Những “võ sư bậc thầy”


Là võ sư, ông Rabbi Elimelech Golberg hiểu trong võ thuật người ta có thể học được bài học có hiệu quả không ngờ: phải biết quên đi đau đớn.

Rabbi Elimelech Golberg – võ sư đai đen môn choi kwang do (có nguồn gốc từ taekwondo) – từng mất đi cô con gái nhỏ mới 2 tuổi vì bệnh bạch cầu. Và chính tinh thần quả cảm đối mặt bệnh tật của con gái đã thôi thúc ông đồng hành với hơn 5.000 trẻ em bị ung thư trong suốt 12 năm qua.Ông Golberg đang tập võ cho trẻ mắc bệnh hiểm nghèo – Ảnh: CNN

Ông cũng là sáng lập viên dự án Kids Kicking Cancer năm 1999 tại bang Michigan (Mỹ).

Một ngày cách đây hơn mười năm, ông Goldberg cố gắng thử giúp một em nhỏ bị ung thư đang la hét dữ dội vì đau đớn trong khi điều trị.  

Do đó, ông dạy cậu bé kỹ thuật thở trong võ thuật để đương đầu với đau đớn. Kỳ diệu làm sao khi cô y tá rút mũi kim ra, cậu bé gần như không hề biết. Trải nghiệm đó khiến Goldberg hiểu ông có thể giúp nhiều em nhỏ khác bị ung thư hoặc các bệnh nan y khác luyện kỹ thuật thở, thiền định để kiểm soát đau đớn và trở nên mạnh mẽ hơn.

Năm ngoái, cô bé Haley Wallace gia nhập Tổ chức Kids Kicking Cancer sau khi bị chẩn đoán ung thư. Đã từng liên tục bỏ chạy ra cửa mỗi khi trông thấy bác sĩ trong giai đoạn hóa trị, nhưng sau khi tham gia lớp học được hướng dẫn theo mô hình một thầy – một trò của võ sư Goldberg, cô bé 9 tuổi đã biết cách kiểm soát nỗi sợ hãi và đau đớn của bản thân.

Theo đó, mỗi lúc hít thở sâu, Haley được hướng dẫn tập trung nghĩ về luồng ánh sáng, những điều tốt đẹp, hạnh phúc và mỗi hơi thở bung ra, cô bé hình dung như đang giải tỏa các ý nghĩ tiêu cực hay bóng tối để có sức mạnh đẩy lùi đau đớn.

Không chỉ tự giúp bản thân, thầy Goldberg còn khuyến khích các học trò nhỏ dạy lại bạn bè, người thân những kỹ năng thở, thiền định được học tại Kids Kicking Cancer bởi theo ông, theo cách đó trẻ sẽ tìm thấy mục đích sống của mình. Hiểu được mục đích sống của mình là cảm giác vô cùng quan trọng với những đứa trẻ đang ở giai đoạn cuối cuộc đời.

Ông nói: “Khi bọn trẻ thấy rõ mình có thể đem lại ánh sáng và xua tan bóng tối, điều đó sẽ làm thay đổi con người”.

Trước khi những đứa trẻ qua đời vì bệnh nặng, Kids Kicking Cancer tổ chức buổi lễ lên đai đen cho các em. Những buổi lễ có khi được tổ chức tại các khán phòng lớn với cả trăm người tham dự, nhưng cũng có khi diễn ra ngay trong các phòng chăm sóc đặc biệt chỉ toàn những người thân thích.

Ông Goldberg nói: “Khi trao tặng cho các em đai đen, một bên đai chúng tôi thêu tên trẻ và bên kia chúng tôi thêu chữ “võ sư bậc thầy” vì các em thật sự là những người thầy của thế giới này”.

D.KIM THOA / Theo TTO

Lịch sử cuộc đua lên mặt Trăng


Ngày 20.7.1969 Neil Armstrong là người Mỹ đầu tiên đã đặt chân lên mặt trăng, đánh dấu mốc loài người lần đầu tiên đặt chân lên một thiên thể ngoài hành tinh. Đằng sau đó là một cuộc đua quyết liệt giữa Mỹ và Liên Xô. Và có một kiến trúc sư của chương trình nghiên cứu của Liên Xô, vẫn còn rất ít được biết đến.


Phóng Saturn V, đưa “Apollo 11” lên Mặt trăng.


Những người đi tiên phong

Từ thời cổ đại, con người đã quan tâm đến mặt trăng, các hành tinh khác và mơ về việc tiếp cận những hành tinh xa xôi này bằng những phương tiện kỳ quặc như tàu buồm bay hoặc xe do chim kéo, có lúc nghiêm túc, đôi khi chỉ là sự châm biếm hài hước. Chính các nhà thơ đã mơ về những chuyến đi như vậy. 

Đôi khi các nhà khoa học suy đoán về các thế giới có sự sống, tuy nhiên hầu như tuyệt đại đa số đều cho rằng không thể có các chuyến du hành vũ trụ trong thế kỷ 20. Chính các nhà văn, nhà thơ lại là những người đưa ý tưởng du hành vũ trụ sát với thực tế cuộc sống. Jules Verne (1828–1905) đã viết liền mấy cuốn sách như “Từ trái đất lên mặt trăng” (1865), hay “Chuyến đi vòng quanh mặt trăng” (1870), dù hoàn toàn không phải là những cuốn sách về chuyên môn nhưng lại đề cập đến những vấn đề cơ bản về du hành vũ trụ như tốc độ thoát, động lực tên lửa, việc chọn lựa bãi phóng tên lửa, vấn đề không trọng lượng, hạ cánh trên mặt nước… và một vấn đề không kém phần quan trọng là toàn bộ công tác điều hành, quản lý dự án vô cùng phức tạp này.

Nếu như không có bộ sách lý thú này thì đã không có nhà nghiên cứu du hành vũ trụ đầu tiên, điều này đã được chính ông nói ra. Đó là một người Nga, ông tin chắc rằng những ý tưởng của Jules Verne về du hành vũ trụ đến một ngày nào đó sẽ trở thành hiện thực. Người đó là Konstantin Tsiolkovsky (1857–1935). 

Thoạt đầu hầu như không có ai quan tâm đến những gì mà Ziolkowski nghiên cứu, ông miệt mài với kỹ thuật tên lửa và du hành vũ trụ. Ông làm điều đó khi những chiếc ô tô đầu tiên mới bắt đầu xuất hiện. Ngày nay ông là một trong số những người đi tiên phong vĩ đại nhất trong lĩnh vực nghiên cứu vũ trụ. Ngay cả cái tên  “Sputnik” được đặt cho vệ tinh đầu tiên vào năm 1957 cũng xuất phát từ câu chuyện khoa học viễn tưởng  của ông, nhằm phổ biến rộng rãi hơn ý tưởng của mình.

Tsiolkovsky xây dựng đường hầm gió đầu tiên vào năm 1896. Sang thế kỷ hai mươi ông đã công bố phương trình tên lửa, cùng với những thứ khác như tên lửa nhiều tầng, vệ tinh, trạm không gian và bộ quần áo vũ trụ. Ông từng viết: “Đúng là trái đất là cái nôi của loài người, nhưng con người không thể ở mãi trong cái nôi đó. Hệ mặt trời sẽ là trường mẫu giáo của chúng ta.” 

Sau đó, Hermann Oberth (1894–1989) người Đức, dường như là người kế nhiệm Tsiolkovsky. Ông cũng rất ngưỡng mộ Jules-Verne. Luận án tiến sỹ của ông “Tên lửa đến các không gian hành tinh“ bị trường đại học Heidelberg từ chối năm 1922 vì không có người hướng dẫn đủ trình độ chuyên môn. Năm sau ông công bố tác phẩm tầm cỡ thế kỷ này dưới dạng một cuốn sách chuyên khảo “bình thường”. 

“Đúng là trái đất là cái nôi của loài người, nhưng con người không thể ở mãi trong cái nôi đó. Hệ mặt trời sẽ là trường mẫu giáo của chúng ta.”

Robert Goddard (1882–1945), người Mỹ, là nhân vật thứ ba trong nhóm các nhà tiên phong quan trọng nhất này. Năm 1920 ông công bố một công trình mang tên “Methods of Reaching Extreme Altitudes”, đề cập đến các chuyến bay không có người lên mặt trăng, đã bị đông đảo dư luận chế nhạo và chê cười mặc dù trước đó ông đã phát triển thành công tên lửa chất rắn phục vụ mục đích quân sự. 

Những nhà sản xuất

Cho đến thời điểm đó tất cả các nghiên cứu về du hành vũ trụ đều có tính lý thuyết hoặc chỉ là nhưng thực nghiệm nhỏ lẻ khá khiêm tốn. Người ta thiếu kinh phí để làm những tên lửa cỡ lớn. 

Von Braun tại Trung tâm Phi hành không gian Marshall vào năm 1964, đằng sau là những mô hình Saturn. Nguồn ảnh: https://www.nasa.gov/topics/history/features/vonbraun.html

Cho đến một bước ngoặt, với sự ra đời của Viện nghiên cứu quân sự của Đức và Wernher von Braun là giám đốc kỹ thuật khi còn rất trẻ. Đỉnh cao trong sự nghiệp phát triển tên lửa của ông diễn ra năm 1939 với quả tên lữa cỡ lớn dài 14 mét (A4), còn có tên là vũ khí trả đũa (retaliatory weapon 2 – V2). Tháng 10/1942 trong một chuyến thử tên lửa lên tới độ cao 84,5 km (lên quá ranh giới không gian là 80 km – theo tiêu chuẩn của NASA hiện nay), hai năm sau lên đến độ cao 174,6 km. Từ 1944, tên lửa này được coi là tên lửa khủng bố đối với nhiều nước. Wernher von Braun là người đóng vai trò quyết định trong việc phát triển tên lửa lỏng A4/V2.

Cả người Nga và người Mỹ đều ý thức được sự vượt trội về công nghệ nghiên cứu tên lửa của Đức. Vì vậy khi chiến tranh kết thúc vào năm 1945, họ đã tìm mọi cách để vơ vét tất cả những gì liên quan đến tên lửa V2. Vì thế nên ngay cả đến bảo tàng của Đức ở Peenemünde cũng chỉ có bản sao của V2 để giới thiệu với công chúng.

Người ta không chỉ lấy đi các nguyên liệu, bản vẽ mà cả những tác giả của công nghệ tên lửa. Những chuyên gia tên lửa hàng đầu của Đức đã cùng với Wernher von Braun nhanh chóng chạy về vùng Bayern để đầu hàng quân đội Mỹ. Một số người khác, tài năng không kém, thì rơi vào tay quân Nga. Nhưng bọn họ đã nhanh chóng được thả sau khi đã khai báo mọi sự hiểu biết của mình. Lý do là nhờ cá nhân một người đàn ông, người đó là Sergei Pavlovich Korolev (1906–1966). 

Sergei Pavlovich Korolev có một thời gian dài ở Đông Đức  để nghiên cứu các kế hoạch về  A4/V2, nhờ các chương trình này ông đã phát triển R1 của Liên Xô. Không lâu sau nổ ra cuộc chạy đua giữa Mỹ và Liên Xô trước tiên đơn thuần về mặt quân sự. Trên cơ sở A4, cả hai bên này đều chú trọng phát triển tên lửa liên lục địa. 

Du hành vũ trụ dân sự được phát triển như một bước ngoặt. Liên Xô với “Sputnik 1″năm 1957 đã tạo ra một đòn trúng đích, đã thực sự làm thức tỉnh nước Mỹ. Sau đó Liên Xô tiếp tục dẫn đầu: “Luna 2” thực hiện chuyến hạ cánh cứng đầu tiên lên mặt trăng vào năm 1959, Yuri Gagarin là người đầu tiên bay quay quanh trái đất vào năm 1961 trên tàu vũ trụ “Vostok 1”.  

Để đối chọi với “Sputnik” Mỹ trước hết tung ra dự án “Vanguard”, theo đó Hải quân Mỹ được giao chính thức  nhiệm vụ phục vụ Năm vật lý địa cầu 1958. Tuy nhiên dự án “Vanguard” là một thất bại, trong số 12 cuộc phóng thì 9 không thành công. Dù sao thì từ năm 1958 đã có ba vệ tinh  lên được quỹ đạo trái đất.

Sergei Pavlovich Korolev (1907-1966), nhà thiết kế tên lửa lỗi lạc của Liên Xô.

Còn các chuyên gia tên lửa của Đức không tham gia hoạt động này. Kể từ khi tái định cư, họ chịu sự quản lý của quân đội Mỹ, cư trú tại căn cứ quân sự Fort Bliss ở El Paso (Texas), từ năm 1950 ở Huntsville (Alabama). Lúc đầu họ làm thí nghiệm với A4 và đầu những năm 50 phát triển tên lửa quân sự như Redstone trên nền tảng này. Có lẽ Wernher von Braun không được khai thác hết năng lực nên ông ta viết sách khoa học cũng như sách, báo khoa học thường thức, rồi còn làm phim hoạt hình cùng hợp tác với Walt Disney.

Cuộc chạy đua

Năm 1961 có ý nghĩa quyết định đối với con đường lên mặt trăng. Ngày 25.5 tổng thống Kennedy tuyên bố mục tiêu ngay trong thập niên này sẽ đưa người lên mặt trăng và trở về an toàn. Đây là một dự án đầy tham vọng và vô cùng tốn kém nhưng được khích lệ bởi quyết tâm không để thua Liên Xô một lần nữa.

Nếu như Sergei Pavlovich Korolev không phải rời khỏi cuộc đua vì bệnh tật và cái chết, điều gì sẽ xảy ra? Có phải Liên Xô vẫn có cửa thắng chăng?

Cũng trong năm đó Liên Xô ra một quyết định tương tự, chương trình mặt trăng, nhưng giữ bí mật. Chương trình Apollo của Mỹ do Cơ quan không gian dân dụng NASA, ra đời năm 1958, chịu trách nhiệm. Wernher von Braun và đội ngũ của ông đóng vai trò quyết định cho dù NASA thời kỳ đầu có tới 450.000 nhân sự tham gia giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ của chương trình Apollo mà thoạt đầu tưởng chừng không thể kham nổi. 

Von Braun và người của ông có nhiệm vụ phát triển một lọai tên lửa đẩy thích hợp. Sau đó Saturn V đã thành hình, với chiều cao 111 mét, cho đến nay vẫn là loại tên lửa đẩy lớn nhất thế giới. Các bộ phận riêng lẻ được lắp ráp với nhau trong một nhà xưởng lắp ghép cao tới 160 mét ở Trung tâm Vũ trụ  John F. Kennedy (KFC).

Chuyên gia tên lửa von Braun không chịu trách nhiệm thiết kế tầu vũ trụ Apollo dài 11 mét và các bộ phận đi kèm. Khi thử nghiệm trên mặt đất năm 1967 rất tiếc một thảm họa nghiêm trọng đã xảy ra. Khoang Apollo 1 bốc cháy làm ba nhà du hành vũ trụ bị chết ngạt.

Trong khi đó, ngay trong chuyến bay thử đầu tiên vào ngày 9.11.1967 Saturn V đã thành công. Có thể nói toàn bộ chương trình Apollo với tên lửa đẩy khổng lồ hầu như không có trục trặc đáng kể nào. Phải chăng von Braun và các cộng sự của ông đã gặp nhiều may mắn? Nhưng, may mắn chỉ đến với những người thực sự tài năng và có quyết tâm. Và thành công này là vô cùng xuất sắc.

Trong khi đó Liên Xô vẫn lặng lẽ bí mật xúc tiến chương trình của mình. Đối thủ của Apollo khi đó là tầu vũ trụ Sojus, cho đến tận ngày nay vẫn còn hoạt động. Ngay trong chuyến bay đầu tiên đã xảy ra một tai nạn chết người, khi hạ cánh dù không hoạt động. Để phục vụ cho các chuyến bay lên mặt trăng Liên Xô dự định sử dụng loại tên lửa đẩy N1, cao 105 mét. Trong khi tiến triển dự án ngành du hành vũ trụ Liên Xô đã bị một cú đánh trời giáng. Kiến trúc sư thiên tài Sergei Pavlovich Korolev bị chết năm 1966 trong một ca phẫu thuật bệnh tim, hậu quả của thời kỳ bị tù đầy khắc nghiệt trước đó dưới thời Stalin.

Hai kỳ phùng địch thủ Korolev và von Braun trong cùng một giải đấu nay đã chỉ còn lại một. Nếu như Korolev không phải rời khỏi cuộc đua vì bệnh tật và cái chết, điều gì sẽ xảy ra? Có phải Liên Xô vẫn có cửa thắng chăng?

Thực ra sau đó thì cuộc đua ở phía Liên Xô bị trì trệ. Tất cả bốn cuộc thử tên lửa từ 1969 đến 1972 đều trục trặc, không thành công, đến đây cuộc chạy đua coi như đã bị thất bại, Liên Xô ngừng chương trình lên mặt trăng.

Đài tưởng niệm Sergei Pavlovich Korolev (1907–1966) ở vùng Baikonur của Nga ở Kazakhstan.

Còn về phía Sergei Korolev, Liên Xô đã giữ bí mật về sự tồn tại của ông mãi đến khi ông qua đời. Người Mỹ thực sự mù tịt không biết ai thực sự là đối thủ chính của mình trong cuộc chạy đua này. Sau này Sergei Korolev được an nghỉ ở chân tường điện Kremli. Người ta xây tượng đài để tưởng niệm ông, nhiều nước Đông Âu phát hành các bộ tem bưu chính lưu niệm về ông.

Còn Wernher von Braun, dù có vai trò to lớn trong việc phát triển ngành du hành vũ trụ tuy nhiên do ông dính líu với chế độ Quốc Xã nên tên tuổi ông có phần bị lu mờ. 

Sứ mệnh lên cung trăng vẫn tiếp tục. Sứ mệnh “Apollo 8” diễn ra ngày 21. 12. 1968 là một bước đệm quan trọng trên con đường đưa người lên mặt trăng. Chưa đầy ba ngày sau đã lên quỹ đạo bay quanh mặt trăng ở độ cao 112 km. Trong chuyến bay này và mười vòng bay xung quanh mặt trăng người ta đã chụp được vô vàn các bức ảnh với rất nhiều chi tiết về mặt trăng. Gần đúng 100 năm sau tầm nhìn của  Jules Vernes về một chuyến bay lên cung trăng nay đã được trở thành hiện thực.

Sau các cuộc thử nghiệm mô-đun mặt trăng trong quỹ đạo trái đất và mặt trăng với “Apollo 9” và “Apollo 10” vào đầu năm 1969, các phi hành gia trên “Apollo 11” Neil Armstrong và Edwin Aldrin là những người đầu tiên đặt chân lên mặt trăng.

Xuân Hoài lược dịch / Tạp chí Tia Sáng


Nguồn bài và ảnh: https://www.welt.de/geschichte/article192905081/Sergei-Koroljows-Tod-machte-die-USA-zum-Sieger-auf-dem-Mond.htm

Từ Mỹ đến Hàn Quốc, làn sóng kinh tế tạm bợ lan rộng


Nhu cầu tìm công việc phụ để kiếm thêm thu dịch khó khăn khiến nền kinh tế tạm bợ bùng nổ ở Hàn Quốc.

Kể từ khi đại dịch Covid-19 tấn công thủ đô Seoul (Hàn Quốc), nghệ sĩ kịch câm Kim Chan-su phải bắt đầu cuộc sống của mình với hai công việc đan xen. Anh vừa làm nghệ sĩ xiếc, vừa phải đảm nhận thêm công việc chuyển phát nhanh bán thời gian để trang trải thu nhập.

Khi không có lịch diễn, anh Kim giao thức ăn và đồ uống bằng chiếc SUV Hyundai Tucson của mình, bắt đầu từ trưa và kéo dài đến quá nửa đêm. 

“Tôi không lấy làm vui sướng gì. Để kiếm sống, tôi không còn lựa chọn nào khác”, anh Kim, 43 tuổi, nói với Bloomberg. Mỗi ngày, anh Kim phải dành hàng giờ ngồi sau vô lăng ôtô để chờ chiếc máy tính bảng báo đơn về, rồi lại tất tả để kịp giao hàng cho khách. 

Những người như anh Kim Chan-su đang có xu hướng ngày càng tăng. Dù phần lớn nhóm lao động này bị mất thu nhập, họ lại không được tính vào tỷ lệ thất nghiệp 4,2% của Hàn Quốc. Nhóm lao động này làm việc ít giờ hơn hoặc chuyển từ công việc toàn thời gian sang bán thời gian. Nhiều người sẵn sàng nhận việc làm thêm để tăng thu nhập.

MỘT NGHỀ LÀ KHÔNG ĐỦ

Theo Bloomberg, trong năm nay, số lượng lao động có việc làm nhưng thu nhập không đủ trang trải cuộc sống, buộc họ phải tìm thêm công việc thứ hai gia tăng đột biến. Bắt đầu từ Mỹ, làn sóng của nền kinh tế tạm bợ (Gig economy) lan rộng đến Hàn Quốc với số lượng người không ký hợp đồng lao động chính thức với các chủ thuê mà lựa chọn làm đối tác hay nhân viên bán thời gian ngày càng nhiều.

Theo dữ liệu thống kê Hàn Quốc, trong quý II năm nay con số này đã tăng lên mức kỷ lục 1,2 triệu người, tăng 55% so với cùng kỳ năm ngoái. Số lượng lao động tìm thêm công việc thứ hai cũng tăng hơn gấp đôi so với năm 2015, trước khi giảm nhẹ xuống 1,1 triệu người trong quý thứ III năm nay.

lan song kinh te tam bo lan rong anh 1
Tỷ lệ người lao động muốn có thêm một công việc phụ khác tăng cao trong những năm gần đây. Ảnh: Bloomberg.

Yi Junga, nhà nghiên cứu tại Dịch vụ Thông tin Việc làm Hàn Quốc, cho biết: “Xu hướng trên cho thấy nhiều người lao động cảm thấy thu nhập của mình không đủ cho cuộc sống”. “Có vẻ như có khá nhiều người đã chuyển từ công việc toàn thời gian sang đồng thời làm nhiều công việc bán thời gian”, Yi Junga cho biết thêm.

Dù số lượng người Hàn Quốc có việc làm thứ hai không nhiều như người Mỹ hoặc người Canada, các cuộc thăm dò ý kiến riêng cho thấy mối quan tâm của người Hàn Quốc đối với những hợp đồng “tạm bợ” – làm việc tự do hoặc đảm nhận thêm công việc khác bên cạnh công việc toàn thời gian – ngày càng tăng.

Theo một cuộc thăm dò ý kiến 642 người lao động của cổng thông tin việc làm JobKorea vào tháng trước, có 84% cho biết họ quan tâm đến việc có thêm công việc thứ hai. Một cuộc thăm dò ý kiến khác của cổng thông tin việc làm Incruit với 1.599 người tham gia cho thấy 13,5% người được hỏi đã từng làm thêm công việc phụ, trong khi 35,7% khác cho biết họ đang cân nhắc thêm một việc làm thứ hai. Giới trẻ Hàn Quốc bắt đầu sử dụng thuật ngữ “N-job” để ám chỉ những người có nhiều hơn một việc làm trong xã hội hiện nay.

Tuy nhiên, dù xu hướng quan tâm đến nền kinh tế tạm bợ tăng, số lượng người tìm được công việc thứ hai vẫn thấp, đặc biệt trong thời buổi đại dịch lan rộng. Số lượng lao động có việc làm phụ đạt đỉnh vào năm 2019 với 470.000 người. Con số giảm xuống còn 430.000 trong 9 tháng đầu năm 2020. Theo dữ liệu thống kê, con số này chỉ chiếm 1,6% lượng lao động ở Hàn Quốc.

“Điều này có nghĩa ngay cả với những công việc tạm bợ, dư địa cũng không còn nhiều”, ông Choo Kyung-ho, nhà lập pháp và cựu Thứ trưởng Tài chính cho biết.

MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH CAO

Lee Heeju là một họa sĩ minh họa đã bị công ty cho thôi việc bởi sự ảnh hưởng của đại dịch. Mỗi ngày sau khi cho con gái ngủ, bà mẹ 30 tuổi này dành ra một hoặc hai giờ để làm sách điện tử về mẹo mua nhà cho các cặp vợ chồng trẻ. Cô Lee bán các tệp PDF như vậy với giá 12.000 won/tập. 

Lĩnh vực bán kinh nghiệm và kiến thức này khá phổ biến đối với những người muốn kiếm thêm thu nhập ở Hàn Quốc. Lee đã sản xuất hai quyển và đang thực hiện quyển thứ ba. “Không kiếm được nhiều tiền nhưng cũng đủ để mua đồ ăn nhẹ cho con tôi”, cô nói. 

Cô Lee cũng cho biết lĩnh vực sản xuất mẹo vặt điện tử có tính cạnh tranh khá cao. Cô nói: “Có người kiếm được rất nhiều tiền bằng cách quảng cáo sách điện tử mà họ bán. Tôi từng tham gia các lớp học để tìm kiếm công việc thứ hai và được xem cách mọi người quảng bá nó. Có nhiều người tham gia hơn tôi nghĩ và rất khó để được chú ý”.

lan song kinh te tam bo lan rong anh 2
Anh Kim Chan-su nhận thức ăn từ quán để giao cho khách. Ảnh: Bloomberg.

Hay với anh Kim Chan-su, ngay cả khi bươn chải với hai công việc cùng lúc, người nghệ sĩ với 24 năm trong nghề vẫn có thu nhập ít hơn rất nhiều so với trước đại dịch, lúc anh chỉ làm một công việc. Trong những tháng cao điểm, Kim kiếm được khoảng 4,5 triệu won (4.100 USD) từ việc giao hàng. 

Tuy nhiên, thu nhập này của anh đã giảm một nửa trong tháng 10 trong bối cảnh các rạp xiếc chưa hoạt động trở lại và sự cạnh tranh trong ngành giao thực phẩm ngày càng tăng.

Mặt khác, việc đa nhiệm việc làm lại trở thành công việc chính của nhiều người trẻ Hàn Quốc. Kim Ji-hyun là một nhân viên bị sa thải vào tháng 4 vì công ty sụt giảm doanh thu trong bối cảnh đại dịch. Sau khi bị cho thôi việc, Kim quyết định chuyển đổi nghề nghiệp. 

Cô tự giới thiệu mình là “N-Jobler”, tức người chuyên làm nhiều công việc khác nhau. Kim thường thức dậy lúc 5 giờ sáng để tìm nguồn hàng, đăng bán sản phẩm trên Amazon và Naver và trả lời câu hỏi của khách hàng từ 10 giờ sáng đến 7 giờ tối. “Nhiều người nghĩ làm việc toàn thời gian tại một công ty là ổn định, nhưng tôi lại nghĩ điều hoàn toàn ngược lại”, cô gái 24 tuổi nói.

Bùi Ngọc / Zingnews

Xét nghiệm cá heo, khoa học bất ngờ tìm ra các hóa chất kinh khủng nhất từ trước đến nay


 Nên thừa nhận thẳng thắn rằng những hành động hủy hoại môi trường của loài người đã thực sự khiến loài sinh vật này chìm vào bể khổ.

Hết chim biển, rùa biển, giờ lại đến loài cá heo mũi chai (bottlenose dolphin) sắp bị giết chết bởi rác nhựa. Đó là những gì được công bố trong nghiên cứu mới nhất của ĐH Charleston (Mỹ).

Cụ thể, các chuyên gia cho biết hơn 70% cá heo sinh sống ở vùng biển Florida có chứa rất nhiều hóa chất, mỹ phẩm và nhựa bên trong cơ thể. Nghiêm trọng hơn, đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử các nhà khoa học phát hiện có dấu vết của phthalate – một loại hóa chất cực kỳ kinh khủng – xuất hiện trong nước tiểu của cá heo với hàm lượng rất lớn.

Xét nghiệm cá heo, khoa học bất ngờ tìm ra các hóa chất kinh khủng nhất từ trước đến nay - Ảnh 1.

Số cá heo chết dạt vào bờ biển Florida đang tăng nhanh những năm gần đây

Theo đó thì trong giai đoạn 2016 – 2017, các nhà nghiên cứu đã thu thập và xét nghiệm nước tiểu của 17 con cá heo ở Vịnh Sarasota (Florida, Mỹ).

Họ đã sửng sốt khi tìm thấy hàm lượng các chất chuyển hóa của phthalate trong nước tiểu chúng, bao gồm DEHP (di-2-ethylhexyl phthalate) và DEP (diethyl phthalate).

Chắc bạn chưa biết, phthalate tồn tại khắp nơi xung quanh chúng ta. Đây là loại hóa chất được dùng phổ biển trong sản xuất nhựa, giúp tạo ra tính mềm dẻo và độ bền chắc cho sản phẩm.

Ngoài ra, phthalates cũng được dùng để ổn định màu sắc và hương thơm của một số loại mỹ phẩm như sơn móng tay, xịt tóc, dầu gội, nước hoa,…

Giáo sư Leslie Hart, tác giả nghiên cứu, cho biết: “Chúng tôi đang nỗ lực kiểm tra hàm lượng các chất chuyển hóa trong cơ thể cá heo. Có thể đây là những dấu hiệu cảnh báo cho thấy cơ thể cá heo đã bị nhiễm độc tại chính môi trường biển.”

Xét nghiệm cá heo, khoa học bất ngờ tìm ra các hóa chất kinh khủng nhất từ trước đến nay - Ảnh 3.

“Những hóa chất độc hại này có thể đến từ hành vi thải trái phép của các đô thị, xí nghiệp, công ty. Cùng với ô nhiễm nhựa, những chất độc hại này đang hủy diệt các loài sinh vật biển” – Hart chia sẻ.

 

Vậy phthalate độc hại như thế nào?

Dành cho những ai chưa biết, phthalate là nhân tố gây nên các dị tật bẩm sinh ở thai nhi, làm rối loạn hành vi ở trẻ nhỏ và ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nam giới. Vì gây ra nhiều nguy cơ tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người nên phthalate đã bị cấm sử dụng ở nhiều thị trường trên thế giới.

Nguy hiểm đối với con người là thế, huống chi là đối với loài cá heo! Tuy nhiên, có một sự thật phũ phàng rằng các nhà khoa học chỉ mới biết và hiểu một phần về những tác hại kinh khủng loại hóa chất này mà thôi.

Theo Gina Ylitalo – chuyên gia từ Cơ quan quản lý khí quyển và đại dương (Mỹ) chia sẻ thẳng thắn: “Không riêng loài cá heo, bất kỳ động vật nào sinh sống gần bờ biển đều có thể bị phơi nhiễm.”

Tình trạng này thật sự đã dấy lên hồi chuông cảnh tỉnh chúng ta về những hành động vô trách nhiệm với tự nhiên, đang khiến cho hàng loạt các loài sinh vật biển bị hủy diệt.

 

Trung Hiếu

Tham khảo: IFL Science

theo Helino

 

%d bloggers like this: