VĂN HÓA HÁN – NÔM Ở ĐÌNH THẦN DẦU TIẾNG


Trong sắc phong của đình Dầu Tiếng lại ghi địa danh “Định Thành”: sắc cho “Thần Hoàng Bổn Cảnh Định Thành” vào năm Tự Đức V(1853). Được biết trước năm 1946, Dầu Tiếng là tên gọi chung của một vùng đất không có địa giới rõ ràng cho đến năm 1949 một đơn vị hành chính được thành lập mang tên quận Dầu Tiếng thuộc tỉnh Thủ Dầu Một. Đến năm 1977 đổi tên thành huyện Dầu Tiếng thuộc tỉnh Sông Bé và từ năm 1999 thuộc tỉnh Bình Dương cho tới nay.

Trước năm 1871, thôn Định Thành vào thời Minh Mạng có tên thôn Bảo Định thuộc tổng Bình Thạnh Thượng, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Sau khi đánh chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ, người Pháp sắp sếp lại các đơn vị hành chính.Tổng Bình Thạnh Thượng thuộc hạt Thanh tra (đơn vị hành chánh tương đương cấp tỉnh) Sài Gòn và thôn Định Thành(trước kia là thôn Bảo Định thuộc xứ Dầu Tiếng) là một trong 12 thôn của tổng Bình Thạnh Thượng thuộc Sài Gòn.

Đến năm 1871, khi quân Pháp đánh chiếm hết Nam Kỳ lục tỉnh, tổng Bình Thạnh Thượng được sáp nhập vào tỉnh Thủ Dầu Một. Tổng Bình Thạnh Thượng

(trong đó có thôn Định Thành) về sau trở thành quận Dầu Tiếng (1946) rồi huyện Dầu Tiếng (1977) của tỉnh Thủ Dầu Một. Kể từ năm 1997 thuộc Bình Dương. Nghị định số 101/1994/QĐ-CP chuyển xã Định Thành thành thị trấn Dầu Tiếng.

Như vậy, đình Dầu Tiếng từ khi xây dựng và nhận sắc phong ở thôn Định Thành, tổng Bình Thạnh Thượng thuộc tỉnh Gia Định. Đến năm 1871, nghĩa là 140 năm trước đây mới thuộc về đất Dầu Tiếng, tỉnh Thủ Dầu Một, Bình Dương.

Về tên gọi Dầu Tiếng cũng giống như tên gọi Thủ Dầu Một, Dầu Tiếng là một địa danh nôm na, dân dã thuần Việt trong đó có thành tố “dầu” tức là cây dầu Rái(Dầu Lông). Theo tư liệu truyền khẩu có tên Dầu Tiếng là vì vùng đất này có cây Dầu nổi tiếng.Thuở ấy nơi đây là rừng rậm hoang vu có nhiều cây gỗ, nhiều nhất là cây dầu. Ở bờ sông Sài Gòn, tại khu vực cầu Tàu có một cây Dầu lớn ba bốn người ôm không xuể, không hiểu vì giông bão hay vì sao đã đổ xuống, thân nằm vắt ngang qua chỗ dòng sông hẹp làm thành một chiếu cầu tự nhiên. Dân ghe đi thuyền cũng như dân ở hai bên bờ sông không thể không nói tới cây dầu nổi tiếng này. Từ đó nhân dân trong vùng đất sinh ra cây Dầu nổi tiêng gọi là Dầu Tiếng1.

Đình được xây dựng bên bờ trái sông Sài Gòn nơi có cây Dầu nổi tiếng nói trên nên cũng được gọi tên đình là đình Dầu Tiếng. Sau khi chiếm nước ta, người Pháp lập các đồn điền cao su và đến năm 1917 đồn điền Michelin được thành lập.Họ xây nhà máy nước cạnh ngôi đình nên năm 1920 đình phải dời đến bến Vịnh cách đó khoảng 2km về phía sau hạ lưu sông Sài Gòn. Đến năm Mậu Thìn(1952), trận bão lụt lớn làm hư ngập ngôi đình nên một lần nữa ngôi đình được di dời về địa điểm hiện nay trên một ngọn đồi cao ráo có nhiều cây cổ thụ.Trải qua bao thăng trầm của lịch sử của đất nước và địa phương,vùng đất Dầu Tiếng và cả đình Dầu Tiếng luôn gắn liền với lịch sử đấu tranh chống áp bức bóc lột của thực dân và những cuộc kháng chiến chống xâm lược của địa phương và đất nước. Đồng thời đây củng là vùng đất chịu nhiều tàn phá của chiến tranh cho đến những trận chiến ác liệt cuối cùng trước ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Khi quân ta tiến chiếm và giải phóng huyện Dầu Tiếng ngày 13/3/1975, ngôi đình và nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi trong khuôn viên của đình bị hư hại và gãy đổ nặng nề hơn bởi bom đạn của máy bay quân đội Sài Gòn. Được bết khu vực đình là nơi trú quân, tập kết lực lượng của quân giải phóng (trong đó có các chiến sĩ lãnh đạo như Tám Núi, Tư Ký – Trần Văn Ký) để chuẩn bị tiến chiếm huyện lỵ Dầu Tiếng.

Sau khi hòa bình lặp lại, đến năm 1978 ông Trần Văn Ký với cương vị chủ tịch xã Định Thành cùng với nhiều cán bộ lão thành, các vị cao niên và nhân dân địa phương quyết tâm góp công góp của xây dựng lại ngôi đình. Công việc trùng tu ngôi đình tiến hành qua nhiều năm 1985, 2002, 2006, 2008…đình Dầu Tiếng mới có được qui mô kiến trúc khang trang như ngày nay.

Nội dung liển đối, hoành phi chữ hán – nôm đình Dầu Tiếng:

Cặp đối cổng đình:

聖 德 巍 峨上下正直

神恩 浩蕩尊 罳順理保安 寧

Thánh đức nguy nga thượng hạ tòng tâm thượng chánh trực

Thần ân hạo đãng tôn ty thuận lý bảo an ninh

Tạm dịch:

Đức của thánh cao vời, trên dưới một lòng cùng hướng theo là để giữ điều ngay thằng.

Ơn của thần rộng lớn, người sang, kẻ hèn thuận theo là để giữ được sự an lành.

Các cặp câu đối khu vực Bình phong:

白山涯水長永伴

世外桃源伙神仙

Bạch sơn nhai thủy trường vĩnh bạn

Thế ngoại đào nguyên hỏa thần tiên

Tạm dịch:

Núi tuyết với bờ nước làm bạn lâu dài mãi mãi

Nhiều đời quen biết nhau thì cùng là thần tiên

為 國 捐 驅 君 臣 纪 功 名

拾 男 成 仁 貞 忠 同 日 月

Vị quốc quyên khu quân thần kỷ công danh

Thập nam thành nhân trinh trung đồng nhật nguyệt

Tạm dịch:

Giúp cho đất nước, vua và bề tôi góp sức gỡ mối công danh

Thu thập trai tráng với tấm lòng trung thành qua ngày tháng

朗 月 中 天 好 張 帜(幟)

朝 市 罷 回 榔 邊 息

Lãng nguyệt trung thiên hảo trương sí

Triêu thị bãi hồi lang biên tức

Tạm dịch:

Trăng sáng giữa trời thích giăng cờ

Chợ sớm tan về nghỉ bên cau

私公道恩怨 分明

事嚴正 萬民得福

Tư công đạo ân oán phân minh

Sự nghiêm chính vạn dân đắc phước

Tạm dịch:

Chuyện riêng chuyện chung đường ân oán rõ ràng

Việc nghiêm khắc chính trực ngàn dân được phúc

曠前 神虎一聲吼山後百獸四驚 逭

泠 月高照科 玻 上 獨 憐隻 影胃 寒 霜

Khoáng tiền thần Hổ nhất thanh hống sơn hậu bách thú tứ kinh hoán

Linh nguyệt cao chiếu khoa pha thượng độc liên chích ảnh vi hàn sương.

Tạm dịch:

Thần Hổ thanh thản gầm một tiếng trên núi thì trăm thú phải sợ hãi trốn tránh

Trăng sáng chiếu rọi như pha lê trên cao, một mình thương xót bóng người lẻ loi ngoài sương lạnh.

風 棬 浮 雲 國 金 龍

浪 濁 翶 騰 出 神 龟

Phong quyển phù vân quốc kim long

Lãng trọc cao đằng xuất thần quy

Tạm dịch:

Gió cuốn trên mây, đất nước như con rồng vàng

Con sóng đùa giỡn, rùa thần nhảy chồm lên

Các cặp đối gian Tiền điện:

普 見 人 間 歌 聖 母

惠 從 天 上 降 麟 兒

Phổ kiến nhân gian ca Thánh Mẫu

Huệ tòng thiên thượng giáng lân nhi2

Tạm dịch:

Khắp cả nhân gian ca Thánh Mẫu

Huệ ở trên trời giáng cháu con

天賦 五 行 千 年在

地承 寶物 萬 世流

Thiên phú ngũ hành thiên niên tại

Địa thừa bảo vật vạn thế lưu

Tạm dịch:

Trời ban cho năm chất (Kim- Mộc- Thủy- Hỏa- Thổ) tồn tại ngàn năm.

Đất nhận lấy vật quý lưu lại ngàn đời.

深山五嶽聚 秀 靈

瑞氣 行雲 降吉 祥

Thâm sơn ngũ nhạc tụ tú linh

Thụy khí hành vân giáng cát tường

Tạm dịch :

Núi cao thăm thẳm hội tụ linh thiêng đẹp đẽ

Khí tốt đẹp mây bay giáng xuống điềm lành

天扶越國基圖盛

地接南南春色多

Thiên phù Việt quốc cơ đồ thịnh

Địa tiếp Nam đô xuân sắc đa

Tạm dịch:

Trời giúp cho cơ đồ nước Việt được thịnh vượng

Đất nối tiếp kinh đô trời Nam nhiều sắc xuân.

帝乘恩 因 人 施 雨 露

天 官 賜福 隨時降 禎 祥

Thượng đế thừa ân nhân nhân thi vũ lộ

Thiên quan tứ phúc tùy thời giáng trinh tường

Tạm dịch:

Nhờ ơn thượng đế thi ân tới muôn người

Thiên quan ban phước thời giáng đều tốt lành

Bài vị gian Tiền điện:

十類孤魂

Thập loại cô hồn

Tạm dịch: bài vị tại miếu thờ các cô hồn các đãng.

五行娘 娘

Ngũ Hành Nương Nương

Tạm dịch: Bàn thờ của năm vị nương nương

Hoành phi gian Tiền điện:

亭社成定

Đình xã Thành Định

Tạm dịch: Đình làng xã Định Thành

Các cặp câu đối gian Chánh điện:

貫 雨 光 賢 德 行 碌

不負人神一 庀 心

Quán vũ quang hiền đức hành lục

Bất phụ nhân Thần nhất phỉ tâm

Tạm dịch:

Người tài giỏi đức độ làm việc cần cù

Không làm trái lòng Thần lòng người

洋洋 在上 恩扶世上 得 平 安

櫂櫂 厥靈 德護 生 靈 皆 康 泰

Dương dương tại thượng ân phù thế thượng đắc bình an

Trạc trạc quyết linh đức hô sinh linh giai khang thái

Tạm dịch:

Ơn trên phong phú phù hộ nhân dân được bình an

Đức linh trong sáng che chở muôn loài được khỏe mạnh.

聖 德 如 天 高 眾 度 天 秋 同 襶 德

神 功若地 厚群生 萬 代 共 欽 功

Thánh đức như thiên cao chúng độ thiên thu đồng đới đức.

Thần công nhược địa hậu cần sinh vạn đại cộng khâm công.

Tạm dịch:

Đức của thánh như trời cao chúng dân ngàn thu đều mang lấy đức.

Công của thần tựa đất dày muôn loài vạn thuở đều ghi nhớ công.

定 爵 列三 曹 報 應 有 時 分善 惡

城 神 随 六 合 英 赫 正 大 顯 靈 通

Định tước liệt tam tào báo ứng hữu thời phân thiện ác

Thành thần tùy lục hợp anh hách chính đại hiển linh thông

Tạm dịch:

Định chức tước thành ba bậc ứng theo thời cuộc chia ra thành thiện ác.

Thành Thần chia theo sáu bậc hợp với người tài giỏi vẻ vang uyên bác.

(Lục hợp có thể không dịch, Lục hợp gồm trời-đất-đông-tây-nam-bắc)

定居 樂 業 恩 良 煖

城 池 堅 固 護 庶 民

Định cư lạc nghiệp ân lương noãn

Thành trì kiên cố hộ thứ dân

Tạm dịch:

An cư lạc nghiệp ơn thần tốt lành, ấm áp.

Thành trì kiên cố che trở nhân dân.

Bài vị: 神 : Thần

Tạm dịch: Bài vị của Thần Hoàng Bổn Cảnh.

Hoành phi gian chánh điện:

大 浩光恩

Đại hạo quang ân

Tạm dịch: Ân chiếu sáng vô cùng to lớn

循 儀 古 例

Tuân nghi cổ lệ

Tuân theo nghi lễ lệ xưa

鐘 鼓 和 諧

Chung cổ hòa giai

Chuông trống hài hòa

琴 鼓 座

Cầm cổ tọa

Tòa đàn trống

Cặp câu đối ở bàn thờ Hậu Hiền:

恭 請 後 賢 列 位 座 位

Cung thỉnh Hậu hiền liệt vị tọa vị

Cung thỉnh các vị Hậu hiền tọa vị

基 業 創 成 民 歡 暢

萬 家 飽 暖 賴 神 恩

Cơ nghiệp sáng thành dân hoan sướng

Vạn gia bão noãn lại thần ân

Tạm dịch:

Cơ nghiệp tạo nên dân vui sướng

Muôn nhà no ấm nhờ ân thần

Cặp đối ở bàn thờ Tây hiến:

恭 請 西 獻 列 位 座 位

Cung thỉnh Tây hiến liệt vị tọa vị

Cung thỉnh các vị Tây hiến tọa vị

為 國 犧 牲 男 兒 務

大 夫 氣 魄 壯 如 山

Vị quốc hy sinh nam nhi vụ

Đại phu khí phách tráng như sơn

Tạm dịch:

Vì nước hy sinh việc nam nhi

Đại phu khí phách mạnh như núi

Cặp câu đối ở bàn thờ Hữu Ban:

恭 請 右 班 列 位 座 位

Cung thỉnh Hữu ban liệt vị tọa vị

Cung thỉnh các vị Hữu ban tọa vị

常 念 身 負 君 臣 記

力 除 奸 邪 扶 正 道

Thường niệm thân phụ quân thần ký

Lực trừ gian tà phù chính đạo

Tạm dịch:

Thường niệm mình mang nghĩa vua tôi

Sức trừ gian tà phò chính đạo

Cặp câu đối trên bàn thờ Đông hiến:

恭 請 東 獻 列 位 座 位

Cung thỉnh Đông hiến liệt vị tọa vị

Cung thỉnh các vị Đông hiến tọa vị

誓 保 山 河 長 永 在

社 稷 安 危 民 有 責

Thệ bảo sơn hà trường vĩnh tại

Xã tắc an nguy dân hữu trách

Tạm dịch:

Thề giữ non sông mãi tồn tại

Xã tắc an nguy dân gánh vác

Cặp câu đối trên bàn thTiền Hiền:

恭 請 前 賢 列 位 座 位

Cung thỉnh Tiền hiền liệt vị tọa vị

Cung thỉnh các vị Hiền hiền tọa vị

開 荒 闢 地 除 荊 刺

墾 成 耕 地 發 黎 民

Khai hoang tịch địa trừ kinh cức

Khẩn thành canh địa phát lê dân

Tạm dịch:

Khai hoang mở đất trừ gai góc

Canh tác đất đai phát muôn dân

Cặp câu đối trên bàn thờ Hậu bối.

衆 庶 虔 誠 求 百 福

鼓 樂 笙 歌 度 昇 平

Chúng thứ kiền thành cầu bách phúc

Cổ nhạc sanh ca độ thăng bình

Tạm dịch:

Dân chúng kính thành cầu trăm phúc

Trống nhạc đàn ca độ thăng bình

Đình thần Dầu Tiếng có ý nghĩa lịch sử luôn gắn liền với sự hình thành và phát triển của vùng đất Định Thành thôn xưa và thị trấn Dầu Tiếng ngày nay. Trong thời gian mở đất lập làng, đình là trung tâm sinh hoạt văn hóa xã hội và tín ngưỡng của cộng đồng dân tộc định cư tại đây. Trong thời gian đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đình là một trong những cứ điểm quan trọng của lực lượng giải phóng chống kẻ thù xâm lược .Sau khi đất nước giải phóng, đình lại tiếp tục được khôi phục và duy trì các sinh hoạt văn hóa truyền thống của địa phương. Trong những năm gần đây, đình còn là một địa điểm tham quan du lịch của du khách trong và ngoài tỉnh khi đến Dầu Tiếng.

Trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển vùng đất Định Thành Thôn xưa, Dầu Tiếng ngày nay ở mỗi thời kỳ có hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng đình vẫn luôc là nơi nhân dân đến hội họp và chiêm bái thần để cầu cho mư thuận gió hòa, cây trái xanh tươi, mùa màng được bội thu. Đình còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa về chữ hán nôm được ghi lại tại đình, là một trong những di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu của tỉnh Bình Dương.

ĐNH

Đậu Ngọc Hải (*)

1(*)Ban quản lý Di tích và Danh thắng Bình Dương. Email: hai.ngochai86@gmail.com

Theo TS. Huỳnh Ngọc Đáng thì có cách giải thích khác: Nguyên hai chữ Dầu Tiếng được ghi chép trong sách vở triều Nguyễn là “ Du tỉnh ”có nghĩa là giếng dầu. Vùng này có nhiều dầu, dầu từ thân cây chảy ra đọng lại thành vũng như giếng. Dầu giếng lâu ngày đọc trại thành Dầu Tiếng…

2麟兒 (Lân nhi): tức kỳ lân, một loài thú nhân từ trong truyền thuyết. Thường dùng “Lân nhi”để ca ngợi con cái của người khác, ngày xưa thành viên vương thất cũng dùng để chỉ con cái của mình

 

Theo http://www.Sugia.vn