Xu hướng tuyển dụng và Ngành nghề phát triển sau đại dịch


Xu hướng tuyển dụng trên thế giới sau đại dịch COVID-19

Theo Viện Nghiên cứu Toàn cầu McKinsey (MGI), xu hướng phát triển của các ngành nghề sau đại dịch COVID-19 sẽ ảnh hưởng rõ rệt tới xu hướng tuyển dụng tại một số thị trường lớn trên thế giới.

Những thay đổi trong hành vi người tiêu dùng và phương pháp hoạt động của doanh nghiệp cũng góp phần tác động tới nhiều nhóm công việc khác nhau.

Ngành y tế, khoa học, vận tải cần nhân lực

Trong giai đoạn dịch bệnh, nhiều nhà sản xuất lớn trên thế giới đã ứng dụng công nghệ tự động hóa và trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất. Các thiết bị máy móc, dây chuyền tự động có thể giúp đảm bảo giãn cách giữa nhân viên trong môi trường sản xuất hoặc tại điểm bán hàng.

Tại nhiều quốc gia, các nền tảng dịch vụ số và thương mại điện tử cũng mang lại sự tiện lợi cho người dân. Thay vì phải di chuyển nhiều, người tiêu dùng nay đã có thể tiếp cận những trang giao dịch, mua bán trực tuyến và dịch vụ công ngay trên thiết bị điện tử cá nhân.

Nhờ sự phát triển của các nền tảng tự động hoá và công nghệ thông tin, nhu cầu tuyển dụng của các ngành Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học (STEM) có thể sẽ tăng mạnh trong tương lai.

Khi các nền kinh tế mở cửa trở lại, chính phủ và doanh nghiệp cần nguồn lao động trình độ cao để có thể tiếp tục duy trì, triển khai những nền tảng công nghệ tiên tiến.

Theo cơ quan Dịch vụ Việc làm của Liên minh châu Âu (EURES), sự bùng phát của đại dịch COVID-19 đã khiến những thành tựu và sự phát triển trong lĩnh vực khoa học, y tế và môi trường nhận được nhiều sự chú ý trên toàn cầu. Sau đại dịch, các ngành kỹ thuật y sinh, hoá học, sinh học hay phân tích dữ liệu sẽ tiếp tục mang lại giải pháp đổi mới và sáng tạo cho cuộc sống hiện đại.

Trong quá trình phòng chống và ứng phó với dịch bệnh, vai trò của ngành y tế đối với sức khoẻ cộng đồng liên tục được nhấn mạnh. EURES cho rằng xu hướng tập trung phát triển y tế trên toàn cầu sau đại dịch sẽ đẩy mạnh việc đào tạo các chuyên ngành như y sĩ, dược sĩ, dịch tễ học. Các cơ quan dịch vụ y tế đã áp dụng những nền tảng tự động hoá và công nghệ trực tuyến trong hoạt động sản xuất thuốc, vaccine hay chẩn đoán bệnh.

Từ tháng 4 đến tháng 10/2020, số lượt khám bệnh trực tuyến qua nền tảng của công ty Practo (Ấn Độ) đã tăng hơn 10 lần. Để vận hành những công nghệ này, ngành y tế sẽ cần thêm nguồn nhân lực trình độ cao với các kỹ năng khoa học, kỹ thuật.

Trong bối cảnh dân số thế giới ngày càng già đi, các ngành nghề trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ càng có nhiều cơ hội phát triển, dẫn đến cần sự gia tăng về nhân lực để đáp ứng nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi.

Sau đại dịch, người tiêu dùng tại một số thị trường lớn vẫn sẽ tiếp tục tận dụng các nền tảng thương mại điện tử và các dịch vụ giao hàng nhanh. So với các mô hình bán lẻ truyền thống, những dịch vụ này có thể mang lại sự tiện lợi cho người dùng. Theo MGI, sự tăng trưởng của thương mại điện tử đã tạo ra nhu cầu nhân lực cho các ngành vận tải, lưu trữ hàng hoá và quản lý chuỗi cung ứng.

Khi hình thức làm việc tự do, bán thời gian trở nên phổ biến tại nhiều quốc gia, ngành vận tải hàng hoá có thể thu hút và duy trì nguồn lao động tự do qua các dịch vụ “trung gian”.

Để tuân thủ các quy định về giãn cách xã hội trong thời dịch, người lao động phải làm việc từ xa qua Internet. Để đảm bảo hoạt động, nhiều công ty lớn cần tăng nguồn nhân lực cho bộ phận quản trị hệ thống mạng và cơ sở dữ liệu.

Theo EURES, những ngành nghề trong lĩnh vực giao tiếp kỹ thuật số cũng có thể tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu tương tác trực tuyến của các cá nhân và tổ chức.

Lao động thủ công và ngành dịch vụ bị cắt giảm

Dựa trên mô hình dự báo của MGI, xu hướng phát triển của các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế như tự động hoá hay chuyển đổi số sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực tới ngành dịch vụ và nhóm lao động chân tay.

Ngành dịch vụ ẩm thực có thể sẽ giảm nhu cầu tuyển dụng nhân lực do những thay đổi trong phương pháp hoạt động. Vì nhu cầu ăn uống trực tiếp của người lao động và khách du lịch suy giảm sau đại dịch COVID-19 nên nhiều chuỗi nhà hàng đã đóng cửa một số cơ sở tại các thành phố lớn. Hơn nữa, sự phổ biến của những dây chuyền chế biến và đóng gói thực phẩm cũng khiến một số nhà hàng bắt đầu giãn cách và cắt giảm nhân sự. Ví dụ, chuỗi nhà hàng bánh kẹp White Castle (Mỹ) đã tiến hành thử nghiệm hệ thống ‘Flippy’ – một loại robot có khả năng nướng thịt và chiên đồ ăn.

Với sự phát triển của các sàn thương mại điện tử và ngành giao hàng trong thời kỳ dịch bệnh, mô hình cửa hàng truyền thống sẽ khó có cơ hội quay trở lại thị trường. Tại Mỹ, các công ty lớn như Macy’s (bách hoá) và Gap (may mặc) đang lên kế hoạch đóng hàng trăm cơ sở kinh doanh. Việc đóng cửa hàng loạt của các nhà bán lẻ sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới ngành bán lẻ và các nhóm nghề liên quan.

Thói quen mua sắm qua mạng của người tiêu dùng sẽ làm giảm nhu cầu tuyển dụng nhân viên bán hàng trực tiếp, nhân viên thu ngân hay những đại lý kinh doanh. Số lượng nhân viên chăm sóc, hỗ trợ khách hàng trực tiếp cũng sẽ bị cắt giảm do những công việc này có thể được thực hiện qua các kênh trực tuyến.

Tại các thị trường lớn, xu hướng tự động hoá đã khiến nhiều lao động thủ công mất việc làm. Nhiều nhà sản xuất sử dụng máy móc để hoàn thành các công việc thủ công nhằm hạn chế số nhân công làm việc trực tiếp. Trong khi đó, những robot hiện đại nay đã có thể đảm nhận công việc vệ sinh, khử khuẩn trong các cơ sở y tế hay khách sạn.

Xu hướng làm việc từ xa cũng có thể gây ảnh hưởng tiêu cực tới các nhóm công việc khác. Khi một số doanh nghiệp bắt đầu cắt giảm diện tích văn phòng để áp dụng các phương pháp làm việc trực tuyến thì nhu cầu thuê nhân viên lễ tân, bảo vệ, tạp vụ sẽ suy giảm.

Do ảnh hưởng của dịch bệnh, các chuyến du lịch kết hợp với công việc có thể sẽ được thay thế bởi các cuộc đối thoại trực tuyến giữa cá nhân và doanh nghiệp. Do mất đi nguồn khách hàng lớn, ngành hàng không, khách sạn và dịch vụ du lịch cũng sẽ giảm bớt nhân công và nhu cầu tuyển dụng.

Nguồn: Thông tấn xã Việt Nam / TTO

—-

Công việc gì sẽ “hot” hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền

Đại dịch COVID-19 đã làm gián đoạn thị trường lao động trên toàn cầu gây ra hậu quả nghiêm trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, điểm đáng mừng là các nhà kinh tế cũng đưa ra dự đoán một số ngành nghề có thể thấy lượng tuyển dụng tăng vọt khi cuộc khủng hoảng qua đi. Do đó, sớm nhận ra những nơi có tiềm năng tuyển dụng cao sẽ giúp bạn nhanh chóng tìm được việc ưng ý hậu mùa dịch.

Công việc gì sẽ

Nếu bạn đang tìm kiếm một công việc mới hoặc muốn thăng tiến trong sự nghiệp của mình, đây là thời điểm tuyệt vời nhưng không quá hoàn hảo để bắt đầu. Có cảm giác như chúng ta đang đến gần ánh sáng vào cuối đại dịch. Các công ty dần ổn định vị thế. Các quốc gia bắt đầu mở cửa và bình thường hóa. Các hãng hàng không đang bay trở lại. Những tác động của việc tái thiết lập này đặt ra cho mỗi người câu hỏi: Những gì cần thay đổi và những gì cần nắm bắt theo thời đại?

Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã tổng hợp danh sách 10 việc làm hàng đầu trong tương lai. 

Mặc dù đây không phải là “kinh thánh” của công việc, nhưng đó là điểm khởi đầu cho thấy một số công việc mới nổi đã nở rộ như thế nào từ cuộc “tàn sát” của Covid-19. Ngoài ra, dù làm ở bất cứ vị trí nào thì việc nắm bắt các ngành nghề có nhu cầu tuyển dụng cao hậu mùa dịch sẽ giúp bạn bớt đi rất nhiều rủi ro không đáng có, đồng thời thu hẹp lại con đường cạnh tranh. 

10 công việc hot hậu Covid19 

1. Người hỗ trợ làm việc tại nhà— Giám đốc quản lý công việc từ xa 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 1.
Facebook bắt đầu đăng tuyển vị trí “Giám đốc quản lý công việc từ xa”, người sẽ thúc đẩy những chuyển đổi trong toàn công ty theo hướng ưu tiên làm việc từ xa.Ảnh: The Washington Post

Đại dịch Covid-19 đã đẩy mạnh làn sóng làm việc từ xa, cùng sự tăng mạnh các công việc tại nhà được dự báo sẽ kéo dài. Nhờ đó mà các công ty đã tạo ra những công việc mới cho ban điều hành để hỗ trợ cho nhân sự làm việc từ xa. 

Ngoài ra, nhiều công ty công nghệ đang đua tuyển giám đốc quản lý công việc từ xa sau khi phần lớn nhân viên muốn làm tại nhà ngay cả khi đại dịch không còn là mối đe dọa. 

2. Chăm sóc sức khỏe 

Giống như bệnh dịch hạch đã mở ra một kỷ nguyên mới cải cách lao động và cải tiến y học thời trung cổ thì Covid-19 sẽ tạo nên một cuộc cách mạng to lớn với lĩnh vực chăm sóc sức khỏe. 

Nhờ hiệu ứng dịch bệnh, nhất trong giai đoạn chưa chế tạo ra vắc-xin triệt để, người dân sẽ có xu hướng quan tâm sức khỏe nhiều hơn. 

Trang thông tin tuyển dụng Glassdoor cho biết nhu cầu tuyển dụng các nhà khoa học và chuyên gia phân tích số liệu cũng có xu hướng gia tăng. Bên cạnh đó, nhu cầu sản xuất các thiết bị y tế cần thiết như khẩu trang, mũ… cũng cần đáp ứng lớn trong bối cảnh các nước phát triển vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi Covid-19. 

3. Bất động sản, quản lý thiết kế nhà thông minh 

Xã hội hiện đại ngày càng có nhiều tòa nhà, cao ốc, địa ốc xuất hiện. Việc quản lý hệ thống này cũng ngày càng được các nhà đầu tư quan tâm hơn. Đồng thời, những thiết bị công nghệ cũng xuất hiện ngày càng nhiều và có đầy đủ tính năng hơn. Nên hệ thống quản lý cũng yêu cầu khắt khe hơn về độ an toàn và bảo mật. Do đó, vấn đề quản lý an ninh, quản lý thiết kế và ngành bất động sản được chú trong hơn bao giờ hết. 

Ngoài ra, có rất nhiều dự án bị hoãn lại do đại dịch. Vì vậy, nhu cầu tuyển dụng các vị trí cấp cao sẽ tăng mạnh trong thời gian tới, đáng chú ý như giám đốc kinh doanh (Leasing Director), chuyên gia bất động sản, nhân viên tư vấn chiến lược… để sớm đưa các dự án quay trở lại hoạt động. 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 2.
Nhiều người lựa chọn làm việc từ xa nên đã chuyển từ các thành phố lớn đến vùng ngoại ô và địa điểm nông thôn. Điều này thúc đẩy xây dựng những ngôi nhà mới và nâng cấp để phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng. Ảnh: Internet

4. Dịch vụ vận chuyển

Từ khi dịch Covid-19 bùng phát đến giờ, các ông chủ ngành buôn bán luôn hối hả bù đắp lượng thiếu hụt nhân viên do nhu cầu tăng đột biến. Và cũng nhờ chính đại dịch đã kích thích ngành nghề này phát triển nhanh mạnh hơn và giúp người dân nhận ra những tiện ích nổi trội của hình thức giao hàng. 

5. Hậu cần và chuỗi quản lý cung ứng (Logistics and Supply Chain) 

Hiện nay, với xu thế hội nhập hóa các nền kinh tế, Logistics đang dần trở thành một ngành hot trên thế giới. Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh doanh, sự luân chuyển hàng hóa từ nước này sang nước khác hay kể cả trong nước đã khiến Logistics phát triển, trở thành một ngành dịch vụ quan trọng trong giao thương quốc tế. Để đáp ứng khối lượng công việc ngày một lớn, nhu cầu về nhân sự ngành Logistics ngày một tăng cao.

6. Digital Marketing 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 3.
Digital Marketing là làm marketing (bao gồm việc xây dựng kịch bản marketing, lập kế hoạch, thực hiện và đo lường kết quả marketing) trong môi trường số là chủ yếu. Ảnh: Internet

Trong thời kỳ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, ngành Digital Marketing đang chuyển biến mạnh mẽ với các nền tảng kỹ thuật số được ứng dụng các công nghệ mới nhất. Chính vì vậy, lĩnh vực này đang được săn đón hơn bao giờ hết. Cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên chuyên ngành Digital Marketing sau khi tốt nghiệp rất đa dạng. Ngoài ra, trong kỷ nguyên số rộng mở, hầu như công ty nào cũng cần bộ phận này để quảng bá sản phẩm trên các phương tiện số.

7. Công nghệ thông tin 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 4.
Công nghệ thông tin là hạ tầng của mọi hạ tầng, các khối ngành nghề kinh tế – xã hội khác đều phát triển dựa trên nền tảng của công nghệ thông tin. Ảnh Forbes

Trong bối cảnh dịch bệnh con người phải làm việc gián tiếp thông qua hệ thống các nền tảng công nghệ. Ngành công nghệ thông tin đang nổi lên dẫn đầu của cuộc cách mạng công nghệ 4.0. Giờ đây, ai ai cũng đều sử dụng và trải nghiệm các dịch vụ, sản phẩm công nghệ từ ngành này mang lại. 

Công nghệ thông tin không chỉ là một phần thiết yếu của cuộc sống hàng ngày mà còn đang giải quyết các vấn đề mà đại dịch gặp phải. Sau đại dịch, điều này càng trở nên cấp thiết khi các doanh nghiệp bắt đầu dịch chuyển ưu tiên các dịch vụ sản phẩm công nghệ. Do đó, khối ngành này đang thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao và nhu cầu săn đón những chuyên gia trong lĩnh vực này cũng vô cùng khốc liệt.

8. Dự báo tai họa mạng 

Ngoài Covid-19, thảm họa lớn khác của thế giới trong năm qua là sự tấn công liên tục của cả hai cuộc tấn công mạng lớn như Solar Winds và ransomware. Do đó, khả năng dự báo các sự kiện như thế này là rất quan trọng. Chỉ số CJoF cho biết: Sự tăng trưởng trong việc tuyển dụng các nhà dự báo thiên tai mạng đã tăng 28% trong quý 1 năm 2021.

9. Ngành Dịch vụ khách sạn, du lịch 

Trên thực tế, nhiều bạn trẻ vẫn lo lắng, học ngành du lịch là lựa chọn mạo hiểm bởi dịch vẫn diễn biến phức tạp, khả năng thất nghiệp cao. Tuy nhiên theo nhận định của nhiều chuyên gia, du lịch hiện chịu ảnh hưởng nặng vì dịch Covid-19, nhưng khi cuộc sống trở lại bình thường, lĩnh vực này sẽ bùng nổ. Trong tương lai, ngành du lịch hứa hẹn “hồi sinh” và tiếp tục phát triển. 

10. Thương mại điện tử 

Công việc gì sẽ hot hậu COVID-19? Dưới đây là 10 ngành nghề hàng đầu trong tương lai được nhận định dễ kiếm việc và có tiền - Ảnh 5.
Thương mại điện tử là điểm sáng trong tăng trưởng kinh tế. Ảnh: Intenret

Thương mại điện tử (E-Commerce) là hình thức kinh doanh trực tuyến sử dụng nền tảng công nghệ thông tin với sự hỗ trợ của Internet để thực hiện các giao dịch mua bán, trao đổi, thanh toán trực tuyến. Cơ hội việc làm ngành Thương mại điện tử rất cao bởi ngành này được dự báo cần nguồn nhân lực lớn trong tương lai và là một trong những ngành chịu ít tác động tiêu cực từ dịch Covid-19. Bên cạnh đó, thương mại điện tử không chỉ là xu hướng tiêu dùng hiện tại mà còn thu hút được vốn đầu tư rất nhiều từ nước ngoài. 

Thực tế, đại dịch Covid-19 là “phép thử” và là cơ hội có 1-0-2 trong lịch sử. Cơ hội này được chia đều cho tất cả mọi người. Do đó, đây là lúc thể hiện ra những điều bạn đã tích lũy được trong mùa dịch và có cái nhìn linh hoạt hơn với các ngành nghề. Ứng biến với mọi tình huống trong cuộc sống là điều không hề dễ dàng nhưng chắc chắn nó là thứ mà mọi nhà tuyển dụng sẽ ưu tiên hơn ở các ứng viên trong tương lai.

Theo Forbes

Ngọc Nhi / Theo Trí Thức Trẻ

Lạm phát trong lịch sử – Các chỉ số kinh tế cần quan tâm khi đầu tư


Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thị trường chứng khoán đã diễn biến tốt bất chấp nền kinh tế phải vật lộn với lạm phát.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử

Gần đây lạm phát ở Mỹ đang tăng lên nhanh chóng, gợi nhớ về thời kỳ đầu những năm 1980. Khi đó, người đang ngồi ghế Chủ tịch Cục dự trữ liên bang (Fed) là Paul Volcker đã tung ra những biện pháp quyết liệt nhằm dập tắt lạm phát. Ban đầu nền kinh tế bị tổn hại nghiêm trọng, nhưng đó cũng chính là cơ sở để mở ra nhiều thập kỷ thăng hoa của thị trường chứng khoán.

Nếu như làn sóng lạm phát hậu đại dịch Covid-19 kéo dài dai dẳng, liệu lịch sử có lặp lại? Nhìn lại những lần Mỹ trải qua lạm phát trong quá khứ như thời Volcker hay trước đó là hậu thế chiến thứ hai, nhà đầu tư sẽ tìm thấy một vài manh mối về cách phản ứng của thị trường tài chính.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử - Ảnh 1.
Lạm phát và lãi suất ở Mỹ từ 1940 đến nay.

Vì sao chứng khoán vẫn tăng tốt bất chấp lạm phát?

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, thị trường chứng khoán đã diễn biến tốt bất chấp nền kinh tế phải vật lộn với lạm phát. Tuy nhiên điều đó chỉ kéo dài đến giữa những năm 1960. Sau đó cổ phiếu và trái phiếu kho bạc đã có quãng thời gian ảm đạm cho đến tận sau khi lạm phát bị “tiêu diệt” vào những năm 1970.

Một trong những nguyên nhân lý giải tại sao chứng khoán lại tăng tốt trong những năm 1950 là do dòng tiền chảy mạnh vào thị trường sau khi các quỹ hưu trí và một số định chế tài chính khác lần đầu tiên mua cổ phiếu, theo Ian Harnett, chuyên gia của Absolute Strategy Research. Điều đó làm giảm phần bù rủi ro – chỉ số đo lường phần thưởng mà các nhà đầu tư sẽ nhận được vì họ đã dám chấp nhận một mức rủi ro cao hơn khi đầu tư vào cổ phiếu thay vì đầu tư vào tài sản phi rủi ro như trái phiếu chính phủ.

Sang đến những năm 1970, chỉ số phần bù rủi ro tăng trở lại và cổ phiếu giảm điểm mạnh trước làn sóng lạm phát. Nguyên nhân lý giải cho điều này nằm ở bối cảnh nền kinh tế. Sau chiến tranh, lạm phát xuất hiện nhưng tăng trưởng kinh tế thực vẫn đủ mạnh để bắt kịp đà tăng giá cả. Các nguồn lực từng được sử dụng cho chiến tranh giờ đây được quay sang đầu tư vào hoạt động sản xuất trong thời bình.

Tuy nhiên từ giữa những năm 1960, khoảng cách giữa tăng trưởng thực và những ảnh hưởng của lạm phát bắt đầu được mở ra. Richard Sylla, giáo sư kinh tế công tác tại NYU Stern, người chuyên nghiên cứu về lịch sử lãi suất, miêu tả lạm phát thời hậu thế chiến thứ hai là giá cả bắt kịp với thực tế sau khi các biện pháp kiểm soát giá trong thời chiến được dỡ bỏ.

Câu chuyện đã thay đổi vào những năm 1960. Núi tiền mà Chính phủ Mỹ đổ vào chiến tranh ở Việt Nam và chương trình trợ cấp hào phóng của Tổng thống Lyndon Johnson được tung ra trong bối cảnh lãi suất thấp. Cung tiền tăng mạnh và giai đoạn mà Sylla gọi là Đại lạm phát bắt đầu.

Nền kinh tế trở nên quá nóng. Ban đầu, cầu vượt quá cung nhưng đến cuối những năm 1960 tình trạng đã đảo ngược, trở thành cung dư thừa. Lạm phát tăng khiến người lao động cũng đòi hỏi mức lương cao hơn. Trong khi đó Fed lại chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ hệ thống chính trị: Chủ tịch Fed Arthur Burns đã giúp sức bằng chính sách tiền tệ để Tổng thống Richard Nixon có thể tái đắc cử.

Đồng USD đã biến động rất mạnh sau khi Nixon ngừng chế độ quy đổi USD sang vàng vào năm 1971, “giết chết” thỏa thuận Bretton Woods vốn giúp các đồng tiền trên thế giới gắn kết với nhau. Một đồng USD trồi sụt thất thường hơn đã dẫn đến giá cả các hàng hóa nhập khẩu tăng lên, làm cho lạm phát biến động mạnh hơn và khó đoán hơn. Và sự bấp bênh chính là điều tồi kỵ với các nhà đầu tư.

Sau đó thị trường tiếp tục bị giáng thêm 1 đòn nữa khi cú sốc giá dầu ập đến. Nhiều nước Arab đồng loạt ngừng xuất khẩu dầu sang Mỹ để phản đối việc Mỹ hậu thuẫn Israel.

Đây là những bài học mà nhà đầu tư có thể rút ra từ các đợt lạm phát trong lịch sử - Ảnh 2.
Tỷ lệ lạm phát và lợi suất mà S&P 500, trái phiếu Mỹ kỳ hạn 5 năm mang lại.

Câu chuyện của ngày nay

Ngày nay chúng ta đang ở đâu? Thị trường chứng khoán không có nhiều đệm đỡ trước những bất ổn. Trong khi đó, Chính phủ Mỹ đang quyết tâm kích thích nền kinh tế, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên không giống như thời kỳ giữa những năm 1960, cầu vẫn đang vượt quá cung. Vai trò của Fed có ý nghĩa quan trọng. Hiện Fed đang để cho nền kinh tế phát triển hết mức, thả lỏng lạm phát nhằm đạt được trạng thái toàn dụng lao động và phục hồi nền kinh tế sau đại dịch.

Dẫu vậy nền kinh tế phát triển quá nóng là 1 triển vọng bất ổn mà nhà đầu tư sẽ lo sợ, đặc biệt là nếu như tốc độ tăng trưởng cung tiền như hiện nay nhanh chóng sụt giảm xuống mức thấp hơn đáng kể giống như những gì đã diễn ra sau thế chiến.

Trong quá khứ, nhà đầu tư đã quay sang những kim loại quý như vàng. Nếu như thời kỳ những năm 1970 vàng là hầm trú ẩn hoàn hảo trước bão lạm phát thì thời hậu chiến Mỹ đã cấm giao dịch vàng.

Còn trên thị trường chứng khoán, trong thời kỳ cuối những năm 1970 – đầu những năm 1980 cổ phiếu của các công ty hoạt động trong những ngành có tính chu kỳ (như hóa chất, khai mỏ hay hàng không) đã diễn biến tốt hơn so với các ngành mang tính phòng thủ cao như tiêu dùng thiết yếu hay điện nước. Kể từ đó đến nay, cổ phiếu chu kỳ lại diễn biến tệ hơn nếu như không tính đến các công ty công nghệ. Do đó, tránh các cổ phiếu công nghệ, hoặc ít nhất là những cổ phiếu có lợi nhuận trong tương lai phải dựa vào lãi suất thấp sẽ là 1 lựa chọn hợp lý.

Tham khảo Wall Street Journal

Thu Hương / Theo Doanh nghiệp & Tiếp thị

—-

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm

Các chỉ số kinh tế là một trong những vũ khí có giá trị nhất của các nhà đầu tư.

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm
Chỉ số chứng khoán – Ảnh: Reuters

Chỉ số kinh tế là gì?

Chỉ số kinh tế (Economic indicator) là một phần của dữ liệu kinh tế, thường có quy mô kinh tế vĩ mô, được các nhà phân tích sử dụng để giải thích các khả năng đầu tư hiện tại hoặc trong tương lai. Đồng thời, chỉ số kinh tế cũng được dùng trong việc đánh giá sức khỏe tổng thể của một nền kinh tế.

Nền kinh tế, về cơ bản cũng giống như một cơ thể sống. Tại bất kỳ thời điểm nào, cũng có hàng tỷ tế bào đang chuyển động – một số thì tự vận động, một số khác thì phản ứng với các tác nhân bên ngoài. Điều đó khiến cho việc dự đoán biến động của nền kinh tế trở nên vô cùng khó khăn. Vì mỗi dự báo lại liên quan đến một lượng lớn các giả định.

Nhưng với sự trợ giúp của một loạt các chỉ số kinh tế, các nhà đầu tư có thể hiểu rõ hơn về các bối cảnh, mô hình kinh tế khác nhau. 

Vì sao lạm phát và các chỉ số liên quan đến nó lại quan trọng?

Nhiều nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu chứng khoán, nên quan tâm đến lạm phát. Lạm phát hiện tại, và lạm phát có thể xảy ra trong tương lai đều rất quan trọng trong việc xác định lãi suất hiện hành và chiến lược đầu tư. 

Có một số chỉ số cũng quan trọng liên quan đến áp lực lạm phát. Đáng chú ý nhất trong nhóm này là Chỉ số giá sản xuất (PPI) và Chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Nhiều nhà đầu tư thường sử dụng PPI để thử dự đoán CPI sắp tới.

Có một mối quan hệ đã được chứng minh là có ý nghĩa thống kê giữa hai yếu tố này. Lý thuyết kinh tế cho rằng, nếu người sản xuất hàng hóa bị buộc phải trả nhiều tiền hơn trong sản xuất, thì một phần giá tăng sẽ được chuyển cho người tiêu dùng. 

Các chỉ số liên quan đến lạm phát quan trọng khác bao gồm mức độ và tốc độ tăng trưởng của cung tiền, và Chỉ số chi phí việc làm (ECI).

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm - Ảnh 1.

Tăng trưởng GDP thì sao?

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tất nhiên, có thể được coi là chỉ số quan trọng nhất, đặc biệt là đối với các nhà đầu tư tập trung vào những nền kinh tế đang tăng trưởng. 

Tăng trưởng GDP tác động đến cả tài chính cá nhân, đầu tư và tăng trưởng việc làm. Các nhà đầu tư có thể nhìn vào tốc độ tăng trưởng của một quốc gia, hoặc nền kinh tế, để quyết định xem họ có nên điều chỉnh mức đầu tư của mình hay không. Nhà đầu tư cũng có thể so sánh tốc độ tăng trưởng của các quốc gia với nhau, để quyết định nơi nào có cơ hội tốt nhất. Chiến lược này thường tập trung vào việc mua cổ phần của các công ty đang ở các nước đang phát triển nhanh chóng.

Ngoài GDP, Chỉ số Quản lý mua hàng (PMI) hay báo cáo lao động đều có thể cho thấy một nền kinh tế đang hoạt động tốt ở mức nào. 

Đây là những chỉ số kinh tế vĩ mô mà nhà đầu tư cần đặc biệt quan tâm - Ảnh 2.

Lãi suất có phải một chỉ số cần quan tâm?

Lãi suất là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đối với thị trường ngoại hối, do tác động của chúng đến giá trị của tiền tệ. Lãi suất cao thường cho thấy một nền kinh tế ổn định, và cũng có nghĩa là tỷ lệ hoàn vốn của các khoản tiết kiệm trong tài khoản ngân hàng cao hơn, điều này có thể khuyến khích mọi người tiết kiệm thay vì đồ tiền vào các khoản đầu tư có rủi ro cao hơn.

Ngược lại, nếu lãi suất đối với tài khoản tiết kiệm thấp, các nhà đầu tư sẽ ưu tiên các khoản đầu tư rủi ro cao hơn.

Thất nghiệp và tiền lương nói lên điều gì?

Dữ liệu thất nghiệp và tiền lương là số liệu thống kê xem xét số lượng việc làm trong nền kinh tế và số tiền mà mỗi cá nhân đang được trả cho công việc của họ. Dữ liệu này thường chỉ được công bố một vài lần trong năm.

Tỷ lệ thất nghiệp cao cùng với mức lương thấp là dấu hiệu của một thời kỳ suy thoái. Ngược lại, tỷ lệ thất nghiệp thấp và mức lương ngày càng tăng cho thấy nền kinh tế đang phát triển. Số liệu thất nghiệp được các thương nhân và nhà đầu tư trên toàn thế giới theo dõi chặt chẽ vì thời kỳ thất nghiệp cao thường có sự tương quan với quan đến giá cổ phiếu thấp.

Thái Quỳnh / Theo Nhịp sống kinh tế

Siêu chu kì hàng hoá – Lạm phát – Chứng khoán


Lạm phát ảnh hưởng thế nào đến thị trường chứng khoán

Hình minh hoạ thị trường chứng khoán

Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường chứng khoán? Phố Wall hồi giữa tháng 5 giảm điểm, một phần là do lạm phát đã có dấu hiệu tăng cao nhưng việc lạm phát hiện tại có ảnh hưởng tiêu cực trong dài hạn lên thị trường chứng khoán hay không vẫn là một dấu hỏi. 

Lạm phát cao thường được coi là tín hiệu tiêu cực cho thị trường chứng khoán vì khiến cho chi phí vay, chí phí đầu vào (nguyên vật liệu, lao động) tăng theo, và giảm mức sống của người dân. Điều quan trọng nhất là lạm phát sẽ khiến cho tăng trưởng thu nhập kỳ vọng giảm xuống, gây áp lực cho giá cổ phiếu. 

Lạm phát trái kỳ vọng là vấn đề

Tất nhiên, thị trường chứng khoán chắc chắn sẽ đưa ra dự báo về mức lạm phát mỗi năm, và thông qua đó điều chỉnh lợi nhuận kỳ vọng để thoát khỏi sức ảnh hưởng của lạm phát. 

Ví dụ, nếu nhà đầu tư đặt mục tiêu tỷ suất lợi nhuận ròng 6%/năm sau lạm phát (bao gồm cổ tức), và mức lạm phát đang ở 2%/năm, họ chắc chắn sẽ mong muốn tỷ suất lợi nhuận trong năm đó ít nhất 8%. 

Nhưng nếu lạm phát đột ngột tăng từ 2% lên 4% trong một khoảng thời gian ngắn, những dữ liệu thu thập trong quá khứ cho thấy thị trường sẽ phản ứng tiêu cực. 

Đó là vì nhà đầu tư giờ đây đòi hỏi tỷ suất lợi nhuân cao hơn để bù đắp lại những rủi ro họ phải đối mặt. Thay vì lợi nhuận 8%, nhà đầu tư sẽ nâng kỳ vọng lên ít nhất 10% và giá cổ phiếu sẽ nhiều khả năng giảm xuống. 

Sự thay đổi trong kỳ vọng là minh chứng rõ ràng nhất từng được ghi nhận trong quá khứ. Một nghiên cứu vào năm 2000 được thực hiện bởi A. Shape tới từ Fed kết luận rằng “kỳ vọng thị trường về tỷ suất lợi nhuận thực tế, đặc biệt là trong dài hạn, thường tỷ lệ thuận với lạm phạm kỳ vọng… lạm phát khiến cho kỳ vọng về tỷ suất lợi nhuận cổ phiếu dài hạn tăng”. Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán.

Lạm phát thời bùng nổ và khủng hoảng

Để hiểu được mối lên hệ trên thực sự không phải là điều dễ dàng. Các cổ phiếu phản ứng tiêu cực với lạm phát thậm chí còn mạnh hơn khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng. Mức độ phản ứng lớn hơn nhiều so với thời điểm nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ. 

Điều này hoàn toàn hợp lý. Khi nền kinh tế đang giảm tốc, lợi nhuận cũng như doanh thu thường giảm xuống, với không ai quan tâm tới vấn đề lạm phát. Khi nền kinh tế bùng nổ, lợi nhuận chắc chắn sẽ tăng cao (giống như thời điểm hiện tại) và nền kinh tế rất có thể sẽ phải đối mặt với tình trạng lạm phát cao hơn.

Tùy ngành nghề và lĩnh vực

Tác động của lạm phát là không giống nhau giữa các lĩnh vực. Ví dụ, cổ phiếu tăng trưởng có khả năng sẽ giảm giá khi lạm phát tăng cao. Đó là vì các cổ phiếu tăng trường có kỳ vọng lợi nhuận cao hơn trong tương lai, và khi lạm phát tăng cao, những kỳ vọng tương lai đó chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng. 

Hãy mường tượng, bạn có một công ty giá trị có thể làm ra được 1 USD mỗi năm trong vòng 10 năm. Bạn cũng có một công ty tăng trưởng nhưng chỉ có thể làm ra 0,1 USD trong năm tới, nhưng 0,2 USD trong năm tiếp theo, 0,4 USD trong năm tiếp theo nữa, và cứ thế sau 10 năm, công ty này được kỳ vọng sẽ thu về 10 USD. 

Đối với cổ phiếu giá trị, mỗi năm, công ty sẽ mang lại một mức lợi nhuận không đổi. Đối với cổ phiếu tăng tưởng, lợi nhuận sẽ tăng cao trong tương lại.

Các nhà đầu tư mua cổ phiếu tăng trưởng thường tính toán giá trị hiện tại của dòng lợi nhuận trong tương lai. Khi lạm phát hoặc lãi suất bắt đầu tăng cao hơn kỳ vọng sẽ khiến cho giá trị đó giảm xuống. 

Một phần lý do là lãi suất đối với trái phiếu phi rủi ro của chính phủ cũng sẽ tăng lên, khiến cho trái phiếu trở nên hấp dẫn hơn so với cổ phiếu.

Một lý do khác là lạm phát và lãi suất cao hơn sẽ ảnh hưởng tới triển vọng lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp.

“Cổ phiếu tăng trưởng có thời gian đáo hạn bình quân lâu hơn so với cổ phiếu giá trị vì chúng có thể mang lại lợi nhuận cao hơn trong tương lại”, theo Larry Swedroe. Giám đốc trung tâm nghiên cứu của Viện quản lý Tài sản chiến lược Buckingham. “Nếu như lạm phát tăng cao, mức lợi nhuận bạn nhận được trong tương lai cũng giảm xuống”. 

Các cổ phiếu công ty có vốn hóa nhỏ, đặc biệt là các cổ phiếu tăng trưởng, thường bị ảnh hưởng vì nhạy cảm hơn đối với lãi suất. 

Các cổ phiếu cổ tức cao, giống như cổ phiếu lĩnh vực tiện ích và bất động sản, cũng sẽ bị ảnh hưởng vì nhà đầu tư giờ đây có trái phiếu lãi suất cao của chính phủ như là một phương án thay thế, vì cổ tức thường không bắt kịp đà tăng của lạm phát.

Lạm phát mang lại điều tích cực gì cho thị trường chứng khoán?

Lạm phát không hẳn “tồi tệ” như mọi người vẫn nghĩ. Lạm phát thậm chí còn giúp mang lại một số lợi ích nhất định. Ví dụ, trong một vài trường hợp, lạm phát vừa phải có thể giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp. 

“Lạm phát vừa phải nên được nhìn nhận là hiện tượng tốt, vì là dấu hiệu cho một nền kinh tế đang tăng trưởng, và các doanh nghiệp có thể nâng giá bán hàng hóa, dịch vụ của mình”, Swedroe chia sẻ. 

Thậm chí, tại nhiều thời điểm, lạm phát đạt đến “điểm tối ưu”. “Khi đánh giá tỷ suất lợi nhuận trên sàn S&P 500, có điều chỉnh với lạm phát, kết quả cho thấy mức tỷ suất lợi nhuận thực tế cao nhất đạt được khi lạm phát từ 2% tới 3%”, theo bài viết của chuyên gia phâm tích đầu tư Kristina Zucchi trên Investopedia.

Đó là điều mà đang có ở thời điểm hiện tại.

Các cổ phiếu cũng có thể có vài biện pháp bảo vệ để chống lại lạm phát, theo Zucchi. “Theo lý thuyết, cổ phiếu nên có một vài biện pháp phòng hộ đối với lạm phát, vì doanh thu và lợi nhuận của một công ty nên tăng trưởng tương đồng với tỷ lệ lạm phát, sau một giai đoạn điều chỉnh” bà cho biết.

Tại sao thị trưởng nổi sóng khi CPI chỉ tăng vừa phải?

Lạm phát chỉ mang lại những lo lắng. “Khi lạm phát tăng quá cao, Fed bắt buộc phải hành động”, ông chia sẻ.

“Nếu như thị trường cho rằng Fed sẽ có những biện pháp thắt chặt trong trường hợp lạm phát chạm 4%, thị trường sẽ bắt đầu có những phản ứng trước khi Fed đưa ra hành động. Fed không thể hiện rõ mức độ của hành động mà họ sẽ thực hiện”. Do đó, thị trường đang tham gia một trò chơi mang nhiều tính chất dự đoán. 

Thị trường đang nỗ lực tính đến trường hợp Fed sẽ hành động sớm hơn so với nhiều người phỏng đoán. 

Vì tính thanh khoản mà Fed cung cấp là một chỉ số quan trọng giúp hình thành nên giá cổ phiếu, việc loại bỏ đi nó sẽ gây ra những tác động tiêu cực, vì điều đó có nghĩa là sẽ có ít tiền hơn được bơm vào thị trường.

Trọng Đại (Theo CNBC) / NDH

—-

Khi nào siêu chu kỳ hàng hóa tiếp theo xảy ra?

Hình minh hoạ Siêu Chu Kì Hàng Hoá

Trong bối cảnh các chính phủ ồ ạt đổ tiền để phục hồi kinh tế thông qua loạt dự án cơ sở hạ tầng và năng lượng sạch, thị trường hàng hóa xuất hiện dấu hiệu phát triển bùng nổ với giá cả lên cao nhất nhiều năm, dấy lên lo ngại về lạm phát. Các sự kiện chấn động như vậy làm giàu cho những quốc gia và thương nhân đang kiểm soát nguồn tài nguyên cũng như có đủ sức mạnh để định hình thị trường hàng hóa thế giới.

Siêu chu kỳ là gì?

Siêu chu kỳ là trong một thời gian dài, thị trường chứng kiến tăng trưởng nhu cầu mạnh tới nỗi các nhà cung cấp phải vật lộn để đáp ứng đủ, từ đó dẫn tới tình trạng giá cả hàng hóa liên tục tăng trong nhiều năm, đôi khi là kéo dài hơn một thập kỷ. Điều này trái ngược với một chu kỳ tăng giá ngắn ngủi được tạo ra bởi cú sốc nguồn cung như mất mùa hay đóng cửa các mỏ quặng.

Siêu chu kỳ có xu hướng xảy ra trùng với thời kỳ công nghiệp quá và đô thị hóa nhanh. Siêu chu kỳ gần nhất được “châm ngòi” bởi sự phát triển chóng mặt của Trung Quốc sau khi nước này gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào năm 2001, động thái giúp loại bỏ các rào cản đối với thương mại.

Các chuyên gia kinh tế xác định có 3 siêu chu kỳ khác từng xảy ra kể từ đầu thế kỷ 20, mỗi siêu chu kỳ lại bị chi phối bởi một sự kiện chuyển đổi. Quá trình công nghiệp hóa tại Mỹ tạo ra siêu chu kỳ đầu tiên vào đầu những năm 1900. Siêu chu kỳ thứ 2 đến từ làn sóng tân trang vũ trang và sự trỗi dậy của Đức Quốc Xã trong những năm 1930. Cuối cùng, quá trình tái thiết ở châu Âu và Nhật Bản sau Thế Chiến II thúc đẩy siêu chu kỳ thứ 3.sieu-chu-ky-1-5945-1622343002.jpg

Điều gì có thể kích hoạt siêu chu kỳ tiếp theo?

Mỹ đã bơm hàng nghìn tỷ USD để ngăn chặn nền kinh tế sụp đổ trong cuộc khủng hoảng y tế vì đại dịch Covid-19. Quốc gia này cũng lên kế hoạch tăng chi tiêu vào hạ tầng để xây dựng lại hệ thống cầu đường và lưới điện, những dự án cần một khối lượng vật liệu, như thép và xi măng, khổng lồ.

Hậu đại dịch, các quốc gia lớn khác tại châu Âu và khu vực khác có thể cũng đổ tiền vào cuộc chuyển đổi năng lượng, từ chuyển sang dùng điện tái tạo, xe điện tới mọi thứ cần thiết để loại bỏ dần nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm. Điều này có nghĩa là họ sẽ cần nhiều đồng hơn để sản xuất xe điện và trạm sạc điện, cùng với các vật liệu khác để làm cuộc cách mạng điện như lithium, cobalt, nickel, than chì và đặc biệt là đất hiếm, thứ cần cho các sản phẩm công nghệ cao và pin.

Dấu hiệu là gì?

Đầu năm 2021, giá nhiều hàng hóa bùng nổ và có một số dự báo cho rằng chúng sẽ tiếp tục tăng mạnh.

Giá đồng vượt 10.000 USD/tấn trong tháng 4 và Trafigura Group, nhà kinh doanh đồng hàng đầu thế giới, dự đoán giá có thể chạm 15.000 USD/tấn trong thập kỷ tới.

Giá đậu tương và ngô cũng lên cao nhất trong nhiều năm qua do nhu cầu tăng mạnh ở Trung Quốc khi quốc gia này tái đàn lợn. Làn sóng xây dựng mạnh mẽ gây bất ngờ cho các nhà máy cưa ở Bắc Mỹ khi đẩy giá gỗ xẻ lên kỷ lục.

Giá vận chuyển cũng tăng mạnh với Chỉ số Drewry World Container ngày 27/5 cho thấy cước phí vận chuyển một container 40 ft từ Thượng Hải, Trung Quốc, đến Rotterdam, Hà Lan, tăng lên 10.174 USD, tăng 3,1% so với một tuần trước đó và 485% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức cao nhất kể từ khi bắt đầu ghi nhận năm 2011. Giá dầu cũng phục hồi trước dấu hiệu cho thấy mọi người bắt đầu lái xe nhiều hơn.

Sẽ kéo dài bao lâu?

Giá kim loại cao là quyết định của các công ty khai khoáng lớn trên thế giới cách đây nửa thập kỷ nhằm ngừng bơm nguồn cung khổng lồ vào thị trường thế giới và tập trung cải thiện khả năng sinh lời. Giờ đây, việc mở rộng các mỏ mới sẽ mất nhiều thời gian ngay cả khi Trafigura ước tính thế giới cần thêm 10 triệu tấn đồng mỗi năm tới năm 2030.

Việc Trung Quốc kiểm soát khí thải cũng có thể tác động đến giá, với các nhà sản xuất thép đang chịu áp lực lớn trong việc hạn chế sản lượng. Có dấu hiệu cho thấy Trung Quốc, quốc gia tiêu thụ một nửa sản lượng kim loại toàn cầu, đang tích trữ nguyên liệu thô.

Trong số những chuyên gia lạc quan, nhóm phân tích tại JPMorgan Chase & Co dự đoán đà tăng giá của thị trường hàng hóa sẽ làm nên thời kỳ phục hồi kinh tế bùng nổ hậu đại dịch. Một số người khác lại cho rằng đợt tăng giá đột biến này có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn do người tiêu dùng tập trung nhiều hơn vào dịch vụ, giảm bớt nhu cầu vào những mặt hàng thâm dụng như điện tử và thiết bị gia dụng.

Tại sao siêu chu kỳ lại quan trọng?

Một mặt, siêu chu kỳ có thể thúc đẩy lạm phát. Tức là giá hàng hóa tăng có nguy cơ đẩy giá thực phẩm, từ lát sandwich tới tòa nhà chọc trời, lên cao. Thật vậy, năm 2021 đã gây ra một cuộc tranh luận về khả năng các ngân hàng trung ương có thể phải giảm các biện pháp hỗ trợ kinh tế, một ý tưởng đã làm chao đảo thị trường tài chính.

Tuy nhiên, giá hàng hóa bùng nổ có thể gây ra những hậu quả to lớn đối với sự tác động qua lại lẫn nhau giữa tiền và quyền lực. Cuốn sách “The World for Sale” từng nhận định cần phải hiểu cách dầu mỏ và kim loại làm giàu cho những quốc gia có nguồn tài nguyên phong phú như Australia, Brazil, Chile, Arab Saudi và Nigeria, cũng như việc dòng tiền chảy từ thị trường vào túi của các ông trùm và quan chức tham nhũng ra sao.

Những siêu chu kỳ như vậy có thể tác động đến chiến tranh, tranh chấp biến giới và thay đổi tiến trình lịch sử.

Thanh Long (Theo Bloomberg) / NDH

Cảnh giác cú sốc lạm phát


Không thể chủ quan trước nguy cơ lạm phát ngóc đầu dậy trong năm nay, gây bất ổn cho đà phục hồi của nền kinh tế và đời sống người dân.

Giá cả nhiều loại hàng hóa phục vụ cho sản xuất kinh doanh và đời sống sinh hoạt của người dân đang tăng khá mạnh từ đầu năm đến nay. 

Ảnh: hl.co.uk

Cụ thể giá sắt thép, xi măng đã tăng 35 – 40%, bắp, đậu, cám gạo tăng mạnh 20 – 70%. Bên cạnh đó, giá các loại vật liệu thiết yếu như xăng dầu, điện, nước hay giá bất động sản, chi phí vận chuyển container cũng đồng loạt tăng theo, gây nguy cơ lạm phát trên diện rộng rất khó kiểm soát trong phần còn lại của năm.

Doanh nghiệp khóc ròng 
vì chi phí

Thép và các loại vật liệu xây dựng khác đang là nỗi lo lớn nhất của các nhà thầu xây dựng và doanh nghiệp phát triển bất động sản hiện nay. Theo ông Lê Hoàng Châu, chủ tịch Hiệp hội Bất động sản TP.HCM, trong chi phí xây dựng thì chi phí vật liệu chiếm khoảng 60%. 

Do đó, khi giá vật liệu xây dựng tăng thì giá bất động sản đương nhiên sẽ tăng theo. Điều này có thể ảnh hưởng đến ngân sách mua nhà của người dân.

Các nhà thầu xây dựng đang đối mặt với nguy cơ thua lỗ nếu triển khai các hợp đồng thi công đã chốt giá trước đó với khách. 

Đơn cử như trong quý 1-2021, Công ty xây dựng Hưng Thịnh Incons ghi nhận doanh thu tăng lên 1.160 tỉ đồng, nhưng lợi nhuận gộp giảm mạnh chỉ còn 103 tỉ đồng, do biên lợi nhuận rớt 22,1% xuống chỉ còn 8,9%. Sau khi trừ đi tất cả chi phí, lãi trước thuế của công ty giảm tới 58%, xuống mức 48 tỉ đồng.

Theo Hiệp hội Nhà thầu xây dựng Việt Nam (VACC), các nhà thầu xây dựng cả nước đang đứng trước nguy cơ vỡ trận, phá sản do giá thép tăng phi mã từ đầu năm đến nay. 

Còn Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) dự báo giá thép có thể tăng đến tận hết quý 3-2021 khi nhìn vào những gì đang diễn ra ở Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, EU và nhiều thị trường lớn khác.

Ở ngành chăn nuôi, áp lực tăng giá cũng đang lớn dần không kém. Giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm trong nước đã tăng trung bình 5 – 6 đợt với mức tăng 200 – 300 đồng/kg/lần.

Tổng mức tăng chung là 10 – 15%. Trong sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp, giá nguyên liệu thông thường chiếm khoảng 80 – 85% so với giá thành sản xuất. 

Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến mùa vụ chăn nuôi mới của các hộ nông dân và kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp chế biến trong ngành.

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4 giảm 0,04% so với tháng trước. Tuy nhiên nếu so với tháng 12-2020 và cùng kỳ năm ngoái, CPI lại tăng lần lượt 1,27% và 2,7%.

“Như vậy, chỉ số CPI tính theo năm của tháng 4 đã tiếp tục đà tăng từ tháng trước đó. Mặc dù chỉ số CPI trung bình 4 tháng đầu năm hiện tại vẫn đang ở mức thấp, chúng tôi cho rằng chỉ số sẽ tăng mạnh hơn trong những tháng tiếp theo và là yếu tố cần theo dõi sát trong năm nay”, chứng khoán BVSC cảnh báo.

Hệ quả của chính sách 
bơm tiền

Không chỉ có Việt Nam, thế giới cũng đang cẩn trọng trước nguy cơ lạm phát. Ngay tại Mỹ, lãi suất thực của thị trường trái phiếu đã giảm xuống mức thấp kỷ lục vì giới đầu tư lo ngại lạm phát tăng mạnh trong các năm tới do các gói kích thích khổng lồ mà Chính phủ Mỹ và cả thế giới đang triển khai rầm rộ. 

Theo tờ Wall Street Journal, các ngân hàng trung ương, dẫn đầu là Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), hiện ít lo lắng về lạm phát.

Kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, các nhà hoạch định chính sách đã lo rằng lạm phát mãi ì ạch ở dưới, chứ không phải trên mức mục tiêu. 

Tuy nhiên phải gần đây, họ mới có những động thái dứt khoát để tạm gạt mục tiêu lạm phát sang một bên. FED áp dụng chỉ tiêu mới mềm mỏng hơn gọi là mục tiêu lạm phát trung bình 2%, có nghĩa là lạm phát có thể vượt quá 2% trong vài năm để bù đắp cho sự ì ạch suốt cả thập kỷ vừa qua.

Dưới thời Janet Yellen (giờ là bộ trưởng tài chính Mỹ) và cả chủ tịch FED hiện nay là Jerome Powell, FED đều nhấn mạnh điều trước đây được coi là mục tiêu thứ cấp: trạng thái toàn dụng lao động. 

Bên cạnh đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu hay Nhật đều thống nhất sẽ tiếp tục chương trình nới lỏng định lượng, kích thích kinh tế cho tới khi dịch COVID-19 được kiểm soát hoàn toàn. 

Điều này có nghĩa có thể phải tới sớm nhất là năm 2022, các ngân hàng trung ương mới cân nhắc khả năng tăng lãi suất và đưa thị trường tài chính quay về trạng thái bình thường.

Tương tự như những năm 2011 – 2012, các quốc gia đồng loạt gia tăng kích thích kinh tế, bơm một lượng tiền khổng lồ vào nền kinh tế thì giá cả hàng hóa, từ dầu mỏ, đậu nành, ngô, ngũ cốc, bột mì đến các loại khoáng sản như quặng sắt, than… đều tăng chóng mặt.

Nhu cầu chi tiêu và đầu tư gia tăng đột biến sau đại dịch tại Trung Quốc cũng là động lực đẩy mặt bằng giá lên cao.

Trong đánh giá mới nhất, Ngân hàng JPMorgan Chase cho rằng giá hàng hóa sẽ tiếp tục tăng và các giao dịch đặt cược vào việc tái mở cửa và nền kinh tế phục hồi sẽ tiếp tục sôi nổi, trong khi Ngân hàng UBS dự báo giá hàng hóa sẽ tăng khoảng 10% trong năm tới.

Là một quốc gia có độ mở kinh tế lớn, Việt Nam khó tránh khỏi nguy cơ một cú sốc giá cả. Đặc biệt với khả năng bất ổn do làn sóng lây nhiễm thứ tư gây ra. 

Theo chứng khoán Vndirect, tình hình dịch COVID-19 trong khu vực Đông Nam Á diễn biến khó lường. Nếu dịch bùng phát trở lại sẽ ảnh hưởng lớn đến đà phục hồi kinh tế. 

Cũng theo Vndirect, lạm phát dự báo tăng mạnh trong quý 2-2021 do giá xăng dầu tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Trước thách thức lạm phát, Ngân hàng Nhà nước sẽ phải thận trọng hơn trong việc nới lỏng thêm chính sách tiền tệ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Bên cạnh lạm phát, nền kinh tế có thể còn đối mặt với nguy cơ đình đốn, do các biệt pháp phong tỏa, giãn cách xã hội quyết liệt vì đợt dịch lần này có dấu hiệu lan rộng quá nhanh trên khắp cả nước.

Các nhà đầu tư cần bình tĩnh hơn và nên chuẩn bị sẵn một kịch bản đối phó phù hợp nhất. Ông Hiếu Đỗ, phó chủ tịch cao cấp của Quỹ Vina Capital, cho rằng lựa chọn triển khai “cash-out” (bán tài sản lấy tiền mặt) vào thời điểm này có thể là quyết định tồi vì lạm phát sẽ nhấn chìm giá trị tiền mặt. 

Lời khuyên cho các doanh nghiệp và giới đầu tư là nên giảm đòn bẩy tài chính, cô lập các nguy cơ rủi ro và tăng thanh khoản, tức giảm dần thu nhập đầu cơ và thay vào đó lựa chọn những tài sản có sinh ra dòng tiền.

NAM MINH / TTCT

Thị trường chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn


Khi kinh tế và chứng khoán “đường tình đôi ngả”

“Tôi chưa bao giờ thấy thị trường cổ phiếu và nền kinh tế xa cách nhau như lần này”, Mohamed El Erian, cố vấn kinh tế trưởng của Tập đoàn Allianz và chủ tịch Trường Queens’ College thuộc Đại học Cambridge, nhận định khi trả lời phỏng vấn CNBC đầu năm 2021. Ông là một trong những kinh tế gia có ảnh hưởng và nhận xét chính xác nhất về diễn biến kinh tế thế giới năm 2020 mà tôi biết.

Hình minh hoạ thị trường chứng khoán

Kinh tế toàn cầu trải qua một năm 2020 đầy mất mát. Bản đồ tăng trưởng của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) toàn màu đỏ: ở châu Á, số nền kinh tế không rơi vào suy thoái chỉ đếm trên đầu ngón tay – mà đây là khu vực lâu nay được coi là có tốc độ tăng trưởng hàng đầu thế giới. Việt Nam may mắn là một trong số đó, nhưng mức tăng trưởng cũng chỉ là 2,91%, kém rất xa mức bình quân tính từ 2010.

Kinh tế xấu – chứng khoán 
lại tăng

Con số tăng trưởng kinh tế dương này làm lu mờ phần nào những khó khăn thật của nền kinh tế. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến tháng 9-2020, cả nước có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch COVID-19, bao gồm người bị mất việc làm, phải nghỉ giãn việc/nghỉ luân phiên, giảm giờ làm, giảm thu nhập. Nghĩa là tính gần đúng thì cứ 3 người dân, có một người giảm thu nhập do dịch bệnh. Khu vực dịch vụ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất: gần 70% lao động bị ảnh hưởng.

Thống kê số doanh nghiệp thành lập mới (giảm 2,3%) và ngừng hoạt động (tăng gần 14%) trong năm 2020 cho thấy một khó khăn khác. Bù trừ cho nhau, các con số đó đồng nghĩa trung bình mỗi tháng có gần 8.500 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường, đi kèm là rất nhiều công ăn việc làm mất đi. Doanh nghiệp dừng hoạt động hàng loạt thì nợ xấu của ngân hàng cũng tăng lên, dù chưa mạnh – đã vượt mức 2% từ cuối quý 3. 

Mức này chưa nguy hiểm, nhưng cũng không còn tốt như đầu năm. Thật ra, tỉ lệ nợ xấu thấp này được hỗ trợ không ít bởi thông tư 01/2020, vốn có các điều kiện ràng buộc còn lỏng lẻo với ngân hàng. Theo báo cáo của FiinGroup, nếu không có thông tư 01 về cơ cấu lại nợ, tỉ lệ nợ xấu và tỉ lệ tạo mới nợ xấu trong năm 2020 sẽ ở mức cao hơn đáng kể.

Trong bức tranh kinh tế nhiều điểm tối như vậy, việc thị trường chứng khoán tăng mạnh kể từ đáy tháng 4-2020 là đáng ngạc nhiên. Vào khoảng tháng 2-2020, hầu hết dân đầu tư cổ phiếu mà tôi nói chuyện đều bày tỏ năm nay chỉ hi vọng không lỗ là được. Cần nhớ lại không lâu trước đó, năm 2019 khép lại với mức tăng trưởng chưa tới 8% của VN-Index và 3% của VN30 Index. Có người đùa là mua cổ phiếu tệ hơn gửi tiết kiệm ngân hàng.

Vậy mà đến cuối 2020, bất kể nhà đầu tư ở thị trường nào, từ Mỹ, Anh, Úc, cho tới VN, ai ai cũng nói với tôi là họ rất hài lòng với thành quả đầu tư của mình. Nhiều phương tiện truyền thông hình dung năm 2020 là năm thăng hoa của chứng khoán Việt. Một trong những đặc thù đáng chú ý là sự gia tăng vai trò của dòng tiền từ các nhà đầu tư nội địa. 

Điều này cũng tương tự xu thế ở nhiều nước khác, khi nhà đầu tư cá nhân trở thành lực lượng năng động nhất trên thị trường giai đoạn tháng 3 đến tháng 8-2020.

Giá của “tiền rẻ”

Với đa số giới phân tích tài chính, nguyên nhân chỉ có hai chữ: “tiền rẻ”. Ngân hàng trung ương nhiều nước trên thế giới đang kéo lãi suất xuống thấp đến mức không thể thấp hơn và bơm vào thị trường tài chính một lượng tiền cực lớn, ước tính sơ bộ gần 8.000 tỉ đôla. 

“Đóng góp” lớn nhất trong đó là Mỹ, khoảng 3.000 tỉ đôla, khiến bảng cân đối tài sản của Cục Dự trữ liên bang (FED) tăng từ 4.000 tỉ lên trên 7.000 tỉ đôla. FED bơm tiền bằng cách mua lại trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty Mỹ, đẩy lãi suất ngắn và trung hạn ở Mỹ về gần 0% và lãi suất dài hạn 10 năm về chỉ còn 1%.

Lãi suất quá thấp là nguyên nhân chính đẩy giá đủ loại tài sản, bao gồm bất động sản và cổ phiếu. Trong dịch COVID-19, giá nhà ở Anh và Mỹ đều tăng mạnh, vì các khoản vay mua nhà đang có lãi suất thấp kỷ lục. Tương tự, do các tài sản tài chính thay thế như gửi tiết kiệm, trái phiếu chính phủ có mức lãi suất chỉ trên 0% một chút, thậm chí âm (nếu mua trái phiếu châu Âu), các nhà tư vấn tài chính đành khuyên khách hàng mua cổ phiếu, nhất là các cổ phiếu công nghệ. 

Bất chấp suy thoái kinh tế, giá một số cổ phiếu công nghệ của Mỹ tăng 5-10 lần, khiến Elon Musk trở thành người giàu nhất thế giới và nhiều người mua cổ phiếu công nghệ của Mỹ trở thành triệu phú sau năm khốn khó với đại đa số dân chúng vừa qua.

Mỉa mai thay, trong khi Ngân hàng Thế giới (WB) công bố 2020 là năm mà hàng chục triệu người sẽ phải quay về sống dưới mức nghèo khổ, thì thị trường chứng khoán thế giới lại tạo ra một lượng lớn triệu phú mới.

Ở VN, lãi suất cũng bị giảm thấp như ở nhiều nước, do đó nhiều người đã rút tiền tiết kiệm để mua cổ phiếu. Ngoài ra, còn một lượng lớn nhà đầu tư chuyển vốn từ bất động sản vào chứng khoán, đẩy giá cổ phiếu càng tăng mạnh. Một trải nghiệm cá nhân: năm qua, nhiều người quen vốn rất thành đạt trong lĩnh vực bất động sản đã hỏi tôi cách “chơi cổ phiếu” với số tiền bỏ vào không nhiều tỉ đồng mỗi người.

Bi hài “nhà đầu tư F0”

Giới kinh doanh cổ phiếu trong năm qua kháo nhau vài câu chuyện buồn cười về các nhà đầu tư mới tham gia thị trường kiểu này, thường được gọi là các “nhà đầu tư F0”.

Ở VN, do có nhiều nhà đầu tư mới tham gia thị trường, mà thị trường có nhiều mã cổ phiếu giông giống nhau, nên có người được tư vấn mua cổ phiếu VIC (Tập đoàn Vingroup) lại đi mua VCI (Công ty chứng khoán Bản Việt), mua lầm, nhưng rốt cuộc VCI lại lời hơn VIC rất nhiều!

Trên thế giới thì vào khoảng tháng 3, do nhiều người đổi sang dùng dịch vụ hội thoại trực tuyến Zoom của Công ty Zoom Video Communications (mã cổ phiếu ZM), nhiều nhà đầu tư nhỏ lẻ đổ vào mua cổ phiếu của công ty… Zoom Technologies (ZTNO) – vốn chẳng “lan quyên” gì với ZM cả. Vậy mà ZTNO cũng tăng được từ gần 2 đôla lên hơn 20 đôla, rồi khi thông tin “cải chính” đã loan đi rộng rãi, lại rớt xuống còn… 0,2 đôla! (ZM thì đã tăng 4 lần so với đáy tháng 3-2020).

Gần đây lại thêm một vụ tương tự: ông Musk, giờ đã là người giàu nhất thế giới, đăng dòng trạng thái “Sử dụng Signal” trên Twitter, nhiều người lập tức đổ vào mua cổ phiếu Signal Advance. Sau đó nhiều người mới biết té ra Signal là ứng dụng tin nhắn được mã hóa do một tổ chức phi lợi nhuận phát triển, chứ chẳng dính líu gì tới công ty niêm yết Signal Advance cả! Tờ Financial Times đăng hình cổ phiếu Signal Advance tăng… 4.600% kèm bình luận mỉa mai: thị trường “hoàn toàn bình thường”.

Nhưng những chuyện tiếu lâm đó còn che giấu những bi kịch. Năm 2020, một bạn trẻ 20 tuổi ở Mỹ đầu tư quyền chọn (option) qua Robinhood. Vì là “tay chơi mới”, không biết cách đọc và tính toán lời lỗ của quyền chọn, nên bạn ấy bị lỗ nhẹ, nhưng cũng do không biết, lại tưởng mình lỗ hơn 700.000 đôla. Quá hoảng sợ, nhà đầu tư đó đã tự tử! Trong những dòng di thư căm phẫn để lại, bạn trẻ đấy nói không biết mình đang làm gì.

Tình trạng “đường tình đôi ngả” của nền kinh tế thực so với thị trường cổ phiếu, cũng như những câu chuyện về giới đầu tư F0 như thế đặt ra nhiều vấn đề đáng suy ngẫm.

Đó là việc hàng chục triệu người bị ảnh hưởng tiêu cực, giảm thu nhập, thất nghiệp, trong khi hàng trăm ngàn người kiếm được nhiều tiền chỉ nhờ “tiền rẻ”, lãi suất thấp qua hoạt động đầu cơ tài sản tài chính, cụ thể là cổ phiếu. Dịch COVID-19 sẽ khiến khoảng cách giàu nghèo càng lớn thêm. Tiền mà chính quyền tưởng là đi vào hỗ trợ nền kinh tế thật ra chạy lòng vòng trong hệ thống tài chính, và chỉ làm giàu cho một số ít người. Bong bóng tài sản hình thành, còn kinh tế vẫn khó khăn, thất nghiệp vẫn hoàn thất nghiệp.

Mặt khác, khi chứng khoán tăng điểm nhờ tiền rẻ, nó còn gây ra nguy cơ “nghiện tiền rẻ” – vòng xoáy xuống đáy mà chỉ cần một động thái thắt chặt quy định về các kênh hỗ trợ tài chính – chẳng hạn như sửa đổi thông tư 01 – thị trường sẽ “hồi hộp” ngay.

Trong bối cảnh dịch bệnh, các ngân hàng thương mại vẫn phải giữ lãi suất thấp, thậm chí là “hi sinh” để giảm lãi suất hơn nữa, như chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước gần đây. Như vậy thì tiền sẽ vẫn rẻ, và bong bóng cổ phiếu còn có thể phình to. Đến khi tiền bị rút về, lãi suất bắt đầu tăng, sự tháo chạy của “dòng tiền F0” có thể gây ra hoảng loạn. 

Lúc đó, nhiều người sẽ mất tiền, thậm chí là mất trắng – nhất là những người tham gia ở đỉnh của cơn sóng hiện nay, cũng là những người ít hiểu biết về thị trường nhất và bị thu hút vào chơi cổ phiếu do thấy ai cũng đang “khoe giàu” nhờ chứng khoán. Thiết kế chính sách do đó phải nhắm vào khôi phục nền kinh tế thực, hướng dòng tiền vào nơi cần nhất, cụ thể là các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang rất thiếu vốn, cơ sở hạ tầng, lĩnh vực sản xuất… thay vì để tiền rẻ chỉ đem lại lợi ích cho giới đầu tư và đầu cơ tài chính.

HỒ QUỐC TUẤN / Theo TTCT


VN-Index gần ngưỡng kỷ lục:

Những gam màu lẫn lộn

Thị trường chứng khoán đang bùng nổ bất ngờ khi VN-Index ngấp nghé vượt đỉnh cũ. Nhưng chỉ số càng tăng, không ít nỗi lo càng lớn.

Chứng khoán Việt Nam những ngày đầu năm tăng liên tiếp, tiến sát 1.200 điểm – cột mốc mà không mấy chuyên gia dự đoán cách đây chưa lâu. Thanh khoản toàn thị trường cũng tăng vọt: chỉ trong tuần đầu tiên của năm, hơn 1,07 tỉ cổ phiếu, tương ứng giá trị giao dịch hơn 21.350 tỉ đồng, đã đổi chủ.

Không khí hưng phấn

Dòng tiền đang đổ rất mạnh vào thị trường đặc biệt đến từ khối nội. Thống kê của Ủy ban Chứng khoán nhà nước cho thấy trong năm 2020, nhà đầu tư trong nước mở mới hơn 390.000 tài khoản chứng khoán – mức kỷ lục từ trước tới nay và tăng đến 109% so với năm trước.

VN-Index đang hưởng lợi từ môi trường lãi suất thấp mà Ngân hàng Nhà nước áp dụng để hỗ trợ nền kinh tế vượt đại dịch. Lãi suất kỳ hạn một năm đã giảm mạnh từ 8% xuống chỉ còn 6%. Theo nhận định của chứng khoán Rồng Việt, trong các tháng tới, dòng tiền dự kiến vẫn tiếp tục đổ mạnh vào chứng khoán bởi “lãi suất cho vay và tiền gửi tiết kiệm có thể tiếp tục giữ ở mức thấp do doanh nghiệp vẫn cần ít nhất 1-2 năm để hồi phục. Các ngành hưởng lợi là những lĩnh vực có sử dụng đòn bẩy tài chính cao”.

Các chỉ số vĩ mô góp phần làm tăng sức nóng thị trường, bao gồm triển vọng kinh tế phục hồi sáng sủa. Thống kê chính thức cho thấy tỉ lệ thất nghiệp giảm xuống 2,5% sau mức cao nhất vào tháng 6 là 2,7%. Tốc độ tăng trưởng tiêu dùng và tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ cũng khả quan hơn và được dự báo tăng vào năm 2021. 

Là quốc gia kiềm chế COVID-19 hiệu quả, VN trở thành một điểm đến của giới đầu tư quốc tế. Một sự so sánh là Trung Quốc: dòng tiền FII (tiền đầu tư nước ngoài từ các định chế tài chính) đổ vào quốc gia này tăng mạnh 25% trong năm 2020 ngay sau khi Trung Quốc kiểm soát được đại dịch. Sự tăng giá của đồng nhân dân tệ cũng giúp hàng hóa xuất khẩu của VN cạnh tranh hơn.

Nguy cơ bong bóng

Nhưng trên bức tranh đa sắc, vẫn có những gam màu xám. Không ít lo ngại xuất hiện khi VN-Index tăng quá nhanh trong bối cảnh triển vọng phục hồi của nền kinh tế vẫn chỉ là dự báo.

Vina Capital nhận định có tình trạng dòng tiền nóng rót quá nhiều vào chứng khoán và bất động sản, thay vì nền kinh tế thực. Số lượng tài khoản chứng khoán mở mới tăng vọt phản ánh giấc mơ của nhiều người dân – những nhà đầu tư đơn lẻ – trong việc tìm kiếm lợi nhuận cao hơn khi kênh gửi tiết kiệm ngân hàng không còn hấp dẫn. Một khi nhiều người tham gia hơn, khuynh hướng đầu cơ cũng sẽ được đẩy lên cao.

Những lúc hưng phấn thế này cũng chính là khi phải nhắc lại các bài học sụp đổ trong quá khứ. Theo chứng khoán Rồng Việt, hành vi bầy đàn (herd behavior) thường xuất hiện khi con người làm theo người khác thay vì đưa ra các quyết định thật sự độc lập và duy lý. 

Trong lĩnh vực tài chính, hành vi này dễ dẫn đến lựa chọn bất hợp lý, không dựa trên tính toán thực tế và tạo ra bong bóng tài sản. Mặt bằng lãi suất thấp cũng khiến chi phí sử dụng vốn giảm, đồng nghĩa các loại cổ phiếu thường được định giá ở mức cao hơn giá trị nội tại (intrinsic value), một cạm bẫy rất nguy hiểm với nhà đầu tư cá nhân.

Thông tin vĩ mô cũng không chỉ toàn màu hồng. Thực tế là năm 2021 này, VN vẫn phải đối mặt hai thách thức lớn hiển hiện: rủi ro bị Mỹ áp thuế hàng xuất khẩu và nguy cơ nợ xấu của hệ thống ngân hàng tăng mạnh. Đó là chưa kể rủi ro tái bùng phát COVID-19.

Hiện Ngân hàng Nhà nước đang có ý định sửa đổi thông tư 01/2020 có hiệu lực ngay đầu năm nay nhằm đảm bảo sự an toàn và lành mạnh của nền tài chính quốc gia trong trung hạn. Theo đó, hệ thống ngân hàng có thể bị buộc phải xác định lại hợp lý hơn cơ cấu lãi, thời điểm, thời gian, đối tượng của các khoản cho vay, và xác định những khoản trích lập dự phòng để đảm bảo an toàn khi xảy ra tình huống không mong đợi.

Nếu thông tư được sửa đổi theo hướng đó, báo cáo lợi nhuận của các ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng đáng kể, thậm chí có thể chuyển từ dương sang âm ở một số ngân hàng nhỏ. “Tuy tin tưởng vào triển vọng phục hồi của nền kinh tế cũng như khả năng chính phủ không muốn lặp lại bài học khủng hoảng nợ xấu giai đoạn 2011-2012, nhưng chúng tôi cho rằng giới phân tích thường đánh giá thấp rủi ro thực tế của nợ xấu với quy mô có thể tăng mạnh từ 2-3% trước đại dịch lên tới 8-10% vào cuối 2021 trong tình huống tệ nhất”, Vina Capial cảnh báo.

Năm 2020, các nhóm ngành tăng trưởng mạnh nhất là tài chính – ngân hàng, bất động sản, trong khi nhóm cổ phiếu năng lượng, du lịch, và hàng không chịu áp lực bán mạnh nhất. Xu thế đó có thể sẽ tiếp tục trong năm nay.

NAM MINH / Theo TTCT


Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn

Theo số liệu từ Bloomberg, 2 phiên điều chỉnh mạnh vừa qua đã giúp định giá P/E của VN-Index “hạ nhiệt”, chỉ còn khoảng 18,9, trong khi vào cuối tuần giao dịch trước, P/E VN-Index lên tới xấp xỉ 20. Thời gian tới khi các doanh nghiệp công bố KQKD quý 4 sẽ giúp P/E thị trường tiếp tục giảm xuống bởi lợi nhuận quý 4 được kỳ vọng tiếp tục tăng trưởng.
Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn
chứng khoán Việt Nam bất ngờ giảm sâu trong phiên giao dịch 19/1

Trái với diễn biến tích cực của nhiều thị trường Châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore…chứng khoán Việt Nam bất ngờ giảm sâu trong phiên giao dịch 19/1. Có thời điểm chỉ số VN-Index mất tới 74,71 điểm (-6,27%), mức giảm kỷ lục từ trước tới nay. Tuy vậy, lực cầu giá cao tăng lên trong phiên chiều đã giúp các chỉ số thu hẹp đà rơi và VN-Index đóng cửa chỉ còn giảm 60,94 điểm (-5,11%) xuống 1.131 điểm.

Mức giảm 5,11% trong phiên giao dịch đã đưa VN-Index trở thành thị trường có biến động “tệ” nhất Châu Á trong phiên 19/1. Vốn hóa sàn HoSE sau phiên 19/1 cũng bị “thổi bay” hơn 225 nghìn tỷ đồng (~9,7 tỷ USD).

Dù thị trường vừa trải qua phiên điều chỉnh mạnh, khiến nhiều nhà đầu tư “F0” e sợ nhưng theo nhiều chuyên gia lâu năm thì đây là điều cần thiết để giúp thị trường bền vững hơn khi đã tăng khá “nóng” trong những tháng qua.

Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn - Ảnh 1.
P/E VN-Index đã “hạ nhiệt” sau 2 phiên điều chỉnh liên tiếp

Trong 5 năm qua, đỉnh P/E của VN-Index vào khoảng 22 và đây cũng là lúc VN-Index lập đỉnh 1.200 điểm vào đầu tháng 4/2018. Với P/E hiện chưa tới 19 lần, có thể nói định giá thị trường hiện chưa phải quá cao so với lịch sử.

Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn - Ảnh 2.
P/E các TTCK Châu Á cao vượt trội so với Việt Nam

Không chỉ có định giá thấp so với quá khứ, TTCK Việt Nam cũng đang có định giá hấp dẫn hơn các quốc gia khu vực khi P/E TTCK Thái Lan hiện lên tới 26.x, P/E Philippines 28.7 hay P/E TTCK Indonesia gần 30. Trong khi đó, tăng trưởng của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp Việt Nam được dự báo vượt trội so với các quốc gia trong khu vực. Khảo sát các Công ty chứng khoán cho biết tăng trưởng lợi nhuận năm 2021 của các doanh nghiệp niêm yết sẽ ở mức trên 20%.

Bên cạnh yếu tố định giá hấp dẫn, TTCK Việt Nam cũng đang được kỳ vọng đón dòng vốn ngoại trở lại sau khi đã bán ròng mạnh trong năm 2020. Việc được nâng tỷ trọng lớn nhất trong rổ Frontier Markets (cận biên), cùng với kỳ vọng nâng hạng thị trường mới nổi (Emerging Markets) hay các yếu tố vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế, kiểm soát dịch bệnh hàng đầu khu vực được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam trở thành tâm điểm thu hút đầu tư trong thời gian tới. Trên thực tế, dòng vốn ETFs đang đổ mạnh vào TTCK Việt Nam trong những ngày đầu năm mới. Tính riêng tuần giao dịch 11-15/1 có tới gần 1.000 tỷ đồng đổ vào thị trường thông qua các quỹ ETFs.

Thị trường bất ngờ giảm sâu, định giá chứng khoán Việt Nam trở nên hấp dẫn - Ảnh 3.
Dòng vốn ETFs đang đổ mạnh vào TTCK Việt Nam trong những ngày đầu năm 2021

Báo cáo cập nhật nhanh diễn biến thị trường của CTCK MBS cho biết diễn biến giảm nhanh và mạnh thường sẽ không kéo dài mà chỉ trong 1-2 phiên giao dịch. Các cổ phiếu bị bán sàn sẽ sớm phục hồi ngay sau khi giao dịch ổn định trở lại. MBS cho rằng nhà đầu tư có thể xem xét mua tại các vùng hỗ trợ dự kiến từ 1.033 – 1.064 điểm.

Minh Anh / Theo Doanh Nghiệp & Tiếp Thị

Covid-19 – ‘Cỗ máy thời gian’ đưa kinh doanh đến tương lai


Đại dịch đã buộc người Mỹ chuyển từ thế giới vật chất lên kỹ thuật số chỉ trong vài tháng. Khi các nhà bán lẻ học cách vận hành mà không có cửa hàng, những người thường xuyên đi công tác nay không có máy bay và nhân viên không có văn phòng, phần lớn những thứ khởi đầu chỉ là giải pháp tạm thời thì nay có khả năng trở thành vĩnh viễn.

“Covid đã hoạt động như một cỗ máy thời gian. Nó đưa năm 2030 đến với chúng ta trong năm 2020”, Loren Padelford – Phó chủ tịch của Shopify bình luận. Số người bán sử dụng nền tảng thương mại điện tử của công ty này đã tăng hơn 20% trong nửa đầu năm, lên 1,4 triệu.

Tác động của đại dịch phản ánh ở mọi ngóc ngách cuộc sống, từ thị trường chứng khoán, các mô hình chi tiêu của công ty, cho đến sự suy giảm của tiền giấy. Các nhà đầu tư năm 2020 chuộng công ty có mô hình kinh doanh sử dụng nhiều tài sản kỹ thuật số, như Carvana – hãng bán ôtô cũ online, Amazon hay các công ty cung cấp cơ sở hạ tầng số như Shopify, Zoom và Microsoft.Covid -19 đã quét sạch những con phố thường xuyên đông đúc của Manhattan. Ảnh: Reuters.

Covid -19 đã quét sạch những con phố thường xuyên đông đúc của Manhattan. Ảnh: Reuters.

Theo nhiều phương diện, số hóa đơn giản là chương tiếp theo của quá trình đã diễn ra suốt một thế kỷ qua: phi vật chất hóa nền kinh tế. Khi nông nghiệp nhường chỗ cho sản xuất và sau đó là dịch vụ, tỷ trọng giá trị kinh tế thu được từ vật chất hữu hình và lao động tay chân bị thu hẹp. Trong khi đó, tỷ trọng thu được từ thông tin và chất xám tăng lên.

Cuộc ‘số hóa’ vĩ đại

Dù vậy, đại dịch không phải là tác động duy nhất. Biến đổi khí hậu buộc chúng ta phải thay thế nhiên liệu hóa thạch bằng năng lượng tái tạo. Năng lượng mặt trời và năng lượng gió không cần đến nhiên liệu, bồn chứa, đường ống, tàu hỏa hoặc tàu chở dầu. Đại dịch chỉ đẩy nhanh sự dịch chuyển bằng cách giảm đầu tư vào nhiên liệu hóa thạch.

Nhưng động lực chủ đạo là công nghệ thông tin. Joel Mokyr, một nhà sử học kinh tế tại Đại học Northwestern, cho biết một trong những vai trò quan trọng nhất và ít được đánh giá cao nhất của nó là số hóa.

Vào năm 1850, ông nói, “cách duy nhất để nghe nhạc là hiện diện tại một buổi hòa nhạc hoặc tự mình chơi nhạc”. Sau đó, đĩa than, CD xuất hiện và bây giờ là phát trực tuyến. Đó là những cải tiến khiến nhu cầu về sự hiện diện vật lý trong âm nhạc gần như không còn.

Trong lĩnh vực điện ảnh, đại dịch cũng tạo ra những động lực tương tự. Warner Bros phát hành đồng thời tất cả các bộ phim của mình vào năm 2021 trên dịch vụ phát trực tuyến HBO Max và tại các rạp chiếu.

Trong nhiều phòng họp, các công ty đã chuyển đổi sang làm việc từ xa bằng cách sử dụng các công cụ họp ảo như Zoom.

Trong ngành bán lẻ, một trở ngại lịch sử đối với việc áp dụng hình thức bán trực tuyến là không thể tái tạo trải nghiệm mua sắm trực tiếp. Amazon bắt đầu với sách, vì không như quần áo hay thiết bị, bạn không cần phải chạm vào quyển sách để quyết định có mua nó hay không. Nhưng giờ đây, khả năng tái tạo cũng đã cải thiện khá nhiều.

Carvana cho phép khách hàng nghiên cứu hình ảnh 360 độ về ngoại thất và nội thất của một chiếc ôtô đã qua sử dụng, đăng ký và được chấp thuận cho vay trực tuyến, sau đó vận chuyển ôtô đến tận nhà hoặc một máy bán xe tự động. Doanh số bán hàng bùng nổ trong đại dịch chứng tỏ nhiều khách hàng vẫn sẽ mua một chiếc xe cũ mà không cần lái nó trước.

Bất kỳ ai do dự khi mua kính mắt trực tuyến từ Warby Parker đều có thể thử chúng trên hình ảnh ba chiều của chính mình bằng iPhone. Hoặc với Peloton Interactive, nhiều người đam mê thể dục sẽ không quay lại phòng gym sau đại dịch.

Sự chuyển đổi từ thương mại vật lý sang ảo đi đôi với sự gia tăng của thanh toán từ xa/không tiếp xúc và sự suy giảm của tiền mặt. Đại dịch đã thúc đẩy một số cơ sở kinh doanh chuộng tiền mặt như sòng bạc áp dụng các cách ít dùng tiền mặt hơn.

Kể từ tháng 6, khoảng 30% doanh số của M. Flynn Jewelry, cửa hàng trang sức cổ ở Boston, là trực tuyến. Tỷ lệ này tăng gấp 10 so với một năm trước đó. Khách truy cập trang web của họ có thể yêu cầu nhân viên cửa hàng thử một món đồ trang sức bất kỳ.

Padelford nói rằng, trước đại dịch, nhiều công ty không muốn chuyển sang trực tuyến vì tin rằng cần rất nhiều thời gian, tiền bạc và khả năng kỹ thuật. “Thực tế thì không. Một công ty bình thường cũng có thể chuyển sang trực tuyến trong một ngày”, với chi phí chỉ từ 29 USD một tháng, ông nói.

Hiệu ứng lan tỏa

Sự gia tăng số lượng người tiêu dùng, nhà kinh doanh và thương hiệu trực tuyến tạo ra cái mà Sebastian gọi là “hiệu ứng mạng lưới”. Càng có nhiều người dùng, thì càng hấp dẫn người khác làm theo. Một phần khác đến từ việc các nhà kinh doanh và hãng cung cấp công nghệ nhanh chóng nâng cấp trải nghiệm trực tuyến kể từ khi đại dịch bắt đầu.

Tất nhiên, số hóa không làm mất đi nhu cầu về tài sản vật chất. Chỉ là năm nay, các doanh nghiệp Mỹ chi tiêu nhiều hơn cho những thứ liên quan đến hậu cần và công nghệ. Theo CBRE, diện tích kho được khách thuê lấp đầy trong 9 tháng đầu năm tương tự năm ngoái. Khối lượng vận chuyển bằng đường hàng không tăng trong năm nay, ngay cả khi lưu lượng hành khách giảm mạnh. Chi tiêu cho phần mềm và công nghệ thông tin tăng trong quý III so với một năm trước đó, nhưng hầu hết các loại chi tiêu vốn khác đều giảm.

Khi vaccine được phổ biến và nỗi sợ hãi về virus mất dần, một số xu hướng sẽ đảo ngược. Mọi người sẽ quay lại nhà hàng nhanh chóng vì khao khát hiện diện cùng nhau, cũng như các nhân viên thích nói chuyện phiếm xung quanh máy pha cà phê văn phòng.Một gia đình làm việc và học tập bên ngoài căn nhà ở Oxford, Mississippi (Mỹ). Ảnh: AP.

Một gia đình làm việc và học tập bên ngoài căn nhà ở Oxford, Mississippi (Mỹ). Ảnh: AP.

Tuy vậy, Mokyr cảnh báo việc số hóa không thể kéo dài mãi mãi. “Chúng ta có thể mô phỏng thực tại. Tuy nhiên, bản thân chúng ta không phải là những sinh vật kỹ thuật số. Quá trình tiến hóa của con người sẽ tiếp tục đòi hỏi những trải nghiệm vật lý”, ông nói.

Nhưng có lẽ, tương tác thực tế cũng sẽ không còn nhiều như trước. Trước đại dịch, khoảng 5% ngày làm việc là tại nhà, theo khảo sát với 15.000 người Mỹ do các học giả Jose Maria Barrero, Nicholas Bloom và Steven J. Davis thực hiện. Con số này đã tăng lên 50% vào tháng 11. Khi đại dịch kết thúc, những người được hỏi vẫn mong đợi ở nhà với 22% ngày làm việc của họ.

Động lực tăng tốc

98% trong tổng số 28.000 nhân viên Nationwide Mutual Insurance làm việc tại nhà khi dịch xảy ra. Động lực ban đầu là sự an toàn. Tuy nhiên, giám đốc điều hành Kirt Walker cho biết họ đã đẩy nhanh các kế hoạch đã có từ trước để dựa vào các hoạt động ảo. Trước đại dịch, khoảng 15% nhân viên làm việc tại nhà và công ty hiện có kế hoạch một nửa sẽ làm việc ở nhà vĩnh viễn.

Walker từng tổ chức các cuộc họp với nhân viên trong khán phòng tại trụ sở Columbus của công ty, có sức chứa lên đến 350 người. Giờ đây, ông thường xuyên tổ chức các buổi phát sóng toàn công ty với sự tham gia của hàng nghìn nhân viên. Họ gửi câu hỏi và bỏ phiếu xem Walker sẽ trả lời câu hỏi nào bằng cách sử dụng Slido, một ứng dụng bỏ phiếu trực tiếp vừa được Cisco mua lại.

Nationwide đang đóng cửa 17 văn phòng trên khắp đất nước, giữ lại bốn cơ sở chính, và tiết kiệm khoảng 100 triệu USD. Walker nói một số công ty coi năm 2020 là một năm thất bại. “Đối với chúng tôi, đó là một công cụ thúc đẩy và đưa mình đến gần hơn với một số mục tiêu dài hạn”, ông kết luận.

Theo VnExpress

Kinh tế thế giới khởi đầu năm 2021 trong tình trạng thế nào


Dịch bệnh Covid-19 đẩy kinh tế toàn cầu rơi vào một trong những cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất lịch sử và chúng ta vẫn chưa thể hoàn toàn chắc chắn khi nào kinh tế thế giới mới có thể hoàn toàn hồi phục.

Những bước tiến gần đây trong công tác nghiên cứu và sản xuất vaccine phần nào làm tươi sáng hơn triển vọng của nền kinh tế, nhưng một vài nhà kinh tế học chia sẻ rằng khả năng tiếp cận vaccine chậm tại các quốc gia đang phát triển có thể khiến quá trình quay trở lại với các hoạt động bình thường trước đại dịch kéo dài thêm.

Ngay tại các quốc gia phát triển, những biện pháp cách ly xã hội được áp dụng tại châu Âu nhằm ngăn chặn đà lan rộng của một đợt lây nhiễm mới đây cũng sẽ là nguyên nhân khiến quá trình phục hồi ngày thêm dài.

“Việc triển khai các loại vaccine sẽ có những tác động tích cực nhất thời nhưng phải chờ tới năm 2022”, các nhà kinh tế học Citi Group chia sẻ trong báo cáo công bố hồi đầu tháng 12/2020. Nhưng vẫn còn đó những “bước tiến triển rõ ràng” đối với nền kinh tế toàn cầu trong năm 2021, một phần là vì “việc để có một năm mới tốt hơn so với năm 2020 là điều không hề khó”. 

Các hoạt động thương mại suy giảm sâu

Đà lan rộng nhanh chóng của Covid-19, được phát hiện đầu tiên tại Trung Quốc, buộc nhiều quốc gia phải thực hiện các biện pháp cách ly xã hội trong nhiều tháng của năm 2020, qua đó, kéo tụt các hoạt động kinh tế. 

Và kết quả là GDP nhiều quốc gia, phương pháp đo lường các hoạt động kinh tế phổ biến nhất, đã giảm xuống mức thấp chưa từng có. 106814148-1608537555002-oecd-quarterly-g

Tăng trưởng GDP quý III các năm so với cùng kỳ năm trước tại Trung Quốc, Mỹ, khu vực đồng tiền chung châu Âu và Nhật Bản.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo nền kinh tế toàn cầu có thể sẽ sụt giảm tới 4,4% trong năm 2020, trước khi hồi phục mạnh với mức tăng trưởng 5,2% trong năm 2021. IMF cho biết trong tháng 10/2020 rằng kinh tế toàn cầu bắt đầu có những dấu hiệu phục hồi, nhưng cũng không quên đưa ra cảnh báo quá trình quay trở lại với thời kỳ tiền đại dịch sẽ “kéo dài và nhiều biến động”.

Hạn chế đi lại vẫn tiếp tục

Một trong những biện pháp phong tỏa được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới đó là đóng cửa hoàn toàn hoặc một phần biên giới, khiến cho việc lưu chuyển quốc tế bị gián đoạn. 

Tính đến ngày 1/11/2020, hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ đã gỡ bỏ phần nào các quy định hạn chế đi lại, theo Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UNWTO). 106814152-1608537785409-unwto-border-clo

Hạn chế đi lại tại các quốc gia trên thế giới tính đến đầu tháng 11/2020.

Tuy nhiên, nhiều biện pháp hạn chế khác vẫn được duy trì nhằm giới hạn sự dịch chuyển giữa biên giới các quốc gia, theo UNWTO. Trong đó bao gồm chỉ mở cửa biên giới đối với khách du lịch tới từ các quốc gia hoặc điểm đến cụ thể, yêu cầu khách du lịch phải thực hiện xét nghiệm Covid-19 âm tính trước khi cho phép họ nhập cảnh, yêu cầu du khách phải cách ly hoặc tự cách ly tại thời điểm đến.

Thất nghiệp tăng cao

Một trong những hệ quả nặng nề nhất của đại dịch và đồng thời là mức tăng trưởng thấp của các nền kinh tế đó chính là tỷ lệ thất nghiệp toàn cầu. 

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), một định chế liên chính phủ, cho biết tại một vài quốc gia, những tác động ban đầu của dịch bệnh Covid-19 lên thị trường lao động “lớn hơn gấp 10 lần so với những tháng đầu tiên của cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008”. 106814154-1608538034436-oecd-monthly-une

Tỷ lệ thất nghiệp tại khu vực đồng tiền chung châu Âu, OECD, Nhật Bản và Mỹ qua các năm.

“Những người lao động dễ bị tổn thương đang phải chịu những hệ quả của cuộc khủng hoảng. Người lao động lương thấp trở thành lực lượng chính đảm nhiệm những dịch vụ thiết yếu trong quá trình cách ly xã hội, thường phải đối mặt với nguy cơ cao lây nhiễm với virus trong quá trình làm việc”, OECD cho biết trong một báo cáo. 

“Họ cũng phải đối mặt với thực trạng giảm thu nhập”.

Nợ công tăng cao

Nhiều chính phủ đẩy mạnh chi tiêu cho các dự án tạo ra việc làm và hỗ trợ người lao động. Trên quy mô toàn cầu, các biện pháp nhằm mục tiêu giảm thiểu thiệt hại của dịch bệnh đã tiêu tốn số tiền lên tới 12.000 tỷ USD, theo IMF.

Mức độ chi “đáng kinh ngạc” trên đẩy tỷ lệ nợ công toàn cầu lên mức cao kỷ lục nhưng các chính phủ cũng không nên rút lại các chính sách tài khoá quá sớm, theo IMF. 106814155-1608538308376-imf-govt-debt-16

Tỷ lệ nợ công so với GDP tại các nền kinh tế phát triển, khu vực đồng tiền chung châu Âu, Mỹ, các nền kinh tế đang phát triển và Trung Quốc.

“Với việc nhiều người lao động vẫn chưa tìm được việc làm, các doanh nghiệp nhỏ đang gặp rất nhiều khó khăn, và có thể sẽ có đến 80 đến 90 triệu người rơi vào cảnh nghèo đói trong năm 2020, ngay cả khi họ đã nhận được các biện pháp hỗ trợ xã hội bổ sung, vẫn là quá sớm để các chính phủ cho dừng các biện pháp hỗ trợ chưa từng có này”.

Ngân hàng trung ương vào cuộc

Các ngân hàng trung ương sẽ hành động để có thể trợ giúp nền kinh tế thông qua việc cắt giảm lãi suất. Tại nhiều quốc gia, mức lãi suất được điều chỉnh xuống thấp kỷ lục, điều đó cũng sẽ giúp các chính phủ có thể quản lý được khoản nợ của mình. 

Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed), cơ quan mà mỗi động thái của họ có tác động lên toàn thế giới, hạ lãi suất về cận 0% và cam kết sẽ không tăng lãi suất trở lại cho tới khi lạm phát vượt ngưỡng mục tiêu 2%. 106814157-1608539256924-central-banks-am

Quy mô bảng cân đối kế toán và chính sách lãi suất của Ngân hàng Trung ương châu Âu, Fed và Ngân hàng Nhật Bản qua các năm.

Ngân hàng trung ương tại các quốc gia phát triển, trong đó bao gồm Fed và Ngân hàng Trung ương châu Âu gia tăng thu mua tài sản để bơm thêm tiền vào hệ thống tài chính. Đó là một bước đi cũng được áp dụng bởi nhiều ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi trong quá trình họ đi tìm những biện pháp hữu hiệu nhằm “cứu vớt” nền kinh tế vốn bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh.

Trọng Đại (Theo CNBC) / NDH

Môi giới chứng khoán là gì?


Môi giới chứng khoán là gì? – Tổng quan dành cho người mới bắt đầu

Giữa thị trường chứng khoán mới nổi, sôi động nhưng cũng đầy biến động tại Việt Nam thì môi giới chứng khoán là gì, đóng vai trò như thế nào? Các nhà đầu tư có nên lựa chọn các chuyên gia môi giới chứng khoán hàng đầu để được tư vấn và phát triển? Chúng tôi sẽ khai thác sâu về đề tài này ở bài viết ngay sau đây.

1. Môi giới chứng khoán là gì?

Theo khoản 20, Điều 6 Luật chứng khoán sử đổi năm 2010quy định: “Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng.”

Môi giới chứng khoán là gì?

Vậy, môi giới chứng khoán là bên đại diện,bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, họ có thể là tổ chức,công ty hay cá nhân. Môi giới chứng khoán có nhiệm vụ:

  • – Tư vấn và tiến hành các giao dịch.
  • – Tìm hiểu, đánh giá, tổng hợp, kiểm tra thông tin thị trường chứng khoán trong và ngoài nước; chứng khoán và trái phiếu.

Dựa vào đó đưa ra những lời khuyên đúng đắn và vạch ra những hướng giao dịch sinh lợi cho khách hàng.

2. Môi giới chứng khoán làm gì?

Nghề môi giới chứng khoán là một nghề đòi hỏi người hành nghề phải có chuyên môn cao, khả năng phân tích tài chính và phân tích thị trường nhanh nhạy, có thể đưa ra các quyết định nhanh và chính xác trong thời điểm cần thiết…

Đây là một nghề có thu nhập đáng mơ ước nếu thực sự có năng lực nhưng cũng là một nghề có cường độ làm việc cao và chịu nhiều áp lực. Nghề môi giới chứng khoán có thể được xem là nghề đa lĩnh vực, mà bao gồm:

  • – Tư vấn chứng khoán.
  • – Phân tích cơ hội đầu tư.
  • – Chăm sóc khách hàng.

Do đó, những người môi giới trong nghề hoàn toàn có thể tự tin đây là một nghề cao cấp và sử dụng rất nhiều chất xám khi thị trường chứng khoán thăng hoa.

3. Lợi ích của môi giới chứng khoán

Khoảng 1 thập kỷ trước, Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường phát triển nóng với rất nhiều công ty chứng khoán và nhiều nhà đầu tư. Tuy nhiên, sự đầu tư thiếu hiểu biết gây ra nhiều hậu quả và thất vọng. Bởi vậy, bất cứ nhà đầu tư thông minh và có tầm nhìn xa nào, đều cần đến một chuyên gia môi giới chứng khoán nhanh nhạy và tinh nhanh:

 – Đối với nhà đầu tư chứng khoán mới: Môi giới chứng khoán có thể được gọi là “người thầy”  đầu tiên đối với họ. Những người thầy này sẽ dìu dắt các nhà đầu tư mới những bước đi đầu tiên như chọn mua những cổ phiếu đang có giá trị, làm cầu nối cho họ với những đối tác khác, đặt các lệnh giao dịch…

– Đối với những nhà đầu tư chứng khoán lâu năm (nhưng không có thời gian theo dõi thị trường): Môi giới chứng khoán chính là người giúp họ thăm dò thị trường, là trung gian giúp họ mở rộng các mối quan hệ làm ăn, tiết kiệm chi phí và thời gian đáng kể cho nhà đầu tư.

4. Người môi giới chứng khoán

Để được trở người môi giới chứng khoán cần đáp ứng được các điều kiện chuyên môn về bằng cấp, chứng chỉ, tính cách, khả năng làm việc và khả năng chịu áp lực. Ngoài những yếu tố cơ bản đó, người môi giới chứng khoán phải luôn nỗ lực và trau dồi đạo đức nghề nghiệp và kiến thức của  bản thân.

 4.1 Điều kiện để trở thành người môi giới chứng khoán

Trên thực tế, ở Việt Nam vẫn chưa có trường đại học đào tạo về chuyên ngành này, mà chỉ có các khóa đào tạo ngắn hạn tại một số trung tâm. Do vậy, để được hành nghề, nhà môi giới chứng khoán tương lai cần phải có đủ các chứng chỉ do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp.

Chứng chỉ này sẽ được cấp khi cá nhân có đủ các điều kiện sau đây:

  • – Được pháp luật công nhận năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự; các trường hợp đang phải chịu hình phạt tù hoặc bị toà án cấm hành nghề kinh doanh không được cấp chứng chỉ này.
  • – Chưa bị UBCK xử phạt theo pháp luật chứng khoán trước đây hoặc đã thực hiện hình phạt sau 1 năm, trong trường hợp pháp luật hoặc TTCK xử phạt.
  • – Đạt trình độ cử nhân đại học trở lên.
  • – Đạt số điểm theo quy định trong kỳ thi sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
  • – Có được các chứng chỉ chuyên môn về chứng khoán:
  • + Chứng chỉ cơ bản về chứng khoán và TTCK.
  • + Chứng chỉ pháp luật về chứng khoán và TTCK.
  • + Chứng chỉ phân tích và đầu tư chứng khoán.
  • + Chứng chỉ môi giới chứng khoán và tư vấn đầu tư chứng khoán.

Ngoài chứng chỉ cần thiết, nhà tuyển dụng hoặc các nhà đầu tư đều cần người môi giới chứng khoán có bằng cử nhân hoặc thạc sĩ kinh tế/tài chính, có khả năng giao tiếp tốt, có năng lực quyết định, tầm nhìn,…

4.2 Kỹ năng cần có của người môi giới

Bên cạnh những kiến thức chuyên sâu về môi giới, người môi giới chứng khoán cần đạt được những kỹ năng mềm như sau:

Kỹ năng truyền đạt thông tin

  • – Để có được kỹ năng này, người môi giới trước tên cần nắm bắt được những thông tin cơ bản về sở thích, nhu cầu, khả năng của khách hàng. Từ đó, truyền đạt những thông tin cần thiết với khách hàng với thái độ quan tâm, săn sóc, lắng nghe và hiểu khách hàng.
  • – Người môi giới giỏi là người khiến khách hàng tín nhiệm là người có uy tín, làm cho khách hàng cảm thấy họ quan trọng, luôn đặt lợi ích khách hàng lên hàng đầu.

Kỹ năng tìm kiếm khách hàng

  • – Từ những kinh nghiệm của những nhà môi giới chứng khoán thành công, có rất nhiều phương pháp để tìm kiếm khách hàng như: viết thư, gửi email, gọi điện trực tiếp, quen biết trong các cuộc hội thảo, …
  • – Áp dụng những phương pháp đó một cách thuần thục, bạn sẽ có được nhiều khách hàng tiềm năng trong tương lai.

Kỹ năng khai thác thông tin

  • – Một người môi giới chứng khoán muốn thu hút thật nhiều khách hàng đến với mình, trước tiên họ phải có những am hiểu sâu rộng về chứng khoán để giải thích, phân tích, định hướng cho khách hàng.
  • – Để đạt được kỹ năng bạn cần nâng cao kiến thức bằng cách cập nhất thông tin ở một số tờ báo, tạp chí uy tín chuyên về chứng khoán như Thời báo kinh tế Việt Nam, The Economist, Financial Times,… tham khảo thông tin trên các website tài chính như BBC, CNN,…

Với những thông tin trên, chắc rằng bạn đã hiểu khái quát về môi giới chứng khoán là gì. Hy vọng với những thông tin trên bạn sẽ nắm bắt và hiểu chính xác về hoạt động môi giới chứng khoán và từ đó lựa chọn được hướng đi hiệu quả, sinh lời nhiều nhất từ đầu tư chứng khoán. Chúc bạn thành công.

Theo BSC



Nghề môi giới chứng khoán, bấp bênh mà thú vị?

heart

Trải qua thời kỳ hoàng kim năm 2017 với tốc độ tăng trưởng hơn 48%, thị trường chứng khoán (TTCK) bắt đầu diễn biến khó lường hơn từ đợt sụt giảm tháng 04/2018. Trước tình hình đó, phần lớn các chủ thể tham gia vào TTCK đều chịu tác động tiêu cực từ diễn biến chung của thị trường. Trong đó, những môi giới chứng khoán cũng không đứng ngoài “vòng xoáy rủi ro”.

vietstock
Cân bằng

Những khó khăn từ khi khởi đầu

Từ những ngày cuối tháng 08/2019, chỉ số VN-Index đã giảm từ ngưỡng gần 1,000 điểm về vùng 970x điểm, cùng với việc trở lại bán ròng của khối ngoại. Có lẽ, vào thời điểm này, “tiềm năng” trong mỗi người môi giới mới bắt đầu trỗi dậy. 

Một chiều mưa Sài Gòn, tôi có dịp ngồi lại cùng anh bạn D.C.L hiện đang là môi giới chứng khoán cho một công ty chứng khoán lớn trên thị trường và được nghe về những trải nghiệm của anh.

Anh chia sẻ về những năm tháng khi mới bước chân vào nghề, cái khó khăn trước mắt mà người môi giới nào cũng phải vượt qua, đó là để có khách hàng, mỗi người môi giới phải “lăn lộn” ngược xuôi đi tìm khách. Tiếp cận với một người xa lạ, bắt chuyện, làm quen đã là điều khó. Nhưng điều mà người môi giới phải làm được là chứng minh thực lực để khách hàng tin tưởng và đồng ý mở tài khoản giao dịch trên hệ thống của mình. Quá trình sale vẫn chưa kết thúc, đến khi khách mở tài khoản, môi giới phải tìm những cơ hội đầu tư tốt, khuyến nghị khách hàng tham gia, một phần để khách hàng đạt được mục tiêu tài chính, một phần để đảm bảo thu nhập của người môi giới.  

Nhắc đến đây, anh kể về những trải nghiệm “lật mặt vì VN-Index”.  Anh có một nhóm khách hàng, tiếp cận và chăm sóc, khuyến nghị họ cũng được hơn 2 tháng, cuối cùng thì họ cũng đồng ý về mở tài khoản giao dịch để ủng hộ anh. Vào một ngày “đẹp trời”, VN-Index quay đầu giảm điểm, nhà đầu tư bỗng đổi ý và không mở tài khoản chứng khoán nữa. Thế là, quá trình tìm kiếm khách hàng của anh lại trở về “mo”.

Chưa dừng lại ở đó, khi người ta vẫn luôn hoài nghi về lợi ích của môi giới và khách hàng, thì việc có được khách hàng là một chuyện, nhưng giữ được khách hàng hay không lại là một câu chuyện khác.

Làm thế nào để cân bằng lợi ích giữa khách hàng và môi giới?

Vấn đề về mâu thuẫn lợi ích giữa khách hàng và môi giới luôn là những vấn đề gây ra nhiều tranh cãi. Chúng ta đều hiểu rằng, khi thị trường diễn biến tiêu cực, việc khuyến nghị khách hàng giao dịch nhiều sẽ đem lại thu nhập cho người môi giới, nhưng cũng đồng nghĩa với việc khách hàng lại chịu nhiều rủi ro. Còn nếu khuyến nghị khách hàng đứng ngoài thị trường, môi giới không có phí, thu nhập cũng theo VN-Index mà quay đầu giảm điểm.

Theo chia sẻ của anh D.C.L, thị trường lúc nào cũng có cơ hội và điều quan trọng là chọn được cổ phiếu tăng giá. Khi thị trường chung điều chỉnh thì có đến 70% cổ phiếu điều chỉnh giảm nhưng vẫn còn 30% cổ phiếu còn lại tăng giá. Cái chính là phải tìm được đúng những cổ phiếu đó và phân bổ tài sản phù hợp. Theo kinh nghiệm của mình, anh chia sẻ danh mục của một nhà đầu tư nên có 30% tài sản đầu tư dài hạn và 70% còn lại để đầu tư ngắn hạn. Anh nói thêm, để nâng cao xác suất thành công, nhà đầu tư nên phân chia nguồn vốn đều nhau vào các mã cổ phiếu trong danh mục, tránh tình trạng mất cân đối, mã nhiều mã ít. Ngoài ra, khi cổ phiếu không tăng giá như kỳ vọng, nhà đầu tư cần chấp nhận cắt lỗ, đúng theo nguyên tắc đặt ra ban đầu. Cuối cùng là hạn chế sử dụng nợ vay (margin) khi thị trường không rõ xu hướng hoặc không mấy tích cực.

Bấp bênh mà thú vị

Đó là chia sẻ của anh khi nói về nghề nghiệp của mình. Anh cười, thu nhập cứ bập bênh lên xuống cùng VN-Index nhiều lúc cũng vui. Đôi lúc, anh cũng muốn tìm một công việc gì đó ổn định hơn, để còn lo cho anh và cuộc sống sau này của gia đình. Nhưng anh không chỉ yêu xanh, đỏ, tím, vàng nơi sàn chứng khoán, mà còn rất yêu quý những khách hàng của mình, những người đã đồng hành cùng anh trong suốt chặng đường đầu tư. Anh luôn vui vẻ khi nghĩ mỗi người khách hàng đều là những “nhân duyên” mà cuộc đời ban tặng. Qua mỗi bước đi của từng người, đều để lại cho anh những trải nghiệm tuy khác nhau, nhưng đầy thú vị. Như là một sự tri ân, ngoài chứng khoán, anh còn tìm kiếm những cơ hội khác cho khách hàng, trái phiếu có, bất động sản có, rồi cả gửi ngân hàng cũng có.

vietstock

Anh quan niệm, khách hàng không đơn thuần chỉ là khách, mà còn là những người bạn cùng đồng hành trên con đường thiên lý đầy buồn vui, bất trắc và cả hạnh phúc đầy vơi. Mọi sự mệt mỏi đều như được xua tan hết, khi anh thấy nụ cười rạng rỡ niềm vui của khách hàng, bởi giấc mơ tài chính được thực hiện, anh ấm lòng khi có những người khách mà từ lâu đã vượt qua khái niệm “người khách” trở thành người bạn thân thiết, cho anh động lực để bước tiếp với nghề. Cứ như thế, anh vượt qua với những khó khăn không chỉ với bản thân mà còn cả gia đình, khi mà với thu nhập ít ỏi chỉ 3-4 triệu đồng/tháng. Rồi cả những áp lực không có phí, không có lương, chỉ có phía trước là một ánh… đèn dầu. 

Dẫu sao anh vẫn mạnh bước đi về phía ấy, để đến giờ anh dường như đang đạt được những bước tiến xa hơn trong sự nghiệp. Quả thật may mắn khi chúng ta tìm được công việc mình đam mê, và dẫu có khó khăn gì, cũng không thể cản trở mình đến với công việc mà mình yêu thích?

Dung Vũ – FILI / VietStock


Môi giới chứng khoán là gì? Những điều không thể bỏ qua nếu muốn làm nghề này

Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường sôi nổi và đầy biến động. Dịch vụ môi giới chứng khoán cũng theo đó mà dần trở nên quen thuộc. Hãy cùng tìm hiểu xem môi giới chứng khoán đóng vai trò gì trong thị trường đầy tiềm năng này nhé!

I. Môi giới chứng khoán là gì?

Theo khoản 20, Điều 6 Luật chứng khoán sửa đổi năm 2010 quy định: “Môi giới chứng khoán là việc làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng.”
Môi giới chứng khoán có thể là tổ chức, công ty hay cá nhân đứng ra đại diện, bảo vệ quyền lợi của khách hàng. Nhiệm vụ của họ là tiến hành các giao dịch, theo dõi, phân tích thông tin, từ đó đưa ra những lời khuyên đầu tư, hướng đi thích hợp để giúp khách hàng đưa ra quyết định và nâng cao tỉ suất lợi nhuận.

Môi giới chứng khoán là gì?
Môi giới chứng khoán là tgì?

II. Ưu điểm của dịch vụ môi giới chứng khoán

Thị trường chứng khoán Việt Nam xuất hiện từ những năm 2000, nhưng cho tới những năm 2006 – 2007 thì thị trường này mới thực sự tăng trưởng nóng hơn bao giờ hết với rất nhiều công ty chứng khoán và nhà đầu tư. Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết của các nhà đầu tư lúc ấy đã gây ra nhiều hậu quả và thất vọng. 
Trải qua khủng hoảng kinh tế thế giới thì cho tới năm 2009, thị trường chứng khoán dần hồi phục và thu hút sự đầu tư trở lại. Nhu cầu về dịch vụ môi giới chứng khoán cũng vì thế mà trở nên thiết thực hơn để tránh đi vào vết xe đổ trước đây. Dịch vụ này nhanh chóng được ưa chuộng bởi rất nhiều ưu điểm:

1. Tiết kiệm thời gian, chi phí

Đây là điểm rất tiện lợi của dịch vụ môi giới chứng khoán về vấn đề giao dịch giữa các bên. Các nhà đầu tư cá nhân thường nghĩ môi giới chứng khoán là không cần thiết. Điều đó là bởi vì họ chưa biết rằng giao dịch qua môi giới chứng khoán giúp giảm thiểu chi phí tới 10 lần, đối với những giao dịch có giá trị lớn thì con số này rất đáng kể.
Nhà đầu tư sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức khi ký hợp đồng môi giới của công ty chuyên môi giới chứng khoán. Nhờ việc thông qua bên đại diện là công ty môi giới, dù người bán và người mua không hề quen biết nhau thì giao dịch vẫn diễn ra thuận lợi, nhanh chóng. Nếu không thông qua công ty môi giới, các nhà đầu tư sẽ phải lên lịch hẹn gặp mặt trực tiếp, đàm phán, thương lượng kéo dài mà chưa chắc đã đi đến được thỏa thuận chung. “Thời gian là vàng”, chính việc này sẽ làm phát sinh chi phí vô ích.

2. Hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả

Các công ty môi giới để được phép giao dịch chứng khoán cần phải có giấy phép kinh doanh, đăng ký mô hình kinh doanh tại các tổ chức cơ quan nhà nước. Chính vì vậy, các công ty này sẽ chú trọng tuyển dụng, đào tạo một đội ngũ nhân viên am hiểu kiến thức về thị trường, có tư duy phân tích những biến động hằng ngày và định hướng đúng về xu hướng của thị trường chứng khoán. Từ đó mới có thể giúp khách hàng đưa ra được những quyết định đầu tư sinh lời hiệu quả cao. Những lời khuyên của môi giới chứng khoán cùng những kinh nghiệm làm việc thực tế là cơ sở vững chắc để các nhà đầu tư có thể đối mặt với những biến động của thị trường và tỉnh táo khi ra quyết định đầu tư.

3. Cung cấp dịch vụ đa dạng

Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay, việc tối ưu hóa các thiết bị công nghệ đem đến những giải pháp xử lí công việc nhanh chóng và hiệu quả. Các công ty môi giới chứng khoán cho ra mắt rất nhiều chương trình, dự án để nâng cao dịch vụ phục vụ khách hàng như:

– Tra cứu tài khoản/ lệnh giao dịch qua tin nhắn tự động: Khách hàng có thể dễ dàng truy cập thông tin giao dịch qua điện thoại thông minh của mình.
– Hỗ trợ nhà đầu tư ứng trước tiền bán: Theo quy định, sau khi giao dịch được khớp lệnh hoàn tất 2 ngày, tiền bán chứng khoán mới được thanh toán cho khách hàng. Tuy nhiên, trong thời gian ấy mà khách hàng muốn tiếp tục đầu tư để quay vòng vốn nhanh thì các công ty môi giới chứng khoán sẽ cung cấp dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán.
– Cho vay cầm cố: Nhằm cung cấp vốn cho các nhà đầu tư, các công ty môi giới chứng khoán mở ra dịch vụ cho cầm cố chứng khoán mà khách hàng đang nắm giữ.
– Repo cổ phiếu: Repo là hình thức mà nhà đầu tư sẽ được vay tiền. Nói cách khác, đây là hình thức cấp tín dụng cho nhà đầu tư, là khoản vay có kì hạn thông qua số cổ phiếu khách hàng nắm giữ.

Ưu điểm của môi giới chứng khoán
Ưu điểm của môi giới chứng khoán

III. Nhân viên môi giới chứng khoán

Nhân viên môi giới chứng khoán (gọi tắt là Broker) thay mặt cho khách hàng đóng vai trò là trung gian giữa người bán và người mua chứng khoán. Đây là bộ phận không thể thiếu của mỗi thị trường chứng khoán.

Nghề môi giới chứng khoán sẽ làm những công việc liên quan rất nhiều đến tổng hợp, phân tích biến động của thị trường chứng khoán để đưa ra được những tư vấn hữu ích cho khách hàng. Những công việc thường ngày của một Broker là:

  • Tìm kiếm và phát triển mạng lưới khách hàng: Những nhân viên môi giới chứng khoán cũng giống như nhân viên kinh doanh của công ty, cũng mang trọng trách về doanh số và sự phát triển thịnh vượng của công ty. Vì vậy, họ rất tích cực trong việc mở rộng quan hệ với khách hàng để đem lại nhiều lợi nhuận cho công ty.
  • Tư vấn mua bán cổ phiếu: Nhân viên môi giới chứng khoán thường tư vấn cho khách hàng của mình trong mỗi giao dịch, giải thích cho họ về phương thức hoạt động của thị trường chứng khoán 
  • Nhận định tình hình thị trường: Điều này đòi hỏi nhân viên môi giới chứng khoán phải nhạy cảm để đưa ra những dự báo về biến động trên thị trường chứng khoán.
  • Phân tích tình hình và đưa ra lời khuyên đầu tư phù hợp: Đối với những người mới bắt đầu, nhân viên môi giới chứng khoán giống như một người thầy đặt lên những nét bút đầu tiên vào trang giấy trắng. Đối với những người chơi lâu năm, nhân viên môi giới chứng khoán giúp họ thăm dò thị trường, mở rộng quan hệ làm ăn.
Nhân viên môi giới chứng khoán
Nhân viên môi giới chứng khoán

IV. Các kĩ năng cần có của môi giới chứng khoán

1. Kĩ năng nắm bắt cơ hội đầu tư

Mỗi một nhân viên môi giới chứng khoán đều mang sứ mệnh nắm bắt cơ hội đầu tư. Để đạt được doanh số thì phải có khách hàng, mà muốn có khách hàng thì phải đạt hiệu quả trong đầu tư.
Có thể nói rằng đây là kĩ năng quan trọng và nổi bật nhất cần phải có ở một chuyên viên môi giới chứng khoán. Đây là kĩ năng biết tổng hợp, phân tích các thông tin tài chính, phân tích xu hướng vận động của các định chế tài chính, thu thập các bảng thống kê, báo cáo kinh doanh và đưa ra các báo cáo nhằm tư vấn tài chính cho khách hàng.

2. Kĩ năng đối mặt với áp lực công việc 

Môi giới chứng khoán là nghề phải chịu áp lực thường xuyên, từng ngày, từng giờ thậm chí là từng phút. Nghề môi giới không chỉ đơn thuần là tư vấn mà cũng phải chịu áp lực về doanh số. Trong những trường hợp thị trường chuyển biến xấu, thanh khoản giảm, áp lực đặt lên đôi vai của môi giới chứng khoán lại càng nặng nề hơn. Muốn đạt được doanh số thì khách hàng phải giao dịch nhiều, nhưng trong hoàn cảnh ấy, rất khó để khách hàng giao dịch mà có lời. Chính vì vậy, kĩ năng này là làm thế nào để vẫn duy trì được hiệu quả công việc khi đối mặt với áp lực. 

3. Kĩ năng giao tiếp

Đây là một kĩ năng thiết yếu đối với một nhân viên môi giới chứng khoán. Dù họ có am hiểu về kiến thức thị trường đến đâu nhưng khả năng truyền đạt thông tin của họ không tới được khách hàng thì cũng không đem lại thành quả gì.
Nhân viên môi giới chứng khoán cần nắm bắt được sở thích, nhu cầu và khả năng của khách hàng với thái độ ân cần, chu đáo, biết lắng nghe và thấu hiểu. Khi họ đặt lợi ích của khách hàng lên hàng đầu, họ sẽ có được uy tín từ khách hàng.

4. Kĩ năng tìm kiếm khách hàng

Những nhà môi giới chứng khoán thành công đã từng chia sẻ về kinh nghiệm tìm kiếm nguồn khách hàng của mình thông qua: Gửi email, hẹn gặp mặt trực tiếp, làm quen qua những buổi hội thảo,…
Qua đó sau khi họ có được tập khách hàng trung thành, họ sẽ mở rộng thêm được những khách hàng tiềm năng.

5. Kĩ năng khai thác thông tin

Để thu hút được thật nhiều khách hàng lựa chọn mình, một nhân viên môi giới chứng khoán phải có kiến thức về thị trường chứng khoán sâu sắc để phân tích, định hướng cho khách hàng. 
Bạn có thể thu thập được rất nhiều kiến thức từ các tạp chí, chuyên trang về chứng khoán như: Thời báo kinh tế Việt Nam, The Economist, Financial Times… hoặc các website tài chính như BBC, CNN…

Kĩ năng cần có của môi giới chứng khoán
Kĩ năngaa cần có của môi giới chứng khoán

V. Lương của nhân viên môi giới chứng khoán

Cũng tương tự như nghề Sales, lương của nhân viên môi giới chứng khoán cũng bao gồm lương cứng và hoa hồng dựa theo doanh thu khách hàng giao dịch. Mức phân chia tỉ lệ hoa hồng phổ biến trên thị trường hiện nay là 25% – 75%, tức là nếu công ty thu về được 100 triệu đồng thì nhân viên nhận được 25 triệu đồng và công ty hưởng 75 triệu đồng (các công ty còn phải nộp một tỷ lệ nhất định trích từ phí môi giới cho hai Sở giao dịch chứng khoán theo quy định). Một số công ty áp dụng tỉ lệ 30% – 70% để thúc đẩy nhân viên tìm kiếm khách hàng, thậm chí có công ty đã áp dụng tỉ lệ 35% – 65%.

Hiện nay, mức lương cứng của nhân viên môi giới chứng khoán dao động từ 4 đến 8 triệu đồng/tháng. Nếu tính thêm hoa hồng và thưởng thì mức lương trung bình của nghề này dao động từ 15 đến 20 triệu đồng/tháng. Ở thời kì hoàng kim của chứng khoán 10 năm trước, đã từng có những nhà môi giới kiếm được 50 đến 70 triệu đồng/tháng.
Theo khảo sát của 123job, những chuyên gia môi giới chứng khoán hàng đầu Việt Nam hiện nay có thể kiếm được khoảng 5 đến 6 tỷ đồng/tháng. Mức cao nhất khảo sát được là từ 8 đến 10 tỷ đồng/tháng ở một công ty tại TP HCM.

VI. Tuyển dụng môi giới chứng khoán

Thực trạng hiện nay của thị trường là khan hiếm nhân sự môi giới chứng khoán. Liên tục đăng tin tuyển dụng nhưng rất nhiều doanh nghiệp vẫn trong tình trạng thiếu nhân viên môi giới chứng khoán. 

Các công ty chứng khoán hàng đầu Việt Nam vẫn hằng ngày đăng tin tuyển môi giới chứng khoán không giới hạn số lượng. Ví dụ như Công ty Công ty Chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BSC) tuyển chuyên viên môi giới tìm kiếm khách hàng, hướng dẫn khách làm thủ tục mở tài khoản giao dịch, nhận lệnh giao dịch và thực hiện trực tiếp. Công ty này có yêu cầu ứng viên là đã tốt nghiệp Đại học các chuyên ngành tài chính ngân hàng, quản trị kinh doanh; có chứng chỉ môi giới chứng khoán và giao tiếp được bằng tiếng Anh hoặc tiếng Trung.

Công ty Chứng khoán VNDirect tuyển chuyên viên tư vấn, tiếp xúc với khách hàng về mở tài khoản và giao dịch chứng khoán, tư vấn chiến lược, kĩ thuật giao dịch chứng khoán và quản lí danh mục đầu tư của khách hàng. Công ty này có yêu cầu ứng viên tốt nghiệp Đại học các chuyên ngành Kinh tế, Tài chính ngân hàng,… Có chứng chỉ hành nghề hoặc tối thiểu 4 chứng chỉ chuyên môn chứng khoán (Cơ bản, Luật, Phân tích, Môi giới) và giao tiếp được bằng tiếng Anh.

Tuyển dụng môi giới chứng khoán
Tuyển dụng môi giới chứng khoán

Dù thu nhập tương đối ổn, nhu cầu tuyển dụng rất lớn nhưng nhiều công ty vẫn khát nhân sự ở bộ phận này một phần do áp lực về doanh số cao. Mặt khác, nhiều người vẫn có quan điểm về chứng khoán là ngành nghề bấp bênh, thiếu sự ổn định, an toàn trong dài hạn. Khi thị trường chứng khoán thăng hoa, đây là nghề cao cấp và sử dụng rất nhiều chất xám của mỗi một nhà tư vấn. Nếu bạn muốn thử sức với công việc này, đừng ngần ngại mà hãy ứng tuyển ngay nhé!

VII. Công ty môi giới chứng khoán

Theo quy định của Thông tư số 210/2012/TT-BTC công ty chứng khoán được định nghĩa là:
“Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán.”
So với các quốc gia khác trên thế giới, chứng khoán xuất hiện ở Việt Nam khá muộn. Nhưng tốc độ tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam đã vượt bậc trong những năm gần đây. Hiện nay Việt Nam có 78 công ty chứng khoán, 2 Sở giao dịch chính là Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.

Theo thống kê top 10 Công ty chứng khoán tốt nhất Việt Nam hiện giờ lần lượt là:
– Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI)
– Công ty Chứng khoán TP.HCM (HSC)
– Công ty Chứng khoán Bản Việt (VCSC)
– Công ty Chứng khoán VNDirect (VNDS)
– Công ty Chứng khoán MB (MBS)
– Công ty Chứng khoán Sài Gòn Hà Nội (SHS)
– Công ty Chứng khoán Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (BSC)
– Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC)
– Công ty Chứng khoán FPT (FPTS)
– Công ty Chứng khoán ACB (ACBS)

Các công ty chứng khoán hàng đầu Việt Nam
Các công ty chứng khoán hàng đầu Việt Nam

VIII. Phí môi giới chứng khoán

1. Giao dịch chứng khoán

Phí môi giới chứng khoán là số tiền mà nhà đầu tư phải trả cho mỗi giao dịch mua bán chứng khoán. Mức phí này được công ty chứng khoán quy định khi thực hiện cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Các công ty sẽ dựa theo số phần trăm tổng giá trị mua hoặc bán trong ngày của khách hàng để xác định mức phí này.
Phụ thuộc vào xu hướng dòng tiền và bối cảnh thị trường mà các công ty chứng khoán thay đổi mức phí. Hiện nay, chi phí môi giới online của các công ty chứng khoán dao động từ 0,15% đến 0,2% và chi phí môi giới gián tiếp qua điện thoại với nhân viên môi giới hoặc đặt lệnh tại sàn dao động từ 0,2% đến 0,3%.
Sau khi thu phí của các nhà đầu tư, công ty còn phải trả cho Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội hoặc Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh 0,03%. 

2. Mở tài khoản chứng khoán

Việc mở tài khoản chứng khoán là hoàn toàn miễn phí ở tất cả các công ty chứng khoán hiện nay. Bạn có 2 hình thức mở tài khoản để lựa chọn là: Mở tài khoản online và mở tài khoản trực tiếp.
Nếu bạn lựa chọn hình thức mở tài khoản online, việc bạn cần làm là điền thông tin mở tài khoản chứng khoán online, điền thông tin vào biểu mẫu giấy và cuối cùng là gửi biểu mẫu về công ty chứng khoán theo đường bưu điện. 
Nếu bạn muốn mở tài khoản trực tiếp, bạn có thể gọi điện thoại cho tư vấn viên hoặc tải mẫu đơn trên mạng để điền vào. Hay cách nhanh nhất đó là bạn đến trực tiếp công ty chứng khoán nơi mà bạn muốn mở tài khoản, bạn chỉ cần đem theo CMND, sau 5 đến 10 phút là bạn đã hoàn thành thủ tục mở tài khoản rồi. 
Sau khi mở tài khoản miễn phí rồi thì chắc hẳn nhiều bạn sẽ thắc mắc là bắt đầu đầu tư chứng khoán cần tối thiểu bao nhiêu tiền? Theo lời khuyên của một số chuyên gia thì con số đó là từ 10 đến 20 triệu. Sau khi đã có kinh nghiệm, bạn có thể nâng dần số vốn đầu tư hoặc tiết kiệm để bổ sung vào khoản đầu tư.

IX. Làm thế nào để trở thành môi giới chứng khoán?

1. Lựa chọn chuyên ngành chứng khoán

– Chọn trường Đại học
Hãy chọn cho mình một ngôi trường Đại học tốt có đào tạo chuyên ngành chứng khoán. Đây sẽ là nền tảng vững chắc cho bạn để tiếp cận đúng và chuyên sâu, hiểu được bản chất cốt lõi của chứng khoán. Hiện nay ở Việt Nam đã có rất nhiều trường Đại học mở ngành đào tạo về chứng khoán, điển hình là: Khoa Tài chính – Ngân hàng (Trường Đại học Ngoại thương), Khoa Ngân hàng – Tài chính (Trường Đại học Kinh tế quốc dân), Khoa Ngân hàng (Trường Đại học Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh), Khoa Tài chính (Học viện Ngân hàng), Khoa Thị trường chứng khoán (Trường Đại học Ngân hàng Tp- Hồ Chí Minh), Khoa Ngân hàng và Bảo hiểm (Học viện Tài chính).
Ngoài ra các trường đào tạo về kinh tế cũng thường có CLB Chứng khoán, đây là môi trường để bạn làm quen và học hỏi những điều bổ ích từ khi còn là sinh viên.

– Tìm kiếm cơ hội thực tập
Bạn đừng bỏ qua cơ hội được thực tập trong một công ty chứng khoán. Rất nhiều công ty chứng khoán tuyển thực tập sinh là sinh viên năm cuối các trường Đại học.

2. Học chứng chỉ MBA/CFA

Tốt nghiệp Đại học là bạn đã có thể trở thành một nhân viên môi giới chứng khoán rồi. Tuy nhiên, nếu bạn muốn đạt lên trình độ cao hơn, trở thành một nhà môi giới chứng khoán xuất sắc hoặc chuyên gia phân tích đầu tư tài chính thì bạn hãy nghiêm túc cân nhắc về chuyện học lên MBA (Thạc sĩ Quản trị kinh doanh) hoặc CFA (Chứng chỉ phân tích tài chính). Đây là hai chứng chỉ được giới phân tích đầu tư tài chính quan tâm nhất hiện nay. 

Để trở thành nhân viên môi giới chứng khoán, bạn có 3 sự lựa chọn: Làm việc cho công ty chứng khoán, làm việc cho công ty quản lí quỹ hoặc làm về nghiệp vụ tự doanh của công ty chứng khoán (Là hoạt động của công ty chứng khoán tự tiến hành các giao dịch mua bán chứng khoán cho chính mình).
Bạn có thể tham gia một vài khóa học của nhà nước hay công ty để chuẩn bị cho kì thi lấy Chứng chỉ hành nghề chứng khoán.

3. Thi lấy chứng chỉ hành nghề chứng khoán

Để trở thành môi giới chứng khoán, bạn cần có Chứng chỉ hành nghề chứng khoán.
Theo Quy định tại Quyết định số 15/2008/QĐ-BTC ngày 27/3/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, các loại chứng chỉ hành nghề chứng khoán do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp gồm các loại sau:
– Chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán;
– Chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính;
– Chứng chỉ hành nghề quản lỹ quỹ.
Hãy không ngừng học hỏi những chuyên gia môi giới chứng khoán thành công để đạt được những thành tựu cho riêng sự nghiệp của mình.

X. Có nên trở thành môi giới chứng khoán?

1. Thực trạng nghề môi giới chứng khoán

Môi giới chứng khoán là một nghề khắc nghiệt. Thị trường chứng khoán biến động từng giờ, việc dự báo trước là điều vô cùng khó. Sứ mệnh của mỗi nhân viên môi giới chứng khoán là coi tài sản của khách hàng cũng như tài sản của mình. Hãy luôn cố sức bảo vệ nó, làm cho nó nhân lên gấp nhiều lần. Nhưng hiện thực ở nhiều khách hàng là khi có lời thì đấy là do quyết định sáng suốt của họ, còn lỗ là tại vì môi giới xui dại. Điều đó dập tắt hết nhiệt huyết và năng lượng của những nhân viên môi giới có tâm, dốc lòng phục vụ khách hàng. Là một nghề có đặc thù rủi ro cao, nhân viên môi giới chứng khoán thường xuyên phải đối diện với áp lực rất lớn.
Quan niệm bạc bẽo từ nghề này một phần cũng xuất phát từ đội ngũ tư vấn viên của Việt Nam hiện nay. Một bộ phận môi giới chứng khoán thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết dẫn đến những nhận định sai lầm. Hay một số khác thì hành nghề không có tâm, lợi dụng sự tín nhiệm của khách hàng để trục lợi.

2. Nghề chọn người hay người chọn nghề

Có nghề nào tồn tại mà không trải qua những thăng trầm của cuộc sống. Nghề nào cũng có thời kì đỉnh cao và thời kì bão hòa. Hằng ngày, nghề nào cũng có những hào hứng người gia nhập ngành và lặng lẽ rút khỏi ngành. Nhưng với chứng khoán thì dường như sự sàng lọc này diễn ra dữ dội hơn. Đôi khi bạn đến với nghề môi giới chứng khoán như là một cái duyên. Sau nhiều dòng tâm sự của các Broker thì đôi khi cứ để nghề chọn người đi! 

“Rủi ro cao, lợi nhuận cao
Rủi ro thấp, lợi nhuận thấp
Không có rủi ro, không có lợi nhuận.”

Điều này phản ánh rất đúng về tính chất củathị trường chứng khoán. Nếu bạn là người ưa thích rủi ro, khát vọng làm giàu không giới hạn thì môi giới chứng khoán chính là ngành nghề dành cho bạn. Còn nếu bạn là người ghét rủi ro, hướng tới sự ổn định trong công việc thì bạn không nên lựa chọn nghề này. 

Nếu bạn đủ đam mê với nghề, dù trải qua những ngày khó khăn, bạn vẫn nỗ lực hết mình với một niềm tin mãnh liệt vào một ngày mai khởi sắc hơn. Còn nếu như bạn không định gắn bó với nghề môi giới chứng khoán, hãy trải nghiệm rồi coi như đây là một cơ hội quý báu để tích lũy các mối quan hệ và kiến thức để xây dựng sự nghiệp trong tương lai.

Môi giới chứng khoán tuy là nghề đầy áp lực nhưng cũng đem lại nhiều cảm xúc cho con người. Bạn có thể bất chợt ngập tràn vui sướng nhưng cũng có thể hụt hẫng ngay sau đó không lâu. Quan trọng là bạn biết kiểm soát được cảm xúc của mình, tránh để bản thân rơi vào mất phương hướng. Khi bạn xác định trở thành môi giới chứng khoán, điều lớn nhất mà bạn cần phải vượt qua đó là chính mình, để không bị cám dỗ làm mờ mắt, nên biết đâu là điểm dừng để không rơi vào cảnh đau đớn mới ngộ ra chân lí.

Chúc các bạn thành công!

Thanh Tâm – Theo 123jobs