Bỏ việc sau đại dịch – Người lao động đã đi đâu ?


NDTBD tổng hợp bài viết về việc bỏ việc sau đại dịch

Cuộc “bỏ việc toàn cầu”: Covid chỉ là xúc tác!

Nguyên nhân cho cuộc bỏ việc toàn cầu này có thể sâu xa hơn những hiện tượng bề mặt về điều kiện việc làm, tiền lương, và đại dịch COVID-19 chỉ là chất xúc tác để quá trình này diễn ra nhanh hơn, đột ngột hơn.

 Ảnh: The Week

Đầu tiên là cách định giá các khâu trong chuỗi lao động. Ngày xưa đã thấy nhiều phi lý như lương của các “lao động thiết yếu” thấp hơn nhiều lần so với lao động của loại công việc “đặt ra cho có”. 

Đây là cách dịch lịch sự cho khái niệm “bullshit jobs” của David Graeber, người cho rằng đến một nửa công việc hiện nay là tào lao, vô nghĩa như luật sư doanh nghiệp, các chuyên gia quan hệ công chúng, quản lý cấp trung, tiếp thị từ xa…

Dù đồng ý hay không với lập luận của ông này, phải thừa nhận thu nhập của những người đang làm các loại “bullshit jobs” cao gấp nhiều lần thu nhập của những người mà nhờ COVID-19 người ta mới nhận ra họ là “lao động thiết yếu”. Cứ nhìn một người bán hàng trong siêu thị, một công nhân lắp ráp máy móc, một điều dưỡng trong phòng hồi sức phải làm việc luôn tay suốt ngày chúng ta sẽ thấy đồng lương họ nhận được không tương xứng với sức lực họ bỏ ra.

Đó là ngày trước. Nay với các đột phá công nghệ, sự phi lý trong thu nhập như thế càng kinh khủng hơn, càng vô lý hơn. Thử tưởng tượng cảnh một nhân viên kho hàng Amazon hằng ngày phải đi lại hàng chục cây số, lương 15 đôla/giờ tối lại về đọc tin lại một startup nữa vừa gọi vốn thành công, nâng trị giá công ty lên 100 tỉ đôla, còn người sáng lập nay giàu thêm 10 tỉ đôla nữa! 

Các startup thành công như thế thì ít nhưng tiền dư thừa rót vào cho họ là có thật và báo chí tung hô thêm nữa nên cái tâm lý muốn làm giàu nhanh chóng, muốn trở thành triệu phú qua đêm lan rộng hơn bao giờ hết.

Dĩ nhiên, “công nhân thiết yếu” làm sao tham gia startup nhưng công nghệ (lại là công nghệ) bày ra cho họ nhiều con đường làm giàu khác, từ mua bán chứng khoán qua ứng dụng online đến làm các kênh YouTube, từ mua bán tiền ảo đến đầu tư vào các loại tài sản ảo, từ bán hàng đa cấp đến bán hàng qua mạng… 

Dù thật hay ảo, nhiều người sẵn lòng từ bỏ công việc cực nhọc, nhàm chán, lương còm cõi hằng ngày của họ để theo đuổi giấc mơ đổi đời nhanh chóng.

Nói cách khác, trước đây cách định giá các khâu trong chuỗi lao động buộc công nhân làm đôi giày Nike, may bộ đồ Hugo Boss chỉ nhận về 1 đôla; người làm tiếp thị, lo chuyện quảng cáo hưởng 10 đôla thì nay chênh lệch đó càng lớn gấp nhiều lần trong nền kinh tế số. Tài sản của Mark Zuckerberg lên đến 116 tỉ đôla còn nhân viên kiểm duyệt nội dung để tránh tai tiếng cho Mark, cho Facebook lương cũng chỉ 15 đôla/giờ.

Nguyên nhân thứ hai đằng sau hiện tượng công nhân bỏ việc là đại dịch buộc nhiều người xác định lại các ưu tiên của cuộc sống. Với nguyên nhân đầu, chúng ta chưa thấy tác động rõ nét lên người lao động ở Việt Nam tuy cũng có bán hàng đa cấp, cũng có mua bán tiền ảo nhưng với nguyên nhân thứ hai này, rõ ràng 4 tháng buộc phải ở yên trong nhà trọ chật hẹp, đông đúc, người lao động nhập cư ắt phải so sánh cuộc sống làm việc liên tục tăng ca vất vả nhưng lương chỉ đủ sống trong môi trường bí bách, tù túng so với không gian thoáng đãng ở quê nhà. 

Họ phải so sánh chi phí giữ trẻ cao, tiền thuê nhà ngốn thêm một mớ và đủ loại chi phí không tên, kể cả Internet để duy trì liên lạc với gia đình và tìm chút giải trí qua mạng sau những giờ quần quật. Họ thà về quê cơm rau với cha mẹ còn hơn tiếp tục cuộc sống đầy rủi ro ở thành thị.

Có lẽ những cái chết vì COVID-19 họ từng chứng kiến quanh họ buộc họ phải bằng mọi cách về với gia đình để phục hồi về mặt tâm lý. Như thế tiền bạc không có nhiều ý nghĩa nên dù có được trợ cấp, dù có khả năng sẽ sớm đi làm hưởng lương trở lại cũng không thể ngăn họ tìm đường về quê.

Trong bối cảnh đó chủ doanh nghiệp đã làm được gì để hỗ trợ công nhân? Hầu như không có gì cả. Thử tưởng tượng cảnh “3 tại chỗ” với cá nhân từng người trong chúng ta: làm sao có thể yên tâm lắp ráp máy móc, khâu giày, may quần áo khi phải nằm bó gối trong căn lều bé tí, điều kiện vệ sinh tối thiểu cũng không đủ, ăn uống theo bữa cơm công nghiệp và cứ hết căn lều đến chạy máy… ai mà chịu đựng được trong thời gian dài. Làm sao họ không so sánh với những người lương cao gấp bội nhưng được “làm từ nhà”, không bị phơi nhiễm rủi ro mắc bệnh.

***

Nhìn ra thế giới thấy hầu như các nhà kinh tế không thể đưa ra bất kỳ giải pháp nào khả thi cho vấn nạn “The Great Resignation” này. Thậm chí có ông đòi chính phủ các nước cắt giảm trợ cấp nhanh nhanh lên để buộc công nhân phải đi làm. Có ông tìm giải pháp ở tự động hóa sản xuất bằng robot và có ông dọa đầu tư nước ngoài sẽ chảy đi nơi khác!

Có chăng là một cuộc “cách mạng” thay đổi cách định giá các khâu lao động để các ông chủ hãng xe công nghệ như Uber không thể trở thành tỉ phú sau vài ba năm, còn tài xế của họ vẫn chật vật trả tiền lãi ngân hàng vay để mua xe chưa xong. 

Ở đây không những có sự phi lý trong chênh lệch thu nhập mà còn một phi lý cực kỳ lớn hơn: giá trị lao động ngày càng bị teo tóp trong khi giá trị của đồng vốn tài chính ngày càng phình to; người giàu dựa vào tài sản sẵn có sẽ ngày càng giàu thêm trong khi thu nhập của “công nhân thiết yếu” đã nhiều năm không đổi.

Chiếu theo lập luận của tác giả khái niệm “bullshit jobs” thế giới này chỉ cần một lượng lao động thật sự nhỏ hơn thực tế nhiều lần để duy trì cuộc sống, kể cả lương thực, thực phẩm, dịch vụ, hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Nay làm sao để hủy bỏ các loại công việc “làm cho có”, rồi nhà nước tiến hành các chương trình “thu nhập cơ bản phổ quát” (Universal Basic Income) từng bàn mấy năm nay. 

Đây là chuyện khó ở mức “đội đá vá trời” vì chỉ một sắc thuế toàn cầu đánh lên các doanh nghiệp đa quốc gia để ngăn họ chuyển giá mà bàn tới bàn lui vẫn chưa kết thúc, thử hỏi đến bao giờ mới đánh thuế được lên tài sản (wealth) chứ không phải lên thu nhập (income) để xóa bớt hố sâu giàu nghèo hiện nay?

—-

Cuộc bỏ việc quy mô lớn: Kết thúc để khởi đầu

Từ mùa xuân 2021, giới kinh tế đã bắt đầu nhận thấy một hiện tượng lạ – người lao động ở Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới lũ lượt tự nguyện nghỉ việc – và gọi đó là “cuộc bỏ việc quy mô lớn” (The Great Resignation).

 Ảnh: Hiệp hội Quản trị nhân sự Hoa Kỳ

Theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ do The New York Times dẫn lại, gần 4,3 triệu lao động Mỹ đã tự nguyện nghỉ việc trong tháng 8 năm nay, tăng 300.000 người so với tháng 7 và cũng là con số cao kỷ lục trong hai thập niên kể từ khi chính phủ nước này bắt đầu triển khai thống kê. Lũy kế từ tháng 4 đến đầu tháng 9, số lao động nghỉ việc ở Mỹ đã vượt 15 triệu người, theo một báo cáo hồi đầu tháng 9 của Hãng tư vấn McKinsey.

40% trong số 4.929 lao động được McKinsey khảo sát ở Úc, Canada, Singapore, Vương quốc Anh và Mỹ cho biết họ có khả năng sẽ bỏ việc trong vòng 3 đến 6 tháng tới; 18% cho biết ý định nghỉ việc của họ dao động từ “có khả năng” đến “gần như chắc chắn”. Một khảo sát trên 30.000 lao động tuổi từ 18-25 thuộc 31 quốc gia của Microsoft hồi tháng 6 cho thấy 41% đang cân nhắc nghỉ việc trong năm nay.

Ai tạo sóng?

Theo Bộ Lao động Mỹ, trong số lao động nghỉ việc có những người đã tìm được việc mới trước khi nghỉ, có người chưa có chỗ mới nhưng tự tin mình sẽ tìm được việc, và cả những người lựa chọn hoàn toàn rời bỏ thị trường lao động dù chưa đến tuổi hưu. Nhóm đối tượng thứ 2 – nghỉ ngang dù chưa tìm việc mới – chiếm 36% trong khảo sát của McKinsey.

Thống kê của Bộ Lao động Mỹ và số liệu của McKinsey đều cho thấy các doanh nghiệp trong ngành giải trí và khách sạn có nguy cơ mất nhân viên cao nhất. Cụ thể, gần 7% lao động trong ngành lưu trú và ăn uống đã bỏ việc trong tháng 8, tức “cứ 14 nhân viên khách sạn, nhà hàng, quán bar thì có 1 người nói lời tạm biệt chỉ trong 1 tháng” – cây bút Derek Thompson viết trên tạp chí The Atlantic.

Bên cạnh đó, nhiều nhân viên trong lĩnh vực y tế và nhân viên cổ cồn trắng tham gia khảo sát của McKinsey cũng cho biết họ có kế hoạch nghỉ việc trong tương lai gần. Thậm chí 1/3 nhân viên trong ngành giáo dục – những người được cho là ít có xu hướng nghỉ việc nhất – khi được hỏi cũng trả lời rằng “hơi có khả năng” họ sẽ bỏ việc. Tỉ lệ tương ứng đối với nhân viên các ngành sản xuất hàng hóa và thương mại – vận tải – tiện ích là 43% và 38%.

Khảo sát của McKinsey cũng tìm ra nhiều nguyên nhân khiến người lao động lựa chọn nghỉ việc. Đáng lưu ý, “được công ty công nhận”, “được quản lý xem trọng” và “có cảm giác gắn kết với công ty” là 3 yếu tố mà người lao động cho là quan trọng nhất và có tác động lớn đến quyết định nghỉ việc của họ, nhưng lại bị người sử dụng lao động đánh giá thấp.

Vì sao người lao động muốn đổi việc trong năm 2021. Dữ liệu tính đến tháng 2-2021. -Nguồn: Hiệp hội Quản trị nhân sự Hoa Kỳ

Người trẻ hăng hái ra đi

Mark Hamrick, nhà phân tích kinh tế cấp cao của công ty dịch vụ tài chính tiêu dùng Mỹ Bankrate, cho rằng người trẻ, cụ thể là thế hệ Z (18-24 tuổi) và kế đó là thế hệ thiên niên kỷ (25-40 tuổi) đang dẫn đầu trong cuộc nghỉ việc quy mô lớn, bởi họ khao khát thay đổi và không có nhiều vướng bận với chỗ làm cũ.

Khảo sát trên 2.452 người tìm việc của Bankrate hồi tháng 8 cho thấy 77% người được hỏi thuộc thế hệ Z và 63% thế hệ thiên niên kỷ có dự định sẽ nghỉ việc; trong khi đó tỉ lệ này ở thế hệ “bùng nổ trẻ em” (57-75 tuổi) chỉ là 33%.

“Thế hệ Z và thế hệ thiên niên kỷ là những thành viên dễ chuyển chỗ nhất trong lực lượng lao động vì nhiều lý do. Họ không kiếm được nhiều tiền như những người đồng nghiệp lớn tuổi hơn, cấp cao hơn, nên họ mong muốn tìm được công việc được trả lương cao hơn và họ có xu hướng hiểu biết về công nghệ hơn, vì vậy họ có lợi thế tốt hơn để tận dụng cơ hội làm việc từ xa” – Hamrick nói với CNBC.

Thompson cũng cho rằng “các gói hỗ trợ liên quan đến đại dịch, chính sách hoãn tiền thuê nhà và xóa nợ học đại học đã giúp mọi người, nhất là người trẻ và thu nhập thấp, có thể tự do rời công việc họ ghét để tìm một cái gì đó mới mẻ”.

Gió đổi chiều

Theo báo cáo của Bộ Lao động Mỹ, số lượng vị trí cần tuyển dụng trong tháng 8 vào khoảng 10,4 triệu, đã giảm so với mức kỷ lục 11,1 triệu vào tháng 7. Đặt con số này cạnh 4,3 triệu lao động nghỉ việc trong cùng tháng, The New York Times nhận định đây là bằng chứng mới nhất cho thấy cán cân quyền lực trên thị trường việc làm đang nghiêng về phía người lao động chứ không phải bên sử dụng lao động.

Tương tự, tạp chí Time cũng nhận xét “một điều lớn lao” đang diễn ra trong thị trường lao động ở Mỹ: người lao động đang chiếm ưu thế so với các doanh nghiệp, vốn đang vật lộn để khôi phục kinh tế sau gần 2 năm lao đao vì đại dịch. “Từ các văn phòng cao cấp đến nhà máy, người lao động đang đòi lương cao hơn, giờ làm việc linh hoạt hơn, phúc lợi và đãi ngộ tốt hơn” – Time viết. Và họ đang nắm đằng chuôi, bởi nếu giới chủ không thể hoặc không đồng ý đáp ứng các yêu cầu trên, “nhiều người sẽ đình công, nghỉ việc hoặc tìm chỗ khác tốt hơn”.

Thompson, cây bút chuyên về kinh tế của The Atlantic, cũng nhìn nhận từ “great” trong “the great resignation” theo nghĩa “tuyệt vời” đối với người lao động, thay vì (quy mô) lớn. “Ngày càng nhiều người nghỉ việc để có một khởi đầu mới. Họ ra đi vì tin rằng họ có thể làm tốt hơn, được đối đãi tốt hơn. Cuộc bỏ việc quy mô lớn đang tăng tốc và nó đã tạo ra một thời điểm quan trọng trong lịch sử kinh tế Hoa Kỳ” – Thompson viết.

Cũng với góc nhìn đó, Ryan Rolansky – giám đốc điều hành mạng xã hội việc làm LinkedIn – cho rằng những gì đang diễn ra nên được gọi là “cuộc đại cải tổ” (The Great Reshuffle), tức người lao động thay đổi chỗ làm hàng loạt, kèm theo đó là thay đổi tư duy của cả nhân viên và doanh nghiệp.

“Ngay lúc này, tất cả các công ty, giám đốc điều hành đang suy nghĩ lại về cách thức hoạt động và văn hóa doanh nghiệp (…). Mặt khác, các nhân viên trên toàn cầu đang suy nghĩ lại về cách họ làm việc, tại sao họ làm việc và điều họ muốn làm nhất với sự nghiệp và cuộc sống của họ” – Rolansky nói với Time.

Cụ thể, nhiều công ty bắt đầu nhận ra lương cao không còn là liều thuốc hữu hiệu giúp khích lệ tinh thần làm việc và sự gắn bó của người lao động. Thay vào đó, họ bắt đầu chú trọng vào quyền tự chủ của nhân viên nhiều hơn, công nhận họ nhiều hơn, sắp xếp giờ làm việc linh hoạt hơn và ngày nghỉ hợp lý hơn, cũng như thực hiện bất cứ điều gì làm cho cuộc sống làm việc thú vị hơn.

Chính LinkedIn và các công ty công nghệ như Bumble và đã đóng cửa một tuần trong năm nay để nhân viên nghỉ ngơi và chống lại tình trạng kiệt sức. Công ty dịch vụ tài chính Fidelity Investments đang thử nghiệm cho phép một số nhân viên làm việc 30 giờ một tuần, chịu giảm lương một chút nhưng vẫn giữ đầy đủ phúc lợi của họ. Công ty Highwire Public Relations, có văn phòng tại một số thành phố lớn của Mỹ, đang cố bỏ 30% các cuộc họp để nhân viên khỏi phải tốn nhiều thời gian tương tác qua ứng dụng Zoom, và lý tưởng nhất là giúp ngày làm việc ngắn hơn và hiệu quả hơn. Tương tự, các nhà tuyển dụng khác đã triển khai nhiều chương trình thúc đẩy sự đồng cảm, với hy vọng làm cho nhân viên cảm thấy họ được đánh giá cao và xem trọng.

Làn sóng lan ra toàn cầu 

Theo Washington Post ngày 18-10, “cuộc nghỉ việc quy mô lớn” ở Mỹ đã dần trở thành hiện tượng toàn cầu, và nguyên nhân chính có vẻ là chuyện tiền lương.

Theo số liệu do Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) do Politico Europe dẫn lại, lực lượng lao động tại 38 nước thành viên của tổ chức này đã giảm đi khoảng 20 triệu người so với trước khi đại dịch COVID-19 xuất hiện. Trong số đó, 14 triệu người đã rời bỏ thị trường lao động và hiện không đi làm hay tìm kiếm bất cứ cơ hội việc làm nào. Con số này cao hơn 3 triệu so với năm 2019.

Một khảo sát được công bố vào tháng 8 cho thấy 1/3 các công ty ở Đức gặp phải tình trạng khan hiếm nhân viên lành nghề. Cùng tháng đó, Detlef Scheele – cục trưởng Cục Việc làm Liên bang Đức – nói với tờ Süddeutsche Zeitung rằng nước này sẽ cần nhập khẩu 400.000 lao động có tay nghề cao mỗi năm để bù đắp sự thiếu hụt trong một loạt các ngành, từ chăm sóc điều dưỡng đến công nghệ xanh.

“Thẳng thắn mà nói thì vấn đề nằm ở tiền lương” – Andrew Watt, người đứng đầu bộ phận kinh tế châu Âu tại Viện Chính sách kinh tế vĩ mô thuộc Quỹ Hans Böckler của các công đoàn Đức, nói với Politico Europe. “Muốn người lao động quay lại những công việc vốn khó khăn với đồng lương ít ỏi này thì tiền lương phải tăng trước đã”.

Ở các nước Mỹ Latin và vùng Caribe, 26 triệu người đã mất việc làm vào năm ngoái trong bối cảnh đại dịch khiến nhiều hoạt động phải tạm ngừng, theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) của Liên Hiệp Quốc. Phần lớn các công việc được phép hoạt động lại là các ngành nghề phi chính thức, điều này đồng nghĩa với việc mức lương thậm chí còn thấp hơn và mức độ bấp bênh cao hơn trong khi các lĩnh vực này vốn đã chịu sự bất bình đẳng kinh tế sâu sắc.

“Những công việc này nói chung không ổn định, lương thấp, không được bảo trợ xã hội hay bất kỳ quyền lợi nào” – Vinícius Pinheiro, giám đốc khu vực của ILO, cho biết trong một cuộc họp báo hồi tháng 9. Pinheiro cũng lưu ý về tác động không cân xứng của đại dịch đối với thanh thiếu niên trong khu vực. Theo một nghiên cứu hồi đầu năm nay, cứ 6 người trong độ tuổi từ 18 đến 29 ở Mỹ Latin và Caribe thì có 1 người đã nghỉ việc kể từ khi đại dịch bắt đầu.

Các nền kinh tế đa dạng ở châu Á cũng đang gánh chịu những vấn đề khác nhau. Một phiên bản khác của “cuộc nghỉ việc quy mô lớn” đang diễn ra tại Trung Quốc, nơi mà thế hệ lao động trẻ có cái nhìn chán nản với triển vọng tương lai và chẳng mấy hào hứng với mức lương tương đối thấp tại các đô thị sản xuất vốn là những vùng thúc đẩy phát triển kinh tế của quốc gia này.

Và tất nhiên là cả Việt Nam, khi khoảng 1,3 triệu lao động rời các thành phố lớn để về quê trong giai đoạn cao điểm của dịch đã không trở lại, theo Tổng cục Thống kê. Nhiều người lao động nghèo ở châu Á cũng đã chọn về quê sống, vì ít nhất họ vẫn có nhà để ở và thức ăn để ăn. Đây cũng là một dạng nghỉ việc.

CBSNews ngày 13-10 dẫn dữ liệu của công ty về dịch vụ quản trị nhân sự Gusto cho biết 5,5% lao động nữ ở Mỹ bỏ việc vào tháng 8, so với tỉ lệ 4,4% của nam. Còn trong tháng 9, Gusto ghi nhận gần 300.000 phụ nữ đã rời bỏ thị trường lao động ở Mỹ; phần lớn vị trí bị bỏ trống được nam giới lấp đầy.

Phụ nữ là đối tượng gặp khó khăn nhiều nhất khi đại dịch diễn ra. Họ phải gánh vác nhiệm vụ chăm sóc con cái khi trường học vẫn chưa mở cửa lại, trong khi các điểm giữ trẻ thì hiếm hoi và đắt đỏ. Thêm vào đó, công việc của họ chủ yếu là các ngành nghề tiếp xúc trực tiếp với khách hàng – vốn bị ảnh hưởng nặng nề bởi đợt bùng phát dịch mới nhất do biến thể Delta.

Tỉ lệ phụ nữ chịu đựng hội chứng “cháy sạch” (burnout) nơi làm việc cũng cao hơn nam giới, theo McKinsey và Tổ chức Lean In – một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động với phương châm giúp đỡ phụ nữ thành công hơn trong sự nghiệp.

Theo một báo cáo hồi tháng 9 của Lean In, khoảng 1/3 phụ nữ cho biết họ đã cân nhắc rời khỏi lực lượng lao động hoặc chuyển hướng sự nghiệp của mình trong năm nay, tỉ lệ này cao hơn con số 1/4 khi bắt đầu đại dịch.

Lao động tự do và tự do lao động

Theo báo Wall Street Journal, cuộc bỏ việc quy mô lớn “không phải là cuộc tháo chạy điên cuồng khỏi văn phòng mà là đích đến của một hành trình dài hướng đến tự do”. Sau một thời gian dài khao khát được tự do tự tại trong công việc và thực sự trải nghiệm sự linh hoạt trong thời COVID-19, nhiều người muốn tiếp tục được tự do như thế khi mọi thứ dần trở lại bình thường.

 Ảnh: Inc.com

Thăm dò trên 5.291 thành viên LinkedIn vào đầu tháng 3-2021 cho thấy 50% chọn tính linh hoạt về địa điểm và giờ giấc là ưu tiên hàng đầu khi chọn việc làm, tiếp theo là cân bằng giữa công việc và đời sống (45%), có bảo hiểm y tế (41%), tiền lương (36%) và văn hóa công sở (36%).

Khoảng 10 triệu người Mỹ đang muốn chuyển từ làm việc toàn thời gian sang làm việc tự do, và 73% trong số họ lấy lý do là muốn tiếp tục được làm việc từ xa và linh hoạt, theo một khảo sát gần đây của mạng việc làm Upwork. Đó không phải là ý tưởng tồi. Theo một thăm dò khác của Upwork, 53% doanh nghiệp được hỏi cho biết việc buộc phải chuyển sang làm việc từ xa trong đại dịch đã khiến họ sẵn sàng sử dụng lao động tự do hơn trước đây.

Theo Forbes ngày 15-10, những người bỏ việc thuộc thế hệ bùng nổ trẻ em ở Mỹ có lẽ đã chọn nghỉ hưu sớm vì tích lũy đủ tài sản, những lao động lớn tuổi hơn thì nghỉ vì muốn có cơ hội tốt hơn. Những người trẻ chọn học tập nâng cấp kỹ năng, hoặc chuyển sang ngành mới có nhiều cơ hội và thỏa mãn nghề nghiệp hơn, hoặc “chuyển hướng sang các loại công việc mới và tái định vị bản thân thành chủ doanh nghiệp hoặc nhà kinh doanh chứng khoán”.

Trở thành doanh nhân đang là xu hướng ở Mỹ, và “nói mình đang làm việc cho một startup giờ đây là một biểu tượng của thành công”. Mỹ đã chứng kiến một đợt “bùng nổ startup” và số lượng nộp đơn thành lập doanh nghiệp tăng mạnh; cả năm 2020 có 4,3 triệu hồ sơ được nộp còn 10 tháng đầu năm nay là 3,8 triệu, theo Business Insider.

Xu hướng này đã bắt đầu từ sớm và cuộc bỏ việc quy mô lớn chỉ làm tăng tốc tiến trình này mà thôi. Cụ thể, theo tạp chí chuyên về các doanh nghiệp nhỏ mới nổi Inc, trong những ngày đầu của đại dịch, Mỹ đã có số doanh nghiệp mới thành lập “nhiều hơn bất kỳ quý nào trong lịch sử”, riêng startup thì có 1,4 triệu công ty mới mở.

Trong khi đó, số lượng nhà đầu tư trẻ tuổi, mới chơi lần đầu cũng đã tăng mạnh trên các sàn và nền tảng giao dịch, đầu tư chứng khoán. Robinhood, ứng dụng giao dịch cổ phiếu nhắm đến thế hệ thiên niên kỷ và thế hệ Z, hiện có khoảng 22,5 triệu tài khoản được mở và đa số vẫn đang hoạt động tích cực. Tiền mã hóa và NFT – bỏ tiền để mua quyền sở hữu các tài sản kỹ thuật số – cũng là lựa chọn đầu tư của nhiều người vừa nghỉ việc.

Trong khi đó, làn sóng nghỉ việc ở Trung Quốc vốn đã bắt đầu từ trước, với phong trào “nằm thẳng” của người trẻ, tìm kiếm điều mới mẻ và làm các công việc khiến họ thấy “trọn vẹn”, có ý nghĩa hơn là vùi mình nơi công sở và theo truyền thống công việc, nhà cửa, hôn nhân ổn định. Những người nghỉ việc ở Trung Quốc và các thành viên làn sóng bỏ việc toàn cầu giống nhau ở chỗ cùng tìm kiếm sự tự do và linh hoạt.

Năm 2016, thăm dò của LinkedIn cho biết Trung Quốc có khoảng 30 triệu lao động tự do; năm nay con số do chính phủ cung cấp là hơn 200 triệu, gần 1/4 tổng lực lượng lao động Trung Quốc. Các công ty cũng sử dụng lao động tự do nhiều hơn. Theo báo cáo của Đại học Nhân dân Trung Quốc, 55% công ty ở nước này có dùng lao động tự do trong năm 2020.

South China Morning Post dẫn một báo cáo của nền tảng tuyển dụng online Zhaopin năm 2020 cho biết người Trung Quốc dưới 30 tuổi định nghĩa công việc hoàn hảo là “công việc mang lại sự tự do trong khi vẫn có thể theo đuổi đam mê”. Cũng trong báo cáo này, “chủ cửa hàng độc lập” và “nhiếp ảnh gia tự do” là 2 nghề được giới trẻ mong muốn nhất.

Nền kinh tế số trị giá 6.000 tỉ USD của Trung Quốc cung cấp sẵn nhiều nền tảng khác nhau để người trẻ thử sức với kinh doanh và khởi nghiệp, thay vì cố lấy cho được “bát cơm sắt” – công ăn việc làm với mức thu nhập ổn định và phúc lợi khi về già – như thế hệ trước. “So với thế hệ cha mẹ và ông bà (…) thế hệ trẻ cho rằng họ không cần việc làm chính thức hay một nghề thông thường để kiếm sống” – South China Morning Post nhận xét.

—-

Nguồn bài viết trên cung cấp tại :

https://cuoituan.tuoitre.vn/cuoc-song-muon-mau/cuoc-bo-viec-toan-cau-covid-chi-la-xuc-tac-1612090.html

https://cuoituan.tuoitre.vn/van-de-su-kien/cuoc-bo-viec-quy-mo-lon-ket-thuc-de-khoi-dau-1612089.html

https://cuoituan.tuoitre.vn/van-de-su-kien/lao-dong-tu-do-va-tu-do-lao-dong-1612091.html

KHÁM PHÁ MỘT NGÀY LÀM VIỆC TRADER TOÀN THỜI GIAN TẠI GIA


Khám phá một ngày làm việc trader toàn thời gian tại gia

Giao dịch là một nghề nghiêm túc và nên được xem là một nghề nghiêm túc chứ không phải là cái sới bạc để mặc cho mọi người ai muốn vào thì vào, ai muốn ra thì ra. Trader toàn thời gian là một công việc mang tính đào thải rất cao, bạn không thể mang tư duy tự do tài chính, thu nhập thụ động, hoặc hên xui may rủi vào trong thị trường để đánh cược bằng chính số tiền mồ hôi nước mắt của mình. Thị trường Đầu tư đòi hỏi bạn phải có kiến thức thật sự và kinh nghiệm được đúc kết qua năm qua tháng.

Do Trading là một nghề bình thường như bao nghề khác nên các Trader cũng có một ngày làm việc như vậy, họ cũng phải lao động rất vất vả, vắt trí tuệ của mình ra để kiếm tiền.

Những ai có ý định muốn nghỉ việc hiện tại để chuyển sang làm Trader Full-time (toàn thời gian) thì nên xem xét lại liệu mình đã đủ điều kiện để làm như vậy chưa. Bài viết ngày hôm là dành cho những trader có ý định như vậy. Tôi sẽ mô tả lại một ngày làm việc trong cuộc đời sự nghiệp của một trader toàn thời gian.

BẮT ĐẦU MỘT NGÀY LÀM VIỆC CỦA TRADER TOÀN THỜI GIAN KHÔNG PHẢI LÀ BUỔI SÁNG MÀ LÀ NỬA ĐÊM

Khi chuông báo thức reng lên, đang say xưa ngủ thì tôi ngồi bật dậy. Đôi mắt lim dim vẫn còn ngái ngủ, tôi lẩn thẩn ngồi vào bàn máy tính và mở máy lên.

Tôi đã quen với những điều này, nên nhanh chóng tỉnh ngủ và nhìn ngay vào màn hình máy tính. Đồ thị giao dịch khung thời gian 5 phút đã sẵn sàng. Lúc này là 2 giờ 10 sáng, thông tin về cuộc họp quan trọng đã được công bố. Thị trường đã rớt xuống mức đáy của ngày hôm đó.

Tôi click vào tiêu đề, đọc bản tóm tắt để biết vài thông tin của cuộc họp. Sau đó tôi mở lại đồ thị và chờ tiếp chuyển động của giá để tìm điểm mua bán sau tin.

Nhưng dường như mã này để hết lực giảm, cũng chưa có dấu hiệu của việc tăng giá lại. Do đó, tôi tắt máy và đi ngủ.

BUỔI SÁNG

2.

Ngủ chưa được bao nhiêu thì trời đã sáng mất rồi. Tôi bắt đầu ngày mới với bữa ăn sáng, trước mắt vẫn là màn hình máy tính. Các bạn biết để làm gì không? Tôi theo dõi cùng lúc chuyển động giá của 4 mã mà tôi thường xuyên giao dịch BTC , ETH, EURUSD, và GBPUSD. 4 mã này là thứ tôi sẽ kiểm tra đầu tiên nhất vào mỗi buổi sáng.

Sau đó, tôi lướt nhanh qua các trang tin tức để xem hôm nay có tin gì nổi bật liên quan đến cặp tiền mà tôi giao dịch không. Lâu lâu có một đống thông tin để đọc, có lúc thì không có gì để xem.

Tôi phân tích dựa trên các bài báo cáo và đồ thị hiện tại thì đã có manh mối. Tôi vẽ vài mức hỗ trợ kháng cự trước vì theo phân tích của tôi, giá sẽ di chuyển trong biên độ hẹp chứ không bứt phá đâu. Đồng thời, tôi đặt các lệnh chờ sẵn tại các mức đó.

Tôi thì đang chờ đợi một cú tăng / giảm giá thật mạnh ở các cặp tiền, nhưng hầu như đúng như tôi nhận định, giá chẳng dao động nhiều, có thể là do tin ra vài giờ trước đó.

Thị trường chán ngắt. Công việc của tôi bây giờ là lôi sách ra đọc, lên tradeboxx lướt lướt để học hỏi kiến thức mới.

BUỔI TRƯA

Buổi trưa là thời điểm quan trọng nhất, vì đó là lúc tôi đi ăn cơm. Nhưng vừa đúng lúc tôi thay đồ đi ăn cơm với bạn, thì thấy thị trường bỗng nhiên tăng giá lên gần mức kháng cự mà tôi vẽ, gần đó có một lệnh SELL được đặt sẵn, rất có thể sẽ khớp.

Như một thói quen, tôi nhanh chóng check tin tức để xem có tin gì tác động không? Nhưng hình như chuyển động không phải do tin tức chi phối.

Giá đã gần chạm tới lệnh của tôi, chỉ còn một chút nữa là tới. Tôi gọi điện cho bạn nói nó ăn một mình, tôi bận rồi. Bây giờ là lúc tập trung 100% vào màn hình.

Đột nhiên, giá không tăng nữa mà rớt xuống. Vậy là tôi đã lỡ tàu. Giá rớt tới đáy, nếu nó lên 1 chút nữa thì tôi đã có thể có được lợi nhuận đầu tiên trong ngày. Nhưng thôi, giá rớt rồi thì thôi, tôi không có thói quen đuổi giá.

Đang suy nghĩ thì đột nhiên giá tăng trở lại và lệnh SELL của tôi được khớp. Vậy ngon rồi. Nhưng bây giờ tôi lại lo là giá liệu có breakout khỏi kháng cự mà tôi vẽ để tăng lên hay không. Giá tăng lên 5 điểm rồi đến 10 điểm. Hiện tại là đang lỗ, nhưng tôi chưa lo lắm vì giá chưa breakout kháng cự.

QUÁ GIỜ ĂN TRƯA

Có vẻ như lực giảm đã cạn. Tôi đoán các trader khác cũng bắt đầu muốn nhảy vào SELL nó. Lệnh của tôi trở lại mức hòa vốn.

Tôi đi lấy bịch snack (bim bim) ra ngồi ăn thay cơm trong lúc theo dõi giá lên xuống. Thỉnh thoảng thì đi vệ sinh, đi ra vườn dạo vài vòng, rồi lại quay về dán mắt vào màn hình.

Tôi đặt chuông đồng hồ đến giờ đó thì báo để tôi có thể làm việc khác ngoài trading. Thường thì tôi làm được nhiều việc lắm, đọc sách, viết sách, làm việc nhà… Có như thế, tôi mới không cảm thấy chán và tránh được bệnh tật khi phải ngồi máy tính từ ngày này qua ngày khác như vậy.

Hết trưa thì chuông đồng hồ reo lên, tôi quay lại với thị trường, lúc này thì giá giảm mạnh và gần chạm vào take profit của tôi rồi. Có lẽ các bigboys đã chốt lệnh BUY của mình nên giá mới giảm vậy. Cũng không chừng ! Vậy là trong vòng nửa giờ đồng hồ, tôi đã chốt được lệnh với một lợi nhuận đã đặt trước.

CUỐI NGÀY

Tôi tiếp tục tìm kiếm các cơ hội khác dựa trên kỹ năng phân tích và nguyên tắc của mình.

Lệnh của tôi nghe có vẻ dễ ăn, nhưng vì tôi chủ yếu chỉ kể hoạt động của mình chứ chưa kể chi tiết mình giao dịch như thế nào. Dĩ nhiên, lệnh sell phải được phân tích thật kỹ lưỡng dựa trên kỹ năng và kinh nghiệm của bản thân. Tôi biết xác suất cao giá sẽ rớt, tuy nhiên có lúc giá lên 1 chút thì cũng không ảnh hưởng gì đến cuộc sống hàng ngày của tôi. Tôi vẫn có thể dành thời gian để làm những công việc khác ngoài trading.

Đối với tôi, trading là niềm vui chứ không phải trở ngại. Tôi có thể sắp xếp được mọi thứ, nhưng nó mất một khoảng thời gian dài để tôi có thể thích nghi được công việc toàn thời gian này vào cuộc sống của mình.

Cho đến bây giờ thì cuộc sống của tôi vẫn rất ổn, tôi vẫn kiếm sống được với nghề.

Trên đây là chia sẻ một một trader toàn thời gian. Hy vọng câu chuyện này có thể giúp ích được cho các bạn trader những ai đang có ý định muốn lấy giao dịch làm công việc toàn thời gian.

Tham khảo : forexprocenter

Viết dựa trên điểm mạnh


Đã bao giờ bạn tự hỏi làm sao để mình viết tốt hơn? Liệu có cách luyện tập nào giống như nhau với mỗi người khi chúng ta mang những mã gene và có …

Viết dựa trên điểm mạnh

Chuyện của người trẻ làm việc từ xa


Ngồi trong một căn nhà ở vùng quê, xung quanh ruộng lúa, vườn cây, làm việc cho công ty ở Mỹ, châu Âu… với thu nhập khá… Công nghệ đã cho người trẻ trải nghiệm một kiểu làm việc mới đang dần trở thành xu hướng: remote work – làm việc từ xa.

Chuyện của người trẻ làm việc từ xa
Lindsey bên chiếc bàn làm việc của mình tại TP.HCM. Ảnh: NGỌC HIỂN

Hai năm trước, khi còn làm việc ở Sài Gòn, Nguyễn Bình Nguyên (28 tuổi), một kỹ sư phát triển phần mềm, bắt đầu ngày làm việc mới: tất bật thức dậy rồi lao vào đám đông kẹt xe đến công ty, dừng chân đâu đó ăn vội bữa sáng. Chiều lại chạy xe máy trong khói bụi để về nhà. Nhưng giờ mọi thứ đã thay đổi.

Những người không có văn phòng

Nguyên thức dậy trong một căn hộ chung cư xinh đẹp ở TP Đà Lạt mà anh thuê hơn một năm trước để vừa làm việc, vừa tận hưởng cuộc sống ở phố núi bình yên. “Sáng dậy dắt chó vào rừng thông tập thể dục. Về tự nấu cho mình bữa ăn sáng rồi vào phòng làm việc. Chiều lại vào rừng. Đây là cuộc sống tôi đã từng mơ khi còn làm việc ở Sài Gòn và giờ đã thành hiện thực” – Nguyên kể.

Làm lập trình viên cho một công ty ở Sài Gòn hơn 5 năm, cảm thấy bản thân như bị trầm cảm với nhịp sống tất bật nhưng đều đều, chán nản, anh đã nghĩ đến sự thay đổi và bắt đầu tìm việc làm từ xa. “Đây là nơi tôi tìm được công việc hiện tại” – anh mở website có tên Github giới thiệu. Đó là một website chuyên dành cho các dev (developer, viết tắt dev – người phát triển phần mềm), nơi họ chia sẻ các mã nguồn mở và cả những cơ hội công việc ở khắp mọi nơi.

Nguyên tìm được công việc phát triển ứng dụng hệ thống tổng đài cho doanh nghiệp vừa và nhỏ của một công ty startup ở Mỹ có tên RingBlaze và được trả lương theo giờ. Đội phát triển ứng dụng của anh có ba người.

“Người ở Quảng Bình, người ở Hà Nội, người Đà Lạt. Các sếp ở Mỹ cũng mỗi người mỗi bang khác nhau. Không làm việc với nhau ở văn phòng nhưng chúng tôi có một cuộc họp online vào 10h mỗi sáng để báo cáo công việc thường xuyên. 10h sáng VN là khoảng 10h tối bên Mỹ nhưng các sếp phải ưu tiên cho các dev. Dev có giá mà” – Nguyên hài hước nói.

Không làm việc cho một công ty cố định nhưng Lê Kiến Trúc (28 tuổi), lập trình viên “hạng ưu tiên” trên Upwork – một nền tảng kết nối freelancer (người làm việc tự do) với các công ty, doanh nghiệp – ngồi nhà ở Hóc Môn 
(TP.HCM) làm việc cho các công ty Mỹ, châu Âu…, thu nhập khoảng 4.000-5.000 USD/tháng.

“Trước đây mình làm lập trình cho một công ty ở Sài Gòn nhưng làm hoài một công việc chán quá nên tìm việc thêm trên Upwork. Khi tự chủ được thì nghỉ công ty ra làm freelance luôn” – Trúc kể. Anh nói ngành công nghệ thay đổi rất nhanh, ở mãi một nơi không phát triển được thì sẽ chết. Làm từ xa giúp anh tiếp xúc với rất nhiều công ty khác nhau, nhiệm vụ đa dạng hơn nên không bị tụt hậu.

Nguyễn Hương Giang (22 tuổi), một voice talent (người thu âm giọng nói) trên Upwork, cho biết công việc của cô là thu âm cho các từ điển, các đài truyền hình người Việt ở nước ngoài, thu âm quảng cáo…, giá 12 USD/phút. Giang cũng nhận thêm nhiều công việc khác liên quan đến nghiên cứu thị trường.

Cô đang làm cho một công ty Philippines với mức lương 200 USD/tháng, hằng ngày kiểm tra và nhận đơn hàng từ gian hàng trên một trang thương mại điện tử rồi chuyển về kho để xuất và giao hàng. Mỗi tháng Giang được trích thêm hoa hồng doanh thu trên sản phẩm bán được. Thỉnh thoảng cô cũng nhận thêm công việc đánh máy. Các nhà xuất bản muốn tìm người gõ bản thảo viết tay của các tác giả với giá 8 USD/trang A4 và chia lại cho những người khác cùng làm.

Kiến Trúc hiện làm một dự án dài hạn cho một startup ở Mỹ và nhận thêm vài dự án ngắn hạn khác. “Người ta thường nghĩ freelancer là không ổn định, có thì làm không có thì thôi. Freelancer cũng rất dễ lâm vào cảnh “lúc ăn không hết, lúc lần không ra”. Nhưng không ổn định thì không làm lâu dài được” – Trúc nói. Anh tự xây dựng cho mình chiến lược: nhận một dự án dài từ 6 tháng trở lên rồi nhận thêm những dự án nhỏ 3-4 tháng lắp vào.

Dự án dài kết thúc thì Trúc có thể nghỉ ngơi, vừa đi du lịch vừa làm các dự án nhỏ. “Công việc của lập trình viên chỉ cần một cái laptop và WiFi để liên lạc với khách hàng. Tháng 12 năm vừa rồi nóng quá tôi lên Đà Lạt ở một tuần, lúc khác đi Đà Nẵng một tuần, kiếm khách sạn giá vừa phải rồi vừa làm vừa tận dụng thời gian rảnh đi vòng vòng để đổi không khí làm việc” – Trúc chia sẻ.

Bình Nguyên hiện chủ yếu ở Đà Lạt nhưng cũng thường xuyên về nhà ở Đắk Lắk giữa vườn cà phê. Thỉnh thoảng anh đi Malaysia, Thái Lan khoảng một tháng hoặc lên Sài Gòn… “Làm việc từ xa mình có thời gian dành cho bản thân nhiều hơn, tập thể dục, nấu ăn, du lịch, viết lách… Một năm làm từ xa, được đi đến nhiều nơi thật sự là thời gian đáng giá với tôi, là cách làm mới tâm hồn mình” – anh kể.

Nỗi cô đơn “không nhìn thấy mặt người”

Chuyện của người trẻ làm việc từ xa
Không gian làm việc tại gia của một remote worker ở Đà Lạt. Ảnh: B.N.

Làm từ xa phải chấp nhận cô đơn, nên Bình Nguyên cho rằng để làm công việc này cần phải có tính cách phù hợp, người hướng ngoại sẽ khó làm. Mặc dù công việc của anh vẫn yêu cầu gắn kết với các thành viên khác hằng ngày để trao đổi công việc, nhưng không tiếp xúc trực tiếp.

Kiến Trúc thì dù ở nhà với gia đình, ngày ba bữa ăn “cơm mẹ nấu” nhưng thỉnh thoảng anh vẫn thèm cảm giác được trò chuyện với người khác. Bình thường Trúc chỉ liên lạc với khách hàng qua email hoặc điện thoại. Để thoát ra khỏi trạng thái đơn độc, cả Trúc và Bình Nguyên đều có thời gian đến co-working space (những nơi thiết kế cho mọi người tới làm việc) hoặc quán cà phê.

Trúc đã từng cùng một freelancer làm chung dự án từ Ý bay sang Bangkok để du lịch và làm việc cùng nhau nhằm thay đổi không khí. Anh cũng đi dạy, giúp sinh viên năm cuối làm đồ án tốt nghiệp, tư vấn cho sinh viên về môi trường, kỹ năng làm việc… để ra trường có thể làm việc được ngay.

Nhưng tự do cũng là thử thách lớn nhất của họ. “Tự bản thân mình phải đặt ra kỷ luật cho mình. Vì nơi làm việc cũng là nơi ở nên rất dễ bị cảm giác không phân định rạch ròi thời gian làm việc, nghỉ ngơi. Tôi có thói quen mặc đồ nghiêm chỉnh khi ngồi vào bàn làm việc để tạo cho mình không khí làm việc” – Nguyên chia sẻ. Khi chuyển qua làm freelance, thời gian đầu Kiến Trúc cũng bị rối loạn giờ ngủ, thậm chí đã nghĩ đến chuyện nghỉ làm.

“Múi giờ của khách hàng ở Pháp, Đức, Úc, Mỹ… khác biệt. Hai tháng đầu tôi làm việc tới 5-6h sáng, ngủ tới 4h chiều. Sau đó phải cố gắng điều tiết giấc ngủ. Lúc đầu thì 4h sáng, xong hay không xong cũng đi ngủ. Rồi đẩy dần lên 1-2h sáng. Giờ làm việc hiện tại của tôi từ 9h tối đến 2h sáng. Với dự án dài, tôi sẽ gọi điện cho họ vào khoảng 9h tối” – anh kể. Nhiều người làm freelance như Trúc cũng không nghỉ lễ tết theo lịch thông thường mà “làm cho nước nào, nghỉ theo nước đó”.

Nên có hướng dẫn đóng thuế
Người làm việc từ xa có thể làm cố định cho một công ty hoặc làm tự do bằng cách nhận các dự án ngắn hạn từ nhiều công ty khác nhau. Họ có thể được trả lương theo gói hoặc theo giờ qua cổng thanh toán trực tuyến quốc tế PayPal. Họ cạnh tranh với các lập trình viên giá rẻ từ Ấn Độ, Trung Quốc bằng chất lượng công việc và ngay cả lúc ngồi không cũng không chấp nhận mức giá thấp hơn để “giữ giá”.Các remote worker nói hiện chưa có hướng dẫn cụ thể về quy định đóng thuế cho lập trình viên online làm tự do. “Nhưng đã có nhiều anh chị nhận giấy báo phạt từ cục thuế. Tôi mặc dù danh sách không có tên nhưng cũng tự giác đi khai báo và đóng thuế, tránh bị phạt. Chúng tôi vẫn chờ có hướng dẫn cụ thể cho ngành nghề này” – anh Lê Kiến Trúc nói.
Chọn TP.HCM làm việc từ xa vì chi phí thấp
Buổi sáng đầu tuần, Lindsey (người Anh) ngồi cặm cụi thiết kế đồ họa bên chiếc bảng vẽ điện tử tại không gian làm việc chung Dreamplex (Q.1, TP.HCM). Các sản phẩm mà cô thực hiện đều được “trả hàng” cho công ty tại London, nhờ Internet mà cô không phải đến trụ sở công ty. Mọi công việc của cô đều trao đổi thông qua thư tín điện tử, ngay cả lương bổng của cô cũng nhận qua tài khoản quốc tế. Bỏ ra 2 triệu đồng/tháng, Lindsey thuê một chỗ ngồi tại không gian trên và xem như văn phòng làm việc của mình.Lindsey bắt đầu làm việc trong ngành thiết kế đồ họa từ năm 2013, trước khi đến VN cô đã có thời gian dài làm việc ở Anh, sau đó là Ấn Độ. Khi đến VN, Lindsey nhận ra rằng mọi chi phí ở TP.HCM đều quá rẻ so với mức sống ở London trong khi công việc và thu nhập vẫn như cũ. Chỉ tay vào chiếc váy hoa đang mặc, Lindsey kể rằng thân hình cô khá nhỏ so với người Anh nên cô rất khó chọn một bộ quần áo vừa dáng trong khi giá cả lại cực kỳ đắt đỏ. Còn ở VN, Lindsey có thể đến tiệm may một bộ đồ vừa vặn nhưng giá lại rẻ hơn bội phần.Còn với thức ăn, một bữa tối ở TP.HCM khoảng 50.000 đồng thì ở Anh cô phải trả số tiền gấp 10 lần. “Tôi thấy dễ thở hơn khi sống ở đây nhưng vẫn làm các dự án ở Anh” – cô nói. Không chỉ Lindesey, nhiều nhân sự trẻ nước ngoài hiện đang sống tại TP.HCM cũng chọn cách “ở trọ” tại đây nhưng lại làm việc từ xa cho các công ty tại châu Âu, châu Mỹ.

NGỌC HIỂN – BÌNH MINH

Theo Tuoitre

Nghỉ việc cho tự do như freelancer, có chơi có chịu


Nhiều người thường nghĩ làm việc tự do (freelance) sung sướng, không bó hẹp về thời gian, không bị sếp nào la mắng… Không ít người quyết định nghỉ việc để thành freelancer để rồi nhận ra kiếm cơm bằng cách nào cũng không hề đơn giản.

Nghỉ việc cho tự do như freelancer, có chơi có chịu - Ảnh 1.

Nhiều người cho rằng làm việc tự do sẽ có nhiều thời gian hơn cho bản thân, không chịu cảnh sếp la mắng… – Ảnh minh họa: NGÔ HUY HÒA

Ngán ngẩm với công việc chuyên viên PR khi mới ra trường, Lê Thúy (29 tuổi, sống tại quận Tân Bình, TP.HCM) nhờ có khiếu nấu nướng nên đã lập một trang fanpage bán bánh và thức ăn chay. 

“Người ngoài nhìn vào dễ nhận xét tôi sống nhàn hạ: ở nhà suốt nên da dẻ trắng trẻo, muốn đi đâu thì đi, tiền lời từ việc bán bánh cũng nhiều… Nhưng không phải vậy đâu”, Thúy tâm sự.

Nhàm chán và cô đơn?

Gần 6 năm thuê nhà nguyên căn và làm bánh bán, Thúy kể: “Ban đầu tôi thấy hào hứng, còn chảnh nữa vì nghĩ mình không phải đi làm công ty, thích làm bánh thì làm, không thích thì nghỉ vài bữa cũng chẳng sao”.

Sau chừng một năm, Thúy nhận ra mặt hàng này ngày càng cạnh tranh, việc chiều lòng và duy trì nguồn khách hàng thân thiết cũng không đơn giản. 

“Nhiều chủ fanpage cũng mở bán y chang, nếu tôi hứng lên nghỉ vài ngày có khi mất khách. Hai ngày tôi đi mua nguyên liệu một lần, ngày nào cũng làm từ sáng tới xế chiều mới xong các loại bánh, rau câu, đồ sấy… Lưng tôi giờ đau nhức như người già vậy”, Thúy chia sẻ.

“Bế quan tỏa cảng” đồng nghĩa Thúy cũng dần mất đi những mối quan hệ không chỉ trong lĩnh vực truyền thông trước đây, mà còn là bạn bè do cô lười ra ngoài. Người thân cũng lo ngại vì thấy tương lai của Thúy khá bấp bênh.

Thúy nói: “Thật ra làm việc kiểu như tôi cũng thú vị, thoải mái giờ giấc, không phải đi đâu xa xôi, nhưng đôi lúc thấy cô đơn vì cứ thui thủi một mình. Tôi cũng muốn thay đổi, nhưng lại nghĩ giờ mà đi làm ở công ty thì oải lắm”.

Không có nghề tay trái như Thúy, Trương Hoài Lâm (27 tuổi) không thích những quy định cứng nhắc trong công ty nên đã làm tự do 2 năm nay. “Tôi chuyên thiết kế web, không lo không có việc, dù phải mất một thời gian dài trên các trang rao vặt để tìm dự án, rồi nhờ bạn bè giới thiệu…”, Lâm nói.

Nhưng sau một thời gian thích ứng, Lâm ngậm ngùi nhận ra mối quan hệ giữa mình với khách hàng cũng khổ sở không kém những người đi làm công ty. Chín người mười ý, những dự án Lâm nhận thiết kế nếu may mắn thì gặp khách hàng dễ tính, còn gặp người nhiêu khê thì phải điều chỉnh, thuyết phục vô cùng mệt mỏi.

Nghỉ việc cho tự do như freelancer, có chơi có chịu - Ảnh 2.

Bạn trẻ nên cân nhắc kỹ lưỡng khi muốn gắn bó với công việc công ty hoặc thành một freelancer – Ảnh: RA NY

“Có web tôi phải làm lại mấy lần, có khi còn bị quỵt tiền công, bị bêu xấu trên Facebook. Thức cả đêm để làm cho kịp cũng không phải là chuyện hiếm. Thời gian cũng không thoải mái lắm đâu, đã nhận việc là phải tập trung không còn hơi sức lo chuyện khác”, Lâm nói.

Một khía cạnh cũng làm Lâm suy nghĩ nhiều gần đây, đó là làm tự do đem lại thu nhập khá và được “tự do” ở một phương diện. Tuy nhiên, điều này đồng nghĩa với việc Lâm sẽ không có bảo hiểm, không có lương cố định, không có những khoản thưởng.

“Bạn bè thường nói tôi làm vậy chắc rảnh lắm. Nhiều khi tôi phải chạy cho xong dự án, không đi đám cưới bạn hoặc họp lớp được nên bị trách dữ lắm. Nhiều khi mấy tuần không nhận được dự án nào ưng ý, viêm màng túi luôn”, Lâm chia sẻ.

Bạn gái Lâm cũng ngại anh chàng “lông bông”, không lo liệu được tương lai hai đứa. “Đã có mấy lần bạn gái khuyên tôi nên kiếm một công ty nào đó làm việc cho ổn định. Gia đình cô ấy cũng ngạc nhiên khi nghe tôi kể công việc hiện nay”, Lâm nói.

Đã lựa chọn, phải thích ứng

Dù chọn lựa gắn bó với công ty hay trở thành freelancer, bạn trẻ cũng phải vững tin với lựa chọn đó. Huỳnh Long (30 tuổi) đã làm công việc tự do 4 năm, kể rằng sau thời gian thích nghi, hiện Long cảm thấy lựa chọn này phù hợp.

Nhờ khiếu chụp ảnh cộng với những mối quan hệ xã hội đã xây dựng khi còn đi làm cho công ty công nghệ, Long dần có nhiều khách hàng nhờ chụp ảnh cưới, ảnh cặp đôi. 

“Mình sẽ lên ý tưởng bộ ảnh cho khách, được đi du lịch ké, lâu ngày tay nghề chụp với chỉnh sửa ảnh tốt hơn. Cũng không ít lần hụt hẫng vì bị khách phàn nàn, rồi sự cố trong buổi chụp, máy ảnh trở chứng… nhưng mình phải cố gắng giải quyết để sống với công việc mình thích”, Long nói.

Hiện tại, vừa lập gia đình nhưng anh vẫn theo đuổi công việc này vì nhu cầu khách hàng khá nhiều, thu nhập tốt. Long chia sẻ: “Trong lúc làm nghề mình cũng dành dụm cho dự định mở một studio nhỏ nhỏ và chuyển lên Đà Lạt sống vì thích nơi này”.

Theo Long, khi đã chọn là freelance, bạn trẻ cần có niềm tin và kiên trì với lựa chọn. Bạn trẻ cũng nên gom góp một ít tiền và tiêu xài tiết kiệm khi mới bắt đầu làm việc tự do. “Đừng vì một chút khó khăn, một đôi lần bị khách hàng chỉ trích, bạn bè chê cười… mà nản lòng. Thành công nào cũng có cái giá của nó”, Long nói.

Còn Dương Hồng (31 tuổi) sau hơn 6 năm làm cho một công ty thời trang nay đã tự mở một shop quần áo. “Tôi nghĩ ai muốn trở thành freelancer hoặc tự gây dựng cơ sở kinh doanh thì nên có kiến thức nền, có đam mê và đi làm trong lĩnh vực đó một thời gian để tích lũy kinh nghiệm, có cái nhìn rộng hơn”, Hồng nói.

Hồng dẫn chứng: “Không ít bạn bè của tôi cũng tự mở shop, mở quán cà phê… nhưng không nắm được nhu cầu thị trường, chọn địa điểm không phù hợp với tính chất của quán hoặc mặt hàng nên sớm dẹp tiệm. Làm gì cũng cần tìm hiểu kỹ”.

Chị Nguyễn Phương Trang (39 tuổi), sau khi nghỉ việc ở một công ty tín dụng để ở nhà chăm sóc con nhỏ và dạy yoga, cho biết: “Từ bỏ vị trí phó phòng, tôi cũng suy nghĩ rất nhiều. Để có thời gian cho con và vẫn đảm bảo có tiền trang trải, tôi phải lựa chọn thôi”.

Sau nửa năm, chị Trang cho rằng nếu biết thích ứng, buông bỏ những cái không phù hợp thì công việc nào cũng có cái hay. “Không còn quần là áo lượt mỗi ngày tới chỗ làm, không còn những buổi tám chuyện với đồng nghiệp, rồi cả không khí sôi nổi trên công ty, nhưng bù lại mỗi ngày tôi vui khi thấy con lớn lên, việc dạy yoga dần có học viên gắn bó”, chị nói.

Theo chị Trang, nghỉ việc công ty để làm việc tự do không phải là dừng lại mọi đam mê. “Bây giờ tôi thấy đam mê của mình là yoga chứ không phải là tín dụng nữa. Tôi định sau khi con lớn một chút và đi nhà trẻ được, tôi sẽ học thêm để dạy chuyên nghiệp hơn, nhiều học viên hơn. Nếu thuận lợi tôi sẽ mở một trung tâm yoga”, chị cho biết.

Kinh nghiệm của những người làm việc tự do cho thấy công việc nào cũng có mặt mạnh mặt yếu. Chị Trang nói: “Nếu mới ra trường mà không muốn đi làm cho công ty, bạn trẻ phải suy nghĩ kỹ để tránh hoang mang. Bạn phải tự tin vào chuyên môn, khả năng, hoặc nghề tay trái của mình. Đầu tiên là phải nghĩ xem nghề có thể nuôi sống mình hay không, sau đó là mình có thể dành dụm hoặc phát triển bản thân được không”.

Đừng so sánh công việc mình làm với những người có lương cố định, đừng tủi thân hoặc hối tiếc vì đã chọn làm tự do.

Tương tự, những người làm việc cố định cho một công ty cũng không nên so sánh, mơ mộng rằng làm tự do sẽ không còn chịu cảnh gò bó hoặc những ức chế. Freelancer cũng chịu nhiều áp lực, khách hàng có khi còn hơn cả sếp vì nếu không hoàn thành tốt dự án, đôi khi họ sẽ không trả thù lao.

Theo một số freelancer, người mới ra trường nên đi làm ở công ty theo chuyên môn một thời gian. Nếu nhận ra mình muốn thay đổi, phù hợp với công việc tự do hoặc do hoàn cảnh, bạn trẻ có thể đề nghị được nghỉ không lương một thời gian để tập tành cuộc sống của một freelancer. Hoặc cũng có thể nhận làm thử một số công việc ngoài giờ, nếu bản thân yêu thích hoặc xoay xở tốt với công việc này, có hướng phát triển lâu dài thì có thể nghỉ làm ở công ty hiện tại.

Tuy nhiên, môi trường công ty không đơn giản là làm để có lương, để kiếm sống, mà còn là nơi rèn luyện ý chí, chuyên môn, quan hệ xã hội, là một phần đời rất dài nếu bạn trẻ quyết định gắn bó. Tùy theo sở thích, ước mơ, bạn trẻ khi quyết định mình sẽ “làm công ăn lương” hay “riêng một góc trời” cần suy nghĩ đã chuẩn bị được gì cho lựa chọn của mình.

RA NY – Theo Tuổi Trẻ

%d bloggers like this: