Giao tiếp bằng ý nghĩ


Giao tiếp bằng ý nghĩ: Một thập niên thăng hoa

Trong số những địa hạt mà loài người khát khao khám phá, bộ não bé nhỏ của chúng ta thật ra vẫn còn là một đại dương sâu thẳm đầy bí ẩn. Ở đó, các nhà khoa học đã miệt mài cưỡi lên những con sóng đặc biệt – sóng não. Và trong mười năm qua, việc “giao tiếp bằng ý nghĩ” đã dần bước ra ngoài trí tưởng tượng.

 Ảnh: Getty Images

Tiến bộ khoa học hiện đã cho phép con người điều khiển cánh tay robot bằng ý nghĩ. Họ tưởng tượng mình đang bắt tay hay cầm nắm một vật trong đầu, và các tín hiệu não sẽ “ra lệnh” cho cánh tay giả thông qua một máy tính. Nhưng chuyện giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ vốn phức tạp hơn gấp nhiều lần.

Giải pháp phổ biến là người bị liệt điều khiển con trỏ trên bàn phím ảo bằng cách nháy mắt, gật đầu để gõ chữ. Quá trình tuy hiệu quả nhưng tốn nhiều thời gian và đòi hỏi sự tập trung cao độ. “Chén thánh” của lĩnh vực nghiên cứu này là con người có thể thực sự giao tiếp – qua chữ viết hay giọng nói – chỉ bằng cách… nghĩ.

Gần một trăm năm trước, sóng não ở người lần đầu tiên được phát hiện bởi Hans Berger, một bác sĩ tâm thần người Đức và là cha đẻ của kỹ thuật đo điện não đồ (EEG). Do quá ngỡ ngàng trước khám phá đó, phải 5 năm sau vị này mới công bố các phát hiện của mình (năm 1929), và tất nhiên đối mặt với vô vàn hoài nghi. 

Có lẽ đa số công chúng thời nay cũng khó mà hiểu được khái niệm này. Về cơ bản, sóng não là hoạt động điện xảy ra trong não và được đo bằng tần số. Sóng não thay đổi theo các quá trình nhận thức, chẳng hạn như sóng não ghi nhận trong các giai đoạn khác nhau của giấc ngủ là khác nhau. 

Sóng não “thay lời 
muốn viết”

“Hôm nay anh thấy thế nào?” – nghiên cứu viên hỏi. “Tôi rất khỏe” – người đàn ông đáp lại sau vài giây, không phải bằng lời nói mà bằng câu chữ hiện trên màn hình máy tính. Người này đã ngoài 30, không thể nói chuyện và bị liệt cứng tứ chi sau một cơn đột quỵ xảy ra hơn 15 năm trước.

Để biểu diễn được kết quả này, nhóm nghiên cứu đã cấy một số điện cực lên vỏ não của anh ta, ngay trên khu vực điều khiển giọng nói. Sau đó, trí tuệ nhân tạo (AI) trải qua hàng chục giờ phân tích sóng não của người này mỗi khi anh ta cố gắng “nói” (dù không thể nói) những từ phổ biến như “rất” và “khỏe”. Ý tưởng ở đây là nắm bắt tín hiệu não liên quan đến các sợi cơ góp phần tạo ra giọng nói (như hàm, môi, lưỡi…).

Cuối cùng, AI học được cách nhận biết 50 từ vựng – đủ để hình thành hơn 1.000 câu. Kết hợp mô hình vi tính và ngôn ngữ tự nhiên, hệ thống này có thể “dự đoán” được từ tiếp theo dựa vào từ đứng trước, nhờ đó giải mã thành câu nói trọn vẹn khi người đàn ông cố gắng diễn đạt một ý nghĩ.

Kết quả nghiên cứu trên vừa được công bố hôm 14-7 trên tạp chí New England Journal of Medicine. Đây là cột mốc quan trọng để thêm tin tưởng rằng trong tương lai, hàng ngàn người bị mất khả năng nói do chấn thương hoặc bệnh tật sẽ có thể giao tiếp hiệu quả trở lại.

Trong hệ thống hiện tại, mất khoảng ba đến bốn giây để một từ được nhận diện và xuất hiện trên màn hình – tuy không nhanh bằng tốc độ nói, nhưng vượt trội phương pháp chọn từng chữ cái để ráp thành câu.

Trên báo The Guardian, tiến sĩ Edward Chang, nhà giải phẫu thần kinh tại ĐH California (Mỹ) và là người dẫn đầu nghiên cứu, cho biết: “Hầu hết chúng ta đều chẳng để ý đến việc ta có thể giao tiếp bằng lời nói dễ dàng đến thế… Thật hào hứng khi biết rằng chúng ta đang ở trang đầu của một chương mới, một lĩnh vực mới”, nhằm cải thiện cuộc sống của những bệnh nhân bị cướp mất khả năng “độc quyền” đó ở loài người.

Trước đó 2 tháng, trên tạp chí Nature, một nhóm nghiên cứu quốc tế đã công bố một ý tưởng khác biệt, nhằm giải quyết vấn đề tương tự. Một bệnh nhân bị liệt khác đã có thể “gõ” 90 ký tự trong một phút – nhanh hơn hẳn các thiết bị “gõ chữ cái” – bằng cách tưởng tượng rằng anh ta đang cầm bút để viết ra nội dung đó (dù không thể cử động).

Trong nghiên cứu này, khoảng 200 điện cực được đưa vào vùng vỏ não tiền vận động (premotor cortex) của một người đàn ông ngoài 60 tuổi. Đây là nơi hình thành các ý định, trước khi thực sự nghĩ đến việc thực hiện một cử động. Nhìn chung, nhóm nghiên cứu cho biết hệ thống này có độ chính xác khoảng 94%. Độ trễ giữa suy nghĩ và ký tự xuất hiện trên màn hình là khoảng nửa giây.

 Minh họa thí nghiệm giao tiếp bằng sóng não của ĐH California. Ảnh cắt từ video

Sóng não “nói hộ lòng tôi”

Mắc bệnh xơ cứng teo cơ ALS từ năm 21 tuổi, nhà vật lý quá cố Stephen Hawking đã từng sử dụng một phiên bản thô sơ của công nghệ tổng hợp giọng nói để giao tiếp với người khác. Ông lựa chọn từ mà mình muốn bằng cử động của cơ má, và văn bản đó được đọc bởi một giọng nhân tạo gần giống giọng của vị giáo sư.

Trong tương lai, phiên bản lý tưởng của công nghệ này cần phải loại bỏ các bước trung gian vốn tốn nhiều công sức, cho phép người dùng hình dung trong đầu những gì họ muốn nói, rồi đợi giọng nói nhân tạo “nói hộ” những suy nghĩ này.

Đầu năm 2019, một nhóm nhà khoa học Mỹ cho biết họ đã thành công khi chuyển đổi sóng não của người thành tiếng nói có thể nghe và hiểu được. Nghiên cứu đăng trên Scientific Reports hứa hẹn có thể mang đến giọng nói mới cho những ai bị mất khả năng nói.

Thay vì trực tiếp theo dõi suy nghĩ để tạo ra giọng nói, nhóm nghiên cứu này ghi lại sóng não của những người tham gia khi họ đang lắng nghe người khác nói. Dữ liệu sóng não này sau đó được thuật toán AI chuyển đổi thành âm thanh có thể hiểu được, dù giống như giọng robot. Những âm thanh này lặp lại chính nội dung mà người tham gia đã được nghe trước đó.

ĐH California San Diego (Mỹ) cũng đã tái tạo được giọng hót phức tạp – gồm cao độ, âm lượng và âm sắc của một con chim bằng cách đọc sóng não của nó. Nghiên cứu được công bố trên Current Biology vào giữa tháng 6, củng cố tham vọng phát triển giọng nói giả cho con người.

Nhưng tái tạo được tiếng chim hót thì liên quan gì đến tiếng nói con người? “Trong thực tế, giọng của những loài chim biết hót và giọng nói của con người có nhiều điểm tương đồng: đều rất phức tạp và là hành vi học được – những đặc điểm mà chúng ta chưa thể tiếp cận ở các loài linh trưởng điển hình khác” – trang web của ĐH California San Diego dẫn lời giáo sư Vikash Gilja, đồng tác giả của nghiên cứu.

Tâm linh tương thông

Các nghiên cứu kể trên ứng dụng công nghệ kết nối não với máy tính (BCI: Brain-Computer Interface). Các hoạt động điện trong não không chỉ bao gồm việc gửi tín hiệu, mà còn tiếp nhận các xung điện, và bản chất này giúp mở ra một lĩnh vực tham vọng hơn nữa: truyền suy nghĩ từ bộ não này sang bộ não khác (BBI: Brain-to-Brain Interface).

Minh chứng đầu tiên cho ý tưởng này là một cặp chuột “thần giao cách cảm” trong một nghiên cứu năm 2013. Các nhà khoa học đã cấy ghép điện cực vào não chuột, cho phép chú chuột A “chỉ” cho chú chuột B biết nên nhấn cần gạt nào để cả 2 được nhận phần thưởng. Tất cả sự giao tiếp đều diễn ra trong đầu đôi chuột.

Năm 2019, các nhà khoa học Mỹ công bố trên tạp chí Scientific Reports kết quả thí nghiệm mang màu sắc viễn tưởng, làm gợi nhớ năng lực “hợp nhất tâm trí” của người Vulcan trong loạt phim Star Trek: kết nối bộ não của ba người bình thường để họ có thể giao tiếp chỉ bằng sóng não thông qua một hệ thống mang tên BrainNet.

Cụ thể, 2 người tham gia đóng vai trò “người gửi”, đội lên đầu thiết bị đo điện não đồ (EEG). Người thứ 3, trong vai “người nhận”, được gắn thiết bị kích thích từ xuyên sọ (TMS) trên đầu – nó tạo ra một từ trường trên da đầu, sau đó tạo ra dòng điện trong não. Cả EEG và TMS đều không cần phẫu thuật xâm lấn. Bộ ba được yêu cầu hợp tác thông qua suy nghĩ, để cùng giải quyết một nhiệm vụ giống như trò xếp gạch Teris.

Việc giao tiếp này thật ra không sử dụng từ ngữ, mà là các quyết định nhị phân có-không (có lật viên gạch tiếp theo trong trò chơi không). Giả dụ như khi “người gửi” quyết định “có”, thiết bị EEG sẽ ghi lại sóng não, và tín hiệu được truyền đến “người nhận” qua Internet. Thiết bị TMS nhận và “đọc” tín hiệu, khiến người nhận nhìn thấy một tia sáng, dù không hề có ánh sáng đi vào mắt (hiện tượng Phosphene) và thực hiện hành động. Không có tia sáng nghĩa là quyết định “không”.

 Thí nghiệm BrainNet. Ảnh: Mark Stone (ĐH Washington)

Những thành tựu kể trên chỉ giúp các nghiên cứu dùng sóng não để giao tiếp lên thêm một bước, chứ đích đến hãy còn xa. Giới khoa học vẫn miệt mài nghiên cứu và tiếp tục mơ xa hơn.

Các đột phá trong việc giải mã sóng não rồi sẽ đưa loài người đến đâu? Một xã hội mà người ta thấu hiểu nhau với tốc độ ánh sáng, hay “tải” suy nghĩ của mình ra máy tính – để lưu trữ cho con cháu, hoặc chỉ để tranh luận trên mạng? Một chiến trường nơi các binh sĩ phối hợp chỉ bằng suy nghĩ, chẳng cần phải cất thành lời? Một thế giới mà bộ não của ta điều khiển mọi thứ, cũng có thể là ngược lại? Hay ở đỉnh cao tiến hóa, khi y khoa có thể thay bàn tay tạo hóa, để tái sinh những bản năng đã mất? Câu trả lời đang chờ đợi ta ở những thập niên tiếp theo.

LÊ MY / TTCT

[Khoa Học] Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm


Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không?

Người ta nói rằng mái tóc của Marie Antoinette, hoàng hậu của vua Pháp Louis XVI, hoàn toàn chuyển sang màu trắng vào đêm trước khi bà bị chém, khi bà 38 tuổi. Vậy hiện tượng này có thực sự tồn tại hay không?

Câu chuyện trên có thể chỉ là hư cấu, thế nhưng hiện tượng tóc bị bạc đi chỉ sau một đêm hoặc trong một thời gian rất ngắn là hoàn toàn có thật và nó được gọi là Hội chứng Marie Antoinette. 

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 1.

Hội chứng Marie Antoinette là hiện tượng mà tóc của một người đột nhiên chuyển sang màu trắng (mất sắc tố). Tên của tình trạng này xuất phát từ câu chuyện dân gian về nữ hoàng Pháp Marie Antoinette, người có mái tóc được cho là đột ngột trở nên bạc trắng trước khi bị hành hình vào ngày16/10/1793.

Mọi người thường cho rằng hội chứng này được hình thành là do áp lực – có lẽ điều này được thể hiện rõ nhất qua các bức ảnh chụp nguyên thủ quốc gia trước và sau khi nhậm chức.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 2.
So sánh tổng thống Obama trước và sau khi nhậm chức, nghỉ hưu.

Tuy nhiên, do cơ chế cụ thể của việc tóc bạc vẫn chưa được làm rõ nên chưa rõ 3 yếu tố lão hóa, yếu tố di truyền và căng thẳng sẽ ảnh hưởng đến việc tóc bạc ở mức độ nào.

Gần đây, các nhà nghiên cứu từ Đại học Harvard đã công bố một nghiên cứu trên tạp chí Nature xác định cơ chế khiến lông chuột bạc sớm khi bị căng thẳng.

Da đầu của con người trung bình có 100.000 nang tóc và con người cũng có nhiều màu tóc khác nhau. Màu tóc được xác định bởi các tế bào hắc tố, sản sinh ra melanin hấp thụ ánh sáng theo nhiều cách kết hợp khác nhau. Tế bào hắc tố có nguồn gốc từ tế bào gốc tạo hắc tố (MeSC), nằm ở phần nhô ra của nang lông.

Chu kỳ phát triển của tóc được chia thành ba giai đoạn, đó là giai đoạn tăng trưởng anagen, giai đoạn nghỉ ngơi catagen và giai đoạn chuyển hóa dài (rụng) telogen.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 3.
Chu kỳ phát triển của tóc: giai đoạn tăng trưởng, giai đoạn nghỉ ngơi và giai đoạn rụng (từ trái sang phải).

Tế bào hắc tố được tạo ra trong giai đoạn tăng trưởng. Khi con người già đi, các tế bào gốc melanin sẽ dần cạn kiệt, và sắc tố được tạo ra sẽ có màu “muối tiêu”, sau đó chuyển sang màu xám, và cuối cùng là màu trắng – sắc tố bị mất hoàn toàn trong tất cả các nang lông.

Lúc đầu, các nhà nghiên cứu nghi ngờ rằng căng thẳng sẽ gây ra một cuộc tấn công miễn dịch vào các tế bào gốc melanin. Nhưng sau đó điều này đã được chứng minh là một giả thuyết sai lầm, vì chuột thiếu tế bào miễn dịch những vẫn bị biến đổi và xuất hiện các đốm trắng.

Căng thẳng sẽ làm tăng tiết hormone cortisol nên các nhà nghiên cứu bắt đầu nghi ngờ rằng hormone cortisol là nguyên nhân khiến tóc bị thay đổi màu. Tuy nhiên, khi người ta loại bỏ các tuyến sản xuất cortisol ở chuột, lông của chuột sẽ vẫn chuyển sang màu trắng.

Cuối cùng, các nhà khoa học tập trung vào hệ thần kinh giao cảm – hệ thống trong cơ thể được sử dụng để kiểm soát phản ứng căng thẳng trong các tình huống nguy hiểm.

Thông qua các nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện rằng tế bào gốc tạo hắc tố nằm trong phần phồng của nang lông, được bao bọc bởi các tế bào thần kinh của hệ thần kinh giao cảm và giải phóng một phân tử dẫn truyền thần kinh được gọi là norepinephrine.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 4.
Hoạt động của tế bào gốc melanin trong điều kiện bình thường và căng thẳng.

Như hình a có thể thấy, trong điều kiện bình thường, tế bào gốc melanin (MeSC) di chuyển từ chỗ phình ra (theo hướng mũi tên đỏ) và biệt hóa thành tế bào hắc tố trong quá trình phân tích. Từ đó, tế bào hắc tố tổng hợp sắc tố để làm cho tóc tái sinh có màu sẫm.

Trong giai đoạn thoái hóa và nghỉ ngơi, các tế bào gốc này bắt đầu chết. Tuy nhiên, trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo, vẫn sẽ có một lượng lớn MeSC mới được dùng để thay thế các tế bào gốc đã chết.

Trong hình b, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng áp lực bên ngoài kích thích và kích hoạt hệ thần kinh giao cảm, làm tăng cường giải phóng adrenaline trong các nang tóc. Sau đó, norepinephrine sẽ khiến MeSC biến đổi hoàn toàn thành tế bào hắc tố, và không có tế bào gốc nào còn sống sót qua giai đoạn tăng trưởng trong chu kỳ tiếp theo.

Vì không có tế bào hắc tố mới nào được sản sinh nên tóc sẽ tự nhiên có màu trắng xám.

Các nhà nghiên cứu cũng đã thử nghiệm tác động của các áp lực khác nhau lên sự bạc màu của lông chuột.

Ở các giai đoạn mọc lông khác nhau, họ cho chuột tiếp xúc với ba yếu tố gây căng thẳng khác nhau – đau đớn, hạn chế vận động và căng thẳng tâm lý . Cả ba yếu tố này đều gây ra sự suy giảm MeSC, cuối cùng dẫn đến sự xuất hiện của lông trắng.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 5.

Các lý thuyết phổ biến trước đây tin rằng những thay đổi nội tiết tố do căng thẳng gây ra (chẳng hạn như corticosterone) hoặc phản ứng tự miễn dịch là nguyên nhân khiến tóc bạc.

Các nhà nghiên cứu đã kiểm tra các cơ chế cơ bản này, trước tiên bằng cách ngăn chặn tín hiệu corticosterone, sau đó làm căng thẳng hệ thống miễn dịch của chuột.

Trong cả hai trường hợp, những thay đổi về corticosterone hoặc phản ứng tự miễn dịch không gây ra sự suy giảm MeSC. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng sự biểu hiện của MeSC phụ thuộc vào một thụ thể adrenaline, thụ thể này phản ứng với adrenaline.

Tuyến thượng thận là nguồn cung cấp adrenaline chính. Nhưng đáng ngạc nhiên là các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc loại bỏ các tuyến này vẫn không thể ngăn được màu lông của chuột chuyển sang màu xám khi gặp căng thẳng.

Một nguồn khác của adrenaline là hệ thống thần kinh giao cảm (SNS), hoạt động tích cực để phản ứng với căng thẳng. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng vùng phồng được kết nối bên trong bởi các tế bào thần kinh giao cảm. Sử dụng các phân tử độc tố thần kinh để phá hủy SNS hoặc ngăn tế bào thần kinh giao cảm giải phóng adrenaline có thể ngăn tóc chuyển sang màu xám do căng thẳng.

Tiếp theo, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu những con chuột có tế bào thần kinh giao cảm được kích hoạt và phát hiện ra rằng việc kích hoạt quá mức SNS ở những con chuột này có thể khiến lông chuyển sang màu xám mà không cần bị căng thẳng.

Tổng hợp lại, những kết quả này chỉ ra rằng adrenaline được giải phóng từ các tế bào thần kinh giao cảm khi được hoạt động sẽ gây ra sự suy giảm MeSC.

Hiện tượng bạc trắng đầu chỉ sau một đêm như trong phim có tồn tại ở bên ngoài đời thực hay không? - Ảnh 6.
Màu đỏ cho thấy các tế bào gốc melanin ở dưới cùng của các nang lông và các dây thần kinh giao cảm được hiển thị bằng màu xanh lá cây xung quanh chúng.

Do đó, hung thủ gây ra Hội chứng Marie Antoinette chính là adrenaline, thế nhưng vấn đề của chúng ta vẫn chưa kết thúc. Căng thằng sản sinh ra adrenaline làm bạc tóc, vậy một mái bị chuyển sang màu bạc có thể giúp chúng ta giảm bớt căng thẳng?

Nhóm nghiên cứu từ Đại học Harvard do Xu Yajie đứng đầu tin rằng việc làm trắng tóc thực chất là một tác dụng phụ của quá trình xử lý căng thẳng của hệ thần kinh giao cảm: “Đối với những loài như bạch tuộc và tắc kè hoa có khả năng thay đổi màu sắc nhanh chóng, các tế bào sắc tố trong cơ thể chúng sẽ được kích hoạt dưới tác động của hệ thần kinh. Nhưng đối với động vật có vú ngày nay, chỉ có tế bào hắc tố vẫn còn rất nhạy cảm với các hormone do hệ thần kinh tiết ra. Một khi hormone được tiết ra quá mức, các tế bào này sẽ vô tình bị kích hoạt”.

Màu tóc bị bạc không mang lại nguy hiểm tính mạng nên trong quá trình tiến hóa, khuyết điểm nhỏ này vẫn được giữ nguyên. Trên thực tế, khi đối mặt với căng thẳng, tóc sẽ không thực sự biến đổi hoàn toàn thành màu trắng trong một sớm một chiều, đây là một quá trình diễn ra chậm và kéo dài trong vài tháng.

Ngoài việc liên quan đến căng thẳng và tuổi tác, tóc bạc đôi khi có thể liên quan đến kinh nghiệm, khả năng lãnh đạo và lòng tin.

Ví dụ, khi một con khỉ đột núi lưng bạc đực trưởng thành hoàn toàn, nó sẽ mọc lông màu xám trên lưng và trở thành thủ lĩnh của bầy khỉ đột. Sau khi hứng chịu đủ áp lực, những cá thể được “nhuộm” lông trắng thường có địa vị trong cộng đồng cao hơn so với tuổi của chúng.

Theo Tri Thức Trẻ

COVID đang thay đổi cách nghiên cứu về hành vi con người


Chỉ trong thời gian ngắn từ khi đại dịch xảy ra, nhiều nghiên cứu về hành vi con người đã được thực hiện theo cách thức, quy mô rất khác so với trước đây.

Một số nghiên cứu đã được đưa vào ứng dụng trong thực tiễn ở quy mô nhỏ gần như ngay lập tức sau khi hoàn thành.Trong những tháng đầu của đại dịch COVID-19, Jay Van Bavel, nhà tâm lý học tại Đại học New York muốn xác định các yếu tố xã hội nào có thể giúp dự đoán ủng hộ của mỗi người đối với các biện pháp sức khỏe cộng đồng chẳng hạn như giãn cách xã hội hoặc đóng cửa nhà hàng.

Ông đã có một số cộng tác viên sẵn sàng thu thập dữ liệu khảo sát nhưng vì đại dịch đang diễn ra khắp nơi, rất khó thực hiện nghiên cứu theo cách thức truyền thống. Vì vậy, Jay Van Bavel đã thực hiện bằng một phương pháp mới lạ.

Bavel đã đăng một mô tả về nghiên cứu trên Twitter vào tháng 4, với lời mời các nhà nghiên cứu khác tham gia. “Có lẽ tôi sẽ có thêm khoảng mười người tham gia và thêm một số điểm dữ liệu khác”, ông nhớ lại dự định của mình. Tuy nhiên, kết quả khiến ông rất bất ngờ. Hơn 200 nhà khoa học từ 67 quốc gia đã tham gia. Cuối cùng, các nhà nghiên cứu đã thu thập dữ liệu của hơn 46.000 người.

Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng, về tổng thể, những người được khảo sát cho rằng bản sắc dân tộc (national identity) là yếu tố quan trọng đối với mình thì có xu hướng tuân thủ các chính sách y tế cộng đồng. Nghiên cứu hiện đang được đánh giá bình duyệt.

Việc người dân các nước ủng hộ các chính sách y tế cộng đồng như đeo khẩu trang, phụ thuộc một phần vào bản sắc dân tộc. Ảnh: Reuters / Alamy.

Đối với các nhà khoa học xã hội, đại dịch COVID-19 đã mang đến một cơ hội độc nhất vô nhị – một thí nghiệm tự nhiên “trên mọi nền văn hóa và các nhóm kinh tế xã hội”, Andreas Olsson, nhà tâm lý học tại Viện Karolinska ở Stockholm cho biết.

Mọi người đều đang phải đối mặt với những mối đe dọa như nhau về sức khỏe và sinh kế, “vì vậy chúng ta có thể thấy cách mọi người phản ứng khác nhau, tùy thuộc vào văn hóa, nhóm xã hội và sự khác biệt cá nhân”. Ví dụ, các nhà nghiên cứu có thể so sánh hành vi của mọi người trước và sau khi có những thay đổi chính sách lớn, hoặc để nghiên cứu luồng thông tin chính thống và thông tin sai lệch dễ dàng hơn.

Từ nghiên cứu đến thực nghiệm nhanh chóng

Trước khi tiến hành nghiên cứu hợp tác trên quy mô lớn này, Van Bavel và một nhóm hơn 40 nhà nghiên cứu đã cùng nhau vạch ra những cách thức mà nghiên cứu hành vi có thể cung cấp thông tin và tác động đến cách thức con người phản ứng với coronavirus SARS-CoV-2, đúng vào thời điểm mà mọi người đang sợ hãi, hoài nghi và khủng hoảng thừa thông tin.

Nhóm các nhà khoa học của Van Bavel cũng đã vạch lại các nghiên cứu trước đây có thể ảnh hưởng đến các chính sách, và xác định các dự án có tiềm năng trong nhận thức mối đe dọa, ra quyết định cũng như truyền thông khoa học, cùng những yếu tố khác.

Nhiều người háo hức áp dụng nghiên cứu này để hiểu được phản ứng của công chúng đối với các chính sách như giãn cách hay đeo khẩu trang. Trong cuộc khảo sát hơn 46.000 người, Van Bavel và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng: những quốc gia mà người dân ủng hộ các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh thường là những quốc gia thúc đẩy ý thức đoàn kết và gắn kết cộng đồng. Họ có tâm lý “tất cả chúng ta đều ngồi chung một con thuyền”, ông nói.

Nhìn chung, các phân tích dự báo cho thấy ở các nước có bản sắc dân tộc mạnh mẽ thì có nhiều khả năng ủng hộ hơn đối với các biện pháp chống dich chặt chẽ như vậy. Van Bavel nói rằng điều này cho thấy có thể tận dụng bản sắc dân tộc khi thúc đẩy các chính sách y tế cộng đồng. Các thí nghiệm khác đã chỉ ra rằng người đưa ra thông điệp cũng thực sự quan trọng. Một nghiên cứu được công bố vào tháng 2 vừa qua đã khảo sát hơn 12.000 người ở 6 quốc gia – Brazil, Italia, Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ – về việc họ sẵn sàng chia sẻ thông điệp khuyến khích giãn cách xã hội.

Khảo sát tập trung vào nghiên cứu thông điệp từ những người nổi tiếng như diễn viên Tom Hanks, Kim Kardashian hay của nhà khoa học, nhà quản lý có uy tín như Anthony Fauci, giám đốc Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Hoa Kỳ. Kết quả cho thấy, trong đợt dịch, những người được hỏi từ tất cả các quốc gia đều sẵn sàng chia sẻ thông điệp liên quan đến dịch bệnh do Anthony Fauci phát ngôn.

So với nhà khoa học, thông tin về dịch bệnh do người nổi tiếng đưa ra có hiệu quả kém hơn. Mặt khác, việc sắp xếp thông điệp về dịch bệnh gắn với các giá trị của các nhóm xã hội khác nhau, hoặc làm nổi bật xu hướng chấp thuận trong xã hội cũng có thể hữu hiệu.

Cùng trong nhóm của Van Bavel, nhánh nghiên cứu do Michele Gelfand, một nhà tâm lý học tại Đại học Maryland ở College Park dẫn đầu đang nghiên cứu về các cách quảng bá việc đeo khẩu trang giữa những nhóm bảo thủ và tự do ở Hoa Kỳ. Các nhà nghiên cứu thử nghiệm tám biện pháp can thiệp, phản ánh các giá trị đạo đức khác nhau và các yếu tố cụ thể đối với phòng chống COVID-19. Mục đích là tìm ra cách nào hiệu quả nhất trong việc khuyến khích các nhóm này tuân thủ hướng dẫn về sức khỏe cộng đồng.

Một thông điệp mà họ đang thử nghiệm là nhấn mạnh rằng việc đeo khẩu trang sẽ ‘giúp chúng ta mở cửa lại nền kinh tế nhanh hơn’ – một cách tiếp cận được thiết kế để thu hút các đảng viên Cộng hòa, những người có nhiều khả năng coi đại dịch là một cuộc khủng hoảng kinh tế hơn là một cuộc khủng hoảng sức khỏe.

Còn một thông điệp khác, nhấn mạnh vào việc “một chiếc khẩu trang sẽ giữ cho bạn an toàn” – nhắm đến những người theo chủ nghĩa tự do. “Chúng tôi đang so sánh các biện pháp với nhau để xem cách thức nào mang lại hiệu quả tốt với nhóm nào”, Gelfand nói.

Do vậy, nghiên cứu này có thể đánh giá đồng thời nhiều biện pháp can thiệp cũng như khuyến nghị việc có thể sử dụng các biện pháp can thiệp khác nhau, ở các quy mô lớn, trên nhiều vùng khác nhau. Kết quả vẫn chưa được công bố. Các nhà khoa học khác cũng bắt đầu sử dụng cách tiếp cận tương tự để truyền thông khuyến khích tiêm chủng ngay cả trước khi có vaccine SARS-CoV-2.

Chương trình Sáng kiến Tốt về Thay đổi Hành vi tại Đại học Pennsylvania ở Philadelphia đã thử nghiệm các phương pháp khuyến khích mọi người tiêm vaccine cúm. Katherine Milkman, một nhà nghiên cứu hành vi tại Đại học Pennsylvania và các đồng nghiệp của cô đã thử nghiệm khoảng 20 chiến lược nhắn tin khác nhau để đánh giá.

Chẳng hạn, nhóm nghiên cứu phát hiện ra rằng việc nhắn tin cho từng người để nói rằng một mũi tiêm phòng cúm đã được đặt trước, đặc biệt dành cho họ đã làm tăng tỷ lệ tiêm chủng.

Các phát hiện này ngay lập tức được các nhà nghiên cứu đang tìm cách tăng cường tỉ lệ tiêm phòng vaccine COVID-19 áp dụng. Các nhà nghiên cứu tại Đại học California, Los Angeles (UCLA), đã thử lặp lại chiến lược này với những người đang được điều trị tại hệ thống Y tế UCLA vào tháng 2 và tháng 3, và nhận thấy rằng nó “khá hữu ích để tăng lượng người tiêm chủng COVID-19”, Milkman nói.

Một bảng quảng cáo ở London khuyến khích mọi người làm theo hướng dẫn để ngăn chặn COVID-19. Ảnh: SOPA Images/Zuma.

Và không lâu sau đó kết quả này được ứng dụng trong đời sống. Vào tháng 3, Milkman nhận được e-mail từ Steve Martin, giám đốc điều hành của công ty tư vấn khoa học – hành vi Influence at Work ở Harpenden, Vương quốc Anh, nói rằng nhóm của anh đã thực nghiệm các phát hiện của nhóm Milkman trên đảo Jersey thuộc eo biển Măng-sơ (giữa Anh và Pháp).

Martin và đồng nghiệp Rebecca Sherrington, phó trưởng y tá của Chính phủ Jersey, nhận định rằng có thể tăng khả năng một người nào đó đến tiêm vaccine nếu họ có “cảm giác sở hữu” – ví dụ, bằng cách nói họ rằng ‘vaccine này đã được dành riêng cho bạn’.

Martin nói: “Chúng tôi thực sự đã gặp phải vấn đề trong việc thu hút nhân viên chăm sóc tại nhà – đặc biệt là phụ nữ trẻ, vì nhiều người nghi ngờ về vaccine”. Nhưng sử dụng cách tiếp cận của Milkman, chương trình của Martin đã tăng độ phủ của nhân viên chăm sóc tại nhà lên 93% trên Jersey, so với khoảng 80% ở các khu vực khác.”

Thay đổi cách thức nghiên cứu

Các công nghệ như geotracking (theo dõi địa lý) đang giúp các nhà khoa học xã hội theo dõi cách mọi người thực sự hành xử như thế nào trước các khuyến nghị về di chuyển trong thời kỳ COVID.

Van Bavel và các đồng nghiệp đã sử dụng dữ liệu theo dõi địa lý từ 15 triệu điện thoại thông minh mỗi ngày để xem xét mối tương quan giữa các xu hướng bỏ phiếu của Hoa Kỳ và việc tuân thủ các khuyến nghị về sức khỏe cộng đồng. Ví dụ, những người ở các quận đã bỏ phiếu cho Donald Trump của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, có dữ liệu thay đổi khoảng cách từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2020 ít hơn 14% so với những người ở các khu vực đã bỏ phiếu cho Đảng Dân chủ Hillary Clinton.

Walter Quattrociocchi, một nhà khoa học dữ liệu tại Đại học Ca’Foscari của Venice, Ý, cho biết các khả năng nghiên cứu được mở ra bằng geotracking là “vượt ngoài mong đợi của tôi”, vì “có rất nhiều dữ liệu để đo lường các quá trình xã hội”.

Nhóm của ông đã sử dụng dữ liệu geotracking từ 13 triệu người dùng Facebook để xem cách mọi người di chuyển xung quanh Pháp, Ý và Vương quốc Anh trong những tháng đầu của đại dịch. Ba quốc gia thể hiện các mô hình di chuyển khác nhau phản ánh cơ sở hạ tầng và nền tảng địa lý của họ. Sự di chuyển ở Vương quốc Anh và Pháp lần lượt tập trung hơn quanh London và Paris, nhưng lại phân tán hơn giữa các trung tâm dân cư lớn của Ý. Theo ông, kết quả như vậy có thể giúp dự đoán khả năng phục hồi kinh tế khi đối mặt với các thảm họa khác. `

Các nhà nghiên cứu cũng sử dụng ngày càng nhiều các cuộc khảo sát dựa trên Internet, một xu hướng được đẩy nhanh bởi đại dịch.

Một nghiên cứu của Hoa Kỳ về hoạt động hàng ngày của con người trong thời kỳ đại dịch – chẳng hạn như đi làm, thăm gia đình hoặc ăn uống tại nhà hàng – trung bình nhận được hơn 6.700 phản hồi mỗi ngày. Kết quả cho thấy quan điểm chính trị có tác động đến sự tuân thủ phòng dịch hơn là tỉ lệ người bị nhiễm COVID ở từng địa phương. Những người cho biết mình đảng viên Cộng hòa có mức độ di chuyển cao hơn gần 28% so với đảng viên Dân chủ và con số ngày càng tăng trong suốt thời gian nghiên cứu từ tháng 4 đến tháng 9 năm ngoái.

Di sản hậu giãn cách

Đại dịch rõ ràng đang thay đổi phương pháp của các nhà nghiên cứu hành vi – và theo những cách có thể tồn tại lâu hơn trước các đợt giãn cách. Van Bavel nói: “Tôi nghĩ mọi người sẽ tiếp tục tìm cách thực hiện những nghiên cứu lớn hơn, với nhiều phòng thí nghiệm hơn để tạo ra những phát hiện mạnh mẽ hơn và chúng có thể áp dụng rộng rãi hơn. Các mẫu được thu thập thông qua các dự án này đa dạng hơn so với các cách tiếp cận thông thường, và do đó, tác động từ các nghiên cứu này có thể cao hơn nhiều”, ông nói.

Theo Milkman, cuộc khủng hoảng COVID-19 cũng khiến các nhà nghiên cứu sẵn sàng hợp tác và chia sẻ thông tin hơn. Tốc độ xuất bản và thực hiện các nghiên cứu đã tăng nhanh, cô ấy nói. “Tôi đã viết một bài báo về một số phát hiện của chúng tôi trong những ngày lễ Giáng sinh chỉ trong một tuần,” cô nói.

Cô xúc tiến bản thảo vì cảm thấy những phát hiện này là cấp thiết và muốn đưa chúng tới cộng đồng nhanh chóng. Milkman nói rằng những hạn chế của COVID-19 đã thúc đẩy khoa học xã hội theo một hướng tốt. “Chúng ta nên làm ‘khoa học lớn’, theo cách mà các lĩnh vực như vật lý và thiên văn học làm.

Thay vì thực hiện các thí nghiệm đơn lẻ, nhỏ lẻ, các nhà nghiên cứu giờ đây có thể tiến hành các nghiên cứu lớn tập hợp các nhóm lớn các nhà nghiên cứu để thử nghiệm 20 hoặc thậm chí 50 nhánh cùng một lúc”.

Wändi Bruine de Bruin, một nhà khoa học hành vi tại Đại học Nam California ở Los Angeles, cho biết không có khả năng tuyển những người trong nhà (giãn cách) để tiến hành nghiên cứu cũng đã buộc các nhà khoa học phải đổi mới cách tuyển dụng và nghiên cứu những người tham gia. Cô là điều tra viên của “Nghiên cứu Hiểu về nước Mỹ”, đã nhiều lần khảo sát khoảng 9.000 hộ gia đình đại diện trên toàn Hoa Kỳ về các câu hỏi liên quan đến đại dịch, chẳng hạn như ‘Bạn có định tiêm phòng không?’ hay ‘Bạn nghĩ khả năng bị nhiễm bệnh như thế nào?’.

Việc bị buộc phải xây dựng các quy trình để tuyển chọn mẫu đại diện quốc gia đã cho phép Bruine de Bruin và các đồng nghiệp của cô tuyển dụng rộng rãi hơn. “Bạn không cần phải ở tại địa phương,” cô nói, và bởi vì những người tham gia không phải vào phòng thí nghiệm, nên mẫu sẽ đa dạng hơn và sẽ dễ dàng hơn. Các giải pháp kỹ thuật được thúc đẩy bởi đại dịch cũng có thể thúc đẩy việc củng cố khoa học.

Alexander Holcombe, một nhà tâm lý học tại Đại học Sydney, Úc, nghiên cứu nhận thức thị giác, thứ mà ông mô tả là “một lĩnh vực khoa học rất hẹp, nơi mọi người không thực hiện các nghiên cứu trực tuyến trước đại dịch”.

Giãn cách xã hội buộc nhóm của ông phải học các chương trình lập trình máy tính cần thiết để thực hiện các thí nghiệm trực tuyến. “Kết quả là chúng tôi có thể có được kích thước mẫu lớn hơn”, ông nói – “một cải tiến quan trọng về phương pháp”.

Brian Nosek, giám đốc điều hành tại Trung tâm Khoa học Mở, một tổ chức phi lợi nhuận ở Charlottesville, Virginia, coi đại dịch là cơ hội để suy nghĩ lại một số nguyên tắc cơ bản về cách nghiên cứu khoa học. “Đó là cơ hội cho chúng ta. Chà, chúng ta nên làm điều này như thế nào? Cách mọi người giao tiếp trong lĩnh vực này và tương tác với các cộng tác viên đã có sự thay đổi cơ bản. Tôi không nghĩ (cách nghiên cứu của) chúng ta sẽ quay trở lại (trước đại dịch).”

Đức Phát lược dịch/ TiaSang

Nature 593 , 331-333 (2021) doi: https://doi.org/10.1038/d41586-021-01317-z

Liệu pháp tế bào gốc: Mở ra tiềm năng điều trị bệnh tự miễn


Các nghiên cứu gần đây cho thấy, liệu pháp tế bào gốc có thể cải thiện các triệu chứng của các bệnh tự miễn thông qua ba cơ chế: Điều chỉnh miễn dịch, điều biến miễn dịch và cấy ghép tế bào gốc đã qua chỉnh sửa gene.

Các bệnh tự miễn dịch (AD), phổ biến như tiểu đường loại 1, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp và viêm đa cơ… ảnh hưởng rất lớn tới đời sống của bệnh nhân nhưng không thể điều trị dứt điểm. Cho đến nay, thông thường để điều trị AD, phải sử dụng các chất ức chế miễn dịch như corticosteroid, cyclophosphamide (CYC), azathioprine và methotrexate. Tuy vậy, thuốc ức chế miễn dịch chỉ “hữu hiệu” trong giai đoạn đầu, sau khi điều trị lâu dài, hầu hết bệnh nhân trở nên kháng thuốc cũng như gặp phải các tác dụng phụ và độc tính của thuốc.

Vai trò của tế bào gốc trong điều trị bệnh tự miễn

Các nghiên cứu gần đây đã cho thấy, liệu pháp tế bào gốc có thể cải thiện các triệu chứng của AD. Tế bào gốc có thể tác động đến hệ thống miễn dịch bằng ba cách khác nhau:

(1) điều chỉnh miễn dịch (ví dụ, cấy ghép tế bào gốc tạo máu – HSC) có thể điều chỉnh hệ thống miễn dịch và cải thiện khả năng chịu miễn dịch đối với tự kháng nguyên;

(2) điều biến miễn dịch (ví dụ, cấy ghép tế bào gốc trung mô – MSC có thể điều chỉnh hệ thống miễn dịch thông qua ức chế một số tế bào tác động cũng như kích thích tế bào T điều hòa (Tregs)); 

và (3) chỉnh sửa gene (ví dụ, cấy ghép HSC hoặc cấy ghép MSC đã qua chỉnh sửa gene). 

Các thử nghiệm lâm sàng cho thấy, cả hai chiến lược điều chỉnh miễn dịch và điều hòa miễn dịch đều được sử dụng để điều trị các AD khác nhau với kết quả đầy hứa hẹn.

Bên cạnh các hiệu ứng miễn dịch, liệu pháp tế bào gốc cũng có thể làm tăng khả năng tái tạo mô tại các mô bị thương hoặc bị lỗi. HSC là nguồn gốc của tất cả các loại tế bào máu, bao gồm bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu. Các tế bào này có thể được phát hiện và phân lập từ các mô khác nhau, chẳng hạn như tủy xương của người trưởng thành, các mô khác nhau của thai nhi (gan, lá lách và tuyến ức), dây rốn và máu ngoại vi. HSC có thể di chuyển tới tủy xương (BM) để tái tạo hệ thống miễn dịch hoặc hệ thống tạo máu. Còn các cytokine hoặc các yếu tố tăng trưởng mà MSCs tạo ra có thể kích thích tái tạo mô và ức chế quá trình chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào tại các mô bị thương.

Liệu pháp tế bào gốc

Ứng dụng lâm sàng 

Cả tế bào gốc tạo máu và tế bào gốc trung mô đã được sử dụng để điều trị AD trên cả mô hình động vật và thử nghiệm lâm sàng.

Cấy ghép tế bào gốc tạo máu HSC đã được sử dụng từ năm 1997 để điều trị các bệnh AD nặng và khó trị liệu. Đã có hơn 2500 bệnh nhân AD được điều trị bằng liệu pháp này tại 247 trung tâm ở 40 quốc gia. Theo cơ sở dữ liệu của the Autoimmune Diseases Working Party, đã có 2606 quy trình cấy ghép HSC để điều trị AD, với 2417 bệnh nhân sử dụng HSC tự thân và 133 bệnh nhân sử dụng HSC đồng loại. Nhiều bệnh tự miễn khác nhau đã được điều trị bằng ghép tế bào gốc tạo máu như đa xơ cứng, viêm khớp, lupus ban đỏ hệ thống, suy giảm tế bào miễn dịch, viêm mạch, bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin, viêm đa dây thần kinh mãn tính, viêm dây thần kinh thị giác và bệnh nhược cơ…

Trong khi cấy ghép HSC có thể thay thế hệ thống miễn dịch thông qua cấy ghép tự thân hoặc cấy ghép đồng loài, thì cấy ghép MSC có thể cải thiện AD bằng các cơ chế điều chỉnh hệ thống miễn dịch của vật chủ để sửa chữa các mô bị thương thông qua các yếu tố mà nó tiết ra.


Trong lâm sàng, MSC đã được sử dụng trong cấy ghép để điều trị các bệnh tự miễn khác nhau. Cấy ghép MSC điều trị lupus ban đỏ hệ thống (SLE) cho thấy có thể cải thiện đáng kể các triệu chứng bệnh, protein niệu và giảm thiếu máu ở bệnh nhân. Một phân tích kết quả điều trị từ 8 nghiên cứu lâm sàng trên 213 bệnh nhân trong và ba thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng với 66 bệnh nhân cho thấy cấy ghép MSC làm giảm đáng kể chỉ số hoạt động của bệnh lupus ban đỏ hệ thống và protein nước tiểu trong 24 giờ, trong khi bổ thể C3 tăng đáng kể. Chỉ có ba nghiên cứu trong các phân tích này cho thấy việc cấy ghép MSC có một số tác dụng phụ (bao gồm sốt, tiêu chảy và đau đầu) trong quá trình truyền dịch.

Bệnh đa xơ cứng (MS) là bệnh viêm tự miễn phổ biến nhất của hệ thần kinh trung ương, cuối cùng dẫn đến huỷ myelin và mất sợi trục. Công bố đầu tiên về cấy ghép MSC cho bệnh đa xơ cứng là vào năm 2007. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã sử dụng MSC tự thân (ghép qua đường tiêm nội tủy) cho 10 bệnh nhân bệnh đa xơ cứng. Tuy nhiên, hiệu quả một cải thiện lâm sàng không đáng kể. Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng cấy ghép MSC có thể giúp tăng tỷ lệ tế bào T điều hòa CD4 + CD25 +, giảm sự tăng sinh tế bào lympho và giảm các dấu ấn hoạt hóa của tế bào đuôi gai. Một nguồn MSC khác đã được sử dụng trên lâm sàng để điều trị bệnh đa xơ cứng. Loại MSC đầu tiên được sử dụng là MSCs lấy từ tủy xương tự thân. Sau đó, MSCs từ tủy xương của người hiến tặng được sử dụng. Năm 2013, nghiên cứu đầu tiên về việc áp dụng MSC có nguồn gốc từ mỡ cho bệnh MS đã được báo cáo. Trong nghiên cứu này, ADSCs được trộn với axit hyaluronic và tiêm vào mặt hoặc cánh tay của bệnh nhân. Bằng quy trình này, 6 bệnh nhân đã cải thiện tình trạng xơ hóa da của họ (với 5 bệnh nhân cải thiện đáng kể và 1 bệnh nhân vừa phải). Cho đến nay, chỉ có một báo cáo sử dụng MSC có nguồn gốc từ dây rốn để điều trị MS. Trong một số thử nghiệm ban đầu, các nhà nghiên cứu đã đánh giá việc tiêm truyền tĩnh mạch MSCs có nguồn gốc từ tủy xương tự thân, trong khi gần đây hơn thì các nghiên cứu đã đánh giá được việc tiêm tại chỗ cả MSC tự thân và đồng sinh.

Cho đến nay, cả bằng chứng tiền lâm sàng và lâm sàng đều cho thấy cấy ghép HSC và MSC đều có thể mang lại hiệu quả tích cực cho bệnh nhân AD. Mặc dù một số cơ chế điều trị vẫn chưa rõ ràng, cùng với sự hạn chế của một số ít bệnh nhân được đánh giá, các nghiên cứu đã được công bố gần đây cho thấy rằng cấy ghép HSC và MSC có tiềm năng rất lớn để điều trị AD.

Các bệnh tự miễn dịch (AD) là các bệnh phổ biến liên quan đến phản ứng của các tế bào miễn dịch đối với tế bào chủ cũng như các mô của vật chủ. AD có thể ảnh hưởng đến nhiều hệ thống khác nhau – từ hệ thống nội tiết đến các mô liên kết, đường tiêu hóa, thận, da và tim. Có hơn 100 AD được ghi nhận với 15 bệnh thông thường; các AD này được chia thành hai nhóm: AD đặc hiệu cho cơ quan và AD toàn thân. AD đặc hiệu cho cơ quan là một phần của nhóm AD mà hệ thống miễn dịch tấn công các tế bào cụ thể trong một cơ quan. Các AD này bao gồm: bệnh tiểu đường loại 1, bệnh Addison, bệnh viêm tuyến giáp Hashimoto, bệnh Graves, hội chứng Sjögren, bệnh bạch biến, bệnh thiếu máu ác tính, viêm cầu thận, bệnh nhược cơ, hội chứng Goodpasture, bệnh thiếu máu tan máu tự miễn, ban xuất huyết giảm tiểu cầu vô căn và bệnh xơ phổi.

Mặt khác, đối với AD toàn thân, hệ thống miễn dịch tấn công các cơ quan khác nhau; những AD này bao gồm lupus ban đỏ hệ thống (SLE), viêm khớp dạng thấp (RA), xơ cứng bì hệ thống (SSc), viêm cột sống dính khớp và viêm đa cơ. Những bệnh này có thể làm giảm đáng kể chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Vũ Bích Ngọc / Tạp Chí Tia Sáng

Thông điệp từ những sự nghiệp làm nên thiên niên kỷ


Tạo ra một môi trường để ai cũng có điều kiện phát huy tối đa tài năng của mình là điều kiện tiên quyết để sản sinh ra nhân tài. Còn để thành đạt một khối lượng sáng tạo lớn, mà Edison là trường hợp điển hình nhất, thì tri thức và kinh nghiệm của con người phải phát triển theo cấp số nhân qua kết quả lao động chứ không theo cấp số cộng.

Chỉ có niềm đam mê sáng tạo mới bảo đảm được quy luật phát triển theo cấp số nhân đó. Nói theo hình tượng toán học: cuộc đời là cấp số cộng của các sự kiện, trong khi sự nghiệp (sáng tạo) là cấp số nhân của các kết quả lao động. Có thể vì không lưu ý đến liệu pháp đơn giản đó mà chúng ta dường như đã mất đi khá nhiều nhân tài.

Nhà bác học Isaac Newton.
Nhà bác học Isaac Newton.

Trong số hàng vạn người đã và đang làm vật lý trên toàn cầu, không phải ai cũng được nhắc đến trong sách vở hoặc được thường xuyên trích dẫn trong các công trình khảo cứu. Lại cũng chỉ rất ít người trong số ít ỏi đó đã thật sự khai phá ra tòa lâu đài vật lý nguy nga ngày nay. Điều này không thể phủ nhận giá trị lao động của hàng vạn người, nó chỉ nhấn mạnh đến cấu trúc hình chóp của bất kỳ cộng đồng nào có cùng những mục tiêu chung. Đáng mừng là trong số 100 nhân vật “làm nên thiên niên kỷ” do tuần san “Ledde” bình chọn có đến 14 nhà vật lý, theo hướng cơ bản như Galileo (thứ 4), Newton (6), Conpernicus (19), Einstein (21), Descarte (32), Bohr (53), Faraday (70), M.Curie (75), hoặc ứng dụng như Edison (1), Marconi (27). Bell (31), Morse (39), Tesla (57), Vật lý học đã được nhìn nhận là ngành khoa học tiên phong tạo nên bộ mặt của thiên niên kỷ.

Nhưng ta hãy tạm gác chuyện vật lý lại để xem xét đôi nét đại thể trong bức tranh toàn cục của cuộc bình chọn. Đứng hạng “top ten” trong bản danh sách là Edison, Columbus, Luther, Galileo, L.da Vinci, Newton, Magellan, Pasteur, Darwin và Shakesppeare. Trong số 90 vị trí còn lại có Marx (18), Lenin (29), Mao (28), Gandhi (22), Pierre đại đế (77), Mandela (91), Kant (58), Beethoven (33), Picasso (78), Disney (90), Tolstoi (93), Lavoisier (80), Neumann (94), Mendel (35), Adam Smith (74)… lại cũng có cả Napoleon (12), Hitler (13) và Hốt Tất Liệt (23) , những người đã từng làm cho nhân loại điên đảo.

Theo Welss K.M (Human Biology, 56, 637, 1984), trong thiên niên kỷ vừa qua đã có khoảng 100 tỷ người từng sống trên Trái đất. Vậy mà chỉ có 100 người được mệnh danh là “làm nên” thiên niên kỷ, nghĩa là cứ 1 tỷ người mới có 1 người! Tạo hóa sao lại quá “bất công” để cho người này lại thành đạt gấp tỷ lần người kia? Mà nếu chấp nhận điều đó như một hiện tượng tự nhiên, thì làm sao có thể chọn ra 100 người trong số 100 tỷ người cho chính xác được? Lại còn phân ngôi thứ khá rành mạch cho họ. Dùng cái thước nào để đo? Bởi lẽ nếu cứ bằng mắt trần mà quan sát thì mọi ngôi sao trên bầu trời đều nằm trên cùng một thiên cầu cả thôi!

Nhà bác học Galileo.
Nhà bác học Galileo.

Trước hết đối với những ai quen nhìn con người qua tầm vóc bề ngoài, quen dùng cái thước, cái cân thông thường để đo chiều cao và trọng lượng, hoặc những ai hay bị ngộ nhận bởi những khái niệm “dân chủ công bằng” mơ hồ, chắc sẽ dễ dàng từ chối các câu hỏi trên. Tôi cao 1,6m, vào loại trung bình, nếu trong số 70 triệu người Việt Nam có ai đó độc nhất vô nhị cao đến 1,9m, thì anh ta cũng chỉ cao hơn tôi 30 phân thôi, đáng là bao! Trên thực tế, trong khi các đặc trưng nhân chủng học như chiều cao, cân nặng… có dạng phân bố gần đối xứng quanh những giá trị trung bình nào đó của cộng đồng, giống như hình quả chuông (phân bố normal hay Gauss) thì các đặc trưng về năng lực (và do đó cống hiến) của con người lại phân bố bất đối xứng trải dài về phía trên, mà trong toán học người ta gọi là phân bố logarit – normal. Hệ quả là những người siêu phàm thường thấy nhiều hơn những người dị dạng. Có lẽ chính vì thế mà Landau lúc sinh thời đã đề nghị dùng thang logarit – Normal. Thay cho thang tuyến tính nhằm thu gọn cho dễ thấy sự khác biệt về năng lực và cống hiến của các nhà vật lý xuất chúng. Cái thang tuyến tính mà chúng ta vẫn quen sử dụng hằng ngày chính là cái thước, cái cân được chia vạch ra đều nhau. Khi dùng thang logarit hệ 10 sẽ rút xuống thành 1, 100 thành 2, 100000 (=106) thành 6… Hơn nữa, thang logarit chia vạch không đều, vạch thứ 2 cách vạch thứ 3 xa hơn là vạch thứ 3 cách vạch thứ 4, và cứ thế.

Sau đây là một phương án minh họa ý tưởng dung thang logarit của Landau. Edison được xếp thứ 1 trên 100 tỷ, mà 100 tỷ = 1011, nên thang logarit Edison sẽ có điểm số cao nhất, bằng 11. Shakespeare đứng thứ 10 trên 10 tỷ, mà 10 tỷ = 1010, nên nhà soạn kịch nước Anh sẽ có điểm số mới là 10. Các “top ten”) khác sẽ có điểm số giữa 11 và 10. Sau đó đến lượt các danh nhân từ thứ 11 (Napoleon) đến 100 Linnaeus (nhà thực vật học Thụy Điển) sẽ có điểm số giữa 10 và 9. Nếu tổ chức bình chọn “1000 người làm nên thiên niên kỷ) thì 900 người tiếp theo sẽ nằm giữa hai vạch 9 và 8… và cứ tiếp tục như thế, bất kỳ ai cũng có thể đưa tên mình lên danh sách, sánh vai cùng các danh nhân thế giới, thậm chí nếu bạn tự cho mình là người bét nhất, nghĩa là người thứ 100 tỷ trên 100 tỷ. Quả vậy, trên thang logarit bạn sẽ đứng ở vạch số 0, cũng chỉ cách người xuất sắc nhất hành tinh có 11 vạch, xem ra còn có vẻ công bằng và đỡ tủi thân hơn! Nhưng thủ pháp biểu diễn toán học này vẫn không che lấp được thực chất khác biệt rất xa về năng lực và cống hiến của con người.

Thomas Edison.
Thomas Edison.

Ví phỏng những người đại loại như chúng ta đang ngồi đây không đến nỗi quá “xấu số” để rơi xuống phía dưới vạch số 1, nhưng lại cũng đủ khiêm tốn để đừng đặt mình lên cao hơn vạch số 4-5. Tôi nhắc lại, dù sao đây cũng chỉ là thí dụ, bạn có thể cho điểm cao hơn hoặc thấp hơn thế. Tiếc thay, ngay trong cái cộng đồng với thang độ hạn hẹp ấy nhiều khi cũng chẳng có thước đo nào rành mạch cả. Đặt dấu bằng giữa tất cả mọi người là cách hành xử thường thấy nhất. Hậu quả là cộng đồng không phát triển được do thiếu cấu trúc hình chóp và chẳng có đầu đàn. Tệ hại hơn là cái thang giá trị lung tung vẫn thường được đem ra đo đạc, số bé có khi đặt trên số lớn. Thí dụ thành tích về học thuật thường được xem như đương nhiên tỷ lệ thuận với chức sắc. Nhưng ngay trong các hội đồng xét duyệt đề tài khoa học chuyên ngành, nơi mà thang giá trị thường rất rành mạch, thì cũng còn lắm vấn đề. Điểm đánh giá “xuất sắc” là phổ biến. Thực ra chỉ cần một hội đồng ba người có chuyên môn và tâm huyết còn hơn là một hội đồng chín người mới đầy đủ tước hiệu nhưng xa rời học thuật và thiếu trách nhiệm. Nhưng ai là người có chuyên môn, có tâm huyết? Vì không có lời giải cho câu hỏi này nên cách tốt nhất là cứ theo phương án chín người cho dân chủ.


Trong sự nghiệp khai phá của các vĩ nhân làm nên thiên niên kỷ, niềm đam mê sáng tạo là nguồn sức mạnh vun đắp tài ba, năng lực và làm rạng danh nhân cách của họ.


Sẽ hết sức sai lầm nếu phủ nhận vai trò của công tác quản lý lãnh đạo như một nghề nghiệp cao quý và quan trọng. Trong số 100 nhân vật làm nên thiên niên kỷ có khoảng 15 người đã từng cầm đầu các đế chế hoặc là nguyên thủ quốc gia. Nhưng Mandela được bình chọn không phải vì ông ra làm Tổng thống Nam Phi trong năm năm, mà vì bị cầm tù trong 30 năm, vì ông là biểu tượng cho cuộc đấu tranh của người da đen chống chủ nghĩa Apartheid kéo dài hơn 400 năm. Trong danh sách cũng có vài người đã từng giàu có nhất thế giới như Henry Ford (14), Rockfeller (51), nhưng họ được bầu chọn để tôn vinh sự làm giàu bằng phát minh sáng chế và khi chết đi họ đã cống hiến tài sản cho các quỹ phát triển xã hội của hậu thế.

Đa số những người làm nên thiên niên kỷ là những bậc thiện nghệ về chuyên môn, học thuật nhưng lại thường xuất thân từ những gia đình bình thường: Einstein (21) phát minh ra hiệu ứng quang điện và thuyết tương đối khi đang làm nhân viên ở Cục Sáng chế Thụy Sĩ. Faraday (70) nhờ làm thợ đóng sách tại London mà có cơ hội đọc rất nhiều và nảy ra ý định làm các thí nghiệm về điện. Còn Edison, người đứng đầu bảng danh sách bình chọn, thì chỉ được học trong nhà trường có ba tháng, lên 12 tuổi làm nghề bán báo, 16 tuổi làm điện báo viên và bắt đầu cuộc đời sáng chế phát minh từ đó. Nhờ bán được một số máy điện báo do ông chế ra. Edison mới có tiền để lập ra phòng thí nghiệm riêng của mình, rồi từ đó có đến hơn 1000 bằng phát minh sáng chế. Bell (31), người phát minh ra điện thoại và lập ra phòng thí nghiệm Bell Telephone (hiện nay là AT&T) mà từ đây đã sản sinh ra hàng chục phát minh Nobel của thế kỷ 20. Bell đã bắt đầu cuộc sống ở Mỹ lúc 24 tuổi bằng nghề dạy học cho những người câm điếc.

Không thể hình dung được tại sao trong lịch sử dài dằng dặc suốt gần hai thiên niên kỷ người ta vẫn cứ tin theo Aristotle rằng vật nặng rơi nhanh hơn vật nhẹ. Mãi cho đến năm 1589 khi Galileo (4) thả hai viên bi nặng nhẹ khác nhau từ trên đỉnh tháp nghiêng Pisa xuống đất để cho mọi người chứng kiến tận mắt rằng vận tốc của hai viên bi đó chẳng khác gì nhau, thì ông ta buộc phải thôi việc và chịu bao nhiêu khổ ải khác, vì dám cả gan cãi lại Aristotle. Cái thí nghiệm quá đơn giản của Galileo đã đánh dấu một bước nhảy vọt trong lịch sử nhận thức nhận thức của Con Người: làm thực nghiệm để tìm ra chân lý chứ không phải “phán nhăng cuội” theo kinh thánh (tôi dùng từ hơi mạnh, thật ra người ta vẫn hay ghép các kiểu phán đó vào một loại khoa học gọi là speculative science). Năm 1609, Galileo đã sáng chế ra kính viễn vọng có độ phóng đại 20 lần, nhờ đó đã phát hiện các vết đen trên Mặt trời, núi non thung lũng trên Mặt trăng, các pha tròn khuyết của sao Kim, bốn vệ tinh của sao Mộc, đoán nhận có các sao nằm trong dải ngân hà. Tầm mắt con người đã vươn tới vũ trụ xa xăm! Những quan sát đó củng cố thêm lòng tin của ông vào thuyết nhật tâm của Copernicus(19), mà đã thế thì chống lại thuyết địa tâm của Ptolemy, tức là chống lại Nhà thờ. Ông bị cấm không được viết và nói: Trái đất quay quanh Mặt trời. Bất chấp phán quyết đó, ông vẫn viết nên đã bị kết tội chung thân (sau đó chuyển thành quản thúc vĩnh viễn tại gia), sách của ông bị đốt, tội trạng của ông được tuyên đọc ở khắp các trường đại học. Đáng buồn thay, tội của Galileo vẫn cứ bị treo đó trong suốt bốn thế kỷ văn minh nhất loài người vừa qua. Mãi cho đến năm 1992, Giáo hoàng John Paul II mới chịu nhận sai lầm của Vatican, nhưng cũng phải 13 năm sau khi tổ chức hội đồng xem xét lại vụ án Galileo dưới áp lực của hội Thiên văn quốc tế.

Sự tôn vinh Galileo lên vị trí thứ tư trong bảng xếp hạng có thể vẫn còn chưa công bằng. Bởi lẽ chính nhờ có Galileo mà phần còn lại của nhân loại, trong đó có các bậc siêu nhân quyền quý, mới nhận ra sự yếu kém của mình. Không khí ngột ngạt bao trùm lên vụ hỏa thiêu Bruno và vụ án Galileo đã làm vẩn đục các giảng đường khiến Newton (6) luôn luôn e sợ trình bày và công bố các công trình nghiên cứu của mình. Mặc dù là người đầu tiên phát minh ra tính toán giải tích, trong một thời gian dài phát minh này vẫn chỉ gán cho nhà toán học Đức Leibniz. Phát minh của Newton về sự trộn lẫn các màu sắc trong ánh sáng Mặt trời đã bị các “đồng nghiệp” tại Cambridge công kích gay gắt. Tệ hại hơn, sau khi xuất bản cuốn “Principia”, có một nhà vật lý đã kiện Newton đánh cắp công thức của ông ta về lực vạn vật hấp dẫn (lực tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách giữa hai vật).

Trong sự nghiệp khai phá của các vĩ nhân làm nên thiên niên kỷ, niềm đam mê sáng tạo là nguồn sức mạnh vun đắp tài ba, năng lực và làm rạng danh nhân cách của họ. Sống với nguồn năng lượng đó rất khó xảy ra tình trạng một nhân cách có vấn đề trong một tài ba lớn. Cũng chính niềm đam mê sáng tạo mới có thể giải thích nổi hiện tượng Edison (1): trong một đời người có đến 1000 bằng sáng chế phát minh. Việc Edison được bình chọn là người số 1 để tôn vinh sức sáng tạo huyền diệu của con người khiến ta không thể từ chối lý giải hiện tượng Edison mà vội chặc lưỡi cho rằng đó là một trường hợp siêu nhiên. Vả lại nếu hàng chục tỷ người khác có được hoàn cảnh thuận lợi như Edison ở Mỹ để phát huy tài năng thì biết đâu nhân loại còn có thêm nhiều Edison nữa.

Phạm Duy Hiển / Khoahocphattrien

Bảng cầu cơ dưới góc nhìn khoa học


Bảng cầu cơ là một trò chơi rất phổ biến được những người mê tín dùng để giao tiếp với thế giới tâm linh hoặc thế lực huyền bí. Các nhà khoa học nói rằng, trò chơi này hoạt động dựa trên hiệu ứng vô thức của con người, khiến cơ tay của những người tham gia tự chuyển động trong khi họ không cố tình làm như vậy.

Bảng cầu cơ. Ảnh: Wikipedia.
Bảng cầu cơ. Ảnh: Wikipedia.

Bảng cầu cơ là gì?

Nhiều người biết đến bảng cầu cơ (Ouija board), hay bàn cầu cơ, như một trò chơi hoặc công cụ có khả năng giao tiếp với thế giới tâm linh. Từ “Ouija” xuất phát từ tiếng Pháp và tiếng Đức mang nghĩa là “có, vâng, phải”. Trò chơi này rất đơn giản, bao gồm hai bộ phận: một tấm bảng in hình các chữ cái (từ a đến z), chữ số (từ 1 đến 9), các từ “có”, “không”, “tạm biệt”, và một mảnh gỗ hình trái tim [gọi là planchette] có kích thước bằng bàn tay.

Bảng cầu cơ thường được trang trí với một loạt các biểu tượng bao gồm Mặt trời, Mặt trăng và ngôi sao. Tất nhiên ở các quốc gia không sử dụng chữ Latinh, bảng cầu cơ sẽ in hình các chữ cái và chữ viết của riêng họ.

Mảnh gỗ hình trái tim có thể dễ dàng trượt trên tấm bảng cầu cơ khi người chơi đặt tay lên nó. Nhiều người tin rằng, các linh hồn điều khiển mảnh gỗ di chuyển từ chữ cái này đến chữ cái khác, cuối cùng tạo ra một lời nhắn hay câu trả lời cho câu hỏi của người chơi. Mặc dù những người chơi đều khẳng định họ không hề dùng tay di chuyển miếng gỗ

Một số người nói bảng cầu cơ có từ thời Hy Lạp cổ đại, nhưng thực tế nó xuất hiện cách đây không lâu. Elijah Bond sáng chế ra trò chơi này vào đầu những năm 1890, sau đó ông bán lại bằng sáng chế cho doanh nhân William Fuld – người đã có công sản xuất và tiếp thị bảng cầu cơ ra khắp thế giới. Cuối cùng, hãng sản xuất đồ chơi Parker Brothers mua lại bằng sáng chế vào năm 1966.

“Khi bảng cầu cơ mới ra đời, người ta chỉ xem nó là một trò tiêu khiển thú vị và không liên quan đến những điều huyền bí”, nhà nghiên cứu Eric Eliason viết trong cuốn bách khoa toàn thư American Folklore (Văn hóa dân gian Mỹ).

Mọi chuyện dần thay đổi khi Pearl Curran – người có nhiều đóng góp trong việc làm hồi sinh thuyết duy linh trong Thế chiến I – bắt đầu giới thiệu bảng cầu cơ như một công cụ để tiên đoán tương lai, tìm kiếm đồ vật bị mất, xin lời khuyên hằng ngày và liên lạc với các linh hồn. Chẳng mấy chốc, hàng nghìn người Mỹ sử dụng bảng cầu cơ để hỏi xem những người thân yêu của họ đang chiến đấu ở châu Âu còn sống hay đã chết trên chiến trường.

Nhiều tín đồ theo đạo Cơ Đốc tin rằng các công cụ bói toán huyền bí như thẻ bài Tarot, con lắc, và bảng cầu cơ có thể kết nối, thậm chí triệu tập linh hồn ma quỷ, bao gồm cả quỷ Satan. Vì vậy, người chơi bảng cầu cơ sẽ tự chuốc lấy phiền nhiễu và bị quỷ ám. Các tín đồ Cơ Đốc cũng lo ngại quỷ Satan có thể xuất hiện dưới hình thức những trò chơi đơn giản hoặc các hoạt động huyền bí khác như chiêm tinh, cảm xạ, thậm chí thôi miên. Tất cả đều được coi là hình thức biểu hiện của phù thủy và bị lên án trong Kinh thánh.

Bảng cầu cơ là đề tài của các bộ phim kinh dị trong nhiều thập kỷ. Nội dung của chúng đề cập đến bảng cầu cơ như một dụng cụ để con người giao tiếp với linh hồn và quỷ dữ. Một số bộ phim nổi tiếng có thể kể đến như The Uninvited (1944), The Exorcist (1973), The Changeling (1980), Witchboard (1986), Paranormal Activity (2007), Ouija (2014).

Bảng cầu cơ dưới góc nhìn khoa học

Trên thực tế, khi những người chơi đặt tay lên miếng gỗ hình trái tim trên bảng cầu cơ, miếng gỗ sẽ di chuyển lần lượt từ chữ cái này đến chữ cái khác để ghép lại thành tên người hoặc từ hoàn chỉnh. Bởi vì người chơi khẳng định họ không hề cố ý dùng tay di chuyển miếng gỗ, vậy câu hỏi đặt ra là miếng gỗ được điểu khiển bởi con người hay linh hồn?

Tất nhiên, bảng cầu cơ không thể giao tiếp với người đã chết. Nếu có, chắc chắn sẽ không có vụ giết người nào chưa được giải quyết. Bởi vì cảnh sát chỉ cần dùng bảng cầu cơ để liên lạc với các nạn nhân và hỏi họ đã bị giết như thế nào và trong hoàn cảnh nào. Các nạn nhân xấu số như chính trị gia Jimmy Hoffa, nữ phi công Amelia Earhart, nữ diễn viên Natalee Holloway và vô số người khác có lẽ sẽ hạnh phúc hơn khi bảng cầu cơ làm rõ những vụ mất tích bí ẩn của họ hoặc tìm ra kẻ đã giết họ.

Nếu chuyển động của miếng gỗ trên bảng cầu cơ thực sự được điều khiển bởi linh hồn và không phụ thuộc vào sự tiếp xúc của con người, vậy thì bảng cầu cơ sẽ tự trả lời các câu hỏi mà không cần ai chạm vào nó. Người chơi chỉ cần ngồi thư giãn với một ly đồ uống trong tay, đặt câu hỏi cho bảng cầu cơ và đợi miếng gỗ tự di chuyển để trả lời bất kỳ câu hỏi nào. Tất nhiên, điều này không thể xảy ra.

Các nhà khoa học biết chính xác cách thức hoạt động của bảng cầu cơ. Họ gọi đó là “hiệu ứng vô thức”. Sức mạnh cơ bắp của những người tham gia vô tình gây ra sự chuyển động của mảnh gỗ do họ kỳ vọng nó di chuyển. Bởi vì người chơi không biết chuyện gì đang xảy ra, nên họ nghĩ rằng sự chuyển động là do linh hồn gây nên.

Việc kiểm tra giả thuyết trên rất đơn giản, và chúng ta có thể thực hiện chỉ trong vài phút. Đầu tiên, những người chơi sẽ bịt mắt lại [hoặc dùng khăn trải bàn và miếng bìa cứng che phía trên bảng cầu cơ nhằm chặn tầm nhìn của họ]. Mục đích là khiến người chơi không thể nhìn thấy vị trí chính xác của các chữ cái ở đâu. Một người khác đứng ở ngoài có nhiệm vụ quan sát tấm bảng cầu cơ và ghi chép cẩn thận miếng gỗ đã di chuyển đến những chữ cái và chữ số nào. Nếu linh hồn thực sự đang điều khiển miếng gỗ thì việc người chơi có nhìn thấy tấm bảng hay không cũng không ảnh hưởng gì. Nhưng lúc nào cũng vậy, kết quả thu được bao gồm một chuỗi các chữ cái và chữ số vô nghĩa, không mang lại thông điệp nào cả.

Vì vậy, bảng cầu cơ là một trò chơi dựa trên sự tự lừa dối chính mình (self-deception), và không có gì bí ẩn. Nó chỉ trở nên đáng sợ khi người chơi tin rằng họ đang kết nối với các linh hồn và quỷ Satan. Nếu bảng cầu cơ là dụng cụ thực sự có khả năng kết nối vũ trụ chúng ta đang sống với một chiều không gian khác của linh hồn, liệu bạn có thể dễ dàng mua nó như một món đồ chơi với giá 20 USD tại các cửa hàng hay không?

Quốc Hùng (Theo Live Science ) – Khoahocphattrien