Lạm phát trong lịch sử – Các chỉ số kinh tế cần quan tâm khi đầu tư


Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thị trường chứng khoán đã diễn biến tốt bất chấp nền kinh tế phải vật lộn với lạm phát.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử

Gần đây lạm phát ở Mỹ đang tăng lên nhanh chóng, gợi nhớ về thời kỳ đầu những năm 1980. Khi đó, người đang ngồi ghế Chủ tịch Cục dự trữ liên bang (Fed) là Paul Volcker đã tung ra những biện pháp quyết liệt nhằm dập tắt lạm phát. Ban đầu nền kinh tế bị tổn hại nghiêm trọng, nhưng đó cũng chính là cơ sở để mở ra nhiều thập kỷ thăng hoa của thị trường chứng khoán.

Nếu như làn sóng lạm phát hậu đại dịch Covid-19 kéo dài dai dẳng, liệu lịch sử có lặp lại? Nhìn lại những lần Mỹ trải qua lạm phát trong quá khứ như thời Volcker hay trước đó là hậu thế chiến thứ hai, nhà đầu tư sẽ tìm thấy một vài manh mối về cách phản ứng của thị trường tài chính.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử - Ảnh 1.
Lạm phát và lãi suất ở Mỹ từ 1940 đến nay.

Vì sao chứng khoán vẫn tăng tốt bất chấp lạm phát?

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thị trường chứng khoán đã diễn biến tốt bất chấp nền kinh tế phải vật lộn với lạm phát. Tuy nhiên điều đó chỉ kéo dài đến giữa những năm 1960. Sau đó cổ phiếu và trái phiếu kho bạc đã có quãng thời gian ảm đạm cho đến tận sau khi lạm phát bị “tiêu diệt” vào những năm 1970.

Một trong những nguyên nhân lý giải tại sao chứng khoán lại tăng tốt trong những năm 1950 là do dòng tiền chảy mạnh vào thị trường sau khi các quỹ hưu trí và một số định chế tài chính khác lần đầu tiên mua cổ phiếu, theo Ian Harnett, chuyên gia của Absolute Strategy Research. Điều đó làm giảm phần bù rủi ro – chỉ số đo lường phần thưởng mà các nhà đầu tư sẽ nhận được vì họ đã dám chấp nhận một mức rủi ro cao hơn khi đầu tư vào cổ phiếu thay vì đầu tư vào tài sản phi rủi ro như trái phiếu chính phủ.

Sang đến những năm 1970, chỉ số phần bù rủi ro tăng trở lại và cổ phiếu giảm điểm mạnh trước làn sóng lạm phát. Nguyên nhân lý giải cho điều này nằm ở bối cảnh nền kinh tế. Sau chiến tranh, lạm phát xuất hiện nhưng tăng trưởng kinh tế thực vẫn đủ mạnh để bắt kịp đà tăng giá cả. Các nguồn lực từng được sử dụng cho chiến tranh giờ đây được quay sang đầu tư vào hoạt động sản xuất trong thời bình.

Tuy nhiên từ giữa những năm 1960, khoảng cách giữa tăng trưởng thực và những ảnh hưởng của lạm phát bắt đầu được mở ra. Richard Sylla, giáo sư kinh tế công tác tại NYU Stern, người chuyên nghiên cứu về lịch sử lãi suất, miêu tả lạm phát thời hậu thế chiến thứ hai là giá cả bắt kịp với thực tế sau khi các biện pháp kiểm soát giá trong thời chiến được dỡ bỏ.

Câu chuyện đã thay đổi vào những năm 1960. Núi tiền mà Chính phủ Mỹ đổ vào chiến tranh ở Việt Nam và chương trình trợ cấp hào phóng của Tổng thống Lyndon Johnson được tung ra trong bối cảnh lãi suất thấp. Cung tiền tăng mạnh và giai đoạn mà Sylla gọi là Đại lạm phát bắt đầu.

Nền kinh tế trở nên quá nóng. Ban đầu, cầu vượt quá cung nhưng đến cuối những năm 1960 tình trạng đã đảo ngược, trở thành cung dư thừa. Lạm phát tăng khiến người lao động cũng đòi hỏi mức lương cao hơn. Trong khi đó Fed lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ hệ thống chính trị: Chủ tịch Fed Arthur Burns đã giúp sức bằng chính sách tiền tệ để Tổng thống Richard Nixon có thể tái đắc cử.

Đồng USD đã biến động rất mạnh sau khi Nixon ngừng chế độ quy đổi USD sang vàng vào năm 1971, “giết chết” thỏa thuận Bretton Woods vốn giúp các đồng tiền trên thế giới gắn kết với nhau. Một đồng USD trồi sụt thất thường hơn đã dẫn đến giá cả các hàng hóa nhập khẩu tăng lên, làm cho lạm phát biến động mạnh hơn và khó đoán hơn. Và sự bấp bênh chính là điều tồi kỵ với các nhà đầu tư.

Sau đó thị trường tiếp tục bị giáng thêm 1 đòn nữa khi cú sốc giá dầu ập đến. Nhiều nước Arab đồng loạt ngừng xuất khẩu dầu sang Mỹ để phản đối việc Mỹ hậu thuẫn Israel.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử - Ảnh 2.
Tỷ lệ lạm phát và lợi suất mà S&P 500, trái phiếu Mỹ kỳ hạn 5 năm mang lại.

Câu chuyện của ngày nay

Ngày nay chúng ta đang ở đâu? Thị trường chứng khoán không có nhiều đệm đỡ trước những bất ổn. Trong khi đó, Chính phủ Mỹ đang quyết tâm kích thích nền kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên không giống như thời kỳ giữa những năm 1960, cầu vẫn đang vượt quá cung. Vai trò của Fed có ý nghĩa quan trọng. Hiện Fed đang để cho nền kinh tế phát triển hết mức, thả lỏng lạm phát nhằm đạt được trạng thái toàn dụng lao động và phục hồi nền kinh tế sau đại dịch.

Dẫu vậy nền kinh tế phát triển quá nóng là 1 triển vọng bất ổn mà nhà đầu tư sẽ lo sợ, đặc biệt là nếu như tốc độ tăng trưởng cung tiền như hiện nay nhanh chóng sụt giảm xuống mức thấp hơn đáng kể giống như những gì đã diễn ra sau thế chiến.

Trong quá khứ, nhà đầu tư đã quay sang những kim loại quý như vàng. Nếu như thời kỳ những năm 1970 vàng là hầm trú ẩn hoàn hảo trước bão lạm phát thì thời hậu chiến Mỹ đã cấm giao dịch vàng.

Còn trên thị trường chứng khoán, trong thời kỳ cuối những năm 1970 – đầu những năm 1980 cổ phiếu của các công ty hoạt động trong những ngành có tính chu kỳ (như hóa chất, khai mỏ hay hàng không) đã diễn biến tốt hơn so với các ngành mang tính phòng thủ cao như tiêu dùng thiết yếu hay điện nước. Kể từ đó đến nay, cổ phiếu chu kỳ lại diễn biến tệ hơn nếu như không tính đến các công ty công nghệ. Do đó, tránh các cổ phiếu công nghệ, hoặc ít nhất là những cổ phiếu có lợi nhuận trong tương lai phải dựa vào lãi suất thấp sẽ là 1 lựa chọn hợp lý.

Tham khảo Wall Street Journal

Thu Hương / Theo Doanh nghiệp & Tiếp thị

—-

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm

Các chỉ số kinh tế là một trong những vũ khí có giá trị nhất của các nhà đầu tư.

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm
Chỉ số chứng khoán – Ảnh: Reuters

Chỉ số kinh tế là gì?

Chỉ số kinh tế (Economic indicator) là một phần của dữ liệu kinh tế, thường có quy mô kinh tế vĩ mô, được các nhà phân tích sử dụng để giải thích các khả năng đầu tư hiện tại hoặc trong tương lai. Đồng thời, chỉ số kinh tế cũng được dùng trong việc đánh giá sức khỏe tổng thể của một nền kinh tế.

Nền kinh tế, về cơ bản cũng giống như một cơ thể sống. Tại bất kỳ thời điểm nào, cũng có hàng tỷ tế bào đang chuyển động – một số thì tự vận động, một số khác thì phản ứng với các tác nhân bên ngoài. Điều đó khiến cho việc dự đoán biến động của nền kinh tế trở nên vô cùng khó khăn. Vì mỗi dự báo lại liên quan đến một lượng lớn các giả định.

Nhưng với sự trợ giúp của một loạt các chỉ số kinh tế, các nhà đầu tư có thể hiểu rõ hơn về các bối cảnh, mô hình kinh tế khác nhau. 

Vì sao lạm phát và các chỉ số liên quan đến nó lại quan trọng?

Nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu chứng khoán, nên quan tâm đến lạm phát. Lạm phát hiện tại, và lạm phát có thể xảy ra trong tương lai đều rất quan trọng trong việc xác định lãi suất hiện hành và chiến lược đầu tư. 

Có một số chỉ số cũng quan trọng liên quan đến áp lực lạm phát. Đáng chú ý nhất trong nhóm này là Chỉ số giá sản xuất (PPI) và Chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Nhiều nhà đầu tư thường sử dụng PPI để thử dự đoán CPI sắp tới.

Có một mối quan hệ đã được chứng minh là có ý nghĩa thống kê giữa hai yếu tố này. Lý thuyết kinh tế cho rằng, nếu người sản xuất hàng hóa bị buộc phải trả nhiều tiền hơn trong sản xuất, thì một phần giá tăng sẽ được chuyển cho người tiêu dùng. 

Các chỉ số liên quan đến lạm phát quan trọng khác bao gồm mức độ và tốc độ tăng trưởng của cung tiền, và Chỉ số chi phí việc làm (ECI).

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm - Ảnh 1.

Tăng trưởng GDP thì sao?

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tất nhiên, có thể được coi là chỉ số quan trọng nhất, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư tập trung vào những nền kinh tế đang tăng trưởng. 

Tăng trưởng GDP tác động đến cả tài chính cá nhân, đầu tư và tăng trưởng việc làm. Các nhà đầu tư có thể nhìn vào tốc độ tăng trưởng của một quốc gia, hoặc nền kinh tế, để quyết định xem họ có nên điều chỉnh mức đầu tư của mình hay không. Nhà đầu tư cũng có thể so sánh tốc độ tăng trưởng của các quốc gia với nhau, để quyết định nơi nào có cơ hội tốt nhất. Chiến lược này thường tập trung vào việc mua cổ phần của các công ty đang ở các nước đang phát triển nhanh chóng.

Ngoài GDP, Chỉ số Quản lý mua hàng (PMI) hay báo cáo lao động đều có thể cho thấy một nền kinh tế đang hoạt động tốt ở mức nào. 

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm - Ảnh 2.

Lãi suất có phải một chỉ số cần quan tâm?

Lãi suất là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đối với thị trường ngoại hối, do tác động của chúng đến giá trị của tiền tệ. Lãi suất cao thường cho thấy một nền kinh tế ổn định, và cũng có nghĩa là tỷ lệ hoàn vốn của các khoản tiết kiệm trong tài khoản ngân hàng cao hơn, điều này có thể khuyến khích mọi người tiết kiệm thay vì đồ tiền vào các khoản đầu tư có rủi ro cao hơn.

Ngược lại, nếu lãi suất đối với tài khoản tiết kiệm thấp, các nhà đầu tư sẽ ưu tiên các khoản đầu tư rủi ro cao hơn.

Thất nghiệp và tiền lương nói lên điều gì?

Dữ liệu thất nghiệp và tiền lương là số liệu thống kê xem xét số lượng việc làm trong nền kinh tế và số tiền mà mỗi cá nhân đang được trả cho công việc của họ. Dữ liệu này thường chỉ được công bố một vài lần trong năm.

Tỷ lệ thất nghiệp cao cùng với mức lương thấp là dấu hiệu của một thời kỳ suy thoái. Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp thấp và mức lương ngày càng tăng cho thấy nền kinh tế đang phát triển. Số liệu thất nghiệp được các thương nhân và nhà đầu tư trên toàn thế giới theo dõi chặt chẽ vì thời kỳ thất nghiệp cao thường có sự tương quan với quan đến giá cổ phiếu thấp.

Thái Quỳnh / Theo Nhịp sống kinh tế

Siêu chu kì hàng hoá – Lạm phát – Chứng khoán


Lạm phát ảnh hưởng thế nào đến thị trường chứng khoán

Hình minh hoạ thị trường chứng khoán

Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường chứng khoán? Phố Wall hồi giữa tháng 5 giảm điểm, một phần là do lạm phát đã có dấu hiệu tăng cao nhưng việc lạm phát hiện tại có ảnh hưởng tiêu cực trong dài hạn lên thị trường chứng khoán hay không vẫn là một dấu hỏi. 

Lạm phát cao thường được coi là tín hiệu tiêu cực cho thị trường chứng khoán vì khiến cho chi phí vay, chí phí đầu vào (nguyên vật liệu, lao động) tăng theo, và giảm mức sống của người dân. Điều quan trọng nhất là lạm phát sẽ khiến cho tăng trưởng thu nhập kỳ vọng giảm xuống, gây áp lực cho giá cổ phiếu. 

Lạm phát trái kỳ vọng là vấn đề

Tất nhiên, thị trường chứng khoán chắc chắn sẽ đưa ra dự báo về mức lạm phát mỗi năm, và thông qua đó điều chỉnh lợi nhuận kỳ vọng để thoát khỏi sức ảnh hưởng của lạm phát. 

Ví dụ, nếu nhà đầu tư đặt mục tiêu tỷ suất lợi nhuận ròng 6%/năm sau lạm phát (bao gồm cổ tức), và mức lạm phát đang ở 2%/năm, họ chắc chắn sẽ mong muốn tỷ suất lợi nhuận trong năm đó ít nhất 8%. 

Nhưng nếu lạm phát đột ngột tăng từ 2% lên 4% trong một khoảng thời gian ngắn, những dữ liệu thu thập trong quá khứ cho thấy thị trường sẽ phản ứng tiêu cực. 

Đó là vì nhà đầu tư giờ đây đòi hỏi tỷ suất lợi nhuân cao hơn để bù đắp lại những rủi ro họ phải đối mặt. Thay vì lợi nhuận 8%, nhà đầu tư sẽ nâng kỳ vọng lên ít nhất 10% và giá cổ phiếu sẽ nhiều khả năng giảm xuống. 

Sự thay đổi trong kỳ vọng là minh chứng rõ ràng nhất từng được ghi nhận trong quá khứ. Một nghiên cứu vào năm 2000 được thực hiện bởi A. Shape tới từ Fed kết luận rằng “kỳ vọng thị trường về tỷ suất lợi nhuận thực tế, đặc biệt là trong dài hạn, thường tỷ lệ thuận với lạm phạm kỳ vọng… lạm phát khiến cho kỳ vọng về tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu dài hạn tăng”. Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán.

Lạm phát thời bùng nổ và khủng hoảng

Để hiểu được mối lên hệ trên thực sự không phải là điều dễ dàng. Các cổ phiếu phản ứng tiêu cực với lạm phát thậm chí còn mạnh hơn khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Mức độ phản ứng lớn hơn nhiều so với thời điểm nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ. 

Điều này hoàn toàn hợp lý. Khi nền kinh tế đang giảm tốc, lợi nhuận cũng như doanh thu thường giảm xuống, với không ai quan tâm tới vấn đề lạm phát. Khi nền kinh tế bùng nổ, lợi nhuận chắc chắn sẽ tăng cao (giống như thời điểm hiện tại) và nền kinh tế rất có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao hơn.

Tùy ngành nghề và lĩnh vực

Tác động của lạm phát là không giống nhau giữa các lĩnh vực. Ví dụ, cổ phiếu tăng trưởng có khả năng sẽ giảm giá khi lạm phát tăng cao. Đó là vì các cổ phiếu tăng trường có kỳ vọng lợi nhuận cao hơn trong tương lai, và khi lạm phát tăng cao, những kỳ vọng tương lai đó chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. 

Hãy mường tượng, bạn có một công ty giá trị có thể làm ra được 1 USD mỗi năm trong vòng 10 năm. Bạn cũng có một công ty tăng trưởng nhưng chỉ có thể làm ra 0,1 USD trong năm tới, nhưng 0,2 USD trong năm tiếp theo, 0,4 USD trong năm tiếp theo nữa, và cứ thế sau 10 năm, công ty này được kỳ vọng sẽ thu về 10 USD. 

Đối với cổ phiếu giá trị, mỗi năm, công ty sẽ mang lại một mức lợi nhuận không đổi. Đối với cổ phiếu tăng tưởng, lợi nhuận sẽ tăng cao trong tương lại.

Các nhà đầu tư mua cổ phiếu tăng trưởng thường tính toán giá trị hiện tại của dòng lợi nhuận trong tương lai. Khi lạm phát hoặc lãi suất bắt đầu tăng cao hơn kỳ vọng sẽ khiến cho giá trị đó giảm xuống. 

Một phần lý do là lãi suất đối với trái phiếu phi rủi ro của chính phủ cũng sẽ tăng lên, khiến cho trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn so với cổ phiếu.

Một lý do khác là lạm phát và lãi suất cao hơn sẽ ảnh hưởng tới triển vọng lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp.

“Cổ phiếu tăng trưởng có thời gian đáo hạn bình quân lâu hơn so với cổ phiếu giá trị vì chúng có thể mang lại lợi nhuận cao hơn trong tương lại”, theo Larry Swedroe. Giám đốc trung tâm nghiên cứu của Viện quản lý Tài sản chiến lược Buckingham. “Nếu như lạm phát tăng cao, mức lợi nhuận bạn nhận được trong tương lai cũng giảm xuống”. 

Các cổ phiếu công ty có vốn hóa nhỏ, đặc biệt là các cổ phiếu tăng trưởng, thường bị ảnh hưởng vì nhạy cảm hơn đối với lãi suất. 

Các cổ phiếu cổ tức cao, giống như cổ phiếu lĩnh vực tiện ích và bất động sản, cũng sẽ bị ảnh hưởng vì nhà đầu tư giờ đây có trái phiếu lãi suất cao của chính phủ như là một phương án thay thế, vì cổ tức thường không bắt kịp đà tăng của lạm phát.

Lạm phát mang lại điều tích cực gì cho thị trường chứng khoán?

Lạm phát không hẳn “tồi tệ” như mọi người vẫn nghĩ. Lạm phát thậm chí còn giúp mang lại một số lợi ích nhất định. Ví dụ, trong một vài trường hợp, lạm phát vừa phải có thể giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

“Lạm phát vừa phải nên được nhìn nhận là hiện tượng tốt, vì là dấu hiệu cho một nền kinh tế đang tăng trưởng, và các doanh nghiệp có thể nâng giá bán hàng hóa, dịch vụ của mình”, Swedroe chia sẻ. 

Thậm chí, tại nhiều thời điểm, lạm phát đạt đến “điểm tối ưu”. “Khi đánh giá tỷ suất lợi nhuận trên sàn S&P 500, có điều chỉnh với lạm phát, kết quả cho thấy mức tỷ suất lợi nhuận thực tế cao nhất đạt được khi lạm phát từ 2% tới 3%”, theo bài viết của chuyên gia phâm tích đầu tư Kristina Zucchi trên Investopedia.

Đó là điều mà đang có ở thời điểm hiện tại.

Các cổ phiếu cũng có thể có vài biện pháp bảo vệ để chống lại lạm phát, theo Zucchi. “Theo lý thuyết, cổ phiếu nên có một vài biện pháp phòng hộ đối với lạm phát, vì doanh thu và lợi nhuận của một công ty nên tăng trưởng tương đồng với tỷ lệ lạm phát, sau một giai đoạn điều chỉnh” bà cho biết.

Tại sao thị trưởng nổi sóng khi CPI chỉ tăng vừa phải?

Lạm phát chỉ mang lại những lo lắng. “Khi lạm phát tăng quá cao, Fed bắt buộc phải hành động”, ông chia sẻ.

“Nếu như thị trường cho rằng Fed sẽ có những biện pháp thắt chặt trong trường hợp lạm phát chạm 4%, thị trường sẽ bắt đầu có những phản ứng trước khi Fed đưa ra hành động. Fed không thể hiện rõ mức độ của hành động mà họ sẽ thực hiện”. Do đó, thị trường đang tham gia một trò chơi mang nhiều tính chất dự đoán. 

Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán. 

Vì tính thanh khoản mà Fed cung cấp là một chỉ số quan trọng giúp hình thành nên giá cổ phiếu, việc loại bỏ đi nó sẽ gây ra những tác động tiêu cực, vì điều đó có nghĩa là sẽ có ít tiền hơn được bơm vào thị trường.

Trọng Đại (Theo CNBC) / NDH

—-

Khi nào siêu chu kỳ hàng hóa tiếp theo xảy ra?

Hình minh hoạ Siêu Chu Kì Hàng Hoá

Trong bối cảnh các chính phủ ồ ạt đổ tiền để phục hồi kinh tế thông qua loạt dự án cơ sở hạ tầng và năng lượng sạch, thị trường hàng hóa xuất hiện dấu hiệu phát triển bùng nổ với giá cả lên cao nhất nhiều năm, dấy lên lo ngại về lạm phát. Các sự kiện chấn động như vậy làm giàu cho những quốc gia và thương nhân đang kiểm soát nguồn tài nguyên cũng như có đủ sức mạnh để định hình thị trường hàng hóa thế giới.

Siêu chu kỳ là gì?

Siêu chu kỳ là trong một thời gian dài, thị trường chứng kiến tăng trưởng nhu cầu mạnh tới nỗi các nhà cung cấp phải vật lộn để đáp ứng đủ, từ đó dẫn tới tình trạng giá cả hàng hóa liên tục tăng trong nhiều năm, đôi khi là kéo dài hơn một thập kỷ. Điều này trái ngược với một chu kỳ tăng giá ngắn ngủi được tạo ra bởi cú sốc nguồn cung như mất mùa hay đóng cửa các mỏ quặng.

Siêu chu kỳ có xu hướng xảy ra trùng với thời kỳ công nghiệp quá và đô thị hóa nhanh. Siêu chu kỳ gần nhất được “châm ngòi” bởi sự phát triển chóng mặt của Trung Quốc sau khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, động thái giúp loại bỏ các rào cản đối với thương mại.

Các chuyên gia kinh tế xác định có 3 siêu chu kỳ khác từng xảy ra kể từ đầu thế kỷ 20, mỗi siêu chu kỳ lại bị chi phối bởi một sự kiện chuyển đổi. Quá trình công nghiệp hóa tại Mỹ tạo ra siêu chu kỳ đầu tiên vào đầu những năm 1900. Siêu chu kỳ thứ 2 đến từ làn sóng tân trang vũ trang và sự trỗi dậy của Đức Quốc Xã trong những năm 1930. Cuối cùng, quá trình tái thiết ở châu Âu và Nhật Bản sau Thế Chiến II thúc đẩy siêu chu kỳ thứ 3.sieu-chu-ky-1-5945-1622343002.jpg

Điều gì có thể kích hoạt siêu chu kỳ tiếp theo?

Mỹ đã bơm hàng nghìn tỷ USD để ngăn chặn nền kinh tế sụp đổ trong cuộc khủng hoảng y tế vì đại dịch Covid-19. Quốc gia này cũng lên kế hoạch tăng chi tiêu vào hạ tầng để xây dựng lại hệ thống cầu đường và lưới điện, những dự án cần một khối lượng vật liệu, như thép và xi măng, khổng lồ.

Hậu đại dịch, các quốc gia lớn khác tại châu Âu và khu vực khác có thể cũng đổ tiền vào cuộc chuyển đổi năng lượng, từ chuyển sang dùng điện tái tạo, xe điện tới mọi thứ cần thiết để loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm. Điều này có nghĩa là họ sẽ cần nhiều đồng hơn để sản xuất xe điện và trạm sạc điện, cùng với các vật liệu khác để làm cuộc cách mạng điện như lithium, cobalt, nickel, than chì và đặc biệt là đất hiếm, thứ cần cho các sản phẩm công nghệ cao và pin.

Dấu hiệu là gì?

Đầu năm 2021, giá nhiều hàng hóa bùng nổ và có một số dự báo cho rằng chúng sẽ tiếp tục tăng mạnh.

Giá đồng vượt 10.000 USD/tấn trong tháng 4 và Trafigura Group, nhà kinh doanh đồng hàng đầu thế giới, dự đoán giá có thể chạm 15.000 USD/tấn trong thập kỷ tới.

Giá đậu tương và ngô cũng lên cao nhất trong nhiều năm qua do nhu cầu tăng mạnh ở Trung Quốc khi quốc gia này tái đàn lợn. Làn sóng xây dựng mạnh mẽ gây bất ngờ cho các nhà máy cưa ở Bắc Mỹ khi đẩy giá gỗ xẻ lên kỷ lục.

Giá vận chuyển cũng tăng mạnh với Chỉ số Drewry World Container ngày 27/5 cho thấy cước phí vận chuyển một container 40 ft từ Thượng Hải, Trung Quốc, đến Rotterdam, Hà Lan, tăng lên 10.174 USD, tăng 3,1% so với một tuần trước đó và 485% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất kể từ khi bắt đầu ghi nhận năm 2011. Giá dầu cũng phục hồi trước dấu hiệu cho thấy mọi người bắt đầu lái xe nhiều hơn.

Sẽ kéo dài bao lâu?

Giá kim loại cao là quyết định của các công ty khai khoáng lớn trên thế giới cách đây nửa thập kỷ nhằm ngừng bơm nguồn cung khổng lồ vào thị trường thế giới và tập trung cải thiện khả năng sinh lời. Giờ đây, việc mở rộng các mỏ mới sẽ mất nhiều thời gian ngay cả khi Trafigura ước tính thế giới cần thêm 10 triệu tấn đồng mỗi năm tới năm 2030.

Việc Trung Quốc kiểm soát khí thải cũng có thể tác động đến giá, với các nhà sản xuất thép đang chịu áp lực lớn trong việc hạn chế sản lượng. Có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ một nửa sản lượng kim loại toàn cầu, đang tích trữ nguyên liệu thô.

Trong số những chuyên gia lạc quan, nhóm phân tích tại JPMorgan Chase & Co dự đoán đà tăng giá của thị trường hàng hóa sẽ làm nên thời kỳ phục hồi kinh tế bùng nổ hậu đại dịch. Một số người khác lại cho rằng đợt tăng giá đột biến này có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn do người tiêu dùng tập trung nhiều hơn vào dịch vụ, giảm bớt nhu cầu vào những mặt hàng thâm dụng như điện tử và thiết bị gia dụng.

Tại sao siêu chu kỳ lại quan trọng?

Một mặt, siêu chu kỳ có thể thúc đẩy lạm phát. Tức là giá hàng hóa tăng có nguy cơ đẩy giá thực phẩm, từ lát sandwich tới tòa nhà chọc trời, lên cao. Thật vậy, năm 2021 đã gây ra một cuộc tranh luận về khả năng các ngân hàng trung ương có thể phải giảm các biện pháp hỗ trợ kinh tế, một ý tưởng đã làm chao đảo thị trường tài chính.

Tuy nhiên, giá hàng hóa bùng nổ có thể gây ra những hậu quả to lớn đối với sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tiền và quyền lực. Cuốn sách “The World for Sale” từng nhận định cần phải hiểu cách dầu mỏ và kim loại làm giàu cho những quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú như Australia, Brazil, Chile, Arab Saudi và Nigeria, cũng như việc dòng tiền chảy từ thị trường vào túi của các ông trùm và quan chức tham nhũng ra sao.

Những siêu chu kỳ như vậy có thể tác động đến chiến tranh, tranh chấp biến giới và thay đổi tiến trình lịch sử.

Thanh Long (Theo Bloomberg) / NDH

Cảnh giác cú sốc lạm phát


Không thể chủ quan trước nguy cơ lạm phát ngóc đầu dậy trong năm nay, gây bất ổn cho đà phục hồi của nền kinh tế và đời sống người dân.

Giá cả nhiều loại hàng hóa phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống sinh hoạt của người dân đang tăng khá mạnh từ đầu năm đến nay. 

Ảnh: hl.co.uk

Cụ thể giá sắt thép, xi măng đã tăng 35 – 40%, bắp, đậu, cám gạo tăng mạnh 20 – 70%. Bên cạnh đó, giá các loại vật liệu thiết yếu như xăng dầu, điện, nước hay giá bất động sản, chi phí vận chuyển container cũng đồng loạt tăng theo, gây nguy cơ lạm phát trên diện rộng rất khó kiểm soát trong phần còn lại của năm.

Doanh nghiệp khóc ròng 
vì chi phí

Thép và các loại vật liệu xây dựng khác đang là nỗi lo lớn nhất của các nhà thầu xây dựng và doanh nghiệp phát triển bất động sản hiện nay. Theo ông Lê Hoàng Châu, chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM, trong chi phí xây dựng thì chi phí vật liệu chiếm khoảng 60%. 

Do đó, khi giá vật liệu xây dựng tăng thì giá bất động sản đương nhiên sẽ tăng theo. Điều này có thể ảnh hưởng đến ngân sách mua nhà của người dân.

Các nhà thầu xây dựng đang đối mặt với nguy cơ thua lỗ nếu triển khai các hợp đồng thi công đã chốt giá trước đó với khách. 

Đơn cử như trong quý 1-2021, Công ty xây dựng Hưng Thịnh Incons ghi nhận doanh thu tăng lên 1.160 tỉ đồng, nhưng lợi nhuận gộp giảm mạnh chỉ còn 103 tỉ đồng, do biên lợi nhuận rớt 22,1% xuống chỉ còn 8,9%. Sau khi trừ đi tất cả chi phí, lãi trước thuế của công ty giảm tới 58%, xuống mức 48 tỉ đồng.

Theo Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC), các nhà thầu xây dựng cả nước đang đứng trước nguy cơ vỡ trận, phá sản do giá thép tăng phi mã từ đầu năm đến nay. 

Còn Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) dự báo giá thép có thể tăng đến tận hết quý 3-2021 khi nhìn vào những gì đang diễn ra ở Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, EU và nhiều thị trường lớn khác.

Ở ngành chăn nuôi, áp lực tăng giá cũng đang lớn dần không kém. Giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm trong nước đã tăng trung bình 5 – 6 đợt với mức tăng 200 – 300 đồng/kg/lần.

Tổng mức tăng chung là 10 – 15%. Trong sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, giá nguyên liệu thông thường chiếm khoảng 80 – 85% so với giá thành sản xuất. 

Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến mùa vụ chăn nuôi mới của các hộ nông dân và kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến trong ngành.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 giảm 0,04% so với tháng trước. Tuy nhiên nếu so với tháng 12-2020 và cùng kỳ năm ngoái, CPI lại tăng lần lượt 1,27% và 2,7%.

“Như vậy, chỉ số CPI tính theo năm của tháng 4 đã tiếp tục đà tăng từ tháng trước đó. Mặc dù chỉ số CPI trung bình 4 tháng đầu năm hiện tại vẫn đang ở mức thấp, chúng tôi cho rằng chỉ số sẽ tăng mạnh hơn trong những tháng tiếp theo và là yếu tố cần theo dõi sát trong năm nay”, chứng khoán BVSC cảnh báo.

Hệ quả của chính sách 
bơm tiền

Không chỉ có Việt Nam, thế giới cũng đang cẩn trọng trước nguy cơ lạm phát. Ngay tại Mỹ, lãi suất thực của thị trường trái phiếu đã giảm xuống mức thấp kỷ lục vì giới đầu tư lo ngại lạm phát tăng mạnh trong các năm tới do các gói kích thích khổng lồ mà Chính phủ Mỹ và cả thế giới đang triển khai rầm rộ. 

Theo tờ Wall Street Journal, các ngân hàng trung ương, dẫn đầu là Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), hiện ít lo lắng về lạm phát.

Kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, các nhà hoạch định chính sách đã lo rằng lạm phát mãi ì ạch ở dưới, chứ không phải trên mức mục tiêu. 

Tuy nhiên phải gần đây, họ mới có những động thái dứt khoát để tạm gạt mục tiêu lạm phát sang một bên. FED áp dụng chỉ tiêu mới mềm mỏng hơn gọi là mục tiêu lạm phát trung bình 2%, có nghĩa là lạm phát có thể vượt quá 2% trong vài năm để bù đắp cho sự ì ạch suốt cả thập kỷ vừa qua.

Dưới thời Janet Yellen (giờ là bộ trưởng tài chính Mỹ) và cả chủ tịch FED hiện nay là Jerome Powell, FED đều nhấn mạnh điều trước đây được coi là mục tiêu thứ cấp: trạng thái toàn dụng lao động. 

Bên cạnh đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu hay Nhật đều thống nhất sẽ tiếp tục chương trình nới lỏng định lượng, kích thích kinh tế cho tới khi dịch COVID-19 được kiểm soát hoàn toàn. 

Điều này có nghĩa có thể phải tới sớm nhất là năm 2022, các ngân hàng trung ương mới cân nhắc khả năng tăng lãi suất và đưa thị trường tài chính quay về trạng thái bình thường.

Tương tự như những năm 2011 – 2012, các quốc gia đồng loạt gia tăng kích thích kinh tế, bơm một lượng tiền khổng lồ vào nền kinh tế thì giá cả hàng hóa, từ dầu mỏ, đậu nành, ngô, ngũ cốc, bột mì đến các loại khoáng sản như quặng sắt, than… đều tăng chóng mặt.

Nhu cầu chi tiêu và đầu tư gia tăng đột biến sau đại dịch tại Trung Quốc cũng là động lực đẩy mặt bằng giá lên cao.

Trong đánh giá mới nhất, Ngân hàng JPMorgan Chase cho rằng giá hàng hóa sẽ tiếp tục tăng và các giao dịch đặt cược vào việc tái mở cửa và nền kinh tế phục hồi sẽ tiếp tục sôi nổi, trong khi Ngân hàng UBS dự báo giá hàng hóa sẽ tăng khoảng 10% trong năm tới.

Là một quốc gia có độ mở kinh tế lớn, Việt Nam khó tránh khỏi nguy cơ một cú sốc giá cả. Đặc biệt với khả năng bất ổn do làn sóng lây nhiễm thứ tư gây ra. 

Theo chứng khoán Vndirect, tình hình dịch COVID-19 trong khu vực Đông Nam Á diễn biến khó lường. Nếu dịch bùng phát trở lại sẽ ảnh hưởng lớn đến đà phục hồi kinh tế. 

Cũng theo Vndirect, lạm phát dự báo tăng mạnh trong quý 2-2021 do giá xăng dầu tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Trước thách thức lạm phát, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải thận trọng hơn trong việc nới lỏng thêm chính sách tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Bên cạnh lạm phát, nền kinh tế có thể còn đối mặt với nguy cơ đình đốn, do các biệt pháp phong tỏa, giãn cách xã hội quyết liệt vì đợt dịch lần này có dấu hiệu lan rộng quá nhanh trên khắp cả nước.

Các nhà đầu tư cần bình tĩnh hơn và nên chuẩn bị sẵn một kịch bản đối phó phù hợp nhất. Ông Hiếu Đỗ, phó chủ tịch cao cấp của Quỹ Vina Capital, cho rằng lựa chọn triển khai “cash-out” (bán tài sản lấy tiền mặt) vào thời điểm này có thể là quyết định tồi vì lạm phát sẽ nhấn chìm giá trị tiền mặt. 

Lời khuyên cho các doanh nghiệp và giới đầu tư là nên giảm đòn bẩy tài chính, cô lập các nguy cơ rủi ro và tăng thanh khoản, tức giảm dần thu nhập đầu cơ và thay vào đó lựa chọn những tài sản có sinh ra dòng tiền.

NAM MINH / TTCT