Thông điệp từ những sự nghiệp làm nên thiên niên kỷ


Tạo ra một môi trường để ai cũng có điều kiện phát huy tối đa tài năng của mình là điều kiện tiên quyết để sản sinh ra nhân tài. Còn để thành đạt một khối lượng sáng tạo lớn, mà Edison là trường hợp điển hình nhất, thì tri thức và kinh nghiệm của con người phải phát triển theo cấp số nhân qua kết quả lao động chứ không theo cấp số cộng.

Chỉ có niềm đam mê sáng tạo mới bảo đảm được quy luật phát triển theo cấp số nhân đó. Nói theo hình tượng toán học: cuộc đời là cấp số cộng của các sự kiện, trong khi sự nghiệp (sáng tạo) là cấp số nhân của các kết quả lao động. Có thể vì không lưu ý đến liệu pháp đơn giản đó mà chúng ta dường như đã mất đi khá nhiều nhân tài.

Nhà bác học Isaac Newton.
Nhà bác học Isaac Newton.

Trong số hàng vạn người đã và đang làm vật lý trên toàn cầu, không phải ai cũng được nhắc đến trong sách vở hoặc được thường xuyên trích dẫn trong các công trình khảo cứu. Lại cũng chỉ rất ít người trong số ít ỏi đó đã thật sự khai phá ra tòa lâu đài vật lý nguy nga ngày nay. Điều này không thể phủ nhận giá trị lao động của hàng vạn người, nó chỉ nhấn mạnh đến cấu trúc hình chóp của bất kỳ cộng đồng nào có cùng những mục tiêu chung. Đáng mừng là trong số 100 nhân vật “làm nên thiên niên kỷ” do tuần san “Ledde” bình chọn có đến 14 nhà vật lý, theo hướng cơ bản như Galileo (thứ 4), Newton (6), Conpernicus (19), Einstein (21), Descarte (32), Bohr (53), Faraday (70), M.Curie (75), hoặc ứng dụng như Edison (1), Marconi (27). Bell (31), Morse (39), Tesla (57), Vật lý học đã được nhìn nhận là ngành khoa học tiên phong tạo nên bộ mặt của thiên niên kỷ.

Nhưng ta hãy tạm gác chuyện vật lý lại để xem xét đôi nét đại thể trong bức tranh toàn cục của cuộc bình chọn. Đứng hạng “top ten” trong bản danh sách là Edison, Columbus, Luther, Galileo, L.da Vinci, Newton, Magellan, Pasteur, Darwin và Shakesppeare. Trong số 90 vị trí còn lại có Marx (18), Lenin (29), Mao (28), Gandhi (22), Pierre đại đế (77), Mandela (91), Kant (58), Beethoven (33), Picasso (78), Disney (90), Tolstoi (93), Lavoisier (80), Neumann (94), Mendel (35), Adam Smith (74)… lại cũng có cả Napoleon (12), Hitler (13) và Hốt Tất Liệt (23) , những người đã từng làm cho nhân loại điên đảo.

Theo Welss K.M (Human Biology, 56, 637, 1984), trong thiên niên kỷ vừa qua đã có khoảng 100 tỷ người từng sống trên Trái đất. Vậy mà chỉ có 100 người được mệnh danh là “làm nên” thiên niên kỷ, nghĩa là cứ 1 tỷ người mới có 1 người! Tạo hóa sao lại quá “bất công” để cho người này lại thành đạt gấp tỷ lần người kia? Mà nếu chấp nhận điều đó như một hiện tượng tự nhiên, thì làm sao có thể chọn ra 100 người trong số 100 tỷ người cho chính xác được? Lại còn phân ngôi thứ khá rành mạch cho họ. Dùng cái thước nào để đo? Bởi lẽ nếu cứ bằng mắt trần mà quan sát thì mọi ngôi sao trên bầu trời đều nằm trên cùng một thiên cầu cả thôi!

Nhà bác học Galileo.
Nhà bác học Galileo.

Trước hết đối với những ai quen nhìn con người qua tầm vóc bề ngoài, quen dùng cái thước, cái cân thông thường để đo chiều cao và trọng lượng, hoặc những ai hay bị ngộ nhận bởi những khái niệm “dân chủ công bằng” mơ hồ, chắc sẽ dễ dàng từ chối các câu hỏi trên. Tôi cao 1,6m, vào loại trung bình, nếu trong số 70 triệu người Việt Nam có ai đó độc nhất vô nhị cao đến 1,9m, thì anh ta cũng chỉ cao hơn tôi 30 phân thôi, đáng là bao! Trên thực tế, trong khi các đặc trưng nhân chủng học như chiều cao, cân nặng… có dạng phân bố gần đối xứng quanh những giá trị trung bình nào đó của cộng đồng, giống như hình quả chuông (phân bố normal hay Gauss) thì các đặc trưng về năng lực (và do đó cống hiến) của con người lại phân bố bất đối xứng trải dài về phía trên, mà trong toán học người ta gọi là phân bố logarit – normal. Hệ quả là những người siêu phàm thường thấy nhiều hơn những người dị dạng. Có lẽ chính vì thế mà Landau lúc sinh thời đã đề nghị dùng thang logarit – Normal. Thay cho thang tuyến tính nhằm thu gọn cho dễ thấy sự khác biệt về năng lực và cống hiến của các nhà vật lý xuất chúng. Cái thang tuyến tính mà chúng ta vẫn quen sử dụng hằng ngày chính là cái thước, cái cân được chia vạch ra đều nhau. Khi dùng thang logarit hệ 10 sẽ rút xuống thành 1, 100 thành 2, 100000 (=106) thành 6… Hơn nữa, thang logarit chia vạch không đều, vạch thứ 2 cách vạch thứ 3 xa hơn là vạch thứ 3 cách vạch thứ 4, và cứ thế.

Sau đây là một phương án minh họa ý tưởng dung thang logarit của Landau. Edison được xếp thứ 1 trên 100 tỷ, mà 100 tỷ = 1011, nên thang logarit Edison sẽ có điểm số cao nhất, bằng 11. Shakespeare đứng thứ 10 trên 10 tỷ, mà 10 tỷ = 1010, nên nhà soạn kịch nước Anh sẽ có điểm số mới là 10. Các “top ten”) khác sẽ có điểm số giữa 11 và 10. Sau đó đến lượt các danh nhân từ thứ 11 (Napoleon) đến 100 Linnaeus (nhà thực vật học Thụy Điển) sẽ có điểm số giữa 10 và 9. Nếu tổ chức bình chọn “1000 người làm nên thiên niên kỷ) thì 900 người tiếp theo sẽ nằm giữa hai vạch 9 và 8… và cứ tiếp tục như thế, bất kỳ ai cũng có thể đưa tên mình lên danh sách, sánh vai cùng các danh nhân thế giới, thậm chí nếu bạn tự cho mình là người bét nhất, nghĩa là người thứ 100 tỷ trên 100 tỷ. Quả vậy, trên thang logarit bạn sẽ đứng ở vạch số 0, cũng chỉ cách người xuất sắc nhất hành tinh có 11 vạch, xem ra còn có vẻ công bằng và đỡ tủi thân hơn! Nhưng thủ pháp biểu diễn toán học này vẫn không che lấp được thực chất khác biệt rất xa về năng lực và cống hiến của con người.

Thomas Edison.
Thomas Edison.

Ví phỏng những người đại loại như chúng ta đang ngồi đây không đến nỗi quá “xấu số” để rơi xuống phía dưới vạch số 1, nhưng lại cũng đủ khiêm tốn để đừng đặt mình lên cao hơn vạch số 4-5. Tôi nhắc lại, dù sao đây cũng chỉ là thí dụ, bạn có thể cho điểm cao hơn hoặc thấp hơn thế. Tiếc thay, ngay trong cái cộng đồng với thang độ hạn hẹp ấy nhiều khi cũng chẳng có thước đo nào rành mạch cả. Đặt dấu bằng giữa tất cả mọi người là cách hành xử thường thấy nhất. Hậu quả là cộng đồng không phát triển được do thiếu cấu trúc hình chóp và chẳng có đầu đàn. Tệ hại hơn là cái thang giá trị lung tung vẫn thường được đem ra đo đạc, số bé có khi đặt trên số lớn. Thí dụ thành tích về học thuật thường được xem như đương nhiên tỷ lệ thuận với chức sắc. Nhưng ngay trong các hội đồng xét duyệt đề tài khoa học chuyên ngành, nơi mà thang giá trị thường rất rành mạch, thì cũng còn lắm vấn đề. Điểm đánh giá “xuất sắc” là phổ biến. Thực ra chỉ cần một hội đồng ba người có chuyên môn và tâm huyết còn hơn là một hội đồng chín người mới đầy đủ tước hiệu nhưng xa rời học thuật và thiếu trách nhiệm. Nhưng ai là người có chuyên môn, có tâm huyết? Vì không có lời giải cho câu hỏi này nên cách tốt nhất là cứ theo phương án chín người cho dân chủ.


Trong sự nghiệp khai phá của các vĩ nhân làm nên thiên niên kỷ, niềm đam mê sáng tạo là nguồn sức mạnh vun đắp tài ba, năng lực và làm rạng danh nhân cách của họ.


Sẽ hết sức sai lầm nếu phủ nhận vai trò của công tác quản lý lãnh đạo như một nghề nghiệp cao quý và quan trọng. Trong số 100 nhân vật làm nên thiên niên kỷ có khoảng 15 người đã từng cầm đầu các đế chế hoặc là nguyên thủ quốc gia. Nhưng Mandela được bình chọn không phải vì ông ra làm Tổng thống Nam Phi trong năm năm, mà vì bị cầm tù trong 30 năm, vì ông là biểu tượng cho cuộc đấu tranh của người da đen chống chủ nghĩa Apartheid kéo dài hơn 400 năm. Trong danh sách cũng có vài người đã từng giàu có nhất thế giới như Henry Ford (14), Rockfeller (51), nhưng họ được bầu chọn để tôn vinh sự làm giàu bằng phát minh sáng chế và khi chết đi họ đã cống hiến tài sản cho các quỹ phát triển xã hội của hậu thế.

Đa số những người làm nên thiên niên kỷ là những bậc thiện nghệ về chuyên môn, học thuật nhưng lại thường xuất thân từ những gia đình bình thường: Einstein (21) phát minh ra hiệu ứng quang điện và thuyết tương đối khi đang làm nhân viên ở Cục Sáng chế Thụy Sĩ. Faraday (70) nhờ làm thợ đóng sách tại London mà có cơ hội đọc rất nhiều và nảy ra ý định làm các thí nghiệm về điện. Còn Edison, người đứng đầu bảng danh sách bình chọn, thì chỉ được học trong nhà trường có ba tháng, lên 12 tuổi làm nghề bán báo, 16 tuổi làm điện báo viên và bắt đầu cuộc đời sáng chế phát minh từ đó. Nhờ bán được một số máy điện báo do ông chế ra. Edison mới có tiền để lập ra phòng thí nghiệm riêng của mình, rồi từ đó có đến hơn 1000 bằng phát minh sáng chế. Bell (31), người phát minh ra điện thoại và lập ra phòng thí nghiệm Bell Telephone (hiện nay là AT&T) mà từ đây đã sản sinh ra hàng chục phát minh Nobel của thế kỷ 20. Bell đã bắt đầu cuộc sống ở Mỹ lúc 24 tuổi bằng nghề dạy học cho những người câm điếc.

Không thể hình dung được tại sao trong lịch sử dài dằng dặc suốt gần hai thiên niên kỷ người ta vẫn cứ tin theo Aristotle rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Mãi cho đến năm 1589 khi Galileo (4) thả hai viên bi nặng nhẹ khác nhau từ trên đỉnh tháp nghiêng Pisa xuống đất để cho mọi người chứng kiến tận mắt rằng vận tốc của hai viên bi đó chẳng khác gì nhau, thì ông ta buộc phải thôi việc và chịu bao nhiêu khổ ải khác, vì dám cả gan cãi lại Aristotle. Cái thí nghiệm quá đơn giản của Galileo đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong lịch sử nhận thức nhận thức của Con Người: làm thực nghiệm để tìm ra chân lý chứ không phải “phán nhăng cuội” theo kinh thánh (tôi dùng từ hơi mạnh, thật ra người ta vẫn hay ghép các kiểu phán đó vào một loại khoa học gọi là speculative science). Năm 1609, Galileo đã sáng chế ra kính viễn vọng có độ phóng đại 20 lần, nhờ đó đã phát hiện các vết đen trên Mặt trời, núi non thung lũng trên Mặt trăng, các pha tròn khuyết của sao Kim, bốn vệ tinh của sao Mộc, đoán nhận có các sao nằm trong dải ngân hà. Tầm mắt con người đã vươn tới vũ trụ xa xăm! Những quan sát đó củng cố thêm lòng tin của ông vào thuyết nhật tâm của Copernicus(19), mà đã thế thì chống lại thuyết địa tâm của Ptolemy, tức là chống lại Nhà thờ. Ông bị cấm không được viết và nói: Trái đất quay quanh Mặt trời. Bất chấp phán quyết đó, ông vẫn viết nên đã bị kết tội chung thân (sau đó chuyển thành quản thúc vĩnh viễn tại gia), sách của ông bị đốt, tội trạng của ông được tuyên đọc ở khắp các trường đại học. Đáng buồn thay, tội của Galileo vẫn cứ bị treo đó trong suốt bốn thế kỷ văn minh nhất loài người vừa qua. Mãi cho đến năm 1992, Giáo hoàng John Paul II mới chịu nhận sai lầm của Vatican, nhưng cũng phải 13 năm sau khi tổ chức hội đồng xem xét lại vụ án Galileo dưới áp lực của hội Thiên văn quốc tế.

Sự tôn vinh Galileo lên vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng có thể vẫn còn chưa công bằng. Bởi lẽ chính nhờ có Galileo mà phần còn lại của nhân loại, trong đó có các bậc siêu nhân quyền quý, mới nhận ra sự yếu kém của mình. Không khí ngột ngạt bao trùm lên vụ hỏa thiêu Bruno và vụ án Galileo đã làm vẩn đục các giảng đường khiến Newton (6) luôn luôn e sợ trình bày và công bố các công trình nghiên cứu của mình. Mặc dù là người đầu tiên phát minh ra tính toán giải tích, trong một thời gian dài phát minh này vẫn chỉ gán cho nhà toán học Đức Leibniz. Phát minh của Newton về sự trộn lẫn các màu sắc trong ánh sáng Mặt trời đã bị các “đồng nghiệp” tại Cambridge công kích gay gắt. Tệ hại hơn, sau khi xuất bản cuốn “Principia”, có một nhà vật lý đã kiện Newton đánh cắp công thức của ông ta về lực vạn vật hấp dẫn (lực tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa hai vật).

Trong sự nghiệp khai phá của các vĩ nhân làm nên thiên niên kỷ, niềm đam mê sáng tạo là nguồn sức mạnh vun đắp tài ba, năng lực và làm rạng danh nhân cách của họ. Sống với nguồn năng lượng đó rất khó xảy ra tình trạng một nhân cách có vấn đề trong một tài ba lớn. Cũng chính niềm đam mê sáng tạo mới có thể giải thích nổi hiện tượng Edison (1): trong một đời người có đến 1000 bằng sáng chế phát minh. Việc Edison được bình chọn là người số 1 để tôn vinh sức sáng tạo huyền diệu của con người khiến ta không thể từ chối lý giải hiện tượng Edison mà vội chặc lưỡi cho rằng đó là một trường hợp siêu nhiên. Vả lại nếu hàng chục tỷ người khác có được hoàn cảnh thuận lợi như Edison ở Mỹ để phát huy tài năng thì biết đâu nhân loại còn có thêm nhiều Edison nữa.

Phạm Duy Hiển / Khoahocphattrien

Việt Nam và lĩnh vực thụ tinh trong ống nghiệm: Đi đầu về kỹ thuật, đi sau về dịch vụ


Từ một nước đi sau khu vực về lĩnh vực thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), Việt Nam đã trở thành nước đứng đầu về lĩnh vực này. Nhưng Thái Lan, Singapore mới là những nước đang thu hút rất nhiều bệnh nhân nước ngoài sử dụng dịch vụ này nhờ du lịch y tế phát triển.Một bệnh nhân cần hỗ trợ sinh sản ở Trung tâm TTTON Bệnh viện Mỹ Đức. Ảnh: H.M.T.Một bệnh nhân cần hỗ trợ sinh sản ở Trung tâm TTTON Bệnh viện Mỹ Đức. Ảnh: H.M.T.

Trong tương lai, với sự phát triển của ngành du lịch và năng lực dịch vụ y tế của Việt Nam được cải thiện, TTTON có thể là một dịch vụ y tế tiềm năng của Việt Nam, thu hút được khách hàng từ khu vực và thế giới.

Ưu tiên dịch vụ tốt cho khách nước ngoài

TTTON là kỹ thuật cơ bản của nhóm kỹ thuật điều trị hiếm muộn gọi chung là kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Em bé TTTON đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1978.

Tại các nước trong khu vực ASEAN, TTTON lần lượt thành công ở Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippines trong những năm 1980. Mãi đến năm 1998, em bé TTTON đầu tiên ở Việt Nam mới ra đời, sau thế giới 20 năm và sau các nước trong khu vực từ 10-15 năm.

Tuy nhiên sau đó, nhờ chi phí thấp và hướng phát triển hợp lý, các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở Việt Nam phát triển rất nhanh và mạnh.

Từ năm 2010, Việt Nam bắt đầu trở thành trung tâm đào tạo về TTTON của khu vực, mỗi năm có 20-30 chuyên viên các nước trong khu vực đến Việt Nam để tìm hiểu và học tập. Từ năm 2017 trở đi, số ca TTTON thực hiện mỗi năm ở Việt Nam đã cao nhất khu vực ASEAN. Năm 2019, cả Việt Nam có gần 35.000 trường hợp TTTON được thực hiện.

Sau Việt Nam, nước có số trường hợp TTTON nhiều nhất trong một năm là Thái Lan. Nhưng quốc gia này đã phát triển rất mạnh mảng du lịch y tế, trong đó TTTON là một dịch vụ phát triển mạnh của du lịch y tế Thái Lan.

Bệnh nhân các nước thường đến Thái Lan làm TTTON do một số kỹ thuật không thực hiện được hay bị cấm ở nước họ. Nhưng các bệnh nhân ở các nước phát triển đến Thái Lan làm TTTON còn một lý do nữa: dịch vụ y tế tốt, ngành du lịch phát triển và chi phí rẻ hơn ở nước họ.

Với điều kiện đó, trong nhiều năm qua ở Thái Lan kỹ thuật TTTON phát triển chủ yếu để thu hút người nước ngoài, vì có thể thu được nhiều lợi nhuận. Ước tính khoảng 60-70% bệnh nhân làm TTTON ở Thái Lan là người nước ngoài.

Singapore cũng mạnh về du lịch y tế. Nhiều người ở các nước phát triển và trong khu vực đến Singapore vì dịch vụ y tế tốt, đi lại và du lịch thuận tiện. Chi phí dịch vụ y tế ở Singapore rất cao và người dân Singapore có thu nhập cao nhất khu vực.

Singapore thu hút nhiều người thuộc giới thu nhập cao từ các nước trong khu vực và Trung Quốc đến để thực hiện TTTON. Ước tính có khoảng 50% trường hợp TTTON ở Singapore là người nước ngoài.

Trong những năm gần đây, theo kinh nghiệm phát triển của Singapore và Thái Lan, dựa trên nền tảng du lịch và y tế phát triển, Malaysia cũng đầu tư nhiều cho du lịch y tế.

Trong đó, TTTON cũng là một dịch vụ y tế thu hút nhiều người nước ngoài đến điều trị. Ước tính khoảng 30-40% trường hợp TTTON ở Malaysia là người từ các nước trong khu vực và Trung Quốc.

Ở Thái Lan, phần lớn các trung tâm TTTON có quy mô lớn, kỹ thuật tốt, có các bác sĩ kinh nghiệm…Khách nước ngoài đến điều trị thường là nhóm khách hàng có thu nhập cao, có khả năng chi trả nhiều hơn.

Điều này dẫn đến các điều kiện và dịch vụ tốt nhất về TTTON được dành cho người nước ngoài. Người dân trong nước có thu nhập thấp hơn thì ít có cơ hội được điều trị, do mặt bằng phí dịch vụ quá cao.

Họ chỉ có thể đến điều trị ở các trung tâm TTTON nhỏ hơn, cơ sở hạ tầng kém hơn, dịch vụ kém hơn và bác sĩ ít kinh nghiệm hơn. Đây là một bất cập lớn khi các nguồn lực y tế tốt nhất của một nước đang phát triển được dành cho người nước ngoài và nhu cầu điều trị của người dân trong nước không được đáp ứng.

Khi nói chuyện với một số đồng nghiệp uy tín trong lĩnh vực TTTON ở Thái Lan, một số người nói với tôi: trước đây nhiều cặp vợ chồng Việt Nam phải sang Thái Lan để điều trị TTTON, nhưng số này đang giảm dần. Họ nói có thể trong tương lai, nhiều người dân Thái Lan sẽ đến Việt Nam để làm TTTON vì kỹ thuật tốt và chi phí thấp hơn.

TTTON ở Indonesia và Philippines ít phát triển hơn và chi phí cũng khá cao. Nhiều người ở hai nước này Singapore, Thái Lan và Malaysia để điều trị TTTON. Ở các nước này, TTTON là một kỹ thuật rất tốn kém nên đa số người dân khó tiếp cận được.

Mặc dù thu nhập của người dân Việt Nam thấp nhưng chi phí TTTON ở Việt Nam lại rẻ hơn các nước trong khu vực nhiều lần, nên nhiều người Việt Nam có cơ hội tiếp cận điều trị hơn. Ước tính trong năm 2019, số trường hợp TTTON của cả Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippines cộng lại vẫn ít hơn ở Việt Nam.

Tuy nhiên, so với các nước, ngành du lịch của Việt Nam chưa phát triển bằng, dịch vụ y tế nói chung còn nhiều bất cập, do đó mặc dù TTTON Việt Nam chi phí rẻ, kỹ thuật tốt nhưng chưa thu hút được nhiều bệnh nhân nước ngoài (chỉ khoảng 1-2%).

Nếu xét về khả năng phục vụ người dân trong nước, chuyên ngành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản của Việt Nam đã làm khá tốt. Việt Nam có gần 40 trung tâm TTTON khắp cả nước từ Thái Nguyên, các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, đến các tỉnh miền Trung, miền Đông Nam Bộ và miền Tây Nam Bộ.

Chi phí TTTON ở Việt Nam chỉ bằng khoảng 20-50% các nước trong khu vực. Gần đây, một số trung tâm TTTON vừa mở ở Campuchia vẫn có chi phí điều trị cao hơn các trung tâm TTTON ở Việt Nam.

Một tiềm năng lớn

Việt Nam đang được xem là nước có chuyên ngành kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phát triển mạnh trong khu vực ASEAN, nhờ vào các yếu tố: quy mô lớn nhất, nhiều kinh nghiệm, có nhiều chuyên gia được biết đến trong giới chuyên môn khu vực, có hoạt động học thuật mạnh nhất trong khu vực…

Ở hầu hết các sự kiện khoa học của khu vực ASEAN về TTTON, các chuyên gia Việt Nam đều được mời báo cáo và chia sẻ kinh nghiệm. Việt Nam cũng là nước có nhiều báo cáo khoa học trên các tạp chí khoa học uy tín nhất trong khu vực ASEAN trong lĩnh vực TTTON.

Với số lượng công bố khoa học thường xuyên trên các tạp chí y học uy tín nhất của ngành TTTON thế giới (khoảng 10 bài mỗi năm), có thể nói về học thuật, TTTON Việt Nam tương đương với các nước phát triển.

Nhiều báo cáo khoa học của các trung tâm TTTON lớn của Việt Nam công bố trên các tạp chí hàng đầu thế giới trong lĩnh vực kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cũng cho thấy tỉ lệ thành công của TTTON ở Việt Nam tương đương với các tác giả đến từ các nước phát triển ở Mỹ và châu Âu.

Các trung tâm TTTON ở Việt Nam đa số được đầu tư xây dựng trong những năm gần đây nên có các thiết bị và công nghệ mới trên thế giới. Ngoài ra, người Việt Nam khéo léo, cần cù nên phù hợp với các kỹ thuật tinh vi, cần sự tập trung cao của người thực hiện như kỹ thuật TTTON.

Việt Nam cũng đã có một số kỹ thuật đi đầu khu vực và thế giới như kỹ thuật nuôi trưởng thành noãn trong ống nghiệm, đông lạnh phôi bằng kỹ thuật thủy tinh hóa, các kỹ thuật kích thích buồng trứng…

Do xu hướng phụ nữ có con ở độ tuổi lớn hơn, áp lực của đời sống hiện đại cao hơn nên nhu cầu TTTON ngày càng tăng, kỹ thuật TTTON ngày càng phổ biến.

Các nước phát triển, giàu có có xu hướng tài trợ cho TTTON vì muốn khuyến khích sinh con, do hầu hết các nước này đều có hiện tượng giảm sinh. Dư địa cho các dịch vụ này ở Việt Nam đối với nhóm khách hàng đến từ các quốc gia dạng này là rất lớn.

Hiện chi phí đầu tư cho một trung tâm TTTON ở Việt Nam (trong các bệnh viện xây sẵn) khoảng 40 tỉ đồng, chủ yếu là thiết bị, máy móc, dụng cụ… Mỗi trung tâm TTTON có khả năng điều trị khoảng 1.000 bệnh nhân/năm, tùy theo quy mô của mỗi trung tâm.

Tổng chi phí mỗi ca TTTON tại Việt Nam hiện khoảng 80-100 triệu đồng. Trong khi đó chi phí mỗi ca TTTON tại Campuchia khoảng 7.000 USD, Thái Lan khoảng 8.000-10.000 USD, Singapore trên 10.000 USD, châu Âu khoảng 12.000 USD và Mỹ khoảng 20.000 USD/trường hợp.

Xét về kỹ thuật, Việt Nam hiện tương đương với Singapore và tốt hơn Thái Lan. Ở phần lớn các nước Tây Âu, nhà nước chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí điều trị TTTON nếu là công dân của nước họ.

Tạp chí Nikkei Asian Review tháng 8-2018 đưa tin nhiều bệnh viện tư ở Thái Lan tích cực mở rộng khu TTTON để đáp ứng nhu cầu tăng cao từ các cặp đôi nước ngoài, nhất là từ Trung Quốc.

Bệnh viện Quốc tế Phayathai 2 xây khu TTTON mới và một trung tâm dịch vụ sinh sản vì có nhiều khách Trung Quốc. Theo bác sĩ Theerayut Jongwutiwes – chuyên gia TTTON tại Phyathai 2, bệnh viện vào thời điểm trên điều trị cho 30-35 cặp vợ chồng/tháng, so với 20-25 cặp trong năm 2017.

Tập đoàn Thonburi Healthcare cũng xây dựng cơ sở mới ngay thủ đô Bangkok. Chủ tịch tập đoàn, bác sĩ Boon Vanasin, cho biết đầu tư vào các trung tâm TTTON không chỉ giúp Thái Lan có nguồn thu từ dịch vụ điều trị hiếm muộn, mà còn từ các dịch vụ ăn, nghỉ, điều trị khác.

BS HỒ MẠNH TƯỜNG -(PHÓ CHỦ TỊCH HỘỊ SINH SẢN CHÂU Á -THÁI BÌNH DƯƠNG, ASPIRE)

Theo TTCT

Mặt bằng thu nhập khối ngành kỹ thuật thấp hơn nhân văn?


Thông thường chúng ta nghĩ ngành kỹ thuật, công nghệ có cơ hội rộng mở, mức lương “khủng”, nhưng một nghiên cứu sử dụng số liệu cuộc Điều tra lao động và việc làm toàn quốc năm 2018 của Tổng cục Thống kê cho thấy mặt bằng thu nhập của nhóm ngành kỹ thuật/công nghệ, khoa học tự nhiên, kinh doanh/tài chính, nông nghiệp/thú y thấp hơn nhóm ngành nhân văn/nghệ thuật.

Ảnh minh họa: mitc.edu.vn


Kết quả bất ngờ đó được đề cập trong công bố “Sự khác biệt tiền lương theo ngành học đại học: bằng chứng từ các cử nhân đại học ở Việt Nam”, trên tạp chí International Journal of Educational Development1 vào tháng 10 vừa qua của TS Trần Quang Tuyến và TS Vũ Văn Hưởng, Khoa Quốc tế, ĐHQG Hà Nội. Các tác giả sử dụng mô hình phân tích kinh tế lượng để đánh giá sự khác biệt tiền lương theo ngành học đại học, mô hình có kiểm soát các đặc điểm về kinh nghiệm, giới tính, nghề nghiệp, khu vực việc làm, việc làm đúng ngành học và khu vực địa lý. Kết quả cho thấy tiền lương trung bình của nhóm ngành nhân văn/nghệ thuật cao hơn so với nhóm ngành kỹ thuật/công nghệ, khoa học tự nhiên, kinh doanh/tài chính, nông nghiệp/thú y.

Nhóm tiếp tục phân tích thêm sự khác biệt về tiền lương theo ngành học giữa khu vực công-tư và theo giới tính nam-nữ. Kết quả cho thấy, ở khu vực tư ngành nhân văn nghệ thuật có mức lương trung bình cao hơn hầu hết các ngành khoa học tự nhiên/toán và máy tính; kỹ thuật/công nghệ và nông nghiệp. Ở khu vực công, ngành nhân văn nghệ thuật vẫn có mức lương trung bình cao hơn (tuy cách biệt không lớn như ở khu vực tư) một số ngành như kinh doanh/tài chính; báo chí/truyền thông; và nông nghiệp/thú y. Còn phân tích theo giới tính cho thấy sự khác biệt tiền lương theo ngành học rõ hơn ở nhóm nữ, với mức lương trung bình của nhóm ngành nhân văn/nghệ thuật cao hơn đáng kể cho nhóm so với hầu hết các nhóm ngành khác, và chỉ thấp hơn ngành an ninh-quốc phòng. Còn mức lương giữa các ngành học của nhóm nam không có sự khác biệt đáng kể. “Điều này hoàn toàn trái ngược các nước phát triển như Mỹ, Đức, Ý, Ireland và Úc nơi ngành nhân văn/nghệ thuật thường có mức thu nhập thấp hơn nhiều so với các ngành công nghệ, kỹ thuật nhưng lại tương tự với tình hình ở Trung Quốc”, TS Trần Quang Tuyến nói.

TS Tuyến cho biết, nghiên cứu này đưa ra các hàm ý chính sách quan trọng. Thứ nhất, mức lương trung bình không hấp dẫn, thậm chí là thấp với các ngành học kỹ thuật/công nghệ, khoa học tự nhiên/toán/máy tinh, nông nghiệp/thú ý có thể không khuyến khích người học vào ngành này, dẫn tới hệ quả là có thể thiếu hụt nhân lực kỹ thuật/công nghệ để phục vụ cho công cuộc hiện đại hóa của đất nước. Vì thế cần có các giải pháp nâng cao tính hấp dẫn với các ngành học này ở cả phía cung và cầu lao động. Phía cung, cần có những đầu tư phù hợp của nhà nước và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học để có nguồn nhân lực kỹ thuật/công nghệ phù hợp hơn với khu vực doanh nghiệp. Về phía cầu, các cải cách kinh tế cần thúc đẩy sự mở rộng các ngành công nghiệp chế tạo và các ngành công nghệ cao, qua đó gia tăng cầu về nhân lực kỹ thuật/công nghệ.

TS Tuyến cho biết thêm, nếu có thêm dữ liệu về thu nhập của các cá nhân trong thời gian dài, thậm chí cả vòng đời thì có thể chỉ ra sự khác biệt tiền lương theo ngành học của cả cuộc đời, từ công việc ban đầu ngay sau khi tốt nghiệp đại học cho tới các công việc tiếp theo. Chẳng hạn, các quan sát ở một số nước phát triển như Mỹ cho thấy chênh lệch tiền lương giữa nhóm ngành nhân văn/nghệ thuật với nhóm ngành kỹ thuật/công nghệ có xu thế thu hẹp dần khi độ tuổi của người lao động tăng lên. Đó là vì ngành như công nghệ/kỹ thuật hay có xu hướng thay đổi nhanh chóng về công nghệ, đòi hỏi lao động luôn phải cập nhật các kỹ năng mới để thích ứng và dẫn tới bất lợi với người lao động khi độ tuổi tăng lên. Nhưng hiện tại chưa thể quan sát yếu tố này ở Việt Nam.

Chú thích:
1 Tạp chí xếp hạng Q1 về development theo SCIMAGO.
Toàn văn công bố: https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0738059320304302#!Chia

Theo Tạp Chí Tia Sáng