Làm sao để kiểm tra tài khoản Facebook có bị rò rỉ hay không?


Trong những ngày qua, các chuyên gia an ninh mạng đã tiết lộ rằng khoảng 533 triệu thông tin cá nhân của người dùng Facebook đã bị rò rỉ, vậy có cách thức gì để kiểm tra liệu tài khoản facebook của mình có nằm trong số các nạn nhân?

Làm sao để kiểm tra tài khoản Facebook có bị rò rỉ hay không?
Facebook trong những thời gian gần đây luôn chịu sự chỉ trích vì làm rò rỉ thông tin cá nhân của người dùng.

Hai ngày vừa rồi các tờ báo lớn của nước ngoài như Bloomberg hay Reuters đều đã đưa tin về khoảng hơn nửa tỷ thông tin cá nhân của người dùng Facebook đã bị xâm phạm, trong đó các tin tặc đã lấy những dữ liệu bao gồm họ tên, ngày sinh, số điện thoại và vị trí của người dùng.

Tin tức bắt nguồn từ thông báo của chuyên gia Alon Gal trên Twitter, người đồng sáng lập Hudson Rock, một công ty tình báo tội phạm mạng có trụ sở tại Israel, nêu rõ: “Tất cả 533,000,000 hồ sơ Facebook vừa bị rò rỉ miễn phí… Tôi vẫn chưa thấy Facebook thừa nhận về sự bất cẩn tuyệt đối này về dữ liệu của các bạn”.

Theo ông Gal, dữ liệu bị rò rỉ bao gồm tên đăng nhập Facebook, số điện thoại, họ tên, vị trí, ngày sinh, địa chỉ email, thông tin tiểu sử và các thông tin khác. Các thông tin này đã được đăng tải kể từ tháng 1 năm nay.

Về phần mình, người phát ngôn của Facebook Liz Bourgeois thừa nhận việc làm rò rỉ dữ liệu song giải thích: “Đây là dữ liệu cũ đã được báo cáo trước đó vào năm 2019. Chúng tôi đã phát hiện và khắc phục sự cố này vào tháng 8/2019”. Nhưng trong cuộc phỏng vấn của The Guardian với các chuyên gia về công nghệ (cyber experts), họ cho rằng những dữ liệu đó vẫn có thể gây hại cho những người bị rò rỉ.

Thông tin được các tin tặc sử dụng như thế nào?

Tiến sĩ Andrew Quodling, một nhà nghiên cứu về quản trị các nền tảng truyền thông xã hội tại Đại học Công nghệ Queensland, nói rằng dữ liệu có thể được sử dụng để truy cập vào tài khoản Facebook của mọi người cũng như email và tài khoản với các trang web truyền thông xã hội khác.

Sau khi tin tặc có email của bạn, chúng sẽ cố gắng đăng nhập vào tài khoản của bạn bằng cách ghép nối email của bạn với các mật khẩu đơn giản.

“Bọn chúng có thể dễ dàng thực hiện chỉ bằng các thủ thuật đơn giản – hãy thử 100 mật khẩu phổ biến nhất” hay có thể sử dụng những phần mềm hack khác. Ông nói thêm: “Vì vậy, bất kỳ ai sử dụng mật khẩu đơn giản 123 trong danh sách đó sẽ gặp rắc rối.”

Cách tìm ra dữ liệu của bạn có bị rò rỉ hay không

Làm sao để kiểm tra tài khoản Facebook có bị rò rỉ hay không?

Cách nhanh nhất và dễ dàng nhất để tìm hiểu xem dữ liệu của bạn có bị rò rỉ do hay không đó chính là kiểm tra trên các trang web do các nhà nghiên cứu bảo mật điều hành.

Một trong những trang web phổ biến và hiệu quả nhất là HaveIBeenPwned.com, một cơ sở dữ liệu được duy trì bởi nhà phân tích bảo mật Troy Hunt.Chỉ cần điền email của bạn và ấn chuột, nó sẽ tham chiếu chéo với hơn 10 tỷ tài khoản đã bị vi phạm trong quá khứ để tìm xem thông tin chi tiết của bạn có bị rò rỉ trực tuyến hay không.HaveIBeenPwned được sáng lập để giúp mọi người kiểm tra mức độ rò rỉ các tài khoản trên mạng xã hội

Cách đây 2 tiếng, Ông Troy Hunt đã xác nhận về việc kiểm tra số điện thoại của đã được lắp đặt vào trong hệ thống và sẽ sớm được hoàn thiện và đưa vào sử dụng.

(Theo Thời đại) / Vietnamnet

Microsoft will reportedly bring Android apps to Windows 10


While you could run selected Android apps on your laptop/computer on Windows 10 through the Your Phone app, not all are able to run “natively”. …

Microsoft will reportedly bring Android apps to Windows 10

Phương Tây “bó tay” với Facebook


Những sự kiện gần đây cho thấy bất kể những nỗ lực của chính bản thân Facebook, mạng xã hội này không thể chữa lành các khuyết tật của nó bởi nó là một sản phẩm lỗi của kỷ nguyên số.Minh họa: Ilan ConradoMinh họa: Ilan Conrado

Trong một chuyên đề về mạng xã hội đăng hồi tháng 10-2020, tờ The Economist cho biết chỉ 10% người Mỹ nghĩ mạng xã hội như Facebook hay Twitter là có lợi và đến 2/3 nghĩ chúng gây hại cho xã hội. Chẳng hạn từ tháng 2 đến nay, YouTube xác định được hơn 200.000 video “nguy hiểm hay sai lạc” về COVID-19.

Điểm đặc biệt là dù theo khuynh hướng chính trị nào, người ta cũng đang phẫn nộ với Facebook: phe tả nói mạng xã hội này đầy rẫy thuyết âm mưu QAnon, đậm đặc làn sóng kích động chủ nghĩa da trắng thượng đẳng làm người dùng chìm lấp trong một dòng chảy tin giả và xúc cảm hận thù. Phe hữu thì cáo buộc Twitter, Facebook kiểm duyệt thông tin, mà đình đám nhất gần đây là vụ xóa hay nhấn chìm đường dẫn đến những bài báo khui chuyện được cho là tham nhũng trong nhà Joe Biden, ứng cử viên tổng thống Mỹ.

Khi mạng xã hội đứng ra phân giải đúng sai

Tờ New York Post đăng một bài gây xôn xao dư luận về con trai của ứng cử viên tổng thống Joe Biden. Chưa biết đúng sai, Twitter đã xóa hết mọi đường dẫn mọi người đăng lên để dẫn về bài báo này; Facebook thì dùng thuật toán để các bài viết có dẫn đến bài báo này chìm lấp đâu đó, không hiện lên trên trang của người dùng. Nói cách khác, hai mạng xã hội chính yếu hiện nay bỗng gán cho mình vai trò kiểm duyệt nội dung người dùng đưa lên, tự nhận định nội dung này đúng – cho đăng; nội dung kia nghi ngờ – lột xuống hay ẩn đi.

Trước nay Facebook vẫn luôn tự cho mình là một “nền tảng công nghệ” chứ không phải là nơi xuất bản tin tức, nên họ không chịu trách nhiệm về nội dung người dùng đưa lên; ai nói gì người đó tự chịu trách nhiệm lấy. Chỉ có một số ngoại lệ như hình ảnh dung tục, ngôn ngữ gây hận thù, phân biệt chủng tộc, cổ vũ cho bạo lực… Facebook phải xóa ngay để khỏi bị rắc rối với luật pháp.

Thế nhưng trong vai trò là một mạng xã hội, làm sao Facebook hay Twitter có thể đứng ra tự quyết định đâu là tin đúng, đâu là tin sai? Giao cho trí tuệ nhân tạo của máy tính dẫn tới những quyết định sai lầm như dán nhãn phân biệt chủng tộc cho các bài diễn văn của Tổng thống A. Lincoln. Giao cho người kiểm duyệt thì các quyết định gỡ hay không gỡ tùy thuộc vào thiên kiến của người được giao.

Vụ bài báo New York Post là một minh họa điển hình cho tình thế tiến thoái lưỡng nan của các mạng xã hội khi muốn kiểm duyệt thông tin. Với một người bình thường, họ sẽ có sẵn một số thiên kiến: New York Post là báo lá cải do trùm báo chí Rupert Murdoch nắm, không đáng tin cậy. Chỉ còn vài tuần là đến ngày bầu cử tổng thống Mỹ, nên tin về ông Joe Biden ắt là có chủ đích. Bản tin dựa vào nguồn là đĩa cứng một chiếc laptop bị bỏ quên. Đáng nghi quá. Thế là Twitter gỡ hẳn, còn Facebook dìm sâu.

Dĩ nhiên chỉ một thời gian ngắn sau đó, Twitter phải thừa nhận đây là quyết định sai lầm: họ không có thẩm quyền quyết định đúng – sai trong trường hợp này; tin trên báo chí, dù có là báo lá cải vẫn là tin do tờ báo đó chịu trách nhiệm. Hằng ngày biết bao tin do báo chí đưa lên, không một mạng xã hội nào đủ năng lực “duyệt” thêm một tầng nấc nữa rồi mới cho người dùng tải lên mạng xã hội của mình.

Thao túng suy nghĩ của cả xã hội

Nhưng đó chỉ là phần nổi của một tảng băng khổng lồ. Facebook đầy rẫy thông tin sai lệch, thông tin cố tình bóp méo, thông tin đặt ngoài bối cảnh dễ gây hiểu nhầm. Mặc dù chúng tác động rất lớn lên các luồng dư luận xã hội thì có bao giờ, có ai đặt vấn đề Facebook cần làm gì với các thông tin như thế?

Hiện nay một phần rất lớn thông tin báo chí đến với người đọc là qua giới thiệu trên Facebook. Một bài được chia sẻ nhiều trên Facebook sẽ có lượng người đọc nhiều gấp trăm lần, ngàn lần một bài khác cũng đăng trên báo đó nhưng chìm lỉm trên mạng xã hội. Từ đó mới thấy một nguy cơ rất lớn Facebook kiểm soát được người dân một nước đọc tin gì nhiều, hay che khuất một tin khác. Nguy cơ này đã hiển hiện ở góc độ Facebook đang làm mọi cách để giữ chân người dùng – tin tức mang tính giật gân, câu khách sẽ được thuật toán Facebook ưu tiên hiển thị.

Trong một tương lai rất gần, các rủi ro khác có thể xuất hiện: giả thử một tổng thống nhiệm kỳ tới của nước Mỹ đe dọa chẻ nhỏ Facebook ra để ngăn chặn tình trạng độc quyền của nó, lấy gì bảo đảm không có chuyện Mark Zuckerberg không ưu ái cho ông này, tin tốt về ông cho lan truyền mạnh, tin xấu dìm sâu. Hay giả thử Zuckerberg làm chính trị, với Facebook trong tay, anh ta dễ dàng tung ra các chiến dịch truyền thông có lợi cho mình. Hay giả dụ Facebook sợ TikTok cạnh tranh bèn xúi báo chí đưa tin bài tiêu cực về TikTok một cách tinh vi. Tất cả giả định này chưa xảy ra, nhưng lấy gì đoan chắc nó không diễn ra trong tương lai?

Nói cách khác, người sử dụng Facebook đều biết đến khái niệm “tạo trend” – tức biến một chuyện nào đó thành một đề tài nóng trên mạng xã hội rồi dùng các luồng ý kiến có ảnh hưởng để “lèo lái” dư luận theo hướng mình muốn. Đây là một “nghệ thuật” với các bậc phù thủy có thể sau một đêm hướng cả dư luận xã hội về một câu chuyện gì đó. Nhưng cứ nghĩ mà xem, phù thủy như thế là rất ít, chi phí cao, có lúc thành công, có lúc chìm lỉm – trong khi đó “thầy” của các phù thủy này chính là Mark Zuckerberg, hoàn toàn vì một lý do gì đó, đưa ra bất kỳ “trend” nào cho mọi người say mê bàn tán, viết lách, bình luận, chia sẻ. Cứ nghĩ Facebook đang dần nắm cái quyền lực vô hạn, cho phép ai được quyền nói gì, đề tài nào là cấm kỵ, bóp nghẽn tiếng nói nào – cái viễn cảnh này thật đáng sợ.

Giải quyết đống bùi nhùi này như thế nào?

Phải nói là những người lãnh đạo các mạng xã hội cũng đang đau đầu giải quyết bài toán “tự do ngôn luận” trên không gian mạng. Vấn đề, như tờ Economist đặt ra, là không thể để một nhúm các tay quản trị doanh nghiệp quyết định các giới hạn của tự do ngôn luận; đây là chuyện của công chúng, của toàn xã hội. Người ta đang lo ngại, dưới áp lực của hai bên cả bảo thủ lẫn cấp tiến, các mạng xã hội sẽ dần siết lại định nghĩa “nội dung có thể chấp nhận được”; họ sẽ đóng vai trò người kiểm duyệt nội dung mà không ai có quyền khiếu nại.

Đồng thời để bán được thêm nhiều quảng cáo, các hãng công nghệ sẽ viết những thuật toán bày mâm bày bát cho người đọc toàn những thông tin những thuật toán này nghĩ sẽ buộc người đọc chú ý. Thế nhưng bọn lừa đảo, những kẻ bán hàng giả, những người chuyên tác động lên luồng dư luận và các chuyên gia truyền thông của đủ các bên lại biết tận dụng những thuật toán đó để gửi thông tin của họ nhờ bắn tới đối tượng họ nhắm đến.

Cách giải quyết, theo tờ Economist, là thay đổi mô hình kinh doanh của các hãng công nghệ đang làm chủ các mạng xã hội, buộc chúng cạnh tranh lẫn nhau. Trong lĩnh vực điện toán đám mây, cạnh tranh đã làm tăng chất lượng, giảm giá dịch vụ. Thay đổi mô hình có thể là thay đổi chuyện ai làm chủ dữ liệu; chủ nhân mạng xã hội nay chỉ được quyền thu một mức phí sử dụng cố định, ngoài ra không được khai thác dữ liệu người dùng để bán quảng cáo. Tiền quảng cáo sẽ về tay cá nhân người dùng hoặc tập thể người dùng. Nếu người dùng có quyền di chuyển dữ liệu đi theo mình khi dời sang một mạng xã hội khác, các mạng sẽ phải cạnh tranh nhau, mạng mới có điều kiện ra đời và môi trường mạng sẽ được làm sạch hơn bây giờ.

Giải pháp này có vô vàn thử thách như giá trị thị trường của các hãng như Facebook sẽ bay mất hàng trăm tỉ đôla, đời nào họ chịu một cách dễ dàng. Người dùng dọn đi qua mạng xã hội khác là chuyện dễ, nhưng mối quan hệ bạn bè đã kết nối mới là chuyện khó dứt bỏ. Làm sao để liên thông các mạng xã hội với nhau như mạng viễn thông thì mới giải quyết được vướng mắc này.

Hoặc giới chức quản lý có thể bắt đầu bằng cách buộc các mạng xã hội trao quyền cho người dùng được chọn thông tin gì sẽ xuất hiện trên trang cá nhân của họ mà không chịu tác động của thuật toán gây tò mò, thuật toán câu view. Giải pháp gì cũng phải làm sạch môi trường của các mạng xã hội, hiện đã đậm đặc sự hận thù, ganh ghét, mắng chửi khắp nơi.

Lấy ví dụ đang có một cuộc tranh luận rất nghiêm túc trên báo chí lan qua mạng xã hội, bỗng có người đưa tin giả để cổ vũ cho một bên. Vì là tin giả, nó hấp dẫn, nó lôi cuốn nên được chia sẻ và lan ra như đám cháy rừng. Bên kia phát hiện đây là tin giả, lên án dữ dội bên tung tin và nhân đó họ sổ toẹt mọi lập luận nghiêm túc trước đây. Đây là chuyện xảy ra hằng ngày với bất kỳ đề tài gì vì trong 100 người có ý kiến, cứ cho là 99 người suy xét cẩn thận trước khi nêu ý kiến của mình một cách nghiêm túc, chỉ có 1 người cố tình làm ẩu, bịa ra tin giả. Sẽ luôn có 1% này trên mạng xã hội bất kể nỗ lực ngăn chặn của chính Facebook hay của người dùng khác. Chính 1% này làm mọi cuộc tranh luận trên Facebook dù bắt đầu rất nghiêm túc, hữu ích rồi cũng rơi vào chỗ lăng mạ nhau vì dựa trên thông tin sai.

NGUYỄN VŨ / Theo TTCT

Facebook làm thế nào để tìm ra lỗi trong 100 triệu dòng code?


Facebook không quá nổi bật về khả năng bảo vệ quyền riêng tư và bảo mật, đặc biệt là một số lỗ hổng nghiêm trọng của họ đáng ra có thể tránh được. Dẫu vậy, với hàng tỷ người dùng và một nền tảng khổng lồ, thật khó để Facebook có thể phát hiện ra tất cả lỗ hổng trong 100 triệu dòng code của họ.

Vì thế, 5 năm trước, các kỹ sư của Facebook đã tạo ra một công cụ kiểm tra đặc biệt với khả năng tìm kiếm các lỗi đã biết và có thể quét toàn bộ codebase của Facebook trong vòng chưa tới 30 phút. Công cụ này giúp các kỹ sư của Facebook tìm ra vấn đề trong các chỉnh sửa, thay đổi hoặc tính năng mới trước khi tung chúng ra cho người dùng.

Zoncolan là công cụ check code lỗi nội bộ của Facebook
Zoncolan là công cụ check code lỗi nội bộ của Facebook

Công cụ có tên Zoncolan này được thiết lập để phân tích tĩnh, ánh xạ hành vi và chức năng của codebase và tìm kiếm các vấn đề tiềm ẩn trong các nhánh code riêng lẻ cũng như các tương tác của các phần khác trong chương trình. Rõ ràng là không thể dùng con người để tìm lỗi trong codebase dài gần như vô tận của Facebook. Tuy nhiên, với phương thức phân tích tĩnh, Zoncolan hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của Facebook.

Zoncolan đặt ra các quy tắc về kiến trúc hoặc code lỗi và tự động quét hệ thống để tìm ra các lỗi này ở nhiều mức độ khác nhau. Mỗi lần phát hiện ra lỗi, Zoncolan sẽ ghi nhớ và không bao giờ bỏ qua lỗi tương tự trong lần quét sau đó. Lý tưởng hơn, không chỉ đánh dấu các vấn đề tiềm ẩn, Zoncolan còn cung cấp cho các kỹ sư những phản hồi theo thời gian thực để họ rút kinh nghiệm, tránh mắc lại lỗi đó.

“Mỗi khi một kỹ sư của chúng tôi đề xuất xong một bản cập nhật cho codebase, Zoncolan sẽ bắt đầu chạy ngầm và nó sẽ báo cáo trực tiếp kết quả với kỹ sư đó hoặc nó sẽ gắn cờ những mã lỗi để báo cho các kỹ sư bảo mật có trách nhiệm vá lỗi”, ông Pieter Hooimeijer, quản lý kỹ thuật bảo mật tại Facebook chia sẻ. “Vì thế, mỗi ngày Zoncolan chạy hàng nghìn lần và tìm thấy khoảng 1.500 lỗi trong năm 2018”.

Không chỉ Facebook, các hãng khác cũng có giải pháp tương tự
Không chỉ Facebook, các hãng khác cũng có giải pháp tương tự

Công cụ phân tích tĩnh Zoncolan không tự tìm ra các lỗ hổng mới mà chỉ tìm ra các lỗi cũ dựa trên những quy tắc mà các kỹ sư đưa vào. Tuy nhiên, nó cực kỳ hữu ích để tìm ra các lỗi tương tự lặp đi lặp lại hoặc tìm ra một loạt lỗi khi một quy tắc mới được thêm vào.

Facebook không phải là hãng duy nhất sử dụng phương thức này. Các công cụ phân tích tĩnh đã được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng bảo mật và ngành công nghiệp phát triển. Nhưng theo Hooimeijer, Zoncolan đặc biệt hiệu quả vì nó được xây dựng để ánh xạ toàn diện bộ code của Facebook. Ví dụ, đầu năm nay Zoncolan đã giúp Facebook phát hiện ra rằng họ vô tình lưu trữ hàng trăm triệu mật khẩu người dùng dưới dạng văn bản, không được mã hóa.

“Những năm trước, chúng tôi đã phải tập trung nhiều kỹ sư bảo mật cùng lúc để tìm code lỗi một cách thủ công khi có vấn đề xảy ra”, Hooimeijer nói. “Nhưng sau đó, chúng tôi sử dụng Zoncolan để đảm bảo không có vấn đề phát sinh nào trong codebase có bản chất tương tự nhau. Chúng tôi đã tạo ra các quy tắc mới để tìm thấy những vấn đề có bản chất tương tự”. 

Zoncolan có cách tiếp cận đặc biệt, phù hợp với việc săn các lỗ hổng bảo mặt trong khi các công cụ phân tích tổng quát khác lại tập trung nhiều hơn vào các lỗi thiết kế và hiệu suất. Nó cũng tập trung nhiều hơn vào các luồng dữ liệu và các mẫu có thể nhận biết nhằm giảm phát hiện sai. Google cũng đang có một công cụ phân tích tĩnh được phát triển để kiểm tra codebase với 2 tỷ dòng của họ.

Tuy nhiên, Zoncolan vẫn còn có những nhược điểm
Tuy nhiên, Zoncolan vẫn còn có những nhược điểm

Theo David Kennedy, CEO của công ty tư vấn ứng phó sự cố TrustedSec, Zonkolan vẫn có hạn chế của nó. Kennedy chỉ ra rằng Zoncolan không thể phát hiện ra vụ xâm phạm dữ liệu của 30 triệu tài khoản Facebook hồi tháng 9 năm ngoái. “Công cụ phân tích codebase như Zoncolan sẽ không phát hiện ra những vấn đề ấy”, Kennedy nói. Và những vấn đề nghiêm trọng nhất của Facebook trong vài năm qua là các vấn đề bảo mật liên quan tới chính sách của công ty chứ không liên quan gì đến các lỗi code.

Hooimeijer cũng đồng ý rằng Zoncolan không phải là “viên đạn bạc”, giúp giải quyết mọi vấn đề của Facebook. Tuy nhiên, ông cho rằng với sự đầu tư của Facebook, một ngày nào đó Zoncolan sẽ có sẵn như một công cụ mã nguồn mở cho cả những công ty, tổ chức khác. Các thuộc tính giúp Zoncolan trở nên hiệu quả trong việc tìm code lỗi trên Facebook có thể được khái quát để sử dụng rộng rãi.

Năm 2018, Facebook từng phát hành công cụ check mã có tên Pyre. Đây là công cụ mã nguồn mở được dùng để check lỗi cho ngôn ngữ Python. Hiện tại, Pyre chưa được cập nhật các chức năng và đặc tính của Zoncolan nhưng nó là ví dụ cho những gì Facebook có thể chia sẻ trong tương lai.

TechTalk via quantrimang.com

Truyền thông xã hội làm thúc đẩy sự cô đơn ???


Is Social Media Fueling the Loneliness Epidemic?

Stress

As the COVID-19 pandemic continues, with no meaningful end in sight, the psychological toll is starting to add up.

With social isolation at a peak, there have been a variety of reactions as people cope with the effects of no social interactions.

Some obey and comply happily, others struggle as the days blur one into the next, and a few are fighting back, resisting the rules and now defying the directives and protesting to regain their rights to socialize. All responses come with challenges.

Traditional Media

One of the biggest and potentially dangerous affects seen is the over saturation of media coverage. Too much influence by the media can have severe impacts to one’s mental health

Thinking

Excessive exposure to media coverage can lead to serious consequences. How? It activates the fight-or-flight stress response, leading to physiological arousal, and, over time, serious wear-and-tear on virtually all body systems. People who watched several hours of coverage in the days following the 9/11 attack were more likely to develop physical health problems two to three years later than those with less exposure. Not surprisingly, this stress response – and resulting problems – increases with more exposure. People who watched lots of media coverage of the 2013 Boston Marathon bombings – defined as six or more hours a day – were nine times more likely to report experiencing high stress than those who watched fewer than one hour a day. These findings demonstrate that cataclysmic events – and the current pandemic certainly counts – may lead to stress even among people who are not directly affected.

Social Media

Social media is also a serious concern as over use of social platforms can also have adverse affects of people’s perspectives and mental health. Such highly anxious individuals, on their return to social media, apparently show an increased tendency to engage in alcohol consumption when posting.  This alcohol consumption will also increase anxieties and depression in the longer term.  Such unhealthy behaviours have already been noted in heavy internet users, in addition to poor mental health, and these will promote poor physical health, which has been associated with heavy internet use.  These negative effects on the individual will also cause more internet-use driving anxiety, and drinking will tend to produce unfortunate and inappropriate behaviours online. 

Social Apps

All of the above maps a very depressing picture of social media as an anxiety and depression driving platform – indeed, it might be suggested that social media is a platform that thrives (depends?) on the production of anxiety and depression.  This would not be the first time that an activity, mainly, or in part, depends on its negative consequences for continued usage – think of cigarettes (or, indeed, any addictive substance, for that matter). 

There is a further anxiety-driving process that fuels social media use for the digital addict – often termed the ‘fear of missing out’ or FOMO.  In general terms, FOMO is an anxiety about being disconnected from digital resources, like social media.  It might happen if you are in a remote area without a signal, or, in extreme cases, when you are trapped in a real ‘face to face’ situation, and you cannot get your device out for a few minutes!

In so many ways, social media platforms, such as Instagram, Snapchat, and Facebook, are mismatched from the kinds of communication platforms that existed for the lion’s share of human evolutionary history. For more than 99% of our evolutionary history, face-to-face communication with individuals whom you knew well was pretty much it. Social media has changed all that—and, as you’ll see below, not necessarily for the better.

Sensationalized Media

Another adverse effect of too much or sensationalized media exposure is that it leads people to engage in misguided attempts to protect their own health that interfere with community health and well-being. In past epidemics, people made more emergency room visits, clogging up the system that was already overloaded by the epidemic. However, the threat of catching the virus in the emergency room may mitigate this effect for COVID-19. When the USA president touted the benefits of a drug called hydroxychloroquine on TV, people rushed to get their doctors to prescribe it even in the absence of current, serious symptoms. This led to drug shortages for other groups, such as people with lupus, who rely on the drug for their daily functioning. There may be other factors besides too much media exposure that drive panic buying or hoarding behaviors, but media exposure can exacerbate the sense of scarcity or threat.

Cognitive psychologists have argued that loneliness may emerge from faulty attributions or dysfunctional cognitive evaluations. For example, some people may appraise social and intimate situations through negatively distorted lenses, judging the odds of failure as high and the consequences as catastrophic. These appraisals may lead to avoidance, which in turn leads to deteriorated social skills, resulting in unsatisfactory personal relationships, and hence loneliness.

Social Media in public

Loneliness Causes

Accumulating data have shown that multiple factors converge and interact to shape the experience of loneliness. Evolution indeed plays a large role. Twin studies suggest that about 50% of variations in loneliness are explained by genetics. Personal attributes matter. For example, research has found a link between the personality trait of neuroticism and loneliness. Age appears to be a factor. Research suggests that loneliness tends to decrease in adulthood until around the age of 75 years old, after which it increases markedly. Older adults are more susceptible to loneliness in part because of decreased mobility and independence and the deaths and loss of friends and family members.

The Role of Technology

Technology may also play a role. For example, early studies have noted the ‘internet paradox’ by which Internet use, ostensibly facilitating communication, nonetheless predicts lower communication levels with family and friends as well as increased loneliness. Research since has painted a more nuanced, contextual picture, whereby Internet use may predict more or less loneliness, depending on how it interacts with other environmental or individual variables. For example, people with high social skills may use online connections to augment and expand their offline contacts, thus decreasing loneliness, while people with low social skills and high anxiety may use the Internet as an avoidance strategy, thus eroding their social skills and social ties to negative effect.

SocialMedia.nguoidentubinhduong
Social Media

In order to better understand how social media may be connected to loneliness, we must first recognize that it is not a simple equation. Just as there are a variety of reasons in which one may use social media, there are different ways in which social media could be fostering loneliness. The ease of accessibility may be causing us to connect more in the digital realm, but disconnect from the world around us. Researchers at the University of British Columbia found that even seemingly mild distractions from a buzzing phone could cause individuals to experience a decrease of present enjoyment. For example, if you are at a social gathering and impulsively grab your phone as you feel the notification vibration, even if you do not continue to open the app, this brief moment could cause a feeling of disconnection with others present at the gathering.

Social Media Envy

The Center for Humane Technology highlights that we may experience a fear of missing out that causes us to compulsively check for updates. The persistent need to log-in can inhibit users’ ability to relax and replenish. Lack of adequate rest could cause individuals to become susceptible to mental health risks. Individuals may become glued to their devices to avoid feeling unaware of current events and feel disconnected from others. It is also possible to encounter unwanted updates that prompt feelings of isolation. For example, if someone finds a picture of their loved ones gathered for an event to which he or she did not receive an invitation, seeing this update could trigger the individual to feel excluded.

Alone - nguoidentubinhduong
Alone

Exposure to idealized images on social media can also elicit envy. Falling prey to social comparison, individuals who were otherwise content could develop a sense of dissatisfaction by labeling themselves as less successful, happy, or adventurous. In a study of individuals who utilize Twitter and Facebook, participants who admitted to going out of their way to seek validation (e.g., likes) and to portray a perfect profile were more likely to suffer from low self-esteem and be less trusting of others. If an individual is focused on minimizing their flaws and concerns, they may lack the ability to relate to others about actual life experiences. Also, their own knowledge of their altered reality could cause someone to feel fraudulent and disconnected. Finally, their obviously skewed profile could cause others to feel a lack of connection as well.

Conclusions

In sum, many paths lead to the place of loneliness. We still have ways to go in deciphering this profound psychic phenomenon and the mechanisms of its formation and impact. And while loneliness is currently considered a symptom, not a formally diagnosed disorder, a change may be warranted given the accumulating evidence of its complexity, prevalence, and adverse health consequences. For now, clinicians and physicians may do well to include an assessment of the client’s loneliness as part of their initial evaluation checklists. And all of us are wise to take note of our feelings of loneliness, should they arise, and take action to address them. The consequences of not doing so may be far from benign.

————————–MJM ————————–

References:

Ali, S. (2018). Is Social Media Making You Lonely? Psychology Today. Retrieved on April 20, 2020 from, https://www.psychologytoday.com/ca/blog/modern-mentality/201810/is-social-media-making-you-lonely

Geher, G. (2020). 10 Adverse Effects of Social Media on the Modern World. Psychology Today. Retrieved on April 20, 2020 from, https://www.psychologytoday.com/us/blog/darwins-subterranean-world/202002/10-adverse-effects-social-media-the-modern-world

Greenberg, M. (2020). Media Exposure to COVID-19: How Much Is Too Much? Psychology Today. Retrieved on April 20, 2020 from, https://www.psychologytoday.com/ca/blog/the-mindful-self-express/202004/media-exposure-covid-19-how-much-is-too-much

Reed, P. (2020). Anxiety and Social Media Use. Psychology Today. Retrieved on April 20, 2020 from, https://www.psychologytoday.com/ca/blog/digital-world-real-world/202002/anxiety-and-social-media-use

Sanderson, C. (2020). Social Media in a Pandemic: The Good News and the Bad News. Psychology Today. Retrieved on April 20, 2020 from, https://www.psychologytoday.com/ca/blog/norms-matter/202004/social-media-in-pandemic-the-good-news-and-the-bad-news

Shpancer, N. (2020). Are You Feeling Lonely? If So, You Are Not Alone. Psychology Today. Retrieved on April 20, 2020 from, https://www.psychologytoday.com/ca/blog/insight-therapy/202001/are-you-feeling-lonely-if-so-you-are-not-alone

————————–MJM ————————–

This post is a mash-up of a series of articles written by those authors cited above in the Reference Section and combined here to put forward a new perspective in the face of the 2020 COVID-19 pandemic. I have added some content and made edits for the sake of flow and grammar.

————————–MJM ————————–

About the Author:

Michael Martin has more than 35 years of experience in systems design for applications that use broadband networks, optical fibre, wireless, and digital communications technologies.

He is a business and technology consultant. A recent contract was with Wirepas from Tampere, Finland as the Director of Business Development. Over the past 15 years with IBM, he has worked in the GBS Global Center of Competency for Energy and Utilities and the GTS Global Center of Excellence for Energy and Utilities. He is a founding partner and President of MICAN Communications and before that was President of Comlink Systems Limited and Ensat Broadcast Services, Inc., both divisions of Cygnal Technologies Corporation (CYN: TSX).

Martin currently serves on the Board of Directors for TeraGo Inc (TGO: TSX) and previously served on the Board of Directors for Avante Logixx Inc. (XX: TSX.V). 

He has served as a Member, SCC ISO-IEC JTC 1/SC-41 – Internet of Things and related technologies, ISO – International Organization for Standardization, and as a member of the NIST SP 500-325 Fog Computing Conceptual Model, National Institute of Standards and Technology.

He served on the Board of Governors of the University of Ontario Institute of Technology (UOIT) [now OntarioTech University] and on the Board of Advisers of five different Colleges in Ontario.  For 16 years he served on the Board of the Society of Motion Picture and Television Engineers (SMPTE), Toronto Section. 

He holds three master’s degrees, in business (MBA), communication (MA), and education (MEd). As well, he has three undergraduate diplomas and five certifications in business, computer programming, internetworking, project management, media, photography, and communication technology. He has earned 15 badges in next generation MOOC continuous education in IoT, Cloud, AI and Cognitive systems, Blockchain, Agile, Big Data, Design Thinking, Security, and more.

Source: https://vividcomm.com/2020/04/20/is-social-media-fueling-the-loneliness-epidemic/

Content Creator ?


Bạn có đang trở thành một người sáng tạo nội dung?

Trước tiên nói về định nghĩa: Content creator là một thuật ngữ marketing ám chỉ người sáng tạo ra nội dung hữu ích cung cấp đến độc giả.Nội dung của những người làm nội dung cũng rất đa dạng như chữ viết, video, hình ảnh, âm nhạc,… Kênh tiếp cận đến độc giả của những người làm nội dung cũng như vậy: Facebook, Youtube, Google, Pinterest, Instagram, Blog, Truyền hình,…Mỗi nội dung sáng tạo của bạn có cơ hội tiếp cận với độc giả cần là những nội dung chất lượng, được đầu tư hoàn chỉnh và quan trọng nhất là truyền tải thông điệp giá trị với người tiếp nhận nội dung. Khi nội dung đủ chất lượng, khi đó nội dung là video, chữ hay hình ảnh thì đều được cộng đồng đón nhận.Nhưng cũng không thể phủ nhận xu hướng tiếp nhận nội dung của độc giả đang có dịch chuyển đáng kể trong 5-10 năm trở lại đây, thế hệ Z (Những người sinh ra từ năm 1995) đang dần chuyển sang ưa chuộng nội dung dưới dạng video ngắn (Độ dài dưới 15 phút)

Thống kê từ Youtube cho thấy:

– Hiện tại, có 1,9 tỷ người dùng hoạt động hàng tháng đăng nhập vào YouTube. Số lượng này chiếm một phần ba lượng người dùng Internet, tạo ra rất nhiều cơ hội cho bất kỳ doanh nghiệp nào khi khai thác nền tảng này.

– Mức độ phổ biến của YouTube trải dài trên 91 quốc gia và 80 ngôn ngữ khác nhau, chiếm khoảng 95% người dùng Internet toàn cầu.

– YouTube tiếp cận nhóm đối tượng từ 18-49 tuổi trên điện thoại di động nhiều hơn bất kỳ mạng truyền hình và các chương trình phát thanh nào.

– Cisco dự đoán rằng video sẽ chiếm 82% lưu lượng truy cập Internet toàn cầu vào năm 2022. Với lượng video phát triển nhanh chóng, YouTube là một trong những động lực chắc chắn xuất hiện để biến nó thành hiện thực.Vậy nên những nhà sáng tạo nội dung cần có sự chuyển mình để bắt kịp xu hướng của thế hệ người dùng đang ngày càng trở nên lười đọc và ưa chuộng video.

Nhưng trước khi bàn nhiều về vấn đề chuyển mình hay bắt kịp xu hướng tương lai, cần phải hiểu bạn đang mang phong cách nào trong giới Content Creator.Người ta thường nói, phong cách viết cũng giống như nhóm máu. Mỗi một content creator sẽ có phong cách viết đặc trưng và khác nhau. Việc hiểu rõ phong cách viết của bản thân sẽ giúp bạn lựa chọn được những nội dung phù hợp và hiệu quả nhất, cũng như khắc phục những điểm yếu của mình.

Nhóm content creator thứ 1: Giáo viên

Nhóm giáo viên là những người thích giúp đỡ người khác bằng cách vừa cung cấp kiến thức lại vừa thực hành. Điểm đặc trưng của những content creator dạng này chính là họ rất thích đưa ra những ý tưởng mới, đồng thời lựa chọn những hình ảnh minh họa, từ ngữ, ví dụ… để minh họa cho ý tưởng đó.

Dấu hiệu của content creator thuộc dạng giáo viên bao gồm:

• Ưa chuộng những bài viết dạng how to hoặc step by step

• Không viết một bài riêng lẻ, thường viết một chuỗi bài liên quan đến một vấn đề hoặc xây dựng các tài liệu dạng FAQ ( thắc mắc và trả lời).

• Những bài viết của họ thường có tiêu đề dạng: ” Làm thế nào ?”, ” Làm cách nào ?”, ” Cách để..”

• Thường dùng nhiều hình ảnh minh họa như ảnh chụp màn hình.

Ưu điểm:

Họ thường tạo ra những bài viết hướng dẫn hữu ích, với thông tin chi tiết theo từng bước rõ ràng và ví dụ cụ thể. Những bài viết của họ đặc biệt có ích với những ai đang tìm kiếm cách làm một việc gì đó.

Khuyết điểm:

• Họ sẽ đưa ra những chỉ dẫn hữu ích và nói cho bạn nên làm thế nào, nhưng họ lại không đưa ra được những lý do để bạn làm điều đó. Thông tin mà họ đưa ra chỉ mang tính hướng dẫn, chứ không phải là giải pháp cho những vấn đề của bạn.

• Nội dung kiểu giáo viên sẽ không phù hợp với những ai cần được tác động hay thuyết phục ngay lập tức.

Nhóm content creator thứ 2: Người trong cuộc

Người trong cuộc thường viết những bài viết với thông tin hấp dẫn, mang tính độc quyền và được tiết lộ một cách hờ hững nhằm gây tò mò cho người đọc. Họ nắm giữ những thông tin mới mẻ, chỉ có họ có quyền được biết và tiết lộ. Họ thường đưa những thông tin mới lạ hoặc thông tin đính chính để giải thích cho những gì mà bạn thắc mắc.

Dấu hiệu của content creator thuộc dạng Người trong cuộc:

• Họ thường làm việc trong một ngành công nghiệp mới. Bài viết của họ nhằm mục đích đem những thông tin về ngành công nghiệp đó đến với người đọc, khiến cho người đọc hiểu và thu hút người đọc tham gia.

• Họ thường đưa ra những dữ liệu riêng của mình hoặc chia sẻ những gì doanh nghiệp đang làm để chứng minh cho một luận điểm nào đó.

Ưu điểm:

• Bài viết của content creator dạng này thường rất hấp dẫn và kích thích sự tò mò, với những thông tin hoặc kiến thức mới lạ, độc đáo.

• Thông tin mà họ chia sẻ có sự gắn bó mật thiết với thương hiệu và doanh nghiệp.

• Nội dung bài viết của họ đều xuất phát từ thực tế, với những thông tin theo dạng “chúng tôi đã làm ra nó và nó đã hoạt động”. Vì vậy, những thông tin mà họ cung cấp không chỉ mang tính lý thuyết thông thường mà chính là những bài học, case study hữu ích cho độc giả.

Khuyết điểm:

• Nội dung bài viết mang tính cá nhân cao, với sự tập trung chủ yếu vào những thông tin hay trải nghiệm mà họ biết và từng thử qua. Thực chất, những giải pháp của họ không thể áp dụng với tất cả mọi người.

• Độc giả thường hiểu lầm và xem những thông tin mà họ chia sẻ chính là chân lý, là kiến thức phổ quát, chính xác và không có sai sót.

Nhóm content creator thứ 3: Người ngoài cuộc

Khác với những nhóm người trong cuộc, nhóm người ngoài cuộc không tiết lộ thông tin một cách hời hợt. Dạng content creator này thường thắc mắc và đặt ra nhiều nghi vấn về thông tin mà họ sắp chia sẻ để chắc chắn thông tin ấy là chính xác và khả thi.

Dấu hiệu của content creator thuộc dạng Người ngoài cuộc:

• Luôn đặt câu hỏi khi tiếp nhận bất cứ thông tin mới nào

• Sao chép nhiều dữ liệu từ các nguồn khác nhau và tìm hiểu xem dữ liệu này có thực sự hữu ích hay không

• Nội dung của họ thường trở thành nguồn kiểm chứng của độc giả, khi độc giả muốn biết một luận điểm nào đó có phải là sự thật hay không.

Ưu điểm:

• Họ thường đưa ra nhiều câu hỏi khó, họ sẵn sàng xông pha tìm hiểu và thử nghiệm để kiểm chứng một điều gì đó.

• Thông tin mà họ đưa ra đã được đúc kết thông qua một quá trình thăm dò, lấy mẫu và kiểm tra nên thường có mức độ chính xác tương đối cao.

• Họ thường làm điều đó mà không hề đòi hỏi bất cứ lợi ích nào.

Khuyết điểm:Trong quá trình kiểm chứng thông tin, họ có thể đưa ra nhiều luận điểm đế chứng minh rằng người đó sai hoặc để những người đó tự cảm thấy mình ngu ngốc.

Nhóm content creator thứ 4: Chuyên gia

Nhóm chuyên gia là những content creator với vốn kiến thức rộng. Họ thường am hiểu nhiều lĩnh vực hoặc có kiến thức sâu sắc về một lĩnh vực riêng biệt. Họ có thể đóng vai trò như một người tư vấn, sàng lọc hoặc chứng thực thông tin thay cho độc giả. Những thông tin mà họ đưa ra thường xuất phát từ kinh nghiệm thực tế hoặc đã được họ thực hành nhiều lần trước khi đưa vào bài viết.

Dấu hiệu của một content creator kiểu Nhóm chuyên gia:

• Họ thường xuất bản những bài viết nhằm đính chính hoặc làm rõ những thông tin sai.

• Họ có khả năng viết những bài viết dài một cách dễ dàng về chủ đề yêu thích của mình.

• Họ không góp nhặt hay tìm hiểu thông tin trước khi viết bài, họ chỉ viết những gì mà họ biết và đưa ra những ví dụ, câu chuyện kinh nghiệm, thông tin tham khảo… trong bài viết để chứng minh cho luận điểm của mình.

• Nội dung của họ được xem như thông tin tham khảo của những nhà tiếp thị hoặc content creator khác.

Ưu điểm:

• Họ thường có trình độ cao, với trải nghiệm và nền tảng kiến thức chuyên sâu. Họ có thể là chuyên gia cao cấp, giáo sư, tiến sĩ…

• Họ biết cách chia sẻ kiến thức một cách cụ thể và trôi chảy, vì vậy người đọc không hề cảm thấy nhàm chán hay nặng nề khi đọc bài viết của họ.

Khuyết điểm:

• Nội dung của họ thường khá chuyên sâu và có thể hơi khó khăn đối với những độc giả không có chung trình độ hoặc mức độ hiểu biết như họ.

• Đôi khi, họ quá say mê chia sẻ kiến thức mà quên đi cách trình bày sao cho độc giả không những có thể hiểu mà còn có thể áp dụng trong thực tế.

Nhóm content creator thứ 5: Thành viên mới

Dạng content creator này có đặc điểm ngược lại với nhóm chuyên gia. Đây là những người chỉ vừa làm quen với nghề sáng tạo content, họ không có nhiều kiến thức chuyên môn hay kinh nghiệm viết như những nhóm khác. Nội dung của họ vẫn chưa được sâu sắc cùng lối hành văn non nớt. Họ tạo ra những nội dung mà khi nhìn lại sau này, có thể họ phải thốt lên rằng: ” Tôi đã làm gì thế này ?”

Dấu hiệu của content creator thuộc nhóm thành viên mới:

• Bạn thường phải tìm kiếm thông tin về những thuật ngữ hay từ viết tắt mà mình không hiểu.

• Bạn tạo ra những nội dung liên quan đến kinh nghiệm của bản thân, những kì vọng, quá trình sáng tạo nội dung và những khám phá mới của mình trong một lĩnh vực nào đó.

• Bạn thường chia sẻ những thông tin hữu ích mà mình tìm được với mọi người và thường chỉ viết khi được giao bài.

Ưu điểm:

• Nhiệt tình, với hứng thú dồi dào cho việc sáng tạo nội dung.

• Tò mò và thường xuyên đặt câu hỏi về thông tin mà mình đang viết.

• Với cùng một chủ đề, họ sẽ có nhiều cái nhìn khác nhau. Họ cũng khá sáng tạo trong cách truyền tải nội dung, vì vậy nội dung của họ không hề gây chán nản cho người đọc.

• Nội dung của họ khá dễ hiểu, với cách trình bày đơn giản và không dùng quá nhiều thuật ngữ chuyên ngành.

Khuyết điểm:

• Họ không quá chủ động trong việc sáng tạo nội dung

• Bài viết của họ đôi khi chưa đủ thông tin hoặc vẫn còn lủng củng, khiến cho người đọc khó chịu

• Họ chưa đủ kinh nghiệm để sáng tạo nội dung nhanh chóng

Nhóm content creator thứ 6: Người quan sát

Dạng content creator này thường có khả năng quan sát rất tốt cùng một tầm nhìn rộng. Họ tiếp cận chủ đề một cách bao quát, không quá đi sâu vào tiểu tiết mà vẫn cung cấp được một nền tảng thông tin tốt. Với những chủ đề khó, họ sẽ đặt chúng trong một bối cảnh để người đọc dễ hiểu hơn. Mục đich của họ không phải là cung cấp toàn bộ thông tin cho người đọc về một chủ đề, họ chỉ gợi ra những câu hỏi, từ đó người đọc có thể suy nghĩ và tự tìm câu trả lời của mình.

Dấu hiệu của content creator thuộc nhóm Người quan sát:

• Là những người đi tiên phong trong việc cung cấp các nội dung về một chủ đề nào đó.

• Khả năng trình bày đa dạng, với phần mở, thân và kết bài được sắp xếp sao cho người đọc có thể hiểu theo những cách khác nhau

• Là người giới thiệu một chủ đề hoặc nội dung mới đến người đọc• Bài viết thường khá ngắn (dưới 1000 từ) nhưng vẫn đầy đủ những thông tin căn bản.

Ưu điểm:

• Họ gợi mở cho mỗi người đọc những cách nghĩ riêng về cùng một vấn đề

• Họ không tập trung quá nhiều vào một đối tượng mục tiêu, nội dung của họ thường khá bao quát và hướng đến một nhóm độc giả rộng.

• Họ có thể sáng tạo ra một nội dung mới bằng cách chỉ ra những cái sai trong nội dung của người khác, như lệch hướng, lạc đề hoặc sự kết nối rời rạt giữa những phần trong nội dung.

Khuyết điểm:

• Bài viết của họ không đủ sâu sắc, nên không thể đáp ứng mọi nhu cầu về thông tin cho độc giả.

• Họ có thể trở nên chủ quan hoặc thiển cận nếu không có đủ kiến thức và sự hiểu biết thấu đáo về chủ đề đang viết.

• Họ có thể trở thành một kẻ chỉ trích xấu tính, chỉ chăm chăm vào những lỗi sai của người khác.

Nhóm content creator thứ 7: Mật mã viên

Những content creator thuộc nhóm mật mã viên thường có nhiều kiến thức về một lĩnh vực cùng khả năng biến hóa, xào nấu thông tin thượng thừa. Họ nắm giữ rất nhiều thông tin, nhưng họ không tiết lộ chúng một cách miễn phí. Họ thường nói một cách vòng vo, mơ hồ để kích thích sự tò mò của người đọc, từ đó dẫn dắt người đọc đến với những hành động cụ thể theo ý muốn của mình.

Dấu hiệu của content creator thuộc nhóm Mật mã viên:

• Người đọc cần đáp ứng một yêu cầu nào đó để có đầy đủ thông tin từ họ

• Bài viết của họ thường mang tính tiếp thị, với những từ ngữ hứa hẹn.

• Mục tiêu của họ là thay đổi hành động và suy nghĩ của độc giả.

Ưu điểm:

Họ là một người kể chuyện tuyệt vời, thông tin của họ thực sự cung cấp giá trị cho độc giả.

Khuyết điểm:

• Nội dung của họ có thể có vấn đề, trong khi độc giả buộc phải trả tiền hoặc thực hiện yêu cầu chỉ để có được thông tin của họ.

• Đôi khi, độc giả phải cung cấp thông tin cá nhân chỉ để có được một ebook hay gói dịch vụ từ họ.

Nhóm content creator thứ 8: Thuyết phục

Những content creator thuộc nhóm thuyết phục thường có khả năng bán hàng thông qua nội dung rất tốt. Họ sẽ thuyết phục bạn, bằng cách cung cấp các thông tin hoặc luận điểm cho một chủ đề nào đó. Nội dung của họ khá hữu ích và được kiểm tra kỹ lưỡng, vì vậy độc giả không phải lo lắng về tính chính xác của nội dung.Dấu hiệu của content creator thuộc nhóm Thuyết phục:

• Họ đào sâu nghiên cứu những nguồn đáng tin cậy hoặc khác biệt để tìm ra thông tin.

• Họ thường sử dụng các ví dụ hoặc câu chuyện để minh chứng cho nội dung của mình.

• Họ thường kết thúc bài viết bằng những dòng call to actions

• Tiêu đề thường bắt đầu bằng từ ” Tại sao bạn nên/không nên…”

Ưu điểm:

• Content Creator thuộc nhóm Thuyết phục thường có nhiều ý tưởng mới

• Họ biết cách quan sát và thuyết phục người khác tin vào luận điểm của họ

• Họ đưa ra nhiều bằng chứng để chứng minh cho nội dung

• Họ truyền cảm hứng cho độc giả để tìm hiểu những ý tưởng mới

Khuyết điểm:Họ có thể rất cố chấp và không chịu thừa nhận là mình sai.

Sự kết hợp giữa các nhóm

Hầu hết chúng ta là sự kết hợp của nhiều nhóm sáng tạo nội dung. Nhận ra điểm yếu và điểm mạnh giúp chúng ta có một sự kết hợp tốt hơn.

Giáo viên + Chuyên gia = Nội dung tạo ra nhiều chuyên gia hơn

Quan sát + Người trong cuộc = Mang đến ngữ cảnh cụ thể với những dữ liệu phức tạp hơn

Thuyết phục + Mật mã viên = Xây dựng danh sách email hoặc các dịch vụ bán hàng rất nhanh chóng

Thành viên mới + Thuyết phục = Thu hút nhiều người quan tâm hơn khi bắt đầu

Người ngoài cuộc + Quan sát = Mang tới sự kiểm chứng và cân bằng trong nội dung của một ngành công nghiệp

Người trong cuộc + Giáo viên = Giúp người học có thể nhân rộng thành công của một business.


Qua một vài thông tin được tổng hợp và hệ thống lại thành bài viết, mong rằng bạn đã có cái nhìn tốt hơn về Content Creator.

Bạn đang nằm trong nhóm nào của Content Creator?

Minh Đạt – spiderum.com

Nguoidentubinhduong tổng hợp.

Nhìn lại sự trỗi dậy của “đế chế” Instagram


Chụp ảnh bữa ăn, cảnh đi du lịch, hình selfie, chỉnh sửa với các bộ lọc màu (filter) rồi đưa lên mạng, chờ “like”, hay cập nhật cuộc sống mỗi ngày thông qua các đoạn video ngắn (story) là những thứ quen thuộc ngày nay nhưng không hề tồn tại trước khi nhân loại bước sang thập kỷ thứ 2 của thế kỷ mới.

Nhìn lại sự trỗi dậy của "đế chế” Instagram
Hình minh họa: Instagram đã làm thay đổi thói quen ăn uống cũng như cách kinh doanh nhà hàng trong 10 năm qua. Ảnh: Shutterstock

Instagram ra đời vào đúng năm 2010, năm bắt đầu thập kỷ này. Ứng dụng chia sẻ hình ảnh và video này nhanh chóng vươn lên thành một trong những mạng xã hội có sức ảnh hưởng mạnh nhất, nhất là với giới trẻ. Theo thông tin được trang statista.com đăng tải hồi đầu năm nay, Instagram đã cán mốc hơn 500 triệu người sử dụng hoạt động mỗi ngày.

Trong một bài viết gần đây nhìn lại 25 ứng dụng có ảnh hưởng nhất trong 10 năm qua, biên tập viên Eric Franklin của trang CNET không ngần ngại gọi Instagram là “một trong những app quan trọng nhất của thập kỷ vừa qua”.

Ăn uống thời #foodporn

Một trong những ảnh hưởng dễ nhận thấy nhất của Instagram lên cuộc sống là việc ứng dụng này đã khiến thói quen ăn uống của nhiều người thay đổi. “Chụp hình trước, ăn sau” không còn là chuyện lạ. Thói quen này cách đây 10 năm không có, bởi lúc đó đã có Instagram đâu mà đăng ảnh?

Không phải tự nhiên mà hashtag #foodporn trên Instagram cho ra đến 214,6 triệu kết quả. Food porn là thuật ngữ chỉ việc trình bày món ảnh một cách bắt mắt, “khêu gợi”, kích thích thị giác phổ biến trên mạng xã hội. Ngày nay, người ta sẵn sàng xếp hàng hàng giờ để mua cho được chiếc bánh, ly trà sữa ở tiệm đang “hot” rồi đăng lên Instagram khoe “chiến lợi phẩm”. Tỉ lệ thuận với nhu cầu “khoe” ảnh món ăn, yêu cầu về một bức ảnh đẹp và tất nhiên món ăn cũng phải đẹp càng được đẩy lên cao hơn bao giờ hết.

Đặc biệt, với thiết kế chuyên dụng cho việc chia sẻ hình ảnh và video, “thời đại Instagram” còn chứng kiến sự bùng nổ của một thế hệ food blogger/reviewer, những người không ngại bỏ thời gian và công sức để có được những bức ảnh khiến follower (người theo dõi) của mình thòm thèm, và tất nhiên là giúp có thêm nhiều follower khác.

Trước nhu cầu đó, nhiều nhà hàng, tiệm ăn đã “thức thời” điều chỉnh menu của mình để các món ăn hiện lên lộng lẫy dưới camera. “Thú vị nhất là người ta đang để ý đến vẻ ngoài của món ăn hơn bao giờ hết” – Teddy Robinson, giám đốc sáng tạo của chuỗi cà phê Grind ở London, từng phát biểu trong bài viết “Hình ảnh hoàn hảo? Instagram đã thay đổi thức ăn của chúng ta ăn như thế nào?” trên BBC năm 2017. T

Eddy Robinson đã dành 5 năm để biến chuỗi cà phê này thành nơi “chuẩn Instagram” nhất có thể. Cả menu và nội thất trong tiệm đều được thiết kế lại để “phù hợp với Instagram”, giơ điện thoại lên là có ảnh đủ “câu like”. “Năm ngoái, chúng tôi thay tất cả bàn bằng đá cẩm thạch trắng, chỉ bởi vì như vậy thì lên Instagram sẽ đẹp hơn” – Robinson nói. Một “tín đồ” Instagram chắc chắc biết đá cẩm thạch trắng là phông nền hoàn hảo cho mọi bức ảnh chụp đồ vật, không riêng gì đồ ăn.

“Ngày nay, người ta đặc biệt làm ra các món ăn phù hợp với Instagram” – blogger chuyên về lifestyle Angie Silver với hơn 26.700 người follow trên nền tảng chia sẻ hình ảnh này- nhận định. Trong khi đó, Ehab Shouly – giám đốc nhà hàng Tea Terrace ở London – cho biết hơn 50% lượng khách hàng của mình là ở độ tuổi 23-38, những người nhiều khả năng là “tín đồ Instagram”. “Ngày nay, trải nghiệm ẩm thực không còn đơn thuần chỉ là đồ ăn thức uống ngon nữa, mà phải là những trải nghiệm độc đáo để khách hàng có thể chia sẻ lên Instagram và mạng xã hội. Ngày nay, khách hàng muốn thức ăn ngon, dịch vụ tốt và những bức ảnh đẹp” – Shouly chia sẻ với BBC.

Tâm lý FOMO và marketing thời Instagram

Là ứng dụng được thiết kế riêng cho smartphone, Instagram dễ dàng giúp người dùng, đặc biệt là giới kinh doanh và influencer, xác định được phân khúc thị trường mà mình nhắm đến: những người trẻ với smartphone là vật bất ly thân.

Trong bối cảnh các mạng xã hội ngày càng khẳng định sức ảnh hưởng của mình trên thị trường mua bán, không thể không kể đến “trợ thủ đắc lực” là “hội chứng” FOMO. FOMO là cụm từ viết tắt của fear of missing out, có nghĩa là “sợ bỏ lỡ điều gì đó”.

Những năm ở nửa cuối của thập kỷ 2010, cụm từ này được nhắc đến nhiều hơn “nhờ” tác động của mạng xã hội. “Instagram là một công cụ FOMO. Nó cho bạn thấy rằng những người khác đang có cuộc sống đáng mơ ước và làm những điều tuyệt vời mà bạn không làm được” – Adam Alter, phó giáo sư chuyên ngành tiếp thị tại Trường kinh doanh Stern thuộc Đại học New York, nhận định trong một bài viết trên CNET hồi tháng 10 năm nay.

Là nền tảng thuần hình ảnh và video, Instagram trở thành mảnh đất màu mỡ cho các loại hình kinh doanh chuộng quảng cáo bằng hình ảnh, như ăn uống, thời trang…, đặc biệt là với giới trẻ. Về phía Instagram, ứng dụng này cũng không ngừng cho ra các tính năng mới phục vụ người dùng như IGTV cho phép phát video dài đến 1 tiếng, hỗ trợ book lịch hẹn ở spa, đồng thời học thói quen người dùng để hiển thị quảng cáo có liên quan.

Nhìn lại sự trỗi dậy của "đế chế” Instagram
Instagram là nơi để phô bày cái đẹp giả tạo. Ảnh: Vox

Mạng xã hội nguy hiểm nhất

Dù là mạng xã hội được ưa chuộng bởi các tính năng giải trí của nó, nhưng Instagram bị cảnh báo là “mạng xã hội nguy hiểm nhất” đối với sức khỏe tâm thần của người dùng, theo một khảo sát có tên #StatusOfMind của Hiệp hội Sức khỏe cộng đồng Hoàng gia Anh năm 2017.

Khảo sát được tiến hành trên gần 1.500 người ở lứa tuổi từ 14 đến 24 ở Anh, Forbes đưa tin. Nhóm nghiên cứu yêu cầu những người tham gia đánh giá tác động của các mạng xã hội lên 14 vấn đề sức khỏe tâm thần của họ, trong đó có nạn bắt nạt, lo lắng, trầm cảm và tâm lý FOMO. Kết quả, Instagram xếp hạng “tiêu cực nhất” so với các ứng dụng khác là Snapchat, Twitter, YouTube và Facebook.

Những năm gần đây, giới chuyên gia tâm lý liên tục lên tiếng cảnh báo về những tác động tiêu cực của các mạng xã hội, trong đó có Instagram, lên người dùng. Với đặc thù là một thế giới mạng ngập tràn hình ảnh đẹp, Instagram dễ khiến cho người ta cảm thấy tự ti về những thứ mình không có được, từ ngoại hình đến trải nghiệm cuộc sống. “Instagram dễ dàng khiến các bé gái và phụ nữ cảm thấy cơ thể họ không được đẹp như người khác, từ đó sử dụng filter chỉnh sửa ảnh sao cho thật hoàn hảo” – Time trích lời một người tham gia khảo sát #StatusOfMind.

Mà thật ra, có phải ai cũng hoàn hảo giống như ảnh trên Instagram của họ đâu. Còn nhớ năm 2015, influecner tuổi teen người Úc Essena O’Neill gây chấn động khi “vạch trần” sự thật trên Instagram. Khi đạt được hơn 600.000 follower, cô gái này xóa hết 2.000 bức ảnh của mình, rồi thay đổi chú thích của 96 bức mà cô giữ lại.

“Tôi chỉ muốn các cô gái trẻ biết rằng đây không phải là một cuộc sống thật, vô cùng ngầu hay truyền cảm hứng gì cả, mà là một sự hoàn hảo được dàn dựng để gây chú ý” – Essena O’Neill viết khi đăng một bức ảnh cô mặc bikini chụp, thú nhận mình phải hóp bụng và đẩy ngực lên để có được bức ảnh hoàn hảo. Là một trong những người đầu tiên phơi bày sự giả tạo vốn có trong thế giới Instagram, O’Neill đã mở đường cho các cuộc đối thoại – và nghiên cứu học thuật – về ảnh hưởng của mạng xã hội đến sức khỏe tâm thần.

Số lượng người dùng Instagram liên tục tăng cũng tỉ lệ thuận với những lời than phiền về mạng xã hội này. Chuyện “tín đồ” Instagram bất chấp nguy hiểm hay luật lệ địa phương, phá hoại cảnh quan thiên nhiên, giẫm đạp lên hoa cỏ chỉ để chụp ảnh không còn là chuyện xa lạ.

Tháng 3 năm nay, mạng xã hội Mỹ rộ lên phong trào tẩy chay những người phá hoại khi đến chụp ảnh tại các vườn hoa quốc gia ở nước này. Theo đó, những bức ảnh đăng trên Instagram mà trong đó người ta hái hoa, nằm lên hoa, hay giẫm đạp lên hoa để chụp ảnh liền bị “chỉ mặt điểm tên” trên một tài khoản Instagram có tên là Public Lands Hate You (tạm dịch Nơi công cộng ghét bạn), thể hiện thái độ gay gắt với những hành động “đẹp mà không đẹp” gây hại đến môi trường địa phương. Đến nay, tài khoản này thu hút được hơn 68.000 người follow.

Thậm chí, theo The Guardian, một kiến nghị online cũng được thực hiện nhằm kêu gọi Instagram và Facebook phát triển hệ thống cho phép người dùng báo cáo các vi phạm vừa bất hợp pháp vừa có hại cho môi trường, và kiến nghị này đạt hơn 18.000 chữ ký. Có lẽ người ta đã quá ngán ngẩm với một “thế hệ Instagrammer” bất chấp mọi thứ để có được một bức ảnh đẹp.

Cùng với sự phát triển của Instagram, nhiều thuật ngữ mới cũng ra đời. Cách đây 10 năm, chẳng ai biết “Instagram husband” (người chồng Instagram) là gì. Đến nay, việc có được một “người chồng/bạn trai Instagram” là niềm mơ ước của nhiều cô gái thích chụp ảnh, bởi đó là người có khả năng chụp cho họ những bức ảnh xinh lung linh đúng chuẩn để đăng Instagram. Tương tự, Instagramable, Insta-worthy là những từ mới mà người ta dùng để chỉ những nơi chốn, đồ vật, món ăn hay bất cứ thứ gì đẹp đẽ, hoàn hảo đúng chuẩn để chụp ảnh đăng Instagram.

NHÃ XUÂN – TuoiTreCuoiTuan

Những mánh khóe của Facebook để cố gắng thu thập tất cả thông tin của người dùng


Thủ đoạn đen tối của Facebook bị iOS 13 lật tẩy

Cập nhật về cách kiểm soát việc thu thập thông tin trên iOS 13 đã phơi bày “mánh khóe” được các công ty sử dụng để theo dõi người dùng.

Không ngạc nhiên khi Facebook bị bắt quả tang sớm nhất. Khi bật Facebook trên iOS 13, màn hình hiện thông báo cho biết ứng dụng muốn sử dụng Bluetooth trên thiết bị để  “tìm và kết nối phụ kiện Bluetooth gần đó”.

Tuy nhiên, sự thật không đơn giản như vậy. iOS 13 đã phát hiện phương pháp thu thập dữ liệu tinh vi nhưng ít người biết của Facebook.

Theo đó, Facebook sẽ sử dụng Bluetooth để xác định vị trí người dùng và những chiếc smartphone gần đó.

Kết hợp chúng với thông tin cá nhân về bạn, dữ liệu về bản chất vị trí (quán bar, khách sạn, nhà riêng…), Facebook có thể đưa ra đề xuất về mối quan hệ giữa những người trong khu vực đó, hoặc biết rằng bạn và họ từng ở gần nhau.

Với một công ty sống nhờ quảng cáo, Facebook hoàn toàn có thể bán những dữ liệu ấy cho mục đích thương mại, hoặc đưa ra quảng cáo dựa trên vị trí người dùng thường đến, đối tượng thường tiếp cận.

Theo TechCrunch, chúng còn được Facebook sử dụng cho tính năng Hẹn hò mới phát hành gần đây. Ngoài các thông tin có sẵn như sở thích, thiên hướng tình dục, sự kiện tham gia chung… Facebook còn sử dụng dữ liệu vị trí, những người ở gần bạn để cải thiện thuật toán nhằm đưa ra đề xuất phù hợp hơn.

Đó là lý do tính năng Hẹn hò luôn yêu cầu bật dữ liệu vị trí. Nếu muốn sử dụng Hẹn hò, người dùng không có lựa chọn nào ngoài việc chấp nhận để Facebook thu thập vị trí.

Những cập nhật trên iOS 13 cho thấy nỗ lực từ Apple trong việc bảo vệ sự riêng tư của người dùng. CEO Tim Cook từng thẳng thắn chỉ trích mô hình kinh doanh của Facebook và Google – cho rằng nó chẳng khác gì “tổ hợp công nghiệp dữ liệu”.

Facebook cũng “ranh mãnh” không kém khi tung bản cập nhật thay đổi việc thu thập vị trí vào tuần trước, tránh người dùng nhìn thấy cảnh báo.

Tuy nhiên, việc tắt dữ liệu vị trí không có nhiều ý nghĩa. Facebook vẫn có thể xác định bạn đang ở đâu nhờ các tính năng như check-in, sự kiện, thông tin về kết nối Internet.

Phúc Thịnh – Theo Zing.vn


Với bản cập nhật iOS mới, người dùng có thêm quyền kiểm soát đối với dữ liệu riêng tư của mình trước các ứng dụng thu thập thông tin như Facebook.

Những người muốn sớm tận hưởng phiên bản cập nhật iOS 13 mới cho iPhone của mình đang bắt đầu một thông báo kỳ lạ hiện ra trên màn hình thiết bị: “Facebook muốn sử dụng Bluetooth.”

Điều đó là vì bản cập nhật iOS 13 mới này được bổ sung thêm nhiều tính năng riêng tư giúp mọi người có nhiều quyền kiểm soát hơn đối với dữ liệu họ chia sẻ với ứng dụng. Những người khổng lồ công nghệ như Facebook và Google luôn tích cực thu thập dữ liệu người dùng để hiển thị quảng cáo đúng mục tiêu hơn – một mô hình kinh doanh bị CEO Tim Cook của Apple công khai chê bai, xem họ như các “tổ hợp công nghiệp về dữ liệu.”

iOS 13 bắt quả tang Facebook theo dõi vị trí người dùng qua Bluetooth - Ảnh 1.

iOS 13 mới thông báo cho người dùng việc các ứng dụng muốn truy cập dữ liệu vị trí thông qua Bluetooth.

Đối với những người sớm tải xuống phiên bản beta của iOS 13, bản cập nhật này đã bắt quả tang các ứng dụng như Facebook và YouTube đang thực hiện các phương pháp thu thập dữ liệu mà người dùng ít biết đến.

Một trong những phương pháp đó là âm thầm sử dụng kết nối Bluetooth trên điện thoại để theo dõi vị trí thực tế của người dùng và khoảng cách của họ đến các smartphone khác ở gần đó.

Theo báo cáo của TechCrunch, Facebook luôn lần theo và tích lũy dữ liệu cá nhân của người dùng dựa trên các kết nối của họ với người khác và có thể kết hợp các thông tin lân cận nhau thu thập từ Bluetooth cùng dữ liệu GPS để đưa ra các đề xuất về những mối quan hệ của họ.

Ví dụ Facebook có thể ghi lại việc bạn đã dành khoảng vài giờ ngồi gần ai đó tại một địa điểm riêng tư và phân biệt mối quan hệ đó với những người dùng Facebook khác ngồi gần bạn khi ở trong một tòa nhà văn phòng.

iOS 13 bắt quả tang Facebook theo dõi vị trí người dùng qua Bluetooth - Ảnh 2.

Không chỉ tích trữ dữ liệu hồ sơ người dùng cho mục đích quảng cáo, về lý thuyết, Facebook còn có thể sử dụng dữ liệu liên kết chéo giữa các mối quan hệ cho dịch vụ hẹn hò mới ra mắt của họ, vốn được thiết kế để cạnh tranh với các ứng dụng như Tinder và Bumble.

Người dùng iPhone vốn đã có tùy chọn để tắt dịch vụ định vị dành cho những ứng dụng cụ thể – bao gồm cả GPS, Bluetooth và các tháp phát sóng di động, nhưng với iOS 13, người dùng còn có nhiều quyền kiểm soát hơn khi có thể thiết lập ứng dụng nào được truy cập vào loại định vị nào. Tuy nhiên, để sử dụng Facebook Dating, người dùng phải đồng ý bật dịch vụ định vị lên.

Tuần trước, trước khi iOS được giới thiệu bản cập nhật mới, Facebook xuất bản một bài đăng trên blog giải thích về các hành vi thu thập thông tin vị trí của mình, đồng thời nhấn mạnh rằng người dùng có thể tắt các dịch vụ định vị để ngăn chặn các ứng dụng sử dụng Bluetooth và GPS lần theo họ.

Tuy nhiên, bài đăng cũng cho biết, Facebook vẫn có thể lần theo vị trí người dùng nhờ sử dụng các tính năng như “check in, tham gia sự kiện và thông tin về kết nối internet của bạn.”

Tham khảo Business Insider

Nguyễn Hải , Theo Trí Thức Trẻ