Các tài liệu dịch được đưa lên Internet 6 tháng đầu năm 2013


A. Sách về nguồn mở
  1. Sách chỉ dẫn tham chiếu PostgreSQL 9.0 – Tập 1A – Tham chiếu ngôn ngữ SQL. Nhóm Phát triển Toàn cầu PostgreSQL xuất bản, 454 trang
B. Chính sách về phần mềm tự do nguồn mở và chuẩn mở trên thế giới
  1. Chỉ thị của Thủ tướng Pháp về “Sử dụng phần mềm tự do trong hành chính Pháp”, ngày 19/09/2012. 27 trang.
C. Tài liệu về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng và tác chiến mạng máy tính
  1. Chiếm lĩnh nền cao thông tin – Khả năng của Trung Quốc về tác chiến mạng máy tính và gián điệp không gian mạng. Tập đoàn Northrop Grumman, ngày 07/03/2012. 136 trang.
  1. APT1 – Phát hiện một trong các đơn vị gián điệp không gian mạng của Trung Quốc. Mandiant xuất bản năm 2013, 84 trang.
  1. Báo cáo thường niên cho quốc hội – Các diễn biến quân sự và an ninh có liên quan tới Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 2013 của Văn phòng Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ xuất bản 06/05/2013. 90 trang.
D. Tài liệu về sở hữu trí tuệ
  1. Cơ hội số – Rà soát lại về sở hữu trí tuệ và tăng trưởng, Báo cáo độc lập của Giáo sư Ian Hargreaves, tháng 05/2011, 139 trang.
  1. Nghiên cứu những tiến bộ trong mua sắm các hệ thống an ninh dựa vào kiến trúc mở, phần mềm nguồn mở và các dòng sản phẩm phần mềm, 27/01/2012. Các tác giả: TS. Walt Scacchi, nhà nghiên cứu khóa học cao cấp, Thomas A. Alspaugh, Trợ lý Giáo sư. Viện về Nghiên cứu Phần mềm, Đại học California, Irvine. 82 trang.
  1. Nghiên cứu mua sắm các hệ thống phần mềm dựa vào Kiến trúc Mở và Phần mềm Nguồn Mở. Tháng 03/2010. Các tác giả: TS. Walt Scacchi, nhà nghiên cứu khóa học cao cấp, Thomas A. Alspaugh, Trợ lý Giáo sư và Hazel Asuncion, Nhà nghiên cứu sau bậc tiến sĩ. Viện về Nghiên cứu Phần mềm, Đại học California, Irvine. 75 trang.
E. Các chỉ dẫn phát tay có liên quan tới phần mềm tự do nguồn mở
  1. Mua sắm phần mềm tự do nguồn mở. Tài liệu truyền tay của OSS Watch, cơ quan tư vấn về phần mềm nguồn mở cho Văn phòng Nội các Chính phủ Anh, xuất bản. 2 trang.
  1. Xây dựng các cộng đồng xung quanh phần mềm tự do nguồn mở. Tài liệu truyền tay của OSS Watch, cơ quan tư vấn về phần mềm nguồn mở cho Văn phòng Nội các Chính phủ Anh, xuất bản. 2 trang.
  1. Việc cấp phép của phần mềm tự do nguồn mở. Tài liệu truyền tay của OSS Watch, cơ quan tư vấn về phần mềm nguồn mở cho Văn phòng Nội các Chính phủ Anh, xuất bản. 2 trang.
F. Hơn 70 tài liệu dịch đã được đưa lên Internet từ 2012 trở về trước ở các đường liên kết:
Blogger: Lê Trung Nghĩa

 

PHP DAY 2012 – Sự kiện lớn về phần mềm tự do nguồn mở tại VN


 

Ngày hội Nguồn mở – PHP là sự kiện thường niên được tổ chức từ năm 2008 tại Việt Nam, là một trong những hội thảo lớn nhất trong năm của cộng đồng nguồn mở. Chương trình là cơ hội để các cá nhân, tổ chức đang đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu, kinh doanh Phầm mềm tự do nguồn mở có thể chia sẽ, trao đổi về những vấn đề PHP yêu thích.

 

Hội thảo sẽ diễn ra vào ngày 15 tháng 12 năm 2012, tại Khách sạn Asean, số 8 Chùa Bộc, Đống Đa, Hà NộiThành phố Hồ Chí Minh vào ngày 22 tháng 12 năm 2012 do Hiệp hội phần mềm & Dịch vụ CNTT Việt Nam, iStart.vn, Công ty Cổ phần V.E.X.T và Tổ hợp giáo dục TOPICA kết hợp với Trường Đào tạo Lập trình viên Quốc tế AiTi – Aptech phối hợp tổ chức.

Qua 4 năm tổ chức, chương trình đã ngày càng thu hút được sự quan tâm của rất nhiều cá nhân và tập thể làm việc trong lĩnh vực CNTT nói chung và Phần mềm Nguồn mở nói riêng. Đặc biệt là năm 2011, chương trình đã nhận được sự hỗ trợ từ các doanh nghiệp đã thành công với PHP và  thu hút gần 1000 người tới tham dự.

Năm 2012, được sự hưởng ứng nhiệt tình của cộng đồng Nguồn mở tại Việt Nam, Ngày hội Nguồn mở PHP Day được tổ chức không chỉ ở miền Bắc mà còn ở cả miền Nam. Năm nay, bên cạnh sự tham gia của các diễn giả trong nước, chương trình còn có sự góp mặt của các diễn giả nước ngoài. Chương trình năm nay dự kiến sẽ thu hút tới 1.500 khách tới tham dự trên 1 địa điểm.

Hội thảo sẽ cung cấp thông tin về những công nghệ mới nhất, hướng ứng dụng và phát triển các công nghệ trong PHP, xu hướng đào tạo mã nguồn mở– PHP tại Việt Nam và nhu cầu nhân lực trong mảng này. Qua diễn đàn này, các bạn yêu thích CNTT nói chung và các bạn yêu thích mã nguồn mở – PHP nói riêng sẽ có được cái nhìn tổng quan và rõ ràng hơn về xu hướng phát triển của PHP, từ đó sẽ có được những lựa chọn nghềnghiệp hữu ích.

PHP Day 2012 quy tụ được sự tham gia của các đơn vị lớn như: Công ty VNG, Công ty AI&T, Công ty SETA Internationail, Công ty CP Giải pháp Phần mềm Hòa Bình, Hipt Goup, Công ty Sgame, Công ty Geekpolis và Công ty Cổ Phần Anh Đức – Fastest… và hứa hẹn sẽ đem đến cho cộng đồng lập trình viên PHP những kiến thức, kỹ năng bổ ích và mở rộng quan hệ hợp tác cho các cá nhân, tổ chức đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu, kinh doanh Phần mềm Nguồn mở tự do. Ngày hội Nguồn mở  – PHP Day sẽ là cầu nối để phát triển cộng đồng Lập trình viên Nguồn Mở ngày càng đông đảo và lớn mạnh hơn.

Quỳnh Chi
————————————

Việt Nam PHP Day 2012: “Đến hẹn lại lên”

 

PHP Day là ngày hội của những người lập trình PHP được tổ chức thường niên kể từ năm 2008 tại Việt Nam. Từ một buổi hội thảo nhỏ , đến nay sau 5 năm chương trình được tổ chức với quy mô ngày càng lớn và thu hút nhiều đối tượng quan tâm.

 

Với mục tiêu tạo dựng cộng đồng và cơ hội hợp tác cho các cá nhân, tổ chức đang hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, nghiên cứu, kinh doanh Phần mềm Nguồn Mở tự do. Ngày hội Nguồn mở – PHPDAY sẽ là cầu nối để phát triển cộng đồng Lập trình viên Nguồn Mở ngày càng đông đảo và lớn mạnh hơn.

Năm 2012, được sự hưởng ứng nhiệt tình của cộng đồng Nguồn mở tại Việt Nam, Ngày hội Nguồn mở PHP Day được tổ chức không chỉ ở miền Bắc mà còn ở cả miền Nam. Năm nay, bên cạnh sự tham gia của các diễn giả trong nước, chương trình còn có sự góp mặt của các diễn giả nước ngoài.

Bên cạnh các chủ đề năm trước, năm nay chương trình sẽ được bổ sung thêm nhiều nội dung mới phù hợp với nhu cầu của những người đang theo đuổi mã nguồn mở PHP ở nước ta. Dự tính số lượng người tham dự từ 1200 đến 1500 người. Chương trình mong muốn sẽ trở thành một buổi hội thảo lớn nhất về mã nguồn mở PHP ở nước ta, đóng góp một phần vào công cuộc thúc đẩy phát triển và ứng dụng phần mềm mã nguồn mở tại Việt Nam.

PHP Day 2012 dự kiến sẽ diễn ra ngày 15/12/2012 tại Hà Nội và 22/12/2012 tại Tp. HCM.

Ban Mai

 

Khai mạc Liên hoan Quốc tế võ cổ truyền Việt Nam


 

Tối 1-8, tại sân vận động Quy Nhơn đã diễn ra lễ khai mạc Liên hoan Quốc tế võ cổ truyền Việt Nam lần IV.

Lễ khai mạc đậm đà bản sắc dân tộc và đặc trưng miền đất võ với ba chương chính: Bình Định, miền đất võ, theo bước chân Hoàng Đế Quang Trung và phong trào Tây Sơn và Võ cổ tuyền Việt Nam hội tụ – lan tỏa.

 
Các đoàn diễu hành trong lễ khai mạc – Ảnh: Trường Đăng

Trước đó, ban tổ chức đã trang trọng tổ chức lễ dâng hương, dâng hoa tại bảo tàng Quang Trung (Tây Sơn, Bình Định) với sự góp mặt của 69 đoàn võ thuật quốc tế đến từ 29 quốc gia cùng 28 đoàn võ thuật trong nước.

Tại liên hoan (sẽ kết thúc ngày 3-8) có nhiều hoạt động diễn ra như biểu diễn võ thuật, triển lãm ảnh, binh khí, trang phục võ cổ truyền, thi Người đẹp Quốc tế võ cổ truyền Việt Nam, lễ hội đường phố, đêm thơ Hàn Mặc Tử – Xuân Diệu, hội đánh bài chòi cổ và các tour du lịch về làng võ cổ truyền…

Liên hoan nhằm tôn vinh những tinh hoa của võ cổ truyền Việt Nam, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc. Đây là dịp những tinh hoa võ Việt ở khắp nơi trên thế giới quay về đất tổ hạnh ngộ, bái tổ, ngợi ca và truyền tải thông điệp đầy nhân văn của võ Việt ra thế giới.

Một số hình ảnh khai mạc Liên hoan Quốc tế võ cổ truyền Việt Nam tại Bình Định:

 
 
 
 

 

TRƯỜNG ĐĂNG – TTO

Đi tìm bản sắc võ Việt: Trong võ có văn


 

 

Phương pháp truyền dạy võ thuật Việt Nam không giống bất cứ môn võ nào trên thế giới. Võ sinh nhập môn phải học thuộc lời thiệu.

Thiệu là một bài văn vần với các thể loại lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn. Nắm được ý nghĩa lời thiệu mới học tới bài thảo (quyền). Khi đi quyền thuần thục mới được hướng dẫn phần phân thế.

Có lẽ ít dân tộc nào trên thế giới có tinh thần lạc quan, lãng mạn như dân tộc Việt. Ngay cả trong hoàn cảnh hiểm nghèo vẫn ung dung cầm gươm ra trận, tiếng thơ vẫn vang lên sang sảng. Như trong trận chiến với quân Tống tại phòng tuyến sông Như Nguyệt năm Bính Thìn (1076), trước thế giặc đang mạnh, quân Đại Việt vẫn không hề nao núng, hai bên giằng co quyết liệt.

Bất ngờ trong một đêm tiếng ngâm thơ vang lên hùng tráng: Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư… Tiếng thơ như của thần nhân đã gieo vào lòng binh lính một sức mạnh ghê gớm, ai nấy đều nức lòng đánh giặc. Quân giặc buộc phải lùi bước và cuối cùng lui binh về nước, nuốt mối nhục bại trận ê chề.

Có thể nói tinh thần lạc quan đã ngấm sâu trong từng tế bào, trong từng huyết mạch của dân tộc. Cái nhân sinh quan sống đó đã cho người Việt có sự sáng tạo phi thường. Võ thuật là lĩnh vực người Việt có nhiều thành tựu, tạo nên sức chiến đấu bền bỉ từ đời này sang đời khác. Có hiểu như vậy thì mới lý giải được tại sao một đất nước không rộng, người không đông lại đánh bại những kẻ xâm lấn lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần.

Chỉ cần tìm trong các bài võ cổ truyền, các nhà nghiên cứu có thể thấy tinh thần lấy mềm thắng cứng, lấy yếu thắng mạnh, lấy ít thắng nhiều. Sự kết hợp hài hòa giữa thi ca (lời thiệu) và các thế võ thể hiện nguyên lý âm dương tương hỗ. Kỹ thuật thể hiện trong các bài võ cổ truyền đều chú trọng đến thực chiến, không cần tạo dáng hoa mỹ. Đấy cũng là cách hành xử xuyên suốt quá trình dựng nước và giữ nước, tạo nên sách lược và chiến lược quyền biến để nước Việt trường tồn đến ngày hôm nay.

Thử phân tích một vài câu thiệu trong bài Lão mai quyền. Đây là bài võ khá phổ biến, thuộc dòng võ Tây Sơn, mô phỏng hình tượng cây mai già vững chãi trước gió. Lão mai độc thọ nhứt chi vinh/Lưỡng túc khinh khinh tấn bộ hoành (Cây mai già riêng lẻ, một nhánh trổ hoa. Hai chân bước nhẹ, tiến lên tấn công rồi vòng về). Lời thiệu câu đầu có cách nói ẩn dụ, câu hai chỉ dẫn bước chân tấn và hoành bộ tạo nên thế đánh và dụ địch. Vừa đọc thơ (thiệu) vừa đi quyền là sự phối hợp tuyệt vời giữa tâm pháp và thân pháp. Khi điêu luyện đến độ tâm thân hợp nhất là đã đạt tới cảnh giới tối cao: tâm cùng ý hợp, ý cùng khí hợp, khí cùng lực hợp.

 

Các môn sinh nước ngoài theo học võ cổ truyền Việt Nam – Ảnh: C.T

 

Trở lại với bài roi Thần đồng: Chống roi đứng thủ thần đồng/Bước qua bên trái đánh càn lưỡng biên/Đánh rồi thì chống roi lên/Quay lưng đâm trái, phút liền đánh qua… Chỉ qua mấy câu thơ lục bát dễ hiểu, dễ nhớ làm môn sinh học võ rất dễ nhập tâm này, đã nói lên tính ưu việt của phương pháp dạy võ của người xưa. Cách học này khi đã thuộc rồi thì không có cách nào quên. Các thế võ càng điêu luyện thì tinh thần nhân văn càng thấm đẫm trong tâm hồn. Cho nên học võ mà không trở thành võ biền, biết cách hành xử với tha nhân là tâm thế của hành giả luyện võ xưa nay.

Một võ sinh cho dù đã thuộc làu các bài thảo (quyền) vẫn không thể ứng dụng nếu chưa được người thầy phân thế. Phân thế là cách giải mã những chiêu thức cài đặt trong bài quyền. Ngày xưa tùy theo đạo đức của người học trò mà thầy phân cho bao nhiêu thế. Có những thế võ hiểm chết người tuyệt đối không chỉ dạy cho những kẻ mang tâm tính bất trung bất nghĩa. Trong 18 bài võ thống nhất đã được Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam ban hành, ban chuyên môn đã tập họp các vị võ sư phân thế 10 bài quyền. Bộ sách phân thế sẽ được cho xuất bản trong một ngày gần đây.

Ở đây chúng ta nhận thấy cách dạy võ cổ truyền không giống các môn võ khác trong thiên hạ. Võ thuật các nước luôn đi từ phân tích đến tổng hợp, học thuộc từng động tác riêng lẻ rồi mới ráp lại thành quyền. Cách này có ưu điểm là rất dễ học. Võ cổ truyền Việt Nam đi ngược lại tổng hợp rồi mới phân tích. Nếu không nghiên cứu sâu xa sẽ có nhiều ý kiến cho rằng võ Việt thiếu tính khoa học. Về vấn đề này cũng đã có nhiều cuộc tranh luận.

Võ sư Huỳnh Tuấn Kiệt thuộc dòng võ Huỳnh Gia cho rằng: “Cư dân Việt cổ xưa đã phát kiến và làm chủ nhiều tri thức. Chính người Việt trong nền văn hóa phương Nam rộng lớn đã tìm ra cặp đối lập âm dương. Âm dương nằm trong chỉnh thể thái cực nhất nguyên. Nhất nguyên là cách nhìn toàn thể trước khi phân cực của mỗi sự vật. Chính các bài quyền võ cổ truyền đã thể hiện cách nhìn minh triết này”.

Như vậy triết lý và phương pháp dạy võ cùng cấu trúc quyền thuật Việt Nam hoàn toàn khác biệt với các nền võ học khác. Đây là một “nền võ học có hệ thống căn bản, quyền pháp, binh khí riêng. Có binh thư, binh pháp như Hổ trướng khu cơ, Vạn kiếp tông bí truyền, Binh thư yếu lược. Được nhiều binh gia nổi tiếng áp dụng thành công trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Ngày nay tuy cùng phát triển với những môn võ khác từ nước ngoài du nhập, nhưng võ cổ truyền Việt Nam vẫn giữ một bản sắc riêng, có ngôn ngữ riêng và đứng riêng một chân trời cùng tuyệt”.

Những dòng nhận định trên của võ sư Trương Văn Bảo, Phó ban Chuyên môn Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam như “thay lời muốn nói” của nhiều võ sư tâm huyết trong làng võ Việt Nam.

 

 

Nguồn: Cao Thụ – Thanh Niên Online

 

Đi tìm bản sắc võ Việt: Cội nguồn võ thuật


 

 

Nền võ thuật Việt Nam vốn có từ lâu đời, phát triển đa dạng và có đủ thập bát ban võ nghệ, nội ngoại công phu. Thế nhưng, võ cổ truyền ngày hôm nay có kế thừa đầy đủ nền tảng võ học dân tộc hay không, và cái cốt tủy tạo nên sự khác biệt với các môn võ “ngoại nhập” khác là gì? Đó là câu hỏi không dễ có lời giải đáp.

Dường như các dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có các kỹ thuật và hệ thống chiến đấu riêng biệt. Bức tranh võ thuật thế giới thật là muôn màu muôn vẻ. Khó có thể nói môn võ này hay hơn môn võ khác. Mỗi môn võ đều có dáng vẻ độc đáo riêng, không thể có sự nhầm lẫn. Như môn capoera chẳng hạn, nó như một vũ điệu nhào lộn, lắc lư theo điệu nhạc. Trông không có gì là võ, nhưng bên trong nó chứa đựng những thế đánh chết người.

Võ thuật cũng chính là một loại hình nghệ thuật. Nghệ thuật chiến đấu được các dân tộc sáng tạo trước hết vì sự sinh tồn. Theo thời gian, võ thuật cũng được biểu diễn, thi đấu mua vui trong các ngày lễ hội. Ngày nay võ thuật được đưa vào thi đấu tại các sân chơi thể thao. Ở một số nước, võ thuật nâng lên hàng võ đạo và được gìn giữ như một quốc bảo.

 

Võ sư Trần Xuân Mẫn và võ sư Phạm Đình Hùng phân thế quyền Lão mai – Ảnh: tư liệu

 

Thử nhìn các nước chung quanh: Campuchia có môn võ bokator cổ xưa, Thái Lan có môn muay lừng danh, Myanmar có môn thaing bí ẩn, Ấn Độ có môn kalaripayat với tuổi đời năm ngàn năm… Chỉ mới tìm hiểu láng giềng Đông Nam Á đã thấy nền võ học khu vực cũng hết sức thâm hậu. Riêng môn muay Thái từng làm mưa gió trên các sàn đài quốc tế, bành trướng ra khắp nơi. Các võ sĩ muay công khai thách đấu với các đại phái Trung Quốc không chút e dè.

Vậy nền võ học Việt Nam đứng ở đâu trong không gian phương Nam đối chứng với nền võ học đồ sộ Trung Quốc thuộc về phương Bắc? Có không ít ý kiến cho rằng võ thuật Việt Nam hoàn toàn chịu ảnh hưởng võ thuật Trung Hoa. Cách nói ấy hoàn toàn võ đoán và thiếu căn cứ xác đáng. Phải biết rằng sự giao lưu giữa các dân tộc luôn có sự tiếp biến văn hóa qua lại, và một dân tộc không có nội lực sẽ dễ dàng đánh mất chính mình. Dân tộc Việt từng chịu đựng một ngàn năm đô hộ của phong kiến phương Bắc, nhưng không bị đồng hóa mà còn “tiêu hóa” luôn các yếu tố ngoại lai xâm nhập. Và đã quật khởi để giành độc lập và không ngừng mở mang bờ cõi để có một dải non sông gấm vóc như ngày hôm nay.

Ý tưởng đó đã gặp nhau trong một câu chuyện rất kỳ lạ. Đó là vào năm 1990, ông Choi Hong-hi, tổ sư môn taekwondo hiện đại, Chủ tịch Liên đoàn Taekwondo quốc tế (ITF), ghé thăm Việt Nam. Có duyên được gặp và tiếp xúc với ông, trong câu chuyện ông đã gây cho chúng tôi nhiều bất ngờ. Ông nói trước khi đến Việt Nam (giữa thập niên 1960) đã nghiên cứu rất kỹ lịch sử và biết Việt Nam đã từng bị ngoại bang phương Bắc cai trị hà khắc với tên gọi An Nam đô hộ phủ, giống như số phận đất nước ông với tên An Đông đô hộ phủ. Ông tin rằng chỉ có hai dân tộc Việt Nam và Đại Hàn (theo cách gọi của ông) chống lại sự đồng hóa của Trung Hoa và đánh bại nhiều đạo quân xâm lược của chúng qua các thời kỳ.

Choi Hong-hi tiên sinh đã nói đại ý rằng một dân tộc có nhiều chiến công hiển hách như Việt Nam ắt phải là một dân tộc thượng võ và có một nền võ học đặc thù. Khi sáng lập và phát triển môn taekwondo ở đất nước mình, ông ấp ủ dự định truyền bá môn võ này ra khắp thế giới. Việt Nam là nước đầu tiên ông chọn và tin rằng nếu thành công ở đây thì có thể phát triển môn võ này bất cứ nơi đâu. Qua quá trình tiếp xúc, ông nhận xét người Việt có tố chất đặc biệt về mặt võ thuật. Sau này khi ông mất, chức vụ Chủ tịch ITF được giao cho cao đồ Trần Triệu Quân là một người Việt Nam. Võ sư Quân đã chết trong một vụ động đất tại Haiti năm 2010.

Một tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về võ học là cố GS.PTS Mai Văn Muôn từng phân tích: “Khởi đầu loài người còn sống quần tụ thành các bộ tộc đã biết sáng tạo ra cách chiến đấu để chống chọi với thú dữ và sự tấn công của các bộ tộc khác. Khi hình thành nên lãnh thổ quốc gia, ý thức dân tộc phát triển mới xây dựng các dòng võ, võ phái. Tùy vào cơ địa và quan niệm nhân sinh mà có nhiều phương thức chiến đấu khác nhau ra đời. Theo thời gian các phương pháp thiền và khí công đưa vào làm nền tảng đã tạo nên bước phát triển thần kỳ của võ thuật. Sự phát triển nào cũng phải có quy luật, các khái niệm triết học cổ sơ như âm dương, ngũ hành được vận dụng để diễn giải các quy luật vận động”.

Võ sư Lê Kim Hòa, Phó chủ tịch Liên đoàn Võ cổ truyền Việt Nam, người chủ trì biên soạn công trình đặc sắc Võ cổ truyền Việt Nam, từng đi nhiều nước và tìm hiểu nhiều nền võ học có những ý kiến sâu sắc: “Đặc thù của võ Việt Nam là tính chiến đấu rất hiệu quả, không có động tác dư thừa, không hoa mỹ. Người nông dân – võ sĩ khi chiến đấu có thể sử dụng mọi công cụ trong sinh hoạt hằng ngày làm vũ khí hết sức hiệu quả như đòn gánh, bừa cào, khăn vắt vai… Một yếu tố quan trọng nữa là, trong luyện võ có rèn luyện tinh thần. Chính sức mạnh tinh thần cùng khả năng chiến đấu dũng mãnh của các đạo quân áo vải đã làm nhiều kẻ thù khiếp sợ”.

Nhìn theo suốt chiều dài lịch sử, nền võ thuật Việt Nam đã đi qua biết bao thăng trầm và biến động, đã để thất truyền và mai một nhiều vốn quý, nhưng những tinh hoa vẫn còn phân tán lưu giữ trong các dòng tộc. Một thế hệ các võ sư giàu tâm huyết đã dày công sưu tầm, tìm kiếm và chắt lọc để làm nên hệ thống võ cổ truyền độc đáo của ngày hôm nay.

 

Nguồn: Cao Thụ – Thanh Niên Online

 

Khí công – Thực chất và huyền thoại


Nói một cách tổng quát, tập luyện khí công cần dựa vào những thành tựu khoa học thực tế để việc tập luyện phù hợp với vận động sinh lý tự nhiên của cơ thể..  

Từ xưa, nhiều môn phái Võ thuật và các trường phái Đông y đều nhấn mạnh việc luyện Khí công là phương pháp chủ yếu để gìn giữ và tăng cường sức khỏe. Tuy nhiên, cũng có những truyền thuyết về các khả năng gần như siêu việt của Khí công được nhiều người nói tới. Chẳng hạn như trong đoạn trích dẫn sau đây :

“…Chỉ thấy cụ Lưu Văn Khanh cất bàn tay trái lên, một luồn hào quang màu hồng như tia sáng mặt trời từ tay cụ phóng ra. Đó chính là công phu nổi tiếng “Võ Đang long môn thất ất kim thích chưởng”. Tiếp đó, cụ lại biểu diễn “Hắc phong chưởng”: Một luồng khí sắc đen lại từ huyệt Lao Cung của bàn tay trái phóng ra tựa như một luồng khói đen, khiến mọi người chứng kiến sửng sốt kinh ngạc và thán phục. “Mai hoa chưởng” của cụ lại càng tinh diệu hơn nữa. Một luồng khí sắc trắng như khói từ tay cụ phóng ra kèm theo âm thanh “vù vù”, khiến hơn 200 con người hâm mộ đứng xem lặng người kinh ngạc và sau đó hoan hô vang dậy…Cụ Lưu cười ha hả nói : “Các vị vất vả quá và đã có vẻ mệt nhọc lắm rồi, để tôi giúp các vị bổ khí một chút”. Nói rồi cụ cất bàn tay lên lần lượt hướng tới mồm của ba người phóng ba lần “Dược vương chưởng”. Ba người điều cảm thấy một luồng khí có khí vị rất đậm của Trung dược từ khoang miệng lan tỏa khắp thân thể. Sau đó liền cảm thấy toàn thân thư giãn nhẹ nhàng, tinh thần thư thái sảng khoái vô cùng…”(Khí công-các kỳ nhân đương đại, Thiên Tùng biên dịch, Nhà xuất bản Thể dục thể thao, Hà Nội, 1990, trang 6-7) là một trong nhiều câu chuyện kể về khả năng siêu việt của khí công gần như là huyền thoại ! Bởi trong thực tế vẫn chưa có những luận cứ khoa học nào giải thích một cách minh bạch và tường tận về các khả năng sử dụng Khí công như vậy. Thái độ của những con người đang chuẩn bị hành trang bước vào thế kỷ XXI không nên vội phê phán về các huyền thoại khí công như vừa kể, mà hãy gác nó qua một bên, chờ đợi kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học.

Thực chất về công năng của Khí công trong việc giữ gìn và tăng cường sức khỏe đã được khoa học chứng minh. Thật vậy, ngày nay, khoa học cho ta biết rõ cơ thể, và đặc biệt là các bắp thịt, trong lúc hoạt động rất cần khí Oxy và tiêu khử khí Carbonic. Oxy tiềm tàng trong không khí được hít vào phổi, rồi hòa tan vào huyết để được tải khắp cơ thể. Huyết cũng tải về phổi khí thán do các bộ phận khác tiết ra, để được thải ra ngoài lúc thở ra. Như vậy khí và huyết là hai yếu tố gắn bó mật thiết với nhau, do đó hai quá trình vận khí và vận huyết cũng gắn chặt với nhau. Lưu thông khí huyết là điều kiện cơ bản trong việc bảo vệ sức khỏe và rèn luyện cơ thể.

Tùy theo ý muốn, chúng ta có thể vận dụng bộ máy hô hấp, vận dụng các bắp thịt để thở. Bắp thịt thở chủ yếu là hoành cách mạc. Vận động của nó bảo đảm 2/5 dung tích không khí ra vào. Hoành cách mạc nằm thành một cái vòm giữa ngực và bụng, phía trên là phổi và tim phía dưới là gan, dạ dày và ruột. Lúc hoành cách mạc co thắt để hạ xuống 2 đến 3cm, nếu tập nhiều có thể hạ xuống đến 10 hay 15cm. Lúc ấy, lồng ngực và phổi dãn ra, bụng phình lên vì gan, ruột bị đẩy xuống, không khí được hít vào. Hoành cách mạc trở về chỗ cũ, phổi bị ép lại, không khí được đẩy ra ngoài, lúc ấy ruột gan bị kéo lên và bụng thót lại. Như vậy, lúc hít vào thì bụng phình lên, và lúc thở ra, bụng thót lại. Bắp thịt bụng cũng giúp vào việc thở, đặt biệt là lúc thở ra, khi ấy hoành cách mạc đi lên, cơ bụng thắt lại, đẩy gan ruột lên, do đó thở ra được sâu hơn. Tóm lại, cần nhớ nguyên tắc : thót bụng thở ra, phình bụng hít vào.

Ngoài hoành cách và cơ bụng, giữa các xương sườn cũng có những cơ nối liền hai xương với nhau, phía trong và phía ngoài. Lúc các cơ liên sườn bên ngoài co thắt lại, xương sườn bị kéo ra, lồng ngực phồng lên, giúp cho không khí vào, và ngược lại, khi các cơ liên sườn bên trong kéo sườn vào thì lồng ngực thắt lại, không khí bị đẩy ra. Vì phía dưới của phổi rộng hơn phía chóp phổi, do các xương sườn trên rất cứng, gồm toàn xương từ trước ra sau, không như các xương sườn phía dưới, gồm một phần sụn ở phía trước, nên lồng nhực phía trên không co giãn được bao nhiêu. Những bắp thịt níu vào các xương sườn phía trên và xương đòn gánh, đóng góp vào việc đưa không khí ra vào không đáng kể. Thông thường khá nhiều người cứ lầm tưởng bắp thịt ngực, tức bắp thịt kéo từ cánh tay đến giữa ngực, là bắp thịt để thở, nên lúc tập thường đưa vai lên, kéo căn phần trên của ngực, trái với sinh lý tự nhiên.

Thở bụng, tức là vận dụng hoành cách mạc, cơ bụng, cơ liên sườn phía dưới, là cách thở có hiệu quả cao nhất. Rèn luyện các bắp thịt ấy cho thật nhuần nhuyễn, trong lúc thở nắm cho được mình đang vận dụng bắp thịt nào là công tác cơ bản của khí công. Nói một cách tổng quát, cần nắm vững những động tác sau đây :

Lúc thở ra, hoành cách mạc đưa lên, bụng thót lại, cơ liên sườn và các cơ bụng kéo sườn vào.

Lúc hít vào, hoành cách mạc hạ xuống, bụng phình lên cơ liên sườn kéo sườn ra.

Thở ra dài hơn hít vào và càng sâu càng tốt. Lúc hít vào xong, có thể giữ hơi lại một chút. Sách xưa thường nói rằng lúc hít vào, khí xuống đan điền, tức bụng dưới, thực ra vì hoành cách mạc đẩy ruột xuống nên bụng phình ra.

Bình thường lúc ngồi yên hay làm việc nhẹ, dung tích không khí ra vào chừng 0,5 lít, và người ta thở chừng 12 đến 16 lần trong một phút. Khi vận động, nhất là vận động nhanh như chạy đua, đấu võ, lưu lượng không khí ra vào có thể gấp 15 hay 20 lần. Lúc ấy dung tích không khí ra vào có thể lên tới từ 4 lít đến 6 lít, tần số thở cũng tăng lên gấp đôi hoặc hơn. Muốn tăng lưu lượng phải tăng chủ yếu khả năng hoạt động của hoành cách mạc lên, xuống thật nhiều và nhanh, nếu cần có thể cho không khí ra vào qua miệng, vì con đường này rộng hơn và ít khúc khủy hơn con đường qua mũi. Nhưng nếu ta không vận động nhiều, không cần lưu lượng không khí ra vào, thì cũng không nên đưa quá nhiều Oxy vào cơ thể, khử quá nhiều khí thán ra ngoài, vì như thế sẽ bị choáng váng. Lúc ngồi yên điều hòa nhịp thở cho thật đều đặn, nhẹ nhàng, dài và sâu, chủ yếu để điều hòa hoạt động của nội tạng và làm cho thần khinh thoải mái. Nhịp thở lúc ấy là một cho đến bốn lần trong một phút.

Tóm lại, có hai phương pháp luyện khí công :

Lúc vận động nhiều, thở sâu và nhanh, có thể cho không khí qua miệng để tăng cường lưu lượng không khí ra vào, cung cấp nhiều oxy và khử nhiều khí carbonic

Lúc vận động ít và không vận động, thì thở nhẹ, dài, sâu, rất chậm và toàn thể con người yên tĩnh điều hòa lại. Nếu hoàn cảnh cho phép, nhắm mắt lại tập trung ý nghĩ vào từng nhịp thở.

Có thể tập khí công trong tư thế nằm cũng được, đứng, nằm hay ngồi, miễn sao vận dụng được hoành cách mạc một cách dễ dàng. Kết hợp với động tác chân tay trong khi tập khí công cũng được. Khi rèn luyện xong rồi thì lúc vận động, nhịp thở và động tác chân tay sẽ tự nhiên phối hợp nhịp nhàng với nhau. Kỹ thuật của khí công đơn giản, tập vài lần sẽ quen, chủ yếu là đừng đưa vai lên xuống lúc thở, đừng cho vận động của lồng ngực tréo với vận động của hoành cách mạc, vì có khi ta cho lồng ngực căng lên để hút không khí vào, đồng thời lại thót bụng lại đẩy hoành cách mạc lên, tức đẩy không khí ra. Động tác của hoành cách mạc, cơ bụng và cơ liên sườn cần được phối hợp chặc chẽ. Trong lúc tập khí công điều hòa, cần chú ý làm chủ nhịp thở : thở thật đều là chủ yếu, không để nhịp thở rối loạn.

Nói một cách tổng quát, tập luyện khí công cần dựa vào những thành tựu khoa học thực tế để việc tập luyện phù hợp với vận động sinh lý tự nhiên của cơ thể, hầu tránh được những tật bệnh có thể phát sinh, đồng thời tạo điều kiện tốt cho khí oxy vào cơ thể giúp các tế bào hoạt động tốt hơn cũng như đưa khí carbonic ra khỏi cơ thể tạo môi trường tốt đẹp cho toàn cơ thể. Được như vậy, sức khỏe chắc chắn tăng tiến, từ đó khả năng dụng võ cũng tiến bộ là lẽ đương nhiên, đúng như Hải Thượng Lãn Ông đã từng viết :

Tập cho khí huyết lưu thông
Tay chân lanh lợi, tinh thần thảnh thơi

 

Võ Sư Hồ Tường

Lược Sử Võ Thuật Việt Nam


Lược Sử Võ Thuật Việt Nam

 

 

Người xưa đã có câu:

Văn quan cầm bút an thiên hạ,
 Võ tướng đề đao định thái bình.

Qua hai câu trên, chứng tỏ rằng người xưa chẳng những học văn mà còn chú trọng đến việc rèn luyện võ thuật để chống giặc, dẹp loạn, nhằm mang lại thanh bình cho xứ sở. Nhìn chung vào toàn bộ lịch sử tranh đấu của dân tộc Việt Nam, nền võ học Việt Nam đã đóng một vai trò rất quan trọng, trong vận mạng thịnh suy của đất nước. Bởi vì, những vị anh hùng dân tộc, phần lớn đều xuất thân từ giới võ học, đã tiên phong mang tài thao lược võ dũng và võ trí để góp công vào cuộc lập quốc và kiến quốc. Do đó, để tìm hiểu lịch sử võ học Việt Nam, chúng tôi xin được căn cứ trên bối cảnh lịch sử và thứ tự thời gian, trong bộ “Việt Nam sử lược”, của học giả Trần Trọng Kim làm căn bản, để phân chia lịch sử võ học Việt Nam ra làm bốn thời kỳ chính yếu như sau: Thời thượng cổ, thời kỳ Bắc thuộc, thời kỳ độc lập tự chủ , và thời kỳ cận đại.

I. THỜI THƯỢNG CỔ (2879 – 110 TRƯỚC CN)

Căn cứ vào lịch sử tiến hóa của nhân loại, võ học đã có một nguồn gốc sâu xa trong quá khứ, từ khi con người còn sống trong các hang động, chỉ biết ăn sống thịt thú rừng, cây cỏ, và sự sinh hoạt còn quá phôi thai, rời rạc.Đó là thời tiền sử, theo các nhà khảo cổ học, thời tiền sử được chia ra làm bốn thời kỳ chính: Thời cựu thạch (thời đá đẽo), thời trung thạch (thời đá mài), và thời kim khí.

Trong thời cựu thạch (đá đẽo), khởi đầu vì bản năng sinh tồn, trong cảnh sống chống chọi với thiên nhiên, mà con người đã biết vận dụng sức mạnh lao động của thể xác để tự vệ và tranh đấu với các loại vật sống chung quanh mình. Từ đó, các động tác và các dụng cụ thô sơ dùng làm khí giới, để chiến đấu của thời khai nguyên đã được chớm nở. Mặc dù, trong thời tiền sử con người chưa biết dùng chữ viết để ghi chép lại những biến cố xảy ra trong cuộc sống hàng ngày, nhưng các nhà khảo cổ cũng đã tìm hiểu được sự sinh hoạt của nhân loại vào thời xa xưa qua những di tích còn để lại.

Riêng tại Việt Nam, những di tích thuộc vào thời cựu thạch (đá đẽo) như các món binh khí: búa, rìu, dao, nạo, dùi, cào,… làm bằng loại đá đẽo đã được các nhà khảo cổ Việt Nam tìm thấy tại các vùng đất Thanh hóa, Lạng Sơn, Vĩnh Phú, thuộc miền Bắc Việt Nam. Ở hang Thượng Phú thuộc miền Trung Việt Nam, nhà khảo cổ M. Colani đã tìm thấy được những hình ảnh khắc vẽ trên vách đá, giống như một người thợ săn tay đang cầm cây lao để nhắm hướng lên một con chim đang bay lượn trên không trung, trong khi ở bên dưới là hình ảnh của những chiếc đầu có sừng. Ngoài ra, xuyên qua những bức tranh họa trên da thú rừng hoặc được khắc trên những phiến đá được lưu trữ tại các viện bảo tàng Việt Nam, chúng ta còn nhận thấy được hình ảnh của những chiếc thạch côn trong thời đại đá đẽo. Với những di tích vừa kể trên cũng đã nói lên được một phần nào sự liên quan đến khoa chiến đấu của tổ tiên Việt Nam trong thời đó.

Đến thời đại trung thạch (đá mài) con người vẫn nhờ vào võ công của mình để làm phương tiện mưu sinh căn bản cho cá nhân và gia đình, rồi dần dần với đà tiến bộ biết cách trồng trọt, nuôi , con người đã tạo được sự bảo đảm về mặt thực phẩm, rồi sự sinh sản gia tăng, con người mới bắt đầu sống định cư, thành tập đoàn dưới hình thức bộ lạc. Theo quan điểm của các nhà khảo cổ học đã ghi nhận, đây là thời kỳ tân thạch, con người bắt đầu biết sống tập đoàn và có chút ít sống văn minh, tiến bộ lần tới thời đại kim khí.

Theo các sử gia và các nhà khảo cổ học Việt Nam, vào đời vua Hùng Vương chính là thời đại kim khí cực thịnh, tổ tiên người Lạc Việt đạt được một sự tiến bộ lớn lao về phương diện kỹ thuật và mỹ thuật. Tổ tiên Việt Nam đã tìm được các quặng mỏ đồng, sắt, … và biết cách áp dụng phươngpháp luyện kim (những kỹ thuật pha chế thành hợp kim) để sản xuất ra các dụng cụ và binh khí sắt bén như: rìu đồng, trống đồng, đồng côn, thiết côn, dao, búa, cào bằng sắt cho các vị Lạc tướng và binh sĩ dùng để đánh giặc.

Trong những di tích đào được ở các vùng đất núi Việt Nam, người ta nhận thấy có những món binh khí bằng kim loại rất là mỹ thuật như rìu đồng và trống đồng.

Rìu đồng là một dụng cụ để chặt chém, và cũng là một loại binh khí dùng để đánh giặc. Trên những rìu đồng này, phần lớn đều được trạm trổ hình kỷ hà, hoặc là những hình ảnh sinh hoạt của con người thời đó. Những hình vẽ thường là hình ảnh bơi thuyền, nhảy múa, săn bắn , và những động tác đấu võ.

Trống đồng là một loại nhạc cụ dùng để tạo ra những âm thanh hòa tấu trong những buổi lễ, đặc biệt trong thời vua Hùng Vương đã biết dùng trống đồng làm một loại binh khí bằng âm thanh, để khích động tinh thần tướng sĩ, cũng như ra hiệu lệnh cho binh sĩ trong lúc đánh nhau. Loại trống đồng này đã được tìm thấy rất nhiều tại các vùng đất thuộc các tỉnh miền Bắc Việt Nam như Thanh Hóa, Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Nam, Hà Nội, Hòa Bình, Yên Bái, Hải Dương, Nghệ An… Trên mặt trống đồng có trạm vẽ hình ảnh và sự sinh hoạt của thời đó rất là đẹp đẽ. Điều này đã chứng tỏ được tinh thần mỹ thuật của tổ tiên Việt Nam đã bước tiến rất cao xa.

Một di tích khác mà hiện nay còn lưu lại tại tỉnh Phúc Yên (Bắc Việt) đó là thành Cổ Loa, với kiến trúc cổ kính đầy tính cách quân sự, vòng thành xoắn theo hình trôn ốc, với sự bố trí rất thuận lợi cho việc phòng thủ, chống giặc từ bên ngoài. ây cũng là một di tích đã nói lên được một khoa võ học quân sự có tổ chức trong triều đại An Dương Vương (257 – 207 trước CN), với năm mươi năm làm vua, sau khi Thục Phán đã đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 để đổi tiên nước từ Văn Lang thành nước Âu Lạc.

II. THỜI KỲ BẮC THUỘC (207 TRƯỚC CN ĐẾN 939 SAU CN)

Sau khi đánh bại được vua An Dương Vương, Triệu Đà là một vị quan úy ở quận Nam Hải liền sát nhập Nam Hải vào nước Âu Lạc lập thành một nước tự chủ, đặt tên là Nam Việt, làm vua được năm đời. Đến năm 111 trước CN, nhà Hán bên Trung Hoa đánh chiếm nước Nam Việt rồi đổi thành Giao Chỉ Bộ (Giao Châu) đặt quan cai trị như các châu quận của nước Trung Hoa.

Vào năm 40 sau CN, hai chị em Trưng Trắc và Trưng Nhị người huyện Yên Lăng, tỉnh Phúc Yên, đầu tiên cầm gươm cưỡi bạch tượng, điều khiển nghĩa quân đánh đuổi quan quân Thái Thú Tô Định, và chiếm được sáu mươi lăm thành trì, rồi hai bà lên làm vua dành quyền độc lập, giải phóng nước nhà ra khỏi ách đô hộ của người Trung Hoa được ba năm. Sự kiện này đã viết lên được một trang võ sử oai hùng cho dân tộc Việt Nam nói chung, và cho nữ giới Việt Nam nói riêng.

Mãi đến năm 248 sau CN, noi gương hai bà Trưng, bà Triệu Ẩu, người huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa cỡi bạch tượng mặc áo giáp vàng, cùng với một ngàn nghĩa quân đứng lên chống với quân Thái Thú Lục Dận, cầm cự một thời gian ngắn, quân của bà chống cự không lại, bà đành tự tử.

Đây là một điểm son thứ hai cho nữ giới trong lịch sử Việt Nam.

Năm 542, Lý Bôn, một vị anh hùng dân tộc đã đứng lên đánh đuổi quân Trung Hoa để làm vua, dựng nên nghiệp nhà Tiền Lý. Đến năm 602, Lý Phật Tử thuộc hậu Lý Nam Đế vì thế yếu nên xin hàng phục vua nhà Tùy. Kể từ đó, Giao Châu lại lệ thuộc nước Trung Hoa lần thứ ba. Mãi cho đến năm 939 sau CN, người Việt mới dành lại được quyền tự chủ.

Vào thế kỷ thứ hai, song song với việc du nhập các tôn giáo Phật, Khổng, Lão và Việt Nam, ngành võ học từ Ấn Độ và Trung Hoa cũng được các vị thiền sư, đạo sĩ mang đến qua hai con đường thủy và đường bộ do hai cách được ghi nhận như sau:

Do các đạo sĩ Trung Hoa sang đất Giao Châu (Bắc Việt Nam) để lánh nạn vì năm 189 sau CN, sau khi vua Hán Linh đế mất, nước Trung Hoa có nhiều loạn lạc. Nhân cơ hội này các vị đạo sĩ đã giới thiệu đạo Khổng và Lão cũng như các phương pháp thể dục dưỡng sinh, thổ nạp chân khí (tức là cách luyện khí). Trong số đó có ngài Mâu Bác (Meou-Po) rất tinh thông tam giáo, về sau ngài phát tâm theo Phật giáo.

Do các vị thiền sư Ấn Độ sang đất Giao Châu (Bắc Việt Nam) để truyền báo đạo Phật, hoặc có một số ghé ngang qua Giao Châu, trước khi sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ ba. Trong số các vị thiền sư Ấn Độ được ghi nhận như Chí Cương Lương (Tche-Kiang Leang), Khương Tăng Hội (K’ang Seng Houei), Ma Ha Kỳ Vực (Marjivaka ha La Jivaka)…

Vào năm 247, vua Ngô Tôn Quyền thấy ngài Khương Tăng Hội thi triển nhiều phép lạ đem lòng tín phục và xây chùa ở thành Kiến Nghiệp (Nam Kinh bây giờ) để ngài tu trì và giảng dạy Phật học. Trong sách “Cao Tăng Truyện” có ghi: “Ông Ma Ha Kỳ Vực gốc ở Ấn Độ, đi du lịch các nước, đến Founan theo đường Giao Châu và Quảng Châu (bắc Việt và Quảng Đông bây giờ), đến nơi nào ngài cũng làm phép lạ. Khi đến Tương Dương, ngài muốn qua đò nhưng người lái đò thấy ngài quần áo rách rưới không cho xuống. Nhưng đến khi đò ngang cập bến, mọi người đều lấy làm lạ vì thấy ngài đã ở bên này sông rồi.” Vào thời kỳ này, mặc dù võ học đã được mang đến do các vị thiền sư, đạo sĩ nhưng vẫn chưa được phổ biến sâu rộng trong dân gian.

Mãi đến năm 580, vị thiền sư Tì Ni a Lưu Chi (Vinitaruci) từ Tây Trúc đã chính thức mang đến Việt Nam ngành đạo thiền tông đầu tiên ở nước Việt Nam, tại chùa Pháp Vân (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), truyền được 19 đời (580 – 1216). Năm 820, vị sư Trung Hoa là ngài Vô Ngôn Thông đến chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh) lập nên thiền phái thứ hai, truyền được 14 đời (820 – 1221).

Kể từ đó, các môn võ lâm cổ truyền từ Ấn Độ cũng như các môn Thiếu Lâm Nam và Bắc phái của ngài Bồ Đề Lạt Ma từ Trung Hoa bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam.

 III. THỜI KỲ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ (939-1802 SAU CN)

Năm 939, sau khi Ngô Quyền thắng trận Bạch Đằng, đánh đuổi được quân Nam Hán và giết được Thái Tử Hoằng Thao, Ngô Quyền đã thật sự giải phóng cho dân Việt khỏi ách ngàn năm đô hộ của người Trung Hoa, và cũng mở đường cho các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn về sau được tự chủ ở phương Nam.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, lên ngôi vua đạt lại quốc hiệu là Đại Cồ Việt, ngài lo việc tổ chức binh bị và chỉ thị cho binh sĩ tập trận đánh Trường Tiên, mà sau này dân Việt gọi là Trung Bình Tiên hay roi Quang Trường, để áp dụng vào việc chống giặc, giữ gìn bờ cõi. Về binh đội, ngài phân chia ra làm Đạo, Quân, Lữ, Tốt, Ngũ. Mỗi Đạo quân có 10 Quân, mỗi Quân có 10 Lữ, mỗi Lữ có 10 Tốt, mỗi Tốt có 10 Ngũ, mỗi Ngũ có 10 người.

Năm 980, vua Lê Đại Hành nhờ vào việc tổ chức binh bị hùng mạnh của nhà Đinh để lại mà đã tạo được nhiều chiến công hiển hách trong việc dẹp nội loạn, cũng như phá được đại quân Tống ở phương Bắc, bình được Chiêm Thành ở phương Nam. Do đó vua Lê đã tạo được thanh thế rất lừng lẫy.

Năm 1010, Lý Công Uẩn tiếp nối nghiệp đế của nhà Lê để sáng lập ra nhà Tiền Lý, truyền ngôi được chín đời. Lý Công Uẩn là vị vua rất giỏi võ thuật, xuất thân từ cửa thiền ngay từ nhỏ đã theo nhà sư Lý Khánh Vân làm con nuôi, được học võ lâm và đạo thiền tại chùa Cổ Pháp. Khi lớn lên nhờ tài văn võ mà được nhà tiền Lê bổ nhiệm chức Quân Tả Thần Vệ Viện Tiền Chỉ Huy Sứ. Khi lên ngôi, vua Lý Thái Tổ rất trọng đãi giới tu hành, Phật giáo cũng được chọn làm quốc giáo, song song với Thiền tông, nhà vua cũng phát động việc huấn luyện môn võ lâm cổ truyền cho các quan viên, quân sĩ, cũng như các hoàng tử đều phải luyện tập võ lâm ngay từ thuở nhỏ. Khi lớn lên, các hoàng tử đều giỏi võ lâm và cách dùng binh. Muốn được phong vương các hoàng tử đều phải đích thân cầm binh đánh giặc để lập chiến công.

Năm 1054 – 1072, để gia tăng hiệu quả về binh bị, vua Lý Thánh Tông lo việc định quân hiệu, chia phân quân đội ra làm Tả, Hữu, Tiền, Hậu. Tất cả là bốn bộ, hợp lại là một trăm đội, mỗi đội đều có lính kỵ và lính bắn đá còn những phiên binh thì lập ra thành đội riêng biệt, không cho lẫn lộn với nhau. Binh pháp nhà Lý vào lúc bấy giờ có tiếng là giỏi, nhà Tống bên Trung Hoa đã phải tìm hiểu thêm. Điều này cũng làm vẻ vang cho con dân đất Việt.

Năm 1072 – 1127, vua Lý Nhân Tông còn chia võ ban ra làm chín phẩm. Quan đại thần có Thái Sư, Thái Phó, Thái Úy, Thiều Sư, Thiếu Phó, Thiếu Úy. Còn phái dưới có Thống, Nguyên Súy, Tổng Quản Khu mật Sứ, Khu Mật Tả Hữu Sứ, Kim Ngô Thượng Tướng, Đại Tướng,Tướng, Chu vệ Tướng Quân… . Vào thời này, cũng nên kể đến danh tướng Lý Thường Kiệt, một võ tướng tài ba thao lược cũng đã lập được nhiều chiến công rực rỡ trong cuộc dẹp nội loạn, bên ngoài phá Tống bình Chiêm Thành.

Năm 1125 – 1400, tiếp nối nhà Lý các vua nhà Trần chú trọng đến việc chỉnh đốn quân binh. Vua Trần Thái Tông ra luật tổng động viên, tất cả những dân trai tráng đều phải đi lính. Ngài cho mở nhiều “Giảng Võ Đường” để huấn luyện võ lâm cho dân chúng. Nhằm trông nom binh bị tại triều đình, vua đặt ra các chức: Phiêu Kỵ Thượng Tướng Quân, Cẩm Vệ Thượng Tướng Quân, Kim Ngô Đại Tướng Quân, Võ vệ Đại Tướng Quân, Phó ô Tướng Quân,… và ở ngoài, có các chức Kinh Lược Sứ, Phòng Ngự Sử, Thứ Ngự Sử, Quan Sát Sử, ô Hộ, ô Thống, Tổng Quản,… Binh lính được chia thành Quân và ô, mỗi Quân có ba chục ô, mỗi ô có tám chục người được xếp vào Quân và Hộ. Binh lính phải luôn luôn luyện tập võ thuật, sẵn sàng trong tình trạng chiến đấu. Binh lực của nhà Trần lúc này rất hùng mạnh, ba quân tướng sĩ rất là thương yêu lẫn nhau. Vì vậy, đã hơn ba lần thắng được giặc nhà Nguyên, đánh đuổi hơn năm chục vạn quân Mông Cổ ra khỏi bờ cõi vào năm 1284 – 1288, dưới sự lãnh đạo của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, cùng với sự hợp lực của các võ tướng như Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão đã chiến thắng trận Chương Dương .Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão, Hưng Võ Vương Nguyên, Hưng Hiếu Vương Úy cùng với Hưng Đạo Vương đã đánh thắng quân Nguyên tại trận Vạn Kiếp, đến nổi tướng Mông Cổ là Thoát Hoan thua phải bỏ chạy về nước. Trần Khánh Dư cướp lương thực của quân Nguyên tại trận Vân Đồn. Tại trận Bạch Đằng, Hưng Đạo Vương đại thắng bắt được Ô Mã Nhi và Trần Nhật Duật đã phá quân của Toa Đô ở trận Hàm Tử Quan.

Đây là những chiến công rất hiển hách, vẻ vang nhất trong lịch sử vì với một đế quốc Mông Cổ lớn mạnh nhất vào thời bấy giờ, có một binh lực viễn chinh hùng mạnh, đã từng làm mưa làm gió tại các chiến trường lớn trên thế giới, đã chiến thắng thôn tính được nhiều dân tộc lớn trên thế giới như đã thôn tính được nước Trung Hoa, chiếm được Tây Bá Lợi Á, xâm lăng Trung Âu, uy hiếp được Áo và Đức… Thế mà khi đến bờ cõi Việt Nam, họ phải nếm mùi thật trận hơn ba lần. Hơn ba lần chiến thắng vinh quang của dân tộc Việt đối với kẻ thù số 1 của loài người trong thời đó, đã chứng tỏ được dân tộc Việt là một dân tộc oanh liệt đứng hàng đầu trên thế giới.

Trong lúc chống với giặc Mông Cổ, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã soạn ra bộ “Binh Thư Yếu Lược”. Đây là bộ sách tập hợp các phương pháp dùng binh đánh giặc của những danh gia trên thế giới để huấn luyện cho quân sĩ.

Năm 1400, sau khi cướp được ngôi nhà Trần, Hồ Quý Ly lo chỉnh đốn việc binh bị để đề phòng chống với giặc Minh. Hồ Quý Ly bắt dân kê khai hộ tịch rất cẩn thận rồi tuyển dân vào làm lính để gia tăng số binh sĩ, và chia quân đội ra làm bộ binh, và thủy binh. Ngoài ra còn thành lập bốn kho quân trang quân dụng, và tuyển dụng người có kỹ thuật vào làm việc ở xưởng sản xuất binh khí.

Về thủy binh, để đề phòng giữ mặt sông và biển, Hồ Quý Ly cho làm ra những chiến thuyền lớn, ở trên có sàng đi, ở dưới cho người chèo chống, thật là tiện lợi trong việc chiến đấu. Ở các cửa bể và nơi hiểm yếu của các sông lớn, Hồ Quý Ly cho người lấy gỗ đóng cọc để đề phòng quân giặc. Việc quân chế ở Nam và bắc được phân chia ra làm mười hai vệ, Đông và Tây được phân ra làm tám vệ. Mỗi vệ có mười tám đội, mỗi đội có 18 người. Đại quân có ba chục đội, trung quân có hai chục đội. Mỗi doanh có mười lăm đội, mỗi đoàn có mười đội. Còn những cẩm vệ chỉ có 5 đội và một người đại tướng thống lãnh.

Năm 1418, Bình Định Vương Lê Lợi cùng với các nghĩa sĩ sau nhiều năm gian lao thao luyện đứng lên khởi nghĩa ở đất Lam Sơn. Mãi đến năm 1427, ngài mới đuổi được quân nhà Minh ra khỏi bờ cõi Việt Nam.

Năm 1428 Lê Lợi lên ngôi vua, trong các vị có công lao lớn theo giúp vua, đáng kể nhất về quan văn là ông Nguyễn Trãi trong việc tham mưu, về quan võ có đại tướng Lê Vấn và nhà sư Sa Viên trong việc huấn luyện võ dũng cho binh sĩ. Riêng về nhà sư Sa Viên, hiệu là Sơn Nhân người ở tỉnh Sơn La, Bắc Việt, vào năm 1407 ngài theo quy y học đạo tại chùa Huyền Thiên, tỉnh Sơn Đông Trung Hoa. Năm 1415, ngài về nước theo giúp vua Lê Lợi trong việc huấn luyện võ công cho các nghĩa sĩ.

Đến năm 1428, vua Lê Lợi cho mở ra những kỳ thi “Minh Kinh Khoa” bắt buộc các quan văn võ, từ tứ phẩm trở xuống phải dự thi, nghĩa là quan văn phải vào kinh thi sử, quan võ phải thi về võ kinh. Nhà vua còn mở rộng các khóa thi Minh Kinh cho dân chúng, để kén chọn nhân tài, ẩn sĩ ra giúp nước. Nhân vào cơ hội phát động võ thuật của vua Lê, thầy Sa Viên đã thành lập trường huấn luyện võ thuật, đặt tên là “Trường Võ Bình Định” để tưởng nhớ đến công lao của Bình Định Vương Lê Lợi, đã có công đánh đuổi quân Minh mang lại thanh bình cho xứ sở.

Năm 1460, vua Lê Thánh Tông cho mở khoa thi Tiến sĩ đầu tiên. Mỗi ba năm ngài cho mở kỳ thi võ để tưởng thưởng quân sĩ và kén chọn nhân tài võ dũng. Vào thời bấy giờ, nhiều võ sinh của trường võ Bình Định đã được trúng tuyển, cho nên danh từ võ phái Bình Định đã được dân chúng biết nhiều đến kể từ đó. Về binh bị, vua Lê Thánh Tông còn chỉ thị cho các quan Tổng Binh phải chăm lo giảng tập trận đồ, thao luyện binh sĩ. Ngài cho đổi lại năm vệ thành năm Phủ: Trung Quân Phủ, Nam Quân Phủ, Bắc Quân Phủ, Đông Quân Phủ, Tây Quân Phủ. Mỗi phủ có sáu vệ, mỗi vệ có năm hay sáu sở, mỗi sở có bốn trăm người. Quân sĩ của năm phủ có khoảng sáu hoặc bảy vạn người. Ngài còn đặt ra ba mươi mốt điều quân lệnh để tập thủy trận, bốn mươi hai điều để tập bộ trận. Năm 1679, vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh, ở miền Nam nền võ học Việt Nam còn chịu ảnh hưởng vào các võ phái của người Trung Hoa như Thiếu Lâm Nam và Bắc phái, Võ Đang, Nga Mi, Không Động, Bạch Hạc, Bát Quái Chưởng,… xuyên qua các quan binh của nhà Minh bất phục tùng Thanh Triều đến khai hoang lập ấp, định cư rãi rác trên các vùng đất cận Nam. Do đó, về sau người ta còn được nghe nhắc đến những danh từ như Võ Tiều, Võ Hẹ, Võ Quảng, Võ Hải Nam, Võ Phúc Kiến,… (để chỉ các môn võ do các người Trung Hoa, gốc thuộc các địa phương khác nhau). Đến đây, chúng tôi xin nhắc lại một quan điểm chính trị của chúa Nguyễn Hiền Vương, với ý định mở mang bờ cõi về miền Nam, cho nên chúa Nguyễn đã cho phép các tướng lãnh cùng hơn ba ngàn binh sĩ nhà Minh bất phục tùng Thanh Triều đến tỵ nạn, và tiện dịp, dùng họ để khai hoang, lập ấp tại các vùng đất cận Nam, rồi dần dần xâm chiếm các vùng đất của người Chân Lạp.

Về sau những vùng đất khai hoang, lập ấp này đã tạo nên những thành phố dân cư trù phú, sự thịnh vượng đáng kể nhất là việc sản xuất lúa gạo đã tạo nên một nền kinh tế lớn mạnh ở miền Nam. Nền kinh tế này đã giúp ích rất nhiều cho chúa Nguyễn trong công cuộc thống nhất sơn hà. Trong các tướng lãnh nhà minh đến khai hoang định cư, đáng kể nhất là tướng Trần Thắng Tài và Dương Ngạn Lịch. Vào năm 1679, Trần Thắng Tài đã khai hoang tại Biên Hòa và dọc theo các vùng đất thuộc đồng bằng sông Đồng Nai. Còn Dương Ngạn Lịch lập ấp tại Mỹ Tho, và các vùng đất thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Năm 1680, Mạc Cửu định cư tại Hà Tiên và vùng đất dọc theo vịnh Xiêm La (Thái Lan), Rạch Giá, Cà Mau.

Năm 1706, vào đời vua Lê Dụ Tông, ở miền Bắc chúa Trịnh Cương cho mở trường huấn võ, đặt quan giáo thụ để dạy cho con cháu các quan võ về môn võ kinh chiến lược. Cứ mỗi tháng một lần tiểu tập. Ba tháng một lần đại tập. Mùa xuân và mùa thu thì tập võ. Mùa đông và mùa hạ thì thập võ kinh (là binh thư chiến lược và chiến thuật, áp dụng những phương pháp dùng binh đánh giặc). Kể từ đó mà danh từ võ kinh mới được phổ thông trong quần chúng. Mỗi năm có một kỳ thi võ. Để tham dự vào kỳ thi võ, thí sinh lần lượt phải qua các bộ môn như bắn cung, múa giáo, múa gươm, bắn cung trong lúc phi ngựa, và bắn cung trong lúc chạy bộ. Sau cùng, thí sinh phải qua kỳ thi vấn đáp về nghĩa lý trong sách vỡ thánh hiền để xét về học lực và những phương lược trong sách võ kinh để xét về tài năng.

Năm 1740, Trịnh Doanh cho lập võ miếu ở chánh vị có bàn thờ Vũ Vương, Khương Thái Công, Tôn Võ Tử, Quan Tư,… Ở phía sau có bàn thờ Trần Hưng Đạo, và lập miếu riêng thờ Quan Công. Mỗi năm vào mùa xuân và thu, vua cho mở cuộc tế lễ tại võ miếu.

IV. THỜI KỲ CẬN ĐẠI (1802 – 1975)

Năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà vẫn theo gương xưa của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1631). Nhà vua cho thành lập xưởng súng đại bác, mở trường bắn huấn luyện voi, ngựa và trường huấn luyện võ kinh, võ lâm cho binh sĩ. Ở những nơi hiểm yếu, vua chỉ thị cho lập đồn ải. Tại các cửa bể và đảo, vua cho lập ra pháo đài. Ngoài ra, vua còn cho lập ra xưởng đóng tàu đồng, và huấn luyện thủy quân để đề phòng mặt biển.

Năm 1820, vua Minh Mạng đã chia binh đội ra thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo binh. Bộ binh gồm có kinh binh và cơ binh.

Kinh binh chia làm doanh, vệ, đội. Kinh binh dùng để đóng giữ ở kinh thành hoặc để sai phái đóng giữ ở các tỉnh. Mỗi doanh có năm vệ, mỗi vệ có mười đội, mỗi đội có năm chục người. Mỗi đội có suất đội và đội trưởng cai quản. Những binh khí của mỗi vệ gồm có hai khẩu súng thần công, hai trăm khẩu súng điểu thương và hai mươi mốt ngọn cờ. Còn cơ binh là lính riêng của từng tỉnh, cũng được chia ra làm cơ, đội. Cơ thì có quân cơ, đội thì có cơ suất đội cai quản.

Tượng quân được chia ra thành từng đội, mỗi đội có bốn chục con voi. Số voi ở kinh thành gồm có một trăm năm chục con. Ở Bắc thành có một trăm mười con. Ở Gia Định thành có bảy mươi lăm con. Ở Quảng Nam có ba mươi lăm con. Bình Định có ba chục con. Nghệ An có hai mươi mốt con. Tại Quảng Bình, Quảng Ngãi, Thanh Hóa, mỗi nơi đều có mười lăm con. Còn ở Quảng Trị, Phú Yên, Bình Thuận, Ninh Bình mỗi nơi có bảy con.

Thủy quân có mười lăm vệ được chia làm ba doanh, mỗi doanh đều có quan chưởng vệ quân lính, và quan đô thống chỉ huy cả ba doanh.

Ngoài ra, vua Minh Mạng còn cho thành lập ra trường Anh Doanh và Giáo Dưỡng Binh để cho các con của quan võ, từ suất đội trở lên ai muốn tình nguyện vào học sẽ được hưởng lương bổng. Việc huấn luyện võ lâm và võ kinh do một viên quan đại thần chăm sóc. Để bổ dụng vào ngành võ học, vua còn cho mở ra các khóa thi võ lâm, tuyển chọn người đậu tú tài, cử nhân và tiến sĩ võ khoa. Người dự thi võ khoa đều phải biết chữ nghĩa, vì sau khi thi xong các bộ môn của võ lâm, thí sinh còn phải dự thi phần võ kinh, để chứng tỏ khả năng trong cách dùng binh pháp đánh giặc mà trong sách võ kinh đã ấn định.

Năm 1837, vào thời Minh Mạng thứ 18 vua còn định phép cho các kỳ thi võ lâm như sau:

KHÓA THI HƯƠNG: Trường thứ nhất thi cử tạ, trường thứ hai thi diễn roi côn (trúc mộc), diễn quyền, múa đoản kiểm . Trường thứ ba thi về bắn súng điểu thương (loại súng thời xưa). Nếu thí sinh trúng tuyển cả ba trường, được chấm đậu cử nhân võ khoa. Nếu thí sinh chỉ trúng tuyển ở trường thứ nhất và trường thứ hai, được chấm đậu tú tài võ khoa. Sau đó, để sắp hạng cao thấp, các võ tú, võ cử còn phải dự thi vấn đáp để trả lời những cẩu hỏi có liên quan đến sách võ kinh và sách Tử Tư. Nếu ai trả lời thông suốt, tên được sắp hạng đứng trước.

KHÓA THI HỘI: Cũng như khóa thi Hương, thi Hội gồm có ba trường. Nhưng ở phần diễn côn roi, thí sinh phải dùng đến côn roi bằng sắt (thiết côn). Thí sinh nào trúng tuyển cả ba trường và giỏi thông chữ nghĩa sẽ được vào kỳ thi đình.

KHÓA THI ĐÌNH: Sau khi được tuyển chọn ở kỳ thi Hội, thí sinh được vào dự khóa thi Đình để làm một bài văn sách, trả lời những câu hỏi về nghĩa lý trong bộ sách võ kinh, sách Tử Tư, và những binh pháp chính yếu của các danh tướng thời xưa. Những thí sinh được trúng tuyển ở kỳ thi Đình được chấm đậu tiến sĩ võ khoa. Nếu thí sinh chỉ được trúng tuyển kỳ thi Hội mà không đậu ở kỳ thi ình được chấm đậu phó bảng võ khoa.

Trong thời Pháp thuộc, người Pháp đã gặp phải những sự chống cự oanh liệt của người dân Việt, phần lớn các tổ chức kháng chiến chống Pháp, bắt nguồn từ các nhà lãnh đạo võ thuật. Do đó, để vô hiệu hóa phần nào sức kháng cự của người Việt, chính quyền Pháp đã ra lệnh nghiêm cấm các hoạt động võ thuật trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, với tinh thần ái quốc và bất khuất của người Việt, các vị võ cử, võ gia Việt Nam vẫn âm thầm lén lút dạy võ cho các thanh thiếu niên để nung đúc tinh thần quật khởi, kháng chiến chống Pháp. Mặc dù với khí giới thô sơ, tầm vong chuốt nhọn, gươm giáo không thể trực diện đối đầu với các súng đạn tối tân của người Pháp nhưng người Việt đã dùng phương pháp du kích, nhiều phen khiến cho chính quyền Pháp kinh hoàng và đã giết được các tướng tài Pháp như tướng Francis Garnier và tướng Henri Riviere tại Ô Cầu Giấy, Hà Nội (Bắc Việt).

Trong các vị lãnh đạo chống Pháp, quân Pháp đặc biệt chú ý đến các ông như Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Lê Trực, Hoàng Hoa Thám…

Năm 1862 – 1864 Ông Trương Công Định kháng chiến ở Gò Công và Biên Hòa.

Năm 1875 ông Nguyễn Hửu Huân (Thủ khoa Huân) nổi lên ở Mỹ Tho và Tân An.

Vào tháng 8/1864 ông Trương Huệ (con ông Trương Công Định) nổi lên ở Tây Ninh.

Vào 8/1917 ông Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn nổi lên ở nhà lao Thái Nguyên.

Năm 1927 hai ông Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng nổi lên chống Pháp ở Yên Bái

Năm 1885, ông Quản Hán Nguyễn Văn Bường khởi binh ở Bà Điểm Hốc Môn, Bà Trà, Tân Khánh. Trận đánh nổi tiếng nhất là ở Mười Tám Thôn Vườn Trầu (gọi là Thập Bát Phù Viên) trong đó nghĩa binh bị vây đánh, sau cùng còn lại bảy chục người cùng nhau thề đánh cho đến chết. Và họ đã giữ vững lời thề. Từ trận đánh Pháp nổi tiếng này về sau, danh từ “võ vườn” đã được lưu truyền để nói lên tinh thần võ dũng của địa phương này. Nếu muốn nói “võ vườn” là một môn phái võ thuật người ta cũng không thấy được một tài liệu sách vở nào để chứng minh về nguồn gốc, kỹ thuật căn bản của nó, mà chỉ được nghe nhắc qua lời truyền miệng của các dân địa phương. Có lẽ, đây chỉ là một số đòn thế chiến đấu tự vệ của dân địa phương được ảnh hưởng bởi võ thuật Trung Hoa, bắt nguồn từ năm 1679, tướng Trần Thắng Tài và hơn ba ngàn binh sĩ nhà Minh, bất phục tùng Thanh triều, đã được chúa Nguyễn Hiền Vương cho phép tỵ nạn, khai hoang, lập ấn định cư dọc theo đồng bằng sông Đồng Nai (Biên Hòa, Hốc Môn). Để chứng minh cho luận cứ trên, chúng tôi còn ghi nhận qua lịch sử bởi chiến tích võ dũng của mười tám thôn vườn trầu vào năm 1782. Tại đây, quan binh Tây Sơn Nguyễn Nhạc đã bị đánh bại, do sự phục kích của đạo binh Hòa Nghĩa (người Trung Hoa cư ngụ tại 18 thôn Vườn Trầu, theo giúp Nguyễn Ánh).

Vào năm 1911, ngài Mộc Đức Thiền Sư, một trong nhưng vị cố vấn cho Tôn Dật Tiên đã thu nhận bốn đồ đệ người Việt Nam như Trần Tần Chân Nhân, Thiện Tảo Đạo Nhân, Tư Hớn Cư Sĩ, và Thiện Tâm Thiền Sư. Về sau bốn vị này góp công lớn vào việc phát triển ngành thiền tông và võ lâm tại Việt Nam. Riêng về Thiện Tâm Thiền Sư, tên thật là Nguyễn Văn Sáu, hiệu Đoàn Tâm Ảnh, sinh năm 1900 tại Bạc Liêu, Nam Việt Nam. Sau mười tám năm được theo thầy Mộc Đức Thiền Sư để học võ lâm và thiền tông tại chùa Phi Lai Tự, miền Bắc Trung Hoa, ông trở về Việt Nam vào năm 1930 mở trường dạy võ thâu nhận môn đồ. Đồng thời, ông cùng một số nghĩa sĩ âm thầm thành lập đảng Sao Trắng để chống Pháp. Đảng Sao Trắng với tinh thần nghĩa hiệp giúp đỡ dân lành, đã làm cho những tay cường hào ác bá và chính quyền Pháp phải nhiều phen bối rối, tại miền lục tỉnh Hậu Giang, Nam Việt Nam. Năm 1960, để hưởng ứng phong trào thanh niên võ thuật, ông đã chính thức thành lập Hội Võ Lâm Việt Nam và sau đó thu nhận được bốn vị đệ tử tâm đắc như Giáo Sư Vũ Đức, Giáo sư Hùng Phong, Giáo Sư Hàng Thanh, và Giáo sư Nguyễn Thiên Tài. Mãi đến năm 1970, ông lui về ẩn dật chức vụ Chưởng Môn Phái Võ Lâm Việt Nam đã được ông chính thức truyền lại cho Giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền) để tiếp tục công việc phát triển môn phái. Về sau, để tìm nguồn an lạc nơi chốn thiền, Thiện Tâm Thiền Sư đã trụ trì tại chùa Pháp Hoa, Sài Gòn.

Ngoài ra, một số các vị võ sư Việt Nam lão thành nổi danh như Thầy Võ Dựt (1870 – 1958), hiệu là Nam Nghĩa, người làng An Dinh quận Bình Khê. Thầy Hồ Nhu (1890 – ?) hiệu Hồ Ngạnh người làng Thượng Truyền, quận Bình Khê giỏi về côn pháp. Thầy Toàn Phong và Thầy Tàu Sáu ở quận Bình Khê giỏi về quyền cước. Thầy Triệu Thúc Lang ở quận Dương Đông đảo Phú Quốc. Thầy cử nhân Trương Thạch (1880 – ?) ở Bình Định. Thầy cử nhân Đinh Các (1880 – 196?) người Qui Nhơn. Thầy Năm Soai (1880 – 197?) người Bạc Liêụ Thầy Sáu Khá (1885 – 196?) và các thầy Tư Công, Hai Sình đều ở Bạc Liêu Võ sư Huỳnh Kim Hên (1905 – 1980) hiệu là MãT hanh Long người ở Bạc Liêu về sau cư ngụ tại Hòa Hưng, Sài Gòn. Thầy Hàn Bái sáng tổ hệ phái Hàn Bái. Thầy Vũ Bá Oai (1901 – 28/1/2001) kế nghiệp thầy Hàn Bái thành lập võ đường Hàn Bái tại Sài Gòn. Thầy Trương Thanh Đăng (1895 – 197?) hiệu Sa Long Cương người tỉnh Phan Thiết, về sau cư ngụ tại Sài Gòn. Thầy Hồ Hợi (1896 – ?) sáng lập Hội Cửu Long Võ đạo tại Sài Gòn. Thầy Bảy Nếp người quận Cần Đước, Nam Việt Nam về sau là cư sĩ tại tỉnh Gia Định.

Trong thời Pháp thuộc, môn quyền anh được du nhập với kỹ thuật tay nghề đấm giản tiện và rất được sự ngưỡng mộ của quần chúng người Việt. Vào giữa thập niên 1960 – 1970, các võ sư huấn luyện quyền anh đáng kể như Minh Cảnh, Huỳnh Tiền, Kidemsey, Trần Mộng Lân, Nguyễn Sơn, Lý Huỳnh, Minh Thành, … Bộ môn quyền anh được hoạt động dưới sự chăm sóc của Tổng Cục Quyền Thuật Việt Nam.

Tổng cục này đã được thành lập vào năm 1956 tại Sài Gòn do sự góp mặt của các võ sư và võ sĩ thuộc nhiều môn phái võ thuật Việt Nam khác nhau.

Ngoài ra vào năm 1960, các vị võ sư còn thành lập Tổng Hội Nghiên Cứu Võ Học Việt Nam với ước vọng để khảo cứu các ngành võ thuật Việt Nam. Trong suốt 15 năm (1960 – 1975) thành hình, tổng hội này không có một biểu hiện nào đáng được ghi nhận. Phần lớn nổ lực hoạt động võ thuật Việt Nam trong quảng đại quần chúng đều do công trình của Tổng Cục Quyền Thuật Việt Nam đẩy mạnh, dưới sự yểm trợ của chính quyền thanh niên. Mặc dù có rất nhiều võ phái Việt Nam hoạt động song song với Tổng Cục Quyền Thuật Việt Nam, nhưng chỉ có vài võ phái đạt được sự tổ chức một hệ thống võ đường qui cũ, thu hút được nhiều võ sinh trên toàn quốc như Hội Võ Thuật Vovinam, do Võ Sư Nguyễn Lộc sáng lập, về sau võ sư Lê Sáng kế nghiệp; hội Võ Lâm Việt Nam do lão sư Đoàn Tâm Ảnh (pháp danh Thiện Tâm Thiền Sư) sáng lập, về sau giáo sư Vũ Đức kế nghiệp; Hội Cửu Long Võ đạo do võ sư Hồ Hợi sáng lập,…

Năm 1945, sau khi quân đội Nhật Bản thắng Pháp tại Việt Nam, cũng như tinh thần võ sĩ đạo Nhật vang danh khắp thế giới, môn võ Nhật nổi danh lúc bấy giờ là môn Nhu đạo (Judo) và Nhu Thuật (Jiu-Jittsu) rất được người Việt Nam hâm mộ. Vị võ sư người Nhật đầu tiên đến giảng dạy Nhu đạo tại Việt Nam là võ sư Yonka, về sau lại có các võ sư Watanabe, võ sư Ishikawa.

Năm 1948, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc trở về nước sau 5 năm du học tại Nhật Bản. Giáo sư Hồ Cẩm Ngạc là người Việt Nam đầu tiên đã tốt nghiệp môn Nhu đạo tại trường Đại học Nhu đạo Kodokan, Nhật Bản. Ngoài ra ông còn tốt nghiệp các bộ môn võ Nhật khác như Karatedo (Không thủ đạo) thuộc trường phái Yosheikan. Vào năm 1956, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc đã xuất bản quyển Nhu đạo Tạp Phương. Vào năm 1955, Giáo sư Phạm Lợi từ Pháp về Việt Nam và đã xuất bản quyển Kỹ Thuật Nhu đạo vào năm 1956. Ngoài ra còn có một số giáo sư Nhu đạo đáng kể như giáo sư Đặng Thông Trị, giáo sư Phan Văn Quan, giáo sư Thái Thúc Thuần, giáo sư Vương Quang Ba, thượng tọa Thích Tâm Giác. Những vị giáo sư Nhu đạo vừa kể trên đều là những vị đã góp công thành lập Tổng Cục Nhu đạo Việt Nam vào năm 1956. Riêng giáo sư Đặng Thông Trị ngoài môn Nhu đạo, ông còn làm giaó sư Aikido đầu tiên đẩy mạnh phong trào Hiệp Khí Đạo tại Việt Nam. Vào năm 1964 bào đệ của giáo sư Trị là giáo sư Tăng Thông Phong thành lập Tổng Cục Hiệp Khí Đạo Việt Nam.
Vào năm 1960 quân đội viễn chinh Đại Hàn đến tham chiến tại Việt Nam, môn võ Đại Hàn Taekwondo (Thái Cực Đạo) do tướng Choi Hong Hi lãnh đạo đã được chính quyền quân đội VNCH yểm trợ phát động môn võ này trong quảng đại quần chúng. Sau đó Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Việt Nam được ra đời do Trung Tá Phạm Văn Cư làm chủ tịch sáng lập. Đến niên khóa 1973 – 1975, đại tá Trần Thanh Điền kế nhiệm chức chủ tịch Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Việt Nam. Môn võ Thái Cực Đạo đã lớn mạnh tại Việt Nam trong cao trào thanh niên khỏe với nhiều võ phái trăm hoa đua nở.

Căn cứ vào lịch sử tranh đấu Việt Nam, võ học cổ truyền Việt Nam là một nền tảng căn bản cho quân sự quốc phòng. Do đó, võ học đã đóng một vai trò rất quan trọng trong vận mạng thịnh suy của đất nước. Kể từ thượng cổ thời đại, vào đời vua Hùng Vương lập quốc, mặc dù con người chưa biết dùng chữ viết để ghi chép lại sự diễn tiến của võ học nhưng nhờ vào một số di tích của các món binh khí như búa, rìu, dao, dùi, cào, trống đồng và một số tranh ảnh chiến đấu được khắc vẽ trên những phiến đá tại các vùng đất thuộc Bắc Việt Nam, được tìm thấy bởi các nhà khảo cổ đã nói lên được phần nào khoa võ học lập quốc của tổ tiên người Việt Nam.Với vốn liếng căn bản khoa võ học lập quốc đầu tiền, sau đó trong các dịp giao tiếp với lân bang, người Việt đã biết khôn khéo thái nạp cái hay của người để biến chế và đồng hóa và sắc thái riêng biệt của mình. Điển hình là sự ảnh hưởng ở nền võ học Trung Hoa và Ấn Độ xuyên qua các nhà truyền giáo, hoặc các quần binh người Trung Hoa trong thời kỳ một ngàn năm Bắc thuộc. Để rồi sau đó nền võ học kiến quốc được phát huy trong các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn…Mãi đến thế kỷ 17, người Âu Châu đến buôn bán và truyền đạo Thiên Chúa tại Việt Nam, và đến thế kỷ 19, cuộc tranh chấp bằng võ lực giữa Việt Nam và Pháp bùng nổ, nền võ học kiến quốc của Việt Nam đã bị vô hiệu hóa trước đạn súng ống tối tân của Pháp. Sau đó, Việt Nam phải chịu đựng hơn tám mươi năm lệ thuộc người Pháp. Trong thời gian tiếp xúc với người Âu Châu, người Việt đã hiểu được rằng sự tiến hóa của nhân loại trên thế giới hiện nay đã bước qua một kỷ nguyên tiến bộ mới trên nhiều phương diện.Cũng như võ học cổ truyền với gươm giáo làm căn bản, không còn là một yếu tố chính yếu thích nghi cho quân sự quốc phòng nữa, mà đã được thay thế bằng những đạn dược, súng ống tối tân hiên đại hóa quân sự với những kỹ thuật chiến tranh máy móc. Kể từ đó, nền võ học kiến quốc của Việt Nam không còn đóng một vai trò chính yếu quân sự trong lịch sử mà đã biến thể trở thành một bộ môn thể thao tự vệ cũng như các bộ môn thể thao thuần túy khác, nhằm mục đích phụng sự cho phong trào khỏe của nước nhà, thêm phần phong phú.

 

 Nguồn từ: Trung Sơn Võ Đạo Việt Nam


Võ cổ truyền – nét tinh hoa trong văn hoá Việt


 

1.Võ cổ truyền – Sự ra đời và tiến trình phát triển.

 

Khi tôi cầm bút viết bài viết này, câu nói của võ sư Trương Văn Bảo[1] vẫn như còn hiển diện và nhắc nhở: “Thật đắc tội với tiền nhân và lịch sử nếu sống thừa hưởng mà quên đạo lý truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam là “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây”. Võ cổ truyền xưa là võ trận; môn võ dùng chiến đấu, ứng dụng trong trận mạc, mang hồn nước, đồng hành vào sinh ra tử cùng lịch sử tổ quốc Việt Nam…”. Quả thực, thấy cảnh nền võ thuật cổ truyền Việt Nam hiện nay đang rơi vào tình trạng khủng hoảng và mai một khiến không ít người có tâm huyết phải bàng hoàng và nuối tiếc…

Chẳng ai biết đích xác võ cổ truyền Việt Nam được hình thành vào khoảng thời gian nào, chỉ biết rằng nền võ học Việt Nam có mặt ngay từ những biến cố đầu tiên của lịch sử dân tộc: đó là việc bảo vệ dân làng khỏi thú dữ, bảo vệ đất nước khỏi ngoại xâm. Nền võ học Việt Nam được khởi dựng trong gian nguy, hoàn thiện qua thử thách, võ thuật cổ truyền trở thành một phần oanh liệt của lịch sử, một chứng nhân cho tinh thần quả cảm, sáng tạo của dân tộc ta. Tên gọi “cổ truyền” không chỉ là một mỹ từ mà là một yếu tố mang tính lịch sử, có chức năng kết nối quá khứ – hiện tại và là động lực cho tương lai. Việc hiện nay có nhiều phái võ khoác lên mình mảnh áo “cổ truyền” trong khi mới hình thành được vài ba chục năm, chưa có nhiều đóng góp cho dân tộc đã tự xem mình là “quốc túy”, “quốc sản”, thực tế đó không phải là ít và đáng buồn thay vì những người học võ thực thụ chắc chắn không sống vì lợi, không làm vì danh.

Dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay vốn là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, luôn lấy hòa khí, sự giao hảo làm trọng. Tuy vậy, trong suốt 4 ngìn năm lịch sử ấy không có nhiều thời gian dân ta được sống an bình, thời nào, triều nào dân ta cũng phải đối chọi với những thế lực ngoại xâm hùng mạnh. Hết quân phương Bắc, đến quân Nguyên – Mông, rồi quân Chiêm Thành, Xiêm La đều nuôi dã tâm thâu tóm quốc gia Đại Việt. Với một quốc gia đất không rộng, người không đông như Đại Việt xưa việc chống chọi ngoại xâm là hết sức khó khăn và gian khổ. Song, với tài thao lược, quân và dân ta luôn giành được những chiến thắng lẫy lừng cho dù kẻ thù hùng mạnh đến đâu. Lịch sử Việt Nam được gây dựng qua những cuộc chiến tranh chống ngoại xâm và không triều đại nào lại không có những võ tướng thao lược như: Ngô Quyền với trận cọc gỗ trên sông Bạch Đằng đánh tan đội quân Nam Hán (938), Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân (968), Lý Thường Kiệt với trận phản công trên sông Như Nguyệt tiêu diệt 30 vạn quân Tống (1077), đội quân “bất bại” Nguyên – Mông 3 lần tiến quân vào Đại Việt là cả 3 lần phải ôm hận – đó là công lao của toàn dân Đại Việt ta nhưng không thể không nhắc tới bậc võ tướng thiên tài Trần Quốc Tuấn…

Lịch sử nền võ học Việt Nam từng bước được hình thành, cùng sát cánh với những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc. Qua thực tiễn trận mạc giao tranh, tri thức võ học cũng dần được hội tụ dưới nhãn quan của những người võ tướng. Hưng Đạo Đại Vương là tác giả của 2 tác phẩm binh thư nổi tiếng: Vạn Kiếp Tông bí truyền và Binh thư yếu lược. Đây là hai cuốn binh pháp đầu tiên của dân tộc ta, một cuốn chuyên dùng cho các võ tướng tham khảo, 1 cuốn lại dùng cho rộng rãi quân binh. Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư đã từng đề tựa rằng: “ Sách ấy dùng đã ba đời trăm đánh trăm thắng, cho nên đương thời có thể làm rúng động quân Hung nô (Mông-cổ) ở phía bắc, làm cho nước Lâm Ấp ở phía tây phải khiếp uy, nên sách này được biên chép làm của gia truyền không được phép tiết lộ ra ngoài..”. Có thể nói nền võ học Việt Nam được khởi nguồn từ trong chiến tranh giữ nước, qua cuộc chiến bảo vệ giang sơn từng bước định hình và phát triển tầm vóc lớn lao của mình. Cũng chính vì nguyên do này mà hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan điểm cho rằng: nguồn gốc của võ thuật cổ truyền Việt Nam được bắt nguồn từ võ trận, nó được hình thành từ rất sớm nhưng phải đến thời Đại Việt mới được hoàn thiện về mặt học thuyết (bằng 2 tác phẩm binh thư của Trần Quốc Tuấn) và được chứng minh một cách hùng hồn qua những chiến thắng oanh liệt trên thực tiễn giao tranh.

Từ thế kỷ XV đến XIX, võ thuật Việt Nam tồn tại ở hai dạng: sinh hoạt quần chúng và biên chế triều đình. Ở triều đình, do luôn phải đối mặt với nguy cơ ngoại xâm, phiến loạn, các cuộc nổi dậy của nông dân cho nên hầu hết các vương triều đều chú ý đến việc xây dựng quân đội, rèn luyện võ thuật. Còn trong quần chúng, nền võ học vẫn luôn được duy trì. Các lò võ, các lễ hội truyền thống vừa nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân vừa thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc. Mỗi lò võ đều có một bí kíp và bản sắc riêng, không lò nào, môn phái nào hoàn toàn giống nhau, sự cạnh tranh lành mạnh giữa các lò khiến nền võ học Việt Nam càng thêm đa dạng và phát triển.

Từ cuối thể kỷ XIX đến năm 1979, nền võ học dân tộc Việt Nam phải trải qua nhiều điều kiện khó khăn và thử thách. Hầu hết các nhà nước nắm quyền đều cấm võ thuật cổ truyền hoạt động vì lo sợ việc dạy võ sẽ tạo nên nguy cơ bất ổn về mặt chính trị. Cũng đầu thế kỷ XX, nhiều môn võ ngoại như: Boxing, Thiếu Lâm, Judo…bước đầu xâm nhập vào Việt Nam. Nền võ học cổ truyền tiếp tục đứng trước những khó khăn và thử thách mới. Tuy nhiên, tinh thần thượng võ của dân tộc Việt chưa bao giờ suy giảm, võ học cổ truyền Việt Nam đã và đang đồng hành cùng những trái tim Việt đi khắp năm châu, có mặt ở những vùng đất xa xôi nhất của thế giới. Đó là một thành quả đáng tự hào và cần được ghi nhận.

2.Võ cổ truyền – Nhân sinh quan của người Việt.

 

Nền võ học cổ truyền Việt Nam được sinh ra và gắn liền với trận mạc. Song, không phải vì vậy mà võ cổ truyền chỉ thuần túy là kinh nghiệm bày binh, bố trận, các chiêu thức, đòn, thế mà đó là cả một nền học thuật sâu rộng và mang đậm tính triết lý. Nếu như với võ học Trung Hoa chúng ta thường bắt gặp triết lý âm –dương, ngũ hành, hư chiêu – hữu chiêu, một triết lý hết sức cao xa mà người học đôi khi dành cả đời rèn luyện cũng không “ngộ” ra được chân lý thì với võ học cổ truyền thuần Việt lại là một nhân sinh quan hết sức sinh động và thực tế, nhân sinh quan đó là cách nhìn về cuộc đời, về võ học, về người dạy võ và học võ.

Người Việt ta xưa nay quan niệm rằng: võ học là một trong những con đường để mỗi người có thể hướng tới tính chân – thiện – mỹ. Võ học giúp cho chúng ta có được một thân thể cường tráng, một sức khỏe dẻo dai, một tinh thần minh mẫn và đặc biệt là một bản lĩnh vững vàng không ngại khó khăn, gian khổ. Võ học còn nhắc nhở chúng ta nhớ đến cội nguồn, nhớ đến bản sắc văn hóa của dân tộc, nhớ đến công sức, máu xương mà cha ông ta đã dày công gây dựng lên. Nền võ học dân tộc Việt Nam còn chứa đựng trong nó cả 4 nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, và đó là 1 kho nghệ thuật dụng binh hết sức biến hóa và tài tình, là kết tinh của trí tuệ và bản lĩnh Việt.

Các môn võ truyền thống, thuần Việt vốn là những môn võ gốc, chỉ truyền cho con cháu ít khi truyền cho người ngoài. Tuy vậy việc truyền cho ai, truyền như thế nào không phải là vấn đề đơn giản. Võ Việt chỉ cốt tinh, không cốt đông cũng chính vì nguyên do này mà đã có một quãng thời gian dài những bậc võ sư thường không nhận đệ tử, thích mai danh ẩn tích – sống bình lặng giữa đời. Thông thường họ dạy cho con cháu những chiêu thức cơ bản để phòng thân, chỉ khi nào họ tìm được cho mình những đệ tử “chân truyền” ưng ý nhất họ mới ra sức truyền đạt hết những chiêu thức võ học của môn phái. Người võ sư giống như những người giữ lửa, mang nặng trong mình những trọng trách to lớn của cha ông. Họ không truyền dạy võ thuật với bất cứ lợi ích vật chất nào mà xem đó là thiên chức của người kết nối những dòng chảy lịch sử dân tộc.

Nhân sinh quan của những người theo nghiệp võ thật thanh khiết và đáng quý: võ học là đạo học, con đường võ học là con đường đi đến chân lý. Trên con đường dài và đầy chông gai đó người học võ phải vượt qua không biết bao nhiêu thử thách và vượt qua chính mình là thử thách lớn nhất, “qua đó con người có thể rèn luyện được nhiều đức tính quý báu như bền bỉ, chịu đựng, nhanh nhẹn, mưu trí, gan dạ và nhất là ở đỉnh cao người học võ thì khiêm tốn, điềm đạm, giản dị, giàu lòng vị tha và nhân ái” .

Nhân sinh quan của người học võ là triết lý động, linh hoạt, uyển chuyển và luôn song hành cùng với những chuẩn mực của xã hội: đó là đạo hiếu làm con, đạo nghĩa làm trò, đạo tín làm bạn và đạo của những người học võ. Người học võ chân chính không bị lu mờ trước vật chất, không chịu khuất phục trước quyền uy, thấy bất công thì không chịu khoanh tay, gặp hiểm nguy thì không màng đến tính mạng. Họ không cần trả ơn, cũng như không làm để thần Phật chứng nhận, họ chỉ hành hiệp sao cho xứng với truyền thống và bản lĩnh của các lớp tiền bối, cha ông.

 

3.Võ cổ truyền – Nét tinh hoa cần được gìn giữ và phát triển.

 

Như đã nói ở trên, võ cổ truyền là sợi chỉ đỏ xuyên suốt dòng chảy lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc ta. Trong suốt quãng thời gian đó võ cổ truyền đã cùng với cha ông ta làm nên những chiến thắng oanh liệt trước những kẻ thù hùng mạnh, góp phần giữ gìn độc lập – hòa bình cho nhân dân. Võ cổ truyền Việt Nam là nét văn hóa độc đáo, thuần khiết của dân tộc Việt, nó được hun đúc và trưởng thành trong những hoàn cảnh khó khăn nhất. Và, qua những lần đó võ Việt, trí tuệ Việt luôn được vinh danh bằng những chiến thắng.

Võ cổ truyền Việt Nam còn là một minh chứng sinh động thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc Việt. Tinh thần đó luôn được cha ông ta gìn giữ và phát huy, khi đất nước lâm nguy tinh thần thượng võ lại bùng cháy hòa quyện cùng lòng yêu nước, họ sẵn sàng hy sinh cho độc lập cho tổ quốc, tự do cho đồng bào. Trong thời bình, võ thuật cổ truyền lại trở thành 1 phương thức rèn luyện cơ thể, rèn luyện trí tuệ rất hữu hiệu. Và, nó còn là một cách để nhớ tới cội nguồn, nhớ tới công ơn các bậc tiền bối.

Ngày nay, Võ cổ truyền Việt Nam đang rơi vào một cuộc “khủng hoảng thừa” đặc biệt trầm trọng. Liên đoàn võ thuật cổ truyền Việt Nam ra đời vào năm 1991, bên cạnh những dòng võ gốc, chính thống cũng có không ít những dòng phái lai căng, một thực trạng “vàng – thau lẫn lộn” đã và đang xen kẽ trong nền võ học dân tộc.

Ở hải ngoại, võ học truyền thống vẫn được những người con đất Việt gìn giữ và phát huy nhiều nhất là tại Pháp, Nga, Đông Âu, Mỹ, Đức…Tại Pháp có tới 19 môn phái võ cổ truyền đang hoạt động như phái Cửu Long, Phái Nam Hổ Quyền, phái Trung Hòa…Tại Nga, Đông Âu thì phái Nhất Nam đang có được một vị thế vững chắc và một lượng môn sinh đông đảo. Tại Mỹ, có Võ đường Tấn Nhật Bích ở Boston. Ở Nam California có Trung Tâm võ thuật cổ truyền Việt Nam, võ đường Tiên Long Võ Đạo …

Đặc biệt, môn phái được cho là cội nguồn, là tinh hoa của võ truyền thống Việt Nam là Võ trận Đại Việt tưởng chừng đã bị thất truyền, nay lại được võ sư Nguyễn Minh Tuấn gìn giữ và khởi dựng. Nguyễn Minh Tuấn là người đầu tiên đứng ra thành lập môn phái Võ trận Đại Việt, những miếng võ cổ truyền của ngàn xưa được vị võ sư trẻ biên soạn, hệ thống một cách bài bản nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các môn sinh luyện tập.

            Ở Việt Nam, ắt hẳn chúng ta không thể quên đến hai cha con võ sư Hồ Văn Lành và Hồ Văn Tường. Họ nổi tiếng không chỉ vì giỏi võ mà điều quan trọng hơn họ là những người đã giành trọn cả cuộc đời để giữ gìn và truyền dạy dòng võ cổ truyền dân tộc. Võ sư Hồ Tường đã mở lớp võ miễn phí cho học sinh, sinh viên gần 15 năm nay. Và, ông vẫn miệt mài thực hiện công việc ý nghĩa của mình dù sức khỏe và tuổi tác gần như không cho phép….

 

Võ cổ truyền – tinh thần thượng võ của dân tộc ta vẫn mãi là một nét đẹp trong dòng chảy của nền văn hóa Việt Nam. Song trước hết chúng ta đang rất cần một tinh thần thượng võ cao cả, một cách tiếp cận võ học trong sáng không vụ lợi. Và, chắc chắn không thể thiếu được sự đồng thuận, sự ủng hộ của cả cộng đồng. Chúng ta có quyền tin tưởng vào một tương lai tươi sáng của võ học cổ truyền bởi vì người dân Việt dù ở phương trời nào cũng luôn hướng về tổ quốc, hướng về sự giữ gìn và phát huy nền văn hóa dân tộc trong đó có nền Võ thuật cổ truyền Việt Nam…/…

 

 

 

Tháng 9 năm 2011

 
Nhóm tác giả:

-Võ sư Nguyễn Minh Tuấn: Trưởng môn phái Võ Trận Đại Việt tại San Jose, Cali.

-Trần Đức Thuận: Phòng Di sản văn hóa Phi vật thể, Bảo tàng Bình Dương


[1] Trương Văn Bảo, Đại học Đà Lạt, UV BCH Liên đoàn Võ thuật cổ truyền Việt Nam, “Học võ và dạy võ”

 

 

Theo: Minh Tuấn – Đức Thuận

Sugia.vn