Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới


Phát động Tháng hành động vì bình đẳng giới năm 2021

Các đại biểu tham gia Lễ phát động truyền đi thông điệp về bình đẳng giới. (Ảnh: UN Women Viet Nam)

“Đảm bảo an sinh xã hội, tăng quyền năng và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái nhằm thực hiện bình đẳng giới và xóa bỏ bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái” là chủ đề của Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới năm 2021. Sự kiện sẽ diễn ra từ ngày 15/11 đến ngày 15/12.

Ngày 12/11 tại Hà Nội, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp các cơ quan Liên hợp quốc tại Việt Nam tổ chức Lễ phát động Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới năm 2021.

Trong lĩnh vực bình đẳng giới, truyền thông được xác định là nhiệm vụ, giải pháp quan trọng nhất nhằm nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi, góp phần xóa bỏ định kiến, tiến tới thực hiện bình đẳng giới thực chất. Việc triển khai Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới từ năm 2016 đến nay đã tạo ra những hiệu ứng tích cực, thu hút sự tham gia hưởng ứng, quan tâm, chung tay vào cuộc của toàn xã hội, góp phần rút ngắn khoảng cách giới trong hầu hết các lĩnh vực.

Ở Việt Nam, tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội khóa XV đạt 30,26%, cao hơn 3,46% so với khóa XIV và cao nhất từ Quốc hội khóa V trở lại đây. Nhiều bộ, ngành lần đầu tiên có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Kết quả công tác bình đẳng giới trong các lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm, y tế, giáo dục đều có những chuyển biến tích cực. Chỉ số phát triển giới ở mức cao, đưa Việt Nam xếp thứ 65 trong số 162 quốc gia và nằm trong nhóm cao nhất trong 5 nhóm trên thế giới. Đặc biệt, việc ban hành Chương trình truyền thông về bình đẳng giới đến năm 2030 thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ đối với công tác truyền thông về bình đẳng giới.

Hai năm gần đây, đại dịch Covid-19 đã khiến cho bất bình đẳng gia tăng và phụ nữ, trẻ em là nhóm đối tượng phải chịu nhiều bất lợi hơn. Theo Báo cáo về khoảng cách giới năm 2021 của Diễn đàn Kinh tế thế giới, thế giới sẽ mất tới 136 năm thay vì 100 năm để thu hẹp khoảng cách giới do Covid-19.

Trong bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam đã luôn nỗ lực trong việc thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, đặc biệt là bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái.

Trong các chính sách hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp gặp khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19 được ban hành trong thời gian qua, phụ nữ, trẻ em luôn được xác định là đối tượng được ưu tiên và có nhiều hỗ trợ cao hơn, đặc biệt là phụ nữ mang thai, phụ nữ bị nhiễm Covid-19, trẻ em mồ côi do bố mẹ bị tử vong do Covid-19,… điều này đã góp phần giúp phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ổn định cuộc sống, giảm bớt áp lực và nguy cơ bị bạo lực, xâm hại.

Phát biểu phát động buổi lễ, Thứ trưởng Lao động – Thương binh và Xã hội, Nguyễn Thị Hà nhấn mạnh: “Để giải quyết bất bình đẳng giới ở Việt Nam, bên cạnh các chính sách, chương trình để bảo đảm an sinh xã hội thì công tác truyền thông cần phải được thực hiện thường xuyên, lâu dài và hiệu quả hơn nhằm thay đổi những định kiến giới đang tồn tại khá phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sẽ không có bình đẳng giới nếu không có sự tham gia của nam giới trong công việc gia đình và chấm dứt bạo hành với phụ nữ và trẻ em gái”.

Phát động Tháng hành động vì bình đẳng giới năm 2021 -0
Ông Kidong Park, Quyền Điều phối viên thường trú và các Trưởng đại diện các tổ chức Liên Hợp Quốc tại Việt Nam, phát biểu tại buổi lễ. (Ảnh: UN Women)

Tại buổi lễ, ông Kidong Park, quyền Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc đưa ra một số khuyến nghị để giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử và bạo lực giới.

“Ngoài việc thay đổi các chuẩn mực xã hội thông qua việc xây dựng văn hóa tôn trọng, bình đẳng đối với tất cả các giới, trong mọi hoàn cảnh bao gồm tại nhà, nơi làm việc, tại trường học và trên môi trường trực tuyến, chúng ta cần cam kết chính trị mạnh mẽ thể hiện qua việc xây dựng các luật, chính sách toàn diện; các chương trình thay đổi các quan niệm xã hội mang tính dài hạn và dựa trên cơ sở bằng chứng; xây dựng cơ sở dữ liệu đáng tin cậy về các hình thức phân biệt đối xử và bạo lực giới đối với các nhóm khác nhau. Và quan trọng nhất là có các dịch vụ thiết yếu có nhạy cảm giới, đáng tin cậy, giá cả phải chăng cho người bị bạo lực”ông Kidong Park cho biết.

Thay mặt các tổ chức Liên hợp quốc tại Việt Nam, ông Kidong Park khẳng định Liên hợp quốc cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong việc thúc đẩy bình đẳng giới, xóa bỏ phân biệt đối xử và bạo lực giới, hướng tới việc đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững.

Cùng với Lễ phát động Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới cấp quốc gia năm 2021, sẽ có hàng ngàn hoạt động hưởng ứng Tháng hành động được tổ chức trực tiếp và trực tuyến trên cả nước với các quy mô khác nhau.

Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới được tổ chức từ ngày 15/11 đến ngày 15/12 hằng năm. Qua 5 năm triển khai (2016-2020), đã có hơn 10 triệu lượt người được truyền thông, tiếp cận với các thông điệp của Tháng hành động, góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của cán bộ và người dân đối với công tác bình đẳng giới và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới. Hàng năm, 100% các địa phương và nhiều bộ ngành, cơ quan trung ương đã xây dựng kế hoạch và triển khai các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động.

HOÀNG LINH / Báo Nhân Dân

—-—

——-

Bình đẳng giới nhìn lại chặng đường 10 năm nỗ lực

Với những nỗ lực không ngừng nghỉ trong suốt nhiều năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong công tác bình đẳng giới, được thế giới công nhận là một trong 10 quốc gia thực hiện tốt nhất mục tiêu số 5 về thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho tất cả phụ nữ và trẻ em gái trong các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Những thành tựu đạt được cũng trở thành tiền đề, thành động lực mạnh mẽ để Việt Nam tiếp tục thực hiện các mục tiêu về bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Một số thành tựu về bình đẳng giới

Thực tế cho thấy, cả nam giới và nữ giới đều chịu những tác động từ bất bình đẳng giới, nhưng phụ nữ và trẻ em gái vẫn là nhóm đối tượng chịu nhiều thiệt thòi hơn. Tại Việt Nam, các mục tiêu bình đẳng giới luôn nhận được sự quan tâm sát sao của Đảng, Chính phủ, các cơ quan cũng như các tổ chức cả trong và ngoài nước. Hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước không ngừng được hoàn thiện, công tác tổ chức được triển khai đồng bộ, quyết liệt cùng với sự tăng cường hợp tác với các đối tác phát triển và các tổ chức của Liên hợp quốc như Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), Ủy ban Địa vị Phụ nữ Liên hợp quốc… để giải quyết các vấn đề xoay quanh bình đẳng giới. Mục tiêu đặt ra để giải quyết vấn đề ở các khía cạnh: Đảm bảo bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Đây cũng chính là những mục tiêu được đề ra trong Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24/12/2010.

Đến nay, sau 10 năm thực hiện Chiến lược, nhiều mục tiêu về bình đẳng giới đã và đang được triển khai đồng bộ, mang lại những thành tựu to lớn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của từng cá nhân, từng gia đình cũng như toàn xã hội, đồng thời những cố gắng, nỗ lực của Việt Nam cũng được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Báo cáo Phát triển con người năm 2020 của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) cho thấy, năm 2019, Chỉ số Phát triển con người (HDI) của Việt Nam là 0,704, tăng 1 bậc so với năm trước và xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ, ghi dấu lần đầu tiên Việt Nam lọt vào nhóm các nước có chỉ số HDI ở mức cao. Cùng với đó, bất bình đẳng về thu nhập (19,1%) và hệ số Gini (35,7) của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất trong số các quốc gia được so sánh năm 2019. Đây là thành tựu không phải quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp nào cũng đạt được.

Bình đẳng giới nhìn lại chặng đường 10 năm nỗ lực
Bình đẳng giới Việt Nam

Kết quả đạt được sau 10 năm thực hiện Chiến lược Bình đẳng giới còn thể hiện ở việc tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị. Báo cáo số 362/BC-CP ngày 18/8/2020 của Chính phủ về việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2019 và giai đoạn 2011-2020 cho thấy, tỷ lệ nữ giới tham gia các cấp ủy Đảng khóa sau đã tăng hơn khóa trước. Cụ thể: Tỷ lệ nữ giới tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI là 8,62%, các Đảng bộ trực thuộc Trung ương là 11,4%, cấp huyện là 14% và cấp cơ sở là 18,1%; tới khóa XII, các tỷ lệ tương ứng đạt lần lượt là 10%, 13,3%, 14,3% và 19,07%. Nhiệm kỳ 2015-2020, lần đầu tiên có 3 đồng chí nữ là Ủy viên Bộ Chính trị (đạt tỷ lệ 15,78%). Kết thúc giai đoạn, cả nước có 8/63 nữ bí thư tỉnh ủy, 14 nữ phó bí thư tỉnh ủy.

Đặc biệt, Việt Nam nằm trong nhóm 1/3 các nước đứng đầu về tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội và tỷ lệ phụ nữ tham gia lao động; tỷ lệ này liên tục gia tăng trong 2 khóa vừa qua. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XIII đạt 24,2%, và tăng thêm 3,11% vào khóa tiếp theo đạt tỷ lệ 27,31%, cao hơn tỷ lệ chung của thế giới. Đáng nói là, lần đầu tiên trong lịch sử, Việt Nam có một chính khách nữ được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Quốc hội ở cả 2 khóa XIII và XIV, bà luôn đứng đầu về phiếu tín nhiệm cao trong cả 3 lần Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm vào các năm 2013, 2014 và 2018.

Ngoài ra, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 đều tăng so với nhiệm kỳ 2010-2015 ở cả 3 cấp tỉnh, huyện và xã. Nhiệm kỳ 2010-2015, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND cấp tỉnh là 25,17%, cấp huyện 24,62%, cấp xã 21,71%; tỷ lệ này đã được nâng lên ở nhiệm kỳ 2016-2021 tương ứng là 26,54%, 27,85% và 26,59%. Đến cuối nhiệm kỳ 2011-2015, tỷ lệ UBND các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ ở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã lần lượt là: 32,14%; 32,64%; 21,95%. Tính đến hết tháng 7/2020, tỷ lệ các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có lãnh đạo nữ đã đạt 36,6% (11/30 lãnh đạo là nữ giới).

Kết quả bình đẳng giới còn được thể hiện ở khía cạnh giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động; chú trọng phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao. Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 (Tổng điều tra) của Tổng cục Thống kê cho thấy, nữ giới chiếm đến 47,3% lực lượng lao động chính của cả nước. Tính đến tháng 10/2019, có khoảng trên 285,6 nghìn doanh nghiệp do nữ doanh nhân đứng đầu, chiếm 24% tổng số doanh nghiệp cả nước. Tỷ lệ nữ giới biết chữ trong độ tuổi từ 15-60 đạt 97,33%, tỷ lệ nữ thạc sỹ đạt 54,25%, tỷ lệ tiến sỹ đạt 30,8%.

Ngoài ra, đảm bảo bình đẳng giới trong tiếp cận, thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đời sống gia đình cũng gặt hái được nhiều thành tựu. Theo kết quả của Tổng điều tra, tỷ số giới tính khi sinh (SRB) của Việt Nam đã được khống chế ở mức ổn định nhiều nhờ nỗ lực đưa SRB về mức cân bằng tự nhiên của Trung ương Đảng và Chính phủ với mức 111,5 bé trai/100 bé gái sinh ra sống. Nhờ tính hiệu quả của hệ thống y tế trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ trước, trong và sau sinh, tỷ số tử vong của bà mẹ đã giảm từ 69 ca trên 100 nghìn ca sinh sống năm 2009 xuống còn 46 ca trên 100 nghìn ca sinh sống năm 2019. Những nỗ lực giải quyết vấn đề bình đẳng giới còn được lồng ghép trong lĩnh vực văn hóa và thông tin thông qua việc đẩy mạnh các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức về giới và bình đẳng giới. Ngoài ra, để nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới, từ năm 2011 đến khoảng giữa năm 2020, Việt Nam liên tục bổ sung, hoàn thiện khung khổ pháp lý làm cơ sở giải quyết các vấn đề về bình đẳng giới. Cụ thể: Quốc hội đã ban hành Hiến pháp năm 2013, 7 bộ luật, 161 luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành 15 pháp lệnh, trong đó có khoảng 45 bộ luật, luật có liên quan đến vấn đề bình đẳng giới; Chính phủ ban hành 1.413 nghị định và đều được xem xét lồng ghép vấn đề bình đẳng giới theo quy định của Luật Bình đẳng giới và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Tiếp tục những nỗ lực mới vì xã hội bình đẳng, tiến bộ


Bên cạnh những thành tựu tốt đẹp mà nỗ lực đạt các mục tiêu bình đẳng giới đem lại, phụ nữ và trẻ em gái vẫn là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trước các nguy cơ cũng như cần có thêm nhiều hơn nữa các cơ hội bình đẳng. Vẫn còn tồn tại vấn nạn ngược đãi phụ nữ, nhất là ở những vùng dân trí chưa cao, định kiến về giới vẫn còn tồn tại và gây nhiều thiệt hại không chỉ cho đối tượng yếu thế mà còn ảnh hưởng đến toàn xã hội. Bất bình đẳng giới cũng được coi là một trong những nguyên nhân chủ yếu của nạn bạo lực gia đình. Báo cáo Điều tra quốc gia về Bạo lực đối với phụ nữ ở Việt Nam năm 2019 do Tổng cục Thống kê phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) cho thấy, cứ 3 phụ nữ thì có gần 2 phụ nữ (gần 63%) bị một hoặc hơn một hình thức bạo lực thể xác, tình dục, tinh thần và bạo lực kinh tế cũng như kiểm soát hành vi do chồng gây ra trong cuộc đời và gần 32% phụ nữ bị bạo lực hiện thời (trong vòng 12 tháng qua đến thời điểm điều tra). Điều này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho phát triển kinh tế và sức khỏe thể chất, tinh thần người phụ nữ, thậm chí tác động không tốt đến hành vi, tinh thần của trẻ em trong gia đình có phụ nữ bị bạo hành. Báo cáo cũng ước tính, bạo lực đối với phụ nữ đang gây thiệt hại về kinh tế cho Việt Nam ước khoảng 1,8% GDP năm 2018.

Về kinh tế, trên thị trường lao động, tỷ lệ lao động nữ phải làm công việc dễ bị tổn thương lên tới 59,6%, cao hơn nhiều so với với mức 31,8% của lao động nam. Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐTBXH) cho biết, mức lương bình quân hàng tháng khi làm cùng một công việc của lao động nữ đạt khoảng 4,58 triệu đồng, thấp hơn mức bình quân 5,19 triệu đồng của lao động nam. Nhất là đối với lao động nữ di cư, dù họ tham gia vào cả lực lượng lao động chính thức lẫn phi chính thức, nhiều lao động di cư không được hưởng những quyền lợi từ các chính sách an sinh xã hội, như lao động, việc làm, giảm nghèo, BHXH, bảo trợ xã hội, các dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, tiếp cận thông tin… Bên cạnh đó, thu nhập của họ không ổn định và bấp bênh từ những công việc chỉ được ký hợp đồng lao động ngắn hạn hoặc thậm chí không có hợp đồng. Không thể mải vui với thành tựu đã đạt được mà quên đi những tồn tại chưa thể giải quyết triệt để, Việt Nam vẫn tiếp tục không ngừng nỗ lực vì một xã hội bình đẳng và đem lại quyền bình đẳng giới cho mọi người. Ngày 03/3/2021, Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021-2030 ban hành cùng Nghị quyết số 28/NQ-CP. Theo đó, trên cơ sở kế thừa Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2021, tiếp tục thực hiện sự chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về thực hiện mục tiêu bình đẳng giới, góp phần đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030.

Đảng và Nhà nước vẫn kiên định mục tiêu tiếp tục thu hẹp khoảng cách giới, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ và nam giới tham gia, thụ hưởng bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước. Cụ thể trong lĩnh vực chính trị, mục tiêu đặt ra đến năm 2025 đạt 60% và đến năm 2030 đạt 75% các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp có lãnh đạo chủ chốt là nữ. Trong lĩnh vực kinh tế, lao động, phấn đấu tăng tỷ lệ lao động nữ làm công hưởng lương và giảm tỷ trọng lao động nữ làm việc trong khu vực nông nghiệp trong tổng số lao động nữ có việc làm lần lượt là 50%, dưới 30% vào năm 2025, và khoảng 60%, dưới 25% năm 2030; Tỷ lệ lãnh đạo, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã là nữ đạt ít nhất 27% năm 2025 và 30% năm 2030.

Trong đời sống gia đình và phòng ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, ngoài việc giảm số giờ trung bình làm công việc nội trợ và chăm sóc trong gia đình được trả công của phụ nữ, các chỉ tiêu đặt ra yêu cầu đến năm 2025, có 80% số người bị bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện, được tiếp cận ít nhất một trong các dịch vụ hỗ trợ cơ bản và 50% người gây bạo lực gia đình, bạo lực trên cơ sở giới được phát hiện ở mức chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự được tư vấn, tham vấn. Con số này phấn đấu đến năm 2030 lần lượt là 90% và 70%. Bên cạnh đó, còn nhiều chỉ tiêu cần phấn đấu nâng cao hơn nữa nhằm thực hiện các mục tiêu bình đẳng giới trong các lĩnh vực như y tế, giáo dục đào tạo, thông tin và truyền thông.

Ngoài những nỗ lực quyết liệt của Chính phủ cùng sự bảo vệ của hệ thống pháp luật, để có thể đi đến giải quyết ngọn ngành các vấn đề do bất bình đẳng giới gây ra còn cần sự thay đổi trong quan điểm, nhận thức của mỗi người dân Việt Nam trong vấn đề bình đẳng giữa nam và nữ. Do đó, rất cần có sự chung tay của mỗi người dân cùng phối hợp với chính quyền cùng hoàn thành các mục tiêu đã đề ra nhằm xây dựng một xã hội Việt Nam mà nam giới, nữ giới, trẻ em trai và trẻ em gái đều được hưởng cuộc sống bình đẳng, an toàn, góp phần phát triển Việt Nam tiến bộ, toàn diện và bền vững.


ThS. Đỗ Thu Hương – ThS. Lê Thị Thu Trang
Đại học Lao động – Xã hội

Tham khảo: http://consosukien.vn/binh-dang-gioi-nhin-lai-chang-duong-10-nam-no-luc.htm

Liên kết ngoài: https://vi.m.wikipedia.org/wiki/Luật_Bình_đẳng_giới_(Việt_Nam)

Các vấn đề sinh sản ở cả nam và nữ gia tăng báo động


Các vấn đề sinh sản ở cả nam giới và nữ giới đang tăng khoảng 1% mỗi năm ở các nước phương Tây bởi một nguyên nhân chung: sự hiện diện của các hóa chất thay đổi hormone trong thế giới hiện đại của chúng ta.Trong đó, các vấn đề ở nam giới bao gồm giảm số lượng tinh trùng, giảm nồng độ testosterone và ung thư tinh hoàn, cũng như rối loạn cương dương. Về phía phụ nữ, tỷ lệ sẩy thai cũng đang tăng khoảng 1% mỗi năm ở Mỹ, và tỷ lệ mang thai hộ cũng vậy. Trong khi đó, tổng tỷ suất sinh trên toàn thế giới đã giảm gần 1% mỗi năm từ năm 1960 đến năm 2018.

Nghe qua thì 1% mỗi năm có vẻ như không phải một vấn đề quá nghiêm trọng. Nhưng trên thực tế, tỷ lệ gia tăng này sẽ tương ứng với hơn 10% mỗi thập kỷ và hơn 50% trong 50 năm. Hãy tưởng tượng số lượng tinh trùng sẽ giảm 50% chỉ trong 40 năm tới, như kết quả một phân tích tổng hợp được công bố trên tạp chí Human Reproduction Update năm 2017, có thể thấy sự gia tăng các vấn đề sinh sản là đáng báo động như thế nào.

Và những thay đổi về sinh sản này khó có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên – chúng quá nhất quán trong một khoảng thời gian dài.

Sự thật là, những thay đổi trong sức khỏe sinh sản có mối liên hệ với nhau và phần lớn đều được thúc đẩy bởi một nguyên nhân chung: sự hiện diện của các hóa chất thay đổi hormone (hay còn gọi là hóa chất gây rối loạn nội tiết hoặc EDC) trong thế giới hiện đại của chúng ta. 

Những hóa chất làm thay đổi hormone này – bao gồm phthalates, bisphenol A, và chất chống cháy – đã trở nên phổ biến trong cuộc sống ngày nay. Các chất này xuất hiện trong nước đóng chai và bao bì thực phẩm, thiết bị điện tử, sản phẩm chăm sóc cá nhân, đồ dùng vệ sinh và nhiều vật dụng hằng ngày khác. Và chúng bắt đầu được sản xuất với số lượng ngày càng tăng kể từ năm 1950, trùng khớp với thời điểm số lượng tinh trùng và khả năng sinh sản bắt đầu suy giảm.

Tiếp xúc với những hóa chất này đặc biệt gây nguy hại trong thời kỳ mang thai, vì những tiếp xúc trong thai kỳ sẽ ảnh hưởng đến đứa trẻ sau này. Khi một người mẹ đang mang thai tiếp xúc với các hóa chất độc hại trong không khí, nước uống, thực phẩm và các sản phẩm cô ấy bôi trên da, các hóa chất này có thể xâm nhập vào cơ thể cũng như thai nhi, ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng sinh sản của đứa trẻ. Ảnh hưởng này đặc biệt nghiêm trọng trong giai đoạn đầu của thai kỳ, nhất là với với trẻ sơ sinh nam.

Ví dụ, nếu một phụ nữ tiếp xúc với các hóa chất ngăn chặn hoạt động của nội tiết tố androgen trong ba tháng đầu của thai kỳ, chúng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển sinh sản của thai nhi nam theo nhiều cách, như rút ngắn khoảng cách tầng sinh môn (AGD), khoảng cách từ hậu môn đến gốc dương vật. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì nghiên cứu đã chỉ ra rằng AGD ngắn hơn tương quan với dương vật nhỏ hơn và số lượng tinh trùng thấp hơn ở người trưởng thành. Ngoài ra, hệ thống nội tiết tố nam bị rối loạn trước khi sinh có thể dẫn đến giảm mức testosterone và làm tăng nguy cơ bé trai có tinh hoàn lạc chỗ hoặc một dạng dị tật dương vật khi sinh ra. Và nếu một bé trai sinh ra với những dị tật ở bộ phận sinh dục như vậy thì khi trưởng thành sẽ có nguy cơ bị số lượng tinh trùng thấp và ung thư tinh hoàn cao hơn.

Rối loạn nội tiết còn là thủ phạm làm tăng tỷ lệ rối loạn tự miễn dịch cũng như tình trạng béo phì và các hội chứng chuyển hóa, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ và tiểu đường loại 2. Một số tác động sinh sản này thậm chí còn liên quan đến tăng nguy cơ tử vong sớm.
Cụm các vấn đề sinh sản ở cả nam và nữ đang đặt ra những thách thức to lớn đối với dân số thế giới.

Nói một cách dễ hiểu, những vấn đề này nghiêm trọng hơn nhiều so với con số “1%”. Đã đến lúc chúng ta nên yêu cầu loại bỏ các hóa chất gây rối loạn nội tiết trong các sản phẩm hằng ngày, thay thế bằng các hóa chất không ảnh hưởng đến nội tiết tố và không tồn tại lâu dài trong môi trường. Đồng thời thiết lập các phương pháp kiểm tra và quản lý để đảm bảo rằng chỉ những hóa chất an toàn mới có thể thâm nhập vào thị trường và cơ thể của chúng ta. Nói cách khác, chúng ta cần ngừng tự đem sức khỏe của chính mình ra làm thí nghiệm phơi nhiễm EDC.

Nguồn:
https://www.scientificamerican.com/article/reproductive-problems-in-both-men-and-women-are-rising-at-an-alarming-rate/


https://academic.oup.com/humupd/article/23/6/646/4035689

Hoàng Nam tổng hợp / khoahocphattrien

Khuôn mẫu giới: Thủ phạm gây ra bất bình đẳng giới


Từ trước đến nay vấn đề bình đẳng giới hầu như chỉ được nhìn từ góc độ của nữ giới mà thiếu hiểu biết quan điểm thực sự của nam giới về vấn đề này cũng như căn nguyên thực sự phía sau của bất bình đẳng chính là khuôn mẫu giới đã định hình, bó buộc lấy mỗi giới. Tình trạng đó có thể khiến các chương trình vận động xã hội chưa thể nhắm đến “thủ phạm” đích thực gây bất bình đẳng giới, thậm chí là giới này “đổ lỗi” cho giới kia

PGS.TS Phạm Quỳnh Phương tại tọa đàm “’Chuẩn mực giới’ hay những ‘vòng kim cô’? – Góc nhìn từ lịch sử và các thảo luận đương đại trên mạng xã hội”. Ảnh: VGEM

Thực tế, trên các trang mạng xã hội, hai giới liên tục “gây hiềm khích” và đổ lỗi cho nhau rằng giới kia chính là thủ phạm gây ra bất bình đẳng. Nếu ở các không gian công cộng, hiếm có người đàn ông nào dám công khai đả phá bình đẳng giới, thì ở các không gian mạng xã hội có thể ẩn danh, nhiều người cất lên tiếng nói bức xúc của mình: “Lúc đi ăn đi chơi thì đòi nữ quyền, đàn ông phải trả tiền, phải gánh, phải mời. Lúc làm việc thì đòi bình đẳng, lương phải cao, việc nặng thì đẩy cho đàn ông làm. (…) Các chị khôn lắm đấy.” Còn nữ giới thì phản pháo: “Thế mới thấy đàn ông Việt Nam yếu đuối như thế nào, (…) Tới hiện tại, mới bình đẳng có hơn tí, đàn ông có trách nhiệm hơn tí, thì các ông đã áp lực, tự tử tăng cao, nọ kia.”  

“Đây là phần chìm của tảng băng cần được lắng nghe để hiểu rõ hơn những khúc mắc và những thách thức của vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam”, PGS.TS Phạm Quỳnh Phương cho biết tại tọa đàm “’Chuẩn mực giới’ hay những ‘vòng kim cô’? – Góc nhìn từ lịch sử và các thảo luận đương đại trên mạng xã hội” do ECUE, VGEM, sáng kiến của chính phủ Úc Investing in Women và Australian Aid phối hợp tổ chức ngày 4/3.

Trước đó, nhóm tác giả Phạm Quỳnh Phương, Lê Quang Bình và Nguyễn Minh Huyền đã tiến hành nghiên cứu “Khuôn mẫu giới và vấn đề việc làm: Một nghiên cứu về giới trẻ Việt Nam đương đại qua các thảo luận trên báo chí và mạng xã hội” nhằm hiểu hơn về thực trạng, tinh thần thực sự của xã hội chúng ta trước vấn đề bình đẳng giới và vì sao các cuộc vận động về bình đẳng giới lại giậm chân tại chỗ.

Theo PGS.TS Phạm Quỳnh Phương, từ trước đến nay vấn đề bình đẳng giới chủ yếu chỉ được nhìn chủ yếu từ mỗi giới (chủ yếu từ góc độ của phụ nữ) và thiếu hiểu biết quan điểm thực sự của nam giới trong xã hội đương đại, cũng như nguyên nhân thực sự phía sau của bất bình đẳng. Các vận động xã hội và chính sách phải nhắm đến thủ phạm của bất bình đẳng giới là khuôn mẫu giới, chứ không phải do giới này hay giới kia gây ra. “Nếu các thảo luận xã hội, thậm chí các giải pháp chỉ tập trung vào phụ nữ thì có thể dẫn đến việc ngầm định nam giới là thủ phạm của bất bình đẳng, và từ đó nam giới có thể bị bỏ rơi trong tiến trình thúc đẩy bình đẳng giới”, bà cho biết. Khi có “đích ngắm” chung (khuôn mẫu giới) thì việc có cả nam giới và phụ nữ tham gia giải quyết vấn đề chung sẽ khả thi và hiệu quả hơn.

Mặt khác, bà cũng cho biết các thảo luận trên mạng xã hội về bình đẳng giới đang tập trung vào việc phân công công việc (ai làm gì, làm nhiều hay ít, việc nặng hay nhẹ, việc quan trọng hay không quan trọng, việc phù hợp hay không phù hợp). Sự so sánh này không hợp lý, “vì nó phụ thuộc vào bối cảnh của từng gia đình và cảm nhận của từng cá nhân nên dẫn đến những căng thẳng và bế tắc khi tìm ra giải pháp”, bà Phương nhận định. Chính vì vậy, thúc đẩy bình đẳng giới không nên khuyến khích phụ nữ phấn đấu theo những tiêu chuẩn thành công của nam giới, cũng như bình đẳng giới trong lao động và nghề nghiệp không nhất thiết khuyến khích phụ nữ làm những công việc như nam giới, vì điều đó sẽ chỉ làm tăng lên gánh nặng cho phụ nữ trong bối cảnh những nền tảng có tính cấu trúc của xã hội chưa dễ thay đổi.  

Nhìn chung, mặc dù hiện nay đã xuất hiện xu hướng gỡ bỏ các khuôn mẫu trong giới trẻ, nhưng phần đông cả hai giới đều vẫn nhập tâm trách nhiệm của mình, gồng mình lên để mang chiếc mặt nạ ‘nam tính’, ‘nữ tính’ ra ngoài xã hội. Trước những trông đợi của cộng đồng, con người luôn tự điều chỉnh, thậm chí hủy hoại cả bản tính tự nhiên, cố sức nam tính hóa hay nữ tính hóa để khớp với chuẩn mực của xã hội. Để hướng đến một xã hội Việt Nam bình đẳng, “chúng tôi đề nghị phải hướng đến việc ‘tháo khuôn’, cởi bỏ những khuôn mẫu giới đang đè nặng lên thực hành làm đàn ông và làm đàn bà”, PGS.TS Phạm Quỳnh Phương kết luận.

Anh Thư / Tạp Chí Tia Sáng