tăng lên, thặng dư tài khoản thanh toán giảm, thặng dư cán cân thanh toán giảm.

Việt Nam giữ vững tiến trình trong bão

Ông Konishi, Giám đốc quốc gia ADB tại Việt Nam giả định rằng Chính phủ sẽ duy trì định hướng chính sách chống lạm phát cho tới khi lạm phát được giải quyết; sự phối hợp và tính đồng bộ của các chính sách vĩ mô sẽ được cải thiện; thắt chặt ngân sách cần đồng bộ với thắt chặt chính sách tài khóa và sự linh hoạt của chính sách tỷ giá; thắt chặt tiền tệ không gây ra vấn đề nghiêm trọng nào đối với hệ thống tài chính và sẽ không có nguy cơ về các cú sốc cung, đặc biệt là cung hàng hóa; ví dụ,  không xảy ra dịch lớn như cúm gà, lở mồm long móng với gia súc, kinh tế Việt Nam năm 2008 sẽ đạt tăng trưởng 7%. Từ đó, ông đưa ra các dự báo về kinh tế như sau:   Chỉ số lạm phát bình quân kỳ 2008 sẽ khoảng 18,3% và đến 2009 là 10,2%. Nếu tính lạm phát cuối năm so với năm trước, chỉ số lạm phát của Việt Nam năm 2008 là 15,6% và năm 2009 xuống còn 7,6%. Tốc độ tăng xuất khẩu dự báo vẫn ở mức 18,7% và tăng lên 23,5% vào 2009. Cán cân vãng lai sẽ nới rộng mức thâm hụt lên -10,3% và lên -9,4% vào 2009.

Ông Ayumi Konishi nhấn mạnh “Việt Nam cần duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời xây dựng khả năng vững chắc của nền kinh tế nhằm duy trì sự tăng trưởng kinh tế bền vững ở tầm trung và dài hạn. Điều quan trọng là Việt Nam nhận ra sự tăng trưởng tương quan so với các nước láng giềng cũng như điều tiết các chính sách kinh tế đáp ứng được những tình huống bất ngờ nhằm duy trì tiến trình tăng trưởng dài hạn của đất nước”.Con số 7% tăng trưởng không cao nhưng so với mặt bằng kinh tế thế giới suy giảm là không tệ.

Ông Konishi lưu ý Việt Nam cần có sự phối hợp đồng bộ trong các giải pháp trong chống lạm phát. Đến giữa tháng 3/2008, việc phối hợp vẫn chưa tốt. Chính sách tài khóa vẫn chưa rõ định hướng, mục tiêu chủ đạo.

“Việt Nam cần phối hợp chặt giữa chính sách giá, tiền tệ và tài khóa. Chính sách tiền tệ chặt chưa đủ. Ngoài ra Chính phủ cũng cần giảm thiểu những xáo trộn và gánh nặng đối với các ngân hàng và cả nền kinh tế”.

Theo ADB, trong quá trình này, Việt Nam không nên cắt giảm đầu tư công mà nên cải thiện hiệu quả đầu tư công và bảo vệ lợi ích của người nghèo.

Việt Nam cũng cần tiếp tục tiến trình cải cách theo hướng thị trường, tăng cường quản lý dòng vốn, nâng cao năng lực thể chế của các cơ quan Chính phủ và năng lực của những người có trách nhiệm quản lý chính sách kinh tế vĩ mô. Đối với khu vực tài chính, cần tăng cường cơ chế đảm bảo an toàn, giám sát.

Sau khi giảm tốc do ảnh hưởng của những cơn bão đổ bộ vào thị trường, nền kinh tế Việt Nam có nhiều khả năng tăng trưởng trở lại. 

Việt Nam có nền tảng kinh tế vững mạnh trên cơ sở 20 năm Đổi mới, phát triển và những yếu tố này vẫn duy trì ngay cả trong giai đoạn khó khăn này. Đầu tư nước ngoài sẽ vẫn tiếp tục vào vì thị trường nội địa Việt Nam còn tiềm ẩn nhiều tiềm năng.(Vietnam Net ngày 3/4/2008)

Bài 2:  Kinh tế Việt Nam đang “sốt”

Dù rất hạn chế đưa ra các quan điểm khi đánh giá về tình hình kinh tế của Việt Nam thời gian vừa qua nhưng chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam, ông Martin Rama cũng thừa nhận nền kinh tế Việt Nam đang “sốt”, mà nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là do “Tam pháp bất khả thi”

Trong buổi công bố báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam và khu vực ngày 1/4/2008 tại Hà Nội, ông đưa ra hai khả năng cho mức độ tăng trưởng của Việt Nam. Theo phương án cơ bản, tăng trưởng GDP của Việt Nam sẽ đạt 8,0% năm 2008 này và tăng lên 8,5% trong năm 2009. Còn theo phương án thấp, tăng trưởng GDP sẽ hạ xuống còn 7,5% năm 2008 và nhích lên 8,1% vào năm 2009.

WB đưa ra 5 cách phá vỡ thế “tam pháp”

 

DỰ BÁO CHO VIỆT NAM      
  2007 2008Estimated 2009Estimated
Phương án cơ bản      
+ Tăng trưởng GDP (%) 8,5 8,0 8,5
+ Tăng trưởng xuất khẩu (%) 21,9 22 22
+ Tăng trưởng đầu tư cố định (%) 10,1 10,8 11,0
+ Tài khoản vãng lai (% của GDP) -9,7 -9,0 -8,2
+ Cân đối ngân sách Nhà nước (% của GDP) -1,0 -2,0 -2,0
Phương án thấp      
+ Tăng trưởng GDP (%) 8,5 7,5 8,1
+ Tăng trưởng xuất khẩu (%) 21,9 18,0 20,0
+ Tăng trưởng đầu tư cố định (%) 10,1 10,1 10,3


Xuất khẩu vẫn là thế mạnh của Việt Nam

Theo chuyên gia kinh tế trưởng của WB, Phương án cơ bản có cơ sở vững hơn cả. Ông cũng cho rằng Việt Nam sẽ không phải là quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh nhất của việc nền kinh tế thế giới phát triển chậm lại. Xuất khẩu của Việt Nam đã tăng ổn định        (20-21% trong vòng ba năm qua). Vì thế, Việt Nam không phải là nhà xuất khẩu bị loại ra hay chịu ảnh hưởng xấu mà sẽ là nhà xuất khẩu được hưởng lợi từ tình hình phát triển hiện nay của kinh tế thế giới. Vấn đề mà Việt Nam cần quan tâm chính là các dòng vốn, trong đó đặc biệt quan tâm đến thị trường cầm cố. Thị trường này mặc dù rất nhỏ so với toàn bộ nền tài chính nhưng tác động của nó có thể lây lan sang khu vực khác. Cụ thể như thị trường cầm cố liên quan đến cho vay mua bất động sản có thể lan sang các loại tài sản khác (như thẻ tín dụng).

Nền kinh tế Việt Nam đang bộc lộ những dấu hiệu tăng trưởng quá nóng. Biểu hiện rõ rệt nhất ở tỉ lệ lạm phát tăng mạnh từ mức 6,6% (tháng 12/2006) tới 15,7% tính đến tháng 2/2008. Bên cạnh đó là tình trạng thâm hụt tài khoản vãng lai ở mức đáng ngại (ước tính vào khoảng 9,3 tới 9,7% GDP năm vừa qua); giá tài sản tăng rất cao, thể hiện ở giá nhà đất tăng quá nhanh, có nguy cơ tạo ra tình trạng “bong bóng” trên thị trường bất động sản. Xu hướng này tiếp nối một đợt “bong bóng” trên TTCK đã xảy ra vào đầu năm 2007.

Về nguyên nhân của nền kinh tế nóng hiện nay của Việt Nam, bên cạnh việc bị ảnh hưởng của tình trạng lạm phát bên ngoài, trong đó có “Hiệu ứng Trung Quốc” dẫn đến việc giá cả hàng hoá nông sản và nguyên vật liệu thế giới tăng cao, tình trạng này còn do ba biện pháp là chu chuyển dòng vốn, tỷ giá cố định và chính sách tiền tệ độc lập tạo thành bộ ba “Tam pháp bất khả thi”. Biểu hiện cụ thể là khi Ngân hàng nhà nước mua vốn vào để duy trì tỷ giá thì đồng thời cũng làm ảnh hưởng đến tính thanh khoản của tiền Đồng trong nền kinh tế. Tính thanh khoản có thể được nâng cao nhờ nghiệp vụ trung hoà, song NHNN gần như đã bán hết trái phiếu Chính phủ. Lượng cung tiền có thể bị thắt chặt bằng cách bán hối phiếu của NHNN, song tỷ giá được đưa ra lại không mấy hấp dẫn. Bên cạnh đó, tín dụng tăng hơn 50% trong năm 2007 vừa qua đã góp phần làm tăng giá, tăng nhập khẩu và tạo “bong bóng” bất động sản.

Không nên dùng liệu pháp “sốc”

Theo ông Martin Rama, để phá vỡ thế “Tam pháp bất khả thi”, Việt Nam nên áp dụng liệu pháp nhẹ nhàng tránh làm “vỡ vụn” một trong ba “tam pháp” đó. “Hãy để cho lãi suất tăng lên và thả nổi tỉ giá hối đoái, không đưa ra biện pháp quá mạnh để giá cả quá cao hay quá thấp. Mỗi khía cạnh của “tam pháp” này đều phải can thiệp ở mức độ chấp nhận được”.

Tam pháp bất khả thi cần được xoá bỏ, song phải kiểm soát được chi phí đối với nền kinh tế. Chính vì vậy, ngoài các biện pháp nêu trên, ông Martin Rama đã đưa ra 5 biện pháp cụ thể để cắt giảm chi phí nhằm giảm bớt sức ép đối với nền kinh tế.

Một là, chấm dứt tình trạng “bong bóng” trên thị trường nhà đất. Theo đó, việc giám sát hoạt động ngân hàng và quy định mức trần cho vay mua bất động sản có thể giúp kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên, việc đặt mức trần cho vay cũng có thể làm chậm lại tốc độ phát triển đô thị và đầu tư cho nhà đất, khu công nghiệp. Một cách thức quyết liệt khác để ngăn ngừa tình trạng đầu cơ là đưa ra các quy định mới về thuế tài sản.

Hai là, chính sách hướng nhiều hơn vào cơ chế thị trường. Hiện nay, đã có biện pháp cắt giảm tín dụng vận hành thông qua việc bán trái phiếu của NHNN. Tuy nhiên, một số cơ quan nhà nước (trong đó có Bảo hiểm xã hội Việt Nam) hiện đang nắm giữ một phần vốn khả dụng đáng kể trong các NHTM. Một cơ chế quản lý quỹ dự trữ hưu trí hiện đại hơn sẽ đòi hỏi BHXH Việt Nam phải mua vào trái khoán trao đổi được. Lượng mua vào của BHXH Việt Nam trên thị trường nội địa có thể giúp hợp nhất trái khoán (có hàng trăm loại nhỏ khác nhau).

Ba là, siết chặt hoạt động vay vốn của khu vực công. Tuy nhiên, ông Rama cũng lưu ý rằng thắt chặt chi tiêu của khu vực công không phải là giải pháp tốt nhất. “Nếu xuất khẩu giảm mạnh thì chi tiêu công cũng bị duy trì ở mức thấp làm cho các hoạt động của nền kinh tế không triển khai được nữa; và như vậy đây cũng không phải là một giải pháp tốt”

Bốn là, tách rời ảnh hưởng của đồng đôla Mỹ. “Nếu muốn đảm bảo Việt Nam là quốc gia xuất khẩu có tính cạnh tranh lớn thì cần đảm bảo khả năng cạnh tranh của Việt Nam theo giỏ ngoại tệ chung. Kiến nghị rõ ràng của chúng tôi với Việt Nam là nên dựa vào cả giỏ ngoại tệ chứ không chỉ dựa vào một đồng Đôla Mỹ”

Năm là, quản lý dòng vốn. Theo ông Rama, có khoảng 3-4 tỉ USD vốn vào Việt Nam hiện không xác định được là vốn ngắn hạn hay dài hạn. Với luồng vốn vào lớn như vậy, Việt Nam cần đảm bảo có luồng vốn đầu tư dài hạn nhiều hơn. Theo đó, việc cấp phép cho các quỹ đầu tư dựa trên mục đích hoạt động có thể là một cách để từ chối các nguồn vốn ngắn hạn.

Những khuyến nghị từ các chuyên gia quốc tế luôn là thông tin quan trọng để Việt Nam tham khảo.  (Thời báo Kinh tế Việt Nam ngày 2/4/2008)

Bài 3: World Bank dự báo gì về kinh tế Việt Nam năm nay ?

“World Bank dự báo kinh tế Việt Nam năm 2008 sẽ giảm 0,5% so với năm 2007 nhưng sẽ tăng trở lại vào năm 2009”

Những điểm chính trong báo cáo mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) về tình hình kinh tế khu vực Đông Á, trong đó có Việt Nam:

Đánh giá kinh tế Việt Nam năm 2007

Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2007 đạt 8,5%, như vậy đây là năm thứ ba liên tiếp kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng trên 8%.

Hoạt động kinh doanh tại Việt Nam vẫn tiếp tục được cải thiện, tỷ lệ đầu tư của nền kinh tế đạt 40,4% so với GDP. Sự tăng trưởng đã được thúc đẩy bởi nhân tố tư nhân, trong đó có 59 nghìn doanh nghiệp được thành lập trong năm qua, tăng 26% so với năm trước. Vốn đầu cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng gần gấp đôi, lên 20,3 tỷ USD.

Trong khi đó, tính đến năm 2007, vốn hoá thị trường chứng khoán đạt 43% GDP (hai năm trước mới đạt 1,5% GDP). Mức dự trữ ngoại hối đã tăng từ 10 tỷ lên 21,6 tỷ USD, tương đương 30,2 % GDP hay 3,3 tháng nhập khẩu.

Xuất khẩu (không tính dầu thô) tăng 27%, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 48,5 tỷ USD, đạt hơn 68% GDP.

Tuy nhiên,  nền kinh tế cũng xuất hiện một số vấn đề “nóng bỏng” như lạm phát, cán cân thanh toán thiếu hụt, sự tăng nóng của lĩnh vực tín dụng, mức tăng trưởng nhanh của thị trường chứng khoán và sự tăng mạnh của thị trường bất động sản đang tạo ra nguy cơ “bong bóng”.

Dự báo kinh tế Việt Nam năm 2008

World Bank dự báo kinh tế Việt Nam năm 2008 sẽ giảm 0,5% so với năm 2007 nhưng sẽ tăng trở lại vào năm 2009.

Cụ thể, theo phương án dự báo cơ bản, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2008 ước tính đạt 8% và 8,5% vào năm 2009. Theo phương án thấp, các con số này lần lượt là 7,5% và 8,1%.

Đáng chú ý, dự báo của World Bank về mức tăng chỉ số giá tiêu dùng trong năm 2008 sẽ bằng năm 2007 với mức 12,6% và sẽ giảm xuống còn 9% vào năm 2009.

Đề cập đến cán cân thương mại, World Bank dự báo mức thâm hụt trong cán cân thương mại năm 2008 là 15,9 tỷ USD, trong đó xuất khẩu dự kiến đạt 59,2 tỷ USD, nhập khẩu ước đạt 75,2 tỷ USD.

Về nhân tố nợ nước ngoài,  năm 2008 nợ nước của ngoài của Việt Nam là 24,8 tỷ USD, tăng 2,4 tỷ USD so với năm 2007 và sẽ tăng thêm 2 tỷ USD vào năm 2009. Như vậy, theo dự báo của World Bank, tỷ lệ nợ nước ngoài của Việt Nam năm 2008 sẽ bằng 30,5% GDP, giảm 1,1% so với năm 2007.

Cuối cùng, mức dự trữ ngoại tệ của Việt Nam năm 2008 sẽ đạt 22,1 tỷ USD, tăng 0,5 tỷ USD so với năm 2007. Trong khi đó mức dự báo tăng trưởng tín dụng của Việt Nam sẽ ở mức 30,0% năm nay và năm 2009, dù năm ngoái, mức tăng trưởng tín dụng lên đến 53,9%.

Tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Á – Thái Bình Dương

(Đơn vị: %)  

 

Nền kinh tế 2007 2008Estimated 2009Estimated
Nhật Bản 2,1 1,5 2,0
Trung Quốc 11,4 9,4 9,2
Hàn Quốc 4,9 4,6 5,0
Hồng Kông 6,3 4,8 5,1
Singapore 7,7 5,2 5,9
Đài Loan (Trung Quốc) 5,7 4,3 4,6
Indonesia 6,3 6,0 6,4
Malaysia 6,3 5,5 5,9
Philipinnes 7,3 5,9 6,1
Thái Lan 4,8 5,0 5,4
Việt Nam 8,5 8,0 8,5
Các nền kinh tế nhỏ khác 6,6 6,4 6,1


Nguồn: WB / Ghi chú: E là ước tính; Các nền kinh tế nhỏ bao gồm các nước: Lào, Campuchia, Đông Timor, Mông Cổ, Fuji, Kiribati, Marshall Islands, Micronesia, Palau, Papua New Guinea, Samoa, Solomon Islands, Tonga, Vanuatu.

Các chỉ tiêu chính của Việt Nam

 

Chỉ tiêu 2006 2007 2008E 2009E
Tăng trưởng GDP (%) 8,2 8,5 8,0 8,5
Chỉ số sản xuất công nghiệp (%) 17,0 17,1 16,8 17,2
Tỷ lệ thất nghiệp (% khu vực thành phố) 4,8 4,6 4,5 4,5
Chỉ số giá tiêu dùng (%) 7,5 12,6 12,6 9,0
Cán cân thương mại (tỷ USD) -5,1 -14,2 -16,0 -17,6
Xuất khẩu (tỷ USD) 39,8 48,5 59,2 72,3
Nhập khẩu (tỷ USD) 44,9 62,7 75,2 89,9
Nợ nước ngoài (tỷ USD) 19,2 22,4 24,8 26,8
% tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP 31,5 31,6 30,5 30,2
Dự trữ, bao gồm vàng (tỷ USD) 11,5 21,6 22,1 22,7
Tăng trưởng tín dụng (%) 25,4 53,9 30,0 30,0
Lãi suất ngắn hạn (%-3 tháng) 7,9 8,9 9,0 8,5
Nguồn: WB – GSO,SBV,IMF / Ghi chú: E là ước tính.

(VnEconomy 1/4/2008)

Bài 4: Hơn một năm Việt Nam gia nhập WTO

Nhiều tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế

Tại hội thảo “Tác động từ việc gia nhập WTO tới kinh tế và xã hội Việt Nam” do Bộ Công Thương phối hợp với Uỷ ban châu Âu (EC) tổ chức tại Hà Nội ngày 2/4/2008, các diễn giả gồm các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đã phân tích và đánh giá về tất cả những tác động tích cực và tiêu cực đến nền kinh tế nước ta sau hơn một năm Việt Nam là thành viên của WTO.

Đánh giá tác động:  không chỉ xem xét từ việc gia nhập WTO

Theo Bộ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên, Bên cạnh những chuyển biến hết sức tích cực của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2007 như tăng trưởng GDP, xuất khẩu, sản lượng công nghiệp tăng mạnh, vốn đầu tư nước ngoài đạt kỷ lục, thị trường chứng khoán phát triển mạnh…., chúng ta đã và đang phải đối mặt với những vấn đề hết sức khó khăn như tỷ lệ lạm phát phi mã, thâm hụt thương mại tăng kỷ lục. Năm 2008, những khó khăn này dường như trầm trọng hơn cùng với nhịp biến động hàng ngày của các chỉ số kinh tế thế giới.

Theo quan điểm chung của các chuyên gia kinh tế, không thể đánh giá được tác động từ việc gia nhập WTO đến kinh tế và xã hội Việt Nam nếu chỉ xem xét từ tác động của việc gia nhập WTO. Theo ông Antonio Berenguer, Tham tán thương mại Phái đoàn EC tại Việt Nam thì Đánh giá tác động đến kinh tế, nhất là về thương mại là điều không thể, bởi trước khi gia nhập WTO, Việt Nam đã ký nhiều hiệp định thương mại song phương và đa phương như Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, mở cửa thị trường với EU…. Hơn một nửa luồng thương mại vào Việt Nam là từ một số hiệp định ngoài WTO như Hiệp định định AFTA. Do vậy, rất khó có thể tách bạch được đâu là tác động từ WTO, đâu là tác động từ các hiệp định thương mại song phương và khu vực. Ngoài ra, còn có nhiều yếu tố không liên quan nhưng lại tác động đến thương mại, chẳng hạn như những biến động về giá cả trên thế giới, suy thoái kinh tế Mỹ hay sự sụt giảm của thị trường chứng khoán…

Tiến sỹ Lê Đăng Doanh cũng nhận định rằng Rất khó tách bạch đâu là thuần tuý tác động của WTO, đâu là tác động của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ, đâu là tác động của lịch trình AFTA, đâu là tác động của quan hệ Việt-Trung. Trong các tác động tích cực và tiêu cực thì cũng rất khó phân biệt được đâu là tác động thuần tuý của Tổ chức WTO, đâu là tác động của giá dầu tăng, giá lương thực tăng và giá của nhiều mặt hàng cũng tăng.

Tác động chủ yếu là tích cực

Tuy nhiên, nhìn chung các ý kiến đều cho rằng các tác động của việc gia nhập WTO đối với kinh tế và xã hội Việt Nam chủ yếu là tích cực. Theo tiến sỹ Lê Đăng Doanh, tích cực thứ nhất là khả năng tiếp cận thị trường của Việt Nam đã mở hơn trước. Thứ hai là Chính phủ đã cam kết và bày tỏ quyết tâm, có chương trình hành động để tiếp tục cải cách, chấp nhận cạnh tranh quốc tế với các nguyên tắc đối xử quốc gia bình đẳng hơn. Một thuận lợi nữa là vị thế về mặt pháp lý của các doanh nghiệp Việt Nam khi gặp tranh chấp về thương mại mà được giải quyết không thoả đáng thì có thể đưa ra Hội đồng giải quyết tranh chấp của WTO. Luồng vốn nước ngoài vào Việt Nam tăng lên rõ rệt, đầu tư trong nước cũng tăng lên mạnh mẽ, chất lượng đầu tư cũng cao hơn…

Ông Antonio Berenguer cũng nhận xét rằng Nếu nhìn nhận ở khía cạnh khả quan và tích cực thì nhiều nước trên thế giới đánh giá tốt về Việt Nam vì Việt Nam đã nhận được 20,7 tỷ USD đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm đầu tiên gia nhập WTO. Bên cạnh đó, vốn đầu tư gián tiếp cũng rất lớn, và còn có 5-7 tỷ USD kiều hối từ nước ngoài gửi về, tổng cộng đạt trên 30 tỷ USD.Con số này lớn hơn cả của Ấn Độ – một nước rộng lớn hơn Việt Nam rất nhiều.

Đánh giá về những tác động tiêu cực, các chuyên gia đều cho rằng tác động thấy rõ nhất là Việt Nam chưa sẵn sàng để tiêu thụ được một khối lượng vốn lớn, kết cấu hạ tầng còn nhiều bất cập. Từ một đất nước có nhiều lao động được đánh giá cao, Việt Nam trở thành một nước khan hiếm về lao động; tương tự, Việt Nam từ một nước thiếu vốn trở thành một nước ứ đọng vốn không “tiêu hoá” được.

Do chuẩn bị về mặt cạnh tranh chưa được tốt nên một số doanh nghiệp, chẳng hạn như các doanh nghiệp điện tử, dệt may, đã bắt đầu gặp khó khăn ngay; khung pháp luật cũng chưa đầy đủ, chẳng hạn như các siêu thị được mở rộng tới đâu, các rào cản kỹ thuật như thế nào. Trong khi đó, các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc vào WTO từ lâu nhưng không có một siêu thị nào của nước ngoài vào được bởi họ đưa ra những quy định kỹ thuật, và trong thời gian đưa ra những quy định kỹ thuật ấy thì họ thúc đẩy trong nước đầu tư vào siêu thị. Chẳng hạn, Nhật Bản quy định siêu thị này phải cách siêu thị kia 60 km, khi các rào cản kỹ thuật hết hiệu lực thì hệ thống siêu thị đã ổn định, các nhà đầu tư nước ngoài không thể chen chân vào được nữa.

Giáo sư Claudio Dordi, chuyên gia EU đã tóm lược như sau: Những tác động tích cực từ việc gia nhập WTO thường không lượng hoá được, còn những tác động tiêu cực lại là mặt trái của tấm huy chương. Cải cách do yêu cầu của WTO làm nền kinh tế Việt Nam tự do hơn nhưng lại càng nhạy cảm và dễ bị ảnh hưởng bởi các cú sốc bên ngoài, ví dụ như lạm phát và cạnh tranh tăng lên. Gia nhập WTO và hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế thế giới buộc Chính phủ Việt Nam phải cẩn trọng trong việc hoạch định chính sách kinh tế và thương mại.

Tất nhiên, tự do hoá thương mại qua kênh đa phương WTO hoặc qua các kênh hội nhập khu vực và song phương khác mang lại nhiều lợi ích chung cho nền kinh tế nhưng kèm theo đó là những nghịch lý về lợi ích. Đó là nghịch lý giữa việc có được những sản phẩm nhập khẩu rẻ hơn cho người tiêu dùng, người sản xuất và nhu cầu phát triển sản xuất trong nước, tạo việc làm cho người lao động; đó là khả năng mở rộng thị trường cho những ngành xuất khẩu có lợi thế và nguy cơ mất thị trường cho những ngành kém khả năng cạnh tranh; đó là nhiều người có cơ hội giàu nhanh nhưng cũng có nhiều người nghèo đi…Vì vậy, các chuyên gia cho rằng cần phải có những phân tích, đánh giá kịp thời về tác động của WTO và các yếu tố khác để Chính phủ có những chính sách quản lý kịp thời, nhằm hài hoà các nhóm lợi ích, phát huy tối đa cơ hội của tiến trình hội nhập và giảm thiểu rủi ro.

 

 

(Thời báo kinh tế Việt Nam ngày 3/4/2008)

Thế vận hội Mùa hè


Logo chính thức Olympic 2016 đã được Ủy ban tổ chức của thành phố Rio de Janeiro, Brazil công bố ngay trước thềm năm mới 2011.


Thế vận hội mùa hè là một sự kiện thể thao quốc tế được tổ chức bốn năm một lần với nhiều môn thể thao, được tổ chức bởi Ủy ban Olympic quốc tế. Mặc dù không có lượng người xem lớn bằng World Cup nhưng đây là sự kiện thể thao danh giá nhất trên thế giới. Huy chương được trao cho mỗi sự kiện thể thao, với huy chương vàng cho vị trí thứ nhất, huy chương bạc cho vị trí thứ hai và huy chương đồng cho vị trí thứ ba.

Từ một giải đấu với chỉ 42 sự kiện thể thao với khoảng 250 vận động viên, thế vận hội mùa hè đã mở rộng tới hơn 10.000 vận động viên tham dự từ 202 quốc gia. Những nhà tổ chức Olympic Bắc Kinh 2008 ước tính có khoảng 10.500 vận động viên tham dự trong 302 sự kiện thể thao của giải đấu. Thế vận hội Mùa hè 2004 đã thu hút được tổng cộng 11.099 vận động viên góp mặt trong 301 sự kiện thể thao, vượt qua dự tính là 10.500 vận động viên như ban đầu.

Những vận động viên tham dự được thông qua bởi Ủy ban Thế vận hội quốc gia (NOC) để đại diện cho đất nước đó. Quốc caquốc kỳ được cử hành kèm theo nghi lễ trao huy chương. Bảng xếp hạng huy chương được trình chiếu rộng rãi. Nhìn chung, chỉ có những quốc gia được công nhận mới được giới thiệu, chỉ có số ít trường hợp các quốc gia có tranh cãi về chủ quyền được phép tham dự.

Hoa Kỳ là quốc gia có số lần tổ chức Thế vận hội Mùa hè nhiều nhất với bốn lần. Anh Quốc xếp thứ hai với ba lần tổ chức Thế vận hội Mùa hè, tất cả đều ở Luân Đôn (tính cả lần tới là năm 2012). Các quốc gia có hai lần tổ chức Thế vận hội Mùa hè là Úc, Pháp, ĐứcHy Lạp. Những quốc gia có một lần tổ chức bao gồm: Bỉ, Canada, Phần Lan, Ý, Nhật, Mexico, Hà Lan, Nga, Hàn Quốc, Tây Ban NhaThụy ĐiểnTrung Quốc năm 2008.

Bốn thành phố đã hai lần tổ chức Thế vận hội Mùa hè bao gồm: Los Angeles, Luân Đôn, ParisAthena. Tới năm 2012, Luân Đôn sẽ trở thành thành phố đầu tiên có ba lần tổ chức.

Năm quốc gia – Úc, Pháp, Anh Quốc, Hy Lạp và Thụy Sĩ – đã tham dự tất cả kỳ Thế vận hội Mùa hè. Trong đó, quốc gia duy nhất từng đoạt ít nhất một huy chương vàng tại tất cả các kỳ vận hội là Anh.

Danh sách các quốc gia tổ chức Thế vận hội Mùa hè

Ghi chú: Dù cho Thế vận hội Mùa hè các năm 1916, 1940 và 1944 bị hủy bỏ, số liệu vẫn được tính như các kỳ thế vận hội khác.

Lần tổ chức Năm Địa điểm
I Thế vận hội Mùa hè 1896 Flag of Greece (1828-1978).svg Athena, Hy Lạp
II Thế vận hội Mùa hè 1900 Flag of France.svg Paris, Pháp
III Thế vận hội Mùa hè 1904 Flag of the United States.svg St. Louis, Hoa Kỳ
IV Thế vận hội Mùa hè 1908 Flag of the United Kingdom.svg Luân Đôn, Anh
V Thế vận hội Mùa hè 1912 Flag of Sweden.svg Stockholm, Thụy Điển
VI Thế vận hội Mùa hè 1916 Berlin, Đức – bị hủy bỏ do Thế chiến thứ nhất
VII Thế vận hội Mùa hè 1920 Flag of Belgium (civil).svg Antwerp, Bỉ
VIII Thế vận hội Mùa hè 1924 Flag of France.svg Paris, Pháp
IX Thế vận hội Mùa hè 1928 Flag of the Netherlands.svg Amsterdam, Hà Lan
X Thế vận hội Mùa hè 1932 Flag of the United States.svg Los Angeles, Hoa Kỳ
XI Thế vận hội Mùa hè 1936 Cờ của Đức Berlin, Đức
XII Thế vận hội Mùa hè 1940 Tokyo, Nhật BảnHelsinki, Phần Lan – bị hủy bỏ do Thế chiến thứ hai
XIII Thế vận hội Mùa hè 1944 Luân Đôn, Anh – bị hủy bỏ do Thế chiến thứ hai
XIV Thế vận hội Mùa hè 1948 Flag of the United Kingdom.svg Luân Đôn, Anh
XV Thế vận hội Mùa hè 1952 Flag of Finland (bordered).svg Helsinki, Phần Lan
XVI Thế vận hội Mùa hè 1956 Flag of Australia.svg Melbourne, Úc
Flag of Sweden.svg Stockholm, Thụy Điển (môn Đua ngựa nghệ thuật)
XVII Thế vận hội Mùa hè 1960 Flag of Italy.svg Roma, Ý
XVIII Thế vận hội Mùa hè 1964 Flag of Japan (bordered).svg Tokyo, Nhật Bản
XIX Thế vận hội Mùa hè 1968 Flag of Mexico.svg Thành phố Mexico, Mexico
XX Thế vận hội Mùa hè 1972 Flag of Germany.svg München, Tây Đức
XXI Thế vận hội Mùa hè 1976 Flag of Canada.svg Montréal, Canada
XXII Thế vận hội Mùa hè 1980 Flag of the Soviet Union.svg Moskva, Liên Xô
XXIII Thế vận hội Mùa hè 1984 Flag of the United States.svg Los Angeles, Hoa Kỳ
XXIV Thế vận hội Mùa hè 1988 Flag of South Korea (bordered).svg Seoul, Hàn Quốc
XXV Thế vận hội Mùa hè 1992 Flag of Spain.svg Barcelona, Tây Ban Nha
XXVI Thế vận hội Mùa hè 1996 Flag of the United States.svg Atlanta, Hoa Kỳ
XXVII Thế vận hội Mùa hè 2000 Flag of Australia.svg Sydney, Úc
XXVIII Thế vận hội Mùa hè 2004 Flag of Greece.svg Athena, Hy Lạp
XXIX Thế vận hội Mùa hè 2008 Flag of the People's Republic of China.svg Bắc Kinh, Trung Quốc
Flag of Hong Kong.svg Hồng Kông (môn Đua ngựa nghệ thuật)
XXX Thế vận hội Mùa hè 2012 Flag of the United Kingdom.svg Luân Đôn, Anh
XXXI Thế vận hội Mùa hè 2016 Flag of Brazil.svg Rio de Janeiro, Brazil

http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_v%E1%BA%ADn_h%E1%BB%99i_M%C3%B9a_h%C3%A8

 

Ra mắt logo của Olympic 2016

Logo chính thức Olympic 2016 đã được Ủy ban tổ chức của thành phố Rio de Janeiro, Brazil công bố ngay trước thềm năm mới 2011.

Logo chính thức của Thế vận hội mùa hè 2016 tựa như ba cánh tay màu da cam, màu xanh lá cây và xanh da trời nối với nhau, và đang thực hiện điệu nhảy.


Ông Carlos Nuzman – Chủ tịch của Ủy ban tổ chức Olympic Rio cho biết,
“Logo chính thức của Thế vận hội mùa hè được thiết kế dựa trên các tiêu chí: Đa dạng, hài hòa, cởi mở và tinh thần Olympic… Ngay từ bây giờ, logo chính thức này sẽ truyền đam mê, cảm hứng cho công dân thành phố Rio de Janeiro và Brazil nói chung. Nó phản ánh được bản sắc văn hóa của thành phố đăng cai, và cả sự vui vẻ, nồng nhiệt của người dân xứ Samba”.


Buổi công bố logo chính thức cũng được thực hiện khá độc đáo, qua một màn hình lớn được đặt ngay tại bãi biển Copacabana ở Rio de Janeiro, trước sự chứng kiến của hàng nghìn người ngay trước thềm năm mới, trong tiếng reo hò và cả những điệu nhảy nổi tiếng.

Theo lời của Ban tổ chức, có gần 140 mẫu thiết kế tham gia vào quá trình tuyển chọn ban đầu và sau đó là tám mẫu lọt vào chung kết.

CN/ Dân việt

Những chuyện ít biết về thế giới hacker bí ẩn


Từ hơn nửa thế kỷ trước, hacker đã lấy việc tấn công khắp nơi làm trò tiêu khiển của mình.

Ngày nay, dường như chúng ta đang sống giữa một thế giới tràn ngập hacker. Từ đầu năm đến giờ, không ngày nào dân tình không bàn tán nhau về các vụ tấn công rầm rộ của tin tặc.
Nguồn gốc
Hầu hết nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng “hack” xuất hiện lần đầu tiên tại Học viện Công nghệ Massachusetts (MIT) vào khoảng thập niên 50-60 của thế kỷ trước. Thời điểm đó, một vụ đột nhập chẳng khác nào trò đùa nghịch ngợm của sinh viên muốn khoe trình độ và hoàn toàn vô hại.
Sự kiện mở màn đánh dấu tác hại của hoạt động phá phách diễn năm 1972. Khi đấy, một nhóm tin tặc đã tìm thấy lỗ hổng trong hệ thống chuyển tiếp điện thoại đường dài của hãng AT&T (Mỹ). Thiết bị dùng thực hiện quá trình hack có tên gọi “Blue box”, giúp người dùng tiết kiệm tiền cước viễn thông. Việc buôn bán loại hộp “thần kỳ” vô cùng quyến rũ, khiến ngay cả bộ đôi sáng lập Apple là Steve WozniakSteve Jobs cũng phải nhảy vào kiếm chác.
Phát triển
Theo thời gian, cùng sự phát triển của khoa học máy tính, hack không chỉ còn là trò đùa vui mà biến tướng thành tội phạm thứ thiệt. Các nhóm tin tặc bắt đầu xuất hiện với những cái tên “khủng khiếp” như Legion of Doom (Quân đoàn Tận diệt), Masters of Deception (Đầu trò Lừa dối), Neon Knights…
Trong đó, nổi nhất phải kể tới Legion of Doom với nhiều lần phá phách hệ thống điện thoại và máy tính nhưng hiếm khi đứng lên nhận trách nhiệm. Vào giai đoạn cao điểm, nhóm này duy trì đến 414 thành viên.
Sự kiện hoành tráng nhất chứng kiến hoạt động của Legion of Doom là đợt hack vào ngân hàng Security Pacific BankLos Alamos National Laboratory kéo dài hơn 9 ngày.
Nhận thấy mối nguy hiểm trên, nhiều chính phủ đặt các nhóm và cá nhân tin tặc vào vòng pháp luật. Tại Anh và Mỹ, nhà lập pháp đã phê chuẩn các đạo luật chống lạm dụng máy tính, tạo phương tiện để truy tố hacker từ thập niên 1980. Hàng loạt vụ chấn chỉnh tin tặc bắt đầu có hiệu quả, đỉnh điểm vào năm 1990 với chiến dịch Sundevil do mật vụ Mỹ thực hiện.
Ngày càng mạnh mẽ
Khi internet xuất hiện và máy tính cá nhân phổ biến hơn, đấy cũng trở thành thời điểm nhiều nhóm tin tặc mới ra đời, mục đích phá hoại và thể hiện trình độ cao hơn hẳn. Tiêu biểu như nhóm L0pht lừng lẫy với thành tích đánh sập mạng internet trong 30 phút vào năm 1998.
Nhóm Mafiaboy cũng chẳng kém khi tiến hành hàng loạt vụ đánh sập website của những công ty nổi tiếng thế giới như Yahoo, Amazon, Ebay, CNN… Về phía cá nhân phải nhắc tới anh chàng Dark Dante có thể làm chủ đường dây điện thoại của 1 chương trình phát thanh, trở thành người thứ 102 gọi điện và đoạt giải là chiếc Porsche 944 mới cứng.
Bùng nổ, mũ đen và mũ trắng
Hoạt động phá hoại ngày càng gia tăng theo thời gian, bất chấp mọi cố gắng, nỗ lực của nhà chức trách. Tại một số khu vực trên thế giới, hacker còn được coi là “đại diện” cho đất nước và thường xuyên trạm chán nhau, tiêu biểu như Pakistan và Ấn Độ.
Tuy nhiên, chẳng phải hacker nào cũng hoạt động vì mục đích xấu. Không ít thành viên với kiến thức của mình lại muốn hạn chế sự hoạt động của hacker xấu (hacker mũ đen). Họ được gọi là những hacker mũ trắng. Một nhóm hoặc một cá nhân có thể theo cả hai phe mũ trắng và đen, đôi khi là màu xám tùy theo mục đích của họ.
Hiện tại
Giờ đây, vào năm 2011, dân hacker thêm một lần nữa gây chấn động nền hòa bình internet. Nổi bật nhất là 2 nhóm Anonymous và Lulz Security (còn gọi là LulzSec), những tên tuổi đi đầu cuộc tấn công vào các công ty đa quốc gia hoặc chính phủ. Điển hình như các vụ đánh sập website của Sony, Google, Fox, Cục điều tra liên bang Mỹ hay chính phủ Hoa Kỳ…
Mới đây, vào ngày 26/6/2011, nhóm Lulz Security tuyên bố tự giải tán sau khi “làm tình làm tội” thế giới internet suốt 50 ngày liên tục. Thông điệp cuối cùng họ giải thích cho hành động của mình chỉ đơn giản là sự “khao khát” khó hiểu.
Tuy nhiên, vẫn còn lại hàng chục nhóm hacker chính danh và nặc danh đang hoạt động. Chắc chắn rồi, giờ chưa phải lúc để mọi người mất cảnh giác hay thở phào nhẹ nhõm đâu nhé.
Kênh14.vn