Các vấn đề sinh sản ở cả nam và nữ gia tăng báo động


Các vấn đề sinh sản ở cả nam giới và nữ giới đang tăng khoảng 1% mỗi năm ở các nước phương Tây bởi một nguyên nhân chung: sự hiện diện của các hóa chất thay đổi hormone trong thế giới hiện đại của chúng ta.Trong đó, các vấn đề ở nam giới bao gồm giảm số lượng tinh trùng, giảm nồng độ testosterone và ung thư tinh hoàn, cũng như rối loạn cương dương. Về phía phụ nữ, tỷ lệ sẩy thai cũng đang tăng khoảng 1% mỗi năm ở Mỹ, và tỷ lệ mang thai hộ cũng vậy. Trong khi đó, tổng tỷ suất sinh trên toàn thế giới đã giảm gần 1% mỗi năm từ năm 1960 đến năm 2018.

Nghe qua thì 1% mỗi năm có vẻ như không phải một vấn đề quá nghiêm trọng. Nhưng trên thực tế, tỷ lệ gia tăng này sẽ tương ứng với hơn 10% mỗi thập kỷ và hơn 50% trong 50 năm. Hãy tưởng tượng số lượng tinh trùng sẽ giảm 50% chỉ trong 40 năm tới, như kết quả một phân tích tổng hợp được công bố trên tạp chí Human Reproduction Update năm 2017, có thể thấy sự gia tăng các vấn đề sinh sản là đáng báo động như thế nào.

Và những thay đổi về sinh sản này khó có thể là một sự trùng hợp ngẫu nhiên – chúng quá nhất quán trong một khoảng thời gian dài.

Sự thật là, những thay đổi trong sức khỏe sinh sản có mối liên hệ với nhau và phần lớn đều được thúc đẩy bởi một nguyên nhân chung: sự hiện diện của các hóa chất thay đổi hormone (hay còn gọi là hóa chất gây rối loạn nội tiết hoặc EDC) trong thế giới hiện đại của chúng ta. 

Những hóa chất làm thay đổi hormone này – bao gồm phthalates, bisphenol A, và chất chống cháy – đã trở nên phổ biến trong cuộc sống ngày nay. Các chất này xuất hiện trong nước đóng chai và bao bì thực phẩm, thiết bị điện tử, sản phẩm chăm sóc cá nhân, đồ dùng vệ sinh và nhiều vật dụng hằng ngày khác. Và chúng bắt đầu được sản xuất với số lượng ngày càng tăng kể từ năm 1950, trùng khớp với thời điểm số lượng tinh trùng và khả năng sinh sản bắt đầu suy giảm.

Tiếp xúc với những hóa chất này đặc biệt gây nguy hại trong thời kỳ mang thai, vì những tiếp xúc trong thai kỳ sẽ ảnh hưởng đến đứa trẻ sau này. Khi một người mẹ đang mang thai tiếp xúc với các hóa chất độc hại trong không khí, nước uống, thực phẩm và các sản phẩm cô ấy bôi trên da, các hóa chất này có thể xâm nhập vào cơ thể cũng như thai nhi, ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng sinh sản của đứa trẻ. Ảnh hưởng này đặc biệt nghiêm trọng trong giai đoạn đầu của thai kỳ, nhất là với với trẻ sơ sinh nam.

Ví dụ, nếu một phụ nữ tiếp xúc với các hóa chất ngăn chặn hoạt động của nội tiết tố androgen trong ba tháng đầu của thai kỳ, chúng có thể ảnh hưởng đến sự phát triển sinh sản của thai nhi nam theo nhiều cách, như rút ngắn khoảng cách tầng sinh môn (AGD), khoảng cách từ hậu môn đến gốc dương vật. Điều này có ý nghĩa quan trọng vì nghiên cứu đã chỉ ra rằng AGD ngắn hơn tương quan với dương vật nhỏ hơn và số lượng tinh trùng thấp hơn ở người trưởng thành. Ngoài ra, hệ thống nội tiết tố nam bị rối loạn trước khi sinh có thể dẫn đến giảm mức testosterone và làm tăng nguy cơ bé trai có tinh hoàn lạc chỗ hoặc một dạng dị tật dương vật khi sinh ra. Và nếu một bé trai sinh ra với những dị tật ở bộ phận sinh dục như vậy thì khi trưởng thành sẽ có nguy cơ bị số lượng tinh trùng thấp và ung thư tinh hoàn cao hơn.

Rối loạn nội tiết còn là thủ phạm làm tăng tỷ lệ rối loạn tự miễn dịch cũng như tình trạng béo phì và các hội chứng chuyển hóa, làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim, đột quỵ và tiểu đường loại 2. Một số tác động sinh sản này thậm chí còn liên quan đến tăng nguy cơ tử vong sớm.
Cụm các vấn đề sinh sản ở cả nam và nữ đang đặt ra những thách thức to lớn đối với dân số thế giới.

Nói một cách dễ hiểu, những vấn đề này nghiêm trọng hơn nhiều so với con số “1%”. Đã đến lúc chúng ta nên yêu cầu loại bỏ các hóa chất gây rối loạn nội tiết trong các sản phẩm hằng ngày, thay thế bằng các hóa chất không ảnh hưởng đến nội tiết tố và không tồn tại lâu dài trong môi trường. Đồng thời thiết lập các phương pháp kiểm tra và quản lý để đảm bảo rằng chỉ những hóa chất an toàn mới có thể thâm nhập vào thị trường và cơ thể của chúng ta. Nói cách khác, chúng ta cần ngừng tự đem sức khỏe của chính mình ra làm thí nghiệm phơi nhiễm EDC.

Nguồn:
https://www.scientificamerican.com/article/reproductive-problems-in-both-men-and-women-are-rising-at-an-alarming-rate/


https://academic.oup.com/humupd/article/23/6/646/4035689

Hoàng Nam tổng hợp / khoahocphattrien

Khuôn mẫu giới: Thủ phạm gây ra bất bình đẳng giới


Từ trước đến nay vấn đề bình đẳng giới hầu như chỉ được nhìn từ góc độ của nữ giới mà thiếu hiểu biết quan điểm thực sự của nam giới về vấn đề này cũng như căn nguyên thực sự phía sau của bất bình đẳng chính là khuôn mẫu giới đã định hình, bó buộc lấy mỗi giới. Tình trạng đó có thể khiến các chương trình vận động xã hội chưa thể nhắm đến “thủ phạm” đích thực gây bất bình đẳng giới, thậm chí là giới này “đổ lỗi” cho giới kia

PGS.TS Phạm Quỳnh Phương tại tọa đàm “’Chuẩn mực giới’ hay những ‘vòng kim cô’? – Góc nhìn từ lịch sử và các thảo luận đương đại trên mạng xã hội”. Ảnh: VGEM

Thực tế, trên các trang mạng xã hội, hai giới liên tục “gây hiềm khích” và đổ lỗi cho nhau rằng giới kia chính là thủ phạm gây ra bất bình đẳng. Nếu ở các không gian công cộng, hiếm có người đàn ông nào dám công khai đả phá bình đẳng giới, thì ở các không gian mạng xã hội có thể ẩn danh, nhiều người cất lên tiếng nói bức xúc của mình: “Lúc đi ăn đi chơi thì đòi nữ quyền, đàn ông phải trả tiền, phải gánh, phải mời. Lúc làm việc thì đòi bình đẳng, lương phải cao, việc nặng thì đẩy cho đàn ông làm. (…) Các chị khôn lắm đấy.” Còn nữ giới thì phản pháo: “Thế mới thấy đàn ông Việt Nam yếu đuối như thế nào, (…) Tới hiện tại, mới bình đẳng có hơn tí, đàn ông có trách nhiệm hơn tí, thì các ông đã áp lực, tự tử tăng cao, nọ kia.”  

“Đây là phần chìm của tảng băng cần được lắng nghe để hiểu rõ hơn những khúc mắc và những thách thức của vấn đề bình đẳng giới ở Việt Nam”, PGS.TS Phạm Quỳnh Phương cho biết tại tọa đàm “’Chuẩn mực giới’ hay những ‘vòng kim cô’? – Góc nhìn từ lịch sử và các thảo luận đương đại trên mạng xã hội” do ECUE, VGEM, sáng kiến của chính phủ Úc Investing in Women và Australian Aid phối hợp tổ chức ngày 4/3.

Trước đó, nhóm tác giả Phạm Quỳnh Phương, Lê Quang Bình và Nguyễn Minh Huyền đã tiến hành nghiên cứu “Khuôn mẫu giới và vấn đề việc làm: Một nghiên cứu về giới trẻ Việt Nam đương đại qua các thảo luận trên báo chí và mạng xã hội” nhằm hiểu hơn về thực trạng, tinh thần thực sự của xã hội chúng ta trước vấn đề bình đẳng giới và vì sao các cuộc vận động về bình đẳng giới lại giậm chân tại chỗ.

Theo PGS.TS Phạm Quỳnh Phương, từ trước đến nay vấn đề bình đẳng giới chủ yếu chỉ được nhìn chủ yếu từ mỗi giới (chủ yếu từ góc độ của phụ nữ) và thiếu hiểu biết quan điểm thực sự của nam giới trong xã hội đương đại, cũng như nguyên nhân thực sự phía sau của bất bình đẳng. Các vận động xã hội và chính sách phải nhắm đến thủ phạm của bất bình đẳng giới là khuôn mẫu giới, chứ không phải do giới này hay giới kia gây ra. “Nếu các thảo luận xã hội, thậm chí các giải pháp chỉ tập trung vào phụ nữ thì có thể dẫn đến việc ngầm định nam giới là thủ phạm của bất bình đẳng, và từ đó nam giới có thể bị bỏ rơi trong tiến trình thúc đẩy bình đẳng giới”, bà cho biết. Khi có “đích ngắm” chung (khuôn mẫu giới) thì việc có cả nam giới và phụ nữ tham gia giải quyết vấn đề chung sẽ khả thi và hiệu quả hơn.

Mặt khác, bà cũng cho biết các thảo luận trên mạng xã hội về bình đẳng giới đang tập trung vào việc phân công công việc (ai làm gì, làm nhiều hay ít, việc nặng hay nhẹ, việc quan trọng hay không quan trọng, việc phù hợp hay không phù hợp). Sự so sánh này không hợp lý, “vì nó phụ thuộc vào bối cảnh của từng gia đình và cảm nhận của từng cá nhân nên dẫn đến những căng thẳng và bế tắc khi tìm ra giải pháp”, bà Phương nhận định. Chính vì vậy, thúc đẩy bình đẳng giới không nên khuyến khích phụ nữ phấn đấu theo những tiêu chuẩn thành công của nam giới, cũng như bình đẳng giới trong lao động và nghề nghiệp không nhất thiết khuyến khích phụ nữ làm những công việc như nam giới, vì điều đó sẽ chỉ làm tăng lên gánh nặng cho phụ nữ trong bối cảnh những nền tảng có tính cấu trúc của xã hội chưa dễ thay đổi.  

Nhìn chung, mặc dù hiện nay đã xuất hiện xu hướng gỡ bỏ các khuôn mẫu trong giới trẻ, nhưng phần đông cả hai giới đều vẫn nhập tâm trách nhiệm của mình, gồng mình lên để mang chiếc mặt nạ ‘nam tính’, ‘nữ tính’ ra ngoài xã hội. Trước những trông đợi của cộng đồng, con người luôn tự điều chỉnh, thậm chí hủy hoại cả bản tính tự nhiên, cố sức nam tính hóa hay nữ tính hóa để khớp với chuẩn mực của xã hội. Để hướng đến một xã hội Việt Nam bình đẳng, “chúng tôi đề nghị phải hướng đến việc ‘tháo khuôn’, cởi bỏ những khuôn mẫu giới đang đè nặng lên thực hành làm đàn ông và làm đàn bà”, PGS.TS Phạm Quỳnh Phương kết luận.

Anh Thư / Tạp Chí Tia Sáng